1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Báo Cáo Đánh Giá Tác Động Dự Thảo Luật Tài Nguyên, Môi Trường Biển Và Hải Đảo

39 631 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 332,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này đòi hỏi phải tăng cường các hoạt động quản lýtổng hợp, thống nhất đối với tài nguyên biển và hải đảo theo hướng vừa bảo vệ/cânbằng sinh học, vừa bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạ

Trang 1

BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG

DỰ THẢO LUẬT TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG

BIỂN VÀ HẢI ĐẢO

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN I - GIỚI THIỆU CHUNG 3

1 Bối cảnh ban hành Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo 3

2 Sử dụng phương pháp đánh giá tác động pháp luật (RIA) trong việc đánh giá Dự thảo Luật 6

PHẦN II - ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CHÍNH SÁCH TRONG DỰ THẢO LUẬT 7

1 Vấn đề 1: Nhiệm vụ quản lý tổng hợp về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo 7

2 Vấn đề 2: Hoạt động điều tra cơ bản, quan trắc về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo 15

3 Vấn đề 3: Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo 19

4 Vấn đề 4: Nghĩa vụ của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên, môi trường biển, hải đảo 27

5 Vấn đề 5: Vai trò của các thiết chế trong việc quản lý tổng hợp, thống nhất tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân các cấp) 32

PHẦN III - QUÁ TRÌNH THAM VẤN KHI THỰC HIỆN ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA DỰ THẢO 37

PHẦN IV - KẾT LUẬN CHUNG 37

Trang 4

PHẦN I - GIỚI THIỆU CHUNG

1 Bối cảnh ban hành Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo

Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng lớn về biển, hải đảo Với diện tíchmặt biển trên một triệu km2, có bờ biển trải dài trên 3.260 km, với trên 3.000 đảolớn nhỏ và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa Biển, hải đảo Việt Nam có vai tròđặc biệt quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời có vị trí hếtsức quan trọng về an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế trong khu vực và thế giới.Tuy nhiên, vấn đề khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo ở ViệtNam cũng như tại nhiều khu vực, quốc gia đang đứng trước nhiều thách thức

Hiện nay, trước sức ép của tốc độ gia tăng dân số ngày càng nhanh, nhu cầuphát triển kinh tế ngày càng cao, trong bối cảnh các nguồn tài nguyên đất liền ngàycàng cạn kiệt, càng đẩy mạnh khuynh hướng tiến ra biển, khai thác biển, làm giàu

từ biển, nhưng thường đi kèm với đó lại là các phương thức khai thác thiếu tính bềnvững Khai thác thiếu bền vững đã dẫn đến nhiều nguồn tài nguyên bị khai thác cạnkiệt, môi trường biển nhiều nơi bị ô nhiễm đến mức báo động, gây ra nhiều thiệthại nghiêm trọng, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia Thực tếcho thấy, ở nhiều nước trên thế giới cũng có rất ít sự kiểm soát về tổng sản lượngkhai thác cũng như sự bền vững trong việc khai thác tài nguyên và hệ sinh tháibiển, trong hầu hết các vùng đặc quyền kinh tế đều bị đánh bắt quá mức sản lượngcho phép 1

Ở Việt Nam hiện nay, nhiều hoạt động khai thác chủ yếu chỉ tập trung vàocác mục tiêu phát triển kinh tế để đạt được các mong muốn tối đa, trong khi xemnhẹ công tác bảo vệ môi trường, không có hoặc thiếu những qui hoạch, kế hoạchchi tiết, cụ thể về khai thác, sử dụng tài nguyên biển2

Bên cạnh đó, nhiều nguồn tài nguyên khoáng sản biển, tài nguyên dầu khí vànhững nguồn tài nguyên biển không tái tạo khác đang bị khai thác quá mức, thiếutính bền vững Điều này không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường mà

1

Kết quả nghiên cứu của Liên Hiệp Quốc, FAO và các tổ chức quốc tế khác đều chỉ ra rằng, hiện khoảng hơn 80% lượng cá toàn cầu đã bị khai thác, trong đó có đến 25% lượng cá toàn cầu bị khai thác quá mức (overexploited) hoặc bị khai cạn kiệt (depleted), trong khi nhiều loài sinh vật biển khác đang đứng trước nguy cơ tuyệt diệt khi sản lượng đánh bắt giảm đến 90% trong những năm gần đây, http://www.hvcsnd.edu.vn/vn/Acedemy/Tin-trong-nuoc/68/2296/Xay-dung-Luat- Tai-nguyen-moi-truong-bienhai-dao.aspx

2 moi-truong-bienhai-dao.aspx

Trang 5

http://www.hvcsnd.edu.vn/vn/Acedemy/Tin-trong-nuoc/68/2296/Xay-dung-Luat-Tai-nguyen-còn gây phát sinh nhiều vấn đề kinh tế - xã hội do sự thiếu hụt thực phẩm cung cấpcho những cư dân sống ở các đảo và các vùng ven biển…

Cùng với sự suy giảm, cạn kiệt nhiều nguồn lợi biển do khai thác, sử dụngkhông hợp lý và thiếu tính bền vững, các hoạt động kinh tế ven biển ngày càng pháttriển, nhiều cửa sông ven biển bị ô nhiễm do nước thải từ các khu công nghiệp, khu

đô thị thải ra cùng với nạn phá hủy rừng ngập mặn ngày càng tăng dẫn đến sự giatăng về tần suất và mức độ ảnh hưởng của thiên tai bão lũ do biến đổi khí hậu …3

Các vấn đề về môi trường, nhất là môi trường biển thường có tính quốc tế;luật biển quốc tế đòi hỏi mỗi quốc gia phải tuân thủ nguyên tắc, tiêu chí môi trườngbền vững, có tổ chức bảo đảm đáp ứng các điều kiện môi trường cho hiện tại vàmai sau; mỗi cá nhân phải tuân thủ pháp luật quốc gia, pháp luật quốc gia phải phùhợp pháp luật quốc tế Điều này đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc giađiều chỉnh các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển, hải đảo; đồng thời,quy định của pháp luật quốc gia phải được hài hòa hóa với pháp luật quốc tế trongbối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay

Để giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến biển, cần bảo đảm khai tháchợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo, đặc biệt cần chú trọng việcxây dựng, triển khai chính sách, biện pháp, chương trình, kế hoạch và giám sátchúng nhằm khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hảiđảo, phát triển bền vững Điều này đòi hỏi phải tăng cường các hoạt động quản lýtổng hợp, thống nhất đối với tài nguyên biển và hải đảo theo hướng vừa bảo vệ/cânbằng sinh học, vừa bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học; bảo đảm côngbằng giữa các thế hệ (đảm bảo thế hệ này và thế hệ sau có quyền tiếp cận nguồn tàinguyên biển như nhau), đồng thời bảo vệ, duy trì và khôi phục biển, đảm bảo các

hệ sinh thái có khả năng phục hồi cao và cung cấp bền vững các hệ sinh thái, bảođảm, duy trì khả năng tiếp cận biển của xã hội; hỗ trợ các tổ chức, cá nhân tăngcường khả năng sử dụng, khai thác các nguồn lợi từ biển

Bên cạnh đó, việc thực hiện nghĩa vụ của mỗi quốc gia trong việc tuân thủcác quy định của luật biển quốc tế cũng đòi hỏi Việt Nam phải phục vụ cho pháttriển kinh tế biển, quy hoạch, kế hoạch khai thác, sử dụng biển hiệu quả, bền vữngdựa trên nguyên tắc tiếp cận hệ sinh thái Nguyên tắc tiếp cận hệ sinh thái cũng làmột trong những nguyên tắc quản trị quốc tế đối với biển; trên cơ sở đó mới bảo

3 Theo kết quả nghiên cứu tổng hợp từ báo cáo của Trung tâm về các giải pháp đại dương (Center for Ocean Solutions), tại các nước giàu cũng như nước nghèo, tại các quốc gia, quần đảo, khu vực đông hay thưa dân cư đều có một điểm rất chung ở mức rất phổ biến và đang ở mức độ báo động đó là: ô nhiễm môi trường có nguồn gốc từ đất liền và từ biển; phá hủy nơi cư trú tự nhiên; khai thác và đánh bắt cá quá mức; tác động của biến đổi khí hậu…

Trang 6

đảm công bằng giữa các thế hệ, đảm bảo thế hệ này và thế hệ sau đều có quyền tiếpcận nguồn tài nguyên biển như nhau.

Vì vậy, việc ban hành Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo nhằmtăng cường quản lý tổng hợp, thống nhất tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, đểbảo đảm khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên biển, hải đảo; chú trọng cáchoạt động định hướng, điều phối, phối hợp các hoạt động quản lý chuyên ngành vớimục tiêu đảm bảo khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên biển và hải đảo theonguyên tắc vừa bảo vệ, cân bằng sinh học, vừa bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạngsinh học và phát triển bền vững

Các mục tiêu chính của việc ban hành Luật tài nguyên, môi trường biển vàhải đảo là:

 Khai thác bền vững, quản lý, bảo vệ hiệu quả tài nguyên, môi trườngbiển và hải đảo

 Khai thác hiệu quả kinh tế biển, hải đảo và các nguồn lợi từ biển tươngthích với việc quản lý tài nguyên và môi trường theo hướng bền vững

 Tăng cường trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhântrong việc bảo vệ môi trường biển, hệ sinh thái biển và hải đảo; kiểmsoát ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, hải đảo

 Tăng cường trách nhiệm và sự phối hợp, điều phối giữa các cơ quan nhà nước trong quản lý và khai thác tài nguyên biển, hải đảo

Trong quá trình nghiên cứu soạn thảo Luật, có những tranh luận về các giảipháp đối với một số nội dung của Dự thảo Luật Do vậy, đánh giá tác động của Dựthảo Luật có thể giúp tìm ra một cơ sở chung cho các phương án có lợi nhất Bộ Tàinguyên và Môi trường (cơ quan chủ trì soạn thảo Dự thảo Luật theo sự phân côngcủa Chính phủ) đã thành lập Nhóm nghiên cứu gồm một số chuyên gia độc lập,thành viên của Ban Soạn thảo và Tổ Biên tập để tiến hành đánh giá tác động của

Dự thảo Luật

Mục tiêu thực hiện đánh giá tác động của Dự thảo Luật, trước mắt là cungcấp cơ sở để trao đổi về nội dung của Dự thảo Luật một cách minh bạch và giúpcác cơ quan có thẩm quyền (Ban Soạn thảo, Chính phủ, Quốc hội) có đủ dữ liệuđánh giá lợi ích và chi phí của các phương án đang xem xét, mục tiêu lâu dài làgiúp cho việc thực thi Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo có hiệu quả, vớicác giải pháp cụ thể, rõ ràng và khả thi hơn

Trang 7

2 Sử dụng phương pháp đánh giá tác động pháp luật (RIA) trong việc đánh giá Dự thảo Luật

Quy trình thực hiện đánh giá tác động của Dự thảo Luật được tiến hành theocác quy trình chuẩn (thông lệ quốc tế) về đánh giá tác động của pháp luật Quátrình thực hiện đánh giá tác động của Dự thảo Luật đã đưa ra được các phương án

cụ thể, đánh giá các tác động tích cực và tiêu cực của các phương án đó và trìnhbày kết quả đánh giá để so sánh các phương án với nhau một cách rõ ràng Tro ngquá trình đánh giá, nhiều phương án lựa chọn cho một số quy định trong Dự thảoLuật đã được cân nhắc Các thông tin về tác động tích cực và tác động tiêu cực củacác phương án lựa chọn cũng đã được đưa ra thảo luận Các thông tin đó đặc biệt

có ích khi còn có nhiều ý kiến khác nhau về nội dung của Dự thảo Luật

Nhóm nghiên cứu đã xác định các vấn đề cần ưu tiên đánh giá theo mộtphương pháp có hệ thống, chọn ra được 5 vấn đề quan trọng nhất cần phân tích tácđộng và xác định phương án giải quyết cho từng vấn đề Tổng cộng có 15 phươngán/lựa chọn/giải pháp được xem xét trong quá trình đánh giá tác động của 5 vấn đềnêu trên (có phương án lại có nhiều lựa chọn/phương án khác nhau) Mỗi vấn đề sẽ

có một giải pháp có tính chất vạch ranh giới - giải pháp giữ nguyên hiện trạng, tức

là không thay đổi tình trạng hiện có của vấn đề Giải pháp giữ nguyên hiện trạngluôn được sử dụng trong Báo cáo đánh giá tác động bởi phân tích tác động phảiluôn tính tới các tác động ngoài lề, nghĩa là phải so sánh tác động của tất cả các giảipháp thay đổi với giải pháp giữ nguyên hiện trạng để tìm hiểu rõ hơn tác động bên

lề nếu có thay đổi

Các vấn đề được đánh giá, theo Nhóm nghiên cứu, cũng là những vấn đềquan trọng, gắn với các mục tiêu của Dự thảo Luật Cụ thể là các vấn đề sau đây:

1 Nhiệm vụ quản lý tổng hợp về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo

2 Hoạt động điều tra cơ bản, quan trắc, giám sát tổng hợp về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo

3 Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo

4 Nghĩa vụ của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên, môi trường biển và hải đảo

5 Vai trò của các thiết chế trong việc quản lý tổng hợp, thống nhất tài nguyên, môi trường biển và hải đảo

Báo cáo đánh giá tác động của Dự thảo Luật tài nguyên, môi trường biển vàhải đảo được phát triển dựa trên các thực tiễn quốc tế tốt như: xác định vấn đề, xácđịnh phương án giải quyết vấn đề, thu thập dữ liệu, kiểm nghiệm dữ liệu thông qualấy ý kiến và phân tích dữ liệu theo một phương pháp rõ ràng

Trang 8

Tiêu chuẩn phân tích do Nhóm nghiên cứu đặt ra là trong mỗi phương án,đánh giá tác động phải kết hợp cả phương pháp định lượng và định tính, cácphương pháp lượng hoá phải được sử dụng tối đa trong phạm vi thời lượng vànguồn lực cho phép Tuy nhiên, Nhóm nghiên cứu cũng nhận thức được là một sốtác động quan trọng không thể lượng hoá được, nhưng phải được mô tả theophương pháp định tính chính xác nhất có thể và kết luận phải được kèm theo cácgiả định hợp lý và lô-gic Lợi ích và chi phí của mỗi phương án sẽ được so sánh vớinhau và đề xuất đưa ra phải dựa trên tính toán lợi ích và chi phí của mỗi phương án.

Sau khi so sánh tác động ảnh hưởng về mặt lợi ích - chi phí của các giải

pháp khác nhau (xem Phần II Báo cáo), Nhóm nghiên cứu thấy rằng nếu chọn lựa

các giải pháp có lợi nhất thì cần lựa chọn các phương án sau đây:

TRONG DỰ THẢO LUẬT

1 Vấn đề 1: Nhiệm vụ quản lý tổng hợp về tài nguyên, môi trường biển

và hải đảo

1.1 Xác định vấn đề:

Nội dung quản lý tổng hợp về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo

Quá trình hiện đại hoá đất nước, quá trình phát triển kinh tế với tốc độ tăngtrưởng kinh tế nhanh trong giai đoạn vừa qua đã trở thành thách thức đối với toàn

xã hội trong vấn đề bảo vệ tài nguyên môi trường biển Vấn đề khai thác tài nguyên

và bảo vệ môi trường biển và hải đảo ở nước ta đang đứng trước nhiều thách thức(do các hoạt động du lịch, vận tải, khai thác hải sản, các loài thuỷ sinh và khoángsản; hoạt động xử lý chất thải, hoạt động nghiên cứu khoa học biển; …) Một số tàinguyên biển có nguy cơ bị khai thác cạn kiệt, môi trường biển nhiều nơi bị ô nhiễm

đã gây ra thiệt hại nghiêm trọng

Việc khai thác, sử dụng tài nguyên vùng bờ của các tổ chức, cá nhân chưathực sự hiệu quả, chưa đem lại giá trị kinh tế cao, mặt khác, ở nhiều nơi, tình trạngkhai thác tài nguyên vùng bờ lại ở mức báo động về khả năng suy thoái Trên thực

tế, các ngành nông nghiệp, công nghiệp, khai thác, nuôi trồng thủy hải sản … theo

Trang 9

các dự án của ngành đã được phê duyệt, nhưng chưa có sự quản lý khai thác thốngnhất, sử dụng tài nguyên biển còn lãng phí, hiệu quả chưa cao Các ngành, địaphương khai thác tài nguyên biển phục vụ phát triển ngành, địa phương mà chưa

hoàn toàn dựa trên chiến lược tổng thể về khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên,

bảo vệ môi trường biển, hải đảo Quy hoạch của các ngành, địa phương (các quyhoạch du lịch, cảng biển, nuôi trồng thủy hải sản…) còn nặng về khai thác phục vụriêng cho phát triển ngành, địa phương của mình mà chưa chú trọng đến khả năngcủa từng khu vực biển do thiếu quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tàinguyên vùng bờ

Cũng chưa có sự điều phối chung để phân phối, sử dụng tài nguyên biển vàhải đảo một cách có hiệu quả, kể cả một số công trình đa mục tiêu; các biện phápkhai thác tài nguyên biển chưa kết hợp phân phối, sử dụng hợp lý, đa mục tiêu tàinguyên biển,hải đảo mà phần lớn dựa trên quy hoạch riêng lẻ của các ngành, địaphương, nên chưa chú trọng đến sự phát triển bền vững của tài nguyên biển Cácphương thức khai thác tài nguyên nói chung ở Việt Nam còn thiếu tính bền vững;các hoạt động khai thác chủ yếu chỉ tập trung vào các mục tiêu phát triển kinh tế đểđạt được các mong muốn tối đa, vẫn còn xem nhẹ công tác bảo vệ môi trường dokhông có hoặc thiếu những qui hoạch, kế hoạch chi tiết, cụ thể Ngoài ra, cơ chếquản lý lỏng lẻo cũng làm cho công tác quy hoạch, kế hoạch chưa đáp ứng yêu cầuquản lý khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên

Nhìn chung, hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo của cácngành, lĩnh vực về cơ bản đã tuân thủ theo quy hoạch ngành được cấp có thẩmquyền phê duyệt, tuy nhiên do chưa có quy hoạch tổng thể về khai thác, sử dụng tàinguyên biển, hải đảo định hướng cho hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biểndẫn đến một số chức năng của vùng biển bị khai thác quá mức, đồng thời ảnhhưởng tới các chức năng khác của các vùng biển làm cho tài nguyên biển dần bịsuy thoái, tổn thương, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc bảo tồn đa dạng sinh học

và kiểm soát khí hậu4

Bên cạnh đó, việc cung cấp các thông tin, dữ liệu chuyên ngành về biển vàhải đảo cho xã hội, cộng đồng có nhiều bất cập Việc quản lý nhà nước đối với tàinguyên, môi trường biển thiếu tính thống nhất, xuyên suốt do thiếu trao đổi thôngtin và dữ liệu, chất lượng qui hoạch, kế hoạch còn yếu và bị động Hiện số liệu,thông tin về khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo vẫn bị phân tán, thiếutính gắn kết và không đảm bảo tính hệ thống, tính đồng bộ để đáp ứng yêu cầu,mục tiêu quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển, hải đảo; chưa được tích hợp

4 Đặc biệt là ở vùng bờ, nơi tập trung sôi động các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội nên việc

sử dụng cạnh tranh các nguồn tài nguyên chia sẻ ở vùng này chưa tương thích với việc quản lý tài nguyên và môi trường theo hướng bền vững.

Trang 10

thành cơ sở dữ liệu chung cho thống nhất, hiện đại để phục vụ cho việc hoạch địnhchính sách phát triển kinh tế biển, đảo, đảm bảo an ninh - quốc phòng

1.2 Mục tiêu giải quyết vấn đề

 Khai thác hiệu quả, bền vững biển và hải đảo và các nguồn lợi từ biển trên

cơ sở tiếp cận hệ sinh thái;

 Kiểm soát chặt chẽ ô nhiễm môi trường và phòng ngừa suy thoái môi trườngbiển và hải đảo;

 Tăng cường trách nhiệm bảo vệ môi trường biển và hải đảo, hệ sinh thái biểncủa các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong quá trình khai thác, sửdụng tài nguyên biển và hải đảo;

 Tăng cường trách nhiệm và sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trongquản lý và khai thác tài nguyên biển và hải đảo

1.3 Các phương án để lựa chọn

Phương án 1A: Giữ nguyên như hiện nay

Phương án 1B: xây dựng Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài

nguyên và bảo vệ môi trường các vùng biển, ven biển và hải đảo;

Phương án 1C: Như Phương án1B bổ sung thêm quy định về lập quy hoạch

tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ, lập bản đồ phânvùng khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ

Phương án 1D: Như Phương án 1C bổ sung thêm quy định về xây dựng hệ

thống thông tin, cơ sở dữ liệu về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo

1.4 Phân tích, đánh giá tác động của các phương án

1.4.1 Tác động của Phương án 1A: Giữ nguyên như hiện nay

Tác động tích cực:

Tác động đối với Nhà nước: Nếu theo phương án giữ nguyên như hiện nay

thì lợi ích cơ bản là Nhà nước không mất chi phí cho công tác lập chiến lược, quy

hoạch tổng thể (như chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ

môi trường các vùng biển, ven biển và hải đảo; quy hoạch tổng thể khai thác, sửdụng bền vững tài nguyên vùng bờ) cũng như chi phí về xây dựng hệ thống thôngtin, cơ sở dữ liệu về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo mà chỉ mất chi phícho công tác lập chiến lược, quy hoạch cho các ngành, địa phương riêng lẻ nhưhiện nay

Tác động đối với tổ chức, cá nhân: tác động tích cực của phương án này đối

với khu vực tư nhân không rõ nét Nếu giữ nguyên như hiện nay thì tổ chức, cánhân không mất thêm các chi phí để tìm hiểu các quy định mới của pháp luật,

Trang 11

không mất các chi phí tuân thủ pháp luật hay thực hiện theo đúng các chiến lược,quy hoạch cũng như tuân thủ các chiến lược, quy hoạch tổng thể này.

Tác động tiêu cực:

Tác động đối với Nhà nước: Nếu giữ nguyên như hiện nay thì vẫn tồn tại các

bất cập trong công tác quản lý, sử dụng tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, dẫnđến tàn phá hoặc lãng phí tài nguyên; làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường

và điều kiện sống, sức khỏe của người dân

Nhà nước sẽ phải mất nhiều chi phí để khắc phục hậu quả do khai thác tàinguyên biển và hải đảo quá mức, gây ô nhiễm môi trường Bởi lẽ, việc khai thác,

sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo hiện chưa dựa vào chứcnăng của từng khu vực biển và trong giới hạn chịu tải của môi trường, hệ sinh tháibiển, hải đảo mà phần nhiều phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng của tổ chức, cá nhân.Ngoài ra, hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về tài nguyên, môi trường biển và hảiđảo chưa được tổng hợp, tích hợp đầy đủ cũng dẫn đến những khó khăn trong côngtác xây dựng chiến lược, quy hoạch sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môitrường biển, hải đảo

Việc thiếu hoặc không có các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch sẽ không giảiquyết được một cách tổng thể các vấn đề bất cập hiện nay là ô nhiễm biển có nguồngốc từ biển và từ đất liền đến mức báo động; cũng không có biện pháp rõ ràng đểứng phó, khắc phục sự cố môi trường, thiên tai trên biển và vùng ven biển, bảo vệ

và cải thiện môi trường các khu vực trọng điểm tại các vùng biển; thiếu các giảipháp phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm đối với các hoạt động du lịch, hàng hải;khoan, thăm dò, khai thác, vận chuyển dầu khí; khai thác khoáng sản; đánh bắt cá,nuôi trồng thuỷ sản; thải đổ bùn nạo vét luồng giao thông thủy, công trình biển…

Tác động đối với tổ chức, cá nhân: Xã hội và người dân phải gánh chịu

những hậu quả nặng nề do ô nhiễm môi trường biển, tài nguyên biển bị khai tháccạn kiệt và thiếu cân đối giữa các vùng biển cũng sẽ ảnh hưởng đến nhiều phươngdiện kinh tế biển (du lịch, đánh bắt cá, nuôi trồng thuỷ sản ) cũng như sinh kế củangười dân vùng ven biển

1.4.2 Tác động của Phương án 1B: xây dựng Chiến lược khai thác, sử dụng

bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo

Tác động về môi trường: Góp phần khai thác bền vững, quản lý, bảo vệ

hiệu quả tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, góp phần khai thác hiệu quả kinh

tế biển và các nguồn lợi từ biển tương thích với việc quản lý tài nguyên và môitrường theo hướng bền vững

Tác động tích cực: Phương án quy định về việc xây dựng chiến lược khai

thác, sử dụng bền vững tài nguyên vào bảo vệ môi trường biển có các lợi ích sau:

Trang 12

Tác động đối với Nhà nước:

- Đây là tiền đề quan trọng để Nhà nước tiếp tục xây dựng những bước đi

thích hợp nhằm khai thác tài nguyên môi trường biển và hải đảo một cách hiệu quả,bền vững Trước hết là giải quyết vấn đề khắc phục tình trạng nhiều nguồn tàinguyên biển và hải đảo bị khai thác cạn kiệt, môi trường biển và hải đảo nhiều nơi

bị ô nhiễm đến mức báo động; đồng thời khắc phục tình trạng xung đột giữa khaithác, phát triển kinh tế với bảo vệ, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên vùng biển, đảo

- Việc xây dựng Chiến lược cũng giúp cho có kế hoạch lâu dài, tổng thểnhằm giảm nhẹ mức độ suy thoái, cạn kiệt tài nguyên và kiềm chế tốc độ gia tăng ônhiễm; đồng thời nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu; nâng cao nănglực, hiệu quả quản lý hoạt động điều tra cơ bản, khai thác sử dụng tài nguyên theohướng bền vững

Tác động đối với tổ chức, cá nhân: Góp phần nâng cao nhận thức của người

dân, doanh nghiệp, cộng đồng và các cán bộ, công chức nhà nước về vai trò, tiềmnăng, lợi thế cũng như các tác động bất lợi từ biển; chú trọng và quan tâm khaithác, quản lý, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thủy, hải sản, nhất là hệ sinh thái và bảotồn đa dạng sinh học; bảo tồn biển và động vật biển quý hiếm Từ đó, thúc đẩy việckhai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên biển và hải đảo theo hướngbền vững, gìn giữ chất lượng môi trường biển; duy trì chức năng sinh thái và năngsuất sinh học của các hệ sinh thái biển

Tác động tiêu cực: để xây dựng Chiến lược sẽ phát sinh chi phí cho các hoạt

động sau đây:

- Nhà nước phải tăng thêm chi phí, nhân sự cho công tác xây dựng chiếnlược và phê duyệt chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môitrường biển và hải đảo

- Chi phí cho việc đào tạo, bồi dưỡng, tăng cường năng lực và tổ chức cán bộlàm công tác xây dựng chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệmôi trường biển và hải đảo

- Chi phí cho hoạt động nghiên cứu, điều tra cơ bản về tài nguyên, môitrường biển và hải đảo để phục vụ công tác xây dựng Chiến lược này, đồng thờicũng phát sinh thêm chi phí tuyên truyền về quy định cũng như cách thức xây dựng,thực hiện Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên,bảo vệ môi trườngbiển và hải đảo

1.4.3 Tác động của Phương án 1C: Như Phương án 1B nhưng bổ sung

thêm quy định về lập quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ, lập bản đồ phân vùng khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ

Trang 13

Ngoài một số tác động tích cực, tiêu cực của Phương án 1B, phương án 1C

có các tác động sau đây:

Tác động về môi trường: Góp phần khai thác bền vững, quản lý, bảo vệ

hiệu quả tài nguyên, môi trường biển, góp phần khai thác hiệu quả kinh tế biển vàcác nguồn lợi từ biển tương thích với việc quản lý tài nguyên và môi trường theohướng bền vững

Tác động tích cực:

Việc lập quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng

bờ, lập bản đồ phân vùng khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ là cơ sởcho các hoạt động quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên vùng bờ, khắcphục hậu quả tác hại do khai thác quá mức, không hợp lý tài nguyên vùng bờ gây

ra Cụ thể một số lợi ích của phương án 1C là:

- Tăng cường nhận thức về vai trò, vị trícủa biển và kinh tế biển của cáccấp, các ngành, các địa phương ven biển và người dân, nhất là đối với vùng biểnđược phân vùng khai thác, sử dụng Từ đó, giúp cho việc khai thác, sử dụng biển

và quy môkinh tế biểnphù hợp và tương xứng với tiềm năng; cơ cấu ngành nghềkinh tế của địa phương, tránh tình trạng đầu tư xây dựng các khu kinh tế ven biểntràn lan, thiếu trọng tâm trọng điểm, tự phát, thiếu quy hoạch và kế hoạch cũng nhưthiếu kiểm soát chặt chẽ trong quản lý kinh tế của Nhà nước

- Trên cơ sở phân vùng và lập bản đồ quy hoạch, có biện pháp đầu tư thỏađáng về cơ sở hạ tầng các vùng biển, ven biển và hải đảo còn yếu kém, lạc hậu,manh mún, thiết bị chưa đồng bộ nên hiệu quả sử dụng thấp như các cảng biển,

Từ đó, giúp cho việc phát triển kinh tế các vùng kinh tế (nối liền các thành phố,khu kinh tế, khu công nghiệp, sân bay ven biển nhỏ bé thành một hệ thống kinh tếbiển liên hoàn)

- Khắc phục tình trạng khai thác cạn kiệt, gây suy thoái các nguồn tài nguyên

và nguồn lợi từ biển (tính đa dạng sinh học biển và nguồn lợi thủy hải sản giảm sút;các hệ sinh thái biển quan trọng bị suy nay chỉ còn 80 kg/ha/vụ, và 01 haRNM trước đây có thể được khoảng 800 kg thủy sản, nhưng hiện nay chỉ thuđược 1/20 so với trước) Nguồn lợi hải sản ở vùng biển gần bờ có dấu hiệu thácquá mức do tăng nhanh số lượng tàu thuyền đánh cá nhỏ, hiệu suất khai thác hải sản giảm từ 0,92 (1990) xuống 0,34 (2005)

- Góp phần kiểm soát các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên vùng bờtrong quá trình tổ chức thực hiện các chiến lược, quy hoạch phát triển các ngànhkinh tế, việc khai thác sử dụng tài nguyên vùng bờ thiếu tính bền vững, chưa khắcphục được tình trạng mất cân đối giữa các khâu khai thác, sử dụng tài nguyên vùngbờ Việc khai thác du lịch, dầu khí, thủy hải sản…mới chú trọng đến tăng công

Trang 14

suất mà chưa tính toán, đánh giá đầy đủ mức độ nhạy cảm môi trường, sức chịu tảimôi trường, khả năng gây thiệt hại đến tính mạng con người, các hệ sinh thái biển,môi trường biển

- Khắc phục tình trạng khai thác, sử dụng biển và hải đảo chưa hiệu quả,thiếu bền vững do khai thác tự phát, thiếu hoặc không tuân thủ quy hoạch biển, đảo, làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn lợi ích trong sử dụng đa ngành ở vùng venbiển, biển và hải đảo Đặc biệt là khắc phục tình trạng hay cách tiếp cận

“nóng”trongkhai thác tài nguyên biển đang là hiện tượng phổ biến ở các lĩnhvực kinh tế biển, mới chú trọng nhiều đến sản lượng, số lượng, ít chú ý đến chấtlượng và lợi ích lâu dàicủacác dạng tài nguyên ở các vùng biển khác nhau

- Khắc phục tình trạng biển, đảo và vùng ven biển nước ta vẫn chủ yếuđược quản lý theo cách tiếp cận mở kiểu “điền tư, ngư chung” và chủ yếu quản

lý theo ngành thông qua các “luật pháp, chính sách ngành”, là nguyên nhân dẫnđến sự chồng chéo về quản lý giữa khoảng 15 bộ ngành về biển, dẫn đếnchính sách quản lý thiếu đồng bộ, mâu thuẫn và hiệu lực thi hành thấp

- Trên cơ sở quy hoạch tổng thể và phân vùng khai thác, sử dụng, có thể chútrọng các biện pháp tái tạo, chú trọng các giá trị chức năng, phi vật chất và có khả năng tái tạo của các hệ thống tài nguyên biển như: giá trị vị thế củacácmảng không gian biển, ven biển và hải đảo; giá trị dịch vụ của các hệ sinh thái;thậm chí các giá trị văn hóa biển, phát triển kinh tế biển hiệu quả và bền vững.Đồng thời, việc phân vùng, quy hoạch cũng giúp thuận lợi cho việc áp dụng cáccông nghệ biển tiên tiến, các phương thức quản lý biển mới đối với từng vùng biểnkhác nhau, góp phần gia tăng các giá trị kinh tế biển Qua đó, thúc đẩy khả năngcông nghiệp hóa, hiện đại hóa các ngànhkinh tế biển ở Việt Nam trong thời giantới

Tác động tiêu cực:

Tác động đối với nhà nước

- Nhà nước phải tăng thêm chi phí, nhân sự cho công tác lập quy hoạch vàphê duyệt quy hoạch Bên cạnh đó, Nhà nước cũng phải đồng thời có các chi phícho việc lập kế hoạch vì sau khi có quy hoạch thì cũng phải xây dựng kế hoạch

- Tăng thêm chi phí cho hoạt động điều tra cơ bản tốt để làm cơ sở cho việclập quy hoạch chi tiết

- Chính quyền địa phương cấp tỉnh phải tăng cường năng lực và tổ chức cán

bộ cho công tác lập quy hoạch; chính quyền địa phương cấp huyện, cấp xã cũngphải tăng cường năng lực cho việc triển khai thực thi các quy hoạch

Trang 15

- Phát sinh chi phí tuyên truyền, công bố quy hoạch quốc gia, vùng, tỉnh vàchi phí thực hiện quy hoạch.

Tác động đối với tổ chức, cá nhân: Tổ chức, cá nhân sẽ mất thời gian, chi

phí cho việc tuân thủ nhiều loại quy hoạch khác nhau và có thể không biết cần phải

ưu tiên quy hoạch nào

1.4.4 Tác động của Phương án 1D: Như phương án 1C nhưng bổ sung quy

định xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

Ngoài một số tác động tích cực, tiêu cực của Phương án 1C, phương án 1D

có các tác động sau đây:

Tác động tích cực:

Tác động đối với nhà nước:

- Chuẩn hóa xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về tài nguyên, môitrường biển và hải đảo nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, trong việc lậpquy hoạch, kế hoạch, phân vùng, phục vụ công tác cấp phép, đăng ký (cấp phépnghiên cứu khoa học, cấp phép nhận chìm, giao khoán sử dụng khu vực biển, khắcphục môi trường sau sự cố ) nhất là các hoạt động quản lý tổng hợp

- Đáp ứng nhu cầu thông tin trong quản lý biển và hải đảo của các cấp, cácngành, địa phương

- Nhà nước nắm vững thông tin, chủ động hơn trong việc sử dụng tài nguyên,bảo vệ môi trường biển và hải đảo, tăng cường bảo đảm an ninh quốc gia về tàinguyên biển và hải đảo

Tác động đối với tổ chức, cá nhân:

Hệ thống cơ sở dữ liệu tổng hợp về tài nguyên, môi trường biển, hải đảo giúpcho doanh nghiệp, cá nhân có thêm thông tin phục vụ các hoạt động sản xuất, kinhdoanh hay nghiên cứu của họ; đồng thời việc tra cứu thông tin nhanh chóng, hiệuquả; bảo đảm tính chính xác, độ tin cậy cao của thông tin do nguồn thông tin đượccung cấp bởi cơ quan quản lý nhà nước trung ương về môi trường

Tác động tiêu cực:

Tác động đối với Nhà nước: Nhà nước sẽ phải đầu tư một khoản kinh phí

khá lớn để có thể thu thập, tổng hợp, xây dựng hệ thống thông tin, dữ liệu về tàinguyên, môi trường biển và hải đảo Nhà nước cũng phải xây dựng bộ máy đánhgiá chất lượng thông tin và xây dựng cơ chế thương mại hóa nguồn thông tin này

Tác động đối với tổ chức, cá nhân: tác động tích cực của phương án này đối

với tổ chức, cá nhân không rõ nét

Trang 16

1.5 So sánh tác động của các phương án

Qua đánh giá tác động của từng phương án cho thấy, mỗi phương án đều cónhững ưu điểm, nhược điểm, có mặt tích cực, tiêu cực của nó nhưng phương ánđem lại nhiều tác động tích cực và ít tác động tiêu cực hơn cả là phương án 1D

1.6 Kết luận và kiến nghị

Qua kết quả đánh giá tác động của vấn đề quản lý tổng hợp tài nguyên, môitrường biển và hải đảo, Nhóm nghiên cứu thấy rằng phương án/giải pháp tối ưunhất là Phương án 1D Tuy nhiên, giải pháp này chỉ có hiệu quả nếu được tiến hànhđồng bộ các giải pháp khác, đặc biệt là vấn đề bảo vệ, kiểm soát ô nhiễm môitrường biển, trách nhiệm phối hợp của các cơ quan trung ương, địa phương trongviệc thống nhất quản lý, bảo vệ tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (vấn đề 3,vấn đề 5)

2 Vấn đề 2: Hoạt động điều tra cơ bản, quan trắc về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo

2.1 Xác định vấn đề

Hiện nay, chúng ta còn thiếu số liệu, thông tin giúp công tác họach địnhchính sách biển và hải đảo có hiệu quả, đồng thời thiếu các cơ sở khoa học để bố tríkhông gian và phát triển các vùng biển phù hợp với sinh thái của từng vùng, hướngtới mục tiêu sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo

Về hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo: chưa

được xác định là nhiệm vụ quan trọng, nền tảng và chưa được đầu tư thỏa đáng.Công tác điều tra, đánh giá tài nguyên biển và hải đảo còn phân tán, tản mạn, nhiềutrường hợp chồng chéo, trùng lặp hoặc bị bỏ trống Công tác đánh giá tài nguyênbiển và hải đảo ở quy mô quốc gia, khu vực, lưu vực lớn chủ yếu thông qua cácchương trình, đề tài nghiên cứu khoa học, nhưng hầu hết các tài liệu, số liệu sửdụng tính toán của các chương trình, đề tài được thu thập từ nhiều nguồn chưađược xử lý thống nhất nên kết quả tính toán, đánh giá có độ tin cậy không cao Kếtquả điều tra, đánh giá tài nguyên, môi trường biển và hải đảo chưa được tổng hợp,đánh giá, hệ thống hoá để xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển mộtcách thống nhất Ngoài ra, việc điều tra cơ bản trong các lĩnh vực khác nhau chủyếu tập trung phục vụ các mục đích cụ thể trong từng thời kỳ (như quy hoạch pháttriển của các ngành…), chưa quan tâm đến mục đích lâu dài là kiểm soát ô nhiễmmôi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, kiểm soát

Những bất cập nêu trên có nguyên nhân là chưa chú trọng kết nối, tổng hợpkết quả từ các hoạt động điều tra cơ bản của các bộ, ngành, địa phương cũng như

Trang 17

chưa làm rõ trách nhiệm của các cơ quan trong việc thực hiện công tác điều tra cơbản về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo Điều tra cơ bản tài nguyên môitrường biển và hải đảo có vai trò quan trọng, là cơ sở định hướng công tác lập quyhoạch khai thác và sử dụng tài nguyên biển Việc nắm chắc số lượng và chất lượngtài nguyên biển, hải đảo có ý nghĩa rất quan trọng trong việc lập quy hoạch, kếhoạch liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên biển, hải đảo của các ngành, lĩnhvực

Về quan trắc môi trường biển: Hệ thống quan trắc môi trường quốc gia đã

từng bước đáp ứng được đòi hỏi của công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môitrường Xây dựng được nhiều báo cáo hiện trạng môi trường hàng năm, giám sát và

dự báo được diễn biến chất lượng môi trường Nhờ đó, cơ quan quản lý nhà nướcđưa ra các quyết định liên quan đến kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải, ứngphó sự cố môi trường Tuy nhiên, công tác quan trắc môi trường ở nước ta vẫn cònnhiều bất cập, hạ tầng kỹ thuật thấp kém, trong khi đó, đầu tư cho công tác này vừa

ít, vừa phân tán, đôi khi còn lãng phí nguồn lực Số liệu quan trắc chưa được chuẩnhoá và quản lý thống nhất Đặc biệt là chưa phục vụ trực tiếp việc xây dựng, banhành các quyết định về chính sách, về đầu tư phát triển Đến nay, vẫn chưa có chiếnlược hoặc lộ trình tổng thể nhằm phát triển hệ thống môi trường quốc gia Công tácquản lý các trạm quan trắc và quan trắc còn phân tán, cơ chế phối hợp còn nhiềuhạn chế

Có thể, vì những bất cập và hạn chế trên, nên môi trường ở nước ta đang bịxâm hại nghiêm trọng, mức độ ô nhiễm ngày càng cao và luôn làm đau đầu các nhàquản lý Trong khi đó, những thông tin cảnh báo, cũng như những số liệu thể hiệntình trạng ô nhiễm được đưa ra quá chậm, đã làm tình trạng ô nhiễm ngày càngtrầm trọng

Để khắc phục tình trạng trên, cần cũng cố hệ thống quan trắc môi trườngquốc gia Trong đó, đề cao việc tăng cường năng lực quan trắc môi trường tại địaphương, xây dựng cơ chế phối hợp quan trắc, tổ chức công bố thông tin môi trườngcho cộng đồng

2.2 Mục tiêu giải quyết vấn đề

 Nhằm có đầy đủ các thông tin khoa học, chính xác phục vụ cho quản lý vi

mô, quản lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo

 Nhằm đánh giá có hiệu quả, chính xác các nguồn lợi từ biển; phục vụ chohoạt động khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn tài nguyên biển trên

cơ sở bảo vệ môi trường và tiếp cận hệ sinh thái

2.3 Các phương án để lựa chọn

Phương án 2A: Giữ nguyên như hiện nay

Trang 18

Phương án 2B: Hoạt động điều tra cơ bản về tài nguyên, môi trường biển

và hải đảo;

Phương án 2C: Như Phương án 2B bổ sung thêm quy định về quan trắc, giám sát tổng hợp về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo

2.4 Phân tích, đánh giá tác động của các phương án

2.4.1 Tác động của Phương án 2A: Giữ nguyên như hiện nay

Tác động đối với Nhà nước: Nếu giữ nguyên như hiện nay, Nhà nước sẽ

thiếu các thông tin chính xác, giúp công tác hoạch định chính sách biển và hải đảo

có đầy đủ các cơ sở khoa học; bảo đảm phát triển kinh tế biển phù hợp với sinh tháicủa từng vùng, hướng tới mục tiêu sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môitrường biển Công tác điều tra, đánh giá tài nguyên biển sẽ tiếp tục ở tình trạngphân tán, tản mạn hoặc bị bỏ trống Các ngành kinh tế cũng thiếu thông tin chínhxác phục vụ cho việc khai thác, sử dụng biển và hải đảo trong các chương trình,chiến lược, mục tiêu quốc gia nhằm phát triển ngành Điều này sẽ làm hạn chếtrong công tác lập quy hoạch, kế hoạch, xây dựng, ban hành các chính sách đầu tưphát triển của các ngành, khó khăn cho công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch,

kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên có tính chất tổng hợp của ngành tài nguyên

và môi trường, từ đó, khó khăn cho việc kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải,ứng phó sự cố môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu

Tác động đối với tổ chức, cá nhân: Đối với tổ chức, cá nhân, việc thiếu thông

tin đầy đủ, dữ liệu chuẩn hóa, thống nhất từ các hoạt động điều tra cơ bản, quantrắc về môi trường sẽ làm cho tổ chức, cá nhân doanh nghiệp phải mất nhiều chiphí cho các hoạt động tự nghiên cứu và ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất, kinhdoanh, khai thác, sử dụng tài nguyên biển

2.4.2 Tác động của Phương án 2B: quy định hoạt động điều tra cơ bản về

tài nguyên, môi trường biển

Tác động về môi trường: Góp phần khai thác bền vững, quản lý, bảo vệ

hiệu quả tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, góp phần khai thác hiệu quả kinh

tế biển và các nguồn lợi từ biển tương thích với việc quản lý tài nguyên và môitrường theo hướng bền vững

Tác động tích cực

Tác động đối với nhà nước:

- Điều tra cơ bản góp phần cơ bản vào việc lập chiến lược khai thác, sử dụngbền vững tài nguyên biển, quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững, hiệuquả tài nguyên vùng bờ

Trang 19

- Các số liệu điều tra cơ bản cung cấp những thông tin quan trọng, giúp côngtác họach định chính sách biển có hiệu quả cao, đồng thời cung cấp cơ sở thông tinkhoa học để bố trí không gian và phát triển các vùng biển phù hợp với sinh thái củatừng vùng, hướng tới mục tiêu sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trườngbiển.

Tác động đối với tổ chức, cá nhân: Tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp được lợi

từ các số liệu điều tra cơ bản, giảm chi phí tự bỏ ra cho các hoạt động nghiên cứu,sản xuất, kinh doanh cần đến các số liệu, dữ liệu, thông tin Tuy nhiên, lợi ích nàychỉ đáng kể trong điều kiện các cơ quan nhà nước quản lý thông tin, dữ liệu chia sẻnguồn thông tin này và có sự kiểm soát thông tin một cách hợp lý; mặt khác, khôngphải ai cũng dễ dàng tiếp cận các số liệu điều tra cơ bản Phương án này sẽ đem lạinhiều lợi ích nếu kết hợp với giải pháp của vấn đề 1 là xây dựng hệ cơ sở dữ liệu vàcông khai thông tin

Tác động tiêu cực:

Tác động đối với nhà nước:

Tổ chức điều tra cơ bản về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo nếu đượcthực hiện một cách quy mô, cùng với việc xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu về

về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sẽ phát sinh thêm khá nhiều chi phí choNhà nước Các chi phí này bao gồm:

+ Chi phí tổ chức điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; chiphí xây dựng và duy trì hệ thống quan trắc, giám sát tài nguyên, môi trường biển vàhải đảo, giám sát việc khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo;

+ Chi phí cho hoạt động đào tạo, huy động, sử dụng nguồn nhân lực cho điềutra, nghiên cứu về biển, quản lý tổng hợp và thống nhất tài nguyên và môi trườngbiển, hải đảo;

+ Chi phí cho việc tăng cường nguồn vốn cho điều tra cơ bản, quản lý tàinguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo để triển khai các chương trình, đề tài dự

án thực hiện Chương trình phát triển kinh tế biển;

+ Chi phí cho hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ cao trongđiều tra cơ bản, khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường biển, hải đảo;

Tuy nhiên, nhiều khoản chi phí nêu trên chỉ phát sinh trong những năm đầukhi bắt đầu thực hiện Luật và sẽ giảm trong các năm tiếp theo

Tác động đối với tổ chức, cá nhân: Không có tác động rõ rệt và hầu như

không có tác động tiêu cực trực tiếp

2.4.3 Tác động của Phương án 2C: Như Phương án 2B bổ sung thêm quy

định về quan trắc, giám sát tổng hợp về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo

Ngày đăng: 18/02/2017, 16:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w