1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ

83 547 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú ThọQuản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú ThọQuản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú ThọQuản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú ThọQuản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú ThọQuản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú ThọQuản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú ThọQuản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú ThọQuản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú ThọQuản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú ThọQuản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú ThọQuản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú ThọQuản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú ThọQuản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú ThọQuản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

ĐOÀN THU TRANG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐỊA CHÍNH

TỪ THỰC TIỄN QUẬN HAI BÀ TRƯNG,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

ĐOÀN THU TRANG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐỊA CHÍNH

TỪ THỰC TIỄN QUẬN HAI BÀ TRƯNG,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS TRẦN THỊ CÚC

HÀ NỘI – 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả

Đoàn Thu Trang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo PGS.TS Trần Thị Cúc, người đã chỉ bảo và hướng dẫn tôi tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài này Lời khuyên hữu ích của cô ngay từ đầu đã giúp tôi có sự điều chỉnh kịp thời, định hướng lại phạm vi nghiên cứu của đề tài để có thể hoàn thành đúng tiến độ đề ra

Xin cám ơn Ban giám hiệu, Ban đào tạo sau đại học, các thầy, cô thuộc khoa Nhà nước và Pháp luật - Học viện Hành chính Quốc gia đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thiện Luận văn

Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Văn phòng đăng ký đất đai Hà nội- chi nhánh quận Hai Bà Trưng, anh chị em đồng nghiệp nơi tôi đang công tác,

đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập

Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo và cán bộ phòng Tài nguyên và môi trường quận Hai Bà Trưng, Văn phòng đăng ký đất đai Hà nội - chi nhánh quận Hai Bà Trưng đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

và thực hiện Luận văn

Xin cảm ơn tới các cơ quan, đoàn thể, UBND các phường đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra và thu thập số liệu

Xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè, các anh chị em học viên lớp HC19B7 đã động viên và giúp đỡ tôi trong những lúc tôi gặp khó khăn để hoàn thành luận văn này

Học viên

Đoàn Thu Trang

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐỊA CHÍNH 8

1.1 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐỊA CHÍNH 8

1.1.1 Khái niệm về quản lý nhà nước 8

1.1.2 Khái niệm về địa chính 9

1.1.3 Khái niệm về HSĐC 10

1.1.4 Các loại hồ sơ địa chính 11

1.1.6 Mục đích của việc và quản lý địa chính 14

1.1.7 Vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước về địa chính: 16

1.1.8 Các công cụ luật pháp chủ yếu trong quản lý nhà nước về địa chính: 17 1.1.9 Ban hành văn bản pháp luật và hướng dẫn thực hiện văn bản đó: 18

1.2 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐỊA CHÍNH 19

1.2.1 Yếu tố thể chế 19

1.2.2 Yếu tố con người 20

1.2.3 Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện quản lý nhà nước về địa chính 21

1.2.4 Tổ chức bộ máy chuyên trách 21

1.2.5 Công nghệ thông tin và các yếu tố kỹ thuật khác 23

1.3 SƠ LƯỢC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚCVỀ ĐỊA CHÍNH QUA CÁC THỜI KỲ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM 24

1.4 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐỊA CHÍNH Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30

Trang 7

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐỊA CHÍNH

TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 31

2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 31

2.1.1 Vị trí địa lý 31

2.1.2 Địa hình 32

2.2 TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VỀ QUẢN LÝ ĐỊA CHÍNH 33

2.2.1 Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Nhân dân quận 33

2.2.2 Phòng tài nguyên và môi trường quận 34

2.2.2 Văn phòng đăng ký đất đai- Chi nhánh Quận Hai Bà Trưng 36

2.2.3 Cán bộ địa chính tại các phường 37

2.3 PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐỊA CHÍNH TẠI QUẬN HAI BÀ TRƯNG 41

2.3.1 Phương pháp hành chính: 42

2.3.2 Phương pháp kinh tế 42

2.3.3 Phương pháp tuyên truyền giáo dục 42

2.4 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐỊA CHÍNH TẠI QUẬN HAI BÀ TRƯNG 43

2.4.1 Hiện trạng sử dụng đất 43

2.4.2 Tình hình quản lý nhà nước về địa chính trên địa bàn quận Hai Bà Trưng qua các thời kỳ 43

2.5 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ HẠN CHẾ 49

2.5.1 Những kết quả đạt được trong thời gian qua 49

2.5.2 Hạn chế, bất cập 49

2.5.3 Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế, bất cập 51

2.5 ĐÁNH GIÁ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐỊA CHÍNH CỦA CHÍNH QUYỀN QUẬN HAI BÀ TRƯNG 52

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 56

Trang 8

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUẢN

LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐỊA CHÍNH TỪ THỰC TIỄN QUẬN HAI BÀ

TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 57

3.1 PHƯƠNG HƯỚNG BẢO ĐẢM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐỊA CHÍNH 57

3.2 GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐỊA CHÍNH 63

3.2.1 Xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản quản lý về địa chính 63

3.2.2 Hoàn chỉnh về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý địa chính 64

3.2.3 Các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về địa chính 65

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 70

KẾT LUẬN 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, tại

chương 3, điều 53 quy định “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng

sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” Ở Việt Nam, Nhà

nước là đại diện chủ sở hữu toàn dân đối với đất đai nhưng không trực tiếp khai thác và sử dụng, mà trao quyền sử dụng cho các tổ chức, hộ gia đình và

cá nhân

Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và nó cũng là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và

các sinh vật khác trên trái đất Các Mác viết: “Đất đai là tài sản mãi mãi với

loài người, là điều kiện để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp” Bởi vậy, nếu không

có đất đai thì không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, con người không thể tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để duy trì cuộc sống và duy trì nòi giống đến ngày nay Trải qua một quá trình lịch sử lâu dài con người chiếm hữu đất đai, biến đất đai từ một sản vật tự nhiên thành một tài sản của cộng đồng, của một quốc gia Luật Đất đai năm 2013 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

Việt Nam có ghi: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu

sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội,

an ninh quốc phòng Trải qua nhiều thế hệ nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay”

Trang 10

2

Tại điều 4 Luật đất đai 2013 cũng khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu

toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật”

Đất nước ta đã trải qua nhiều giai đoạn xây dựng và bảo vệ tổ quốc Mỗi giai đoạn tình hình kinh tế, chính trị đất nước có những đặc điểm khác nhau Bởi vậy, công tác quản lý địa chính cũng theo đó mà có những biến đổi qua các thời kỳ Qua mỗi thời kỳ dù ở mức độ khác nhau nhưng ta đều nhận thấy sự quan tâm của Nhà nước đối với công tác quản lý Nhà nước về địa chính

Bất kỳ chế độ xã hội nào, Nhà nước phải quản lý địa chính, theo đó Nhà nước phải lập được hồ sơ, dữ liệu về mảnh đất, khu đất gắn với chủ sử dụng khu đất đó Công tác quản lý địa chính ở nước ta đã được thiết lập từ cách đây hơn năm thế kỷ, được chính quyền ở các chế độ khác nhau kế thừa

và tiếp tục bổ sung, điều chỉnh nhằm phục vụ mục đích quản lý địa chính của mình Tuy nhiên, do hoàn cảnh chiến tranh, sự chia cắt đất nước, trải qua nhiều giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội của đất nước mà ranh giới các thửa đất, chủ sử dụng đất có thay đổi gây ra những bất cập, khó khăn trong quản lý địa chính như việc theo dõi, truy xuất, lưu trữ, xử lý, cập nhật, chỉnh lý biến động đất đai, cấp GCNQ sử dụng đất …Việc làm tốt công tác quản lý Nhà nước về địa chính để Nhà nước quản lý chặt chẽ toàn bộ đất đai theo pháp luật, xác lập mối quan hệ pháp lý đầy đủ giữa Nhà nước và người sử dụng đất, tạo điều kiện cho việc Sử dụng đất một cách đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả là yêu cầu cấp thiết

Hai Bà Trưng là một quận nội thành có diện tích 1025,85 ha km2 gồm

20 phường Công tác quản lý Nhà nước về địa chính trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội cũng còn nhiều bất cập, hạn chế, thiếu sót do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan Hồ sơ của mảnh đất bị thiếu, thậm chí

bị thất lạc.Trong quá trình chuyển đổi, chuyển nhượng đất đai, nhiều trường

Trang 11

3

hợp không đăng ký vào sổ địa chính, dẫn đến tranh chấp giữa chủ sử dụng cũ

và chủ sử dụng mới…Điều này đặt ra cho công tác quản lý Nhà nước về địa chính tại địa bàn Quận Hai Bà Trưng nói riêng và cả nước nói chung cần khắc phục các hạn chế, tồn tại trong thời gian tới

Xuất phát từ thực tế trên, việc nghiên cứu vấn đề “Quản lý nhà nước về

địa chính từ thực tiễn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội” có ý nghĩa cả

về mặt lý luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu

Đã có một số công trình nghiên cứu về địa chính Nhà nước, như:

Đề tài “Nghiên cứu hoàn chỉnh lý luận địa chính Nhà nước và xây dựng

bộ HSĐC các cấp giai đoạn 1983 - 1993” của nhóm nghiên cứu thuộc Tổng

cục Quản lý đất đai, chủ nhiệm đề tài là kỹ sư Nguyễn Trinh Thạch và các cán

bộ tham gia nghiên cứu: kỹ sư Đặng Thị Vân, Phạm Tiến Lợi, Bùi Sỹ Dũng, Nguyễn Hữu Thắng Các tác giả đã đưa ra được một hệ thống lý luận về QLNN

về địa chính, bao gồm nhiều khái niệm, nội dung và nguyên tắc cơ bản của quản lý nhà nước về địa chính Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, phân tích tình hình sử dụng đất đai và cơ cấu kinh tế xã hội của nước ta, đã xác định được nội dung và nhiệm vụ địa chính trong thời gian qua, vạch ra hướng tiến hành công tác địa chính trong thời gian tới Đề tài đã xác lập được nội dung các bước xây dựng hệ thống HSĐC trước mắt cho các đơn vị sử dụng và đơn vị Nhà nước cấp xã, đảm bảo tính khoa học, dễ sử dụng, dễ lưu trữ, phù hợp với trình độ và thực tế khó khăn hiện nay ở địa phương Đặc biệt, đề tài đã chú ý xem xét đến những điều kiện khó khăn hiện tại và những tiến bộ khoa học kỹ thuật có thể ứng dụng được như sử dụng máy tính điện tử trong các khâu xây dựng bản đồ, tính toán diện tích, thống kê và lưu trữ số liệu, ứng dụng ảnh máy bay trong công tác bản đồ và thống kê đất đai

Trang 12

4

Đề tài“Hoàn thiện hệ thống HSĐC phục vụ yêu cầu đổi mới quản lý Nhà nước về đất đai giai đoạn 1983 - 1993” của Tổng cục quản lý đất đai do chủ

nhiệm đề tài là kỹ sư Bạch Gia Tế cùng các cán bộ tham gia nghiên cứu: kỹ

sư Trần Hùng Phi, Bùi Ngọc Tuân và Đỗ Đức Đôi Công trình nghiên cứu này được coi như một đề tài lớn, phạm vi nghiên cứu rộng cả về lĩnh vực chuyên môn và hoạt động quản lý nhà nước, hướng nghiên cứu giải quyết các yêu cầu bức xúc hiện nay trong quản lý địa chính Đề tài đã được ứng dụng trong công tác đăng ký, lập HSĐC và cấp GCNQSỬ DỤNG ĐẤT

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Xuân Hòa, Trường Đại học Nông

nghiệp Hà Nội năm 2010 với đề tài ”Thực trạng và giải pháp hoàn thiện công

tác lập HSĐC ở nước ta” Tác giả đã phân tích thực trạng lập HSĐC trong

phạm vị cả nước tại cấp huyện và cấp xã, tìm nguyên nhân, tồn tại trong việc lập HSĐC ảnh hưởng đến việc QLNN về địa chính và làm chậm quá trình cấp GCNQSỬ DỤNG ĐẤT cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Tiến Lưu với đề tài “Đánh giá

thực trạng công tác lập và quản lý HSĐC thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa”, năm 2013 Từ vấn đề cơ sở khoa học về lập HSĐC, tác giả đã khái

quát tình hình lập và quản lý HSĐC ở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, chỉ ra các kết quả đạt được, khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân và đưa ra giải pháp để hoàn thiện, đẩy mạnh công tác lập và quản lý HSĐC

Tác giả Phạm Văn Cường (2012) đề tài“Xây dựng cơ sở dữ liệu địa

chính đa chức năng phục vụ quản lý đất đai và bất động sản tại khu vực phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh”, Đại học Nông -

Lâm Thái Nguyên Từ vấn đề cơ sở khoa học về cơ sở dữ liệu địa chính, tác giả đã khái quát tình hình lập và quản lý cơ sở dữ liệu địa chính ở phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, chỉ ra các kết quả đạt được, khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân Từ đó, tác giả đưa ra giải pháp để xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính

Trang 13

5

Tuy nhiên, cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lý nhà nước về địa chính trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, vì vậy đề tài của học viên không trùng lặp với các đề tài thạc sĩ đã được bảo vệ

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích

Phân tích thực trạng quản lý địa chính trên địa bàn quận Hai Bà Trưng thấy những kết quả đạt được, hạn chế tồn tại, tìm ra nguyên nhân của các hạn chế, từ đó đề xuất giải pháp khả thinhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về địa chính trên địa bàn quận Hai Bà Trưng

3.2 Nhiệm vụ

- Hệ thống hóa kiến thức khoa học của QLNN vềđịa chính

- Khảo sát, đánh giá thực trạng, phân tích những thuận lợi, khó khăn, tồn tại trong công tác quản lý địa chính trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, qua

đó tìm ra giải pháp để khắc phục các tồn tại và hạn chế trong công tác quản lý địa chính trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu việc quản lý về mốc giới địa chính, địa giới hành chính, HSĐC và các công tác khác có liên quan đến địa chính tại Quận Hai Bà Trưng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Công tác quản lý địa chính trên địa bàn quận Hai Bà Trưng,Thành phố

Hà Nội từ khi có Luật đất đai 1993 đến hết năm 2015

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1.Phương pháp luận

Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, đây là hệ thống lý

Trang 14

6

luận nền tảng đối với toàn bộ khoa học xã hội ở nước ta, tức là đặt việc xây dựng hệ thống địa chính trong mối quan hệ của đất đai cũng như nội dung khác của quản lý nhà nước

5.2.Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài nghiên cứu, tác giả luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể như sau:

- Phương pháp điều tra khảo sát: Đây là phương pháp hỗ trợ, bổ sung nhưng rất quan trọng Thông qua điều tra, khảo sát sẽ thu thập số liệu, tài liệu, thông tin cần thiết cho mục đích đánh giá thực trạng quản lý bao gồm trách nhiệm lập, cập nhật, xác định ranh giới, mốc giới và bảo quản các tài liệu, hồ sơ

tại quận Hai Bà Trưng

- Phương pháp thống kê: Là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong quá trình nghiên cứu các vấn đề kinh tế, xã hội Đây là phương pháp các cơ quan QLNN tiến hành điều tra, khảo sát, tổng hợp và sử dụng các số liệu trên

cơ sở tính toán Qua số liệu thống kê phân tích được tình hình, nguyên nhân của sự vật, hiện tượng có thể tìm ra được tính quy luật và rút ra những kết luận đúng đắn về sự vật, hiện tượng đó Cho nên, việc sử dụng phương pháp này nhằm phân tích thống kê các số liệu để nắm được tình hình, phân loại số lượng, chất lượng của đất đai

- Phương pháp phân tích, đánh giá tổng hợp tức là sử dụng để phân tích làm rõ thực trạng quản lý địa chính trên địa bàn quận từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá đối với yêu cầu QLNN về địa chính và sử dụng đất của quận Hai Bà Trưng

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Về mặt lý luận

Đề tài được thực hiện với mong muốn hệ thống hóa về mặt lý luận cho công tác QLNN về địa chínhtrong phạm vi toàn quốc Làm rõ những khái niệm, sự cần thiết và nội dung của QLNN về địa chính, các yếu tố tác động đến công tác QLNN về địa chính

Trang 15

7

6.2 Về mặt thực tiễn

Luận văn phân tích thực trạng lập và quản lý địa chính trên địa bàn Quận, tìm nguyên nhân tồn tại, bất cập, từ đó đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn chỉnh công tác quản lý nhà nước về địa chínhtại quận Hai

Bà Trưng Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên

và học viên, cán bộ làm công tác liên quan đến quản lý nhà nước về địa chính

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn có kết cấu gồm 3 chương như sau:

- Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về địa chính

- Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về địa chính trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội

- Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm quản lý nhà nước về địa chính từ thực tiễn quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội

Trang 16

8

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐỊA CHÍNH

1.1 Quản lý nhà nước về địa chính

1.1.1 Khái niệm về quản lý nhà nước

Quản lý là một hoạt động tất yếu khách quan, diễn ra ở mọi tổ chức có quy

mô từ nhỏ đến lớn, từ cấu trúc đơn giản đến phức tạp Xã hội ngày càng phát triển, trình độ hợp tác và phân công lao động ngày càng cao thì yêu cầu về công tác quản lý ngày càng hoàn thiện Quản lý với tư cách là một khoa học độc lập thì còn rất mới, như Laurence Lowell nhận xét : “quản lý là nghiệp xưa nhất và

là nghề mới nhất” Những tư tưởng về quản lý xã hội đã xuất hiện từ xa xưa, nhưng càng về sau thì mới xuất hiện thêm các trường phái quản lý Cho đến nay

có một cách tiếp nhận được sự ủng hộ của nhiều nhà khoa học và quản lý thực tiễn về khái niệm quản lý là sự tác động có tổ chức, có đích hướng của chủ thể

lên đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu dự kiến

Trong hệ thống các chủ thể quản lý xã hội, Nhà nước là chủ thể duy nhấtquản lý mọi mặt của xã hội bằng nhiều biện pháp, công cụ khác nhau, trong

đó có công cụ chủ yếu quản lý bằng pháp luật Cụ thể như sau:

- Nhà nướcquản lý toàn bộ những người sống và làm việc trên lãnh thổ quốc gia, bao gồm công dân và những người không phải làcông dân

- Nhà nước quản lý toàn diện là Nhà nướcquản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ Nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực đời sống xã hội có nghĩa

là các cơquan quản lý điều chỉnh mọi khía cạnh hoạt động của xã hội trên cơ sở pháp luậtquy định

- Nhà nướcquản lý bằng pháp luật là Nhà nước lấy pháp luật làm công

cụ xử lý các hành vi vi phạm pháp luật theo luật định một cách nghiêm minh

Trang 17

9

Vậy: Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà

nước được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội,trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước

1.1.2 Khái niệm về địa chính

Ngày nay, danh từ “địa chính” không còn xa lạ với đối với người dân ở Việt Nam cũng như trên thế giới vì nó là một lĩnh vực gắn bó với đời sống của con người, nó liên quan đến quyền sở hữu bất động sản gắn với đất và quyền sử dụng đất, một giá trị kinh tế lớn đối với mỗi con người Địa chính chiếm một vị trí đặc biệt trong xác định bằng chứng pháp lý về quyền sở hữu, quyền sử dụng đất và là cơ sở để Nhà nước xác định nghĩa vụ tài chính của người sử dụng bất động sản đối với Nhà nước

Địa chính là tổng hợp các loại bản đồ đo đạc về đất và các tư liệu xác định rõ vị trí, ranh giới, phân loại, số lượng, chất lượng của đất đai, tài sản trên đất, quyền sử dụng đất làm cơ sở cho việc phân bổ, thu thuế đất, quản lý

địa chính thông qua việc lập, cập nhật, và bảo quản các tài liệu địa chính.Có

thể hiểu ngắn gọn,địa chính là khoa học về đo đạc bản đồ và quản lý địa chính trên cơ sở dữ liệu do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tạo ra, bởi vậy,địa chính là công việc của Nhà nước mà trọng tâm của công việc là lập HSĐC và quản lý HSĐC

“Địa” là đất,mảnh đất, thửa đất, lãnh thổ, còn “Chính” là công việc của

Nhà nước đề ra các phép tắc, luật lệ để quản lý đất đó (Theo Từ điển Hán -

Việt năm 1998) Chi tiết về“địa chính” được hiểu các công việc sau:

Thứ nhất, địa chính là bản kê về tài sản gắn liền với đất và quyền sử dụng

đất, trong đó chứa đựng những thông tin đầy đủ về chủ sử dụng đất, loại đất, vị

trí tọa lạc của thửa đất

Trang 18

10

Thứ hai, địa chính là việc quản lý địa chính do cơ quan Nhà nước có thẩm

quyền tiến hành gồm ba khâu cơ bản:lập BĐĐC, thống kê số lượng, đánh giá chất lượng làm căn cứ tính thuế, xác định khía cạnh pháp lý của đất đai nhằm quy định nghĩa vụ và quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu, chủ sử dụng đất, sản phẩm của ba khâu này phải được thể hiện cơ bản trong HSĐC HSĐC còn được

gọi là hồ sơ pháp lý về thửa đất

Vậy, quản lý nhà nước về địa chính là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm thực hiện bảo vệ quyền sở hữu Nhà nước về đất đai, điều chỉnh các lợi ích của Nhà nước Quản lý địa chính dựa trên cơ sở Hiến pháp, luật và các văn bản pháp luật khác Việc quản lý được thực hiện thông qua hệ

thống Nhà nước mà trọng tâm của công việc là lập và quản lý HSĐC

1.1.3 Khái niệm về HSĐC

Khái niệm về HSĐCđược quy định tại Thông tư số BTNMT ngày 19/5/2014 của B.TNMT.Điều 2, Thông tư 24/2014 qui định: HSĐC là tập hợp tài liệu thể hiện thông tin chi tiết về hiện trạng và tình trạng pháp lý của việc quản lý, sử dụng các thửa đất, tài sản gắn liền với đất để phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước về địa chính và nhu cầu thông tin của các

24/2014/TT-tổ chức, cá nhân có liên quan

Như vậy, HSĐC là hệ thống tài liệu, số liệu, bản đồ, sổ sách… chứa đựng những thông tin cần thiết về các mặt tự nhiên, kinh tế, xã hội, pháp lý của đất đai

và những thông tin này chúng ta có được trong quá trình đo đạc lập BĐĐC, đăng

ký ban đầu và đăng ký biến động đất đai, cấp GCNQ sử dụng đất

Tất cả các thông tin về tự nhiên của đất đai được lấy thông qua đo đạc khảo sát; còn các yếu tố kinh tế của đất đai lấy thông tin từ việc phân loại, đánh giá, phân hạng đất đai là điều kiện để xác định giá đất và thu thuế Yếu

tố xã hội về đất đai lấy từ hoạt động của Nhà nước về quyền sở hữu tài sản trên đất, quyền sử dụng đất, các quan hệ về chuyển đổi, chuyển nhượng, cho

Trang 19

11

thuê, thừa kế, thế chấp… Còn yếu tố pháp luật của đất đai thì căn cứ vào quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ví dụ như quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, các quy định pháp luật về giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất…

Như vậy, tất cả các thông tin đất đai ở trong HSĐC như trên là cơ sở

để thực hiện quản lý nhà nước về địa chính, để bảo hộ quyền hợp pháp của người sử dụng đất

1.1.4 Các loại hồ sơ địa chính

HSĐC bao gồm các tài liệu, số liệu, bản đồ, sổ sách … chứa đựng toàn

bộ thông tin về đất đai Nó là sản phẩm do người quản lý có thẩm quyềnlập lên và mỗi cơ quan quản lý lập loại HSĐC khác nhau Vì thế, có các loại HSĐC như sau:

- Hệ thống địa bạ: là một hệ thống hồ sơ ghi chép, cập nhật những dữ

liệu cơ bản về tình hình đất đai, chứa đựng những thông tin về đất đai do chính quyền quản lý Hệ thống địa bạ chứa đựng các thông tin về vị trí, hình thể, kích thước, ranh giới, loại đất, tên chủ sử dụng đất

Hệ thống địa bạ bao gồm: thứ nhất sổ địa bạ là sổ sách đăng ký thông tin chứa dựng thông tin về đất đai, thường do cơ quan chính quyền cấp xã (cấp cơ sở) cấp và quản lý; thứ hai là các giấy tờ chứng minh xác định quyền

sử dụng đất, những giấy tờ này do người nắm giữ quản lý Việc sử dụng hệ thống địa bạ đơn giản, dễ thực hiện, là hệ thống đạt được mục tiêu cấp cơ sở,

sử dụng trong phạm vi hẹp Bên cạnh những ưu điểm trên thì nó có nhược điểm đó là thông tin về đất đai không chính xác, không thống nhất trong công tác quản lý địa chính do việc quản lý chỉ sử dụng ở đơn vị hành chính nhỏ và quản lý trên từng mảnh đất, lô đất Nếu quản lý đất trong phạm vi rộng hơn thì khó thực hiện, sử dụng trong trường hợp điều kiện kỹ thuật chưa phát triển, điều kiện đất đai ít biến động, ít có sự thay đổi về mục đích sử dụng, cũng như chủ thể sử dụng và các quan hệ sử dụng

Trang 20

12

- Hệ thống bằng khoán (bằng khoán điền thổ): là hệ thống hồ sơ quản

lý địa chính một cách thống nhất, trên cơ sở đó hệ thống BĐĐC cùng với các

hệ thống quản lý hoàn chỉnh và đồng bộ Hệ thống này được áp dụng thời Pháp thuộc ở nước ta

Hệ thống này ra đời sau khi hệ thống địa bạ ra đời Sự ra đời của hệ thống này là khách quan bởi cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội các quan hệ đất đai phát triển đặc biệt là quan hệ hàng hoá tiền tệ (mua - bán) cho thuê, chuyển nhượng… Do đó mà hệ thống thông tin về quản lý địa chính phát triển đó là việc xác lập BĐĐC

Nội dung của hệ thống bằng khoán bao gồm: hệ thống BĐĐC quy định thống nhất trong cả nước; thứ hai là hệ thống hồ sơ sổ sách để ghi chép, quản lý thông tin về mảnh đất, và cuối cùng là GCNQ sử dụng đất trong cả nước Với nội dung trên thì hệ thống bằng khoán đảm bảo thông tin thống nhất, chặt chẽ, việc quản lý diễn ra trên cả nước Việc sử dụng hệ thống này tạo điều kiện để phát triển quan hệ hàng hoá tiền tệ về đất đai một cách chính xác, đầy đủ sẽ ngăn chặn tình trạng thông tin ngầm tạo điều kiện cho thị trường bất động sản phát triển lành mạnh Đồng thời cho phép điều chỉnh quy hoạch và thay đổi mục đích sử dụng đất một cách linh hoạt

Với những ưu điểm trên thì hệ thống bằng khoán cũng có những nhược điểm của nó như: để tạo được hệ thống bằng khoán thì cần phải có chi phí đầu

tư rất lớn, hệ thống vận hành quản lý phải có đủ trình độ và phương tiện, các cán bộ phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao

Bên cạnh việc sử dụng hai hệ thống trên thì có thể sử dụng hệ thống hỗn hợp tức là sử dụng đồng thời hai hệ thống địa bạ và bằng khoán Việc kết hợp hai hệ thống trên không có nghĩa là sử dụng hai thông tin hệ thống trên một mảnh đất mà có loại thì sử dụng hệ thống địa bạ thì tốt, đơn giản, dễ làm, nhưng có loại đất thì phải sử dụng thông tin đất đai Thật vậy, có những những

Trang 21

13

loại đất ít biến động thì ta nên sử dụng hệ thống địa bạ sẽ đơn giản mà vẫn đảm bảo được thông tin đầy đủ Còn đối với đất đô thị, công nghiệp có rất nhiều biến động xảy ra nếu sử dụng hệ thống địa bạ thì thông tin về thửa đất sẽ không chính xác bằng việc sử dụng hệ thống bằng khoán Vì với những loại đất đô thị, công nghiệp mang nhiều yếu tố kinh tế, nó chứa đựng nhiều yếu tố về vốn và

sử dụng vốn nên rất cần thông tin được cập nhật đầy đủ, chính xác có như thế mới tạo được sự công bằng trong việc sử dụng đất

Qua đó cho ta thấy được việc lập và quản lý HSĐC có vai trò và ý nghĩa rất lớn trong việc quản lý địa chính Thế nhưng vấn đề đặt ra là ta nên

sử dụng HSĐC nào cho mục đích nào là tốt nhất và cần thiết, hoàn thiện loại

hồ sơ như thế nào để phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về địa chính là tốt nhất

HSĐC là hệ thống tài liệu, số liệu, bản đồ, sổ sách … chứa đựng đầy

đủ các thông tin về đất đai Các tài liệu cấu thành HSĐC bao gồm:

+ BĐĐC: Tuỳ theo điều kiện ở từng địa phương bản đồ này có mức độ khác nhau về chất lượng BĐĐC gồm các loại như: BĐĐC có tọa độ theo hệ tọa độ thống nhất; bản đồ giải thửa toàn xã đo vẽ bằng nhiều phương pháp khác nhau; hồ sơ kỹ thuật thửa đất đối với đất đô thị hoặc sơ đồ trích thửa đối với thửa đất nông, lâm nghiệp nhiều chủ sử dụng nhưng ranh giới giữa các chủ chưa thể hiện bằng bờ cố định; bản đồ trích lục ô phố, xứ đồng, thôn ấp, bản hoặc từng thửa đất trong trường hợp chưa có BĐĐC mà có nhu cầu cần đăng ký lập hồ sơ, cấp GCNQ sử dụng đất đến hộ gia đình, cá nhân, từng tổ chức trên từng thửa đất

+ Sổ địa chính gồm Sổ địa chính ở nông thôn và Sổ địa chính thành thị

Sổ địa chính và BĐĐClà hai tài liệu chứa đựng thông tin mang tính pháp lý của đất đai

Trang 22

14

+ Sổ mục kê: thường dùng cho khu vực nông thôn được dùng để thống

kê, kiểm kê đất đai tiện lợi hơn, vì hệ thống công nghệ thông tin nhiều địa phương chưa tốt

+ Sổ cấp GCNQ sử dụng đất

+ Sổ theo dõi biến động đất đai

+ Biểu số liệu thống kê diện tích: cho biết diện tích từng đơn vị đất đai

và từng đơn vị hành chính giúp cho nhà quản lý có được thông tin cụ thể

Tất cả các tài liệu trên phục vụ cho công tác trực tiếp quản lý địa chính, đây là hồ sơ thường trực, hồ sơ này được sử dụng thường xuyên.Bên cạnh các tài liệu được sử dụng thường xuyên thì có tài liệu chỉ được sử dụng khi cần thiết có thể sử dụng như tài liệu gốc lưu trữ Các tài liệu này dùng xác nhận thông tin đảm bảo hệ thống hồ sơ trên mang tính pháp lý và dùng để thẩm tra, kiểm tra Các tài liệu này hình thành trong quá trình đo đạc, lập BĐĐC gồm toàn bộ thành quả giao nộp theo luận chứng kinh tế kỹ thuật đã được duyệt của mỗi công trình đo vẽ, lập BĐĐC và các thông tin, tư liệu hình thành trong quá trình đăng ký lần đầu và đăng ký biến động đất đai gồm: các giấy tờ do chủ sử dụng đất nộp khi kê khai đăng ký; đơn kê khai đăng ký, cấp giấy tờ pháp lý về nguồn gốc đất đai; hồ sơ, tài liệu được hình thành trong quá trình thẩm tra, xét duyệt đơn của cấp xã, huyện; các văn bản pháp lý của cấp có thẩm quyền trong việc thực hiện đăng ký đất đai, cấp GCNQ sử dụng đất: quyết định thành lập hội đồng đăng ký đất, quyết định cấp GCNQ sử dụng đất, quyết định xử lý các vi phạm pháp luật đất đai …; hồ sơ về kiểm tra kỹ thuật, nghiệm thu sản phẩm ĐKĐĐ để xét cấp GCNQ sử dụng đất

1.1.6 Mục đích của việc và quản lý địa chính

Việc quản lý địa chính việc quản lý của Nhà nước đối với đất đai, đồng thời bảo vệ quyền sử dụng hợp pháp của các cá nhân và tổ chức Nhà nước thực hiện việc đăng ký đất đai, lập HSĐC, cấp GCNQ sử dụng đất cho các chủ

Trang 23

rõ thông tin về thửa đất thông qua việc đăng ký và thiết lập HSĐC

Để Nhà nước có những quyết định về mục đích sử dụng đất thì phải nắm rõ toàn bộ thông tin về đất đai, phải dựa vào HSĐC Nếu không có HSĐC thì Nhà nước không quản lý được việc sử dụng đất có đúng mục đích hay không, có hiệu quả hay không Còn đối với người sử dụng đất nếu không thực hiện việc đăng ký đất đai thì người sử dụng đất sẽ không yên tâm khai thác và đầu tư

Thông qua việc quản lý Nhà nước sẽ quy định trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và người sử dụng đất trong việc chấp hành pháp luật

Thực hiện việc lập HSĐC là điều kiện đảm bảo để Nhà nước quản lý chặt chẽ toàn bộ quỹ đất trong phạm vi lãnh thổ, đảm bảo cho đất được sử dụng đầy đủ, tiếtkiệm và có hiệu quả cao Thực hiện lập HSĐC để tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước Nhà nước muốn quản lý chặt chẽ toàn bộ đất đai trước hết cần nắm vững các thông tin về tình hình đất đai bao gồm:

Đối với đất đai Nhà nước đã giao quyền sử dụng đất, các thông tin cần biết gồm: tên chủ sử dụng, hình thể, vị trí, kích thước, diện tích, hạng đất, mục đích sử dụng, hạn mức sử dụng đất, những ràng buộc về quyền sử dụng, những thay đổi trong quá trình sử dụng đất và cơ sở pháp lý

Đối với đất chưa giao quyền sử dụng, các thông tin cần biết: vị trí, hình thể, diện tích, loại đất Tất cả các thông tin trên phải được thể hiện chi tiết đến từng thửa đất Đây là đơn vị nhỏ nhất chứa đựng các thông tin về tình hình tự nhiên, kinh tế, xã hội và pháp lý của đất đai theo yêu cầu quản lý nhà nước về

địa chính

Trang 24

16

Yêu cầu thông tin đất đai trong quản lý nhà nước về địa chính

Với những yêu cầu về thông tin đất đai đó, qua việc thực hiện đăng ký đất đai, thiết lập HSĐC đầy đủ, chi tiết đến từng thửa đất trên cơ sở thực hiện đồng loạt các nội dung: đo đạc lập BĐĐC, quy hoạch sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất… Nhà nước mới thực sự quản lý được tình hình đất đai trong phạm vi lãnh thổ và thực hiện quản lý chặt chẽ mọi biến động theo đúng pháp luật

1.1.7 Vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước về địa chính:

Luật pháp là công cụ quản lý không thể thiếu được của Nhà nước Từ xưa đến nay Nhà nước luôn thực hiện quyền cai trị của mình, trước hết bằng luật pháp Nhà nước dùng luật pháp tác động vào ý chí của con người để điều chỉnh hành vi của con người Đối với công tác quản lý nhà nước về địa chính, luật pháp có vai trò chủ yếu sau đây:

13- Thay đổi quyền sử dụng

1- Bản đồ

2- Sổ mục kê

3- Sổ địa chính 4- Giấy chứng nhận quyền SỬ DỤNG ĐẤT

5- Hồ sơ chủ

SỬ DỤNG 6- Quyết định pháp lý

Trang 25

Luật pháp là công cụ bắt buộc các tổ chức và cá nhân thực hiện nghĩa vụ thuế và nghĩa vụ khác Nghĩa vụ của các tổ chức và cá nhân sử dụng đất và nhà ở, trước hết là nghĩa vụ thuế có tính chất bắt buộc Song, không phải lúc nào nghĩa vụ đó đều được các tổ chức cá nhân tự giác thực hiện Điều này không những để duy trì trật tự xã hội, mà còn để cho các tổ chức và cá nhân

sử dụng đất và nhà ở thấy được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình

Thông qua công cụ luật pháp Nhà nước đảm bảo sự bình đẳng, công bằng giữa các tổ chức và cá nhân sử dụng đất và nhà ở cũng như đảm bảo sự kết hợp hài hoà các lợi ích Trong luật pháp, thông qua những điều khoản bắt buộc, thông qua các chính sách miễn giảm thưởng phạt… cho phép Nhà nước thực hiện quyền bình đẳng cũng như giải quyết tốt mối quan hệ về lợi ích trong lĩnh vực đất đai và nhà ở giữa các tổ chức và cá nhân

Luật pháp là công cụ tạo điều kiện cho các công cụ quản lý khác, các chính sách chế độ của Nhà nước thực hiện có hiệu quả hơn Thông qua việc giám sát, kiểm tra, xử phạt khen thưởng … công cụ luật pháp với chức năng canh giữ điều chỉnh, và xử lý sẽ tạo điều kiện cho các công cụ chính sách, chế

độ Nhà nước thực hiện an toàn thuận lợi hơn và có hiệu quả cao hơn

1.1.8 Các công cụ luật pháp chủ yếu trong quản lý nhà nước về địa chính:

Hệ thống luật của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến lĩnh vực quản lý về đất đai và nhà ở, có rất nhiều loại khác nhau như: Hiến pháp; Luật pháp về đất đai; Pháp lệnh về đất

Trang 26

18

đai và nhà ở; Các thông tư, Chỉ thị… của Nhà nước, Trung ương và của các chính quyền địa phương; của các bộ, ngành có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đất đai và nhà ở

1.1.9 Ban hành văn bản pháp luật và hướng dẫn thực hiện văn bản đó:

Văn bản pháp luật về quản lý Nhà nước về địa chính là những văn bản không chỉ cung cấp thông tin mà còn thể hiện ý chí mệnh lệnh của các cơ quan quản lý đối với người sử dụng đất nhằm thực hiện các quy định luật lệ của Nhà nước

Công tác xây dựng văn bản pháp luật về quản lý sử dụng đất là một nội dung quan trọng không thể thiếu trong hoạt động quản lý Nhà nước về địa chính Dựa trên việc ban hành các văn bản pháp luật này, Nhà nước buộc các đối tượng sử dụng đất phải thực hiện các quy định về sử dụng theo một khuôn khổ do Nhà nước đặt ra Văn bản pháp luật quản lý sử dụng đất biểu hiện quyền lực của các cơ quan quản lý Nhà nước về địa chính, nhằm lập lại một trật tự pháp lý theo mục tiêu của các cơ quan quản lý Văn bản pháp luật nói chung và văn bản pháp luật quản lý sử dụng đất nói riêng mang tính chất Nhà nước Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân Vì vậy văn bản pháp luật đất đai vừa thể hiện được ý chí của Nhà nước vừa thể hiện được nguyện vọng của đối tượng sử dụng đất

Thông tin quản lý có thể được truyền tải dưới dạng vô tuyến, fax… nhưng văn bản vẫn giữ một vị trí quan trọng Nó là phương tiện truyền đạt thông tin chính xác và bảo đảm các yêu cầu về mặt pháp lý chặt chẽ nhất Ngoài ra, văn bản pháp luật đất đai còn là cơ sở để giúp cho các cơ quan quản

lý tiến hành kiểm tra, thanh tra giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng đất Kiểm tra là một khâu tất yếu để đảm bảo cho việc sử dụng đất đạt hiệu quả Nếu không có kiểm tra thì các Nghị quyết, nghị định, chỉ thị được ban hành chỉ là hình thức

Trang 27

Văn bản pháp quy là các văn bản dưới luật, chứa đựng các quy tắc xử

sự chung được áp dụng nhiều lần do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo một trình tự thủ tục nhất định nhằm cụ thể hoá luật, pháp lệnh Văn bản pháp quy được ban hành nhằm đưa ra các quy phạm pháp luật thể hiện quyền lực của Nhà nước được áp dụng vào thực tiễn Đó là phương tiện để quản lý nhà nước, để thể chế hoá và thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, quyền làm chủ của nhân dân Mặt khác nó còn cung cấp các thông tin quy phạm pháp luật mà thiếu nó thì không thể quản lý được

Văn bản pháp quy bao gồm: Nghị định, quy định, chỉ thị, thông tư… nhằm hướng dẫn thực hiện các quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, giải thích các chủ trương chính sách và đề ra các biện pháp thi hành các chủ trương đó

1.2 Các yếu tố tác động đến công tác quản lý nhà nước về địa chính 1.2.1 Yếu tố thể chế

Hệ thống thể chế hành chính Nhà nước là toàn bộ các quy định, quy tắc

do Nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh hoạt động của các chủ thể quản lý hành chính Nhà nước, tạo nên khuôn khổ pháp lý cho tất cả các hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước và các cán bộ, công chức có thẩm quyền Xuất pháp từ khái niệm trên cho thấy thể chế có ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của bộ máy hành chính Nhà nước bao gồm cả công tác quản lý địa chính

Trang 28

sử dụng đất

Ngược lại, nếu hệ thống thể chế không tốt, nhiều bất cập, hạn chế, chậm được sửa đổi, bổ sung, không phù hợp với thực trạng và yêu cầu của quản lý thì sẽ kìm hãm công tác quản lý nhà nướcvề địa chính Như vậy, thể chế hành chính là một nhân tố quan trọng quyết định đến sự thành công của quản lý địa chính

1.2.2 Yếu tố con người

Một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến hiệu quả của công tác quản lý địa chính đó là yếu tố con người Con người là trung tâm của mọi hoạt động quản lý nhà nướctừ lập kế hoạch, thực thi kế hoạch, lãnh đạo điều hành và kiểm soát công tác địa chính, tất cả đều do con người thực hiện Do

đó, yếu tố con người tác động đến công tác quản lý nhà nướcvề địa chínhbao gồm: cán bộ, công chức địa chính; các cấp lãnh đạo và cá nhân, tổ chức sử dụng đất Cả hai chủ thể này đều ảnh hưởng đến thành công của công tác quản lý địa chính

Đối với cán bộ, công chức: Đội ngũ cán bộ, công chức là người trực tiếp thực hiện các công việc liên quan đến địa chính Xuất phát từ yêu cầu của công tác quản lý nhà nướcvề địa chính đòi hỏi nội dung thông tin phải thể hiện chính xác, thống nhất Do vậy, cần có một đội ngũ cán bộ, công chức có chuyên môn,

có năng lực, có trách nhiệm, có ý thức để thực thi tốt công tác này

Trang 29

21

Đối với cá nhân, tổ chức là người được phục vụ, người được yêu cầu cung cấp các thông tin,thì họ cần nhận thức đúng nghĩa vụ khi được phục vụ và phải tuân thủ trình tự, quy định về cung cấp thông tin Trong quá trình đề nghị nếu có những điểm bất cập, chưa phù hợp với thực tế, công dân có thể tham gia đóng góp ý kiến để cơ quan có thẩm quyền xem xét cho phù hợp

1.2.3 Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện quản lý nhà nước về địa chính

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo là đặc biệt quan trọng trong quản lý hành chính Nhà nước nói chung và quản lý về địa chính nói riêng Để đạt được thành công trong công tác quản lý về địa chínhcần sự có quan tâm chỉ đạo của Đảng ủy và chính quyền để tạo được sự tập trung, thống nhất về lý luận, chiến lược, biện pháp thực hiện Công tác chỉ đạo được quan tâm, thực hiện quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm thì việc tổ chức thực hiện sẽ đồng bộ, hiệu quả, không để tình trạng làm cho có hay làm theo phong trào Hơn nữa, công tác lãnh đạo còn được thể hiện qua việc kiểm soát, giám sát việc thực hiện nhiệm

vụ của công chức, cơ quan hành chính

1.2.4 Tổ chức bộ máy chuyên trách

Hệ thống cơ quan Quản lý nhà nướcvề địa chính được thành lập thống nhất từ cấp Trung ương đến cơ sở Cơ quan cấp Bộ trực thuộc Chính phủ Cơ quan quản lý địa chính địa phương được thành lập ở tỉnh, Thành phố trực thuộc TW, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Cơ quan quản lý ở địa phương có Văn phòng đăng ký đất đai, cấp xã thì có cán bộ địa chính Cơ quan quản lý địa chính cấp nào thuộc cơ quan hành chính Nhà nước cấp đó và

có trách nhiệm giúp UBND cấp đó trong việc quản lý địa chính ở tại địa phương Điều này cho thấy, tổ chức bộ máy của các cơ quan hành chính có ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý nhà nướcvề địa chính

Trang 30

22

Vì vậy, việc thực hiện Quản lý nhà nước về địa chính do các cấp (sở tài nguyên và môi trường, Phòng tài nguyên và môi trường, UBND cấp xã) thực hiện nên việc quản lý địa chính có đạt hiệu quả hay không phụ thuộc vào tổ chức cơ cấu bộ máy hành chính Nhà nước Nếu bộ máy tinh gọn, rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, bố trí công chức theo năng lực, vị trí việc làm, có quy chế phối hợp giữa các cấp, các ngành thì công tác quản lý địa chính sẽ đạt hiệu quả cao Ngược lại, việc quản lý địa chính sẽ không hiệu quả nếu bộ máy thực hiện yếu kém về năng lực, trách nhiệm, không linh hoạt trong phối hợp giữa các cấp, các ngành Do đó, công tácquản lý về địa chính

có hiệu quả thì yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải cải cách tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước

Thực trạng bộ máy hành chính nhà nước còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian, nhiều đầu mối rườm rà, cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính chưa hợp lý, còn chồng chéo, chưa phân định rõ chức năng và quyền hạn dẫn đến hiệu lực và hiệu quả quản lý hành chính nhà nước, quản lý về địa chính đáp ứng nhu cầu của công tác quản lý, nhu cầu cung cấp thông tin đất đai của người dân, tổ chức còn thấp Để khắc phục tình trạng này, Chính phủ đã chỉ đạo cải cách tổ chức bộ máy với bốn nội dung là tiến hành tổng rà soát về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức trên cơ sở đó điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức, sắp xếp lại các cơ quan, đơn vị nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo, bỏ trống hoặc trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; Xác lập mô hình tổ chức phù hợp, bảo đảm phân định đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, sát thực tế, hiệu lực, hiệu quả; Xây dựng mô hình chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn phù hợp; Tiếp tục đổi mới phương thức làm việc của cơ quan hành chính Nhà nước ; Cải cách

và triển khai trên diện rộng cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị

sự nghiệp dịch vụ công

Trang 31

23

Đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước là một nhân tố then chốt quyết định đến sự thành công của Quản lý nhà nướcvề địa chính Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước một cách khoa học sẽ nâng cao chất lượng quản lý địa chính, đáp ứng được yêu cầu cung cấp thông tin của người dân, tổ chức, loại bỏ những khâu, những việc rườm rà, không cần thiết Hơn nữa, đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước sẽ nâng cao hiệu quả QLNN, tăng khả năng thích ứng với những thay đổi, đòi hỏi của môi trường trong nước và quốc tế, tạo điều kiện phát triển kinh tế -

xã hội trong nước

1.2.5 Công nghệ thông tin và các yếu tố kỹ thuật khác

Ngày nay, thế giới công nghệ thông tin phát triển ngày càng mạnh, ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần tích cực vào sự tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm thay đổi cơ bản cách quản lý và làm việc của con người Phần cứng cũng như phần mềm trở nên hiện đại và hoàn thiện hơn Người ta sử dụng máy tính để lập cơ

sở dữ liệu địa chính, lúc này hệ thống thông tin đất đai hiện đại ra đời, nó trở thành công cụ đắc lực phục vụ cho việc quản lý địa chính Vì thế, đổi mới là một yêu cầu cấp bách nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý nhà nướcvề đất đai và nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu thông tin địa chính - nhà đất của các tổ chức kinh tế xã hội và của nhân dân

Công nghệ thông tin được ứng dụng trong quản lý hành chính cho việc lưu trữ, trao đổi thông tin, truyền văn bản, giao ban trực tuyến, xây dựng cơ

sở dữ liệu đặc biệt trong lĩnh vực quản lý địa chính thì công nghệ thông tin rất cần thiết cho việc thành lập, số hóa bản đồ, hồ sơ, từ đó tạo hệ thống dữ liệu thống nhất và là cơ sở để giải quyết các thủ tục hành chính về đất đai Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý địa chính đã tạo ra bước đột phá góp phần giải quyết nhanh gọn, giảm phiền hà trong cung cấp thông tin đất đai cho công dân và tổ chức

Trang 32

24

Như vậy, công nghệ thông tin có vai trò quan trọng quyết định đến thành công của công tác quản lý địa chính Công nghệ thông tin đã thay đổi cách thức quản lý địa chính, xây dựng cở sở dữ liệu, thiết lập mối quan hệ, phối hợp

rõ ràng giữa các bộ phận, các ngành, các cấp thông qua phần mềm quản lý, từ

đó quản lý địa chính có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển kinh tế - xã hội

1.3 Sơ lược quản lý nhà nướcvề địa chính qua các thời kỳ phát triển của Việt Nam

Trong hơn 1000 năm Bắc thuộc, hình thức sở hữu tối cao phong kiến về ruộng đất chi phối xã hội Việt Nam Nhà Đường đã áp dụng nhiều chính sách

về đất đai để tạo nguồn thu cho Nhà nước đô hộ Khi giành được độc lập tự chủ, Đinh Bộ Lĩnh làm vua xây dựng Nhà nước Đại Cồ Việt - quyền sở hữu tối cao về nhà vua được xác lập Do vai trò đặc biệt quan trọng của đất đai, các Nhà nước phong kiến Việt Nam đã quan tâm đến công tác quản lý đất đai, mà trước hết là việc đưa ra các chính sách, pháp luật điều tiết các quan hệ về đất đai Chính sách đất đai trước hết tập trung vào việc thu thuế điền và xác định các hình thức sở hữu về đất đai như sở hữu tư nhân, sở hữu công làng xã và sở hữu trực tiếp của Nhà nước - "Đất vua, chùa làng"

Hệ thống hồ sơ địa bạ được khởi xướng bởi Lê Lợi (1428) qua bổ sung

và củng cố thời Lê Thánh Tông (1483) và được hoàn chỉnh dưới triều Gia Long (1819) Địa bạ là hệ thống tài liệu, sổ sách ghi chép về quyền sở hữu đất đai và các thông tin về thửa đất (vị trí, loại, hạng đất, cây trồng, hình thức canh tác,…) được thành lập cho các xã trong cả nước nhưng không có sơ đồ thửa đất kèm theo Căn cứ vào địa bạ và biểu thuế của triều đình hàng năm mà các làng xã lập điền bạ và căn cứ vào điền bạ để thu thuế ruộng đất

Mỗi triều đại (Lý - Trần - Hồ - Lê - Nguyễn) lựa chọn cho mình phương

pháp xử lý các mối quan hệ về đất đai theo cách riêng, phù hợp với từng giai

Trang 33

bạ của thời kỳ này và trở thành một tư liệu lịch sử quý giá của Quốc gia

Thời Pháp thuộc: Trong gần 100 năm Pháp thuộc, thực dân Pháp chú

trọng phát triển chế độ sở hữu lớn về ruộng đất ở Nam Kỳ, duy trì chế độ công điền và chế độ sở hữu nhỏ ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ Hệ thống pháp luật đất đai của Pháp đã thay thế luật Gia Long Hoạt động địa chính cũng có sự thay đổi Tổ chức hệ thống quản lý địa chính trên lãnh thổ Việt Nam theo 3 cấp: cơ quan quản lý Trung ương là Sở địa chính thuộc Thống sứ Bắc kỳ, Khâm sứ Trung kỳ và Thống đốc Nam kỳ, về sau trực thuộc Phủ toàn quyền Đông Dương Cơ quan cấp tỉnh là Ty địa chính; cấp cơ sở làng xã có nhân viên địa chính là trưởng bạ ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và hương bộ ở Nam Kỳ Thực dân Pháp tiến hành đo đạc bản đồ địa hình từ năm 1871 ở Nam Kỳ, sau

đó công việc đo đạc được triển khai khắp lãnh thổ Các bản đồ được xây dựng

để lập HSĐC phục vụ cho việc thu thuế, QLĐĐ

Từ năm 1945- 1959: Sau khi giành độc lập, cơ quan quản lý địa chính

của Phủ toàn quyền Đông Dương là Sở Trước bạ - văn tự- quản thủ điền thổ

và thuế trực thu được Bộ tài chính tiếp nhận (Sắc lệnh số 41 ngày 03 tháng 10

năm 1945 của Chủ tịch nước Hồ Chí Minh), kết thúc hoạt động của cơ quan

Trang 34

26

quản lý địa chính thuộc thực dân Pháp và mở đầu cho hoạt động quản lý địa chính của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Sau đó, ngành địa chính

được thành lập (Sắc lệnh số 75 ngày 29/5/1946 của Chủ tịch nước) với tên gọi

Nha Trước bạ - Công sản - Điền thổ Kèm theo đó là hệ thống các đơn vị trực thuộc ở 3 cấp tỉnh, huyện, xã nhằm duy trì, bảo vệ chế độ sở hữu ruộng đất và thu thuế điển thổ Đến năm 1953, do yêu cầu của kháng chiến, các Ty địa chính được sát nhập vào Bộ canh nông, rồi trở lại Bộ tài chính để phục vụ mục đích thu thuế nông nghiệp

Từ năm 1960 – 1979: Do sự phát triển quan hệ ruộng đất ở nông thôn

và củng cố quan hệ sản xuất XHCN, ngành quản lý địa ruộng đất được thiết

lập (Nghị định số 70/CP ngày 9/12/1960 và nghị định số 71/CP ngày

9/12/1960 của Hội đồng Chính phủ), chuyển từ Bộ tài chính sang Bộ nông

nghiệp với nhiệm vụ quản lý mở mang, sử dụng và cải tạo ruộng đất trong nông nghiệp.Quản lý nhà nướcvề địa chính gồm 3 nội dụng chủ yếu: Lập bản

đồ địa bạ về ruộng đất, thường xuyên chỉnh lý bản đồ và địa bạ sao cho phù hợp với sự thay đổi về hình thể ruộng đất, về quyền sở hữu, sử dụng, về tình hình canh tác và cải tạo ruộng đất.Trong giai đoạn này, việc quản lý hành chính về đất đai đã phát triển hệ thống bộ máy và đội ngũ cán bộ từ TW đến địa phương, mở rộng các nội dung quản lý nhà nướcvề địa chính và HSĐC

Từ năm 1979 - nay:Để tăng cường công tác quản lý nhà nướcvề địa chính,

thống nhất các hoạt động quản lý địa chính vào một hệ thống cơ quan chuyên môn, năm 1979, Tổng cục Quản lý ruộng đất được thành lập Tổng cục Quản lý ruộng đất là cơ quan trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng, thống nhất Quản lý nhà nướcđối với toàn bộ ruộng đất trên lãnh thổ cả nước nhằm phát triển sản xuất, bảo vệ đất đai, bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả cao đối với các loại đất” (Nghị quyết số 548/NQQH ngày 24/5/1979 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội) Cơ quan Quản lý nhà nướcvề địa chính được thành lập theo 3 cấp:

tỉnh, huyện, xã

Trang 35

27

Trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, những năm gần đây, cơ cấu kinh tế nước ta đang có sự chuyển đổi mạnh mẽ từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ kèm theo đó là sự chuyển đổi trong việc sử dụng các nguồn lực lao động, công nghệ, đất đai, tài nguyên thiên nhiên… và sự tác động đến môi trường Theo định hướng thành lập các Bộ đa ngành được tổ chức lại với sự ra đời của Bộ tài nguyên và môi trường năm 2002, Bộ tài nguyên

và môi trường năm 2002 được thành lập (Nghị quyết số 02/2002/QH11 của

Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ nhất ngày 5/8/2002 và Nghị định số 91/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ), là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nướctrong các

lĩnh vực về địa chính; đất đai, tài nguyên, khoáng sản, địa chất, môi trường

1.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về địa chính ở một số nước trên thế giới

Thứ nhất, hệ thống quản lý nhà nước về địa chính ở Cộng hòa liên bang Đức

Là loại địa chính theo hướng pháp lý Bộ HSĐC của Đức bao gồm 1 bình

đồ địa chính và một sổ cái dùng để mô tả, cụ thể là được dùng để định vị và mô

tả tổng thể các thửa ruộng đất và nhà cửa Các thửa đất được hình thành chủ yếu theo quan hệ sở hữu, còn loại hình sử dụng đất được chia loại theo mục đích sử dụng tương đối rộng (đất canh tác, đất trồng cỏ, ruộng nho, đất rừng )Trong mỗi loại đất như trên có thể gồm nhiều hạng đất để tính thuế Giá trị tính thuế

được xác định theo tính chất sử dụng đất một cách chi tiết

Như vậy, khái niệm thửa đất gần gũi với khái niệm lô đất sở hữu, trong đó nhiều thửa đất canh tác có thể gộp chung trong cùng một thửa địa chính, các thửa đất được đánh dấu chính xác trên thực địa bằng cột mốc, được đánh số theo một hệ thống nhận dạng thống nhất, cùng số hiệu ghi trong sổ địa bạ Địa bạ được quản lý bởi các Bang, nhờ có cơ quan điều phối cấp Liên bang và các tiểu

bang tư vấn nên có sự đồng bộ cao

Trang 36

28

Hệ thống địa chính Đức được tin học hóa khá sớm, ngày nay đã trở thành

hệ thống HSĐC đa mục đích

Thứ hại, hệ thống quản lý nhà nước về địa chính của Australia

Australia là một trong những quốc gia áp dụng hệ thống bằng khoán (title System) khá sớm và điển hình Hệ thốngQuản lý nhà nướcvề HSĐC chủ yếu là công tác đăng ký đất đai Torrens được hình thành từ năm 1857 ở bang Nam Australia Trong hệ thống này phải thành lập cơ quan đăng ký đất đai với chức năng đăng ký đất đai và cung cấp thông tin về đất đai và bất động sản cho cộng đồng Trong hồ sơ đăng ký cần kèm theo các chứng thư pháp lý dân sự để chứng minh quyền sở hữu thửa đất Cơ quan quản lý địa chính tiến hành lập hồ sơ, lập

sổ đăng ký để lưu trữ các thông tin đầy đủ, chính xác về vị trí, hình thể, diện tích, thông tin pháp lý của từng thửa đất, chủ sử dụng Khi các thông tin pháp lý được công nhận thì chủ sử dụng được cấp một giấy chứng nhận quyền sở hữu đất

thay cho mọi giấy tờ pháp lý trước đó

Australia đã phát huy thế mạnh của hệ thống quản lý nhà nướcvề HSĐC này từ đầu thế kỷ XX Ngày nay, hệ thống này được tin học hóa và hiện đại hóa theo hướng đa mục đích

Thứ ba, hệ thống quản lý nhà nước về địa chính của Pháp

Ở Pháp, ngay sau thời kỳ cách mạng tư sản năm 1970, Quốc hội lập hiến

đã bãi bỏ thuế thân và chỉ còn lại thuế đất duy nhất đánh vào các diện tích đất đai sử dụng và thu nhập từ đất Năm 1807, Pháp quyết định xây dựng lại hệ thống địa chính dựa trên hệ thống địa chính Napoleon HSĐC trong hệ thống Napoleon gồm:

- Bình đồ giải thửa đo vẽ theo đơn vị xã

- Bản mô tả chú giải cho bình đồ và từng thửa đất

- Sổ địa bạ gốc thống kê tổng hợp theo từng chủ sở hữu dưới dạng một bản kê tài sản và đánh giá tài sản

Trang 37

29

Các tài liệu địa chính có giá trị to lớn, nó trở thành nền móng của nền địa chính Pháp đương đại Khi cần xác định quyền pháp lý về đất đai thì chủ

sở hữu tự chứng minh quyền sở hữu của mình thông qua các chứng thư pháp

lý khác được công nhận trong luật dân sự

Năm 1930, có bộ Luật mới đặt nền móng cho cuộc đổi mới nền địa chính cũ đến năm 1951 thì người ta bắt đầu sử dụng ảnh chụp máy bay để làm bình đồ địa chính Sau này, người Pháp vẫn tiếp tục sử dụng các tài liệu địa chính để quản lý địa chính và đăng ký thuế tài sản đất đai Năm 1974, người Pháp đã ứng dụng tin học trong hệ thống quản lý nhà nướcvề HSĐC

Trên thế giới, nhiều nước đã có kinh nghiệm về quản lý nhà nướcvề HSĐC, tuỳ vào tình hình kinh tế- xã hội của họ để chọn ra hình thức và nội dung phù hợp (quản lý địa chính kiểu Australia, quản lý kiểu Pháp ), tuy có nhiều điểm khác nhau về cả nội dung và hình thức nhưng đều có thể chuyển hoá theo sự phát triển của kỹ thuật tin học hiện đại và đều lấy thửa đất làm cơ bản, làm đối tượng để lập và quản lý HSĐC

Qua việc tìm hiểu các hệ thống quản lý về địa chính tại một số quốc gia

đã nêu ở trên có thể rút ra kinh nghiệm có thể áp dụng tại Việt Nam như sau :

- Hệ thống địa chính được thiết lập ở bất kỳ quốc gia nào đều không tách rời mục tiêu là quản lý chặt chẽ quỹ đất đai

- Các hệ thống tài liệu địa chính ở các nước nghiên cứu đều đi sâu thể hiện từng thửa đất của mỗi chủ sở hữu kèm theo các thông tin cần thiết phục

vụ việc thu thuế, các nhu cầu về thông tin đất đai và yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu đất đai

Để hiện đại hoá hệ thống quản lý, các nước đều tiến hành xây dựng cơ

sở dữ liệu (ngân hàng dữ liệu) về đất đai và xây dựng, vận hành hệ thống thông tin đất đai Đó chính là hệ thống quản lý nhà nước về địa chính đa mục đích mà nhiều quốc gia đang theo đuổi và bắt đầu xây dựng để ứng dụng

Trang 38

Quản lý nhà nước về địa chính ở nước ta đã được thiết lập từ cách đây hơn năm thế kỷ, được chính quyền ở các chế độ khác nhau kế thừa và tiếp tục

bổ sung, điều chỉnh nhằm phục vụ mục đích quản lý của mình Kết quả của nó

là sự ra đời một hệ thống địa bạ về quyền sở hữu đất đai tương đối khoa học vào thời điểm lúc bấy giờ Tuy nhiên, do hoàn cảnh chiến tranh và sự chia cắt đất nước nên việc lập và quản lý các loại HSĐC bị phân tán theo đặc thù của từng miền và từng chế độ Hơn nữa, sau khi thống nhất đất nước, do sự thay đổi chế độ sở hữu đối với đất đai nên công tác lập HSĐC và cơ sở dữ liệu về đất đai bị gián đoạn Hiện nay, Nhà nước đang nỗ lực xây dựng hệ thống HSĐC và các cơ sở dữ liệu ngày càng hiện đại với sự trợ giúp của công nghệ thông tin để quản lý địa chính chặt chẽ hơn, minh bạch hơn

Trang 39

31

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐỊA CHÍNH

TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1 Vị trí địa lý

Quận Hai Bà Trưng là một trong 4 quận nội thành cũ, nằm ở phía Đông Nam trung tâm thành phố Hà Nội Quận có vị trí địa lý như sau:

- Phía Bắc giáp quận Hoàn Kiếm

- Phía Đông giáp sông Hồng, quận Long Biên

- Phía Nam giáp quận Hoàng Mai

- Phía Tây giáp quận Đống Đa và quận Thanh Xuân

Hình 2.1

Trang 40

32

Quận Hai Bà Trưng có diện tích tự nhiên 1.025,80 ha, gồm 20 phường: Bạch Đằng (109,92 ha), Bách Khoa (52,13 ha), Bạch Mai (25,62 ha), Bùi Thị Xuân (14,05 ha), Cầu Dền (16,96 ha), Đống Mác (15,28 ha), Đồng Nhân (14,93 ha), Đồng Tâm (51,42 ha), Lê Đại Hành (86,81 ha), Minh Khai (47,20 ha), Ngô Thì Nhậm (19,18 ha), Nguyễn Du (37,00 ha), Phạm Đình Hổ (30,05 ha), Phố Huế (20,16 ha), Quỳnh Lôi (25,22 ha), Quỳnh Mai (16,83 ha), Thanh Lương (157,14 ha), Thanh Nhàn (73,61 ha), Trương Định (52,03 ha), Vĩnh Tuy (160,24 ha)

Trên địa bàn quận có các tuyến giao thông quan trọng với các trục dọc chính như: Đường Giải Phóng - Lê Duẩn ở phía Tây, đường Trần Khánh Dư - Nguyễn Khoái ở phía Đông, đường Trương Định - Bạch Mai - Phố Huế ở trung tâm; các tuyến đường trục ngang chính là Trần Khát Chân - Đại Cồ Việt (vành đai I), đường Minh Khai - Đại La (vành đai II) Đây là những tuyến đầu mối giao thông quan trọng nối liền quận Hai Bà Trưng với các tỉnh phía Nam, các quận, huyện của thủ đô Hà Nội Với vị trí địa lý như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong việc phát triển kinh tế, thương mại, dịch vụ xã hội và giao lưu văn hoá với các quận, huyện khác của Thành phố Hà Nội nói riêng và các tỉnh khác trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ nói chung

2.1.2 Địa hình

Quận Hai Bà Trưng thuộc vùng Đồng bằng châu thổ sông Hồng, địa hình bằng phẳng, có hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông Mức chênh lệch độ cao giữa các vùng không đáng kể, độ cao trung bình từ 4 - 10m so với mực nước biển

Phần lớn diện tích đất trên địa bàn quận là đất phi nông nghiệp; đấtnông nghiệp của quận chiếm tỷ lệ thấp (1,46% diện tích tự nhiên) chủ yếu

là các ao hồ nhỏ nuôi trồng thủy sản, trồng rau màu và đất sân vườn

Ngày đăng: 18/02/2017, 10:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Hoàng Huy Biểu (1993), Địa chính các nước Châu Âu. Tạp chí quản lý ruộng đất số 1, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chính các nước Châu Âu
Tác giả: Hoàng Huy Biểu
Năm: 1993
11. Nguyễn Bá Dũng, Vương Thị Hòe (2014), Giáo trình địa chính đại cương, NXB Chính trị Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình địa chính đại cương
Tác giả: Nguyễn Bá Dũng, Vương Thị Hòe
Nhà XB: NXB Chính trị Lao động
Năm: 2014
12. Trần Thị Minh Hà (2000), “Chính sách và tình hình sử dụng đất đai của Ôxtrâylia”, Báo cáo chuyên đề Tổng hợp về Chính sách và tình hình sử dụng đất đai của một số nước trong khu vực và trên thế giới, Vụ Khoa học và Hợp tác Quốc tế - Bộ Khoa học và Công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách và tình hình sử dụng đất đai của Ôxtrâylia”, Báo cáo chuyên đề Tổng hợp về Chính sách và tình hình sử dụng đất đai của một số nước trong khu vực và trên thế giới
Tác giả: Trần Thị Minh Hà
Năm: 2000
13. Đinh Xuân Hải và Vũ Sỹ Cường (2014), Giáo trình tài chính và quản lý đất đai, NXB tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tài chính và quản lý đất đai
Tác giả: Đinh Xuân Hải và Vũ Sỹ Cường
Nhà XB: NXB tài chính
Năm: 2014
14. Nguyễn Đức Khả (2003), Lịch sử quản lý đất đai, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử quản lý đất đai
Tác giả: Nguyễn Đức Khả
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
17. Quốc hội, (1993, 2003, 2013), Luật đất đai 1993, Luật đất đai 2003, Luật đất đai 2013, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đất đai 1993, Luật đất đai 2003, Luật đất đai 2013
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quốc gia
18. Nguyễn Trọng San (2008), Giáo trình địa chính đại cương. Trường đại học Mỏ địa chất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình địa chính đại cương
Tác giả: Nguyễn Trọng San
Năm: 2008
19. Nguyễn Khắc Thái Sơn (2007), Giáo trình Quản lý nhà nướcvề đất đai. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý nhà nướcvề đất đai
Tác giả: Nguyễn Khắc Thái Sơn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2007
22. Lê Đình Thắng và các thành viên (2005), Giáo trình Đăng ký và thống kê đất đai. NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Đăng ký và thống kê đất đai
Tác giả: Lê Đình Thắng và các thành viên
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2005
23. Trần Văn Tuấn (2011), Quản lý tài chính đất đai, Tập bài giảng. Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tài chính đất đai, Tập bài giảng
Tác giả: Trần Văn Tuấn
Năm: 2011
24. Tạp chí địa chính ( 2002). Các văn bản pháp luật về quản lý đất đai ban hành ở Việt Nam giai đoạn 1945 - 6/2001, NXB Bản đồ (3 tập) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản pháp luật về quản lý đất đai ban hành ở Việt Nam giai đoạn 1945 - 6/2001
Nhà XB: NXB Bản đồ (3 tập)
1. Bộ tài nguyên và môi trường (2009), Thông tư 17/2009/TT-BTNMT, Quy định về GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Khác
2. Bộ tài nguyên và môi trường (2009), Nghị định 88/2009/NĐ-CP, về cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Khác
3. Bộ tài nguyên và môi trường (2010), Thông tư 17/2010/TT-BTNMT, quy định về chuẩn dữ liệu địa chính Khác
4. Bộ tài nguyên và môi trường (2014), Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 quy định về cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Khác
5. Bộ tài nguyên và môi trường (2014), Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 quy định về HSĐC Khác
7. Chính phủ (2014), Nghị định 47/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Khác
8. Chính phủ (2004), Nghị định 181/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật đất đai Khác
9. Chính phủ (2014), Nghị định 43/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai Khác
10. Chính phủ (2003), Nghị định 132/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 6/11/2003 về việc điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập các quận Long Biên, Hoàng Mai, thành lập các phường trực thuộc quận Long Biên, Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Quận Hai Bà Trưng cũ 24 đơn vị hành chính được chia tách 04 phường chuyển sang thành quận Hoàng Mai Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2- Hình thể - Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ
2 Hình thể (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w