1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu ổn định hóa chất thải phóng xạ bằng phương pháp gốm hóa tạo vật liệu dạng synroc

24 951 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 3,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để quản lý chất thải phóng xạ hiệuquả, các nhân phóng xạ thường được ổn định trong các chất nền tạo một dạng bền nhằmche chắn chất phóng xạ với môi trường bên ngoài.. Thời gian qua, việc

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong nhiều thập kỷ qua, sự nghiên cứu phát triển về khoa học và công nghệ hạtnhân trong nhiều lĩnh vực khác nhau như sản xuất điện, công nghiệp, dược học, nôngnghiệp đã đem lại nhiều ứng dụng vào cuộc sống Tồn tại song song với những lợi íchđem lại, quá trình ứng dụng năng lượng nguyên tử sinh ra một lượng chất thải phóng xạyêu cầu cần phải quản lý một cách thích hợp và an toàn Quản lý chất thải phóng xạ nhằmtiếp cận với chất thải phóng xạ theo tiêu chí bảo vệ sức khỏe con người và môi trườngđồng thời giảm thiểu gánh nặng cho thế hệ tương lai Để quản lý chất thải phóng xạ hiệuquả, các nhân phóng xạ thường được ổn định trong các chất nền tạo một dạng bền nhằmche chắn chất phóng xạ với môi trường bên ngoài Sự áp dụng kỹ thuật ổn định hóa đốivới chất thải phóng xạ có thể kể đến xi măng hóa và bitum hóa Trong phương pháp ximăng hóa, xi măng cùng với chất thải phóng xạ được trộn đều, rót khuôn và qua thời gian

xi măng và chất phóng xạ sẽ đóng rắn tạo khối đồng nhất Còn với bitum hóa là phươngpháp có sử dụng kỹ thuật nhiệt, dưới tác dụng của nhiệt độ bitum được làm nóng chảysau đó trộn đều với chất thải phóng xạ theo tỉ lệ và để nguội tạo khối Cả xi măng vàbitum đều được áp dụng nhiều để cố định các nhân phóng xạ Bên cạnh xi măng vàbitum, thủy tinh bo silicat được sử dụng để đưa các nhân phóng xạ về dạng thủy tinh tạosản phẩm có độ chắc đặc để lưu giữ hoặc chôn cất Thủy tinh thể hiện được nhiều tínhchất quí cho chất thải phóng xạ, tuy nhiên yêu cầu mức đầu tư phải lớn

Thời gian qua, việc nghiên cứu đối với các phương pháp ổn định hóa chất thảiphóng xạ như: phương pháp xi măng và bitum đã được thực hiện ở một số đơn vị nghiêncứu, đã giải quyết được một số vấn đề về ổn định chất thải phóng xạ Tuy nhiên, sự mởrộng về ứng dụng năng lượng nguyên tử hiện nay cần có sự chuẩn bị về các biện phápquản lý an toàn, bền vững với lượng chất thải phóng xạ sẽ để lại đó Với mục tiêu tìm rađược một loại vật liệu thích hợp và để có thể ứng dụng được ngay khi có các nhu cầu đặt

ra, chúng tôi lựa chọn luận văn: “Nghiên cứu ổn định hóa chất thải phóng xạ bằngphương pháp gốm hóa tạo vật liệu dạng synroc”

Trang 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu về quản lý và xử lý chất thải phóng xạ

1.1.1 Chất thải phóng xạ và phân loại

Chất thải phóng xạ được sinh ra từ các hoạt động hạt nhân như từ các nhà máyđiện hạt nhân, các lò phản ứng nghiên cứu và các hoạt động nghiên cứu liên quan đến cácchất phóng xạ Phụ thuộc vào thành phần hóa lý, hoạt độ phóng xạ, thời gian sống của hạtnhân phóng xạ người ta phân loại thành các loại thải phóng xạ khác nhau, cách phân loạiphổ biến nhất được sử dụng là người ta phân thành 3 loại theo hoạt độ phóng xạ, thải hoạt

độ thấp, trung bình và cao [1]

1.1.2 Quản lý chất thải phóng xạ [13].

Để quản lý chất thải phóng xạ hiệu quả và an toàn điều đầu tiên đòi hỏi phải cóbước xử lý chất thải phóng xạ, người ta thường chia các chất thải phóng xạ ra làm cácdạng thải tương ứng với trạng thái tồn tại của chúng như khí, rắn, lỏng Do đòi hỏi phải

có các biện pháp an toàn về bức xạ khi tiếp xúc, xử lý các chất thải phóng xạ thì thôngthường nhất để tiện cho việc thu gom, vận chuyển và conditioning thì người ta sử dụngliều để phân loại

1.1.3 Ổn định hóa chất thải phóng xạ [3]

Theo định nghĩa của IAEA thì ổn định hóa là sự chuyển dạng các chất phóng xạ

thành một dạng bền hơn bằng các phương pháp hóa rắn hoặc đóng gói Sau đó vật liệu

chứa thải sau ổn định hóa được đem lưu giữ hoặc chôn cất cho đến khi các nhân phóng

xạ phân rã đến một giới hạn chấp nhận được Các phương pháp ổn định gồm xi măng,bitum và thủy tinh hóa

1.2 Ổn định hóa chất thải phóng xạ trên nền vật liệu synroc [11-24]

1.2.1 Giới thiệu về vật liệu gốm trong ổn định hóa chất thải phóng xạ

Gốm sứ trong ổn định chất thải phóng xạ là sự sử dụng các pha tinh thể bền cơ,bền hóa làm chất nền để cố định các nhân phóng xạ bên trong cấu trúc Ví dụ, các phatinh thể có công thức hợp thức có thể chứa các nhân phóng xạ bên trong tinh thể làNaZr2(PO4)3, monazit (Gd-La)PO4, hollandite BaAl2Ti6O16, zirconolite (CaZrTi2O7),betafite (CaUTi2O7), sphene (CaSrTiO5), brannerite (UTi2O6), pyrochlore (Ln2Zr2O7),perovskites (CaTiO3), magnetoplumbites (CaSr)(Al,Fe)12O19, nepheline (Na,Cs)AlSiO4,zircon (ZrSiO4), v.v

Trang 3

1.2.2 Vật liệu synroc [25]

Synroc là vật liệu kết hợp 3 hệ tinh thể Ba-hollandite (BaAl2Ti6O16), perovskite(CaTiO3) và zirconolite (CaZrTi2O7) trong cấu trúc Về phương diện tổng hợp, synroc cóthể coi là một dạng vật liệu gốm tiên tiến trên cơ sở nền titan được tạo thành trong hệ cácoxit TiO2-Al2O3-ZrO2-CaO-BaO

1.2.2.1 Tính chất hóa học của vật liệu ổn định hóa nền synroc

Thuộc tính quan trọng nhất của dạng gốm hóa chất thải hạt nhân là độ bền hóa học của nókhi tiếp xúc với dung dịch nước, khi đó có thể gây ra sự phóng thích các chất thải phóng

xạ Tuy nhiên, "độ bền hóa học" là một khái niệm rộng, mà thực sự là một khái niệm đểđánh giá một loạt các thuộc tính của dạng thải: tính chất cơ học, vi cấu trúc của vật liệu,tính chất hóa lý, ổn định nhiệt động học và chống ăn mòn

1.2.2.2 Tính chất vật lý của vật liệu ổn định hóa nền synroc [15]

Hệ số nở nhiệt α, dẫn nhiệt λ, điện trở suất ρ, nhiệt dung riêng Cp, tỉ trọng ρ, Youngmodun E, và tỷ lệ Poisson ν là một số thông số vật lý quan trọng của dạng thải gốm hóa.Những tính chất này không chỉ quan trọng đối với việc xác định các nguyên vật liệu chomột ứng dụng nhất định, chúng cũng đặc trưng cho độ nhạy sốc nhiệt của gốm Hầu hếtcác thông số vật lý phụ thuộc nhiều vào điều kiện sản xuất, đặc biệt là độ xốp

1.2.2.3 Tính chất phóng xạ của vật liệu ổn định hóa nền synroc

Các hiệu ứng phá hủy cấu trúc dạng thải gây ra bởi chính các đồng vị phóng xạ chứa bêntrong cấu trúc của dạng thải gốm hóa đó Một số hạt nhân phóng xạ nặng sẽ tự biến đổibởi sự phân rã tự nhiên của chúng và kết quả là vị trí nút mạng được chiếm giữ trong cấutrúc dạng thải ban đầu thì sau khi phân rã được thay vào đó là sản phẩm phân hạch concháu, ví dụ như sự phân hạch Cs và Sr trong chất thải hạt nhân theo trình tự:

137Cs+ (30y) 137mBa2+ (2.6m) + β

-137Ba2+ + γ

90Sr2+ (28.5y) 90Y3+ (64hm) +β

90Zr4+ + β

Trang 4

-Trong giai đoạn vài trăm năm đầu xảy ra sự phân rã β-, γ của các sản phẩm phânhạch, trong thời kỳ tiếp theo các sản phẩm actinit sẽ thể hiện tính phóng xạ đến cuối chu

kỳ sống của dạng thải cố định hóa

1.2.2.4 Các đặc điểm cấu trúc của Synroc

Gốm Synroc trên cơ sở titan được tạo thành trên hệ hóa tổng hợp là hệ TiOAl2O3-ZrO2-CaO-BaO hình thành ba pha chính có cấu trúc khoáng vật Ba-hollandite(BaAl2Ti6O16), perovskite (CaTiO3) và zirconolite (CaZrTi2O7) Một tập hợp rộng cáccation có điện tích khác nhau có thể được gắn kết trong những pha tinh thể này và cáctính chất về khoáng vật học có xu hướng điều chỉnh một cách tự nhiên đối với những daođộng trong thành phần thải (trong một số giới hạn nhất định)

2-Perovskit (ABO 3 )

Perovskit tự nhiên có công thức là CaTiO3 Cấu trúc lý tưởng của perovskit làdạng lập phương thuộc nhóm đối xứng Pm3mOh1 Các perovskit có thể được tổnghợp bằng cách thay thếmột phần các cation A và B bằng các cation khác là A’ và B’tạo thành perovskit có công thức là (AxA’1-x)(ByB’1-y)O3

Hình 1.1 Cấu trúc lập phương của canxi titanat.

Zirconolite CaZrTi 2 O 7

Zirconolite có cấu trúc tương đối phức tạp mà một tế bào đơn vị có dạng đơn tàtrong đó cấu trúc tinh thể có cấu trúc dạng pyrochlore và florit khuyết thiếu Các nguyên

tố có mặt trong chất thải hạt nhân có thể chiếm vị trí có số phối vị 8 bao gồm Na, K, Ca,

Sr, Ba, Pb, Y, REE, Bi, Zr, U, Th trong khi đó số phối vị 6 bị chiếm bởi các nguyên tố

Ta, Nb, Ti, Sn, Pu, Fe và Mn

Hình 1.2 Cấu trúc pyrochlore và florit khuyết của zirconolite.

Trang 5

Khoáng chất hollandite tự nhiên có công thức BaMn8O16 ở đó mangan có trạngthái hóa trị 2+, 3+, 4+ Tuy nhiên, có nhiều cấu trúc đồng hình của hollandite trong đó cóBaAl2Ti6O16 ở đó Mn2+ và Mn4+ trong hollandite tự nhiên được thay thế bởi Al3+ và Ti4+

và đây là thành phần khoáng chất trong synroc Công thức tổng quát của họ hollandite làAx(ByC8-y)O16 ở đó A là các cation nặng định vị trong các kênh mở và B, C là các cationnhỏ tạo thành các trung tâm của các cạnh và các đỉnh liên kết các bát diện MO6

Hình 1.3 Cấu trúc hollandite dạng chuỗi đôi tạo các kênh mở bởi các bát diện

(Ti,Al)O6 và định vị các cation nặng trong đó

1.2.2.5 Các dạng gốm synroc

Có một số dạng synroc khác nhau, người ta phân loại synroc theo mục đích ứngdụng đối với từng loại chất thải hạt nhân, điển hình là: Synroc B, C và D

Synroc B: Là công thức synroc cơ bản gồm 3 pha chính trên và không chứa các

đồng vị phóng xạ (chưa nạp thải), lượng tỷ lượng của perovskite và zirconolite trongsynroc B tương đương với tỷ lượng trong tự nhiên

Synroc C:chữ C có nghĩa là thương mại Synroc C có tính chất hóa học, khoáng

vật học như synroc B và được tiến hành nạp các đồng vị phóng xạ trong thải hoạt độ caođến 10% khối lượng

Synroc D: D (Defend) là chữ viết tắt cho thải hoạt độ cao trong ngành quốc phòng

Mỹ Synroc D có thể chứa tới 70 phần trăm thải SRP, các chất kết dính được sử dụng làthành phần của synroc B (TiO2, BaO, ZrO2 và CaO) công thức của synroc D chứaperovskite, zirconolite, spinel và ilmenite

1.3 Các phương pháp tổng hợp gốm synroc

1.3.1 Phương pháp sol-gel

Bột synroc precusor có thể được chế tạo theo con đường đi từ các hợp chất cơ kim(phương pháp Sandia) bột được chế tạo có diện tích bề mặt lớn Các alkoxide sử dụng làzircon n-butoxide, titan sec-butoxide và nhôm sec-butoxide được thủy phân và ngưng tụ

Trang 6

trong dung môi NaOH – metanol với một tỉ lệ thích hợp, hệ natri titanat/zirconat sau đóđem trao đổi ion natri với các cation Ca, Ba trong dung dịch nitrat Sản phẩm gel cuốicùng đem sấy khô thu được precusor synroc B, bột này sau đó được thiêu kết để tạo gốmsynroc bằng cách ép nóng (vừa ép vừa gia nhiệt) hoặc có thể ép nguội và thiêu kết.

1.3.2 Phương pháp đồng kết tủa

Đây là phương pháp ướt khá đơn giản để tổng hợp precusors synroc Các chất ởdạng dung dịch nitrat của rồi tiến hành kết tủa đồng thời, dung dịch amoni loãng đượcthêm vào hỗn hợp nhôm nitrat, canxi nitrat, bari nitrat zirconyl nitrat và titanyl nitrat có tỉ

lệ phần mol thích hợp trong synroc – B để kết tủa các hydroxit của các cation này ở nhiệt

độ phòng, pH duy trì ở 10,5 trong suốt quá trình kết tủa sản phẩm thu được tiến hành lọc,rửa rồi sấy, nung Sự hình thành pha florit chủ yếu và một số pha vết như atanat, rutin vàhollandite được quan sát thấy sau khi nung ở 750oC trong không khí Gốm synroc B có

ba pha hoàn chỉnh thu được sau khi nung thiêt kết các viên ép tại nhiệt độ 1230-1250o Ctrong 4h Tương tự, synroc C cũng được chế tạo một cách tương tự khi với 14-20 % thảihoạt độ cao mô phỏng (nitrat các đồng vị) được nạp theo tiến trình tương tự

1.3.3 Phương pháp điều chế gốm truyền thống

Có thể mô tả phương pháp gốm truyền thống theo các giai đoạn chính sau:

Giai đoạn chuẩn bị phối liệu: tính toán thành phần của nguyêu liệu ban đầu (đi từcác ôxit, hiđroxit, hoặc các muối vô cơ ) sao cho đạt tỷ lệ hợp thức của sản phẩm muốnđiều chế.Giai đoạn nghiền, trộn: nghiền mịn nguyên liệu để tăng diện tích tiếp xúc giữacác chất phản ứng và khuyếch tán đồng đều các chất trong hỗn hợp Giai đoạn ép viên:nhằm tăng độ tiếp xúc giữa các chất phản ứng Giai đoạn nung: là thực hiện phản ứnggiữa các pha rắn đây là công đoạn được xem là quan trọng nhất

Trang 7

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC NGHIỆM

2.1 Hóa chất và dụng cụ nghiên cứu

2.1.1 Hóa chất

- Canxi cacbonat CaCO3 (nano)

- Bari cacbonat BaCO3

- Zircon dioxit ZrO2

- Titan dioxit TiO2 (atanase)

- Titan dioxit TiO2 (rutile)

- Nhôm oxit Al2O3

- Polyvinyl ancol PVA

- Strontri cacbonat SrCO3

- Axit clohydric HCl

- Axit sunfuric H2SO4

- Axit nitric HNO3

- Dung dịch axeton (CH3)2CO

- Cân phân tích Precisa XT 220A - Switzerland

- Thước đo kĩ thuật (Banme kế) chính xác 0,02 mm

- Máy ép viên kích tay Carven – Mỹ

- Máy ép thủy lực – Việt nam

- Cối chày mã não TQ

- Máy phân tích tia X SIEMEN D 5005 (Đức)

- Máy chụp ảnh SEM Nova nanoSEM 450 – FEI

Trang 8

2.2 Phương pháp nghiên cứu và thực nghiệm

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu gián tiếp được sử dụng để nghiên cứu tổng hợp synroc màkhông trực tiếp nghiên cứu chế tạo synroc Phương pháp này có ưu điểm đối với hệ gốm

đa pha synroc, từ công thức của synroc các hệ pha được phân chia thành các hệ nhỏ hơnnhư hệ bậc 2, hệ bậc 3 Sự cố định hóa các đồng vị phóng xạ trong mạng synroc được môphỏng trên đồng vị bền Sr Sr được sử dụng như một phép thử cho khả năng ổn định hóacũng như khả năng lưu giữ các đồng vị trong cấu trúc mạng qua các điều kiện về hòatách

Thực nghiệm: Có thể chia thành ba phần thực nghiệm nổi bật trong bài nghiên

cứu là: thực nghiệm về chế tạo synroc, thực nghiệm về khả năng nạp Sr/synroc và thựcnghiệm về sự hòa tách Sr

Kỹ thuật thực nghiệm: Các mẫu bột được chuẩn bị theo các thành phần nghiên

cứu tương ứng, sau đó được nghiền trộn và sàng qua lưới 1mmx1mm để tạo sự đồng đềucủa mẫu Lượng PVA 3% khối lượng được thêm vào bột với vai trò là chất kết dính, sau

đó bột được đưa vào khuôn ép có độ cứng cao (có sử dụng chất đệm khuôn là kẽmstearat) và ép dưới áp lực của máy ép một chiều với áp lực hiệu dụng 2,5-3t/cm2 và giữtrong 6-7s, viên ép tươi có kích thước 13mmx11mm được đưa vào lò nung nhiệt độ cao

để tiến hành nung thiêu kết

Hình 2.1 Khuôn ép viên.

2.2.2 Phương pháp và kỹ thuật phân tích đánh giá

- Phương pháp phân tích nhiễu xạ tia X, hiển vi điện tử quét (SEM), phương pháp phân tích phổ khối cảm ứng (ICP-MS), xác định độ co ngót sau khi nung, xác định độ thấm nước, xác định khối lượng riêng (bằng phương pháp Acsimet), phương pháp kiểm tra độ hòa tách ( tiêu chuẩn ANSI/ANS 16.1 – 1986)

Trang 9

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 3.1 Sự hình thành pha trong hệ CaO-TiO2-ZrO2

Trong phần thực nghiệm này chúng tôi xây dựng bảng các tỷ lệ các thành phần vàkhảo sát sự kết pha ở các nhiệt độ khác nhau, các hóa chất được sử dụng là TiO2 (anatase)ZrO2 (> 99,0 %), canxi cacbonat sấy khô (CaCO3, 99,9% nanocrystalline, ủ ở 200 oCtrong một tuần) mẫu bột được chuẩn bị theo các tỉ lệ (phần mol) M1 (30% CaO, 45%TiO2, 25% ZrO2), M2 (30% CaO, 40% TiO2, 30% ZrO2) M3 (25% CaO, 65% TiO2, 10%ZrO2), M4 (25% CaO, 40% TiO2, 35% ZrO2) Các viên mẫu được đặt vào thuyền nung vànung trong không khí trong ở 1250oC, tốc độ nâng nhiệt 20oC / phút duy trì nhiệt độ ở

1250oC trong 2h sau thời gian đó mẫu được làm nguội bằng không khí trong lò về nhiệt

độ phòng Việc tiến hành thực hiện nghiên cứu ở 1300oC được thực hiện tương tự Vì đây

là phần khảo sát sự kết pha của hệ cơ bản để xác định các thành phần ban đầu cho sự tổnghợp synroc sau, vvì vậy công cụ duy nhất để đánh giá là nhiễu xạ tia X được sử dụng trongchuyên đề này

Các kết quả phân tích XRD của các mẫu nung

Giản đồ XRD của hệ CaO-TiO2-ZrO2 ở Giản đồ XRD của hệ CaO-TiO2-ZrO2 ở

Trang 10

1250 o C 1300 o C

Hình 3.1 Giản đồ XRD của mẫu M1 ở 1250oC

Hình 3.2 Giản đồ XRD của mẫu M2 ở 1250oC

Hình 3.5 Giản đồ XRD của mẫu M1 ở 1300oC

Hình 3.6 Giản đồ XRD của mẫu M2 ở 1300oC

Hình 3.3 Giản đồ XRD của mẫu M3 ở 1250oC

Hình 3.4 Giản đồ XRD của mẫu M4 ở 1250oC

Hình 3.7 Giản đồ XRD của mẫu M3 ở 1300oC

Hình 3.8 Giản đồ XRD của mẫu M4 ở 1300oC.Như vậy từ các kết quả phân tích trên giản đồ nhiễu xạ tia X của các mẫu có thể

tổng hợp các thành phần pha xuất hiện trong bảng sau:

Bảng 3.1 Các pha xuất hiện trên hệ nghiên cứu CaO-TiO2-ZrO2

Trang 11

mẫu

Thành phần

M1 35 45 20 Perovskit,rutil Calzitite, ZrO2 (m)

M2 30 40 30 Zirconolite, rutil Zirkelite, rutil, ZrO2(m)

M3 25 65 10 Zirconolite, perovskit,rutil Zirkelite, rutil

M4 25 40 35 Zirconolite, rutil Zirkelite, ZrO2(m)

Nhận xét:

Các kết quả khảo sát bằng tia X cho thấy các mẫu đều xuất hiện thành phần pharutil cho thấy ở nhiệt độ 1250oC đã xảy ra sự chuyển pha của TiO2 từ pha atanase sử dụngtrong nguyên liệu ban đầu sang pha rutil, điều này là phù hợp với lý thuyết vì ở nhiệt độ

915oC đã bắt đầu xảy ra sự chuyển pha đó Calzitite và zirkelite tồn tại ở 1300oC trongkhi đó ở 1250oC thì perovskit và zirconolite xuất hiện là chủ yếu Như vậy bằng khảo sáttia X ta xác định được một tỉ lệ tương đối thích hợp khi các dung dịch rắn trong hệ đạttrạng thái khá cân bằng với sự tồn tại đồng thời hai pha perovskit và zirconolite trongmẫu M3 Để làm một cách sáng tỏ hơn đối với mẫu M3, chúng tôi khảo sát tiếp tục vềmặt hình thái học bằng phương pháp hiển vi điện tử quét, cho thấy như sau

Hình 3.9 Ảnh SEM của mẫu M3 ở 1250oC (a-Độ phóng đại 20000) và ở 1300oC

(b-Độ phóng đại 15000)

Kết quả ảnh SEM cho thấy mẫu M3 có sự kết tinh khá đồng đều, các pha đều có

sự gắn kết đồng nhất và tồn tại một số lỗ rỗng (lỗ xốp) trong hệ tuy nhiên đây chưa phải

là hệ synroc hoàn chỉnh và sẽ được khảo sát tiếp theo

3.2 Ảnh hưởng của Al2O3 và BaO đến sự hình thành pha hollandite trong hệ TiO2-ZrO2

Trang 12

CaO Trong xây dựng các thực nghiệm của nghiên cứu này, chúng tôi tiếp tục lập các bảng

thay đổi các tỷ lệ các thành phần ban đầu dựa trên tỷ lệ tìm được trong chuyên đề 3.1 ứng

với mẫu M3, các giá trị về phần mol của hai tiếp tố tiếp theo là BaO và Al2O3 sẽ được

khảo sát xoay quanh tỷ lệ cố định các chất trong M3, các thực nghiệm sử dụng các hóa

chất TiO2 (anatase) ZrO2 (> 99,0 %), canxi cacbonat sấy khô (CaCO3, 99,9% , ủ ở 200 oC

trong một tuần), bari cacbonat (>99% tinh khiết phân tích, ủ ở 200oC trong một tuần),

Al2O3 (tinh khiết phân tích)bột được chuẩn bị gồm mẫu có thành phần Fm1 (80 %M3,

15% Al2O3, 5% BaO), Fm2 (70% M3, 20% Al2O3, 10% BaO) Fm3 (80% M3, 10%

Al2O3, 10% BaO), Fm4 (85% M3, 10% Al2O3, 5% BaO)các điều kiện chế tạo viên, nung

thiêu kết được thực hiện tương tự như phần 3.1 về kích thước viên, áp lực nén và chế độ

nhiệt

Các kết quả chụp phổ tia X của các mẫu nghiên cứu

Giản đồ XRD của hệ (Al2O3- BaO)/

Ngày đăng: 19/02/2017, 07:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w