1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Báo Cáo Về Việc Thực Hiện Chính Sách, Pháp Luật Về Môi Trường Tại Các Khu Kinh Tế, Làng Nghề

64 1,1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 508,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thông ven biển nối liền các KKT làm cơ sở để tạo mối liên kết, tương hỗ lẫnnhau giữa các KKT ven biển, làm tiền đề hình thành trục động lực phát triển venbiển, trong đó có sự phân công c

Trang 1

CHÍNH PHỦ

BÁO CÁO

Về việc thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường

tại các khu kinh tế, làng nghề

(Thực hiện Nghị quyết số 1014/NQ/UBTVQH 12)

Trang 2

MỤC LỤC

Phần I VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ MÔI

TRƯỜNG TẠI CÁC KHU KINH TẾ 1

I TỔNG QUAN VỀ CÁC KHU KINH TẾ Ở VIỆT NAM 1

1 Sự hình thành và hoạt động của các KKT theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ 1

2 Vai trò động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, vùng miền, cả nước 2

3 Đánh giá hiệu quả hoạt động, tồn tại, vướng mắc và kiến nghị giải pháp 3

II TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG (BVMT) ĐỐI VỚI CÁC KHU KINH TẾ 5

1 Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về môi trường theo thẩm quyền 5

2 Công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, UBND cấp tỉnh đối với BVMT tại các KKT 8

3 Tổ chức bộ máy, năng lực quản lý nhà nước về BVMT đối với KKT 9

4 Việc đầu tư và sử dụng kinh phí cho công tác quản lý môi trường tại KKT .10 5 Việc kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo về BVMT tại các KKT 12

6 Công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục, phổ biến chính sách, pháp luật về BVMT đối với các KKT 13

7 Xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường đối với KKT 13

III TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ MÔITRƯỜNG TẠI CÁC KHU KINH TẾ 14

1 Việc thực hiện các chính sách, pháp luật của Nhà nước về BVMT tại các KKT14 2 Hiện trạng chất lượng môi trường xung quanh và chất thải, nước thải, khí thải tại các KKT 16

IV ĐÁNH GIÁ CHUNG 18

1 Những kết quả đạt được 18

2 Những hạn chế, yếu kém 19

3 Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém 23

V ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC KKT 24

1 Nhóm giải pháp về thể chế, chính sách 24

2 Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện 24

3 Nhóm giải pháp về nguồn lực 24

Trang 3

Phần II VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ MÔI

TRƯỜNG TẠI CÁC LÀNG NGHỀ 26

I TỔNG QUAN VỀ CÁC LÀNG NGHỀ Ở VIỆT NAM 26

1 Sự hình thành và phát triển các làng nghề ở Việt Nam 26

2 Vai trò của các làng nghề trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, vùng miền, cả nước 28

3 Các áp lực tới môi trường từ hoạt động của các làng nghề 31

II TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BVMT ĐỐI VỚI CÁC LÀNG NGHỀ 32

1 Việc ban hành VBQPPL; ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về môi trường theo thẩm quyền 32

2 Công tác chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, UBND các cấp đối với BVMT tại làng nghề 35

3 Tổ chức bộ máy, năng lực quản lý nhà nước về BVMT các cấp đối với làng nghề 40

4 Việc đầu tư và sử dụng ngân sách cho công tác quản lý môi trường tại làng nghề 41

5 Công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo vi phạm pháp luật về BVMT tại các làng nghề 43

6 Công tác thông tin, giáo dục, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về BVMT đối với các làng nghề 44

7 Xã hội hóa công tác quản lý môi trường đối với làng nghề 44

III TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC LÀNG NGHỀ 45

1 Tình hình thực hiện các chính sách, pháp luật về BVMT đối với các làng nghề .45

2 Hiện trạng chất lượng môi trường xung quanh và chất thải, nước thải, khí thải tại các làng nghề 46

IV ĐÁNH GIÁ CHUNG 49

1 Những kết quả đạt được 49

2 Những hạn chế, yếu kém 50

3 Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém 52

V ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ 53

1 Nhóm giải pháp về thể chế, chính sách 53

2 Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện 54

3 Nhóm giải pháp về nguồn lực 56

Trang 4

Phần III KIẾN NGHỊ CHUNG 57

1 Kiến nghị với Quốc hội 57

2 Kiến nghị với Ủy ban Thường vụ Quốc hội 58

3 Kiến nghị với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 58

4 Kiến nghị với Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp Tòa án nhân dân tối cao 58

Trang 5

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT

CCBVMT Cam kết bảo vệ môi trường

Trang 6

CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TẠI CÁC KHU KINH TẾ

I TỔNG QUAN VỀ CÁC KHU KINH TẾ Ở VIỆT NAM

1 Sự hình thành và hoạt động của các KKT theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ

Đến nay, trên lãnh thổ Việt Nam hình thành ba loại KKT sau: KKT ven

biển, KKT cửa khẩu, KKT quốc phòng Căn cứ vào Nghị quyết số

1014/NQ/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 31/12/2010, báocáo tập trung đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường tại 15KKT ven biển đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thành lập đến cuối năm

2010

Theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 15 KKT ven biển có tổngdiện tích mặt đất và mặt nước là 697.282,27 ha Đầu năm 2011, Thủ tướng Chínhphủ đã đồng ý bổ sung 03 KKT bao gồm KKT Đông Nam Quảng Trị, KKTNinh Cơ - Nam Định và KKT ven biển Thái Bình vào Quy hoạch phát triển cácKKT ven biển Việt Nam đến năm 2020 Như vậy, cả nước sẽ có 18 KKT venbiển với tổng diện tích mặt đất và mặt nước là 765.275,27 ha trong quy hoạchphát triển các KKT đến năm 2020

Theo thống kê từ các địa phương đến cuối năm 2010, trong số 15 KKT venbiển, có 10 KKT cơ bản hoàn thành các công tác quy hoạch chung, quy hoạchchi tiết các phân khu chức năng và đang tiến hành thu hút đầu tư sản xuất, xâydựng các khu chức năng; 3 KKT gồm KKT Nhơn Hội (Bình Định), Nam PhúYên (Phú Yên) và Vân Phong (Khánh Hòa) vừa xây dựng cơ sở hạ tầng vừa thuhút các dự án đầu tư; 2 KKT còn lại là KKT Định An (Trà Vinh) và Năm Căn(Cà Mau) đang trong giai đoạn chuẩn bị các điều kiện tiền đề cho việc lập quy

Trang 7

hoạch chung, quy hoạch chi tiết và triển khai công tác đền bù, san lấp mặt bằng

để xây dựng cơ sở hạ tầng các khu chức năng (Phụ lục I)

Phân tích số liệu từ các báo cáo của địa phương cùng với kết quả đánh giácủa Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy tỷ lệ các

dự án đã triển khai các hoạt động sản xuất kinh doanh so với tỷ lệ các dự ánđược cấp giấy phép đầu tư ở hầu hết các KKT chưa cao, chỉ có KKT Dung Quất

có tỷ lệ này trên 50% Trong số các KKT hiện nay, một số đã đi vào hoạt độngkhi mới hoàn thiện một phần hạ tầng (hệ thống đường giao thông, hệ thống xử

lý nước thải cho KCN trong KKT hoặc khu xử lý chất thải tập trung) nên tỷ lệcác dự án đang hoạt động đạt được 30 - 40% như KKT Đông Nam - Nghệ An,KKT Chân Mây - Lăng Cô (Thừa Thiên - Huế), KKT Vũng Áng (Hà Tĩnh) ;trong khi đó những KKT khác lại chủ trương tập trung đầu tư hạ tầng trước nên

tỷ lệ các dự án đang hoạt động rất thấp, chỉ 10 - 20%, như KKT Nhơn Hội, KKTVân Phong, KKT Nam Phú Yên, KKT Nghi Sơn (Thanh Hóa), …

Một hình thức đầu tư được triển khai tại KKT Nhơn Hội, đó là cho phépthu hút đầu tư thứ cấp về hạ tầng theo các phân khu chức năng như Ban Quản lý(BQL) KKT cho phép nhà đầu tư Trung Quốc xây dựng hạ tầng ở một số khuvực, sau đó cho các dự án trong nước thuê lại đất để sản xuất Tính trung bình,suất đầu tư tại các KKT khá cao, ví dụ ở KKT Nhơn Hội là xấp xỉ 2 triệuUSD/ha

Mặc dù đã có những bước phát triển nhất định, nhưng nhìn chung, quátrình phát triển các KKT tương đối chậm so với định hướng chung, nhiều KKTcòn vướng mắc trong việc hoàn thiện các thủ tục quy hoạch, xây dựng hạ tầnghoặc kêu gọi đầu tư Đầu tư cơ sở hạ tầng tại các KKT còn hạn hẹp, tiến độtriển khai chậm, chưa đa dạng hóa các nguồn đầu tư, kể cả về cơ sở hạ tầngBVMT, nên việc kêu gọi đầu tư các dự án phần nào bị ảnh hưởng, tỷ lệ đầu tư

và phân bổ kinh phí từ ngân sách thấp, chưa thể hiện sự ưu tiên phát triển đốivới các KKT

2 Vai trò động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, vùng miền, cả nước

Sự hình thành các KKT đã khẳng định được vai trò quan trọng trong quátrình phát triển kinh tế chung của đất nước, đóng góp đáng kể vào tăng trưởngGDP và tạo việc làm, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước Các KKT sẽ là những hạt nhân quan trọng góp phần thúc đẩy sự pháttriển KT-XH, đặc biệt là những vùng ven biển còn nhiều khó khăn Các ngành,lĩnh vực được khuyến khích phát triển trong KKT chủ yếu tập trung vào: Đóngtàu, nhiệt điện, cơ khí, điện tử, sản xuất hàng tiêu dùng cao cấp, hóa dầu, dịch vụcảng, sản xuất vật liệu mới, chế biến nông, lâm, thủy sản, thương mại dịch vụ,

du lịch Với định hướng các ngành nghề này, KKT thu hút được một nguồnđầu tư lớn từ trong nước và ngoài nước Hệ thống giao thông được đầu tư xâydựng đồng bộ, từng bước hiện đại hóa các trục giao thông quan trọng trong đóchú trọng phát triển giao thông đô thị Cùng với đó là nhiều công trình hạ tầng

kỹ thuật khác như cấp điện, cấp thoát nước, trường học, bệnh viện, bến xe,

Trang 8

chung cư sẽ được xây dựng nhằm tạo nên một diện mạo hiện đại, văn minhcho địa phương Đời sống của nhân dân trong vùng cũng từng bước được cảithiện do được tạo thêm việc làm và tăng thu nhập

Đầu tư vào KKT

Các KKT cả nước hiện thu hút được trên 800 dự án trong nước và nướcngoài với tổng vốn đầu tư gần 35 tỷ USD và 330.000 tỷ đồng Trong đó, có một

số dự án lớn và quan trọng tại KKT Nghi Sơn, KKT Vũng Áng, KKT DungQuất gồm Nhà máy lọc dầu số 1 và số 2, Nhà máy đóng tàu Dung Quất, Nhàmáy thép Quảng Liên, Khu liên hợp gang thép và cảng nước sâu Sơn Dương,Nhà máy cơ khí nặng Doosan, các nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn và Vũng Áng,cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong

Tình hình sản xuất kinh doanh năm 2010:

Mặc dù vẫn còn chịu ảnh hưởng tiêu cực của suy thoái kinh tế thế giới,tình hình thu hút đầu tư đặc biệt là đầu tư nước ngoài vào KKT đã đạt đượcnhững kết quả nhất định, dần phục hồi tốc độ tăng trưởng so với giai đoạn trướckhủng hoảng Các doanh nghiệp trong KKT đã đạt tổng doanh thu 10.000 tỷ đồng

và 560 triệu USD, giá trị nhập khẩu và xuất khẩu lần lượt là 572.5 triệu USD và

370 triệu USD, nộp ngân sách nhà nước hơn 1.100 tỷ đồng (Nguồn số liệu của Bộ

Kế hoạch và Đầu tư năm 2010)

Nhìn chung, do các KKT chủ yếu đang trong giai đoạn quy hoạch hoặc vừađầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng vừa thu hút đầu tư nên số lượng các dự án hoạt độngtrong KKT cho đến thời điểm này chưa nhiều, doanh thu và mức đóng góp vào tăngtrưởng kinh tế của đất nước từ các hoạt động của KKT còn rất khiêm tốn, chưatương xứng với quy mô và kỳ vọng đặt ra

3 Đánh giá hiệu quả hoạt động, tồn tại, vướng mắc và kiến nghị giải pháp

Hoạt động của các KKT ven biển trong những năm gần đây đã diễn ra sôiđộng và đạt được những kết quả nhất định trong thúc đẩy phát triển kinh tế củađịa phương, đặc biệt là khu vực duyên hải miền Trung và Nam Bộ Nhiều địaphương, đặc biệt là những vùng dân cư ven biển kinh tế còn khó khăn, đời sốngngười dân đã được cải thiện đáng kể Hoạt động của các phân khu chức năngtrong các KKT như sản xuất công nghiệp, du lịch, dịch vụ đã được đầu tư phùhợp với điều kiện của từng vùng

Mặc dù vậy, những hoạt động này cũng gây nhiều tác động tiêu cực đếnmôi trường, đòi hỏi phải có những giải pháp kiểm soát đồng bộ, kịp thời để bảođảm phát triển bền vững loại hình KKT ven biển Sự phát triển các KKT ở ViệtNam vẫn còn tồn tại nhiều điểm hạn chế như việc hình thành các KKT thường

bị động, không theo quy hoạch được phê duyệt, chủ yếu theo yêu cầu của cácđịa phương để bổ sung quy hoạch, chưa gắn kết thỏa đáng các yêu cầu và nộidung BVMT Công tác quy hoạch và tuân thủ các điều kiện quy hoạch KKT củađịa phương còn hạn chế Phần lớn các KKT đều được thành lập ở những tỉnh cóđiều kiện phát triển kinh tế - xã hội khó khăn và hệ thống kết cấu hạ tầng kỹthuật thiết yếu chưa được đầu tư xây dựng đồng bộ Ngoài ra, kinh nghiệm trong

Trang 9

công tác quy hoạch xây dựng ở Việt Nam chưa cao, không ít trường hợp có quyhoạch mới được phê duyệt đã phải điều chỉnh Đội ngũ cán bộ kỹ thuật còn thiếu

và hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ cũng như sự am hiểu về môi trường luậtpháp quốc tế nên hầu hết các BQL chưa xây dựng được kế hoạch định hướngphát triển chiến lược dài hạn, triển khai đồng bộ các chức năng, nhiệm vụ đãđược giao Công tác đền bù, giải phóng mặt bằng của một số KKT còn gặpnhiều khó khăn, xây dựng cơ sở hạ tầng chậm, chưa đồng bộ và chưa đáp ứngyêu cầu của nhà đầu tư

Diện tích các KKT tương đối lớn so với khả năng tài chính của địaphương, do đó việc huy động nguồn vốn cho phát triển hạ tầng KKT khó khăn

và chưa đạt hiệu quả cao, chủ yếu phải dựa vào nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sáchTrung ương; mà nguồn vốn này thường lại hạn chế, không thể đáp ứng kịp nhucầu đầu tư hạ tầng ở các KKT Số lượng dự án đầu tư và hiệu quả hoạt động củacác dự án sản xuất trong các KKT còn ở mức thấp, các nhà máy hầu hết tậptrung vào gia công và lắp ráp các linh kiện, nhiều dự án đăng ký đầu tư chưahoạt động gây lãng phí quỹ đất Mức vốn hỗ trợ cho các KKT được thành lậptrong 3 năm gần đây có xu hướng giảm và chỉ đáp ứng được một phần nhu cầucủa các địa phương về đầu tư hạ tầng kỹ thuật của các KKT Để có thể đạt đượcmục tiêu đề ra trong quy hoạch phát triển các KKT đã được phê duyệt, đòi hỏiphải huy động tổng hợp từ nhiều nguồn lực khác nhau trong quá trình triển khaiđầu tư xây dựng và hoạt động

Về tổng thể, Nhà nước đã có một số chính sách ưu đãi, hỗ trợ để thu hútcác dự án đầu tư vào KKT như hỗ trợ về đất đai, ưu đãi về thuế, đào tạo laođộng Tuy nhiên, với số lượng KKT đang phát triển nhanh như hiện nay, các

cơ chế, chính sách ưu đãi và mô hình tổ chức và quản lý lại giống nhau, chưađược điều chỉnh phù hợp với đặc thù của từng vùng miền và đồng bộ với tiếntrình phát triển các KKT Do nhiều lý do như suất đầu tư cao, cơ sở hạ tầng chưađầu tư đồng bộ, giao thông đi lại chưa thuận tiện nên tỷ lệ các dự án đã triểnkhai hoạt động sản xuất kinh doanh so với số dự án đăng ký và đã được cấpchứng nhận đầu tư của các KKT đến nay rất thấp, trung bình khoảng 10% -30%, gây lãng phí quỹ đất, ảnh hưởng tới sự phát triển của các KKT và hoạtđộng đầu tư của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài

Do việc hình thành các KKT ở Việt Nam còn tương đối mới, khoảng 15năm trở lại đây, nên các chính sách, thủ tục về quy hoạch, đầu tư, môi trường,lao động đã ban hành còn nhiều điểm chưa thật phù hợp cho đối tượng làKKT (thường là các chính sách chung) nên những quy định còn nhiều bất cập,thậm chí chồng chéo dẫn đến hiệu lực thực thi pháp luật nói chung và pháp luậtBVMT KKT nói riêng còn hạn chế

Để giải quyết những bất cập này, tạo điều kiện cho các KKT phát triển,một số giải pháp định hướng trong thời gian tới sẽ được thực hiện như: Các địaphương, các BQL KKT chỉ tập trung ưu tiên thu hút các ngành nghề, lĩnh vực cócông nghệ sản xuất sạch, thân thiện với môi trường, ưu tiên giải quyết nhu cầuviệc làm cho lao động địa phương; xây dựng và hoàn thiện hệ thống đường giao

Trang 10

thông ven biển nối liền các KKT làm cơ sở để tạo mối liên kết, tương hỗ lẫnnhau giữa các KKT ven biển, làm tiền đề hình thành trục động lực phát triển venbiển, trong đó có sự phân công chặt chẽ trong phát triển ngành, lĩnh vực giữacác KKT; quy hoạch KKT gắn với quy hoạch đô thị, quy hoạch khu dân cư vàcác quy hoạch ngành đảm bảo hiệu quả thu hút đầu tư, điều kiện sinh hoạt, ăn ở

và dịch vụ khác phục vụ cho doanh nghiệp và người lao động; tập trung thu hútđầu tư vào các loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, tăng số lượng dự án đivào hoạt động trong các KKT ven biển đã được thành lập, chú trọng xây dựng

cơ sở hạ tầng kỹ thuật thiết yếu của KKT đặc biệt là các hạng mục phục vụ côngtác BVMT; đánh giá tổng thể hiệu quả hoạt động của các KKT để tính toán, quyhoạch phát triển KKT phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội quốcgia và điều kiện đặc thù của từng KKT, từng địa phương; xây dựng tiêu chí vàlựa chọn một số địa phương để thử nghiệm cơ chế phát triển đặc thù đối vớiKKT làm cơ sở xây dựng chính sách quản lý và BVMT KKT hiệu quả; tăngcường chủ động từ các địa phương để huy động tổng hợp các nguồn vốn (ODA,FDI, Ngân sách nhà nước, trái phiếu chính phủ) để tiếp tục đầu tư xây dựng cáccông trình hạ tầng trong các KKT, tạo điều kiện đẩy mạnh thu hút đầu tư pháttriển các KKT; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, hướng dẫn, chỉ đạo BQLKKT thực hiện tốt công tác quy hoạch, quản lý đầu tư, phát triển KKT, đồngthời tích cực hỗ trợ doanh nghiệp, vận động, xúc tiến đầu tư theo chương trình,

kế hoạch đồng bộ, hiệu quả

II TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC KHU KINH TẾ

Cùng với quá trình phát triển nhanh của các KKT trong cả nước, công tácquản lý môi trường các KKT ở cấp Trung ương và địa phương đang được kiệntoàn, từng bước đưa công tác BVMT tại các KKT đi vào nề nếp

1 Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về môi trường theo thẩm quyền

a) Việc ban hành VBQPPL của cơ quan Trung ương và địa phương hướngdẫn thi hành Luật BVMT và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến môitrường tại các KKT

Hành lang pháp lý đã và đang từng bước được tạo lập và hoàn thiện đểquản lý môi trường KKT ngày một tốt hơn Luật BVMT năm 2005 và các vănbản hướng dẫn thi hành Luật đều đã có những quy định liên quan đến BVMTKKT tại các Điều 18, Điều 36, Điều 82

Chính phủ đã quan tâm xây dựng hệ thống văn bản pháp luật về quản lýKKT nói chung và quản lý môi trường KKT nói riêng; đã ban hành nhiều vănbản quan trọng như: Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2008của Chính phủ quy định về KCN, khu chế xuất và KKT; Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ về phí BVMT đối với nướcthải; Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ vềviệc quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật BVMT; Nghị định số

Trang 11

21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổsung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều củaLuật BVMT; Nghị định số 88/2007/NĐ-CP ngày 28 tháng 5 năm 2007 củaChính phủ về thoát nước đô thị và KCN; Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18tháng 4 năm 2011 quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tácđộng môi trường và cam kết BVMT, Ngoài ra, nhiều chính sách hỗ trợ nhằmthu hút các thành phần kinh tế tham gia đầu tư BVMT ở các KKT cũng đã đượcChính phủ ban hành như: Nghị định số 04/2009/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm

2009 của Chính phủ về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động BVMT; Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích

xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, vănhóa, thể thao, môi trường; Nghị định số 78/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 7 năm

2010 của Chính phủ về cho vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ;Quyết định số 1466/QĐ-TTg ngày 10 tháng 10 năm 2008 của Thủ tướng Chínhphủ về Danh mục chi tiết các loại hình, tiêu chí quy mô, tiêu chuẩn của các cơ

sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, vănhóa, thể thao, môi trường; Quyết định số 29/2011/QĐ-TTg ngày 01 tháng 6 năm

2011 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục ngành, lĩnh vực đượchưởng mức lãi suất ưu đãi khi vay lại nguồn vốn ODA của Chính phủ; Quyếtđịnh số 71/2010/QĐ-TTg ngày 09 tháng 11 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ

về việc ban hành quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công tư; Quyếtđịnh số 35/2008/QĐ-TTg ngày 03 tháng 03 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ

về tổ chức và hoạt động của Quỹ BVMT Việt Nam; Quyết định số126/2009/QĐ-TTg ngày 26 tháng 10 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ banhành cơ chế hỗ trợ vốn ngân sách Trung ương đối với đầu tư phát triển hệ thốngkết cấu hạ tầng KKT ven biển

Các Bộ, ngành cũng đã ban hành nhiều văn bản quy định, hướng dẫnthực hiện các nội dung BVMT liên quan đến KKT hoặc các phân khu chức năngtrong KKT (KCN, đô thị, dân cư, ) Trong đó có Thông tư số 08/2009/TT-BTNMT ngày 15 tháng 7 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy địnhquản lý và BVMT KKT, khu công nghệ cao, KCN và CCN; Thông tư số09/2009/TT-BXD ngày 21 tháng 5 năm 2009 của Bộ Xây dựng quy định chi tiếtthực hiện một số nội dung của Nghị định số 88/2007/NĐ-CP ngày 28 tháng 5năm 2007 của Chính phủ về thoát nước đô thị và KCN,

Trên cơ sở các văn bản pháp luật đã ban hành, các địa phương đã quantâm hơn đến công tác BVMT KKT Nhiều UBND tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương đã ban hành các quy chế, chỉ thị và quy định về BVMT trên địa bàn,trong đó có đề cập đến các nội dung BVMT KKT

Nhìn chung, hệ thống văn bản pháp luật từ Trung ương đến địa phương vềBVMT KKT đã từng bước được xây dựng và hoàn thiện nhằm tăng cường côngtác BVMT đối với các hoạt động kinh tế - xã hội trong KKT Tuy nhiên, với tìnhhình phát triển và tăng trưởng nhanh ở các KKT như hiện nay, hệ thống văn bảnpháp luật vẫn thiếu những quy định đặc thù về BVMT KKT ở cả cấp Trung

Trang 12

ương và địa phương Bên cạnh đó, việc ban hành văn bản pháp luật cũng nhưnhững hướng dẫn thi hành pháp luật còn chậm, chưa đáp ứng được nhu cầu quản

lý môi trường KKT trong thực tế Nhiều văn bản pháp luật có nội dung chồngchéo, thiếu tính thống nhất và tính khả thi đòi hỏi phải chỉnh sửa, bổ sung như:Quy định về phân cấp, ủy quyền quản lý môi trường KKT, vai trò trách nhiệmcủa BQL KKT thiếu thống nhất giữa Nghị định số 29/2008/NĐ-CP, Nghị định

số 21/2008/NĐ-CP và Nghị định 29/2011/NĐ-CP; quy định về thanh tra, kiểmtra của Luật Thanh tra và Nghị định số 21/2008/NĐ-CP, Nghị định số 29/2008/NĐ-CP Trách nhiệm BVMT của một số đối tượng chưa được quy định cụ thểnhư các doanh nghiệp hay chủ đầu tư kinh doanh kết cấu hạ tầng KKT Các vănbản quy phạm pháp luật về BVMT KKT được tổng hợp tại Phụ lục IIa

Thông tư số 08/2009/TT-BTNMT điều chỉnh các hoạt động đặc thù vềBVMT KKT, KCNC, KCN, CCN từ khi ban hành đã tạo hành lang pháp lýtrong các hoạt động quản lý môi trường cho các đối tượng này Tuy nhiên, saugần 2 năm thực hiện đã nảy sinh một số vướng mắc, bất cập đòi hỏi phải nghiêncứu sửa đổi Bên cạnh đó, so với các KCN, KCX và CCN thì KKT có nhữngđặc thù riêng khác hoàn toàn về qui mô, tính chất hoạt động, nhiều phân khuchức năng Vì vậy, các quy định BVMT đối với KKT cũng sẽ được tách riêngbiệt để tạo thuận lợi cho công tác quản lý

b) Việc ban hành tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật về môi trường có liênquan đến KKT

Tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường là cơ sở pháp lý quan trọng để thựchiện quản lý môi trường, kiểm soát ô nhiễm, đặc biệt là đối với các cơ sở sảnxuất kinh doanh trong KKT Hiện nay, tại Việt Nam tồn tại song hành hai hệthống:

- Các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường (TCVN) do Bộ Khoahọc và Công nghệ ban hành, áp dụng chung cho mọi tổ chức, cá nhân, hộ giađình, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, trong đó có tổ chức, cá nhân, hộgia đình, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong KKT và làng nghề (Phụlục IIIa);

- Các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường (QCVN) do Bộ Tàinguyên và Môi trường ban hành theo thẩm quyền, áp dụng chung cho mọi tổchức, cá nhân, hộ gia đình, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, trong đó có

tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong

KKT và làng nghề (Phụ lục IIIb)

Theo quy định của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, các tiêu chuẩn

kỹ thuật quốc gia về môi trường được Bộ Khoa học và Công nghệ ban hànhnhằm định hướng, khuyến khích các doanh nghiệp tăng cường công tác BVMT

Hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường Việt Nam (TCVN) thườngxuyên được Bộ Khoa học và Công nghệ soát xét, ban hành phù hợp với điềukiện thực tiễn, mới đây nhất là TCVN 5945:2010 ban hành kèm theo Quyết định

Trang 13

số 2920/QĐ-BKHCN ngày 29/12/2010 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Côngnghệ công bố Tiêu chuẩn quốc gia về Nước thải công nghiệp – Tiêu chuẩn thải.

Hệ thống các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) về chất lượng môitrường xung quanh và quy chuẩn thải được Bộ Tài nguyên và Môi trường banhành dưới dạng các văn bản quy phạm pháp luật Hoạt động của các cơ sở kinhdoanh trong KKT phải tuân thủ các qui định của các quy chuẩn kỹ thuật quốcgia về chất lượng môi trường xung quanh, quy chuẩn thải (nước thải, khí thải,chất thải rắn ) Tuy nhiên, các hoạt động trong KKT mang tính tổng hợp, baogồm cả hoạt động công nghiệp, sinh hoạt đô thị, du lịch, dịch vụ,… đòi hỏi côngtác tiêu chuẩn, quy chuẩn tiếp tục nghiên cứu cải tiến phù hợp nhất với mô hìnhKKT, giúp công tác quản lý môi trường KKT đạt hiệu quả cao

Bên cạnh đó, các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường hiện hành sẽ

do Bộ TN&MT định kỳ xét soát, điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực tế.Theo Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, các địa phương có thẩm quyềnban hành các quy chuẩn kỹ thuật địa phương về môi trường với điều kiện cácthông số ô nhiễm qui định trong quy chuẩn phải khắt khe hơn (thấp hơn) so vớiquy chuẩn quốc gia, tuy nhiên, cho đến nay, chưa có địa phương nào ban hànhloại quy chuẩn này, trong khi đây là một công cụ quản lý quan trọng để tăngcường kiểm soát ô nhiễm trong điều kiện đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội màđược áp dụng phổ biến ở nhiều quốc gia

2 Công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, UBND cấp tỉnh đối với BVMT tại các KKT

Căn cứ vào các quy định pháp luật điều chỉnh các hoạt động của KKTnhư Luật BVMT năm 2005, Nghị định số 29/2008/NĐ-CP, Nghị định số21/2008/NĐ-CP, Nghị định số 88/2007/NĐ-CP, Thông tư số 08/2009/TT-BTNMT , các Bộ, ngành đã triển khai các hoạt động theo chức năng được giaoliên quan đến BVMT KKT như Bộ Tài nguyên và Môi trường triển khai thanhtra, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách pháp luật BVMT KKT, KCN;

Bộ Xây dựng giám sát việc thực hiện các quy hoạch chung/quy hoạch chi tiếtcác KKT và các công trình xử lý nước thải/chất thải, Bộ Kế hoạch và Đầu tưtheo dõi việc triển khai các hoạt động đầu tư và phát triển KKT và hệ thống hạtầng BVMT KKT, Bộ Công Thương giám sát việc thực hiện các dự án sản xuấtkinh doanh dịch vụ trong KKT,

Hầu hết các UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã ban hànhcác quy chế, chỉ thị BVMT trong đó lồng ghép các quy định BVMT KKT trênđịa bàn Ngoài ra, một số UBND tỉnh như Bình Định, Phú Yên, Kiên Giang,Khánh Hòa đã ban hành các quy chế phối hợp thực hiện công tác BVMTKKT giữa các cơ quan liên quan là Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban Quản lýKKT, KCN, Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường nhằm tăng cườnghiệu quả công tác quản lý môi trường KKT Một số KKT như KKT Vân Phong,KKT Nam Phú Yên đã thực hiện đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC), KKTPhú Quốc - Nam An Thới đã xây dựng đề án tổng thể BVMT, lồng ghép các yêucầu BVMT với việc đầu tư và phát triển KKT Tuy nhiên, do Luật BVMT chưa

Trang 14

quy định rõ việc thực hiện ĐMC đối với các KKT nên các địa phương khác đềuchưa quan tâm thực hiện

Trên cơ sở các văn bản pháp luật quy định về việc phân cấp, ủy quyền,phân công trách nhiệm trong công tác quản lý môi trường KKT, các UBND tỉnh

đã ủy quyền để BQL KKT thực hiện một số chức năng về quản lý môi trường vàban hành các quy chế phối hợp giữa các cơ quan thuộc tỉnh trong BVMT KKT.Tổng hợp từ các báo cáo của địa phương đến tháng 5 năm 2011 cho thấy, hầuhết các BQL KKT đã được UBND tỉnh ủy quyền thực hiện một số chức năngquản lý môi trường, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, thanh tra,kiểm tra thực hiện pháp luật của các tổ chức, cá nhân trong phạm vi KKT Tuynhiên, nhiều UBND cấp huyện chưa ủy quyền việc xác nhận bản cam kếtBVMT cho BQL KKT, do tình trạng chồng chéo trong quản lý, kiểm soát ônhiễm môi trường trong KKT, đặc biệt là các cơ sở vừa và nhỏ Trên thực tếviệc phân cấp, phân công trách nhiệm tại một số địa phương chưa được thựchiện hiệu quả, mạch lạc và trong nhiều trường hợp chưa hợp lý Hơn nữa, cácquy định của văn bản pháp luật về BVMT cũng chưa quy định cụ thể và thiếutính thống nhất về vấn đề nêu trên

Công tác quản lý và thực thi pháp luật BVMT KKT của các cấp, cácngành liên quan mặc dù đã được tăng cường hơn, nhưng nhìn chung chưa thựchiện thường xuyên, chưa triệt để nên thực tế vẫn xảy ra hiện tượng tái vi phạmpháp luật BVMT ở các KKT

3 Tổ chức bộ máy, năng lực quản lý nhà nước về BVMT đối với KKT

a) Cấp Trung ương

Công tác quản lý các hoạt động liên quan đến BVMT được giao ở tất cảcác Bộ ngành Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ được Chính phủ phân công và cơcấu tổ chức, các Bộ, ngành chủ động giao nhiệm vụ BVMT của lĩnh vực quản lýcho một đơn vị (Vụ Khoa học và Công nghệ hoặc Vụ Môi trường) hoặc một sốđơn vị trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường giao Tổng cục Môi trường chịutrách nhiệm tổng thể về quản lý môi trường Ngoài ra, một số Bộ, ngành giaotrách nhiệm BVMT cụ thể như sau: Bộ Công Thương giao Cục Kỹ thuật Antoàn và Môi trường Công nghiệp và Vụ Khoa học và Công nghệ; Bộ Xây dựnggiao Vụ Khoa học và Công nghệ; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao

Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường; Bộ Giao thông vận tải giao Vụ Môitrường; Bộ Kế hoạch và Đầu tư giao Vụ Khoa học, Giáo dục, Tài nguyên vàMôi trường,

Nội dung BVMT KKT nhìn chung được phân công lồng ghép với cáchoạt động của đơn vị chức năng quản lý môi trường của Bộ, ngành, tập trungchủ yếu ở Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường,

Bộ Công Thương Các bộ này đều phân công đơn vị chịu trách nhiệm về quản

lý môi trường của lĩnh vực cũng thực hiện cả nhiệm vụ BVMT KKT, riêng Bộ

Kế hoạch và Đầu tư có Vụ Quản lý các KKT và Vụ Khoa học, Giáo dục, Tàinguyên và Môi trường đều có trách nhiệm liên quan đến KKT

Trang 15

Mặc dù quản lý BVMT KKT được Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môitrường làm đầu mối, nhưng nhiều hoạt động liên quan lại thuộc thẩm quyềnquản lý của các Bộ khác như: Bộ Kế hoạch và Đầu tư quản lý việc đầu tư hệthống hạ tầng môi trường KKT, Bộ Xây dựng quản lý và giám sát quy hoạchxây dựng các công trình xử lý nước thải, chất thải rắn, Bộ Công Thương chỉ đạo,hướng dẫn, quản lý, kiểm soát chất thải, tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, phòngngừa, ứng phó sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm môi trường, phục hồi môitrường trong hoạt động công nghiệp,

b) Cấp địa phương

UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã ủy quyền công tácquản lý môi trường tại các KKT cho BQL KKT UBND một số tỉnh như PhúYên, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam đã xây dựng quy chế phối hợp songphương hoặc đa phương như quy chế phối hợp giữa Sở Tài nguyên và Môitrường, BQL KKT, Sở Công Thương và Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm

về môi trường Một số Sở Tài nguyên và Môi trường đã chủ động phối hợp vớilực lượng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường và các cơ quan chứcnăng liên quan thường xuyên kiểm tra, thanh tra các cơ sở sản xuất nhằm ngănngừa nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và kịp thời xử lý các trường hợp vi phạmpháp luật BVMT như ở Quảng Ngãi, Bình Định, Quảng Ninh, Quảng Bình, PhúYên, Kiên Giang,

Các hoạt động trong phạm vi KKT đều được giám sát, thực hiện bởi BQLKKT ở các mức độ khác nhau theo sự ủy quyền của UBND tỉnh BQL KKT cácđịa phương đều đã thành lập bộ phận quản lý môi trường theo hình thức chuyêntrách hoặc kiêm nhiệm với số lượng cán bộ từ 3 đến 5 người, triển khai các hoạtđộng BVMT, tuyên truyền phổ biến pháp luật về BVMT trong KKT Tất cả cáchoạt động này đã thể hiện sự quan tâm nhất định tới công tác BVMT KKT Dohoạt động của các KKT hiện nay chủ yếu tập trung vào các hoạt động sản xuấtcủa các KCN trong phạm vi KKT nên ở nhiều địa phương, cơ quan quản lý nhànước về KKT cũng quản lý luôn các KCN theo quyết định hợp nhất BQL KKTvới BQL các KCN của Thủ tướng Chính phủ, có chức năng nhiệm vụ bao trùmđối với quản lý KKT và KCN trên địa bàn

Tổ chức bộ máy, năng lực thực thi quản lý môi trường, số cán bộ tham gia

quản lý môi trường KKT ở Trung ương, UBND các cấp được nêu tại Phụ lục IV.

4 Việc đầu tư và sử dụng kinh phí cho công tác quản lý môi trường tại KKT

Theo quy định của Luật BVMT 2005 và Thông tư số BTNMT, nguồn chi sự nghiệp môi trường (1% tổng chi ngân sách nhà nước) códành kinh phí để thực hiện công tác quản lý môi trường trong KKT

08/2009/TT-Ở cấp Trung ương, nguồn chi sự nghiệp môi trường được sử dụng cho cáchoạt động quản lý nhà nước về BVMT theo chức năng của các Bộ, ngành, trong

đó có Bộ Tài nguyên và Môi trường, bao gồm: Thanh tra, kiểm tra, quan trắc,báo cáo định kỳ hoạt động BVMT các KKT trong toàn quốc, xây dựng các văn

Trang 16

bản hướng dẫn BVMT KKT hoặc thí điểm một số mô hình xử lý chất thải tạicác KKT (Phụ lục Vc) Tuy nhiên, hầu hết các địa phương đều chưa thực hiệnphân bổ hoặc phân bổ không đúng, không đủ nguồn chi sự nghiệp môi trườngcho BQL KKT để thực hiện các hoạt động quan trắc, giám sát chất lượng môitrường, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về BVMT, Chỉ có một số ít địaphương bố trí nguồn chi này cho công tác quan trắc môi trường KKT Tuynhiên, nguồn kinh phí cũng chỉ đủ để thực hiện mỗi năm một đợt quan trắc ởmột số khu vực, không bao quát hết được toàn KKT và không thực hiện đượcviệc quan trắc định kỳ Theo báo cáo của 15 UBND tỉnh có KKT, chỉ có 4 tỉnh

là Bình Định, Khánh Hòa, Nghệ An, Hà Tĩnh đã làm rõ được số kinh phí phân

bổ cho chi sự nghiệp môi trường tại các KKT (phụ lục Va), các địa phương khácđều chưa phân định rõ nguồn chi cho đầu tư phát triển hạ tầng BVMT KKT vớichi sự nghiệp môi trường Qua đó cho thấy kinh phí sự nghiệp môi trường cácđịa phương bố trí để các KKT thực hiện quản lý môi trường rất hạn chế so vớiyêu cầu BVMT Báo cáo năm 2009, 2010 của một số địa phương, số kinh phíchi sự nghiệp môi trường dành cho các hoạt động trong KKT cao nhất là 618triệu (năm 2009 - Hà Tĩnh), thấp nhất là KKT Vân Phong - Khánh Hòa (năm

2009 và 2010 tương ứng là 10 và 30 triệu đồng), thậm chí có nhiều tỉnh không

bố trí kinh phí cho hoạt động này Về phía Trung ương, năm 2006 và 2007 ngânsách Trung ương cũng đã bố trí 2 tỷ đồng để KKT Dung Quất triển khai các hoạtđộng quản lý môi trường Mặc dù vậy, nguồn chi sự nghiệp môi trường từ Trungương chắc chắn không đủ bao quát hết các hoạt động BVMT ở địa phương nóichung và KKT nói riêng mà các địa phương vẫn phải chủ động để phân bổnguồn chi này từ ngân sách địa phương Các nguồn đầu tư khác tại các KKTcũng chưa đa dạng, thiếu đồng bộ Nguồn kinh phí từ Quỹ BVMT quốc gia chưađược các nhà đầu tư trong các KKT khai thác hiệu quả Bên cạnh Quỹ BVMTquốc gia, Quỹ BVMT ở địa phương cũng là một nguồn vốn quan trọng có thể sửdụng cho hoạt động đầu tư, quản lý môi trường KKT, tuy nhiên, mới chỉ có một

số ít địa phương đã thành lập Quỹ BVMT như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, HảiPhòng, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, các địa phương khác còn vướng mắc vềthủ tục nên chưa thành lập được hoặc thành lập nhưng chưa thể hoạt động đãlàm hạn chế nguồn đầu tư cho hoạt động BVMT tại KKT

Kinh phí xây dựng cơ bản cho các hạng mục công trình BVMT trongKKT còn gặp nhiều khó khăn, thiếu sự đa dạng về nguồn vốn, nên hoạt độngBVMT ở KKT còn hạn chế, chưa kiểm soát ô nhiễm môi trường một cách hiệuquả Theo quy định, chủ đầu tư kinh doanh kết cấu hạ tầng KKT có trách nhiệm

xử lý chất thải, đặc biệt là xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, đòi hỏinguồn đầu tư tương đối lớn nhưng khả năng thu hồi vốn tương đối thấp nên việctiếp cận vốn vay thương mại để đầu tư cũng gặp nhiều khó khăn Thực tế, trongKKT có rất nhiều phân khu chức năng, đòi hỏi phải đầu tư nhiều hạng mục hạtầng BVMT, xử lý nước thải tương ứng với tính chất của từng phân khu chứcnăng Đầu tư hạ tầng BVMT KKT đòi hỏi nguồn vốn lớn tương ứng với từngloại hình công nghệ của từng phân khu chức năng, nên bên cạnh việc đa dạng

Trang 17

hóa nguồn vốn thì đến nay nguồn vốn ngân sách vẫn là nguồn vốn cơ bản màcác địa phương sử dụng để tăng hiệu quả đầu tư và phát triển KKT

5 Việc kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo về BVMT tại các KKT

Phần lớn các dự án đầu tư trong các KKT đều là sản xuất trong các KCN,nên việc thanh tra, kiểm tra công tác BVMT KKT hiện nay tập trung vào cáchoạt động của các KCN trong KKT Công tác thanh tra, kiểm tra BVMT KKTđược thực hiện xuyên suốt ở cả Trung ương và địa phương Nhưng hầu hết cácphân khu chức năng ở 15 KKT trong cả nước đều chưa hoàn thiện và chưa thuhút được nhiều các dự án đầu tư nên công tác kiểm tra, thanh tra KKT chưa triểnkhai nhiều

Trong năm 2010 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã triển khai sâu rộngcông tác kiểm tra, thanh tra hoạt động BVMT các KCN, trong đó bao gồm cảcác KCN trong KKT ở 46/56 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Kết quảthanh tra cho thấy UBND các tỉnh đã quan tâm nhiều hơn tới công tác BVMT,chỉ đạo các sở, ban, ngành và UBND các cấp tổ chức thực hiện công tác quản lýmôi trường KCN theo qui định của pháp luật, bước đầu đáp ứng được phần nàocác yêu cầu trong công tác BVMT tại mỗi địa phương

Tại một số địa phương như tỉnh Phú Yên, Bình Định, Trà Vinh, KiênGiang công tác phối hợp giữa các cơ quan liên quan (Sở TN&MT, BQL KKT,Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường) được thực hiện tương đốihiệu quả, đã xây dựng và thực hiện kế hoạch thanh tra BVMT chung hàng năm,hạn chế sự chồng chéo chức năng của các đơn vị, không làm ảnh hưởng đếnhoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Các đợt thanh tra chuyênngành về BVMT được thực hiện trong thời gian qua mới chỉ tập trung vào cácKCN và một số cơ sở sản xuất trong KKT do hầu hết các KKT còn ở tình trạngmới thành lập, số doanh nghiệp đầu tư vào KKT chưa nhiều

Theo quy định tại Nghị định số 29/2008/NĐ-CP của Chính phủ, hầu hếtcác BQL KKT được xếp hạng I đều đã thành lập bộ phận thanh tra chuyênngành (môi trường, lao động, xây dựng, ) để tăng cường hơn nữa trách nhiệmquản lý KKT nói chung và BVMT KKT nói riêng Lực lượng thanh tra của BQLKKT ở một số địa phương như Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi, triển khaithanh tra, kiểm tra môi trường định kỳ (2 - 3 lần/năm) và đã phát hiện xử lý viphạm một số cơ sở trong KKT, tuy nhiên công tác này tại các địa phương khácđạt hiệu quả chưa cao Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong năm

2009, các Ban Quản lý KKT, KCN đã thực hiện 255 cuộc thanh, kiểm tra vềmôi trường trong các KKT, KCN, 9 tháng đầu năm 2010 thực hiện 288 cuộc,phát hiện 207 vụ vi phạm pháp luật BVMT

Theo Nghị định số 29/2008/NĐ-CP, BQL có thể bố trí lực lượng và tổchức thanh tra các phân khu chức năng và cơ sở sản xuất kinh doanh trong phạm

vi KKT, tuy nhiên quy định này lại không phù hợp với Luật Thanh tra hiệnhành, chỉ các cơ quan quản lý nhà nước mới có chức năng thanh tra, nên hoạt

Trang 18

động của thanh tra BQL KKT gặp khó khăn Khi phát hiện doanh nghiệp viphạm qui định pháp luật BVMT, Thanh tra BQL KKT không thể thực hiện xửphạt vi phạm hành chính dẫn đến tính xử lý kịp thời, tính răn đe và hiệu lựcquản lý chưa cao.

Việc xử lý vi phạm hình sự, bồi thường thiệt hại và giải quyết khiếu nại tốcáo còn nhiều bất cập trong việc thực hiện Đến nay, các cơ quan quản lý, Cảnhsát phòng chống tội phạm về môi trường đã phát hiện rất nhiều vụ việc vi phạmpháp luật BVMT, tuy nhiên thực tế cũng chưa xử lý hình sự được vụ việc nào dothiếu qui trình và hướng dẫn cụ thể phục vụ cho công tác điều tra, lập hồ sơ vàđưa ra xét xử (Bộ Tư pháp đang chủ trì xây dựng Thông tư liên tịch về hướngdẫn thực hiện Chương XVII Bộ Luật Hình sự về tội phạm môi trường) Mặtkhác, hầu hết các KKT mới thànhg lập, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh còn

ít, dân cư thưa thớt nên cũng chưa nảy sinh vụ việc khiếu nại hoặc yêu cầu bồithường nào liên quan đến ô nhiễm môi trường

Kết quả thanh tra, kiểm tra về BVMT đối với các cơ sở trong KKT đượctổng hợp tại Phụ lục VIa

6 Công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục, phổ biến chính sách, pháp luật về BVMT đối với các KKT

Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật BVMT KKT nhìn chung đãđược thực hiện và quan tâm hơn bởi cả Sở TN&MT và BQL KKT cũng như cácđơn vị liên quan Mặc dù vậy, công tác này còn hạn chế nhiều về hiệu quả và kếtquả, không ít trường hợp còn mang tính hình thức; việc cập nhật và tập huấn đểtuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật về BVMT chưa thường xuyên Vì vậy,nhận thức của chủ doanh nghiệp và người lao động trong KKT nhìn chung cònhạn chế và là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới ý thức chấp hànhpháp luật BVMT chưa cao

7 Xã hội hóa công tác BVMT đối với KKT

Chủ trương, chính sách của Nhà nước rất coi trọng và quan tâm tăngcường công tác xã hội hóa trong hoạt động BVMT thể hiện qua một số văn bảnpháp luật, chương trình xã hội hóa hoạt động BVMT trong Chiến lược BVMTQuốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 nhằm hỗ trợ, khuyếnkhích xã hội hóa BVMT như đã đề cập ở mục 1 của phần này

Thách thức lớn của các thành phần kinh tế trước chủ trương xã hội hóaBVMT nói chung, BVMT KKT nói riêng chính là việc khó thu hồi vốn đầu tư,

vì vậy các nhà đầu tư còn ngần ngại khi đầu tư vốn cho các hoạt động BVMT.Trong khi đó, việc triển khai các văn bản khuyến khích xã hội hóa hoạt độngBVMT nói trên còn rất khó khăn do thiếu các hướng dẫn cụ thể, dẫn đến việcthực hiện xã hội hóa hoạt động BVMT nói chung và ở các KKT nói riêng cònnặng tính lý thuyết, chưa đi vào thực tiễn, BQL các KKT thường khó tiếp cậncác nguồn vốn ngân sách, các chính sách ưu đãi, đầu tư Bên cạnh đó, do chưatìm hiểu rõ thông tin và thủ tục nên việc tiếp cận Quỹ BVMT Trung ương cònhạn chế, chỉ một số ít KKT được vay vốn ưu đãi để đầu tư xây dựng các hạng

Trang 19

mục công trình xử lý chất thải cho các phân khu chức năng từ Quỹ BVMT(Quốc gia và địa phương) Hơn nữa, vốn đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nướcthải tại các KKT chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng vốn đầu tư xây dựng hạ tầng,nên việc tìm nguồn vốn này đối với nhiều doanh nghiệp là không dễ Trong điềukiện nguồn vốn ngân sách hạn hẹp như hiện nay, việc nhà nước đầu tư, hoặc chodoanh nghiệp vay vốn ưu đãi xây dựng hệ thống xử lý chất thải là khó có thểtrông đợi Do vậy, thực tế công tác xã hội hóa hoạt động BVMT vẫn là mộtthách thức lớn đối với các KKT.

III TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC KHU KINH TẾ

1 Việc thực hiện các chính sách, pháp luật của Nhà nước về BVMT tại các KKT

Thực hiện Luật BVMT năm 2005, Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, ngành,địa phương triển khai các chính sách của Nhà nước về BVMT nói chung và tạicác KKT nói riêng Các chính sách khuyến khích cộng đồng tham gia BVMT,

xã hội hóa hoạt động BVMT, ưu đãi hỗ trợ về đất đai, thuế, hỗ trợ tài chính chocác hoạt động BVMT, được quy định tại các văn bản như: Nghị định số04/2009/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2009 của Chính phủ về ưu đãi, hỗ trợhoạt động BVMT; Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 củaChính phủ về khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáodục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường và Quyết định số 1466/QĐ-TTg ngày 10 tháng 10 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ quy định danh mụcchi tiết các loại hình, tiêu chí, quy mô, tiêu chuẩn của các cơ sở thực hiện xã hộihóa trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường Đểtăng cường thu hút đầu tư vào các KKT, hỗ trợ các địa phương khó khăn, Thủtướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 126/2009/QĐ-TTg ngày 26 tháng

10 năm 2009 về cơ chế hỗ trợ vốn ngân sách Trung ương đối với đầu tư pháttriển hệ thống kết cấu hạ tầng KKT ven biển

Các chính sách ưu tiên giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc; tậptrung xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; phục hồi môitrường ở các khu vực bị ô nhiễm, suy thoái; chú trọng BVMT đô thị, khu dân cưđược ban hành và thực hiện thông qua Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22tháng 4 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về xử lý triệt để các cơ sở gây ônhiễm môi trường nghiêm trọng, Quyết định số 58/2008/QĐ-TTg ngày 29 tháng

4 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ có mục tiêu kinh phí từngân sách nhà nước nhằm xử lý triệt để, khắc phục ô nhiễm và giảm thiểu suythoái môi trường cho một số đối tượng thuộc khu vực công ích, trong đó có các

cơ sở trong KKT và mới đây đã được sửa đổi, bổ sung một số điều trong Quyết

định số 38/2011/QĐ-TTg ngày 05 tháng 7 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ.

Từ năm 2006, nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường cũng đã được hình thànhtrong danh mục chi ngân sách nhà nước với mức bằng 1% tổng chi ngân sáchnhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi để tăng cường hiệu quả quản lý và BVMTnói chung, trong đó có các KKT Chiến lược Quốc gia về BVMT đến năm 2010

Trang 20

và định hướng đến năm 2020 cũng đã xác định những mục tiêu cụ thể nhằmthực hiện các chính sách như đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhậnthức cộng đồng về hoạt động BVMT đi đôi với các giải pháp tăng cường hiệulực pháp luật BVMT, áp dụng các công cụ kinh tế trong BVMT, khắc phục ônhiễm, suy thoái và sự cố môi trường, coi phòng ngừa là chính, tăng tỷ lệ sửdụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo trong các hoạt động sản xuất, dân sinh thể hiện qua 36 chương trình ưu tiên giao cho các Bộ, ngành, địa phương triểnkhai thực hiện Bên cạnh đó, các chương trình mục tiêu quốc gia về tiết kiệmnăng lượng, chương trình sản xuất sạch hơn, chương trình ứng phó với biến đổikhí hậu đã và đang được triển khai mạnh mẽ ở các Bộ, ngành và các địa phương

để khuyến khích, thúc đẩy sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, pháttriển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng và giảmthiểu chất thải tại các cơ sở sản xuất trong và ngoài KKT

Mặc dù việc thực hiện các chính sách cũng đã đạt được một số kết quảnhất định trong công tác BVMT nói chung, BVMT KKT nói riêng, tuy nhiêncần thẳng thắn thừa nhận chính sách của Nhà nước về BVMT chưa được thựchiện nghiêm túc, đặc biệt là các chính sách liên quan đến đầu tư BVMT, phân bổnguồn chi sự nghiệp môi trường hoặc tập trung phát triển kết cấu hạ tầng BVMTtại các KKT Hầu hết các địa phương chưa xác định đầu tư BVMT là đầu tư pháttriển để đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư mà vẫn có tư tưởng trông chờ vào sự

hỗ trợ của ngân sách nhà nước, ngân sách Trung ương; trong khi đó việc bố trínguồn sự nghiệp môi trường trong ngân sách địa phương dành cho các hoạtđộng BVMT của các KKT cũng còn nhiều hạn chế, đa số các địa phương khôngchi đúng, chi đủ nguồn sự nghiệp môi trường

Các địa phương, các BQL KKT nhìn chung chưa chủ động triển khai cácchính sách BVMT của Nhà nước Một trong những lý do chính là các văn bảnhướng dẫn ở cấp Trung ương đều có tính chất định hướng chung cho các đốitượng là KKT, KCN hay khu chế xuất trên phạm vi toàn quốc; trong khi đóKKT ở từng địa phương có những đặc thù riêng như phạm vi rộng, nhiều phânkhu chức năng, nhiều cấp quản lý hành chính đòi hỏi từng địa phương này phải

có những chính sách quản lý riêng phù hợp với điều kiện cụ thể

Việc thực hiện pháp luật của Nhà nước về BVMT đã bước đầu được cácKKT quan tâm thực hiện Một số KKT đang trong quá trình lập dự án hoặcchuẩn bị đầu tư xây dựng các công trình xử lý chất thải và kiểm soát ô nhiễmmôi trường do các hoạt động kinh tế gây ra Các hoạt động này bao gồm kếhoạch xây dựng các trạm xử lý nước thải tập trung, thu gom và xử lý chất thảirắn, trồng cây xanh; xây dựng trung tâm quan trắc – giám sát môi trường; xâydựng quy chế quản lý và kiểm tra BVMT; hỗ trợ các doanh nghiệp ứng dụngcông nghệ thông tin, đổi mới công nghệ sản xuất, áp dụng công nghệ sản xuấtthân thiện với môi trường; phát triển các dịch vụ kỹ thuật, tăng cường công tácquản lý nhà nước về đăng ký chất lượng sản phẩm; chú trọng đầu tư xây dựngcác khu du lịch sinh thái

Trang 21

Nhiều dự án đầu tư trong KKT đã lập và được phê duyệt báo cáo đánh giátác động môi trường cùng các thủ tục môi trường khác theo quy định của phápluật trước khi đi vào hoạt động (theo số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên và Môitrường, đến năm 2010, KKT Nhơn Hội có 26 báo cáo ĐTM và 20 bản cam kếtBVMT được phê duyệt, KKT Chu Lai có 14 báo cáo ĐTM và 26 bản cam kếtBVMT được phê duyệt, KKT Dung Quất có 28 báo cáo ĐTM và 26 bản cam kếtBVMT được phê duyệt, ) Kết quả thực hiện công tác đánh giá tác động môi

trường hoặc cam kết BVMT tại các KKT được thể hiện tại Phụ lục VIIa.

Ở hầu hết các KKT, đã xây dựng quy hoạch hệ thống xử lý nước thải tậptrung Hiện nay, có nhiều KCN trong các KKT đã và đang xây dựng các hạngmục công trình xử lý nước thải tập trung như KKT Nam Phú Yên, Dung Quất,Nhơn Hội, Các khu du lịch trong KKT cũng xây dựng hệ thống thu gom nướcthải cục bộ, xử lý đạt tiêu chuẩn trước khi đưa vào hệ thống thoát nước tập trungcủa khu đô thị

Xử lý chất thải rắn ở các KKT được thực hiện tương đối nề nếp, một sốKKT đã quy hoạch khu xử lý chất thải rắn trong các phân khu chức năng trongkhi một số khu khác đã bắt đầu xây dựng các khu xử lý chất thải rắn liên hợp(KKT Nhơn Hội, KKT Nam Phú Yên, KKT Chu Lai, ) Xử lý chất thải nguyhại ở các KKT cũng được lồng ghép trong quy hoạch xử lý chất thải rắn củatừng KKT Các doanh nghiệp, KCN trong KKT đã có kế hoạch hợp đồng vớimột hoặc nhiều công ty để thực hiện thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắnsinh hoạt và chất thải rắn công nghiệp thông thường Chất thải nguy hại đượccác doanh nghiệp đăng ký chủ nguồn thải, tiến hành lưu giữ và ký hợp đồng vớiđơn vị chuyên môn vận chuyển, xử lý

Việc xử lý khí thải đều được các cơ sở sản xuất trong KKT thực hiện theoquy định pháp luật về BVMT Mặt khác, các KKT mới được thành lập, dự ánsản xuất đầu tư chưa nhiều, nên vấn đề ô nhiễm do khí thải vẫn kiểm soát được

Như vậy, việc thực thi pháp luật về BVMT KKT bước đầu đã được quantâm và có được những kết quả nhất định Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại tình trạngmột số cơ sở chưa tự giác tuân thủ nghiêm túc các quy định của pháp luật, gây ônhiễm môi trường Các cơ sở gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là các cơ sở đanghoạt động chưa tuân thủ nghiêm túc các thủ tục môi trường, các khu dân cư vàcác KCN chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung hoặc vận hànhkhông thường xuyên, gây ô nhiễm môi trường xung quanh Mặc dù hầu hết các

cơ sở sản xuất kinh doanh hoặc phân khu chức năng trong KKT đều có báo cáođánh giá tác động môi trường hoặc cam kết BVMT, tuy nhiên khi hoạt động các

cơ sở này (thậm chí cả chủ đầu tư kinh doanh kết cấu hạ tầng KKT) lại khôngtuân thủ hoặc không thực hiện đầy đủ các nội dung đã cam kết

2 Hiện trạng chất lượng môi trường xung quanh và chất thải, nước thải, khí thải tại các KKT

KKT bao gồm rất nhiều hoạt động kinh tế với nhiều loại dự án đầu tưkhác nhau như sản xuất công nghiệp, đô thị, nuôi trồng thủy sản, du lịch, đặc

Trang 22

biệt là du lịch sinh thái, cảng biển Các hoạt động kinh tế này đòi hỏi những yêucầu BVMT khác nhau, dẫn đến những khó khăn trong quản lý môi trường KKT.

Môi trường nước mặt và môi trường nước biển ven bờ bị tác động mạnh

từ hoạt động của các KKT

Đối với nước mặt: Ở một số KKT, các khu vực ở gần nguồn thải sinh hoạt

có dấu hiệu ô nhiễm chất hữu cơ; một số thông số đặc trưng của chất lượng môitrường nước mặt như BOD, COD, kim loại nặng, dầu mỡ, coliform, … ở một sốKKT tập trung nhiều KCN, khu dân cư, dịch vụ nhưng chưa có hoặc chưa hoànthành hệ thống xử lý nước thải tập trung vượt quy chuẩn cho phép (theo báo cáocủa các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Kiên Giang, Nghệ An, )

Đối với nước biển ven bờ: Tất cả các dòng nước thải của các KKT venbiển, cuối cùng đều đổ vào nước biển ven bờ, gây ô nhiễm nước biển ven bờ.Ngược lại, nguồn nước tại các cửa sông ven biển thường bị xâm nhập mặn, mức

độ ngày một nghiêm trọng, ảnh hưởng trở lại đến hoạt động ở các KKT

Ngoài ra, hoạt động của các cảng biển ở các KKT cũng là một nguồn cónguy cơ gây ô nhiễm lớn đối với vùng nước biển ven bờ, đặc biệt là ô nhiễmdầu, ô nhiễm do đổ thải nước dằn tàu, xả nước thải và chất thải rắn từ các tàu bè

Sự cố tràn dầu do va chạm tàu cũng là vấn đề đáng báo động đối với hoạt độnggiao thông vận tải đường biển, đối với các KKT ven biển

Việc sử dụng hợp lý nguồn nước mặt phục vụ hoạt động của các KKT sẽtrở thành vấn đề hết sức quan trọng Bên cạnh đó, để đảm bảo điều kiện pháttriển du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái và hoạt động nuôi trồng thủy sản (mộttrong những hoạt động quan trọng của các KKT ven biển) thì môi trường nướcbiển ven bờ cần phải được bảo vệ trong sạch, bảo tồn các cảnh quan thiên nhiênvùng ven biển

Chất lượng môi trường không khí ở các KKT nhìn chung chưa bị ảnhhưởng do các hoạt động từ phân khu chức năng chính như công nghiệp, dịch vụ,dân sinh chưa nhiều, các thông số quan trắc chất lượng môi trường không khíxung quanh đều trong quy chuẩn cho phép Chỉ có một số KKT như Vân Phong,Định An, Nhơn Hội, Đình Vũ có cả các khu dân cư, làng nghề nằm trong phạm

vi KKT nên có xảy ra hiện tượng ô nhiễm không khí cục bộ Tất cả các KKTđều bị ô nhiễm do bụi từ các hoạt động giao thông, xây dựng, san lấp mặt bằng

Các hệ sinh thái và đa dạng sinh học vùng biển ven bờ bị tác động lớn docác hoạt động của các KKT ven biển

Phát triển các KKT ven biển, đặc biệt là phát triển các cảng biển và hoạtđộng giao thông vận tải đường biển sẽ gây ra các tác động tiêu cực đối với đadạng sinh học và cảnh quan thiên nhiên ven biển Rừng ngập mặn bị phá bỏ đểphát triển các công trình của các KKT ven biển, không thể dễ dàng phục hồi Dohầu hết các KKT đang ở giai đoạn quy hoạch, chuẩn bị đầu tư, lại không thựchiện ĐMC nên việc tính toán thiệt hại chưa được quan tâm, chưa có số liệuthống kê cụ thể từ các địa phương

Trang 23

Ô nhiễm nước biển ven bờ do các KKT ven biển sẽ là nguy cơ suy thoáicác rạn san hô, các thảm cỏ biển, đa dạng sinh học biển và ảnh hưởng trực tiếpđến ngành nuôi trồng và khai thác thủy sản của dân cư vùng ven biển

Đánh giá chung ở đa số các KKT hiện nay, do tỷ lệ hoạt động của các dự

án sản xuất kinh doanh chưa cao, hầu hết ở mức 20 - 30%, thậm chí có KKT chỉ10% các dự án sản xuất kinh doanh đi vào hoạt động (như đã đề cập ở phần I),nên chất lượng môi trường chưa có dấu hiệu ô nhiễm nghiêm trọng, chưa xảy ra

sự cố môi trường nào, các hạng mục công trình ở nhiều KKT còn ở giai đoạnquy hoạch hoặc san lấp mặt bằng, xây dựng nên phát sinh chất thải chưa nhiều.Tuy nhiên, với tốc độ phát triển hạ tầng BVMT chậm ở hầu hết các KKT, thậmchí có những KKT đã có tỷ lệ các dự án sản xuất kinh doanh hoạt động trên 30%nhưng các công trình xử lý chất thải chưa hoàn thiện và vận hành, đồng thời tínhchủ động trong quản lý và BVMT ở các địa phương chưa cao, thì nguy cơ ônhiễm môi trường sẽ là tất yếu

Hiện trạng môi trường tại một số KKT được thể hiện tại Phụ lục VIIIa

IV ĐÁNH GIÁ CHUNG

1 Những kết quả đạt được

Công tác BVMT ở các KKT ngày càng nhận được sự quan tâm hơn củacác cấp quản lý, các doanh nghiệp và cộng đồng Pháp luật về BVMT đang từngbước được bổ sung và hoàn thiện như Luật BVMT 2005, Nghị định số 29/2008/NĐ-CP, Nghị định số 80/2006/NĐ-CP, Nghị định số 21/2008/NĐ-CP, Nghịđịnh số 88/2007/NĐ-CP, Thông tư số 08/2009/TT-BTNMT, hệ thống các quychuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường Hệ thống quản lý môitrường ở Trung ương và địa phương được kiện toàn tạo điều kiện thuận lợi chocông tác BVMT tại các KKT đi vào nề nếp Trên cơ sở các văn bản pháp luật ởTrung ương, nhiều UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã ban hànhcác quy định về BVMT KKT, KCN lồng ghép với các chính sách, kế hoạchchung về BVMT trên địa bàn Công tác kiểm tra, thanh tra BVMT KKT đã đượctriển khai và đạt kết quả nhất định Hầu hết các UBND tỉnh đã ủy quyền tạo điềukiện thuận lợi cho BQL KKT thực hiện một số chức năng quản lý môi trường,phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường của các cơ sở trong phạm viKKT Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật BVMT KKT nhìn chung đãđược thực hiện bởi cả Sở TN&MT và BQL KKT cũng như các đơn vị liên quan

Để triển khai các hoạt động BVMT tại các KKT, vấn đề sử dụng hợp lýkinh phí từ ngân sách cho công tác quản lý môi trường là rất cần thiết Chínhphủ đã ban hành các quy định, hướng dẫn về khuyến khích đầu tư và xã hội hoácông tác BVMT nhằm huy động đa dạng hoá các nguồn vốn, hình thức đầu tưcho hạ tầng BVMT

BQL KKT ở địa phương đã chú trọng hơn đến việc đầu tư hạ tầngBVMT, các KKT đã đi vào hoạt động đều có sự quan tâm nhất định tới công tác

xử lý chất thải, giảm thiểu các tác động tiêu cực tới môi trường, chú trọng đầu tưcông nghệ mới, áp dụng sản xuất sạch hơn để giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Trang 24

2 Những hạn chế, yếu kém

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, tình hình triển khai các hoạt độngBVMT, quản lý môi trường tại các KKT vẫn tồn tại những điểm bất cập cụ thểnhư sau:

a) Hệ thống pháp luật BVMT KKT; tổ chức bộ máy; cơ chế chính sáchBVMT KKT ở địa phương chưa đồng bộ, còn nhiều chồng chéo bất cập

- Ở cấp Trung ương:

+ Các quy định pháp luật về BVMT KKT chưa đầy đủ, còn có sự chồngchéo giữa các quy định về BVMT KKT Cơ sở pháp lý cao nhất của hệ thốngpháp luật là Luật BVMT (Điều 36) cũng chỉ quy định chung cho các đối tượng

là KKT, KCN, khu chế xuất, mà chưa quy định BVMT đặc thù của KKT,trong khi một số vấn đề còn bỏ ngỏ trong quy định (ví dụ vấn đề đánh giá môitrường chiến lược KKT là rất cần thiết nhưng lại chưa được quy định trong LuậtBVMT)

+ Một số văn bản còn thiếu tính nhất quán và tính kế thừa (ví dụ vấn đềthanh tra, kiểm tra BVMT KKT giữa Luật Thanh tra, Luật BVMT, Nghị định số29/2008/NĐ-CP hoặc Thông tư quy định chuyên ngành; vấn đề ủy quyền phâncấp giữa Nghị định số 29/2008/NĐ-CP, Nghị định 80/2006/NĐ-CP và Nghịđịnh 21/2008/NĐ-CP, Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác độngmôi trường, cam kết BVMT, Thông tư số 08/2009/TT-BTNMT )

+ Các văn bản hiện hành chưa phân biệt tính đặc thù, thực tế của từng địaphương có KKT; dẫn đến hạn chế việc khai thác, phát huy thế mạnh, tiềm năngcủa địa phương

+ Các Bộ, ngành chưa thực hiện triệt để trách nhiệm phối hợp trong côngtác BVMT KKT, tổ chức quản lý môi trường ở các Bộ, ngành còn phân tán,thiếu nhân lực, thiếu đấu mối BVMT KKT

- Ở cấp địa phương:

+ Việc ban hành các quy định BVMT ở địa phương thường là các quyđịnh chung, chưa có địa phương nào ban hành riêng quy định BVMT KKT,chưa tạo tiền đề thuận lợi cho các cơ quan chức năng địa phương thực hiện quản

lý môi trường KKT

+ Quy chế phối hợp còn nhiều hạn chế, chưa quy định đầy đủ và rõ ràngcác nội dung phối hợp nên chưa phát huy được hiệu quả của công tác phối hợpquản lý môi trường trong KKT, thậm chí nhiều nơi chưa có quy chế phối hợp

+ Đối với nhiều KKT, việc xây dựng bộ máy quản lý, phân công, phâncấp và phối hợp BVMT còn lúng túng, nhiều nơi vẫn chưa tách riêng bộ phậnquản lý môi trường mà gộp chung với bộ phận quy hoạch và xây dựng

+ Theo quy định tại Điều 37, 38 của Nghị định số 29/2008/NĐ-CP, việcthành lập các BQL KKT có thể đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước phục vụ

Trang 25

phát triển kinh tế trong một giai đoạn nhất định theo sự ủy quyền của các Bộ,ngành trong từng lĩnh vực cụ thể Tuy nhiên thực tế cho thấy, BQL KKT đượcthành lập hiện nay tại các địa phương không nằm trong hệ thống các cơ quanquản lý hành chính nhà nước (04 cấp), do Thủ tướng Chính phủ thành lập nhưngchịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế của UBND cấp tỉnh và hướngdẫn, kiểm tra chuyên môn của các Bộ, ngành, như vậy chức năng nhiệm vụ củaBQL KKT mang tính tổng hợp, bao trùm lên chức năng của nhiều ngành, lĩnhvực có liên quan dễ dẫn đến quản lý chồng chéo, không phân định rõ tráchnhiệm, quyền hạn; nếu các Bộ, ngành chuyên môn không ủy quyền đồng bộ thìhoạt động quản lý BVMT KKT sẽ rất khó thực hiện hiệu quả, nhưng nếu ủyquyền đầy đủ và toàn diện thì trách nhiệm của BQL KKT sẽ rất lớn trong khinăng lực quản lý lại rất hạn chế; về địa giới hành chính các KKT, tại một số địaphương diện tích của KKT tương đương với 01 huyện, nhưng có thể nằm trênđịa bàn 02 đến 03 huyện Vì vậy, nếu không có sự phân công, phối hợp tốt sẽ bịchồng chéo giữa BQL với các sở, ban, ngành có liên quan và UBND cấp huyệndẫn đến hiệu quả quản lý bị hạn chế, trách nhiệm quản lý bị buông lỏng.

+ Do tính chất, đặc thù của mô hình KKT; để phát triển tốt đòi hỏi sựquan tâm, chỉ đạo, kiểm tra thường xuyên, đầy đủ của các bộ ngành liên quan vàcác sở ban ngành địa phương, chính quyền địa phương các cấp Tuy nhiên, trênthực tế, công tác này thực hiện chưa đáp ứng được yêu cầu, ảnh hưởng tới kếtquả, hiệu quả hoạt động của mô hình KKT

b) Thực hiện các thủ tục môi trường chưa nghiêm túc (ĐMC KKT; phê

duyệt ĐTM các dự án trong KKT, xác nhận bản cam kết BVMT, )

- Mặc dù hầu như các BQL KKT đã được ủy quyền phê duyệt ĐTM vàmột số chức năng quản lý môi trường, tuy nhiên do hạn chế về nguồn lực nênchất lượng các báo cáo ĐTM, cam kết BVMT chưa cao Tại đa số các KKT,việc ủy quyền xác nhận cam kết BVMT chưa thực hiện do bất cập về các hìnhthức, phạm vi ranh giới quản lý trong KKT (BQL chịu trách nhiệm quản lý cáchoạt động trong phạm vi KKT, tuy nhiên UBND huyện/xã vẫn phải chịu tráchnhiệm quản lý nhà nước theo các ranh giới hành chính, khu dân cư cả trong vàngoài KKT)

- Thực tế ở nhiều địa phương, việc thực hiện các quy định pháp luậtBVMT nói chung và BVMT KKT nói riêng chưa thực sự nghiêm túc, đặc biệt lànhững hướng dẫn pháp luật theo Luật BVMT 2005 Ngoài ra, thông tin, báo cáotình hình BVMT nói chung và BVMT KKT nói riêng chưa được thực hiện đầy

đủ, số liệu trong các báo cáo nhiều khi thiếu nhất quán và cụ thể, dẫn đến việctổng hợp thông tin không chính xác

- Trong nhiều KKT, vẫn xảy ra vi phạm pháp luật về BVMT do ý thứccủa doanh nghiệp, do thiếu sự quản lý chặt chẽ từ các cơ quan quản lý, một sốBQL KKT và UBND cấp huyện, xã còn né tránh, đùn đẩy trách nhiệm hoặcchưa quan tâm đầy đủ tới công tác BVMT trên địa bàn, có những trường hợpchưa nắm chắc các thủ tục môi trường để hướng dẫn cho doanh nghiệp, cộngđồng; tính chủ động và sự quyết liệt trong quản lý môi trường chưa cao

Trang 26

- Theo quy định chung, việc đấu nối vào hệ thống xử lý nước thải tậptrung của KKT (KCN) phải được thực hiện nghiêm túc, trường hợp không đấunối cần đảm bảo đủ các yếu tố miễn trừ đấu nối theo quy định tại Nghị định số88/2007/NĐ-CP (đạt QCKTQG về chất lượng đầu ra, hệ thống xử lý đạt các quychuẩn thiết kế và chạy thử đúng quy định, có sự thống nhất của các cơ quanchức năng ) Tuy nhiên, thực hiện các quy định này ở nhiều KKT còn hạn chế,thậm chí nhiều doanh nghiệp trong những KKT này vẫn xả thẳng chất thải xử lýchưa đạt quy chuẩn cho phép ra môi trường.

Nhiều doanh nghiệp trong KKT thực hiện không đầy đủ các nội dungtrong Báo cáo ĐTM đã được phê duyệt hoặc Cam kết BVMT đã được xác nhận

c) Hoạt động BVMT, các giải pháp BVMT thiếu đồng bộ, chưa triệt để

- Xử lý chất thải: Việc đầu tư xây dựng và vận hành các hạng mục côngtrình chưa triệt để, chưa thực sự phù hợp với thực tiễn, điển hình là hệ thống xử

lý nước thải ở nhiều KCN trong KKT được xây dựng, nhưng không có đủ nướcthải đầu vào từ các cơ sở sản xuất để vận hành đủ công suất (tỷ lệ lấp đầy thấphoặc một số doanh nghiệp sản xuất ít phát sinh nước thải )

+ Vấn đề xử lý chất thải rắn, chất thải nguy hại ở nhiều KKT, KCN trongKKT còn nhiều bất cập, đặc biệt là việc bố trí trạm trung chuyển chất thải rắn(theo quy định của Thông tư số 08/2009/TT-BTNMT) và năng lực xử lý chấtthải nguy hại của nhiều địa phương chưa đáp ứng được các quy định của phápluật Nhiều địa phương không có đơn vị chuyên môn xử lý chất thải nguy hại,trong khi lượng chất thải nguy hại ở một số KKT phát sinh với số lượng khôngnhiều nhưng đa dạng về chủng loại nên không ký hợp đồng được với các đơn vị

có chức năng đến vận chuyển và xử lý ngay dẫn tới bị tồn đọng

+ Vấn đề xử lý khí thải, nước thải ở một số cơ sở sản xuất kinh doanhchưa thực hiện đúng quy định, nhiều cơ sở không đầu tư đồng bộ hệ thống xử lýkhí thải hoặc không đấu nối vào hệ thống xử lý nước thải tập trung mà tự xử lýcục bộ không đạt quy chuẩn và xả ra môi trường gây ô nhiễm

- Quan trắc môi trường: Nhìn chung, thực hiện công tác quan trắc tại KKTcòn thiếu đồng bộ, không định kỳ thường xuyên do thiếu nguồn kinh phí, một sốKCN trong KKT chưa quan tâm đầu tư hệ thống quan trắc tự động Phần lớn cácđịa phương (trừ tỉnh Khánh Hòa) chưa có kế hoạch quan trắc môi trường tổngthể và lâu dài Năng lực của các đơn vị quan trắc ở địa phương còn hạn chế,thiếu sự đầu tư đồng bộ cả về nguồn nhân lực và kinh phí

- Phòng ngừa sự cố: Hầu hết các địa phương đều đã xây dựng hoặc phêduyệt kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường, tuy nhiên những bản kếhoạch này chưa sát với thực tiễn, thiếu cụ thể và chưa phản ánh tính đặc thù củacác loại hình sản xuất kinh doanh trong KKT

d) Phân công, ủy quyền trách nhiệm quản lý môi trường KKT còn chồngchéo, thực hiện thiếu hiệu quả

Trang 27

- Việc thực hiện phân cấp, ủy quyền BVMT cho BQL KKT chưa đạt hiệuquả ở hầu hết các địa phương, UBND tỉnh đã ủy quyền công tác quản lý môitrường cho BQL KKT, nhưng do chưa có quy chế phối hợp hoặc ủy quyền trongkhi BQL lại hạn chế về năng lực, kinh nghiệm quản lý môi trường nên hiệu quảcủa công tác quản lý môi trường KKT bị hạn chế, chồng chéo về trách nhiệmBVMT giữa các cơ quan trong khi một số nội dung quản lý bị bỏ trống hoặcbuông lỏng không đạt chất lượng (ĐTM, xác nhận cam kết BVMT, giám sát môitrường, xử lý chất thải, ).

- Việc quản lý môi trường ở hầu hết các KKT chưa có sự phối hợp tốt giữaBQL và các đơn vị chuyên ngành như TN&MT, Công Thương, Cảnh sát môitrường , đây là một vấn đề bất cập chung và phổ biến ở nhiều địa phương

- Tại một số địa phương như Phú Yên, Khánh Hòa, Thừa Thiên - Huế, địabàn KKT đã có các khu dân cư, làng nghề nên việc quản lý tương đối phức tạp,

ở các khu vực này về cơ bản các hoạt động quản lý vẫn do UBND huyện chịutrách nhiệm

đ) Kiểm tra, thanh tra, giám sát, xử lý vi phạm pháp luật BVMT KKTchưa có sự phối hợp chặt chẽ, chưa đạt hiệu quả răn đe

- Theo quy định của Luật Thanh tra (có hiệu lực từ ngày 01/7/2011), chứcnăng thanh tra không thuộc thẩm quyền của BQL, gây khó khăn trong xử lý các

vi phạm nói chung, vi phạm pháp luật BVMT KKT nói riêng, trong khi yêu cầu

và thực trạng của công tác BVMT hiện nay đòi hỏi phải tăng cường và thườngxuyên thực hiện việc thanh tra, kiểm tra về môi trường

- Ngoài Phú Yên đã có chương trình, kế hoạch phối hợp thanh tra, kiểmtra chung trong KKT; hầu hết các địa phương do chưa có chương trình phối hợpđồng bộ nên thường xảy ra tình trạng thanh tra chồng chéo, gây khó khăn chohoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và làm giảm hiệu quả củacông tác thanh kiểm tra

- Mặc dù Nghị định 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 của Chính phủ đãqui định các mức xử phạt tương đối cao, tuy nhiên việc xử phạt trên thực tế làchưa đủ răn đe đối với các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường (kết quảthanh tra năm 2010 cho thấy vẫn còn nhiều vụ việc vi phạm hoặc tái phạm ở các

cơ sở sản xuất kinh doanh)

e) Phổ biến chính sách pháp luật, hướng dẫn kỹ thuật BVMT KKT cònmang tính hình thức, chưa đi vào chiều sâu

Công tác phổ biến chính sách pháp luật BVMT KKT mặc dù đã đượcthực hiện và quan tâm hơn trong vài năm gần đây, nhưng do chưa thường xuyên,thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý môi trường tỉnh với Ban quản

lý KKT nên hiệu quả còn hạn chế

3 Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém

a) Nguyên nhân chủ quan

Trang 28

Mô hình phát triển KKT còn mới mẻ đối với nước ta, quá trình phát triểnvừa qua có biểu hiện sự “phát triển nóng”, thiếu quy hoạch tổng thể, sự duy ýchí trong quan điểm phát triển Ban quản lý KKT là cơ quan chịu trách nhiệmquản lý môi trường trong KKT, nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan và chủquan đã được phân tích ở trên chưa làm “tròn” trách nhiệm này Hệ thống vănbản pháp luật về BVMT đối với KKT chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ, thiếu cácquy định đặc thù cụ thể Nhiều quy định còn chồng chéo; chưa rõ ràng về vaitrò, trách nhiệm cũng như việc phân cấp, ủy quyền trong công tác BVMT giữacác cơ quan quản lý môi trường có liên quan tại KKT Công tác quản lý môitrường (đặc biệt là cấp huyện, xã) còn bị buông lỏng, còn nhiều biểu hiện nétránh hoặc đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan

Ở địa phương, trách nhiệm quản lý môi trường KKT bị phân tán, vừa do SởTN&MT, vừa do BQL KKT, KCN và UBND cấp huyện, cấp xã thực hiện; dẫnđến hiệu quả và hiệu lực công tác quản lý môi trường KKT bị hạn chế Bố trí kinhphí BVMT KKT không đầy đủ, các nguồn ngân sách rất hạn hẹp; trong khi việc

xã hội hóa các nguồn đầu tư cho BVMT KKT rất khó khăn và hầu như chưa cókết quả Các địa phương đều chưa phân định rõ nguồn kinh phí cho đầu tư hạ tầngmôi trường và nguồn chi sự nghiệp môi trường dẫn đến bố trí không đúng, không

đủ kinh phí cho công tác BVMT nói chung và BVMT KKT nói riêng

Với đặc thù, tiềm năng và thế mạnh ở từng địa phương, vùng/miền khácnhau; nên việc cùng áp dụng chung một mô hình quản lý KKT và hệ thốngchính sách, pháp luật cũng gây những khó khăn, bất cập nhất định

Sự quan tâm, chỉ đạo của nhiều Bộ, ngành; chính quyền địa phương cáccấp đối với công tác quản lý môi trường KKT chưa được thường xuyên, thiếuhiệu quả

Cơ sở vật chất, năng lực đội ngũ cán bộ về môi trường của BQL nhiềuKKT thiếu về số lượng, hạn chế về trình độ; ảnh hưởng nhiều tới kết quả côngtác quản lý môi trường KKT

b) Nguyên nhân khách quan

Phạm vi KKT rất rộng, bao gồm các phân khu chức năng (như một vùngkinh tế thu nhỏ), đòi hỏi có sự đầu tư nhiều về nguồn lực tài chính và bộ máyquản lý (trong đó có quản lý môi trường) tương xứng Tuy nhiên sự đáp ứng cảhai yếu tố này trên thực tế là rất khó khăn, hạn hẹp

Đầu tư cho hoạt động BVMT nói chung, các dịch vụ xử lý chất thải nóiriêng thường lâu thu hồi vốn, đòi hỏi vốn đầu tư lớn Rất khó huy động vốnngoài ngân sách cho xây dựng cơ sở hạ tầng BVMT trong KKT

Bất cập về các thủ tục, hình thức, phạm vi ranh giới trong quản lý kinh tế,

xã hội KKT (BQL chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động trong phạm vi KKT,tuy nhiên UBND huyện/xã vẫn phải chịu trách nhiệm quản lý nhà nước theo cácranh giới hành chính, khu dân cư cả trong và ngoài KKT)

V ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC KKT

Trang 29

Để cải thiện chất lượng môi trường, tăng cường hiệu lực pháp luật BVMTKKT cần thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp sau:

1 Nhóm giải pháp về thể chế, chính sách

a) Rà soát, bổ sung, hoàn thiện các văn bản pháp luật về mô hình pháttriển và quản lý môi trường đặc thù đối với KKT; chỉ đạo HĐND,UBND cấptỉnh chú trọng việc xây dựng và ban hành những văn bản hướng dẫn cụ thể chophù hợp với tình hình thực tế của địa phương; tăng cường quản lý và hướng dẫncác KKT thực hiện nghiêm túc các quy định BVMT KKT

b) Bổ sung và hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ,khuyến khích các hoạt động đầu tư BVMT, phát triển kinh tế thân thiện với môitrường Chỉ đạo các địa phương xây dựng trình ban hành hoặc ban hành theothẩm quyền các chính sách cụ thể cho phù hợp với thực tế ở địa phương

c) Xây dựng và bổ sung, hoàn thiện các quy định cần thiết để thực hiệnhiệu quả Chương XVII Bộ Luật Hình sự về tội phạm môi trường, xây dựng chếtài đủ mạnh đối với những hành vi vi phạm pháp luật BVMT

2 Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện

a) Chỉ đạo, hướng dẫn UBND cấp tỉnh hoàn thiện việc phân công, phốihợp giữa các sở, ban ngành địa phương, chính quyền địa phương các cấp vớiBQL KKT; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực thi pháp luậtBVMT KKT

b) Lập và thực hiện quy hoạch tổng thể KKT gắn với yêu cầu BVMT vàphát triển kinh tế - xã hội quốc gia; tiếp tục giám sát chặt chẽ việc thực hiện hoạtđộng đầu tư và phát triển KKT theo đúng quy hoạch được duyệt

c) Yêu cầu các nhà đầu tư xây dựng các hạng mục công trình BVMT phùhợp với tiến độ thu hút đầu tư của các phân khu chức năng trong KKT và vậnhành ngay khi các dự án sản xuất kinh doanh đi vào hoạt động

d) Tập trung đánh giá tổng thể, thỏa đáng việc thực hiện chủ trương pháttriển các KKT trong những năm qua để điều chỉnh quy hoạch phát triển KKTphù hợp với điều kiện và tình hình thực tế: khả năng đầu tư, năng lực quản lý,

cơ sở hạ tầng, ; đồng thời kiến nghị với Đảng và Nhà nước những điều chỉnh,

bổ sung cần thiết để mô hình kinh tế này phát triển mạnh nhưng chất lượng, hiệuquả và bền vững

3 Nhóm giải pháp về nguồn lực

a) Triển khai các biện pháp tăng cường nguồn nhân lực, trang thiết bị,ngân sách (trước hết là nguồn sự nghiệp môi trường) cho BQL KKT (bộ phậnquản lý môi trường)

b) Tăng cường giáo dục, truyền thông nâng cao nhận thức và ý thức chấphành các quy định của pháp luật về môi trường tại các KKT; khuyến khích sựtham gia của cộng đồng vào giám sát công tác BVMT

Trang 30

c) Đa dạng hóa nguồn vốn và hình thức đầu tư BVMT KKT, tăng cườngtính chủ động của các địa phương trong việc phân bổ ngân sách đầu tư vàBVMT tại các KKT.

d) Trên cơ sở việc rà soát, đánh giá hoạt động những năm qua của cácKKT; từ đó có các giải pháp tập trung ưu tiên nguồn lực phát triển những KKTtrọng tâm, trọng điểm (không dàn trải, bình quân về đầu tư, )

Trang 31

Phần II VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ MÔI TRƯỜNG

TẠI CÁC LÀNG NGHỀ

I TỔNG QUAN VỀ CÁC LÀNG NGHỀ Ở VIỆT NAM

1 Sự hình thành và phát triển các làng nghề ở Việt Nam

a) Sự hình thành và phát triển các làng nghề ở Việt Nam

Từ xa xưa, hoạt động sản xuất nghề thủ công đã là một trong những nétvăn hóa đặc thù trong đời sống của người dân nông thôn Việt Nam Theo thờigian, các hoạt động sản xuất đơn lẻ dần dần gắn kết với nhau, hình thành nêncác làng nghề, xóm nghề, trong đó có nhiều làng mang tính truyền thống, tồn tạilâu đời, trở thành một hình thức kết cấu kinh tế - xã hội của nông thôn Bên cạnh

sự đóng góp to lớn vào đời sống kinh tế, hoạt động sản xuất nghề còn giúpngười dân gắn bó với nhau, tạo ra những truyền thống, nét đẹp trong đời sốngvăn hóa, tinh thần cho nông thôn Việt Nam

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các thànhphần kinh tế trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, làngnghề nước ta cũng đang có tốc độ phát triển mạnh thông qua sự tăng trưởng về

số lượng và chủng loại ngành nghề sản xuất mới Một số làng nghề từng bị maimột trong thời kỳ bao cấp thì nay cũng đang dần được khôi phục và phát triển.Nhiều sản phẩm thủ công truyền thống của làng nghề có được vị thế trên thịtrường, được khách hàng trong và ngoài nước ưa chuộng Tuy nhiên, có mộtthực tế là đã và đang có sự biến thái, pha tạp giữa làng nghề thực sự mang tínhchất thủ công, truyền thống và làng nghề mà thực chất là sự phát triển côngnghiệp nhỏ ở khu vực nông thôn, tạo nên một bức tranh hỗn độn của làng nghềViệt Nam

Cho đến nay, đã có số liệu thống kê về số lượng, loại hình của các làngnghề, làng nghề truyền thống và làng có nghề cũng như mật độ và phân bố trênquy mô toàn quốc nhưng chưa đầy đủ và toàn diện Nguyên nhân chủ yếu là dotuy đã có tiêu chí phân loại làng nghề và làng nghề truyền thống, nhưng cònchưa thống nhất về cách hiểu và cách thức phân loại giữa các địa phương, dẫntới một số địa phương vẫn chưa công nhận làng nghề, trong khi đó, nhiều địaphương khác ngoài việc đã công nhận rất nhiều làng nghề, còn thống kê đượchàng trăm, thậm chí hàng nghìn làng có nghề trên địa bàn tỉnh Bên cạnh đó,thời điểm thống kê và phương pháp thống kê cũng ảnh hưởng rất lớn đến cácthông tin và số liệu về làng nghề do tính biến động liên tục theo nhu cầu thịtrường, thay đổi theo mùa vụ sản xuất hoặc theo nguồn nguyên liệu sản xuất 1

1 Theo kết quả Nghiên cứu Quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công phục vụ Công nghiệp hóa nông thôn Việt

Nam từ năm 2002 đến năm 2004 trong khuôn khổ hợp tác với tổ chức JICA của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì hiện có khoảng 2.017 làng nghề Theo số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Môi trường được tổng hợp từ báo cáo chính thức của UBND, Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung

ương tính đến tháng 7 năm 2011 thì tổng số làng nghề và làng có nghề trên toàn quốc là 3.355 làng, trong đó

Trang 32

Số lượng làng có nghề, làng nghề được công nhận được thể hiện ở Phụ

lục IXa.

b) Sự phân bố của các làng nghề ở Việt Nam

Các làng nghề ở nước ta chủ yếu tập trung tại những vùng nông thôn, vìvậy, khái niệm làng nghề luôn được gắn với nông thôn Tuy nhiên, hiện nay do

xu thế đô thị hóa, nhiều khu vực nông thôn đã trở thành đô thị, nhưng vẫn duytrì nét sản xuất văn hóa truyền thống, chính điều này đã tạo ra “lỗ hổng” trongchính sách phát triển và hành lang pháp lý về quản lý làng nghề

Trên bình diện cả nước, làng nghề phân bố không đồng đều giữa cácvùng, miền Tính chất của làng nghề theo vùng, miền cũng không giống nhau.Làng nghề tập trung nhiều nhất ở miền Bắc, chiếm khoảng 60%, trong đó Đồngbằng sông Hồng chiếm khoảng 50%, chủ yếu tập trung tại các tỉnh Bắc Ninh,Hưng Yên, Hà Nội, Thái Bình, Nam Định,…; ở miền Trung chiếm khoảng23,6%, tập trung chủ yếu tại các tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên Huế…; miềnNam chiếm khoảng 16,4%, tập trung chủ yếu tại các tỉnh Đồng Nai, BìnhDương, Cần Thơ…

Về loại hình sản xuất cũng rất đa dạng, được phân thành 08 nhóm ngànhnghề theo Biểu đồ dưới đây:

Loại hình dệt, nhuộm, thuộc da 5%

Loại hình sản xuất vật liệu xây dựng 3%

Loại hình khác 25%

Loại hình tái chế

chất thải 1%

Loại hình thủ công,

mỹ nghệ 37%

Loại hình chăn nuôi, giết mổ gia súc 1%

Loại hình gia công

cơ kim khí 4%

Loại hình chế biến lương thực, thực phẩm 24%

Do đặc điểm phân bố nêu trên, tại các tỉnh thuộc Đồng bằng sông Hồng,với đặc điểm diện tích chật hẹp, mật độ dân cư cao, hoạt động sản xuất quy môcông nghiệp và bán công nghiệp gắn liền với sinh hoạt, nên các hậu quả của ônhiễm môi trường là rõ rệt nhất Trong khi đó, tại các tỉnh miền Trung và miềnNam, do phân bố các làng có nghề khá thưa thớt, diện tích đất rộng, nên tuy vẫnnằm xen kẽ trong các khu dân cư nhưng hậu quả môi trường là chưa đáng báođộng Hơn nữa, do đặc điểm phát triển nên tại các tỉnh miền Trung và miềnNam, làng nghề vẫn mang đậm nét thủ công truyền thống, tận dụng nhân côngnhàn rỗi tại chỗ và nguyên vật liệu địa phương, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của

Ngày đăng: 18/02/2017, 16:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w