Trên cơ sở đó, báo cáo trình bày các phần chính sau: Phát huy cơ chếcủa làng truyền thống; xác lập lại quyền quản lý về tài nguyên của cộngđồng làng; và đẩy mạnh việc điều hành bằng luật
Trang 1BA NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG TRƯỜNG SƠN - TÂY NGUYÊN
Tuy nhiên, cho đến nay các dân tộc thiểu số Trường Sơn – TâyNguyên (TS‑TN) tại chỗ1 nhất là vùng sâu, vùng xa vẫn còn rất đóinghèo, thiếu thốn
Báo cáo này mạnh dạn đưa ra một số biện pháp nhằm góp phầnđẩy mạnh sự phát triển của các dân tộc thiểu số tại chỗ, xây dựngmột Tây Nguyên đoàn kết, giàu mạnh, yên vui Biện pháp đó là một
chỉnh thể, gồm ba mặt hữu cơ: “Phát huy cơ chế làng truyền thống, trên
cơ sở lập lại quyền quản lý tài nguyên và đẩy mạnh việc điều hành bằng luật tục”
Trên cơ sở đó, báo cáo trình bày các phần chính sau: Phát huy cơ chếcủa làng truyền thống; xác lập lại quyền quản lý về tài nguyên của cộngđồng làng; và đẩy mạnh việc điều hành bằng luật tục
1 Dân tộc thiểu số tại chỗ là dân tộc thiểu số sinh sống lâu đời ở Tây Nguyên, như Êđê, Bana, Giarai, Mnông , khác với dân tộc thiểu số ở phía Bắc mới di cứ đến Tây Nguyên như Tày, Nùng, Thái, Mường
Trang 21 Phát huy vai trò của cơ chế làng truyền thống trong sự nghiệp phát triển Tây Nguyên
1.1 Làng truyền thống và sự biến đổi của nó
Làng truyền thống (được gọi là buôn ‑ plei) Tây Nguyên đã hìnhthành từ lâu đời như một cấu trúc bền vững với tinh thần cộng đồngcao gồm bốn thành tố:
‑ Một cộng đồng cư trú
‑ Một cộng đồng sở hữu tài nguyên
‑ Một cộng đồng văn hoá gồm văn học nghệ thuật, luật tục, phongtục tập quán
‑ Bao trùm lên trên tất cả, đồng thời lan toả trong tất cả các cá thểhữu sinh và vô sinh là một hệ thống cộng đồng thần linh (đượcgọi là yang)
Buôn ‑ plei truyền thống là một cơ cấu kinh tế ‑ văn hoá ‑ xã hội hay
nói như G.Condominas là một không gian ‑ xã hội1 (espace social)Ngày nay, buôn ‑ plei Tây Nguyên đã biến đổi nhiều, sự biến đổinày lệ thuộc vào từng dân tộc vào vị trí cư trú của từng buôn và hoàncảnh lịch sử cụ thể của buôn
Có thể tạm chia làm hai vùng:
‑ Vùng gần các trung tâm: thành phần dân tộc, cũng như trình độ
văn hoá nghề nghiệp đa dạng, xuất hiện người nói luật (tiếng Êđê
là pô blũ kdi) Ông là người nhắc lại luật tục “ông bà xưa” để
khuyên răn, hoà giải, kể cả nhắc lại hình thức và mức độ nộpphạt, nhưng không có việc phạt và nộp phạt
‑ Vùng xa, hẻo lánh: già làng vẫn có vai trò điều hành mọi côngviệc của buôn ‑ plei Khi phân xử tổ hoà giải chủ trì (gồm thànhviên có đoàn thể, chính quyền thôn, thôn trưởng và già làng).Thực tế vai trò của già làng vẫn rất quan trọng, mức độ xử phạtnhẹ hơn trước
1 Ngô Đức Thịnh, Hội thảo khoa học Luật tục ‑ hương ước và những vấn đề phát triển kinh tế ‑ xã hội buôn làng các dân tộc Tây Nguyên.
Trang 3Ngày nay cơ cấu buôn ‑ plei đã chuyển đổi, nhưng vẫn giữ đượcnhững nét ưu điểm cơ bản của truyền thống và vẫn là đơn vị cơ sở cóvai trò thực sự trong xã hội Tây Nguyên, là điểm tựa cho sự phát triểncủa Tây Nguyên Kinh nghiệm cho biết “Những cộng đồng có khả nănggiữ được hệ thống điều hành địa phương của họ, sẽ có khả năng thíchứng tốt hơn với những thay đổi và bất định của quá trình dân số Dựa
vào những thiết chế “truyền thống” như vậy, các cộng đồng này cũng có
khả năng tốthơn trong việc tạo ra hay chấp nhận những tiến bộ kỹ thuật
so với những cộng đồng bị ăn mòn bởi những can thiệp (thường là thấtbại) từ bên ngoài cùng với chính cái ý định muốn đưa các “tiến bộ kỹthuật” đó vào cho cộng đồng”1 “Những cộng đồng nào còn giữ đượctính tự chủ và tự tin vào các hệ thống luật tục của địa phương thì có khảnăng tốt hơn trong việc đổi mới các hoạt động nông nghiệp của họ vàthích nghi tốt với những thách thức đặt ra do áp lực dân số”
Để phát triển bền vững, các cộng đồng buôn ‑ plei phải tự điều chỉnh
và thích nghi trước những biến động to lớn trong thời đại mới Màmuốn họ thực hiện được điều này cần tránh sự can thiệp từ bên ngoàiphá vỡ thiết chế truyền thống cần tạo thuận lợi cho sự vận hành củachính thiết chế này do chính nhân dân các cộng đồng tự giác và chủđộng điều hành
1.2 Vai trò của cộng đồng làng và già làng ngày nay đối với phát triển
Ở miền núi Việt Nam, nhất là ở Tây Nguyên, ý thức cộng đồng rấtmạnh, đó là cộng đồng làng
Mọi hoạt động giúp cho sự phát triển của Tây Nguyên đều phải dựavào cộng đồng với năng lực nội tại của cộng đồng Hiện nay số vốn Nhànước và các tổ chức đầu tư cho miền núi Tây Nguyên không ít (như vốn
hỗ trợ người nghèo, vốn tín dụng ngân hàng, vốn hỗ trợ cơ sở hạ tầng,vốn giao đất giao rừng, vốn nâng cao năng lực ) Nhưng vì không biếtdựa vào cộng đồng do không tin vào năng lực của người dân tộc tại chỗnên gặp nhiều khó khăn thậm chí thất bại
1 Oscar Salemink, Luật tục, quyền sở hữu đất đai và vấn đề di cư, trong sách Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam(sđd), tr 828.
Trang 4Người đại diện có uy tín, có hiệu lực của các làng là già làng Dựavào cộng đồng làng trước hết là dựa vào già làng Nói chung già làngmiền núi là người đại diện cho nguyện vọng và tiếng nói chính đángcủa cộng đồng các dân tộc, là người có khả năng đoàn kết, tổ chức vàhuy động cộng đồng vì sự phát triển của họ.
Việc đem đến cho các dân tộc thiểu số hoặc là cơ sở vật chất, thuốcthang, hoặc là văn hoá khoa học kỹ thuật cũng phải quan tâm đến yếu
tố văn hoá tộc người: tâm lý, quan niệm, tập quán truyền thống, văn hoáứng xử, văn hoá mưu sinh, văn hoá tâm linh Không nắm vững vănhoá tộc người thì chúng ta dầu có hăng hái, nhiệt tình, nhiều tiền củacũng không nhất thiết có hiệu quả cao Mà người hiểu biết sâu sắc vềvăn hoá tộc người của mình ở miền núi là các già làng Chúng ta phảitin tưởng và dựa vào họ nhờ đó mà tạo nên sự vận hành hợp lý và bềnvững của cộng đồng các dân tộc trên đường phát triển
2 Xác lập lại quyền Quản lý về tài nguyên của cộng đồng buôn - plei
Người Tây Nguyên sống nhờ rừng Rừng là tất cả cuộc sống tinhthần và vật chất của họ Một nhà dân tộc học về Tây Nguyên, nổi tiếng,Georges Condominas đã viết: “Đơn vị chính trị truyền thống tối cao làlàng (bboon) tức là nhóm các gia đình tạo thành một khối dân cư trongmột khoảng rừng Chính từ khoảng rừng này mà họ không chỉ lấy racác nguyên vật liệu chủ yếu mà họ cần cho ăn mặc, nhà ở, sản xuất công
cụ, mà cả nguồn thực phẩm bằng việc bắt cá, săn bắn, hái rau rừng vàtrước hết là bằng trồng trọt Người ta còn đánh dấu một năm bằng tênkhoảng rừng mà họ đã “ăn” Ví dụ: năm 1949 ở Sar Luk (Mnông gar) lànăm “Ăn rừng của thần đá Gôô”1 Đúng như nhà văn Nguyên Ngọc đãviết: “Rõ ràng vấn đề cơ bản ở đây là vấn đề sở hữu đất đai và rừng, làquyền sống của con người trên không gian sinh tồn thiết yếu ấy”2.Khoảng chục năm gần đây ở Tây Nguyên có hiện tượng nhiềungười giàu vụt lên nhờ trồng cà phê, cao su, cây điều với nhà “đúc”,
1 G.Condominas (1977), Không gian xã hội vùng Đông Nam Á, Bản tiếng Việt của Ngọc
Trang 5nhiều tầng, xe máy, ti vi, tủ lạnh, xe càng (xe công nông) nhiều ngườisắm ô tô riêng ; với rất nhiều chủ trang trại hàng trăm ha, nhiều nônglâm trường bát ngát hàng trăm nghìn ha Sách báo, đài hết sức ca ngợi
sự giàu có đó Điều này đúng nhưng chưa đủ, nếu như quên mất mặttrái của hiện tượng trên là sự giàu có ấy liên quan đến hiện tượng bần
cùng của một bộ phận không nhỏ đồng bào các dân tộc tại chỗ do bị mất đất rừng.
2.1 Quyền quản lý tài nguyên truyền thống
Từ nghìn xưa trong nhân dân Tây Nguyên đã hình thành nhữngnguyên tắc ổn định về việc quản lý tài nguyên thiên nhiên đã được quyđịnh trong các bộ luật tục Các nguyên tắc đó là:
‑ Tài nguyên bao gồm đất, rừng, sông, suối, ao, hồ, bãi chăn nuôi,đất nghĩa địa các sản phẩm của đất, rừng và sông suối như cây cối,hoa quả, ong, thú, tôm cá kể cả những sản phẩm chung do cộng đồnglàm nên như bến nước, nhà rông, công trình thuỷ lợi đều thuộc sở hữucủa cộng đồng buôn ‑ plei Giữa các làng được phân chia bằng các ranhgiới tự nhiên như sông suối, con đường, ngọn núi với một lễ cúng thần
để thần chứng giám, trong lễ đó có sự thề nguyền không xâm phạm, của
cả hai bên
Già làng hoặc hội đồng làng là người đại diện cho chủ quyền sở hữucủa mọi thành viên trong làng có nhiệm vụ quản lý về mọi mặt Có một
số vùng, cùng quản lý với già làng là các chủ họ
‑ Tài nguyên thiên nhiên được cộng đồng phân phối định kỳ cho cácgia đình trong làng canh tác và khai thác Thời gian phân phối thường
lệ thuộc vào chu kỳ luân canh
‑ Chủ làng cùng với các trưởng họ thực hiện chọn đất và chia đất chocác gia đình
‑ Các gia đình có quyền sử dụng đất rừng trong thời gian định kỳđược phân chia không có quyền tự ý nhượng bán Nếu có người tronglàng có nhu cầu trao đổi quyền sử dụng thì hai bên thoả thuận với nhau,chủ làng, chủ họ quyết định và nhất thiết phải được thần linh đồng ýbằng báo mộng Nếu thần linh phản đối bằng các điềm (hạt gạo quayđầu, mang thét, rắn bò qua ) thì không được thực hiện việc trao đổi
Trang 6‑ Trong thời gian hưu canh, đất rừng vẫn thuộc về người được phânchia, không coi đó là đất vô chủ, không ai được xâm phạm.
‑ Những người vi phạm quyền sử dụng tài nguyên phải đưa ra xét
xử và phải phạt theo luật tục Khi có sự tranh chấp về tài nguyên haibên phải tự hoà giải, nếu không, phải đưa ra làng xét xử Trường hợpnày dẫu giải quyết ra sao thì mỗi bên đều có nộp phạt Có dân tộc quyđịnh nếu hai bên không chấp nhận biện pháp của ban luật tục thì làngthu hồi đất làm của công1
2.2 Thực trạng hiện nay về quyền quản lý tài nguyên
Sau đổi mới 1986, nhiều chủ trương chính sách mới ra đời, nhằmthực hiện việc phân quyền quản lý đất cho người lao động như khoán
10 (ở đồng bằng), luật đất đai 1993, luật đất đai 1996 và các văn bảndưới luật khác Đối với đất rừng có Nghị định 02 CP ngày 15 tháng 1năm 1994 về việc giao khoán đất rừng, chủ trương giao đất lâm nghiệpcho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đíchlâm nghiệp
Thực hiện chủ trương trên, Nhà nước đã cắt giảm bớt đất đai của cácnông, lâm trường Ở ba tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai và Kon Tum có 88 lâmtrường và 57 nông trường vẫn quản lý tới 1.960.000 ha đất rừng chiếm44% diện tích tự nhiên của tỉnh, so với trước 1986 giảm 26%
Một nguyên nhân ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự căng thẳng củađất đai Tây Nguyên là dân số tăng đột ngột Có mấy nguồn tăng:
‑ Dân chuyển từ miền xuôi lên theo kế hoạch của Nhà nước
‑ Dân nhập cư tự do, không có ai quản lý
‑ Dân số tăng cơ học, cũng không quản lý được
Năm 1960, dân số Tây Nguyên khoảng 600.000 người
1 Phan An, Luật tục Stiêng và vấn đề đất rừng ở tỉnh Bình Phước hiện nay, Luật tục
và phát triển nông thôn (sđd), tr 436 ‑ 437.
‑ Sở Tư pháp Kon Tum, Luật tục và việc phát triển nông thôn hiện nay ở Kon Tum, Luật tục và phát triển nông thôn (sđd), tr 1041.
‑ Ngô Văn Lý, Luật tục Stiêng và quá trình phát triển nông thôn vùng Stiêng, Luật tục và phát triển nông thôn (sđd), tr 1070.
Trang 7Năm 1985, dân số tăng gấp đôi 1.225.914 người
Năm 1985, dân số Tây Nguyên 2.013.900 người
Nguyên nhân của tình trạng trên là dân tộc tại chỗ chưa có ý thứcsâu sắc về quyền tư hữu về ruộng đất lại bị tiếp xúc với một bộ phận cưdân nơi khác đến, lõi đời trong thương trường quen tranh mua, tranhbán Bộ phận cư dân này đã dùng các thủ đoạn như:
‑ Nhằm lúc mất mùa cho dân vay nặng lãi, tiền hoặc lương thực, đếnmùa đồng bào không trả được nợ phải gán đất
‑ Dụ dỗ dân bán đất và xui họ vào rừng khai phá
‑ Mở quán ăn, bán chịu cho một số người nghiện rượu Sau đó họkhông có tiền trả nợ phải gán đất3
1 Vương Xuân Tình (7/2001), Tái lập quản lý cộng đồng về đất đai ở các buôn làng Tây Nguyên, Báo cáo tại Hội thảo khoa học Luật tục và hương ước, Pleiku (Tây Nguyên).
2 Tư liệu vừa dẫn, tr 242, 243 ; 1 cây vàng = 38gr
3 Hoàng Xuân Tý (7/2001), Thay đổi sử dụng đất và bảo tồn văn hoá dân tộc ở Tây
Nguyên, Báo cáo tại hội thảo khoa học Luật tục và hương ước tổ chức tại Pleiku.
Trang 8Xung quanh vấn đề đất rừng Tây Nguyên có nhiều điều khó khăn,lộn xộn, không thể không ổn định lại trật tự.
2.3 Cách giải quyết
Ở Việt Nam đã có chủ trương giao đất giao rừng theo Nghị định 02
CP nói trên Vấn đề là ở Tây Nguyên giao cho ai?
Đất rừng Tây Nguyên vốn đã có truyền thống lâu đời thuộc về cộngđồng buôn ‑ plei Cộng đồng đã có đầy đủ kinh nghiệm cùng với một
hệ thống luật tục hợp tình hợp lý để bảo quản tu bổ, khai thác đất rừng.Người Tây Nguyên lại chưa có truyền thống về tư hữu ruộng đất, dễ
bị xâm phạm trong cơ chế thị trường phức tạp Giao quyền quản lý đấtrừng cho tư nhân, người lao động dễ bị mất đất như thực tế thời chínhquyền cũ và những năm gần đây đã xảy ra (xem phần 1 ở trên) Trongthực tế một số địa phương đã giao đất lâm nghiệp thí điểm cho bốn xãvùng cao thuộc các vùng sinh thái khác nhau Qua đó ta thấy nhân dân
đã tự nguyện giao 30% diện tích đất rừng cho cộng đồng Có trườnghợp nhân dân từ chối việc nhận theo hộ gia đình mà đề nghị thực hiệnviệc nhận theo buôn ‑ plei (ví dụ xã Ia Hrung, huyện Ia Grai, tỉnh GiaLai) Tại đây đồng bào tiếp tục sử dụng các tục lệ cũ về rừng cộng đồng
để quản lý phân phối sản phẩm cho các thành viên1
Việc giao đất rừng cho cộng đồng phải theo nguyên tắc của Luật đất
đai là “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quảnlý”2 Việc giao đất cho các cộng đồng buôn ‑ plei là giao quyền sử dụng
“để sử dụng ổn định lâu dài” Cộng đồng chịu trách nhiệm phân chiađất cho hộ gia đình Các hoạt động sử dụng, chuyển nhượng, thừa kế,thế chấp phải được sự chỉ đạo của cộng đồng
Sau khi giao, Nhà nước bàn bạc với địa phương giúp đỡ những
kỹ thuật mới và phương pháp quản lý mới kết hợp với tri thức bảnđịa để bảo đảm yêu cầu về sản xuất, bảo vệ môi trường và công bằng
xã hội
1 Hoàng Xuân Tý, Vai trò của luật tục vùng cao trong công tác giao đất khoán
rừng và quản lý tài nguyên thiên nhiên, Luật tục và phát triển nông thôn (sđd)
tr 315.
2 1988, Luật đất đai: Nxb Pháp lý, Hà Nội, tr 14.
Trang 9Tất nhiên, đất sẽ không đủ cho phương thức quảng canh trước đây.Thay vào đó chúng ta phải vận dụng các biện pháp kỹ thuật mới, trithức bản địa và chuyển đổi vật nuôi cây trồng Như vậy số đất còn lại
đủ để nâng cao đời sống của các dân tộc tại chỗ
3 Tăng cường điều hành bằng luật tục
3.1 Đặc điểm của luật tục Trường sơn‑Tây Nguyên
Nhiều xã hội, nhiều tộc người trên thế giới vẫn tồn tại và thực hànhluật tục, chúng rất đa dạng Riêng luật tục TS‑TN là luật tục cổ điển, vì
nó ra đời trong xã hội tiêu biểu của luật tục, một xã hội mà trong nội tạichưa có thống trị giai cấp chưa có chiếm hữu tư nhân, lực lượng sảnxuất là tài sản chung của cộng đồng
Luật tục Tây Nguyên là một giá trị quý hiếm, không nhiều xã hội
và dân tộc trên thế giới còn lưu giữ được Nó là một sản phẩm tinh thầntổng hợp vừa có tính chất văn học nghệ thuật vừa có tính chất giáo dục,vừa là phong tục tập quán vừa là bài gia huấn ca; vừa là sinh hoạt vănhoá vừa là sinh hoạt luật pháp với đầy đủ các yếu tố cấu thành của một
hệ thống quy phạm xã hội, với đủ các lĩnh vực pháp lý như hình sự,dân sự, hành chính, đất đai, hôn nhân, gia đình Tính tổng hợp này
đã tạo nên sự tác động đồng thời và toàn diện vào tinh thần (tình cảm
và lý trí, cảm xúc và tư duy) nên có sức cuốn hút, thuyết phục ngườidân Tây Nguyên nhằm điều chỉnh cho quan hệ xã hội đẹp hơn, conngười tốt hơn
Bên cạnh tính tổng hợp, toàn diện, luật tục Tây Nguyên còn có tínhquần chúng dân chủ và tư nguyện Trước khi xét xử, luật tục có cơ chếđiều tra Việc xét xử được tiến hành trước toàn cộng đồng, dân chủ, côngkhai Lỗi lầm không được coi như là hoàn toàn thuộc về cá nhân mà cóliên quan đến gia đình, dòng họ và có khi cả cộng đồng về hai phươngdiện nguyên nhân và hậu quả Lợi ích tối cao của xét xử là sự hoà hợpcủa toàn thể cộng đồng và cả với thần linh, không mưu cầu sự công bằngtuyệt đối giữa các cá nhân Kết thúc buổi xét xử có lời thề đoàn kết,thương yêu nhau, xoá bỏ hận thù và một cuộc liên hoan vui vẻ chứngminh cho sự gắn kết trở lại của cộng đồng sau khi cộng đồng đã hàngắn xong một vết rạn nứt Sau khi xét xử có cơ chế theo dõi để tiếp tụcgiáo dục người lỗi lầm, răn đe các thành viên khác của cộng đồng
Trang 10Những đặc điểm trên đây thích hợp với xã hội truyền thống TâyNguyên và hiện nay nói chung vẫn còn thích hợp với mức độ khác nhaugiữa các vùng, các dân tộc và các điều luật Hơn nữa bản thân luật tục
có sự vận hành và tự điều chỉnh để thích ứng với tình hình mới
Với một cách nhìn sát với thực tiễn hơn, chúng ta hoàn toàn tin tưởng
ở ảnh hưởng của luật tục đối với sự phát triển Tây Nguyên hiện nay
3.2 Sự tồn tại của luật tục trong xã hội ngày nay
Cho đến nay, chúng ta, về cơ bản chưa can thiệp sâu vào sự vận hànhcủa luật tục Tây Nguyên Tuy nhiên luật tục vẫn tồn tại và đóng vai tròquan trọng trong việc điều hoà các mối quan hệ ở Tây Nguyên
Đứng ở cương vị Bộ trưởng Bộ Tư pháp, ông Nguyễn Đình Lộckhẳng định vai trò luật tục hiện nay và sự cần thiết phải kết hợp giữapháp luật và luật tục: “Nói luật tục tức là nói đến phong tục tập quán
đã hình thành trong nhiều năm, trong nhiều thế hệ và đến nay, dẫu đãqua bao biến động, nó vẫn đang còn được nhân dân nhiều dân tộc tôntrọng, gìn giữ và tồn tại song song bên cạnh pháp luật của Nhà nước.Đây là một thực tế , vì vậy đòi hỏi chúng ta phải có một sự nghiên cứusâu sắc, phải có sự kết hợp giữa pháp luật của Nhà nước và phong tụctập quán của nhân dân ở các miền”1
Các Sở Tư pháp và Văn hoá ‑ Thông tin (nay là Sở VH, TT&TT) cáctỉnh Tây Nguyên, quan sát từ thực tế, một lần nữa khẳng định “vị tríquan trọng” của luật tục: “Đến nay cùng với pháp luật của Nhà nước,luật tục vẫn tồn tại và nó đóng một vị trí quan trọng trong việc điềuchỉnh các mối quan hệ trong đời sống của người dân tộc thiểu số Ở mỗidân tộc thiểu số khác nhau đều có luật tục riêng, thể hiện bản sắc, đặctrưng của dân tộc mình”2
Sở dĩ luật tục được cộng đồng nghiêm chỉnh tự giác tuân theo vì đã
ăn sâu vào mỗi người: “Nhiều luật tục được các thành viên trong cộng
1 Nguyễn Đình Lộc (28/3/1996), hội thảo Chuyên đề về luật tục, Viện Nghiên cứu
khoa học pháp lý, H, tr 190
2 Sở Tư pháp tỉnh Kon Tum (7/2001), Luật tục của các dân tộc thiểu số ở Kon Tum và
vai trò của nó trong xây dựng hương ước buôn làng, Hội thảo Luật tục ‑ hương ước
tổ chức ở Pleiku.
Trang 11đồng nghiên chỉnh tuân theo một cách tự giác, điều này có nhiều nguyênnhân, trong đây có nguyên nhân là luật tục cùng với phong tục tập quán
là đạo đức, tín ngưỡng, tôn giáo đã ăn sâu bám rễ trong mỗi người”1.Không ít trường hợp luật tục có hiệu lực hơn pháp luật: “Luật tụcgắn chặt với tiềm thức của đồng bào nên nhiều vụ việc, mặc dù Toà ánnhân dân các cấp đã xét xử, họ vẫn yêu cầu buôn làng xét xử lại và bản
án xét xử theo luật tục được buôn làng chấp nhận hơn bất kỳ một bản
án nào khác”2
Giữ vai trò nòng cốt trong việc phân xử, trong các tổ hoà giải hayban phong tục là già làng Ở đây có mối quan hệ qua lại gắn bó giữa giàlàng, luật tục và thiết chế cộng đồng làng, cộng đồng tộc người: “Giàlàng và các tộc trưởng là người có trách nhiệm phân xử các vụ tranhchấp, kiện tụng giữa các thành viên trong làng, theo luật tục của làng
Có thể nói, luật tục là điều kiện tất yếu bảo đảm cho sự sinh tồn và pháttriển của cộng đồng làng Luật tục nghiêm khắc trừng phạt, loại bỏ cácthói hư, tật xấu trong làng như: trộm cắp, gian dâm, loạn luân, nhằmgiữ gìn sự an ninh, ổn định trong làng Luật tục và cơ cấu tổ chức thiếtchế cộng đồng làng có mối quan hệ gắn bó mật thiết, bổ sung hỗ trợ chonhau, đảm bảo sự tồn tại của một cộng đồng tộc người”3
Nếu biết huy động, luật tục có thể góp phần đóng góp tích cực cho
sự phát triển của Tây Nguyên trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá Điều
này cũng đã diễn ra ở Indonexia mà J.Ambler đã tổng kết: “Adat dường
như bao gồm tất cả và hiện nay đang tồn tại sống động ở Indonexia Mặt
khác cách cư xử của con người không những chỉ được quy định bởi adat.
Sự thay đổi to lớn mà Indonexia đã trải qua, đặc biệt là trong những
2 Tham luận của Sở Tư pháp Đắc Lắc (28/3/1996), Hội thảo Chuyên đề về luật tục, Viện
Nghiên cứu khoa học pháp lý, Hà Nội, tr 65.
3 Tham luận của Sở Văn hoá ‑ Thông tin tỉnh Quảng Ngãi, Hội thảo Chuyên đề về luật tục (28/3/1996), Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Hà Nội, 1997, tr 151.
4 J.Ambler (5/1999), Luật tục ở Indonexia, khái quát về chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đa
dạng về luật lệ và sự biến đổi, Tài liệu báo cáo tại Viện Nghiên cứu Văn hoá dân gian, tr 9.
Trang 123.3 Hai phương hướng tăng cường điều hành bằng luật tục
+ Nói chung trong đại bộ phận các làng buôn cần có chủ trươngkhuyến khích tiếp tục sử dụng luật tục truyền thống để điều hoà cácmối quan hệ, đặc biệt là dân sự
Các cấp chính quyền cần có văn bản hướng dẫn giúp đỡ các già làng,các tổ hoà giải và ban phong tục phương hướng vận dụng luật tụctruyền thống Cung cấp các tài liệu về nội dung các điều luật (có lựachọn) cho các già làng và tổ hoà giải
Theo định kỳ có tổng kết rút kinh nghiệm
Phương hướng này giống như ở Malayxia và Indonexia Hiện nay ởđây vẫn duy trì hệ thống luật tục (adat) với các hội đồng adat các cấplàng, xã, huyện, tỉnh Chúng tồn tại song song với hệ thống pháp luậtNhà nước, được nhân dân và chính quyền các cấp tôn trọng
+ Lựa chọn một số làng buôn tiến hành thí điểm việc kế thừa luật tụctruyền thống xây dựng quy ước văn hoá mới
Chúng tôi có trực tiếp chỉ đạo một số điểm thí nghiệm, qua đó có thểrút ra một số kinh nghiệm:
‑ Quy ước chỉ giới hạn trong phạm vi điều hoà các quan hệ nội bộlàng buôn và đứng ở góc độ văn hoá (nghĩa rộng) mà đặt vấn đề Nhưvậy, sẽ bao trùm được những vấn đề quan trọng của đời sống nhân dânhiện nay Hơn nữa, qua văn hoá, các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội sẽnhẹ nhàng đi vào nhân dân Do vậy tên gọi nên là “Quy ước văn hoápơlây, buôn ”
‑ Những vấn đề đặt ra cần dựa vào các “chương điều” mà luật tụctruyền thống có tập quán can thiệp và điều chỉnh Ví dụ: Những điềuquy định chung, Giữa gìn trật tự trị an (chống trộm cắp, đánh nhau, gây
ồn ào mất trật tự), Xây dựng tình làng nghĩa xóm, nâng cao tinh thầnđoàn kết cộng đồng, Giữ vệ sinh, bảo vệ môi trường, Quản lý tài nguyênthiên nhiên (đất rừng, sản phẩm của rừng, ao hồ, đập nước, ), Hônnhân gia đình, quan hệ nam nữ v.v
‑ Quy ước phải viết bằng hai thứ tiếng, chủ yếu là tiếng dân tộc, đồngthời chuyển sang tiếng phổ thông Phải diễn đạt theo thể văn vần của
Trang 13từng dân tộc như: duê (Ê Đê), duây (Mnông), dơp pacắp (Raglai) Phải
giữ được tính hình tượng, kể cả các cụm từ ổn định thành khuôn mẫu
trong các thể lời nói vần của từng dân tộc
‑ Vẫn duy trì Ban hoà giải hoặc Ban phong tục như thường có TrongBan, ngoài các già làng có trưởng thôn
‑ Xử việc cần quán triệt tinh thần công bằng, dân chủ, khoan dung,hoà giải, giáo dục như truyền thống đã thực hiện Kết thúc buổi xử việcnên giữ nghi thức hứa hẹn, cầm vòng, thắt nút để xoá đi mâu thuẫn
cũ đem lại sự hoà hợp trong xóm làng, theo tinh thần “Từ nay nước lại
chảy đều, mía chuối lại xanh tươi, người người lại thương yêu nhau” Sau khi
xử việc nên có cuộc vui nhẹ để gây không khí thuận hoà
Trên đây chúng tôi đã trình bày “biện pháp chung” đối với TS‑TNgồm ba mặt không cách rời mà gắn bó chặt chẽ với nhau, hỗ trợ thúc
đẩy lẫn nhau: Củng cố vai trò làng truyền thống, trên cơ sở xác định lại
quyền quản lý tài nguyên và tăng cường việc điều hành bằng luật tục Thựchiện đúng những điều này chúng tôi tin rằng sẽ tăng cường nội lực đểphát triển Tây Nguyên trong cơ chế thị trường, công nghiệp hoá và hiệnđại hoá