1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU SỰ CHUYỂN ĐỔI QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN ĐẤT, RỪNG, NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TÂY NGUYÊN

26 263 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 269,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tây Nguyên giàu về tiềm năng đất đai, diện tích các loại đất tốt, trong đó có các loại đất đỏ bazan, thích hợp cho việc phát triển cây côngnghiệp dài ngày cà phê, cao su, dâu tằm, điều,

Trang 1

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU

SỰ CHUYỂN ĐỔI QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN ĐẤT, RỪNG, NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TÂY NGUYÊN

cù, muốn đi lên từ đất Đó là vùng đất gồm 5 tỉnh: Gia Lai, Kon Tum,Đắc Nông, Đắc Lắc và Lâm Đồng với diện tích tự nhiên là 42.696 nghìn

km2(13% diện tích toàn quốc) và chiếm khoảng 5,7% dân số cả nước.Tây Nguyên có một vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị,quốc phòng không chỉ đối với Việt Nam mà cả Đông Dương Nơi đây

là điểm khởi nguồn của hầu hết các con sông ở miền Trung, Đông Nam

Bộ và tả ngạn hạ lưu sông Mê Kông

Mảnh đất Tây Nguyên là một vùng cao nguyên lượn sóng ở các độ cao

từ 600‑800m so với mực nước biển và nằm về phía Tây của dãy Trường SơnNam Từ dãy Trường Sơn Nam, địa hình thoải về phía Tây, đón các luồnggió Tây Nam từ Ấn Độ Dương thổi tới; còn về phía Đông, địa hình đổ dốcxuống biển Đông, ngăn cản gió Đông Nam từ Thái Bình Dương thổi vào.Trên vùng Tây Nguyên có 3 dạng địa hình chính là:

‑ Địa hình cao nguyên chiếm ưu thế gồm các bậc địa hình nhỏ (xếptầng) là bậc độ cao 100‑300m; 300‑500m và 500‑800m, chủ yếu là các caonguyên bazan đất đỏ màu mỡ đang được khai thác trở thành các nôngtrường cao su, cà phê, chè, hồ tiêu, v.v và các vườn cây trái

‑ Địa hình núi nằm rải rác, ở phía Bắc Tây Nguyên là khối núi NgọcLinh, còn phía Nam là khối núi cực Nam Trung Bộ (Chư Yang Xin, Ta

Trang 2

Dưng, v.v.), ở giữa là những khối, dãy núi nhỏ như Ngọc Krinh, Kon KaKinh, Kong Plong, dãy An Khê, dãy Chư Dju, v.v mà trên đó là nhữngcánh rừng nguyên sinh giàu có, với hàng loạt vườn quốc gia và các khubảo tồn thiên nhiên được thiết lập như: Ngọc Linh, Chư Mô Rây, Kon

Ka Kinh, Yok Đon, Bidoup Núi Bà, Chử Yang Xin; Sông Thanh, Kon TraRăng, Nam Nung, Nam Ca, Lăc, v.v

‑ Địa hình thung lũng tuy không chiếm diện tích lớn nhưng lại lànhững thung lũng giữa núi bị san bằng và mở rộng như thung lũng

Sa Thầy, bình nguyên Ea Sup, vùng trũng Cheo Reo‑Phú Túc, vùngtrũng Krong Pach‑Lắc là những cánh đồng trồng cây lương thực củaTây Nguyên

Tây Nguyên giàu về tiềm năng đất đai, diện tích các loại đất tốt, trong

đó có các loại đất đỏ bazan, thích hợp cho việc phát triển cây côngnghiệp dài ngày (cà phê, cao su, dâu tằm, điều, chè, v.v.) và các loại cây

ăn quả là khoảng 1 triệu ha (2,34% tổng diện tích toàn vùng), ngoài ra,đất đỏ vàng tuy kém phì nhiêu hơn đất đỏ bazan, nhưng tơi xốp và thíchhợp với nhiều loại cây trồng là 1,8 triệu ha (4,21% tổng diện tích vùng);diện tích đất phù sa sông suối ở các vùng trũng giữa núi thích hợp chotrồng cây lương thực, hoa màu là khoảng 130 nghìn ha (0,3% tổng diệntích vùng)

Tài nguyên sinh vật của Tây Nguyên đa dạng và phong phú, là mộttrong những trung tâm đa dạng sinh học của Việt Nam và của khu vực,

là nơi chứa nhiều nguồn gien quý hiếm của nước ta nói riêng và củavùng nhiệt đới nói chung, có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn nguồngien của khu vực Đông Nam Á

Về mặt xã hội nhân văn, Tây Nguyên là địa bàn cư trú của 37 trong

số 54 dân tộc ở Việt Nam, trong đó, có nhiều cư dân tại chỗ như Xơ đăng,

Ba na, Ê đê, Gia rai, Cơ ho, Mạ, Mơ nông, v.v , sau giải phóng, sức cuốnhút của nguồn đất đai nơi đây đã xuất hiện những luồng dân di cư có

tổ chức cũng như tự do từ các tỉnh miền núi và trung du Bắc Bộ, cáctỉnh miền Trung vào lập nghiệp trên mảnh đất này Mặc dù có sự cộng

cư giữa các dân tộc tại chỗ và đồng bào di cư đến Tây Nguyên, nhưngbản sắc văn hóa Tây Nguyên vẫn được bảo tồn đậm nét mà tiêu biểu làkhông gian cồng chiêng Tây Nguyên, một di sản văn hóa của thế giớiđược UNESCO công nhận

Trang 3

2 Những biến đổi về nguồn tài nguyên thiên nhiên từ sau năm 1975

Biến đổi quan trọng nhất trong các điều kiện tự nhiên là cơ cấu sửdụng đất, nhất là sự gia tăng tỷ trọng đất nông nghiệp và giảm tỷ trọngđất lâm nghiệp, cũng như đưa hàng triệu ha đất chưa sử dụng vào hoạtđộng sản xuất Tuy diện tích rừng còn khá lớn, nhưng trong những nămqua có xu hướng giảm mạnh cả về chất lượng và số lượng, chứng tỏrừng bị tàn phá mạnh mẽ để thay thế bằng các diện tích đất sản xuấtnông nghiệp Ví dụ ở Đắc Lắc, trong gần 20 năm qua, diện tích rừnggiảm đi quá nửa, từ 1.234.294 ha (năm 1990) còn có gần 598.609 ha (năm2008) Không chỉ có vậy, chất lượng rừng suy giảm rất nhiều, nhiều chỗkhông còn chức năng cung cấp tài nguyên cho con người và động vậtnuôi, cũng như không đủ đảm bảo các điều kiện sinh thái tối thiểu cho

sự tồn tại các động vật hoang dã Đất chuyên dùng tăng gần gấp 6 lầntrong vòng gần 20 năm qua và có thể còn tiếp tục tăng trong những nămtới bởi nhu cầu hoàn thiện các cơ sở hạ tầng giao thông, nhất là giaothông nông thôn

Biến đổi quan trọng thứ hai trong những năm gần đây là việc sửdụng nguồn nước và ảnh hưởng của hoạt động kinh tế tới chất lượngnguồn nước Trong nhiều năm sau khi chiến tranh kết thúc và việc chấnhưng kinh tế ở các tỉnh Tây Nguyên đã thúc đẩy việc xây dựng rất nhiều

hệ thống hồ đập dự trữ nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt với hàngnghìn công trình thủy lợi lớn và vừa, đảm bảo nguồn nước mặt có chấtlượng, có thể sử dụng cho tưới tiêu và sinh hoạt

Do ảnh hưởng của việc sử dụng nguồn nước dưới đất cho các hoạtđộng kinh tế và việc triệt hạ nhiều cánh rừng nên vào mùa lũ, dòng chảythường lớn, nước lên nhanh trên các dòng sông và rút đi cũng rất nhanh,làm cho mùa kiệt kéo dài và lượng dòng chảy rất nhỏ, đồng thời vớiđiều kiện khí hậu khu vực bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu đã gây nênhiện tượng hạn hán nghiêm trọng, nhiều con suối trên địa bàn không

có nước trong mùa khô và mạch nước ngày càng cạn dần Tình trạngthiếu nước nghiêm trọng vào mùa khô còn là hậu quả của việc biến cácdiện tích rừng tự nhiên thành các diện tích cây trồng đơn tầng ít tán chenhư cao su, hoặc sử dụng rất nhiều nước vào mùa khô như cà phê, Nguồn nước mặt cũng như nước ngầm trong thời gian hai chục nămtrở lại đây được khai thác mạnh để phục vụ nhu cầu sinh hoạt cho cả

Trang 4

vùng nông thôn và thành thị, nhất là cho quá trình đô thị hoá, vì vậy, ởnhiều chỗ, mực nước ngầm đã tụt xuống hàng chục mét, do nhu cầunước sử dụng càng ngày càng tăng mạnh mà nước hồi quy thì càng ngàycàng ít đi

Nguồn tài nguyên đất, rừng, nước bị biến đổi đã có những tác độngngược trở lại đến tập quán canh tác, đến tập tục sống của bà con dân tộctại chỗ ở Tây Nguyên Với cuộc sống truyền thống thì các nguồn tàinguyên đất, tài nguyên rừng gắn chặt với quá trình sinh tồn của họ Đấtcho họ lương thực, đất cho họ thực phẩm, đất cũng cho họ những dưỡngchất, trong đó các nguyên tố vi lượng có vị trí quan trọng, làm cho họgắn chặt với mảnh đất nơi họ, nơi ông cha họ từng sinh ra và lớn lên Cùng với đất, rừng cho họ nguồn thực phẩm hàng ngày, nuôi họ khimùa màng thất bát, khi giáp hạt, đói kém, rừng cho họ gỗ làm nhà, củiđun, cho họ cây thuốc, Vì thế, trong không gian truyền thống của ngườidân nơi đây, đất, rừng có vị trí quan trọng và chính đất, rừng tạo nên mộtkhông gian văn hóa đặc thù, là kết quả thích nghi với môi trường xungquanh và sự hình thành một hệ thống tri thức địa phương được tích luỹ

và phát triển có tính thích ứng cao với môi trường tự nhiên

Tại đây có sự gắn kết của thiên nhiên với điều kiện sinh tồn Ở cácvùng rừng xavan (rừng thưa nhiệt đới khô hay còn được gọi là rừngkhộp), loại rừng không phát triển trên đất đỏ bazan màu mỡ mà pháttriển trên các đá cổ hơn đó hàng trăm triệu năm, đồng bào thường gọi

là đất trắng, có những chỗ được gọi là đất cát, trên đó có các đồi cỏ tranh,

mà khi còn non trâu bò, các loài ăn cỏ có móng guốc như hươu, nai,mang, hoẵng,… có thể ăn được, nhưng lá nhanh chóng cứng lại, sắc, córăng cưa theo một chiều, nếu vuốt theo chiều ngược lại, lá có thể cứađứt da, đứt thịt Loài cỏ này phủ dưới tán rừng thưa thành các xavan cỏhay rừng xavan (đồng cỏ lá cứng)

Vào mùa khô, cây cỏ khô đi và trong điều kiện khô hạn kiệt cùng,những lá cỏ cọ cát vào nhau, hay những cây tre, nứa, lồ ô cọ vào nhauhoặc nguyên nhân gì khác nữa mà sinh ra tia lửa, nhanh chóng bén vào

cỏ khô tạo nên lửa chu kỳ, đốt cháy các đồng cỏ, trảng cỏ dưới rừngxavan Tro cỏ tranh tích luỹ nhiều muối kali, thu hút các loài thú đến ănthay muối, đồng thời, lửa cháy theo chu kỳ đó đốt hết cỏ cứng cũ đi,thay thế cỏ mới để muôn loài vừa có muối, vừa có cỏ non để ăn

Trang 5

Các cây trong rừng xavan như cây dầu lông, dầu đồng, dầu trà ben

có vỏ cứng, dày, lá to cứng ráp, có lông, chồi có búp cứng che kín, dày

để chống thoát hơi nước và quang hợp được nhiều Những cây này pháttriển chậm, nhưng phát triển đến đâu làm rạn vỏ đến đấy, đến một độnào đó, cần có lửa cháy đốt vỏ bên ngoài đi, cây lại khoác lớp vỏ mới,thay cái áo chật bằng cái áo mới rộng hơn, kết thúc một năm hay mộtthời kỳ sinh trưởng, bước vào mùa hay thời kỳ sinh trưởng mới Do vậy,cây cần có lửa chu kỳ để đốt cháy lớp áo cũ, không có lửa cháy, câykhông phát triển được, sự cộng sinh giữa các cây này với thảm cỏ tranh

ở dưới rất cần lửa cháy cho một chu kỳ sinh trưởng, đó là quy luật cầnthiết của tự nhiên

Nắm được quy luật đó, bà con đã có những tri thức riêng khi làmrẫy dưới tán rừng, trên các trảng tranh, xử lý kỹ thuật đồng bộ trên cơ

sở những công cụ sản xuất cũ, hướng cố gắng của mình vào khâu kỹthuật canh tác để giữ độ màu, độ ẩm cho đất hạn chế rửa trôi, nhanh táisinh rừng, khai thác những khác biệt của khí hậu địa phương để khiphơi rẫy thì gặp nắng, khi trỉa lúa thì có mưa, nhạy cảm với những thayđổi thời tiết hàng năm, tích cóp những tri thức về đất đai, rừng núi, cỏcây, muông thú,

Tại các vùng đất đồng cỏ xavan, do khối lượng cành khô, lá rụngnhiều và hệ rễ phát triển mà hình thành đất có nhiều mùn, màu thẫm,đồng bào thường gọi là đất đen Đất này rất tốt, nhiều dinh dưỡng, hàmlượng dinh dưỡng dễ tiêu còn cao hơn đất đỏ bazan nên mùa màngthường tươi tốt, nhưng lại nhanh chóng mất màu vì các chất chuyển hoánhanh Vì vậy, các rẫy làm trên các đồng cỏ xavan hay rừng xavan phảiquay vòng nhanh, rồi lại bỏ hoá để phục hồi đất

Tuỳ thuộc vào chất đất, việc luân canh của đồng bào có thể có nhữngchu kỳ khác nhau 5 – 10 năm; 10 ‑15 năm; 15 – 20 năm hay lâu hơn nữa,

mà chu kỳ dài là hiện tượng phổ biến trong canh tác của đồng bào Vìvậy, có thể đoán nhận là việc phục hồi đất cũng diễn ra chậm chạp nhưquá trình sinh trưởng của cây cối ở đây Thường các rẫy mới đất còn tốt,đồng bào trồng các loại cây ngắn ngày, trên rẫy cũ là lúa dài ngày, đápứng nhu cầu sử dụng đất và việc huy động các chất trong đất, vì rẫy cũchỉ còn có các loại chất ở dạng chậm tiêu Do vậy trồng lúa dài ngày mớitận dụng hết các chất dinh dưỡng còn lại trong đất và khi không còn gì

Trang 6

nữa (không còn năng suất) đất mới được bỏ hoá Trước đây, đất đai màu

mỡ, đất được nghỉ để hồi phục chất dinh dưỡng, đồng thời các tri thứcdân gian như lịch thời vụ được đảm bảo, trùng khớp với nhu cầu sinhthái của giống cây trồng, nên lúa rẫy cũng thu hoạch được từ 1,5 – 2,0tấn/ha Đồng bào thường sản xuất sao cho 2/3 số thóc thu hoạch để ănhàng ngày, 1/3 thì ủ rượu, chăn nuôi, giúp đỡ bà con buôn làng

Theo nhu cầu lương thực, để quay vòng 5 năm thì cần 1,26 ha/người;

10 năm thì cần khoảng 2,5ha/người và 20 năm thì cần hơn 25ha/người

Từ đó, một hộ gia đình nhà dài cần diện tích để quay vòng 5 năm là 38ha; để quay vòng 10 năm cần 75 ha và để quay vòng 20 năm là 750 ha.Theo con số tính toán trên thì các gia đình khá giả phải có hàng nghìn

ha đất canh tác và mỗi thành viên trong gia đình nhà dài truyền thốngcũng phải có khoảng trên dưới 30 ha đất canh tác nông nghiệp Điều đócho thấy sự vô tận của quỹ đất sản xuất truyền thống trước đây Nguồn thực phẩm truyền thống của đồng bào dựa vào sản phẩmchăn nuôi và rau đậu trồng xen trên rẫy, vì vậy, chăn nuôi trong gia đìnhđược phát triển, đồng bào nuôi gà, vịt, ngan, ngỗng (gia cầm) và lợn, dê,trâu, bò (gia súc) Gia cầm được nuôi để làm thực phẩm, còn gia súc nhưlợn, trâu bò thì ngoài việc cúng lễ, ma chay, cưới xin, đây là vật nuôi thểhiện sự giàu có của gia đình vì đó là những vật để định giá chiêng, cồng,ché, nồi đồng, vì thế, có gia đình có hàng trăm con gia súc lớn Một số ítnhà giàu còn nuôi voi trong nhà, con voi nuôi được là có số làm ăn nênnhiều gia đình khá giả nuôi con vật này Theo quan niệm truyền thốngcủa các cộng đồng dân tộc tại chỗ, hiến sinh nhiều súc vật trong các nghi

lễ là vinh dự trọng đại, là mục tiêu mà người ta cần đạt tới để khẳngđịnh vị trí xã hội của mình

Tuy nhiên, để nuôi được nhiều trâu bò thì cũng cần diện tích chănthả Trung bình một con trâu, bò cần khoảng 0,1 ha đồng cỏ, do vậy, để

có đàn bò 200 con, ông Nay Ký Lào (ở Buôn Đôn) có trang trại rộng đến

20 ha Chính vì vậy, trong mỗi gia đình, ngoài diện tích ruộng rẫy trồnglương thực, thực phẩm, để quay vòng đất thì một diện tích đáng kể cũngcần để cho chăn nuôi, theo đó, mỗi hộ nhà dài truyền thống trước đây(khoảng 30 người) phải có khoảng trên dưới 1.000 ha đất các loại.Nguồn thực phẩm khác do tài nguyên rừng cung cấp, sản phẩm háilượm và săn bắn chiếm vị trí quan trọng trong đời sống của đồng bào

Trang 7

tại chỗ Họ coi rừng núi như bầu sữa tự nhiên, họ không chỉ khai tháccác loại rau quả, củ, măng, nấm, chim thú, cá tôm, một số loại côn trùng

ăn được mà còn là nơi để họ hoà mình với môi trường, để có được mộtkhông gian sống, mà không gian cồng chiêng là một phần kết quả củamối tương tác giữa môi trường và con người, là sự hoà quyện giữa vănhoá mưu sinh và văn hoá môi sinh

Những nguồn lợi khác được lấy từ rừng là tre gỗ làm nhà và làmdụng cụ gia đình Ngôi nhà truyền thống của đồng bào thường chỉ lấy

gỗ làm cột, làm kèo, làm xuyên, còn xung quanh thì bưng bằng tre, bằngnứa, lồ ô Xưa kia, rau rừng, mật ong, hoa quả, thịt chim thú nhiều vô

kể, đủ dùng quanh năm Ở ven sông, ven suối, trên các vùng đầu nguồn

là rừng cây chịu ẩm, đây là những cánh rừng tạo nguồn sinh thuỷ mà ở

đó có nhiều cây to lớn như dầu rái (hoach hrach), cà chít, sao (gier),

mà gỗ thường được dùng để làm cột nhà, làm áo quan Do vậy, có nhữngquy định của làng không được tự ý chặt cây, phá rừng đầu nguồn cạnhbến nước, ai vi phạm hay đốt rẫy làm cháy những rừng này đều bị luậtlàng trừng phạt nghiêm khắc Đây cũng là những quy định riêng của trithức dân gian, tri thức địa phương trong việc gìn giữ nguồn tài nguyênrừng, bảo vệ sự hồi quy của nguồn nước vừa để ăn, vừa để sản xuất

Có thể thấy rằng, các gia đình trong một buôn cố kết với nhau chủyếu bằng các điều kiện sản xuất vật chất và không gian sinh tồn Điểmđặc biệt ở Tây Nguyên là mức độ tăng dân số của phần đông các cộngđồng dân tộc tại chỗ diễn ra chậm trong quá khứ, có những thời điểmnhư những năm 40 của thế kỷ trước, dân số đã nằm trong tình trạngdưới mức tái sản xuất giản đơn, có nghĩa là tỷ lệ sinh thô thấp hơn tỷ lệchết thô (Bestreau Roussel, 1950) Hiện tượng này còn kéo dài đến saunhững năm giải phóng, điều này cho thấy sức ép về tài nguyên do quátrình tăng dân số trước đây của đồng bào là không cao

Trong điều kiện tài nguyên đất, tài nguyên rừng dư thừa cả về diệntích và cả về số lượng, công việc sản xuất, sinh hoạt phụ thuộc nhiềuvào nguồn tài nguyên quan trọng khác ‑ nguồn tài nguyên nước Nướccần cho hoạt động sống của toàn buôn làng, nước cần cho hoạt động sảnxuất trên nương rẫy Hoạt động sản xuất của đồng bào tại chỗ ở ĐắkLắk trong giai đoạn trước khi chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tức là trongsinh kế truyền thống thì không cần nhiều đến nước Mặt khác, sinh kế

Trang 8

truyền thống có thời vụ và giống cây trồng gắn chặt với các điều kiệnkhí hậu, thời tiết, nên chỉ cần xem thời tiết cho đúng là có thể vào vụmột cách chính xác

3 Những vấn đề chính sách phát triển liên quan đến văn hoá môi sinh và môi trường

Sau giải phóng, chúng ta tiến hành quản lý tài nguyên theo phápluật Để làm việc đó, Nhà nước đã tiến hành nhiều cuộc khảo cứu đánhgiá tiềm năng tài nguyên và dựa vào những kết quả khảo cứu đó đã đề

ra nhiều chính sách phát triển cho Tây Nguyên Trong đó có chính sách

về đất đai

Từ năm 1977, đất được thu về chung của các buôn, đến khoảng nhữngnăm 1982 bắt đầu tiến hành quá trình định canh định cư, đất ở được chiathành lô, mỗi lô 1200 m2để chia cho các hộ gia đình làm đất ở và vườntạp sau khi tách hộ lớn nhà dài thành các hộ nhỏ và làm hộ khẩu riêng,dẫn tới việc các hộ phải tự quản lý và phải quản lý chặt chẽ từng diệntích mình được quản lý, thậm chí quản lý đến từng m2đất, bởi giá trị đấtngày càng gia tăng, được quyền chuyển nhượng, do vậy, không gian sinhtồn truyền thống của cộng đồng dân cư ngày càng thu hẹp vào khônggian hộ gia đình, các hộ gia đình nhà dài lại chia thành các hộ nhỏ.Sau quá trình định canh định cư, bà con bắt đầu chuyển từ tập quánsản xuất trên nương rẫy sang sản xuất lúa nước, việc canh tác lúa nướctrên các vùng đất bằng ven các sông suối đã tạo ra thu hoạch nhiều hơn

về lương thực Các hệ thống thuỷ nông dần được hình thành và do quỹđất còn nhiều nên đã nâng cao đời sống truyền thống của đồng bào, việc

lệ thuộc vào rẫy, vào rừng ít đi Tuy vậy, chỉ vài năm sau, khi bắt đầuquá trình di dân xây dựng kinh tế mới từ năm 1976‑1977, ban đầu lànhững đồng bào Mường, rồi sau đó là Tày, Nùng, Kinh từ các tỉnh phíaBắc, từ Thừa Thiên ‑ Huế vào đã đòi hỏi phải tiến hành phân chia quỹđất sản xuất, nhất là đất ruộng nước, các ruộng nước phát triển dần thuhẹp dòng chảy của sông, suối, hình thành những phai, đập ngăn nước

để tưới ruộng đã chia cắt các dòng chảy, ảnh hưởng đến những ruộng ởcuối nguồn nước

Đến những năm 1983–1984, bắt đầu triển khai trồng cà phê và từ năm

1984 bắt đầu trồng cao su, hình thành dần các nông trường cao su đã

Trang 9

thu hút một phần lao động nông nghiệp truyền thống sang chăm sóccao su (từ nông dân thành công nhân nông trường) hay từ nông dântrồng lúa sang nông dân trồng cà phê Tác động này ngày càng mạnhkhi thu hoạch cà phê và cao su có giá trị cao hơn nhiều so với trồng câylương thực truyền thống Chính tác động của xu hướng này làm cho bàcon xa dần công việc canh tác lúa nước, họ chuyển dần diện tích đất thấpngập nước cho các cộng đồng đồng bào mới di cư đến để chú tâm vàocanh tác trên các diện tích cao su hay cà phê Vì vậy, mới có nhữngchuyện tách thôn cũ, lập thôn mới Tất cả các thôn cũ đều trồng cà phê,cao su, v.v và giữ lại một diện tích ruộng nước không nhiều, mỗi nhàchừng 1 – 2 sào Các thôn mới thì hoàn toàn làm lúa nước bởi tập quáncủa đồng bào Kinh, Tày, Nùng, Mường là gắn bó với mảnh ruộng nước Cuộc đại phân chia đất canh tác diễn ra trong khoảng gần 20 năm,

từ đầu những năm 80 đến cuối những năm 90 đã làm cho quỹ đất khôngcòn để phân chia nữa trong thời gian hiện tại đã bó hẹp không gian sảnxuất chung của đồng bào tại chỗ, không chỉ theo từng hộ gia đình mà cảkhuôn vi buôn làng

Thêm vào đó, cơn sốt đất không chỉ là đất ở tại các vùng đô thị màsốt đất trồng cà phê, trồng cao su, trồng tiêu, trồng mía, và sự hìnhthành các vùng đất để “tiến hành các dự án” đã thu hẹp đáng kể cácdiện tích đất canh tác Nhiều gia đình đồng bào do sản xuất không hiệuquả, do thiếu vốn đầu tư, do thiên tai, mất mùa, do thị trường biếnđộng,… đã bán đất đi để trở thành lao động làm thuê, hình thành tầnglớp mới sở hữu đất đai của địa phương và tạo nên sự phân hoá về sởhữu đất đai ở các buôn làng đồng bào tại chỗ

Nguồn đất lâm nghiệp giảm sút đáng kể, cho đến nay, cuộc “xâmlăng” đất rừng vẫn diễn ra một cách mạnh mẽ Việc xâm hại nguồn tàinguyên rừng nảy sinh trong quá trình cải tạo kinh tế, xây dựng các nông,lâm trường và việc khai thác tự do vô tổ chức trong một thời gian dài.Việc chuyển đổi diện tích đất rừng thành các diện tích trồng cà phê, cao

su, điều, mía, đã làm cho rừng hầu như không còn trong các vùng cưtrú của các đồng bào tại chỗ ở Tây Nguyên, điều này dẫn đến hậu quả làcác nguồn tài nguyên rừng phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất truyềnthống không còn, nên nhiều nghề truyền thống mai một, nhiều tập quánkhông còn thể hiện trong cộng đồng, nhất là đối với thanh niên như đi

Trang 10

săn thú, kiếm mây đan gùi, kiếm cây rừng, cây thuốc,… ngay cả tre lồ ô

để làm nhạc cụ như đàn t’rưng, krong put cũng không có Như vậy,không chỉ không gian sinh tồn bị bó hẹp mà không gian sống cũng bị tácđộng, văn hoá mưu sinh và văn hoá môi trường dần dần biến đổi theonhịp sống mới, hiện đại hơn, xa rừng cây, xa đất, xa cả nguồn nước suối.Không còn kinh tế rừng (một phần quan trọng của kinh tế tự nhiêntrước đây) nên bắt buộc phải có tích luỹ, không có tích luỹ là nghèo, làđói, mà nghèo đói trong kinh tế thị trường chỉ có đi vay lãi, vay trướcrồi trả bằng nông sản khi thu hoạch, không thể dựa vào rừng trong lúcgiáp hạt, lúc đói lòng được nữa, do đó, các tri thức dân gian cũng dầnmai một, biến đổi theo điều kiện mới

Rừng không còn nên nhà cửa cũng thay đổi kết cấu truyền thống,rừng bị triệt hạ, làm cho chăn nuôi cũng ảnh hưởng Những ràng buộc

cũ về tập tục dần dần thay đổi, không bị lệ thuộc vào các quy định vănhoá cũ, như ché, chiêng, nồi đồng, bây giờ không còn là vật quy địnhmức độ giàu nghèo nữa mà bằng chính các vật dụng mới trong nhà nhưbàn, ghế, giường, tủ, ti vi, xe máy, v.v

Nguồn suối, bến nước cũng là một nét văn hoá đặc trưng của đồngbào tại chỗ Tây Nguyên, nét văn hoá này ngày nay đang bị ảnh hưởngnặng nề và có nguy cơ bị biến mất Vì rằng: thứ nhất, rừng được thaythế bằng các cây trồng kinh tế nên không những không có tán che, khôngtạo được lượng nước hồi quy, do vậy các khe suối chỉ còn tác dụng thoátnước mùa mưa và chảy ri rỉ vào mùa khô, dòng suối mất dần ý nghĩanơi sinh hoạt cộng đồng, là nơi lấy nước Hơn thế nữa, việc khoan giếnglấy nước tưới cho cây cà phê tràn lan làm cho sụt giảm nguồn nướcngầm Các hộ trước đây còn canh tác bám quanh nguồn nước khe suối,thì nay tự khoan giếng để tưới cà phê, để sinh hoạt, không cần đếnnguồn nước suối nữa Bản thân các nguồn suối cũng bị biến dạng dolàm ruộng nước, bị ô nhiễm do sản xuất nông nghiệp, không dùng làmnước sinh hoạt cho buôn làng được nên mất dần văn hoá bến nước

4 Kết luận

Từ những ý kiến phân tích trên cho thấy, việc triển khai các nguyêntắc cấm sử dụng nguồn tài nguyên rừng trong các khu rừng đặc dụng(vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, v.v.) đã loại trừ khả năng người

Trang 11

dân địa phương thu lợi từ môi trường truyền thống của họ làm mất sinh

kế và phương thức trợ giúp của thiên nhiên đối với các hộ nghèo, hộđói, lúc giáp hạt, thiên tai, v.v

Việc giao quyền sử dụng đất lâu dài đã cho phép biến sở hữu tư liệusản xuất chung thành sở hữu riêng (tư hữu), làm nhanh chóng cạn kiệtnguồn tài nguyên, dẫn đến cạn kiệt nguồn tư liệu sản xuất, làm mấtdần văn hoá mưu sinh truyền thống Giao đất giao rừng, tức là giaophần tài nguyên trước đây vốn là của chung thành của riêng từng hộgia đình Từ đây cho thấy sự thay đổi tư duy quản lý tài nguyên, từviệc quản lý của cộng đồng để đảm bảo cho sự công bằng xã hội chuyểnsang đảm bảo cho một lợi nhuận kinh tế, tạo nên văn hoá mới trong đờisống xã hội, trong ứng xử khác với văn hoá ứng xử mang tính cộngđồng trước đây

Việc trao quyền sử dụng lâu dài tài nguyên đất đã nâng cao giá trịtài nguyên, bằng chứng là giá đất, giá gỗ ngày một gia tăng và ngườibán sau được giá hơn nhiều so với người bán trước, thời gian càng vềsau, giá đất càng cao, làm nảy sinh tâm lý hoài niệm về mảnh đất cũ củamình và tâm lý muốn giành lại mảnh đất đó, đây là mầm mống tâm lýrất dễ bị lợi dụng kích động cho mục đích xấu Cụ thể là trong nhữngcuộc biểu tình vừa qua, một trong những nguyên nhân có sức thuyếtphục nhất lôi kéo đồng bào tham gia là đòi đất, đã gây nên những bất

ổn về xã hội, làm mất đi những nét đẹp của văn hoá truyền thống củabuôn làng xưa kia

Chính sách di dân, phát triển kinh tế được đặt ra từ những năm 70‑

80 của thế kỷ trước đã tạo nên sự giao lưu, giao thoa văn hoá giữa cácdân tộc tại chỗ và đồng bào di cư, tuy có những nét hoà trộn, nhưngcũng có những nét xung khắc, do vậy, đặt ra vấn đề về bảo tồn và pháthuy giá trị văn hoá truyền thống với việc hội nhập văn hoá dân tộc đểhạn chế những xung khắc xã hội

Việc chuyên môn hoá sản xuất hiện nay để tăng giá trị hàng hoá trênmột đơn vị diện tích đất đai đã dẫn đến sự phân hoá trong nền sản xuấttruyền thống của bà con dân tộc tại chỗ Tây Nguyên, họ chú trọng hơnvào việc sản xuất ra cà phê, cao su (ra tiền) hơn là ra lúa gạo và điều đó

đã làm nâng cao chất lượng cuộc sống của bà con nói riêng và cộngđồng nói chung Song điều ngược lại mà bà con không tính đến là khi

Trang 12

cà phê rớt giá, khi thiếu nước, chất lượng cà thấp, cà phê không tiêuthụ được thì không còn có sự trợ giúp của nguồn rừng, nguồn sông,nguồn suối Mặt khác, tâm lý làm đến đâu tiêu đến đấy vẫn còn phổbiến trong quảng đại bà con dân tộc tại chỗ, tức là làm được bao nhiêu,tiêu bấy nhiêu, tiêu vào nhà cửa, đồ đạc, xe máy, không ít gia đình đãsắm, đã dùng những tiện nghi đắt tiền, đã bắt đầu sắm sửa những vậtdụng, phương tiện không phải để cho sản xuất mà chỉ tăng thêm giátrị cho cuộc sống Chính vì vậy, khi thất bát, khi đói kém, khi không cóthu nhập từ cà phê, từ cao su, thì họ trở nên trắng tay, buộc Nhà nướcphải cứu giúp, tạo nên vấn đề xã hội bức xúc và đã có lúc trở thành vấn

đề chính trị

Việc tổ chức các ngành mới (trồng cây công nghiệp: điều, cao su, hồtiêu; du lịch sinh thái, trồng lúa nước, ) cũng tạo nên những khó khăncho quản lý ở cấp địa phương Những dự án thay rừng bằng cây kinh

tế có thể tạo được lợi nhuận cao cho xã hội và cho một nhóm người nào

đó, nhưng lại tạo nên “cơ hội” nghèo cho nhiều hộ gia đình Bởi vậy,mọi chính sách, chủ trương cho đến các chương trình, dự án phát triểntriển khai ở Tây Nguyên cần được nhìn nhận đánh giá một cách toàndiện, khách quan trên cả các mặt kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường,không chỉ nhìn một chiều từ góc độ kinh tế đơn thuần, dựa trên lợi íchcủa một nhóm người mà quên lợi ích của số đông dân cư

Nhằm giải quyết mối quan hệ kép giữa việc bảo vệ môi trường vàđảm bảo môi sinh, sinh kế cho các cộng đồng dân tộc tại chỗ để vừa bảo

vệ môi trường lại vừa bảo tồn sinh kế, một phương thức được đưa ra cóthể là áp dụng mô hình quản lý cộng đồng các nguồn tài nguyên đượcxây dựng dựa trên nguyên tắc những người tham gia khai thác hànhđộng một cách tập thể để quản lý các tài nguyên Đây là cách tiếp cận

mà việc thực hiện các sắp xếp về mặt thể chế cho phép đảm bảo duy trìcông tác quản lý tập thể của các cộng đồng địa phương đối với cácnguồn tài nguyên Trong đó, không còn vai trò “độc chiếm” của chínhsách môi trường, vì trong nhiều trường hợp các chính sách này có thểkích thích sự phá rừng (chính sách chuyển đổi rừng nghèo thành diệntích trồng cây công nghiệp hay làm du lịch sinh thái, ) hay việc khaithác quá mức một vài nguồn tài nguyên nào đó cho mục đích phát triểnkinh tế

Trang 13

Mô hình quản lý cộng đồng các nguồn tài nguyên cho phép dunghoà những cách tiếp cận khác nhau về quyền sở hữu, cho phép quantâm đến các vấn đề văn hoá – xã hội của các nhóm đối tượng, trong đó,xác định “an toàn hoá” công tác đất đai là yếu tố trung tâm trong côngtác quản lý bền vững các khoảng không gian sinh tồn của các cộng đồngdân cư Trong mô hình quản lý cộng đồng các nguồn tài nguyên, phạmtrù môi trường được lồng ghép vào trong việc xác định tổng thể những

ưu tiên giành cho cộng đồng của họ, đồng thời, các vấn đề môi trườngđược chính cộng đồng thực hiện Cũng bằng cách này công tác quản lýtruyền thống của cộng đồng thực sự tham gia vào quá trình phát triển

và đem lại sự phát triển có tính lâu bền, cho phép hợp pháp hoá các thểthức quản lý truyền thống nhưng mang tính công ích mới thông quanhững tri thức dân gian mà tổ tiên để lại Vai trò của Nhà nước là phảithể chế hoá các hình thức quản lý của cộng đồng cho phù hợp với cácnguyên tắc của luật pháp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Viện Dân tộc học (1984), Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía

Nam), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

[2] Lê Thông (Chủ biên) (2003), Địa lý các tỉnh, thành phố Việt Nam (các tỉnh

Trung Bộ, Tây Nguyên), Hà Nội

[3] Kết quả điều tra nông thôn, nông nghiệp, thủy sản năm 1996, 2001, 2006 [4] Niên giám thống kê 1984 – 2008

[5] Tư liệu khảo sát điều tra trên địa bàn Tây Nguyên các giai đoạn Tây Nguyên 1, 2, và từ 2007 đến nay.

Ngày đăng: 18/02/2017, 21:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w