1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quản trị tài sản ngắn hạn tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu dùng niêm yết trên Hose

100 383 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước đây, nhiều nhà nghiên cứu tài chính đã tập trung vào tài chính dài hạn, nghiên cứu cấu trúc vốn công ty, định giá công ty và các khoản đầu tư khác trong lĩnh vực tài chính. Nhưng đầu tư ngắn hạn chiếm ưu thế trong bảng cân đối của nhiều tổ chức doanh nghiệp đặc biệt là vừa và nhỏ. Vốn lưu động trực tiếp ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp bởi ảnh hưởng của nó đối với lợi nhuận và rủi ro (Smith, 1980). Theo ghi nhận của Blinder & Munccini (1991) duy trì mức tồn kho cao có thể ngăn cản tổn thất kinh doanh do hết hàng; tránh sự gián đoạn của quá trình sản xuất và hàng rào chống lại sự biến động về giá cả. Bán hàng tín dụng hoạt động như một tác nhân kích thích tăng doanh thu trong một số cách. Theo Brennan; Maksimovic & Zenchner (1988); Petersen & Rajan (1997) bán hàng tín dụng có thể hoạt động như một chiến lược giảm giá. Nó cũng kích thích nhu cầu ngay cả khi nhu cầu mua sản phẩm thấp (Emery, 1987). Ngược lại, đầu tư quá mức thì công ty mất cơ hội để đầu tư vào các hoạt động có lợi nhuận khác (Brigham & Houston, 2007). Hiệu quả trong việc quản lý các khoản phải thu, phải trả và hàng tồn kho là động lực chính cho việc kinh doanh thành công (Filbeck & Krueger, 2005). Các tài sản ngắn hạn của bất kỳ doanh nghiệp cũng bao gồm các hạng mục như cổ phiếu và hàng tồn kho, các khoản phải thu, tiền mặt, tiền gửi ngân hàng. Trong khi đó, tổng tài sản là sự kết hợp của cả hai tài sản ngắn hạn và dài hạn (các hạng mục như nhà máy và máy móc thiết bị, đồ nội thất, đồ đạc, phụ kiện, xe cơ giới,…). Ngày nay toàn bộ các khía cạnh của quản trị vốn lưu động đã trở thành phân tích tài sản ngắn hạn liên quan đến tiền mặt và thành phần của tài sản ngắn hạn. Do đó, việc thảo luận về quản trị vốn lưu động của bất cứ doanh nghiệp luôn đồng nghĩa với khía cạnh quản trị tài sản ngắn hạn.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ HỒNG BÀNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

TP Hồ Chí Minh, Năm 2016

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3

1.3 Những nghiên cứu trước 4

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 5

1.5 Phương pháp nghiên cứu 5

1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 6

1.7 Kết cấu đề tài nghiên cứu 6

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 8

2.1 Giới thiệu 8

2.2 Lý thuyết tổng quan 8

2.2.1 Khái niệm 8

2.2.2 Quản trị tiền mặt 10

2.2.3 Quản trị khoản phải thu khách hàng 15

2.2.4 Quản trị hàng tồn kho 21

2.3 Yếu tố quyết định hiệu suất tài chính 23

2.3.1 Số ngày thu tiền bình quân 23

2.3.2 Số ngày tồn kho bình quân 23

2.3.3 Số ngày trả tiền bình quân 23

2.3.4 Thanh khoản 24

2.3.5 Quy mô công ty 24

2.3.6 Đòn bẩy tài chính 25

2.4 Mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn và khả năng sinh lời của doanh nghiệp 26

2.4.1 Khả năng sinh lời 26

Trang 3

2.4.2 Tỷ suất sinh lời 27

2.4.3 Mối quan hệ giữa quản trị tài sản ngắn hạn và khả năng sinh lời 28

2.5 Những nghiên cứu thực nghiệm về tác động của quản trị tài sản ngắn hạn hay vốn lưu động đến khả năng sinh lời của công ty 30

2.6 Mô hình nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu 39

2.6.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 39

2.6.2 Giả thiết nghiên cứu 42

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45

3.1 Giới thiệu 45

3.2 Phương pháp và thiết kế nghiên cứu 45

3.3 Mẫu nghiên cứu 46

3.4 Mô tả các biến được sử dụng trong mô hình 48

3.5 Phân tích và xử lý số liệu 49

3.5.1 Phương pháp hồi quy dữ liệu bảng 50

3.5.2 Các phương pháp kiểm định 53

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 56

4.1 Giới thiệu 56

4.2 Thực trạng tài sản ngắn hạn các doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu dùng 56

4.3 Phân tích thống kê mô tả 61

4.4 Phân tích tương quan 63

4.5 Phân tích hồi quy với Pooled OLS, FEM và REM 64

4.4.1 Mô hình hồi quy dựa trên biến phụ thuộc ROA 65

4.4.2 Kiểm định kết quả hồi quy 66

4.6 Phân tích hồi quy bằng phương pháp GLS 68

4.5.1 Kết quả hồi quy bằng GLS 68

Trang 4

4.5.2 Kiểm tra hiện tượng nội sinh giữa các biến 69

4.7 Kết quả từ mô hình nghiên cứu 69

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73

5.1 Giới thiệu 73

5.2 Kết luận quản trị tài sản ngắn hạn của các doanh nghiệp 73

5.3 Kiến nghị quản trị tài sản ngắn hạn các doanh nghiệp 74

5.4 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

PHỤ LỤC 1 82

PHỤ LỤC 2 90

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH DANH MỤC CÁC BẢNG

Hình 2.1: Chu kỳ luân chuyển của tiền mặt 10

Hình 2.2 Mô hình quản trị tiền mặt của Baumol 12

Hình 2.3 Mô hình quản trị tiền mặt của Miller & Orr 13

Hình 2.4 Mô hình nới lỏng chính sách bán chịu 18

Hình 2.5 Mô hình thắt chặt chính sách bán chịu 18

Hình 2.6 Mô hình mở rộng thời gian bán chịu 19

Hình 2.7 Mô hình rút ngắn thời gian bán chịu 19

Hình 2.8 Mô hình tăng tỷ lệ chiết khấu 20

Hình 2.9 Mô hình giảm tỷ lệ chiết khấu 20

Hình 2.10 Sơ đồ biểu diễn mô hình EOQ 22

Bảng 2.1: Các biến độc lập ảnh hưởng đến khả năng sinh lời 40

Bảng 2.2: Các biến điều khiển ảnh hưởng đến khả năng sinh lời 41

Bảng 2.3: Tổng hợp giả thuyết nghiên cứu 43

Hình 3.1: Sơ đồ quy trình nghiên cứu 45

Bảng 3.1: Danh sách doanh nghiệp 46

Bảng 3.2: Cách tính các biến 48

Hìnnh 4.1: Số ngày thu tiền bình quân ACP từ 2011 đến 2015 56

Hình 4.2 : Số ngày tồn kho bình quân ICP từ 2011 đến 2015 57

Hình 4.3: Số ngày trả tiền bình quân APP từ 2011 đến 2015 58

Hình 4.4: So sánh biến động của số ngày thu tiền bình quân (ACP), số ngày tồn kho bình quân (ICP), số ngày trả tiền bình quân (APP) 58

Hình 4.5: Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC) của các doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu dùng năm 2011 đến 2015 59

Hình 4.6: Kỳ chuyển đổi tiền mặt và kỳ kinh doanh liên tiếp qua 3 chu kỳ 60

Hình 4.7: Đòn bẩy tài chính LEV từ 2011 đến 2015 60

Hình 4.8: Tỷ trọng tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản CATAR từ 2011 đến 2015 61

Bảng 4.1: Thống kê mô tả 62

Bảng 4.2: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến 64

Bảng 4.3 Kết quả mô hình với biến phụ thuộc ROA 65

Trang 6

Bảng 4.4: Kiểm định xttest0 về phương sai thay đổi cho phương pháp REM 66

Bảng 4.5: Kết quả hồi quy VIF với biến phụ thuộc ROA 67

Bảng 4.6: Kiểm định Wooldridge test về tự tương quan 68

Bảng 4.7 Kết quả hồi quy GLS mô hình với biến phụ thuộc ROA 68

Bảng 4.8: Kết quả kiểm tra nội sinh với biến phụ thuộc ROA 69

Bảng 4.9: Kết quả hồi quy GLS của bảng 4.7 70

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ACP Kỳ thu tiền bình quân

APP Kỳ thanh toán cho người bán

CATAR Tỷ trọng tài sản ngắn hạn trong tổng tài sản

EBIT Lợi nhuận trước thuế và lãi vay

FEM Phương thức tác động cố định

FFAR Tỷ số đầu tư tài chính dài hạn trên tổng tài sản

GLS Phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát

GMM Phương pháp sai phân theo phương pháp tác động cố định GROWTH Tốc độ tăng trưởng doanh số bán hàng

HOSE Sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh ICP Kỳ luân chuyển hàng tồn kho

Pool OLS Phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất

REM Phương thức tác động ngẫu nhiên

ROA Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản

Trang 8

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trước đây, nhiều nhà nghiên cứu tài chính đã tập trung vào tài chính dài hạn, nghiên cứu cấu trúc vốn công ty, định giá công ty và các khoản đầu tư khác trong lĩnh vực tài chính Nhưng đầu tư ngắn hạn chiếm ưu thế trong bảng cân đối của nhiều tổ chức doanh nghiệp đặc biệt là vừa và nhỏ Vốn lưu động trực tiếp ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp bởi ảnh hưởng của nó đối với lợi nhuận và rủi

ro (Smith, 1980) Theo ghi nhận của Blinder & Munccini (1991) duy trì mức tồn kho cao có thể ngăn cản tổn thất kinh doanh do hết hàng; tránh sự gián đoạn của quá trình sản xuất và hàng rào chống lại sự biến động về giá cả Bán hàng tín dụng hoạt động như một tác nhân kích thích tăng doanh thu trong một số cách Theo Brennan; Maksimovic & Zenchner (1988); Petersen & Rajan (1997) bán hàng tín dụng có thể hoạt động như một chiến lược giảm giá Nó cũng kích thích nhu cầu ngay cả khi nhu cầu mua sản phẩm thấp (Emery, 1987) Ngược lại, đầu tư quá mức thì công ty mất cơ hội để đầu tư vào các hoạt động có lợi nhuận khác (Brigham & Houston, 2007) Hiệu quả trong việc quản lý các khoản phải thu, phải trả và hàng tồn kho là động lực chính cho việc kinh doanh thành công (Filbeck & Krueger, 2005)

Các tài sản ngắn hạn của bất kỳ doanh nghiệp cũng bao gồm các hạng mục như cổ phiếu và hàng tồn kho, các khoản phải thu, tiền mặt, tiền gửi ngân hàng Trong khi đó, tổng tài sản là sự kết hợp của cả hai tài sản ngắn hạn và dài hạn (các hạng mục như nhà máy và máy móc thiết bị, đồ nội thất, đồ đạc, phụ kiện, xe cơ giới,…) Ngày nay toàn bộ các khía cạnh của quản trị vốn lưu động đã trở thành phân tích tài sản ngắn hạn liên quan đến tiền mặt và thành phần của tài sản ngắn hạn Do đó, việc thảo luận về quản trị vốn lưu động của bất cứ doanh nghiệp luôn đồng nghĩa với khía cạnh quản trị tài sản ngắn hạn

Tài sản ngắn hạn được gọi là nguồn sống cho cho bất kỳ đơn vị kinh tế, do đó quản trị của nó được coi là một trong những chức năng quan trọng nhất của quản trị doanh nghiệp (Raheman, Afza, Qayyum & Bodla, 2010) Tất cả các tổ chức, với

Trang 9

mục đích lợi nhuận hay phi lợi nhuận, không có quy mô và tính chất của doanh nghiệp, điều cần một lượng tài sản ngắn hạn Do đó, nó là yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo sự tồn tại, lợi nhuận, tính thanh khoản và khả năng thanh toán của doanh nghiệp (Raheman và cộng sự, 2010)

Tài sản ngắn hạn đã được nhiều nhà nghiên cứu chứng minh là thành phần quan trọng của toàn bộ tài sản, vì nó đóng một vai trò cơ bản trong toàn bộ chiến lược doanh nghiệp cho việc tạo ra giá trị cho cổ đông và có thể ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp Tỷ trọng lớn trong bảng cân đối của một doanh nghiệp được tạo thành từ các khoản đầu tư ngắn hạn và những nguồn lực khác có kỳ hạn ngắn (Pedro, 2007) Duy trì sự cân bằng giữa các thành phần tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn thúc đẩy khả năng sinh lời của một doanh nghiệp (Kesseven, 2006), do đó phải được quản trị một cách cẩn thận Quản trị tài sản ngắn hạn là quá trình thiết lập sự kết hợp tối ưu của hàng tồn kho, các khoản phải thu và tiền mặt

Về mặt lý thuyết các mức độ đầu tư vào tài ngắn hạn ảnh hưởng đến hoạt động của công ty Các doanh nghiệp có tính thanh khoản cao thì lợi nhuận thấp Quản trị vốn lưu động hiệu quả là điều cần thiết cho các doanh nghiệp, điều này là do một phần lớn tài sản của họ là các tài sản ngắn hạn (Home & Wachowitz, 2000) Nếu không có sự cân bằng hợp lý giữa lợi nhuận và tính thanh khoản của một doanh nghiệp, thì doanh nghiệp rất có khả năng rơi vào phá sản (Kargar & Krueger, 2005) Trong năm qua thị trường thế giới tiếp tục có những diễn biến phức tạp, kinh

tế thế giới phục hồi chậm, nhu cầu của thị trường thế giới giảm lại dẫn đến sự suy giảm của một số mặt hàng của Việt Nam, các khó khăn của doanh nghiệp về chiến lược và định hướng phát triển, về vốn, về chất lượng sản phẩm, thị trường tiêu thụ ảnh hưởng trực tiếp tới năng lực cạnh tranh và hạn chế của một số cơ chế chính sách, điều kiện về cơ sở hạ tầng giao thông, hạ tầng cửa khẩu Với những khó khăn

và tầm quan trọng đã nêu trên, việc quản trị tài sản ngắn hạn của một doanh nghiệp

là cần thiết cho tất cả các doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn Khi một doanh nghiệp không quản trị tốt tài sản ngắn hạn, sẽ xảy ra tình trạng thiếu tiền mặt và kết quả là vấn đề mất khả năng thanh toán khi đến hạn Thật vậy, thiếu tài sản ngắn hạn được

Trang 10

ghi nhận là một nguyên nhân chính của sự thất bại doanh nghiệp nhỏ ở nhiều nước phát triển và đang phát triển (Rafuse, 1996) Quản trị tài sản ngắn hạn là quan trọng bởi vì tác động của nó đối với lợi nhuận và rủi ro của công ty, và kết quả là giá trị của công ty (Smith, 1980) Đầu tư vào các tài sản ngắn hạn chiếm một vị trí rất lớn trong tổng tài sản các doanh nghiệp Quản trị tài sản ngắn hạn là rất quan trọng cho tất cả các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ, vì họ không có khả năng đầu

tư tài chính dài hạn nhưng họ phải đầu tư cho các tài sản ngắn hạn Ngoài ra, có sự đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận, vì vậy đòi hỏi một sự cân bằng tối ưu giữa lợi nhuận và khả năng thanh toán bằng cách giảm thiểu tổng chi phí thanh khoản và chi phí thiếu tính thanh khoản, mục tiêu quản trị tài sản là tăng cường khả năng sinh lời

và tính thanh khoản (Pandey, 1997)

Vì vậy việc nghiên cứu tác động của tài sản ngắn hạn lên khả năng sinh lời giúp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị tài sản ngắn hạn cho các doanh nghiệp là cần thiết, kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp nhiều thông tin hữu ích cho học viên và các nhà quản trị doanh nghiệp Cho nên tôi đã chọn đề tài “QUẢN TRỊ TÀI SẢN NGẮN HẠN TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH HÀNG TIÊU DÙNG NIÊM YẾT TRÊN HOSE” làm luận văn tốt nghiệp cho mình Nghiên cứu này cố gắng đo lường ảnh hưởng của tỷ trọng tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản, các thành phần của tài sản ngắn hạn như khoản phải thu, khoản phải trả, tồn kho đến lợi nhuận của doanh nghiệp Điều này được thúc đẩy bởi thực tế ít nghiên cứu được thực hiện cụ thể để đo lường ảnh hưởng của của tỷ trọng tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản đến khả năng sinh lời của các công ty đặc biệt là Việt Nam Vì vậy nghiên cứu này dự kiến sẽ điền vào khoảng trống này

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu chính của nghiên cứu này là phân tích quản trị tài sản ngắn hạn tác động như thế nào đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu

dùng niêm yết trên HOSE (Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh) Từ

đó, đề xuất giải pháp liên quan đến quản trị tài sản ngắn hạn nhằm nâng cao hiệu

Trang 11

quả hoạt động quản trị tài sản ngắn hạn của các doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu dùng Mục tiêu cụ thể là:

- Phân tích tỷ lệ tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu dùng

- Phân tích kỳ luân chuyển hàng tồn kho tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu dùng

- Phân tích kỳ thanh toán cho người bán tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu dùng

- Phân tích kỳ thu tiền bình quân tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu dùng

- Gợi ý một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị tài sản ngắn hạn để tăng khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu dùng

1.3 Những nghiên cứu trước

Trước đây đã có rất nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu về mối quan hệ của quản trị tài sản ngắn hạn hay quản trị vốn lưu động đến lợi nhuận kinh doanh, hay khả năng thanh khoản và sinh lợi của công ty với nhiều ngữ cảnh

khác nhau Như Aminu Yusuf (2016) viết về “Quản trị tài sản ngắn hạn và khả

năng sinh lời của công ty” Agha (2014) đã tiến hành nghiên cứu để kiểm tra tác

động của quản lý vốn lưu động và khả năng sinh lời của công ty dược phẩm Glaxo Smithline đăng ký trên sàn chứng khoán Karachi trong giai đoạn 1996-2011 Tác

giả Nyabenge (2014) viết về “Sự ảnh hưởng của quản lý vốn lưu động đến hoạt

đông tài chính của các công ty sản suất ở Kenya” Gul, Khan, Raheman, Khan

(2013) đã nghiên cứu ảnh hưởng của việc quản lý vốn lưu động đến hiệu suất của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) ở Pakistan Gakure, Cheluget, Onyango & Keraro (2012) đã phân tích mối quan hệ giữa quản lý vốn lưu động và hiệu suất của

15 hãng sản xuất liệt kê ở NSE trong giai đoạn 2006-2010 Tác giả Mathuva (2010)

viết về “Sự ảnh hưởng của các thành phần quản trị vốn lưu động lên khả năng sinh

lời của công ty” Bài viết về “Mối quan hệ giữ quản trị nguồn vốn lưu động với khả năng sinh lời” của tác giả Amaijit Gill, Nahum Biger & Neil Mathur (2010) Tác

Trang 12

giả Ioannis Lazaridis & Dimitrios Tryfonidis (2006) nghiên cứu về “Mối quan hệ

giữa quản lý vốn lưu động và khả năng sinh lợi của các công ty”

Trong nước cũng có rất nhiều đề tài luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vai trò của

quản trị vốn lưu động cụ thể như đề tài “Quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và

hiệu quả tài chính của doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” năm 2012 của tác giả Nguyễn Tùng Bá Khôi; “Tác động của quản trị vốn lưu động tới khả năng sinh lợi và giá trị thị trường của các công ty cổ phẩn tại Việt Nam” năm 2012 của tác giả Nguyễn Thị Việt Thủy; “Quản trị vốn lưu động trong doanh nghiệp vừa và nhỏ tại TPHCM” của Phạm Trinh Hiếu; “Tác động của quản trị vốn lưu động đến tỷ suất sinh lợi của các Công ty Thủy sản trên thị trường chứng khoán Việt Nam” năm 2012 của Nguyễn Ngọc Hân Và cho đến nay, đề tài

vẫn giữ được tính thực tiễn của nó, nhất là trong khi Việt Nam đang hội nhập kinh

tế quốc tế, các doanh nghiệp luôn tìm nhiều giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn đem lại hiệu quả trong kinh doanh

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Quản trị tài sản ngắn hạn tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu dùng

Phạm vi nghiên cứu đề tài:

- Về không gian: Các doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu dùng niêm yết trên

Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

- Về thời gian: Luận văn chỉ giới hạn trong khoảng thời gian 5 năm gần đây, năm 2011 đến năm 2015

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phần mềm Stata thống kê mô tả dữ liệu, sau đó thực hiện mô hình hồi qui, tùy vào giá trị kiểm định mà chọn phương pháp ước lượng hồi quy phù hợp: Pool OLS, FEM (Fixed effect method) hay REM (Radmon effect method) Sau khi xác định phương pháp hồi quy nào hiệu quả hơn sẽ tiếp tục kiểm định phương sai thay đổi, hiện tượng đa cộng tuyến, hiện tượng tự tương quan, hiện tượng nội sinh giữa các biến của mô hình Nếu có hiện tượng này xảy ra, nghiên cứu sẽ áp dụng

Trang 13

phương pháp hồi quy GLS (Generalize lest square) hoặc phương pháp GMM để giải quyết những lỗi này

1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Những phát hiện của nghiên cứu này được kỳ vọng sẽ làm nổi bật tầm quan trọng của chính sách quản lý tài sản ngắn hạn ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp như thế nào Nghiên cứu này nhằm xác định sự cần thiết cho công tác quản lý tài sản ngắn hạn trong xây dựng chiến lược của công ty nói chung, tác động của việc quản lý tài sản ngắn hạn đến khả năng sinh lời và mở rộng ra là giá trị của các doanh nghiệp Các đối tượng sau đây sẽ được hưởng lợi lớn nhất của những phát hiện của nghiên cứu:

Doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu dùng: Những phát hiện này sẽ cung cấp một khuôn khổ về chiến lược quản lý tài sản ngắn hạn cho các tổ chức doanh nghiệp tập trung vào việc tạo ra giá trị cho các cổ đông của họ Quản lý doanh nghiệp sẽ đánh giá cao những giá trị nằm trong quản lý hiệu quả các thành phần của tài sản ngắn hạn

Nhà đầu tư: Các doanh nghiệp đưa ra các chính sách quản lý tài sản ngắn hạn

có hiệu quả sẽ được xem như các công ty có lợi nhuận với triển vọng tạo ra giá trị trong tương lai Các công ty đó sẽ cung cấp cổ phiếu hấp dẫn với lợi nhuận đầy hứa hẹn liên quan đến tăng vốn và cổ tức

Lĩnh vực ngân hàng: Những phát hiện từ nghiên cứu này sẽ giúp các ngân hàng thương mại thẩm định tín dụng cho các doanh nghiệp tìm nguồn tài trợ Những công ty có chính sách quản lý tài sản ngắn hạn tốt được giả định có khả năng thanh khoản vì thế cho phép họ để đáp ứng các nghĩa vụ nợ ngắn hạn

Nhà nghiên cứu: Các nhà nghiên cứu về quản lý tài sản ngắn hạn sẽ được hưởng lợi từ nghiên cứu thực nghiệm và lý thuyết từ nghiên cứu này; nghiên cứu này sẽ làm cơ sở cho các nghiên cứu xa hơn về quản trị tài sản ngắn hạn

1.7 Kết cấu đề tài nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu gồm có năm chương:

Chương 1: Trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu liên quan và đề xuất mô hình

Trang 14

Chương 3: Trình bài phương pháp nghiên cứu Chương 4: Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và đề xuất giải pháp

Trang 15

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1 Giới thiệu

Chương này sẽ trình bài các lý thuyết liên quan đến nghiên cứu như khái niệm tài sản ngắn hạn, lý thuyết quản trị tiền mặt, quản trị hàng tồn kho, quản trị khoản phải thu, lý thuyết thanh khoản, quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, lý thuyết khả

năng sinh lời, khái niệm các tỉ suất sinh lời, giới thiệu Sở Giao dịch Chứng khoán

Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) Cuối cùng sẽ trình bài các nghiên cứu trước liên

quan đến nghiên cứu này

2.2 Lý thuyết tổng quan

2.2.1 Khái niệm

2.2.1.1 Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE)

Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) được thành lập tháng 7 năm 2000, là một đơn vị trực thuộc Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và quản

lý hệ thống giao dịch chứng khoán niêm yết của Việt Nam Chỉ số giá cổ phiếu trong một thời gian nhất định (phiên giao dịch, ngày giao dịch) của các công ty niêm yết tại trung tâm này được gọi là VN-Index Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh hoạt động như một công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nhà nước với số vốn điều lệ là một nghìn tỷ đồng Tên tiếng Anh của sở giao dịch này là Ho Chi Minh Stock Exchange, được biết đến với tên viết tắt là HOSE

2.2.1.2 Khái niệm hàng tiêu dùng

Theo Global Industry Classification Standard (GICS) được phát triển bởi Morgan Stanley Capital International (MSCI) và Standard & Poor's vào năm 1999, Hàng tiêu dùng (Consumer Discretionary) bao gồm những nhóm hàng tiêu dùng nhạy cảm với chu kì của nền kinh tế như: xe hơi, hàng gia dụng lâu bền (đồ điện tử gia dụng), hàng may mặc và các thiết bị giải trí, giáo dục Nhóm dịch vụ bao gồm khách sạn, nhà hàng, trung tâm giải trí, truyền thông Và Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng bộ chỉ số ngành theo chuẩn phân ngành quốc tế GICS

Trang 16

2.2.1.3 Khái niệm tài sản ngắn hạn

Một công ty có tài sản và có lợi nhuận lớn nhưng thiếu thanh khoản nếu tài sản không dễ dàng được chuyển đổi thành tiền mặt Sử dụng tài sản ngắn hạn hiệu quả

là cần thiết để đảm bảo đủ khả năng đáp ứng nợ ngắn hạn và chi phí hoạt động sắp tới (Githinji, 2013) Tài sản ngắn hạn là một thuật ngữ cơ bản tương tự như tài sản lưu động là một khoản mục trong bảng cân đối kế toán bao gồm tất cả loại tài sản có thể dễ dàng chuyển đổi sang tiền mặt trong vòng 1 năm hay trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh Tài sản ngắn hạn bao gồm tiền mặt và các khoản tương đương tiền, các khoản phải thu ngắn hạn, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, hàng tồn kho và những tài sản có tính thanh khoản khác (Trần Ngọc Thơ, 2007) Tài sản ngắn hạn là các khoản đầu tư ngắn mà vẫn tiếp tục được chuyển đổi thành các loại tài sản khác (Rao, 1989) Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp bao gồm: tiền mặt và các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho, các tài sản ngắn hạn khác (chi phí trả trước ngắn hạn)

sử dụng để tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp (Teruel & Solano, 2006; Brigham & Houston, 2007) Như vậy, tài sản ngắn hạn được hiểu là những tài sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh của công ty được chuyển đổi qua tất cả các dạng, từ tiền mặt đến hàng tồn kho, khoản phải thu và trở

về trạng thái ban đầu là tiền mặt (Richards & Laughlin, 1980) Tuy nhiên, nợ phải trả là trách nhiệm của các công ty và được thực hiện kịp thời Do đó, việc tính toán mức độ khác nhau của các thành phần tài sản ngắn hạn trở nên thường xuyên, lặp đi lặp lại và tốn nhiều thời gian của các nhà quản trị tài chính

Quản trị tài sản ngắn hạn liên quan đến việc lập kế hoạch và kiểm soát các tài sản ngắn hạn và các khoản nợ hiện tại, cách để loại bỏ nguy cơ mất khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của một công ty và để tránh đầu tư quá mức vào những tài sản khác (Eljelly, 2004) Việc xem xét một cách cẩn trọng các hoạt động quản lý tài sản ngắn hạn sẽ vô cùng có lợi cho bất cứ ai có quyết định tiến hành đầu tư Quyết định tối đa hóa lợi nhuận có xu hướng giảm thiểu khả năng thanh khoản Ngược lại tập trung hoàn toàn vào thanh khoản có thể sẽ làm giảm lợi nhuận tiềm năng của công

ty (Deloof, 2003) Việc quản trị tài sản ngắn hạn liên quan đến quản trị tiền mặt,

Trang 17

hàng tồn kho, các khoản phải thu và phải trả Sự tăng tài sản ngắn hạn có thể cho thấy các doanh nghiệp đã tăng các khoản phải thu, hàng tồn kho hoặc các tài sản hiện tại khác

2.2.2 Quản trị tiền mặt

Sagan (1955) nhấn mạnh sự cần thiết phải quản trị các tài khoản vốn lưu động

và cảnh báo rằng nó có thể cực kỳ ảnh hưởng đến sức khỏe của một công ty Thảo luận chủ yếu của ông là vai trò của người quản trị tiền mặt Ông lưu ý rằng các hoạt động quản trị tiền mặt chủ yếu là các dòng tiền phát sinh từ các giao dịch kinh doanh thông thường Ông ám chỉ rằng người quản trị tiền mặt phải hiểu rõ những gì đang được thực hiện với hàng tồn kho, các khoản phải thu và phải trả vì tất cả đều ảnh hưởng đến lượng tiền mặt Sagan tập trung chủ yếu vào các thành phần vốn lưu động Ông đề nghị rằng người quản trị tiền mặt nên đưa ra quyết định dựa trên ngân sách tiền mặt và tổng số tài sản hiện tại chứ không phải trên cơ sở tỷ lệ vốn lưu động truyền thống, cách này người quản trị sẽ tránh được khoản vay không cần thiết ngay cả khi lượng vốn lưu động ròng thấp Nghiên cứu này nhấn mạnh sự cần thiết việc thu gom các khoản phải thu mà không cung cấp một phương pháp để đạt được

Hình 2.1: Chu kỳ luân chuyển của tiền mặt

Quản trị tiền mặt với mục tiêu chính là phải đảm bảo đủ dòng tiền để các doanh nghiệp duy trì hoạt động kinh doanh một cách bình thường trên cơ sở giảm

Trang 18

thiểu rủi ro mất khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính trong ngắn hạn Sự thiếu hụt tiền mặt có thể gây trục trặc cho hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp như đầu tư quá nhiều vào khoản tồn kho, khoản phải thu hay các khoản khác thì lại làm giảm khả năng thanh toán, sẽ làm tăng chi phí cơ hội của đầu tư, đặc biệt khi doanh nghiệp dùng nguồn vốn từ bên ngoài để tài trợ cho các khoản này

Quản trị tiền mặt có sự giống nhau với mô hình quản trị hàng tồn kho (EOQ)

Về hình thức, tiền mặt cũng giống như hàng tồn kho vì cả hai đều là nguyên vật liệu dùng trong quá trình sản xuất Để quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra suôn sẻ, các doanh nghiệp cần phải có một lượng tiền mặt dự trữ Nếu dự trữ quá nhiều so với nhu cầu thực tế sẽ làm vốn tiền mặt bị ứ đọng Ngược lại, nếu dự trữ quá ít sẽ làm giảm khả năng thanh toán, ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp Để xác định lượng dự trữ tiền mặt hợp lý, hạn chế rủi ro phát sinh, các doanh nghiệp có thể xem xét những nghiên cứu nổi tiếng nhất trong lĩnh vực này: Nghiên cứu đầu tiên của Baumol (1952), và Miller & Orr (1966) về một mô hình quản trị tiền mặt, Các giả định của các mô hình này sẽ thông báo cho các nhà quản lý biết các vấn đề liên quan với phương pháp quản lý tài sản ngắn hạn

Mô hình Baumol

Mô hình này được thiết kế để giảm thiểu tổng chi phí cơ hội liên quan đến việc nắm giữ tiền mặt và chi phí giao dịch liên quan đến chuyển đổi tiền mặt Các thủ thuật này rất giống với mô hình quản lý tồn kho EOQ, nhưng nó phù hợp hơn với các biến khác nhau Mô hình này giả định rằng công ty nắm giữ một danh mục đầu

tư thị trường chứng khoán thì có thể dễ dàng được chuyển đổi thành tiền mặt (Baumol, 1952) Theo mô hình này, tiền mặt được giả định là khởi đầu, và sau đó thì giảm suốt về giá trị không

Trang 19

Hình 2.2 Mô hình quản trị tiền mặt của Baumol

Nguồn Pandey, I.M (2010) Financial Management (10Th Edition)

Trong mô hình Baumol, người quản trị tài chính phải quyết định về việc phân

bổ lại ngồn vốn giữa tiền mặt và chứng khoán thị trường (Pandey, 2010) Một lần nữa, sự đánh đổi này tạo thành cơ sở cho việc tính toán Tuy nhiên, sự đánh đổi này

có liên quan đến chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền mặt tăng lên theo mức tiền mặt và các chi phí phát sinh giao dịch giảm khi tăng mức tiền mặt với mỗi giao dịch (Cornett và cộng sự, 2009)

Các chi phí cơ hội thể hiện sự mất đi lợi ích khi nắm giữ tiền mặt thay vì được đầu tư Các chi phí giao dịch tương ứng với chi phí phát sinh khi một doanh nghiệp quyết định mua hoặc bán chứng khoán (Pandey, 2010) Nếu một doanh nghiệp quyết định duy trì một mức tiền mặt thấp, nó sẽ phải thực hiện nhiều giao dịch dẫn đến chi phí giao dịch cao nhưng chi phí cơ hội thấp vì có rất ít quỹ tiền mặt nhàn rỗi Nếu doanh nghiệp vẫn duy trì một lượng lớn tiền mặt, thì chi phí cơ hội của công ty sẽ cao hơn do số lượng tiền mặt không đầu tư tương đối lớn nhưng các chi phí giao dịch sẽ giảm vì chỉ có một vài giao dịch sẽ là cần thiết (Pandey, 2010)

Mô hình Miller & Orr

Miller & Orr (1966) trong một nỗ lực tạo ra mô hình quản lý tiền mặt thực tế hơn dựa trên mô hình Baumol Miller & Orr phát triển một mô hình số dư tiền mặt với dòng tiền vào và ra biến động ngẫu nhiên từ ngày này sang ngày khác Trong

mô hình Miller-Orr bao gồm cả dòng tiền vào và dòng tiền ra, mô hình này giả định

Trang 20

rằng sự phân bố của các dòng tiền ròng hàng ngày (dòng tiền vào trừ dòng tiền ra) được phân phối bình thường Trên mỗi ngày dòng tiền ròng có thể là giá trị ở mức

kỳ vọng hoặc một số giá trị cao hơn hoặc thấp hơn Mô hình này giả định rằng dòng tiền ròng ở mức kỳ vọng sẽ là số không

Hình 2.3 Mô hình quản trị tiền mặt của Miller & Orr

Nguồn Pandey, I.M (2010) Financial Management (10Th Edition)

Hình 2.3 cho thấy cách mô hình Miller-Orr hoạt động Mô hình này hoạt động trong điều kiện giới hạn kiểm soát trên (U) và dưới (L) và chỉ tiêu số dư tiền mặt (Z) Các doanh nghiệp cho phép số dư tiền mặt của mình để biến động một cách ngẫu nhiên trong giới hạn trên và dưới Miễn là số dư tiền mặt là giữa U và L, thì các doanh nghiệp sẽ không có giao dịch Khi số dư tiền mặt đạt đến U, chẳng hạn như tại điểm A, thì doanh nghiệp mua (U – Z) đồng chứng khoán để giảm số dư tiền mặt trở về Z Ngược lại, khi số dư tiền mặt giảm xuống L, chẳng hạn như tại điểm B (giới hạn dưới), các doanh nghiệp nên bán (Z – L) đồng chứng khoán và tăng số dư tiền mặt đến Z

Cũng giống như mô hình Baumol, mô hình Miller-Orr phụ thuộc vào chi phí giao dịch và chi phí cơ hội Chi phí giao dịch liên quan đến việc mua, bán chứng khoán, F,được giả định là cố định Chi phí cơ hội do việc nắm giữ tiền mặt, R, là lãi suất hàng ngày trên chứng khoán thị trường Không giống như trong mô hình Baumol, số lượng giao dịch mỗi giai đoạn là một biến ngẫu nhiên thay đổi tùy thuộc

sự biến động các dòng tiền vào và ra Như vậy, chi phí giao dịch cho mỗi giai đoạn

Trang 21

phụ thuộc vào số lượng dự kiến của các giao dịch trong thị trường chứng khoán trong giai đoạn này Tương tự như vậy, chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền mặt là

số dư tiền mặt dự kiến mỗi thời kỳ

Với L được cho sẵn bởi các doanh nghiệp, mô hình Miller-Orr tìm được sự chỉ tiêu số dư tiền mặt ( Z ), và giới hạn trên ( U ) Giá trị của Z và U giảm thiểu tổng chi phí dự kiến đã được xác định bởi Miller & Orr là:

Trong đó dấu * chỉ giá trị tối ưu 2 là phương sai của dòng tiền mặt ròng hàng ngày Tồn quỹ tiền mặt trung bình theo mô hình Miller – Orr là:

Khoảng dao động tiền mặt dự kiến phụ thuộc vào ba yếu tố sau: Mức dao động của thu chi ngân quỹ hàng ngày lớn hay nhỏ; Chi phí cố định của việc mua bán chứng khoán; Lãi suất càng cao các doanh nghiệp sẽ giữ lại ít tiền và do vậy khoảng dao động tiền mặt sẽ giảm xuống Khoảng dao động tiền mặt được xác định bằng công thức sau:

Mô hình Miller – Orr có thể ứng dụng để thiết lập tồn quỹ tiền mặt tối ưu Tuy nhiên, để sử dụng mô hình này giám đốc tài chính cần làm bốn việc sau:

- Thiết lập giới hạn dưới cho tồn quỹ tiền mặt (L) Giới hạn này liên quan đến mức độ an toàn chi tiêu do ban quản lý quyết định

- Ước lượng độ lệch chuẩn của dòng tiền mặt thu chi hàng ngày

- Quyết định mức lãi suất để xác định chi phí giao dịch hàng ngày

Trang 22

- Ước lượng chi phí giao dịch liên quan đến việc mua bán chứng khoán ngắn hạn

Như vậy trong hai mô hình quản trị tiền mặt trên giúp các nhà quản trị xác định được mức tồn quỹ tương đối phù hợp cho nhu cầu của doanh nghiệp mình Tránh tình trạng tồn quỹ quá nhiều dẫn đến lãng phí, mất đi chi phí cơ hội làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Ngược lại tồn quỹ quá ít sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của công ty từ đó ảnh hưởng đến uy tín của công ty, làm phát sinh thêm chi phí, giảm hiệu quả kinh doanh của công ty

2.2.3 Quản trị khoản phải thu khách hàng

Một công ty tích lũy các khoản phải thu khi bán hàng bằng tín dụng Tùy thuộc vào các điều khoản thanh toán, công ty có thể nhận được tiền mặt trong vài tuần hoặc thậm chí vài tháng Một công ty có thể quản lý các khoản phải thu của nó bằng cách quản lý tín dụng, có nghĩa là các quyết định liên quan đến điều khoản bán hàng, phân tích tín dụng và chính sách thu phải được thực hiện Fabozzi & Peterson (2003) nói rằng khi một công ty cho phép khách hàng thanh toán hàng hóa, dịch vụ một ngày sau đó, thì nó tạo ra các tài khoản phải thu hoặc liên quan đến thương mại tín dụng Khoản phải thu (tín dụng thương mại) cũng có chi phí cơ hội liên quan đến chúng, bởi vì công ty không thể đầu tư tiền này ở nơi khác cho đến khi thu gom các khoản phải thu lại

Cung cấp tín dụng thương mại thường được sử dụng bởi các doanh nghiệp như một chiến lược tiếp thị để mở rộng hoặc duy trì doanh số (Pandey, 2010) Quản lý các khoản phải thu có hiệu quả tăng thêm bởi kỳ thu nợ ngắn, các khoản nợ xấu ở mức thấp và chính sách tín dụng phù hợp, thường xuyên cải thiện khả năng doanh nghiệp để thu hút khách hàng mới và tăng lợi nhuận phù hợp, vì vậy cần phải có một chính sách tín dụng tốt để đảm bảo tối ưu hóa giá trị doanh nghiệp kinh doanh (Ross và cộng sự, 2008) Chi phí giảm khi người mua trả bằng tiền mặt, sự tổn thất các khoản nợ xấu và chi phí cho sự quản lý tín dụng cũng như chi phí khi đòi nợ những người không trả tín dụng là những chi phí liên quan đến việc cấp tín dụng Những khoản chi phí này tăng theo số lượng cấp tín dụng Các công ty có hiệu quả

Trang 23

trong việc quản lý các khoản phải thu nên tối ưu các khoản tín dụng của họ để giảm thiểu tổng chi phí cấp tín dụng (Ross và cộng sự, 2008)

Michalski (2007) trong nghiên cứu của mình, quan sát thấy rằng sự gia tăng mức độ các khoản phải thu trong một công ty là tăng cả vốn lưu động ròng và chi phí quản lý các tài khoản phải thu, cả hai đều làm giảm giá trị của công ty Một nghiên cứu của Lazaridis & Dimitrios (2005) phát hiện ra rằng các công ty tăng các khoản phải thu của họ đến một mức độ tối ưu thì lợi nhuận tăng từ việc tăng doanh thu và thị phần

Một nghiên cứu của Juan & Martinez (2002) nhấn mạnh rằng công ty có thể tạo ra giá trị bằng cách giảm số ngày của các tài khoản phải thu Phát hiện Deloof (2003) khẳng định thêm độ dài của thời gian các khoản phải thu có ảnh hưởng tiêu cực đến một hiệu suất của công ty Một nghiên cứu của Sushma & Bhupesh (2007) cũng khẳng định rằng, việc đưa ra một chính sách tín dụng tốt thì đảm bảo quy trình thu hồi nợ đúng đắn và là then chốt trong việc nâng cao hiệu quả quản lý các khoản phải thu

Việc quản trị các khoản phải thu thường được các doanh nghiệp sử dụng bởi chính sách tín dụng Việc đầu tư vào các tài khoản phải thu, nợ, cũng như tất cả các quyết định đầu tư, phải kiếm được một tỉ suất lợi nhuận vượt quá tỷ suất lợi nhuận cần thiết Rủi ro chính phát sinh từ việc cấp tín dụng bao gồm các khoản nợ xấu và người nợ phạm pháp, vì chúng làm giảm lợi nhuận từ việc đầu tư vào các tài khoản phải thu, và nếu không được theo dõi có thể ảnh hưởng nghiêm trọng về hiệu quả tài chính của doanh nghiệp (Brigham và cộng sự, 1999; Gitman, 1997; Hampton & Wagner, 1989; Scherr, 1989; Gallinger & Healey, 1987; Kallberg & Parkinson, 1984)

Chính sách tín dụng và chính sách thu phải được xử lý tích cực vì chúng ảnh hưởng đến thời gian của dòng tiền, doanh thu, lợi nhuận và các khoản rủi ro phải thu (Gitman, 1997; Schmidt, 1996; Chambers & Lacey, 1994; Moss & Stine, 1993; Hill & Sartoris, 1992; Gallinger & Healey, 1987; Richards & Laughlin, 1980) Bất

kỳ thay đổi trong tín dụng và chính sách thu điều tác động trực tiếp vào các tài khoản nợ phải thu bình quân duy trì tương đối so với doanh thu hàng năm của một

Trang 24

doanh nghiệp (Moss & Stine, 1993; Richards & Laughlin, 1980) Vì vậy, một doanh nghiệp nên có những nỗ lực đặc biệt để giám sát cả quá trình thu hồi tín dụng và cấp tín dụng (Chang và cộng sự, 1995; Back, 1988)

Chính sách tín dụng bao gồm ba yếu tố: sự lựa chọn tín dụng, tiêu chuẩn tín dụng, và các điều khoản tín dụng Lựa chọn tín dụng liên quan đến các quyết định

có hay không để cấp tín dụng và nếu có thì mở rộng bao nhiêu tín dụng Điều này được thực hiện bằng biện pháp phân loại khách hàng bởi yếu tố nguy cơ, thuộc tính chung, thiết lập tiêu chuẩn, đánh giá rủi ro và lựa chọn trách nhiệm thích hợp (Schmidt, 1996; Gallinger & Healey, 1987) Khi quyết định tín dụng có ảnh hưởng đến dòng tiền mặt hay không, giai đoạn đầu tiên là thiết lập kiểm soát tín dụng để đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng, trước khi cấp tín dụng (Back, 1988) Để xác định xem ai sẽ nhận được tín dụng, cấp tín dụng cần phải xem xét mức độ tín nhiệm của người nhận tín dụng (Gitman, 1997; Scherr, 1989; Kalleberg & Parkinson, 1984)

Tiêu chuẩn tín dụng là mức tối thiểu của mức độ tín nhiệm mà một người nợ tiềm năng sẽ cần phải đạt được để đủ điều kiện để cấp tín dụng (Gitman, 1997) Các tiêu chuẩn tín dụng kinh doanh thông thường được sửa đổi theo định kỳ Các yếu tố chính cần được xem xét nên thắt chặt hoặc nới lỏng tiêu chuẩn tín dụng bao gồm các tác động về doanh số bán hàng, đầu tư vào khoản phải thu, chi phí của khoản tiền thu hồi và các khoản nợ xấu Nếu doanh thu tăng thì ít nhất lợi nhuận cũng được tăng tương ứng với sự gia tăng các khoản phải thu, tính thanh khoản giảm sẽ được phản ánh trong khoản phải thu thấp hơn và thời gian thu hồi dài hơn (Richards & Laughlin, 1980)

Trang 25

Hình 2.4 Mô hình nới lỏng chính sách bán chịu

(Nguồn chương trình giảng dạy Kinh tế Fullbright) Hình 2.5 Mô hình thắt chặt chính sách bán chịu

(Nguồn chương trình giảng dạy Kinh tế Fullbright)

Điều khoản tín dụng ghi rõ kế hoạch trả nợ của người đi vay và bao gồm các vấn đề như giảm giá tiền mặt, thời gian giảm giá tiền mặt, và thời hạn tín dụng Ví

dụ, điều khoản tín dụng “3/15 net 30” có nghĩa là khách hàng được hưởng 3% chiết khấu nếu thanh toán trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hóa đơn được phát hành và nếu khách hàng không lấy chiết khấu thì khách hàng được trả chậm trong thời gian

30 ngày kể từ ngày phát hành hóa đơn

Trang 26

Hình 2.6 Mô hình mở rộng thời gian bán chịu

(Nguồn chương trình giảng dạy Kinh tế Fullbright) Hình 2.7 Mô hình rút ngắn thời gian bán chịu

(Nguồn chương trình giảng dạy Kinh tế Fullbright)

Bất kỳ thay đổi trong ba yếu tố có thể ảnh hưởng đến doanh số bán hàng, đầu

tư vào khoản phải thu, các khoản nợ xấu và lợi nhuận Ví dụ một quyết định giảm giá bằng tiền mặt nhiều hơn nên được cân nhắc bằng cách so sánh lợi nhuận tăng do doanh số bán hàng tăng, giảm các khoản phải thu và giảm nợ xấu để giảm chi phí Mặt khác một quyết định để giảm giảm giá bằng tiền mặt nên được đánh giá bằng

Trang 27

cách so sánh các mức giảm lợi nhuận do việc bán hàng gia tăng, tăng tài khoản phải thu tăng chi phí các khoản nợ xấu (Gitman, 1997)

Hình 2.8 Mô hình tăng tỷ lệ chiết khấu

(Nguồn chương trình giản dạy Kinh tế Fullbright) Hình 2.9 Mô hình giảm tỷ lệ chiết khấu

(Nguồn chương trình giản dạy Kinh tế Fullbright)

Một khi tín dụng đã được cấp và đã được thực hiện, các khoản phải thu phải được thu hồi Mục tiêu của quản lý khoản phải thu là để đảm bảo rằng khoản thanh toán được nhận theo tiến độ, nếu không phải cần một đầu tư lớn hơn cho các khoản phải thu Nếu các khoản phải thu có thể được thu hồi nhanh hơn, mà không thiệt hại đến doanh số bán hàng hoặc uy tín của khách hàng, thì sẽ tốn ít vốn hơn cho các

Trang 28

khoản phải thu, và tốn ít chi phí hơn quản lý, điều tra, thu hồi nợ và chi phí nợ xấu (Gitman, 1997; Chang và cộng sự, 1995) Điều quan trọng cần lưu ý là quản lý khoản phải thu và quản lý hàng tồn kho được liên kết chặt chẽ trong đó khoản phải thu là hàng tồn kho đã bán nhưng đã không tạo ra dòng tiền

2.2.4 Quản trị hàng tồn kho

Hàng tồn kho là một trong những tài sản ngắn hạn quan trọng Tùy thuộc vào loại ngành công ty đang hoạt động, hàng tồn kho có thể bao gồm những thứ khác nhau (nguyên vật liệu thô, sản phẩm dở dang hoặc thành phẩm đang chờ bán và vận chuyển đi) Quản lý và tối ưu hóa mức độ hàng tồn kho là những công việc đòi hỏi phải cân bằng giữa bán hàng và vốn Trong trường hợp mức tồn kho là quá thấp, các công ty có thể bỏ nhu cầu tăng doanh số bán hàng khi không có khả năng cung cấp hàng đúng thời gian Mặt khác, quá nhiều hàng tồn kho làm không thể sử dụng vốn ở những nơi khác có hiệu quả hơn

Quản trị hàng tồn kho ám chỉ một sự đầu tư tối ưu trong hàng tồn kho Nó sẽ không phải là quá thấp để ảnh hưởng sản xuất, cũng không quá cao để cản trở các quỹ đầu tư cần thiết khác Thừa hàng tồn kho là không có lợi cho việc kinh doanh, không ai muốn đầu tư quá mức hoặc không đủ hàng tồn kho (Fabozzi & Peterson, 2003) Do đó, công ty sẽ hoạt động trong hai điểm nguy hiểm này Ngoài ra, quản trị hàng tồn kho thích hợp đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận bán hàng, thu mua, sản xuất và tài chính Các bộ phận bán hàng hay tiếp thị thường là người đầu tiên phát hiện những thay đổi trong nhu cầu Những thay đổi này phải được đưa vào lịch trình thu mua và sản xuất của công ty, và người quản trị tài chính phải sắp xếp bất kỳ nhu cầu tài chính để hỗ trợ tích trữ hàng tồn kho (Brigham & Houston, 2003)

Nói chung, mục đích của quản trị hàng tồn kho là để xác định và duy trì mức

độ tối ưu về hàng tồn kho Đồng thời, nó giúp chi phí đặt hàng và vận chuyển tồn kho ở mức thấp nhất có thể Ross và cộng sự (2008) đã quan sát mô hình, mô hình EOQ (Economic Order Quantity) là mô hình quản lý hàng tồn kho mang tính định lượng được sử dụng để xác định mức tồn kho tối ưu cho doanh nghiệp dựa trên cơ

sở giữa chi phí tồn trữ hàng tồn kho và chi phí đặt hàng có mối tương quan tỉ lệ

Trang 29

nghịch Cụ thể, khi số lượng sản phẩm cho mỗi lần đặt hàng tăng lên, số lần đặt hàng trong kỳ giảm dẫn đến chi phí đặt hàng giảm trong khi chi phí tồn trữ hàng tăng lên Do đó, mục đích của quản lý hàng tồn kho là cân bằng hai loại chi phí: chi phí tồn trữ và chi phi đặt hàng sao cho tổng chi phí tồn kho là thấp nhất

Hình 2.10 Sơ đồ biểu diễn mô hình EOQ

(Nguồn chương trình giản dạy Kinh tế Fullbright)

Một phương pháp tối ưu mức tồn kho nữa là hệ thống quản lý tồn kho JIT (Gitman, 1997) Đây là hệ thống được miêu tả “chỉ sản xuất đúng sản phẩm, với đúng số lượng, tại đúng nơi, vào đúng thời điểm” Tuy nhiên, mô hình JIT chỉ hiệu quả đối với những doanh nghiệp có hoạt động sản xuất lặp đi lặp lại, có sự kết hợp chặt chỗ giữa nhà sản xuất và nhà cung cấp

Duy trì mức tồn kho tối ưu, làm giảm các chi phí gián đoạn hoặc các tổn thất kinh doanh do sự khan hiếm của sản phẩm, giảm chi phí cung cấp vật liệu và bảo vệ chống lại sự biến động giá cả Giai đoạn chuyển đổi hàng tồn kho có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu suất của một doanh nghiệp Ví dụ, rút ngắn thời gian chuyển đổi hàng tồn kho có thể làm tăng chi phí hàng tồn kho do mất cơ hội bán hàng và dẫn đến hiệu suất kém (Deloof, 2003) Các nhà quản lý nên giữ tồn kho của họ đến một mức

độ tối ưu vì khi quản lý hàng tồn kho kém sẽ dẫn đến tăng vốn dư thừa cho chi phí các hoạt động lợi nhuận (Lazaridis & Dimitrios, 2005)

Trang 30

2.3 Yếu tố quyết định hiệu suất tài chính

2.3.1 Số ngày thu tiền bình quân

Số ngày thu tiền bình quân được sử dụng như thước đo của chính sách thu nợ khách hàng Nó thể hiện số ngày trung bình mà doanh nghiệp chờ đợi để nhận các khoản thanh toán từ khách hàng Thước đo này được tính bằng cách chia khoản phải thu trung bình với doanh thu thuần, sau đó nhân kết quả với số ngày của kỳ Khoản phải thu trung bình được tính bằng tổng số khoản phải thu đầu kỳ và cuối kỳ chia

với 2 Số ngày thu tiền bình quân này thấp thì có thể khả năng sinh lời của doanh

nghiệp tăng (Rimo & Panbunyuen, 2010)

2.3.2 Số ngày tồn kho bình quân

Số ngày tồn kho bình quân đại diện cho thời gian mà hàng tồn kho của công ty được lưu giữ trước khi được bán Số ngày trung bình hàng tồn được tính bằng cách lấy giá trị trung bình hàng tồn kho chia cho giá vốn hàng bán, sau đó nhân với số ngày trung bình một kỳ thường là 365 ngày Giá trị trung bình hàng tồn kho bằng tổng hàng tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ chia 2, (Rimo & Panbunyuen, 2010)

Deloof (2003) nhận thấy có mối quan hệ nghịch biến có ý nghĩa thống kê giữa

số ngày hàng tồn kho và khả năng sinh lợi Điều này giải thích rằng sự gia tăng số ngày tồn kho phản ảnh qua việc giảm doanh thu dẫn đến lợi nhuận công ty giảm Một nghiên cứu khác bởi Boisjoly (2009) nhận thấy việc gia tăng số vòng quay hàng tồn kho trong giai đoạn 15 năm chỉ rõ rằng công ty ngày càng cải thiện việc quản lý hàng tồn kho Để quản lý hàng tồn kho, có nhiều cách được áp dụng tùy vào tình hình thực tế của các công ty như mô hình quản lý hàng tồn kho hiệu quả (EOQ), hệ thống quản lý hàng tồn kho đúng lúc just-in-time (Just-In-Time) như đã trình bài ở phần trên

2.3.3 Số ngày trả tiền bình quân

Số ngày trả tiền bình quân được sử dụng như thước đo của chính sách trả nợ nhà cung cấp Nó thể hiện số ngày trung bình mà công ty sẽ thanh toán cho những nhà cung cấp Trong khi hai thước đo trước cần phải giữ ở mức thấp thì số ngày khoản phải trả dài sẽ có lợi trong việc tăng khả năng sinh lời (Rimo & Panbunyuen, 2010) Tương tự như số ngày tồn kho bình quân, số ngay trả tiền bình quân được

Trang 31

tính bằng cách lấy trung bình khoản phải trả chia cho giá vốn bán hàng, sau đó nhân với số ngày trung bình một kỳ thường là 365 ngày Nghiên cứu của Deloof (2003) cho thấy mối quan hệ đồng biến giữa số ngày trung bình khoản phải trả và khả năng sinh lợi Trong trường hợp của những công ty ở Bỉ, những nhà cung cấp đề nghị chiết cao đối với những khách hàng thanh toán ngay bằng tiền mặt, và điều đó làm gia tăng lợi nhuận của công ty (Deloof, 2003)

2.3.4 Thanh khoản

Jose (1996) định nghĩa thanh khoản như một chức năng của các tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn Thanh khoản là điều cần thiết trong việc xác định các chính sách vốn lưu động của một doanh nghiệp vì nó chỉ ra khả năng thanh toán đáo hạn của một doanh nghiệp Khả năng thanh toán được tính bằng cách xác định hệ số khả năng thanh toán nhanh (Quick ratio) hoặc tỷ số thanh toán hiện thời (Current ratio) Thanh khoản là điều cần thiết cho sự tồn tại của công ty Nó ảnh hưởng đến giảm hoặc tăng chi phí tài chính, những thay đổi trong bán hàng, cũng như nó ảnh hưởng đến mức độ rủi ro của công ty Các quyết định của thanh khoản có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của công ty Tầm quan trọng của tính thanh khoản để thực hiện công ty có thể đưa đến kết luận rằng nó sẽ xác định mức lợi nhuận của công ty Vấn đề này là chủ đề của nhiều nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đã được tiến hành bởi Smith (1980), Shin & Soenen (1998), Deloof (2003), Eljelly (2003), Lazaridis & Tryfonidis (2006), Padachi (2006 )

2.3.5 Quy mô công ty

Quy mô một công ty là số lượng và hiệu suất hoặc khả năng sản xuất của một công ty sở hữu, hoặc số lượng và sự đa dạng của các dịch vụ của một công ty có thể cung cấp đồng thời cho khách hàng Quy mô của một công ty là một yếu tố chính trong việc xác định lợi nhuận của một công ty, do đó các khái niệm được gọi là của quy mô kinh tế mà có thể được tìm thấy trong quan điểm tân cổ điển truyền thống của công ty Điều này mâu thuẫn với công ty nhỏ hơn, các mục có thể được sản xuất trên chi phí thấp hơn nhiều của các công ty lớn hơn Theo khái niệm này, dự kiến có một mối quan hệ tích cực giữa quy mô doanh nghiệp và lợi nhuận

Trang 32

Phần lớn các nghiên cứu đo lường ảnh hưởng của quy mô công ty đến lợi nhuận đã tìm thấy kết quả với hướng tích cực giữa quy mô công ty và lợi nhuận Cùng với điều này, một mối quan hệ tích cực giữa quy mô công ty và lợi nhuận đã được tìm thấy bởi Vijayakumar & Tamizhselvan (2010) Các tác giả đã sử dụng các biện pháp khác nhau về quy mô (doanh thu và tổng tài sản) và lợi nhuận (lợi nhuận biên và lợi nhuận trên tổng tài sản) khi áp dụng mô hình trên một mẫu gồm 15 công

ty hoạt động ở Nam Ấn Độ trong nghiên cứu của họ

Serrasqueiro & Nunes (2008) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa quy mô và hiệu suất của các công ty lớn và nhỏ hoạt động ở Bồ Đào Nha từ năm 1999 đến năm

2003 Một mối quan hệ có ý nghĩa về mặt thống kê tích cực đã được ghi nhận Tương tự, một nghiên cứu của Lee (2009) về các doanh nghiệp hoạt động tại Hoa

Kỳ giữa năm 1987-2006, cũng tìm thấy một mối quan hệ tích cực giữa quy mô doanh nghiệp và lợi nhuận Stierwald (2009) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của một mẫu của 960 công ty ở Úc từ năm 1995 đến năm 2005 Cũng giống như hai nghiên cứu đầu tiên, anh ta phát hiện ra rằng quy mô doanh nghiệp tích cực ảnh hưởng đến lợi nhuận Do đó, quy mô của công ty là một yếu tố quyết định quan trọng của lợi nhuận

2.3.6 Đòn bẩy tài chính

Đòn bẩy tài chính là cách thức các công ty sử dụng nguồn nợ khác nhau cho các hoạt động tổng thể và phát triển công ty Định lý Classical Modigliani & Miller (1958) khẳng định tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu không ảnh hưởng giá trị công ty trong thị trường vốn hoàn hảo Một vài giả định về thị trường vốn hoàn hảo Modigliani & Miller là không có chi phí giao dịch, tất cả các nhà đầu tư có thể vay hay cho vay với cùng một lãi suất, không có chi phí phá sản và chi phí kiệt quệ tài chính, giả định loại rủi ro là đồng nhất tức các doanh nghiệp hoạt động dưới điều kiện tương tự sẽ có cùng mức độ rủi ro kinh doanh, không có thuế thu nhập Sau đó, Modigliani & Miller (1963) loại bỏ giả định không có thuế thu nhập và phát triển một lý thuyết về lợi ích thuế trong nợ Bài báo này đã dẫn đến một cuộc thảo luận học thuật nghiêm túc về lý thuyết cấu trúc vốn Theo Modigliani & Miller, với thuế thu nhập doanh nghiệp, việc sử dụng nợ sẽ làm tăng giá trị doanh nghiệp Vì chi phí

Trang 33

lãi vay là chi phí hợp lý được khấu trừ khi tính thuế thu nhập do đó một phần thu nhập của doanh nghiệp có sử dụng nợ được chuyển cho các nhà đầu tư dẫn đến giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ bằng giá trị của doanh nghiệp không sử dụng nợ cộng với khoản lợi từ việc sử dụng nợ Như vậy, theo mô hình thuế Modigliani & Miller (1963), đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp Sử dụng nợ càng cao thì giá trị doanh nghiệp càng tăng và gia tăng tối đa đến khi doanh nghiệp được tài trợ 100% nợ Được các tác giả Lazaridis & Dimitrios Tryfonidis (2006); Mathuva (2010); Amarjit Gill, Nahum Biger, Neil Mathur (2010) sử dụng trong nghiên cứu

2.4 Mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn và khả năng sinh lời của doanh nghiệp 2.4.1 Khả năng sinh lời

Khả năng sinh lời (Profitability) là một khái niệm có nguồn gốc từ chữ “lợi nhuận” (Profit) Lợi nhuận là sự chênh lệch giữa doanh thu và các chi phí liên quan cho một hoạt động trong một khoảng thời gian (CIMA, 2009) Lord Keynes nhận xét rằng “lợi nhuận là động cơ điều khiển tất cả các doanh nghiệp” Điều này bắt buộc tất cả các doanh nghiệp phải kiếm đủ lợi nhuận để tồn tại và có thể mở rộng trong một khoảng thời gian Lợi nhuận rất cần thiết cho việc mở rộng kinh doanh

Nó là thước đo để đánh giá hiệu quả quản lý cũng như các mục tiêu kinh tế và xã hội (CIMA, 2009) Do đó, khả năng sinh lời có nghĩa là khả năng tạo ra lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh của tổ chức, công ty hoặc doanh nghiệp Khả năng sinh lời cho thấy cách quản lý hiệu quả có thể tạo ra lợi nhuận bằng cách sử dụng nguồn lực sẵn có của thị trường Hơn nữa, khả năng sinh lợi là nỗ lực của một đầu tư nào

đó để kiếm được lời nhuận từ việc sử dụng nó (CIMA, 2009)

Một sự phân biệt rõ ràng giữa khả năng sinh lời và lợi nhuận là khá quan trọng Vì vậy, trong thuật ngữ “lợi nhuận” chỉ đơn giản đề cập đến tổng thu nhập của một doanh nghiệp trong khoảng thời gian quy định, và khả năng sinh lời bao hàm hiệu quả trong hoạt động của một doanh nghiệp Đó là khả năng của doanh nghiệp để tạo ra lợi nhuận trên doanh số bán hàng Do đó, tỷ suất sinh lời chủ yếu được sử dụng như là các công cụ đánh giá khả năng sinh lời hiệu quả

Trang 34

2.4.2 Tỷ suất sinh lời

Tỷ suất sinh lời được định nghĩa là một phân loại các số liệu tài chính được sử dụng đánh giá khả năng kinh doanh trong việc tạo ra thu nhập so với chi tiêu và tất

cả các chi phí phát sinh trong một thời gian nhất định (CIMA, 2009) Tỷ suất sinh lời là tỷ lệ thu nhập trên đầu tư của công ty Một sự đầu tư lớn không xác đáng vào các tài sản lưu động sẽ làm giảm tỷ lệ thu nhập này (Vishnani, 2007)

Tỷ suất sinh lời đo lường khả năng tạo ra thu nhập liên quan đến tài sản, vốn chủ sở hữu và bán hàng Những chỉ số của tỷ lệ này đánh giá khả năng của một công ty tạo ra thu nhập, lợi nhuận và dòng tiền mặt so với một số chỉ tiêu khác, thường là những đầu tư bằng tiền Tỷ lệ thể hiện hiệu quả lợi nhuận của công ty (Moles và cộng sự, 2011)

Để nhận thức đúng đắn về lợi nhuận thì không phải chỉ quan tâm đến tổng mức lợi nhuận mà cần phải đặt lợi nhuận trong mối quan hệ với vốn, tài sản, nguồn lực kinh tế tài chính mà doanh nghiệp đã sử dụng để tạo ra lợi nhuận trong từng phạm vi, trách nhiệm cụ thể Điều đó được thể hiện qua những chỉ tiêu tài chính như lợi nhuận trên đầu tư, lợi nhuận trên doanh thu, lợi nhuận trên vốn sử dụng, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, lợi nhuận tiền mặt trên vốn đầu tư, tỷ suất lợi nhuận ròng và tỷ suất lợi nhuận gộp Tỷ suất sinh lời khác nhau cho biết lợi ích khác nhau

về sức khỏe và hiệu suất của một công ty

Một số tỷ suất sinh lời được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng như hệ số biên lợi nhuận gộp còn gọi là hệ số tổng lợi nhuận hoặc tỷ lệ lãi gộp được tính bằng cách lấy tổng lợi nhuận gộp chia cho doanh thu Nhiều nghiên cứu về quản lý vốn lưu động

và khả năng sinh lời sử dụng phương pháp này (như Deloof, 2003; Lazaridis & Tryfonidis, 2006; Aminu Yusuf, 2016) Chỉ số này cho biết mỗi đồng doanh thu thu

về tạo ra được bao nhiêu đồng thu nhập Hệ số biên lợi nhuận gộp là một chỉ số rất hữu ích khi tiến hành so sánh các doanh nghiệp trong cùng một ngành Doanh nghiệp nào có hệ số biên lợi nhuận gộp cao hơn chứng tỏ doanh nghiệp đó có lãi hơn và kiểm soát chi phí hiệu quả hơn so với đối thủ cạnh tranh của nó Hệ số biên lợi nhuận gộp được biểu hiện bằng con số phần trăm (%), ví dụ nếu hệ số biên lợi nhuận gộp là 20% tức là một công ty sẽ tạo ra được 0.2 đồng thu nhập trên mỗi

Trang 35

đồng doanh thu bán hàng Chỉ đơn thuần nhìn vào thu nhập của một doanh nghiệp

sẽ không thể nắm hết được toàn bộ thông tin về doanh nghiệp đó Thu nhập tăng là dấu hiệu tốt nhưng điều đó không có nghĩa là hệ số biên lợi nhuận gộp của doanh nghiệp đang được cải thiện

Phương pháp khác về khả năng sinh lời là tỷ suất sinh lời trên tài sản như Raheman & Nasr (2007), Karaduman (2010), Oladipupo & Okafor (2013), Nyabenge (2014) đã sử dụng Tỷ suất sinh lời trên tài sản ( ROA - Return On assets ) là một chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lợi trên một đồng vốn đầu tư vào công ty Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng hoặc lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) chia cho tổng tài sản

2.4.3 Mối quan hệ giữa quản trị tài sản ngắn hạn và khả năng sinh lời

Thực tế tài sản ngắn hạn được xem như là một chỉ số giúp các nhà đầu tư có nhận định về hiệu quả hoạt động của công ty Lượng tiền bị đọng trong hàng tồn kho hoặc lượng tiền mà khách hàng còn đang nợ đều không thể sử dụng để chi trả bất cứ khoản nợ nào của công ty cho dù nó vẫn là tài sản thuộc quyền sở hữu của công ty Vì vậy nếu một công ty không hoạt động ở mức hiệu quả cao nhất, thì điều này sẽ biểu hiện ra ngoài bằng sự gia tăng tài sản ngắn hạn Có thể nhận thấy điều này rõ ràng hơn nếu so sánh vốn lưu động của công ty qua các thời kỳ, việc thu hồi

nợ chậm có thể là dấu hiệu cho thấy những nguy cơ tiềm ẩn trong hoạt động của công ty và đồng thời làm giảm khả năng sinh lời của công ty

Có thể thấy các trường hợp tăng hay giảm các khoản phải thu, tiền mặt, tồn kho đều có tác động tương ứng đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp Có rất nhiều lý do giải thích tầm quan trọng của quản trị tài sản ngắn hạn, ví nhụ như công

ty sản xuất tài sản ngắn hạn chiếm hơn một nửa tổng tài sản của nó Đối với công ty thương mại, tài sản ngắn hạn chiếm nhiều hơn Việc đầu tư tài sản ngăn hạn quá mức dẫn đến kết quả lợi nhuận đầu tư kém hiệu quả Van Horne & Wachowicz (2004) chỉ ra rằng đầu tư tài sản lưu động quá nhiều có thể tác động tiêu cực đến lợi nhuận công ty Trong khi đầu tư tài sản lưu động ở mức thấp làm giảm thanh khoản

và tồn kho, dẫn đến khó khăn trong việc duy trì hoạt động Shin & Soenen (1998)

Trang 36

cho rằng hiệu quả của việc quản trị tài sản ngắn hạn đóng vai trò quan trọng trong chiến lược tổng thể doanh nghiệp để tạo ra giá trị cổ đông

Quản trị tài sản ngắn hạn được coi là kết quả của khoảng thời gian giữa chi tiêu cho việc mua nguyên vật liệu và thu về các doanh thu bán hàng hóa Cách quản trị tài sản ngắn hạn có tác động đáng kể cho cả thanh khoản và lợi nhuận của công

ty Lamberson (1995) cho thấy rằng quản lý vốn lưu động đã trở thành một trong những vấn đề quan trọng nhất trong tổ chức, nhiều nhà quản lý tài chính gặp khó khăn để xác định các công cụ điều khiển quan trọng của vốn lưu động và mức độ tối

ưu của vốn lưu động Kết quả là, các công ty có thể giảm thiểu rủi ro và cải thiện hiệu suất tổng thể của họ nếu họ có thể hiểu được vai trò và yếu tố quyết định vốn lưu động Một công ty có thể chọn một chính sách quản trị vốn lưu động tích cực với một mức độ tài sản ngắn hạn thấp là tỷ lệ phần trăm của tổng tài sản, hoặc nó cũng có thể được sử dụng cho các quyết định tài chính của công ty ở mức độ cao của nợ ngắn hạn là tỷ lệ phần trăm của tổng nợ phải trả (Afza & Nazir, 2009) Giữ một sự cân bằng tối ưu giữa mỗi thành phần tài sản ngắn hạn là mục tiêu chính của quản trị tài sản ngắn hạn Kinh doanh thành công phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tài chính để quản lý hiệu quả các khoản phải thu, hàng tồn kho, và các khoản phải trả (Filbeck & Krueger, 2005)

Lamberson (1995) chỉ ra rằng hầu hết thời gian và nỗ lực quản lý tài chính được sử dụng trong việc xác định mức độ chưa tối ưu của tài sản ngắn hạn và nợ phải trả và mang chúng đến mức tối ưu Một mức độ tối ưu của vốn lưu động là một

sự cân bằng giữa rủi ro và hiệu quả Nó yêu cầu giám sát liên tục để duy trì mức độ tối ưu của các thành phần khác nhau của tài sản ngắn hạn, chẳng hạn như các khoản phải thu tiền mặt, hàng tồn kho và các khoản phải trả (Afza & Nazir, 2009) Cuối cùng, quản trị tài sản ngắn hạn đóng một vai trò quan trọng trong quản lý doanh nghiệp, nó có thể tác động đến sự thành công hay thất bại của công ty trong kinh doanh bởi vì quản trị tài sản ngắn hạn ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty Vì thế

để đánh giá hiệu quả và tiềm lực tài chính của công ty, chúng ta cần xem xét từng thành phần của tài sản ngắn hạn có ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời như thế nào để từ

đó có cách xử lý thích hợp nhằm duy trì các thành phần tài sản ngắn hạn ở mức thỏa

Trang 37

đáng, điều đó có nghĩa là tài sản ngắn hạn không nên nhiều cũng không nên ít mà tối ưu

2.5 Những nghiên cứu thực nghiệm về tác động của quản trị tài sản ngắn hạn hay vốn lưu động đến khả năng sinh lời của công ty

Nhiều nghiên cứu đã phân tích các mối quan hệ giữa quản lý tài sản ngắn hạn

và hiệu suất tài chính công ty trong nhiều thị trường khác nhau Các quyết định về lượng hàng hóa tồn kho, kỳ hạn thu nợ khách hàng cũng như kỳ thanh toán cho người bán được phản ánh trong chu kỳ chuyển đổi tiền mặt của các doanh nghiệp Các kết quả này khá hỗn hợp, nhưng đa số các nghiên cứu kết luận một mối quan hệ tiêu cực giữa giữa quản trị tài sản ngắn hạn và lợi nhuận công ty Các nghiên cứu đã

sử dụng các phương pháp khác nhau để phân tích các mối quan hệ, như hồi quy tuyến tính và hồi quy dữ liệu bảng Phần này trình bày các nghiên cứu trước chủ yếu liên quan đến nghiên cứu này nhằm đánh giá và xác định khoảng cách nghiên cứu

Lazaridis & Dimitrios Tryfonidis (2006) nghiên cứu về “Mối quan hệ giữa

quản lý vốn lưu động và khả năng sinh lợi của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Athens” của Hy Lạp, hai tác giả Ioannis Lazaridis & Dimitrios

Tryfonidis đã sử dụng một mẫu gồm 131 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Athens (ASE - Athens Stock Exchange) trong giai đoạn 2001-2004 Mục đích của bài nghiên cứu này là thiết lập mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa khả năng sinh lợi với chu kỳ chuyển đổi tiền mặt ( CCC ) và các thành phần của nó của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Athens Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa khả năng sinh lợi, được đo lường bởi lợi nhuận hoạt động gộp và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt

Hơn nữa, họ tìm thấy một mối quan hệ tích cực giữa lợi nhuận gộp và nợ phải trả, điều này có nghĩa là kéo dài thời gian thanh toán thì lợi nhuận có thể tăng Trong phân tích tiếp theo, nợ phải trả được thay thế bằng khoản phải thu và nó cho thấy một mối quan hệ tiêu cực đến lợi nhuận hoạt động gộp Điều này chỉ ra rằng các nhà quản lý có thể tăng lợi nhuận bằng cách giảm thời gian tín dụng cho khách hàng Trong phân tích hồi quy cuối cùng, họ sử dụng hàng tồn kho và lợi nhuận

Trang 38

hoạt động gộp, và một lần nữa tìm thấy một mối quan hệ tiêu cực Tuy nhiên kết quả này là không đáng kể về mặt thống kê Kết luận là các nhà quản lý có thể tạo ra lợi nhuận cho công ty bằng cách quản lý chu kỳ chuyển đổi tiền mặt một cách phù hợp và duy trì mỗi thành phần (tài khoản phải thu khách hàng, phải trả người bán và hàng tồn kho) ở mức tối ưu

Padachi (2006) trong nghiên cứu của mình đã sử dụng tỷ số lợi nhuận trên

tổng tài sản (ROA) là thước đo khả năng sinh lợi, nghiên cưu về “Mối quan hệ giữa

quản trị vốn lưu động với khả năng sinh lời của công ty”, được điều tra cho một

mẫu của 58 công ty sản xuất nhỏ, sử dụng phân tích dữ liệu bảng cho giai đoạn 1998-2003 Các kết quả hồi quy của nghiên cứu chỉ ra rằng đầu tư cao trong hàng tồn kho và các khoản phải thu thì lợi nhuận thấp hơn Các biến số quan trọng được

sử dụng trong phân tích là số ngày tồn kho, số ngày phải thu, số ngày phải trả và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt Nghiên cứu của ông cũng cho thấy mối liên quan giữa quản lý vốn lưu động và lợi nhuận đã được tìm thấy trong nghiên cứu thực nghiệm trước đó

Ganesan (2007) đã phân tích “Hiệu quả quản trị vốn lưu động của các doanh

nghiệp ngành công nghiệp thiết bị viễn thông” tại Mỹ Mối quan hệ giữa quản lý

vốn lưu động và lợi nhuận được kiểm tra bằng mối tương quan và phân tích hồi quy Phân tích ANOVA được thực hiện để nghiên cứu tác động của công tác quản

lý vốn đến lợi nhuận Sử dụng một mẫu của 443 báo cáo tài chính hàng năm của công ty thiết bị viễn thông cho giai đoạn 2001-2007, nghiên cứu này cho thấy rằng mặc dù số ngày của vốn lưu động liên quan tiêu cực đến lợi nhuận, nhưng nó không ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận của các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp thiết bị viễn thông tại Mỹ

Raheman & Nasr (2007) nghiên cứu “Ảnh hưởng quản lý vốn lưu động đến lợi

nhuận thuần” từ hoạt động của các công ty Pakistan, với các biến khác nhau bao

gồm khoản trung bình phải thu, số ngày hàng tồn kho, thời hạn thanh toán trung bình, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, và tỷ số thanh toán hiện hành Họ đã chọn một mẫu của 94 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Pakistan Karachi trong khoảng thời gian sáu năm từ 1999-2004 và tìm thấy một mối quan hệ tiêu cực mạnh mẽ

Trang 39

giữa các biến trong vốn lưu động và lợi nhuận của công ty Họ phát hiện ra rằng khi các chu kỳ chuyển đổi tiền mặt tăng lên, nó dẫn tới sự suy giảm lợi nhuận của các công ty và các nhà quản trị có thể tạo ra một giá trị tích cực cho cổ đông bằng cách giảm chu kỳ chuyển đổi tiền mặt cho một mức tối thiểu có thể

Kithii (2008) đã tiến hành một nghiên cứu về “Mối quan hệ giữa quản lý vốn

lưu động và khả năng sinh lời của các công ty” được liệt kê trong giao dịch chứng

khoán Nairobi Mục tiêu của cô là quản lý vốn lưu động ảnh hưởng như thế nào đến khả năng sinh lời của các công ty Cô cũng nhằm thiết lập mối quan hệ giữa lợi nhuận, các chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và các thành phần của nó trong các công ty niêm yết tại sàn giao dịch chứng khoán Nairobi cho giai đoạn 2001-2006 Kết quả cho thấy rằng có một mối quan hệ tiêu cực với ý nghĩa thống kê giữa các biến trong quản trị vốn lưu động và khả năng sinh lời của công ty trừ chu kỳ phải trả cho thấy một mối quan hệ tích cực

Falope & Ajilore (2009) sử dụng một mẫu của 50 công ty phi tài chính niêm yết trên Nigeria cho giai đoạn 1996-2005 Nghiên cứu sử dụng định lượng dữ liệu bảng cho hồi quy Họ tìm thấy một mối quan hệ tiêu cực giữa lợi nhuận thuần từ hoạt động và thời gian thu trung bình, ngày tồn kho, thời hạn thanh toán trung bình

và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt cho một mẫu của năm mươi công ty Nigeria niêm yết trên sàn chứng khoán Nigeria Hơn nữa, họ không tìm thấy sự khác biệt lớn trong những ảnh hưởng của việc quản lý vốn giữa doanh nghiệp lớn và nhỏ

Izadima & Taki (2010) đã nghiên cứu “Ảnh hưởng của quản lý vốn lưu động

trên khả năng sinh lời cho các công ty” niêm yết trên sàn chứng khoán Tehran

trong giai đoạn 2001 đến 2008 Trong nghiên cứu này, ROA được sử dụng như một phương pháp đo lường khả năng sinh lời Các kết quả cho thấy một mối quan hệ tiêu cực giữa các chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và ROA, và đầu tư rất lớn trong hàng tồn kho cũng như các khoản phải thu làm suy giảm lợi nhuận

Mathuva (2010) trong nghiên cứu của ông về “Sự ảnh hưởng của công tác

quản trị vốn lưu đông đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp” Trong nghiên cứu

này, một mẫu của 30 doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Nairobi trong các giai đoạn 1993-2008 đã được sử dụng Cả hai mô hình hồi quy bình phương tối

Trang 40

thiểu OLS và mô hình hồi quy cố định được sử dụng Các phát hiện quan trọng từ cuộc nghiên cứu này là: (1) Tồn tại mối tương quan nghịch biến ở mức ý nghĩa cao giữa thời gian công ty thu hồi tiền mặt từ khách hàng (kỳ thu tiền bình quân - ACP)

và tỷ suất sinh lợi (p<0.01) Điều này có nghĩa là các công ty sinh lợi cao hơn tốn ít thời gian hơn để thu hồi tiền mặt từ khách hàng của họ; (2) Tồn tại mối tương quan đồng biến ở mức ý nghĩa cao giữa thời gian cần thiết để chuyển từ hàng tồn kho thành doanh thu (kỳ luân chuyển hàng tồn kho - ICP) và tỷ suất sinh lợi (p<0.01) Điều này có nghĩa là công ty nào duy trì mức tồn kho cao sẽ giảm được chi phí phát sinh do những gián đoạn tiềm năng trong quá trình sản xuất và thua lỗ trong kinh doanh do khan hiếm sản phẩm Điều này làm giảm chi phí cung ứng của công ty và bảo vệ công ty khỏi các biến động giá; (3) Tồn tại mối tương quan đồng biến ở mức

ý nghĩa cao giữa thời gian công ty thanh toán cho chủ nợ (kỳ trả tiền bình quân - APP) và tỷ suất sinh lợi (p<0.01) Điều này ám chỉ rằng thời gian công ty thanh toán cho chủ nợ càng lâu, lợi nhuận nó thu được càng nhiều; (4) Tồn tại mối tương quan nghịch biến ở mức ý nghĩa cao giữa thời gian luân chuyển tiền mặt (Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt - CCC) và tỷ suất sinh lợi (p<0.01) Điều này ám chỉ rằng thời

gian thu hồi tiền mặt từ quá trình đầu tư sản xuất kinh doanh càng nhanh thì hiệu

suất sinh lời càng cao

Tác giả Amarjit Gill, Nahum Biger, Neil Mathur (2010) bài viết đã tìm cách

mở rộng thêm phát hiện của Lazaridis & Tryfonidis về “Mối quan hệ giữa quản trị

vốn lưu động và lợi nhuận” Một mẫu gồm 88 công ty Mỹ được niêm yết trên Sở

giao dịch chứng khoán NewYork trong khoảng thời gian 3 năm từ năm 2005-2007

đã được lựa chọn Họ tìm thấy mối quan hệ quan trọng giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và khả năng sinh lời, được đo lường thông qua lợi nhuận gộp Theo đó, nhà quản lý có thể tạo ra lợi nhuận cho công ty của họ bằng việc xử lý một cách đúng đắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và tài khoản phải thu ở mức tối ưu Nghiên cứu này

đã đóng góp thêm tài liệu về mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và khả năng sinh lời của doanh nghiệp Ngoài ra, để đảm bảo cho nhu cầu thanh toán, công ty phải duy trì một số dư tiền mặt hợp lý Các quyết định về tín dụng thương mại, sản xuất và tiền mặt có liên quan chặt chẽ với nhau trong việc quản trị vốn lưu động

Ngày đăng: 19/02/2017, 11:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Hoàng Ngọc Nhậm (2008), Giáo trình Kinh tế lượng, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế lượng
Tác giả: Hoàng Ngọc Nhậm
Năm: 2008
[2]. Hoàng Trọng – Chu Nguyễn Mộng Ngọc 2008, Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS
Nhà XB: NXB Hồng Đức
[3]. Nguyễn Minh Kiều (2014), Tài chính doanh nghiệp căn bản, Nhà xuất bản Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính doanh nghiệp căn bản
Tác giả: Nguyễn Minh Kiều
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2014
[4]. Nguyễn Ngọc Hân (2012), “Tác động của quản trị vốn lưu động đến tỷ suất sinh lợi của các Công ty Thủy sản trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tác động của quản trị vốn lưu động đến tỷ suất sinh lợi của các Công ty Thủy sản trên thị trường chứng khoán Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hân
Năm: 2012
[5]. Nguyễn Thị Việt Thủy (2012), “Tác động của quản trị vốn lưu động tới khả năng sinh lợi và giá trị thị trường của các công ty cổ phần tại Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tác động của quản trị vốn lưu động tới khả năng sinh lợi và giá trị thị trường của các công ty cổ phần tại Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Thị Việt Thủy
Năm: 2012
[6]. Nguyễn Tùng Bá Khôi (2012), “Quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Tùng Bá Khôi
Năm: 2012
[7]. Phạm Trinh Hiếu (2010), “Quản trị vốn lưu động trong doanh nghiệp vừa và nhỏ tại TPHCM”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quản trị vốn lưu động trong doanh nghiệp vừa và nhỏ tại TPHCM”
Tác giả: Phạm Trinh Hiếu
Năm: 2010
[8]. Trần Ngọc Thơ và các Cộng sự (2007), Tài chính doanh nghiệp hiện đại, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính doanh nghiệp hiện đại
Tác giả: Trần Ngọc Thơ và các Cộng sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2007
[9]. Trần Ngọc Thơ và các Cộng sự 2013, Tài chính doanh nghiệp hiện đại, Nhà xuất bản Thống kê.Tài liệu tiếng nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính doanh nghiệp hiện
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê. Tài liệu tiếng nước ngoài
[10]. Aminu Yusuf (2016), “The management of short-term assets and the profitability of firms”, International Journal of Research in Social Sciences and Humanities Sách, tạp chí
Tiêu đề: “The management of short-term assets and the profitability of firms”
Tác giả: Aminu Yusuf
Năm: 2016
[11]. Afza, T. &amp; Nazir, M. (2009), “Impact of aggressive working capital management policy on firm’s profitability”, The IUP Journal of Applied Finance Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Impact of aggressive working capital management policy on firm’s profitability”
Tác giả: Afza, T. &amp; Nazir, M
Năm: 2009
[12]. Afza, T., &amp; Nasir, M.S. (2007), “Is it better to be aggressive or conservative in managing working capital?, Journal of Quality and Technology Management Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Is it better to be aggressive or conservative in managing working capital
Tác giả: Afza, T., &amp; Nasir, M.S
Năm: 2007
[13]. Agha H (2014), “Impact of working capital management on profitability of Glaxo Smithline Pharmaceutical Company in Karachi”, European Scientific Journal January 2014 Edition vol.10 no.1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Impact of working capital management on profitability of Glaxo Smithline Pharmaceutical Company in Karachi”
Tác giả: Agha H
Năm: 2014
[14]. Akoto, R.K., Awunyo-Vitor, D., &amp; Angmor, P.L. (2013), “Working capital management and profitability: Evidence from Ghanaian listed manufacturing firms”, Journal of Economics and International Finance Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Working capital management and profitability: Evidence from Ghanaian listed manufacturing firms”
Tác giả: Akoto, R.K., Awunyo-Vitor, D., &amp; Angmor, P.L
Năm: 2013
[15]. Almazari, A.A. (2013), “The relationship between working capital management and profitability: evidence from Saudi Cement Companies”, British Journal of Economics, Management &amp; Trade Sách, tạp chí
Tiêu đề: “The relationship between working capital management and profitability: evidence from Saudi Cement Companies”
Tác giả: Almazari, A.A
Năm: 2013
[18]. Deloof, M. (2003), “Does Working Capital Management Affects Profitability of Belgian Firms?”, Journal of Business, Finance and Accounting Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Does Working Capital Management Affects Profitability of Belgian Firms?”
Tác giả: Deloof, M
Năm: 2003
[19]. Filbeck, G, and T Krueger. (2005), “Industry Related Differences in Working Capital Management”, Mid-American Journal of Business Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Industry Related Differences in Working Capital Management”
Tác giả: Filbeck, G, and T Krueger
Năm: 2005
[20]. Githinji (2015), “The effect of working capital management on financial performance of manufacturing and construction firms listed at the Nairobi securities exchange”, University of Nairobi Sách, tạp chí
Tiêu đề: “The effect of working capital management on financial performance of manufacturing and construction firms listed at the Nairobi securities exchange”
Tác giả: Githinji
Năm: 2015
[21]. Gakure, R., Cheluget, K.J. Onyango, J.A, &amp; Keraro (2012), “Quản trị vốn lưu động và lợi nhuận của các công ty sản xuất được liệt kê ở Nairobi chứng khoán” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quản trị vốn lưu động và lợi nhuận của các công ty sản xuất được liệt kê ở Nairobi chứng khoán
Tác giả: Gakure, R., Cheluget, K.J. Onyango, J.A, &amp; Keraro
Năm: 2012
[22]. Ganesan (2007), “An analysis of Working Capital Management Efficiency in Telecommunications Equipment Industry”, Rivier Academic Journal Sách, tạp chí
Tiêu đề: “An analysis of Working Capital Management Efficiency in Telecommunications Equipment Industry”
Tác giả: Ganesan
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Chu kỳ luân chuyển của tiền mặt - Quản trị tài sản ngắn hạn tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu dùng niêm yết trên Hose
Hình 2.1 Chu kỳ luân chuyển của tiền mặt (Trang 17)
Hình 2.2. Mô hình quản trị tiền mặt của Baumol - Quản trị tài sản ngắn hạn tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu dùng niêm yết trên Hose
Hình 2.2. Mô hình quản trị tiền mặt của Baumol (Trang 19)
Hình 2.3. Mô hình  quản trị tiền mặt của Miller &amp; Orr - Quản trị tài sản ngắn hạn tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu dùng niêm yết trên Hose
Hình 2.3. Mô hình quản trị tiền mặt của Miller &amp; Orr (Trang 20)
Hình 2.4. Mô hình nới lỏng chính sách bán chịu - Quản trị tài sản ngắn hạn tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu dùng niêm yết trên Hose
Hình 2.4. Mô hình nới lỏng chính sách bán chịu (Trang 25)
Hình 2.6. Mô hình mở rộng thời gian bán chịu - Quản trị tài sản ngắn hạn tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu dùng niêm yết trên Hose
Hình 2.6. Mô hình mở rộng thời gian bán chịu (Trang 26)
Hình 2.7. Mô hình rút ngắn thời gian bán chịu - Quản trị tài sản ngắn hạn tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu dùng niêm yết trên Hose
Hình 2.7. Mô hình rút ngắn thời gian bán chịu (Trang 26)
Hình 2.8. Mô hình tăng tỷ lệ chiết khấu - Quản trị tài sản ngắn hạn tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu dùng niêm yết trên Hose
Hình 2.8. Mô hình tăng tỷ lệ chiết khấu (Trang 27)
Hình 2.10. Sơ đồ biểu diễn mô hình EOQ - Quản trị tài sản ngắn hạn tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu dùng niêm yết trên Hose
Hình 2.10. Sơ đồ biểu diễn mô hình EOQ (Trang 29)
Hình 3.1: Sơ đồ quy trình nghiên cứu - Quản trị tài sản ngắn hạn tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu dùng niêm yết trên Hose
Hình 3.1 Sơ đồ quy trình nghiên cứu (Trang 52)
Hình 4.2 : Số ngày tồn kho bình quân ICP từ 2011 đến 2015 - Quản trị tài sản ngắn hạn tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu dùng niêm yết trên Hose
Hình 4.2 Số ngày tồn kho bình quân ICP từ 2011 đến 2015 (Trang 64)
Hình 4.3: Số ngày trả tiền bình quân APP từ 2011 đến 2015 - Quản trị tài sản ngắn hạn tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu dùng niêm yết trên Hose
Hình 4.3 Số ngày trả tiền bình quân APP từ 2011 đến 2015 (Trang 65)
Hình 4.5: Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC) của các doanh nghiệp kinh - Quản trị tài sản ngắn hạn tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu dùng niêm yết trên Hose
Hình 4.5 Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC) của các doanh nghiệp kinh (Trang 66)
Hình 4.7: Đòn bẩy tài chính LEV từ 2011 đến 2015 - Quản trị tài sản ngắn hạn tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu dùng niêm yết trên Hose
Hình 4.7 Đòn bẩy tài chính LEV từ 2011 đến 2015 (Trang 67)
Hình 4.6: Kỳ chuyển đổi tiền mặt và kỳ kinh doanh liên tiếp qua 3 chu kỳ - Quản trị tài sản ngắn hạn tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu dùng niêm yết trên Hose
Hình 4.6 Kỳ chuyển đổi tiền mặt và kỳ kinh doanh liên tiếp qua 3 chu kỳ (Trang 67)
Hình 4.8: Tỷ trọng tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản CATAR từ 2011 đến 2015 - Quản trị tài sản ngắn hạn tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu dùng niêm yết trên Hose
Hình 4.8 Tỷ trọng tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản CATAR từ 2011 đến 2015 (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w