Tăng cường quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức ở tỉnh UĐômXay nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào giai đoạn hiện nayTăng cường quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức ở tỉnh UĐômXay nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào giai đoạn hiện nayTăng cường quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức ở tỉnh UĐômXay nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào giai đoạn hiện nayTăng cường quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức ở tỉnh UĐômXay nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào giai đoạn hiện nayTăng cường quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức ở tỉnh UĐômXay nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào giai đoạn hiện nayTăng cường quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức ở tỉnh UĐômXay nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào giai đoạn hiện nayTăng cường quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức ở tỉnh UĐômXay nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào giai đoạn hiện nayTăng cường quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức ở tỉnh UĐômXay nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào giai đoạn hiện nayTăng cường quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức ở tỉnh UĐômXay nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào giai đoạn hiện nayTăng cường quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức ở tỉnh UĐômXay nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào giai đoạn hiện nayTăng cường quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức ở tỉnh UĐômXay nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào giai đoạn hiện nayTăng cường quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức ở tỉnh UĐômXay nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào giai đoạn hiện nay
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
LÀOGIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LU ẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ N ỘI, NĂM 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
LÀOGIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LU ẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG
MÃ SỐ: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS TS NGUYỄN HỮU TRI
HÀ N ỘI, NĂM 2016
Trang 3ĐỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan , nội dung luận văn “ Tăng cường quản lý nhà nước đối với cán bộ – công chức ở tỉnh U-Đôm Xay Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào”là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tác giả
Mọi số liệu và nội dung của luận văn không sao chép dưới bất cứ hình thức nào
Tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của luận văn này
Tác giả luận văn Boun xay XAY SAVATH
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đối với Ban lãnh đạo , Nhà quản lý của Học viện Hành c hính Quốc gia đã tạo mọi điều kiện ch o tác giả được học tập nghiên cứu trong thời gian qua tại Việt Nam
Tác giả x in bày tỏ lòng bi ết ơn đến các thầy,cô giáo đã rất nhiệt tình giảng dạy và cung cấp những kiến thức cơ bản về quả n lý Nhà nước cho tác giả tại Học viện Hành chính Quốc gia
Xin trân trọng cảm ơn PGS TS Nguyễn Hữu Tri đã có những chỉ dẫn , giúp đỡ quý báu,nhiệt tình và hết sức trách nhiệm trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Với khả năng nhất định của học viên nước ngoài ,bản luận văn này chắc chắn còn nhiều hạn chế thiếu sót Tác giả mong nhận được các ý kiến đóng góp của các thầy,cô và các bạn để hoàn thiện hơn
Một lần nữa tác gải xin trân thành cảm ơn!
Học viên thực hiện luận văn
Bounxay XAYSAVATH
Trang 5M ỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 9
1 Lý do ch ọn đề tài 9
2 Tình hình nghiên c ứu liên quan đến đề tài 11
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 15
5 Phương pháp nghiên cứu 15
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 16
6.1 Ý nghĩa lý luận 16
7 K ết cấu của luận văn 17
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở CHDCND LÀO 18
1.1 T ổng quan về cán bộ, công chức 18
1.1.1 Khái niệm cán bộ , công chức trong h ệ thống pháp luật ở CHDCND Lào 18
1.1.2 Phân loại và các lĩnh vực bố trí cán bộ, công chức 23
1.1.3 Quyền hạn, nghĩa vụ, chức năng và vai trò cán bộ, công chức 24
1.2 Quản lý nhà nước đối với csn bộ, công chức 22
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức 30
1.2.2 Những nội dung cơ bả n về quản lý nhà nước đối với cán bộ , công chức ở nước CHDCND Lào 31
1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với cán bộ , công chức của một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào 36
chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁN BỘ , CÔNG CHỨC Ở TỈNH U ĐÔM XAY , NƯỚC CHDCND LÀO GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 41
Trang 62.1 Đặc điểm chung về kinh tế , xã hội và đội ngũ cán bộ , công chức tỉnh
U Đôm Xay 41
2.1.1 Đặc điểm về kinh tế, xã hội tỉnh U Đôm Xay 34
2.1.2 Đặc điểm đội ngũ cán bộ, công chức tỉnh U Đôm Xay 44
2.2 Thực trạng hoạt động quản lý nhà nước đối với đội ngũ cán bộ , công chức tỉnh U Đôm Xay 47
2.2.1 Hoạt động ban hành các văn bản qui phạm pháp luật về cán bộ, công ch ức 40
2.2.2 Xây d ựng quy hoạch, kế hoạch phát triển cán bộ, công chức 49
2.2.3 Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 46
2.2.4 Hoạt động đánh giá cán bộ, công chức 59
2.2.5 Ch ế độ chính sách, trách nhiệm của cán bộ, công chức 61
2.2.6 Việc tổ chức thực hiện pháp lu ật, chính sách đối với cán bộ, công ch ức 64
2.3 Đánh giá chung về hoạt động QLNN đối với đội ngũ cán bộ, công ch ức tỉnh U Đôm Xay 60
2.3.1 Nh ững thành công 60
2.3.2 Nh ững hạn chế còn tồn tại 63
2.3.3 Nguyên nhân c ủa những hạn chế 63
Chương 3NHỮNG QUAN ĐIỂM VÀ GI ẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở 73
TỈNH U ĐÔM XAY, NƯỚC CHDCND LÀO 73
3.1 Quan điểm tăng cư ờng quản lý nhà nước đối với đội ngũ cán bộ, công ch ức nhằm mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội ở tỉnh U Đôm Xay 73 3.1.1 Quán triệt những quan điểm của Đảng và Nhà nước Lào về quản lý đội ngũ cán bộ, công chức 66
3.1.2 Qu ản lý đội ngũ cán bộ, công chức phải gắn với công tác xây dựng tổ chức bộ máy và đổi mới cơ chế chính sách gắn với cán bộ, công chức 67
Trang 73.1.3 Qu ản lý đội ngũ cán bộ, công chức dựa trên cơ sở xây dựng và hoàn
ch ỉnh chiến lược phát triển nguồn nhân lực của tỉnh U Đôm Xay 68
3.1.4 Qu ản lý đội ngũ cán bộ, công chức phải gắn với qui hoạch và đào t ạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 69
3.2 Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước đối với cán bộ , công chức ở tỉnh U-Đôm Xay thời gian tới 77
3.2.1 Một số các giải pháp cơ bản 71
3.2.2 Mối liên hệ giữa các giải pháp 85
KẾT LUẬN 88
Trang 8DANH M ỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCHTWĐ Ban chấp hành Trung ương Đảng
BTCTWĐ Ban tổ chức Trung ương Đảng
CHDCNDL Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
CHXHCN Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa
CB-CCNBTTS Cán bộ - công chức người bộ tộc thiểu số
GDP/Người Thu nhập quốc dân bình quân đầu người
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Vấn đề cán bộ, công chức luôn có vị trí quan trọng trong bất kỳ một
quốc gia nào bởi cán bộ, công chức luôn là một trong những nhân tố có tính
chất quyết định đối với sự thành bại của tổ chức Hiệu quả, hiệu lực vận hành bộ máy hành chính nhà nước các cấp phụ thuộc vào phẩm chất, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước.Hiện nay, cải cách hành chính nhà nước tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào được xác định là tiền đề, động
lực của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, làm cho bộ máy hành chính nhà nước trở nên gần với dân hơn, dần dần từng bước khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện các chương trình, kế
hoạch, quyết định của nhà nước và xây dựng nền hành chính quốc gia Đảng và Nhà nước Lào hiện nay rất coi trọng công tác về cán bộ, công chức, coi đây
là một nhiệm vụ quan trọng và xuyên suốt.Và để làm tốt công tác quản lý cán bộ, công chức, Đảng nhân dân cách mạng Lào phải xây dựng được một hệ thống tổ chức vững mạnh, một lực lượng đội ngũ cán bộ, công chức vừa giỏi
về chuyên môn nghiệp vụ, lại vừa có đạo đức, có lương tâm trong sạch
Kết quả của công cuộc cải cách chính hiện nay ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào phụ thuộc chủ yếu vào năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức nước nhà Đội ngũ này có vai trò rất quan trọng trong việc hoạch định các đường lối, chính sách, hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước Họ
trực tiếp thực thi các chính sách, kế hoạch của cơ quan, tổ chức; các chương trình, mục tiêu quốc gia Họ trực tiếp thực hiện giao tiếp (trao đổi, tiếp nhận thông tin ) giữa các cơ quan nhà nước với nhau, giữa các cơ quan nhà nước với doanh nghiệp và công dân Muốn hoạt động này có hiệu quả, đội ngũ cán
bộ, công chức phải được quản lý một cách khoa học để họ phát huy được về năng lực công tác, tinh thần trách nhiệm và ý thức phục vụ nhân dân
Trang 10Cùng với xu thế chung của cả nước hiện nay, công tác quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức ở tỉnh U Đôm Xay đã đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ Tuy nhiên, trong bối cảnh mới hiện nay của hội nhập quốc
tế, bộ máy hành chính của tỉnh U Đôm Xay nói riêng, cả nước nói chung đang
có sự thay đổi căn bản về chức năng nhiệm vụ của nhà nước sang hướng nền hành chính có sự phân cấp, có sự kết hợp đúng đắn giữa tập trung với phân quyền hành chính, chuyển giao từ phân nhiệm của Trung ương xuống cho địa phương đang đặt ra những thách thức mới cho công tác quản lý và trình độ đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước.Mặt khác, nền kinh tế có sự thay đổi mạnh mẽ từ tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng là yếu tố đòi hỏi phải thay đổi phương thức quản lý cho phù
hợp.Thêm nữa, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với điều
kiện Lào đã trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã tạo áp lực phải đổi mới nền công vụ nhà nước nhằm đáp ứng các tiêu chí chung của thế giới trong lĩnh vực hành chính công Tất cả những thay đổi này đặt ra cho bộ máy hành chính nhà nước yêu cầu phải hiện đại hóa tổ chức và phương thức quản lý như: phải hoàn thiện thể chế quản lý, cải cách bộ máy, xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức.Trước những yêu cầu trên, nhằm đảm bảo cán bộ, công chức là người am hiểu luật pháp quốc tế, có kỹ năng giải quyết công việc hành chính, thực hiện quản lý theo các tiêu chí của
nền hành chính công mới và đảm bảo các tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức công vụ, về văn hóa hành chính cần đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về cán bộ, công chức
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên cho thấy vấn đề quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức cần phải được nghiên cứu, phân tích trên phương diện
lý luận cũng như thực tế nói chung, cụ thể trong phạm vi tỉnh U Đôm Xay nói
riêng Do đó, đề tài: “Tăng cường quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức tỉnh U Đôm Xay, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” được chọn
Trang 11làm luận văn tốt nghiệp của tác giả.Luận văn sẽ tổng kết tình hình thực tiễn quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức ở U Đôm Xay, chỉ ra những mặt tích cực để tiếp tục phát huy, cải tiến cho phù hợp tình hình mới, đồng thời,
nhận diện những mặt tồn tại, hạn chế của quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này Từ đó, nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp cơ bản, khả thi, có thể mang lại những chuyển biến tích cực hơn nữa trong lĩnh vực quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức ở tỉnh U Đôm Xay
2 Tình hình nghiên c ứu liên quan đến đề tài
Đây là mảng đề tài được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Có thể nêu một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài như sau:
M ột số công trình nghiên cứu ở Việt Nam:
+ Đề tài khoa học cấp Bộ do Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ (nay là Bộ
Nội vụ) thực hiện (1997): Cơ sở khoa học của việc xây dựng đội ngũ công chức Nhà nước đến năm 2000
+ Đề tài cấp Bộ do Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ thực hiện (1998):
Xây d ựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức
+ Đề tài cấp Nhà nước KHXH.05-03, nằm trong chương trình KHXH.05 do GS.TS Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm làm chủ nhiệm (2003): Luận chứng khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ
cán b ộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trên
cơ sở các quan điểm lý luận, tổng kết thực tiễn và kế thừa kết quả của nhiều công trình đi trước, tập thể các tác giả đã phân tích, lý giải, hệ thống hoá các căn cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Từ đó, đưa ra một hệ thống các quan điểm, phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, trong đó có đội ngũ công chức hành chính nhà nước đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội
nhập kinh tế quốc tế trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI
Trang 12+ Ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ có Báo cáo tổng hợp
đề tài (2005): Năng lực, hiệu quả, hiệu lực quản lý hành chính nhà nước; thực
tr ạng, nguyên nhân và giải pháp Đề tài này đã tập trung nghiên cứu về hiệu
lực quản lý hành chính nhàn ước, trong đó đã đặt công chức trong mối quan
hệ với việc nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý hành chính nhà nước
+Tác giả Nguyễn Bắc Sơn (2005): Nâng cao chất lượng đội ngũ công
ch ức quản lý nhà nước đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đề tài đã phân tích đánh giá đội ngũ cán bộ, công chức Việt Nam, phân
tích nguyên nhân dẫn tới những hạn chế về chất lượng đội ngũ công chức quản lý nhà nước và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức QLNN, đáp ứng thời kỳ công nghiêp hoá, hiện đại hoá đất nước trong giai đoạn hiện nay và trong những năm tới
+ Dự án ASIAN-LINK (mã số ASI/B7-301/98/679-042), trường Đại
học Kinh tế quốc dân Hà Nội đã phối hợp với trường Đại học Tổng hợp Mardrid (Tây Ban Nha) tiến hành điều tra, đánh giá chất lượng công chức quản lý cấp tỉnh ở Việt Nam để xác lập chương trình đào tạo về kinh tế và
quản lý công chức cho đội ngũ công chức cấp tỉnh Kết quả điều tra, đánh giá được công bố tháng 7-2004 đã nêu rõ những yếu kém, thiếu hụt về kiến thức
và kỹ năng của đội ngũ công chức hành chính cấp tỉnh trong lĩnh vực quản lý công và quản lý kinh tế Báo cáo nêu lên một trong những thiếu hụt lớn nhất
hiện nay của đội ngũ công chức cấp tỉnh là sự thiếu hụt về kiến thức và kỹ năng quản lý trong nền kinh tế thị trường, đó là sự thiếu hiểu biết về kiến thức
quản lý hành chính công Báo cáo đề xuất cần thiết phải xây dựng chương trình đào tạo về kinh tế và quản lý hành chính công cho đội ngũ công chức hành chính cấp tỉnh đặc biệt là đội ngũ công chức quản lý
M ột số công trình nghiên cứu ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào:
Trang 13- Đề tài của tác giả Sidakham ChamPa:Các giải pháp quản lý nhà nước nhằm xóa đói giảm nghèo và phát triển nông thôn ở tỉnh U Đôm Xay Luận
văn thạc sĩ quản lý hành chính công, Hà Nội, 2010 Đề tài thông qua đánh giá
thực trạng giảm nghèo và phát triển nông thông tỉnh U Đôm Xay giai đoạn
2005 – 2010 đã đề xuất các nhóm giải pháp cụ thể đối với quản lý nhà nước trong lĩnh vực này đến giai đoạn 2015
- Đề tài của tác giả Damlongsouk KhamChanh: Tăng cường quản lý nhà nước đối vớ i cán bộ, công chức tỉnh Cham Pa Sắc , nước Cộng hòa Dân
ch ủ Nhân dân Lào, Luận văn thạc sĩqu ản lý hành chính công, Hà Nội, 2010
Luận văn đã phan tích thực trạng quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức của tỉnh Chăm Pa Sắc, từ đó đánh giá, đúc kết kinh nghiệm và đề ra các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức chính quyền cấp
tỉnh của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
- Đề tài của tác giả Bunxi KonBut: Phát triển năng lực quản lý nhà nước của chính quyền cấp huyện (qua thực tiễn huyện Xaythany, thủ đô Viêng Chăn, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào), Luận văn thạc sỹ quản lý hành chính
công, Hà Nội, 2006 Luận văn đã trình bày một cách có hệ thống về năng lực
quản lý nhà nước của Chính quyền huyện Xaythany, đề xuất giải pháp thiết thực, có tính khả thi để phát triển năng lực quản lý nhà nước của Chính quyền huyện Xaythany
- Đề tài của tác giả Nylaxay Tayphakhanh: Nâng cao năng lực quản lý cho đội ngũ công chức lãnh đạo cấp huyện ở tỉnh Chăm Pa Sắc nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công,
Thành phố Hồ Chí Minh, 2010 Luận văn này tập trung đánh giá thực trạng năng lực và hoạt động của tổ chức bộ máy hành chính nhà nước nói chung và hành chính nhà nước cấp huyện nói riêng, từ đó đề xuất những giải pháp khắc
phục những hạn chế trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước của các cơ quan quản lý nhà nước cấp huyện, góp phần nâng cao năng lực quản lý hành
Trang 14chính nhà nước cho cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện tại tỉnh pa-sắc nói riêng và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào nói chung
Chăm Đề tài của tác giả PhommaSay SengPhet: Quản lý nhà nước về đào
t ạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hành chính ở thành phố Viêng Chăn nước
C ộng hòa dân chủ nhân dân Lào, luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công,
Thành phố Hồ Chí Minh, 2010 Luận văn trên cơ sở nghiên cứu lý luận về đào tạo, bồi dưỡng và thực tiễn quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức tại thành phố Viêng Chăn, đã nêu lên những bất cập trong khâu
quản lý nhà nước và một số vướng mắc về mặt pháp lý khi thực hiện quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hành chính Từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hành chính tại thành phố Viêng Chăn nói riêng và cả nước nói chung
Ngoài ra, đã có khá nhiều bài báo, bài viết chuyên đề trên các báo, tạp chí và các cổng thông tin điện tử của các địa phương, các cơ quan, tổ chức nhà nước cũng như tổ chức phi Chính phủ ở Lào, Việt Nam từ các góc độ, phương diện khác nhau, tạo nên một cái nhìn đa chiều, toàn diện về vấn đề
quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể về tăng cường quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức ở tỉnh U Đôm Xay, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Vì
vậy, đề tài “Tăng cường quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức ở tỉnh U Đôm Xay, nước Cộng hòa dân chủ nhân dânLào giai đoạn hiện nay” sẽ là
công trình nghiên cứu có tính độc lập
3 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 M ục đích nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá thực trạng việc quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức ở tỉnh U Đôm Xay, đề tài đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản
Trang 15lý nhà nước đối với cán bộ, công chức ởtỉnh U Đôm Xay, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trong thời gian tới
3.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ vị trí, vai trò, đặc điểm đội ngũ cán bộ, công chức ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; Đưa ra quan niệm về quản lý nhà nước đối với cán bộ công chức và các tiêu chí đánh giá
- Khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức, thực trạng
quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức ở tỉnh U Đôm Xay, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; chỉ ra kết quả đạt được, những hạn chế, nguyên nhân
- Đề xuất những giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức ở tỉnh U Đôm Xay trong thời gian tới
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứucông tác quản lý nhà nước đối với đội ngũ cán bộ, công chức tại tỉnh U Đôm Xay, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
4.2 Ph ạm vi nghiên cứu
Về không gian: Luận văn tiến hành nghiên cứu ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, trong đó, tập trung nghiên cứu trong phạm vi tỉnh U Đôm Xay
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu các tài liệu liên quan tới quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức tỉnh U Đôm Xay giai đoạn 2011 – 2015
5 Phương pháp nghiên cứu
Các nghiên cứu của Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp
luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm của Đảng nhân dân cách mạng Lào và Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào về cán bộ, công chức nói chung, hoạt động quản lý cán bộ, công chức nói riêng
Cụ thể, Luận văn được thực hiện dựa trên một số phương pháp nghiên
cứu như: phương pháp thống kê - xử lý số liệu, phương pháp phân tích,
Trang 16phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp diễn dịch, phương pháp quan sát…
Trong Chương 1, Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu tài
liệu, quy nạp và phân tích – tổng hợp để hệ thống hóa những vấn đề có tính lý
luận về cán bộ, công chức và quản lý cán bộ, công chức
Chương 2 Luận văn sử dụng phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, so sánh, phân tích, đánh giá để làm rõ những vấn đề thực tiễn về cán bộ, công chức, hoạt động quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức ở
tỉnh U Đôm Xay với những đánh giá cụ thể về tiêu chí, thể hiện ở các mặt ưu điểm, nhược điểm và nguyên nhân của thực trạng đó
Chương 3 Luận văn tập trung hệ thống các quan điểm của Đảng và Nhà nước Lào về quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức Trên cơ sở đó, đề ra các giải pháp có tính cụ thể, khả thi để có thể tổ chức thực hiện trên thực tiễn thông qua các phương pháp nghiên cứu: hệ thống hóa, phân tích, quy nạp, chứng minh
6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn làm phong phú thêm lý luận về quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào nói chung và ở tỉnh U Đôm Xay nói riêng Hoạt động quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức có nhiều quan niệm, nhiều cách tiếp cận với những nội dung, tiêu chí khác nhau; tác giả hy vọng sẽ đóng góp một cách nhìn mới, làm cho lý luận về quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức được nâng lên
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn phản ánh thực trạng, với những số
liệu phong phú của tỉnh U Đôm Xay cũng như số liệu sơ cấp của tác giả sẽ giúp cho những nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý và sinh viên, học viên có thể
Trang 17tham khảo, vận dụng Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo phục
vụ công tác cán bộ của tỉnh U Đôm Xay cũng như ở các địa phương khác Đồng thời, kết quả đó cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác giảng dạy và nghiên cứu về công tác cán bộ ở các địa phương của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
7.K ết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1:Cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức ở nước CHDCND Lào
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với cán bộ , công chức ở tỉnh U Đôm Xay, nước CHDCND Lào giai đoạn hiện nay
Chương 3: Những quan điểm và giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức ở tỉnh U Đôm Xay, nước CHDCND Lào
Trang 18Chương1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI
VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC ỞCHDCND LÀO 1.1 T ổng quan về cán bộ, công chức
1.1.1 Khái niệm cán bộ, công chức trong hệ thống pháp luật
ởCHDCND Lào
1.1.1.1 Khái ni ệm cán bộ
Khái niệm cán bộ đã được sử dụng khá lâu tại các nướcxã hội chủ nghĩa, trong đó có cả Việt Nam và Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào dùng để chỉ một phạm vi rất rộng nhân sự thuộc khu vực nhà nước và tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội Thuật ngữ cán bộ trước đây thường được dùng chung với một số thuật ngữ khác trong nhóm từ “cán bộ, công nhân viên chức” hoặc
“cán bộ, công chức”, bao quát tất cả những người làm công hưởng lương từ ngân sách nhà nước, kể từ những người lãnh đạo, quản lý, đứng đầu cơ quan tới nhân viên bảo vệ hay nhân viên tạp vụ Sự đánh đồng như vậy dẫn tới việc không phân định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, không phân biệt những người thực thi chức năng quản lý nhà nước với chức năng cung ứng dịch vụ công thậm chí gây nhầm lẫn trong hoạt động cũng như trong cách hành xử công việc
Cùng với xu hướng toàn cầu hóa về kinh tế và những thành tựu của sự phát triển kinh tế - xã hội, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường mở rộng giao lưu, hợp tác nhiều mặt, nên nội hàm của khái niệm cán bộ cũng có sự thay đổi Ví dụ ở Vi ệt Nam và cả ở Lào, trước đây khái niệm “cán bộ” cũng chưa được hiểu thống nhất và được sử dụng chung để ghép với “công chức”,
“viên chức” và khá rộng, bao gồm không chỉ những người lãnh đạo và các nhà chuyên môn làm việc trong bộ máy nhà nước mà còn làm việc trong các hợp
Trang 19tác xã, các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp
Cho tới năm 2008, khi Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Luật Cán bộ, công chức mới có cách hiểu thống nhất về khái
niệm cán bộ Trong Luật này đã nêu rõ khái niệm cán bộ: Cán bộ là công dân
Vi ệt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhi ệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính tr ị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, huyệntrực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện , quận, thị xã, huyệnthuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện ), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [7, tr4]
Ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, cán bộ là lực lượng chủ yếu trong các cơ quan hành chính nhà nước, trong đó đại đa số cán bộ có thể giữ các
chức vụ khác nhau Thuật ngữ “cán bộ” xuất hiện nhiều trong các văn bản chính trị, pháp luật và quản lý nhà nước Tuy nhiên, do trải qua các thời kỳ khác nhau nên khái niệm cán bộ cũng không hoàn toàn đồng nhất Dưới góc độ khoa học quản lý hành chính nhà nước, cán bộ được coi là những người có lương từ cán sự trở lên, để phân biệt với nhân viên có mức lương thấp hơn cán sự
Do tính chất đặc thù của nền công vụ ở Lào, khái niệm cán bộ được dùng với nhiều nghĩa khác nhau:
- Khái niệm cán bộ gắn liền với những người được bầu vào các cấp lãnh đạo, chỉ huy từ cơ sở đến trung ương (cán bộ lãnh đạo) để phân biệt với đảng viên thường, đoàn viên, hội viên hoặc cán bộ là những người công tác chuyên trách hưởng lương trong các tổ chức đảng, đoàn thể
- Cán bộ là những người giữ cương vị chỉ huy từ tiểu đội trưởng trở lên (cán bộ tiểu đội, đại đội, cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn…) hoặc là sỹ quan từ cấp úy trở lên trong quân đội nhân dân Lào
Trang 20- Trong hệ thống bộ máy nhà nước, khái niệm cán bộ được hiểu với nghĩa trùng với khái niệm công chức, chỉ những người làm việc trong cơ quan nhà nước Đồng thời, cán bộ cũng được hiểu là những người có chức trách, lãnh đạo
Tuy cách dùng, cách thức biểu đạt khái niệm cán bộ có khác nhau nhưng về cơ bản thuật ngữ cán bộ bao hàm nghĩa chính của nó là bộ khung, là nòng cốt, là lãnh đạo, là chỉ huy
Trong giai đoạn hiện nay, thuật ngữ “cán bộ” được dùng rất phổ biến ở các tài liệu của các cơ quan đảng - công tác đảng, nhà nước về công tác cán bộ, đoàn thể và những lời phát biểu, vận động nhân dân hay dùng gọi đối với những người của Đảng và Nhà nước xuống làm việc với người dân địa phương như: cán bộ tỉnh, cán bộ huyện, cán bộ thuế…
1.1.1.2 Khái ni ệm công chức
Tác giả Tô Tử Hạ, trong cuốn sách: Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay khẳng định: chế độ công chức ra đời ở các
nước tư bản phương Tây vào nửa cuối thế kỷ XIX, nó phản ánh nhu cầu khách quan của lịch sử phát triển nhà nước “Nhân vật” trung tâm của chế độ công chức là đội ngũ công chức với tiêu chuẩn, số lượng, cơ cấu hợp lý, đáp ứng hoạt động của nền hành chính thông suốt, hiệu lực và hiệu quả.[Tô Tử Hạ
(2000), Công ch ức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.9]
Chế độ công chức của mỗi quốc gia là do đặc điểm lịch sử, kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội quy định Trên thực tế, ở các quốc gia khác nhau không
có sự giống hệt nhau về chế độ công chức Có nước chỉ giới hạn công chức trong phạm vi quản lý nhà nước, thi hành pháp luật; cũng có nước quan niệm công chức bao gồm cả những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp thực
Trang 21hiện dịch vụ công Nhìn chung, tuỳ theo cách hiểu về công vụ rộng hay hẹp
mà khái niệm về công chức cũng có nội hàm rộng hay hẹp tương ứng Nhưng nói chung, quan niệm ở phần lớn các nước, công chức là những người làm
việc trong bộ máy hành chính, thực thi quyền hành pháp
Có nơi hiểu công chức theo nghĩa rất rộng như ở Pháp là bao gồm tất cả những nhân viên trong bộ máy hành chính nhà nước, tất cả những người tham gia dịch vụ công
Tại nước Anh, nơi có quan niệm công chức chỉ là những người thay
mặt nhà nước giải quyết công việc công, nhất là cơ quan hành chính nhà nước
ở trung ương, nên đối tượng được coi công chức thu hẹp hơn rất nhiều
Ở Việt Nam, khái niệm công chức cũng tương tự như khái niệm cán bộ, nhưng có sự thay đổi nội hàm qua những thời kỳ lịch sử khác nhau, gắn liền
với sự phát triển của nền hành chính nhà nước và được quy định cụ thể trong các văn bản chính thức của nhà nước, cụ thể:
Theo Sắc lệnh 76/SL năm 1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, công chức là: Công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân
tuy ển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan của chính phủ ở trong và ngoài nước”[Trần Thị Hóa (2008), Xây dựng đội ngũ cán bộ, công
ch ức xã, phường, thị trấn trên địa bàn huyện Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sỹ
Quản lý hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia;tr32].Theo Sắc lệnh này thì nội hàm khái niệm công chức là tương đối hẹp, chỉ quy định một số đối tượng cụ thể là người làm việc thường xuyên cho cơ quan thuộc Chính
phủ, nghĩa là không bao hàm người làm việc cơ quan lập pháp, tư pháp và đơn vị sự nghiệp
Nghị định số 169/HĐBT của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 25/5/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) quy định
Trang 22như sau: Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước, đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước gọi là công chức
Pháp lệnh Cán bộ công chức được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa X
ban hành năm 1998, quy định tại điều 1: Cán bộ công chức được qui định tại Pháp l ệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước… Qui định này khẳng định quan điểm và nhận thức mới về đội
ngũ cán bộ, công chức trong giai đoạn hiện nay, song vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa cán bộ và công chức
Tiếp đó cùng với việc sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Cán bộ công chức vào năm 2003, một số Nghị định, Thông tư mới được ban hành, các Nghị
định, Thông tư này đã làm rõ hơn khái niệm công chức bao gồm: Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thường xuyên, được phân loại theo một trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào
m ột ngạch hành chính, sự nghiệp, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước… Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không ph ải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân
qu ốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không ph ải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp
Tương tự như khái niệm Cán bộ, khái niệm Công chức cho tới năm
2008, khi Luật Cán bộ, công chức ra đời mới được hiểu thống nhất là: Công
ch ức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ,
ch ức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính tr ị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện ; trong cơ quan, đơn vị
Trang 23thu ộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghi ệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không ph ải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (gọi chung là đơn vị sự nghiệp công l ập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công ch ức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy
định của pháp luật” [Luật cán bộ, công chức Việt Nam, điều 8;tr5]
Còn tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, theo điều 3.2 Luật cán bộ ,
công chức mới năm 2015 đã ghi rõ khái niệmcông chứcnhư sau: công chức là công dân của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dânLào có chức vụ hành chính , công chức chuyên môn và công chức giúp việc hành chính , được bầu , bổ nhiệm vào chức vụ hành chính , chức vụ chuyên môn hoặc được sắp xếp vào một chức vụ nào đó trong cơ quan Đảng , Nhà nước, Mặt trận tổ quốc và các
cơ quan quần chúng cấp TW và địa phương
1.1.2 Phân loại và các lĩnh vực bố trí cán bộ, công chức
1.1.2.1 Phân loại cán bộ, công chức
Theo điều 8 Luật cán bộ, công chức năm 2015 do Quốc hội nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ban hành, có quy định phân loại cán bộ , công chức thành bốnloại như sau:
Cán bộ cao cấp:là những người lãnh đạo, quản lý, được bầu cử hoặc bổ
nhiệm vào một chức vụ nào đó từ chủ tịch nước đến các trưởng vụ hoặc tương đương với trưởng vụ
Công chức hành chính :là những người lãnh đạo , quản lý được bổ
nhiệm vào một chức vụ nào đó từ phó trưởng vụ hoặc tương đương đến trưởng tổ việc hoặc tương đương
Trang 24Công chức chuyên môn :là những người công chức vĩnh viễn được sắp
xếp vào cấp 4 và 5 có trách nhi ệm nghiên cứu về chuyên môn nhưng chưa được bổ nhiêm vào chức vụ hành chính nào đó
Công chức giúp việc hành chính : là những người công chức vĩnh viễn
được xếp vào cấp 1 và 2 chưa có trách nhiệm về nghiên cứu chuyên môn
1.1.2.2 Các lĩnh vực bố trí cán bộ, công chức
Theo điều 13 Luật cán bộ , công chức năm 2015 của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đã ghi rõ : cán bộ, công chức có 2 lĩnh vực hoạt động như sau:
Cán bộ, công chức lĩnh vực hành chính : là người có nhiệm vụ trong
lĩnh vực hành chính quản lý trong cơ quan tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc và cơ quan tổ chức quần chúng cấp Trung ương và địa phương
Cán bộ, công chức lĩnh vực chuyên môn : là những người làm nhiệm vụ
trong lĩnh vực hành chính và nghiên cứu chuyên môn trong c ơ quan Đảng , Nhà nước, Mặt trận tổ quốc và cơ quan tổ chức quần chúng cấp Trung ương và địa phương
1.1.3 Quyền hạn, nghĩa vụ, chức năng và vai trò cán bộ, công chức
1.1.3.1 Quy ền hạn của cán bộ, công chức
Theo điều 51 của Luật cán bộ, công chức năm 2015 của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào thì cán bộ , công chức có quyền hạn trong thi hànhcông vụ của mình như sau:
Được trao quyền phù hợp với nhiệm vụ công tác;
Có nơi làm việc, phương tiện, thiết bị phục vụ công việc theo luật định; Được nhận thông tin trừ thông tin bí mật;
Được tiếp nhận cơ hội đi đào tạo, bồi dưỡng và phát triển;
Đóng góp ý kiến, đề nghị và giải pháp đối với cơ quan đang công tác; Được nhận sự bảo vệ của tổ chức theo luật định;
Áp dụng quyền khác theo Luật định
Trang 25Quyền hạn của cán bộ, công chức phải đi đôi với nghĩa vụ, là điều kiện bảo đảm cho việc thực hiện tốt các nghĩa vụ Quyền của cán bộ, công chức đã
thể hiện được sự chăm lo, quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với đội ngũ cán bộ, công chức thông qua các nội dung sau:
Hưởng lương tương xứng với nhiệm vụ, công việc được giao, từng bước được hưởng các chính sách về nhà ở, điều kiện làm việc, đi lại Cán bộ, công chức làm việc ở vùng sâu, miền núi, vùng cao, vùng xa, biên giới, hải đảo hoặc làm những việc có hại cho sức khoẻ đều được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi do Chính phủ quy định;
Các quyền lợi về nghỉ hàng năm, nghỉ lễ, nghỉ việc riêng; các chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội, ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hưu trí, chế độ tử tuất; quyền lợi đối với cán bộ, công chức nữ theo quy định
của Nghị định số 34 năm 2014 về bảo hiểm xã hội;
Được quyền tham gia hoạt động chính trị, xã hội theo quy định của pháp luật; được tạo điều kiện để học tập nâng cao trình độ, được quyền nghiên cứu khoa học, được khen thưởng khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao;
Được pháp luật bảo vệ khi thi hành công vụ;
Được xét công nhận là liệt sĩ nếu hy sinh khi làm nhiệm vụ, công vụ; Được hưởng các quyền lợi khác do pháp luật quy định…
Có thể khẳng định rằng, thực tế hầu hết các quyền lợi của cán bộ, công
chức đã được bảo đảm về cơ bản như các quốc gia khác, tuy nhiên do điều kiện nền kinh tế và khả năng của ngân sách Nhà nước nên mức độ đãi ngộ còn chưa cao, điều này cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình xây dựng
và nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
1.1.3.2 Về nghĩa vụ của cán bộ, công chức
Trang 26Dưới góc độ pháp lý, nghĩa vụ của cán bộ, công chức được hiểu là bổn phận phải thực hiện hoặc không được thực hiện một việc hay một hành vi nào đó do pháp luật quy định Quy chế của CHDCND Lào đã quy định “phải trung thành với Chính phủ”; bên cạnh đó, trong thực thi công vụ “phải phục
vụ nhân dân, tôn trọng kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm”; “phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”.Nghị định về công ch ức năm 2003 đã quy định nghĩa vụ của công chức Theo đó, công chức phải có trách nhiệm thực hiện 5 nhóm nghĩa vụ cụ thể như sau:
Nhóm nghĩa vụ liên quan đến thể chế: trung thành với Nhà nước, bảo
vệ sự an toàn, danh dự và lợi ích quốc gia; chấp hành đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Nhóm nghĩa vụ liên quan đến đạo đức công vụ: tận tuỵ phục vụ nhân
dân, tôn trọng nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân; có nếp sống rành mạch, trung thực, tham gia sinh hoạt nơi cư trú
Nhóm nghĩa vụ liên quan đến trách nhiệm công vụ và trật tự thứ bậc
như: nghĩa vụ phải chấp hành sự điều động, phân công công tác của cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền; nghĩa vụ phải chấp hành quyết định của cấp trên và cách ứng xử khi quyết định được cho là trái pháp luật
Nhóm nghĩa vụ liên quan đến kỷ cương, tác phong và ý thức công dân như: các nghĩa vụ có ý thức kỷ luật, thực hiện nội quy cơ quan, bảo vệ
Trang 27Không được tham gia đình công Quy định này xuất phát từ yêu cầu
xây dựng một nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, yêu cầu xây dựng một nền công vụ liên tục, thống nhất, thông suốt và ổn định Nghĩa
vụ của công chức là phục vụ nhân dân, là trung thành với chế độ xã hội chủ nghĩa Vì vậy, cán bộ, công chức chỉ có thể có quyền khiếu nại, kiến nghị nhưng không thể và không được phép tham gia đình công
Không được sử dụng tài sản của Nhà nước và của nhân dân trái pháp
lu ật; không được lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ quyền hạn; sử dụng thông tin
liên quan đến công vụ để vụ lợi Quy định như vậy để bảo đảm thực hiện sự minh bạch, công khai trong công vụ và xây dựng đạo đức của công chức theo nguyên tắc cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; góp phần thực hiện tốt việc phòng, chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm chống lãng phí trong hoạt động công vụ
Không phân biệt đối xử dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội, tín
ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức Nghĩa vụ này xuất phát từ chủ trương, đường lối của Đảng về một Nhà nước kiểu mới, Nhà nước của nhân dân , do nhân dân và vì nhân dân Xuất phát từ nguyên tắc, pháp luật là tối thượng và
mọi người đều bình đẳng trước pháp luật Do đó, hoạt động công vụ phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân Vì vậy, liên quan đến vấn đề dân tộc, giới tính, thành phần xã hội và tín ngưỡng tôn giáo, Luật quy định công chức không được phép phân biệt đối xửtrong hoạt động công vụ
Nh ững việc không được làm liên quan đến sản xuất, kinh doanh, công tác nhân s ự:
Trước đây, Nghị định về công chức quy định nội dung này ở các điều
32 đến 37, nhưng các quy định này qua thực tiễn áp dụng chưa tạo ra hiệu quả đủ mạnh Bên cạnh đó, một số văn bản luật như Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cũng đã có một số điều
Trang 28khoản quy định về vấn đề này Vì vậy, để bảo đảm tính thống nhất giữa các văn bản luật đã ban hành với Luật cán bộ, công chức, tránh trùng lặp và
chồng chéo
1.1.3.3 Chức năng và nhiệm vụcủa cán bộ, công chức
Chức năng chung của cán bộ, công chức ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào được qui định như sau:
Thực hiện thường xuyên công tác của mình và bảo đảm kết quả;
Tích cực tham gia hoạt động trong cơ quan tổ chức nơi mình đang
công tác;
Tạo điều kiện thuận lợi và hết sức dịch vụ nhân dân;
Báo cáo công tác của mình cho cấp trên đúng hạn và thường xuyên; Thực hiện việc khác theo luật định
Ngoài ra, các cán b ộ lãnh đạo cao cấp còn có nghĩa vụ:
Nghiên cứu, phát triển chủ trương , đường lối, chính sách, chiến lược, hoạch định về việc được giao và theo trách nhiệm thành quy hoạch , kế hoạch và dự án và hướng dẫn, chỉ đạo tổ chức thực hiện một cách có hiệu quả nhất
Nghiên cứu, bổ sung các văn bản khác theo vai trò , chức năng và trách nhiệm để trình cấp trên quyết định
Nghiên cứu, cải cách bộ máy hành chính gọn nhẹ và phù hợp từng giai đoạn lãnh đạo một cách có hiệu lực, hiệu quả
Tuyên truyền chủ trương đư ờng lối, pháp luật và các quy định của nhà nước đối với cán bộ, công chức theo trách nhiệm của mình
Quản lý cán bộ, công chức trong trách nhiệm của mình đúng theo pháp luật và các quy định
Giải quyết khiếu nại , tố cáo của nhân dân theo pháp luật và các quy định
Phối hợp với các tổ chức liên quan khác trong việc thực hiện chức năng trách nhiệm của mình
Trang 29Thực hiện nhiệm vụ khác theo luật định
1.1.3.4 Vai trò của cán bộ, công chức
Thực tiễn cho thấy, đội ngũ cán bộ, công chức có vai trò sau:
Cán bộ, công chức đóng vai trò chủ đạo trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước Một đất nước có đội ngũ cán bộ, công chức đầy đủ phẩm chất chính trị, có trình độ chuyên môn và năng lực, có tinh thần trách nhiệm cao, sẵn sàng cống hiến cho sự nghiệp xây dựng đất nước là một đất nước
mạnh Bởi vì, đội ngũ cán bộ, công chức chính là lực lượng nòng cốt, luôn đóng vai trò chủ đạo thực hiện các nhiệm vụ quan trọng trong mỗi giai đoạn lịch sử của đất nước
Cán bộ, công chức là lực lượng nòng cốt trong hệ thống chính trị, có nhiệm vụ hoạch định các chính sách, đưa các chính sách và thực hiện đường
lối, chính sách của Đảng, Nhà nước trở thành thực tiễn và tiếp thu nguyện
vọng của nhân dân, nắm bắt những yêu cầu thực tiễn của cuộc sống để phản ảnh kịp thời với cấp trên Giúp cho Đảng và Nhà nước đề ra được những chủ trương, chính sách sát với thực tiễn
Đội ngũ cán bộ, công chức là nguồn nhân lực quan trọng có vai trò quyết định trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước, là một trong những nguồn nhân lực quan trọng trong việc thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đội ngũ cán bộ, công chức là đội ngũ chủ yếu trực tiếp tham gia xây
dựng đường lối đổi mới kinh tế của đất nước, hoạch định các chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức QLNN và kiểm tra Điều này thể hiện rõ ở việc quản lý kinh tế vĩ mô Bởi vì, toàn bộ nền kinh tế quốc dân hoạt động trong môi trường, thể chế, định hướng nào đều là do cán bộ, công
chức hoạch định và đội ngũ này là những người trực tiếp tạo môi trường, điều
Trang 30kiện về sử dụng công cụ kinh tế, thực lực kinh tế để tác động, quản lý, điều tiết nền kinh tế thị trường
1.2.Q uản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức
Quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức , điều hành của hệ thống
cơ quan hành chính Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đặt được những mục tiêu yêu cầu nhiêm vụ quản lý Nhà nước Đồng thời các cơ quan Nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành , điều hành , tính chất hành chính Nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và cung cố chế độ công tác nội bộ của mình
Quản lý cán bộ, công chức cũng giống như quản lý nguồn nhân lực của tổ chức nhằm tạo ra một nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của
tổ chức
Qu ản lý cán bộ, công chức nhằm đạt được mục tiêu sau:
Quản lý cán bộ, công chức nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu của tổ chức (cơ quan Nhà nước) để thực hiện mục tiêu của tổ
chức đã đề ra;
Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức thích ứng với yêu cầu của từng giai đoạn xây dựng và hoàn thiện Nhà nước, cải cách nền hành chính, cải cách
chế độ công vụ, công chức và yêu cầu quản lý mọi mặt của đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội;
Tạo cơ hội để cán bộ, công chức phát triển tài năng;
Bảo đảm việc thực thi công vụ đúng pháp luật Nhà nước quy định; Xây dựng một môi trường làm việc có văn hoá, có hiệu quả trên cơ sở
hợp tác, phối hợp giữa từng cán bộ, công chức với nhau trong cơ quan, tổ
chức
Trang 311.2.2 Những nội dung cơ bản về quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức ở nước CHDCND Lào
1.2.2.1 Xây dựng kế hoạch phát triển cán bộ, công chức
Kế hoạch phát triển cán bộ, công chức phù hợp, thỏa mãn yêu cầu về số lượng và đảm bảo về chất lượng , đảm bảo việc quản lý có hiệu quả, mọi hoạt động xã hội gắn với nhiệm vụ , mục tiêu phát triển toàn diện của cả nước bao gồm các nội dung như sau:
Kế hoạch về số lượng và cơ cấu nhân lực : đây là kế hoạch mà kết quả
của nó được coi là b iểu tổng hợp thể hiện số lượng nhân lực cần thiết theo từng loại đáp ứng khối lượng và mục tiêu hoạt đọng của tổ chức
Kế hoạch bổ sung nguồn nhân lực : kế hoạch này nhằm thường xuyên
đáp ứng nhu cầu về nhân lực cho sự phát triển của tổ chức và bù đắp thiếu hụt nhân sự vì nhiều lý do khác nhau (đi học , chuyển công tá c, nghỉ hưu , tài nạn ) Kế hoạch này cần thể hiện rõ số lượng và cơ cấu nhân lực bổ sung
Kế hoạch nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề cho nhân lực : kế
hoạch này là tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao , vì tổ chức ngày càng đòi hỏi trình độ chuyên môn , tay nghề cao của nguồn nhân lực , do nhiệm vụ của tổ chức ngày càng phức tạp và luôn có thay đổi về phương pháp , phương tiện làm việc hiện đại trong tổ chức
Kế hoạch tiền lương : đây là bộ phận quan trọng của kế hoạch nguồn
nhân lực , kế hoạch này được xây dựng trên kế hoạch số lượng và cơ cấu nguồn nhân lực, mức tiền lương của từng loại nhân lực , dự tính tỷ lệ tăng tiền lương và các khoản tiền thường
1.2.2.2 Xây dựng chính sách tiền lương chocán bộ, công chức
Nhà nước quan tâm đ ến đời sống cán bộ , công chức và khuyến khích thực hiện chế độ chính sách ,đãi ngộ theo luật định , tạo mọi điều kiện cho cán bộ, công chức theo khả năng c ủa Ngân sách nhà nước, để cán bộ, công chức được phát triển ,nâng cao trình độ chuyên môn , lý luận chính trị , tư
Trang 32tưởng, khả năng để tích cực thực hiện công cuộc bảo vệ và phát triển đất nước và phục vụ nhân dân một cách toàn diện
Chế độ tiền lương và đãi ngộ là loại chính sách quan trọ ng trong quản lý cán bộ, công chức Đó là điều kiện, yếu tố đảm bảo cho người cán bộ, công chức làm việc một cách có hiệu quả nhất Theo mục 6, Điều 31 luật cán bộ , công chức năm 2015 của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Làoquy định như sau:
Tiền lương hàng tháng, tiền phù cấp, trợ cấp, tiền phù cấp nghỉ hưu và chính sách khác do cán b ộ, công chức thực hiện chức năng công việc , ngoài
ra còn được nhận một số tiền làm việc ngoài giờ chủ yếu theo pháp luật định
Tiền phụ cấp là tiề n nhà nước h ỗ trợ cho cán bộ , công chức như : phụ cấp chức vụ , phụ cấp nuôi con và người làm việc với môi trường độc hại Ngoài ra, còn được phụ cấp theo từng loại và đối tượng đã quy định trong luật bảo hiểm xã hội
Cán bộ, công chức ít nhất phải có tuổi làm việc 5 năm do tự xin nghỉ và được nhận giấy chứng nhận của tổ chức sẽ đượ c nhận tiền ph ụ cấp 1 lần và tính theo cấp, bậc và tuổi làm việc của nó
Tiền trợ cấp là tiền cấp cho cán bộ , công chức người có công xuất sắc trong thực hiện công tác thông qua đánh giá
Tiền ph ụ cấp nghỉ hưu là tiền nhà nước cấp cho cán bộ , công chức được nhận từ qu ỹ bảo hiểm xã hội sau đã có quyết định nghỉ hưu theo
luật định
Cán bộ , công chức được phép của tổ chức cử đi học trong nước và nước ngoài sẽ được hưởng l ương theo cấp , bậc, tiền phụ cấp và chính sách khác theo luật định Đặc biệt đối với cán bộ , công chức cử đi đào tạo ở Việt Nam được ưu ti ên hơn các nước khác Ngoài ra nhà nước còn hỗ trợ tiền chuyên khoa từ trung cấp đến tiễn sĩ theo các mức khác nhau Ngược lại nếu
cử đi đào tạo ở nước khác là phải trừ 50% tiền lương hàng tháng và các khoản phụ cấp
Trang 331.2.2.3 Đào tạo, bồi dưỡng và phát triển cán bộ, công chức
Đào tạo, bồi dưỡng là hai thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong các lĩnh vực cuộc sống của xã hội hiện đại , đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý nhà nước Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã hoàn thành quy trình đà o tạo, bồi dưỡng cán bộ , công chức Có thể nhận thấy , công tác đà o tạo , bồi dưỡng cán bộ , công chức nhà nước là hoạt động riêng biệt được thực hiện trong hệ thống các cơ quan nhà nước và đối tượng được đào tạo , bồi dưỡng là đội ngũ cán bộ, công chức không phải là sự nghiệp giáo dục đào tạo
Đào tạo là quá trình học tập , rèn luyện để trở thành người có trình độ cao, có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định , đáp ứng theo những yêu
cầu đặt ra [15]
Đào tạo là một khâu quan t rọng của công tác cán bộ , công chức, gắn
liền với quy hoạch, kế hoạch cán bộ, là khâu nối tiếp của quy hoạch cán bộ và trước khi bố trí, bổ nhiệm và sử dụng cán bộ, công chức
Đào tạo là quá trình tác động đến con người là quá trình truyền thụ kiến thức mới để người cán bộ , công chức có sự biến đổi về trình độ , kỹ năng và qua đó kỹ năng làm việc được nâng lên Thông thường đào tạo là quá trình trang bị kiến thức cơ bản mới hay trang bị kiến thức ở trình độ cao hơn , do đó thời gian đào tạo thường dài hơn thời gian bồi dưỡng
Thời gian đào tạo tương đương với một năm học (9 đến 10 tháng) hay là một khóa đào tạo 2 đến 5 năm, căn cứ theo cấp học tập
Bồi dưỡng cán bộ, công chức:
Theo Luật cán bộ – công chức năm 2015 đã quy định rõ : mọi cán bộ ,
công chức phải được bồi dưỡng là quá trình học tập để bồi dưỡng hoặc nâng cao trình độ , khả năng và tinh thần nhằm sửa đổi việc thực hiện để có hiệu lực, hiệu quả
Bồi dưỡng đã chia thành ba loại như sau:
Bồi dưỡng trung học chuyên nghiệp;
Trang 34Bồi dưỡng trong thời gian đang thường trực là bồi dưỡng công chức có chức vụ hành chính, công chức chuyên môn và công chức giúp việc
Bồi dưỡng công chức vừa nhận chức vụ mới
Mục đích chủ yếu của bồi dưỡng là bổ sung kiến thức , kỹ năng, cũng có thể trang bị kiến thức mới nhưng chỉ một nhóm kiến thức trên một lĩnh vực nhất định hay là bồi dưỡng chuyên sâu , cập nhật nhưng nội dung công tác , năng lực quản lý hay chuyên môn liên quan với chức da nh công tác , ngạch cán bộ , công chức đang đảm trách Do vậy thời gian của khóa bồi dưỡng thường là ngắn hơn so với đào tạo , có thể thời gian một khóa bồi dưỡng là 1 đến 3 tháng, có khi cũng chỉ là 1 đến hai tuần , có khi cũng chỉ là vài ngày Khi hoàn thành khóa bồi dưỡng người học nhận lấy chứng nhận kết quả học tập, cũng có thể là chứng chỉ tương đương một môn học
1.2.2.4 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về cán bộ, công chức
Vi ệc ban hành các văn bản qui phạm pháp luật về cán bộ, công chức:
Thời gian qua nhà nước, các cơ quan, các ngành, các sở có thẩm quyền đã thực hiện việc quản lý cán bộ , công chức là că n cứ theo các nghị định của Thủ tướng Chính phủ đến Ngày 11 tháng 11 năm 1993 Thủ tướng nước CHDCND Lào đã ký Nghị định số 171/TTg về quy chế quản lý cán bộ , công chức nước CHDCND Lào một cách thống nhất trên phạm vi toà n quốc Đồng thời nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác cũng được ban hành kèm theo liên quan đến công tác quản lý cán bộ – công chức đó là:
- Nghị định số 172/TTg, ngày 11 tháng 11 năm 1993 về “cấp, bậc của cán bộ, công chức”
- Nghị định của Thủ Tướng số 82/TTg, ngày 19 tháng 05 năm 2003 về
“Quản lý cán bộ, công chức CHDCND Lào”
Trang 35- Bản hướng dẫn của Văn phòng thủ tướng số 508/VPTTg, ngày 10 tháng 10 năm 2003 về “thực hiện Nghị định số 82/TTg, ngày 19 tháng 05 năm 2003”
- Bản hướng dẫn của Văn phòng thủ tướng số 0472/VPTTg, ngày 10 tháng 09 năm 2003 về “quy chế chức vụ”
- Quy định của Ban chấp hành Trung Ương Đảng NDCM Lào số 01/BCTĐ, ngày 07/07/2003 về “Đánh giá cán bộ, công chức”
- Quy định của Ban chấp hành Trung Ương Đảng số 02/BCTĐ, ngày 14/07/2003 về “Bổ nhiệm, chuyển thay đổi chức vụ và đơn vi công tác của cán bộ, công chức”
- Quy định của Ban tổ chức Trung Ương Đảng số 04/BTTĐ, ngày 01/10/2003 về “tiêu chuẩn của cán bộ, công chức”
- Pháp lệnh của Thủ Tướng số 28/TTg, ngày 20 tháng 09 năm 2005 về
“giao một số việc quản lý cán bộ , công chức c ho cơ quan quản lý cán bộ , công chức từng cấp giải quyết trực tiếp”
- Nghị định của Thủ Tướng số 99/TTg, ngày 23/6/2008, “về chức vụ
của cán bộ, công chức”
- Luật cán bộ, công chức số 74/QH, ngày 18/12/2015
Việc tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp lu ật về cán bộ , công chức
Sau khi Thủ tướng , các Ban, các Bộ, cơ quan ngang Bộ , đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật và bản hướng dẫn để thực hiện các văn bản đó, chủ yếu là đến thời hiện nay đã có Luật cán bộ , công chức thay đổi các Nghị định về quản lý cán b ộ, công chức toàn quốc Công tác quản lý cán bộ, công chức đã được cải tiến và đã có bước tiến bộ , được hệ thống hóa trở thành quy chế thống nhất toàn quốc , đã tạo điều ki ện thuận lợi cho việc tổ chức thực hiện của từng cấp trong công tác quy hoạch , bố trí, sắp xếp, luân
Trang 36chuyển, đề bạt, nâng ngạch, bồi dưỡng và thực hiện chính sách đối với cán bộ, công chức
1.2.2.5 Đánh giá cán bộ, công chức
Đánh giá thực hiện công việc của cán bộ, công chức đóng vai trò quan
trọng trong quản trị nguồn nhân lực nói chung và trong công tác quản lý nhà nước với cán bộ, công chức nói riêng Đánh giá mức độ hoàn thành công việc không chỉ là cấp trên đánh giá cấp dưới mà còn là việc tự đánh giá mức độ hoàn thành công việc của từng cán bộ, công chức và sự đánh giá của cấp dưới đối với cấp trên Thông thường, việc đánh giá mức độ hoàn thành công việc được thực hiện 6 tháng một lần hoặc 1 năm một lần Đánh giá thực hiện công việc nhằm xác định kết quả làm việc cụ thể của từng cá nhân người cán bộ, công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao Đồng thời, xác định nhu
cầu đào tạo và phát triển cán bộ, công chức, nội dung đào tạo và những vấn đề khác Phân tích và đánh giá thực hiện công việc còn là cơ sở cho việc tuyển chọn, bố trí, sử dụng cán bộ, công chức Bên cạnh đó còn là cơ sở cho việc trả thù lao lao động, xếp hạng cán bộ, công chức và tạo động lực cho cán bộ, công chức phát triển
Đánh giá cán bộ , công chức sẽ là cơ sở cho việc tuyển chọn , xây dựng kế hoạch , quy hoạch đào tạo , bồi dưỡng , bố trí , sắp xếp , bổ nhiệm , miễn nhiệm, luân chuyển , khen thưởng , kỷ luật , bảo đảm sự phát triển và chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức
Đánh giá cán b ộ, công chức là cơ sở để cán bộ, công chức không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị , đạo đức, nâng cao năng lực và hiệu quả công tác Vì mỗi lần đánh giá là mỗi lần giúp họ nhìn lại trinh độ , năng lực, đạo đức và quá trình công tác của mình
1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với cán bộ , công chức của
m ột số nước trên thế giớivà bài học kinh nghiệm cho Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Trang 37Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nhật là những nước phát triển, đồng thời là các quốc gia đã xây dựng chế độ công chức nhà nước sớm và nay đã đạt đến trình độ cao Chế độ công chức ở những nước này có những đặc trưng chung như sau:
- Thi c ử công khai, chọn dùng người giỏi: Tạo nhiều điều kiện thuận lợi
cho mọi người có cơ hội cạnh tranh với nhau; qua thi cử mà tuyển chọn, cất nhắc người tài giỏi làm việc cho Nhà nước
- Sát h ạch nghiêm túc, thưởng người giỏi, phạt người kém: Chế độ sát
hạch được thực hiện nghiêm túc, với tiêu chuẩn cụ thể, nhằm đánh giá kết quả thực tế của công chức Đồng thời, lấy đó làm căn cứ cho việc tuyển dụng, sắp xếp để sử dụng, tăng lương, giáng cấp, thôi chức
Cũng về vấn đề này, ở Vương quốc Anh thực hiện rất thành công Để nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, Chính phủ Anh đã tiến hành nhiều biện pháp cải tiến chế độ công chức Bên cạnh đó, nước Anh còn là nước áp dụng “chế độ công trạng” để tìm nhân tài Cứ mỗi năm công chức phải có báo cáo tổng kết công tác của chính mình, lãnh đạo ngành căn cứ vào báo cáo và
kết quả theo dõi trong quá trình quản lý công chức để có nhận xét công chức hàng năm Nhận xét này được xem xét đến trong những lần đề bạt, thăng cấp cho công chức Đồng thời, việc thăng cấp của công chức còn phải dựa trên cơ
sở kết quả thi cử quyết định Như vậy, cùng với chế độ thi cử, “Chế độ công
trạng” đã thúc đẩy tính tích cực của mỗi cá nhân trong thực thi công vụ, đòi
hỏi mỗi công chức phải có nỗ lực cao và thường xuyên trong công tác mới có thể được thăng chức
- Ch ế độ cấp bậc nghiêm túc với nhiều cấp bậc Tại Nhật, công chức
được chia làm hai loại: công chức nhà nước và công chức địa phương Công
chức nhà nước chia thành: công chức chung và công chức đặc biệt Công
Trang 38chức Nhật Bản là những người được xã hội rất coi trọng, được chế độ nhà nước rất ưu ái Vì quan chức Nhật Bản đều là những người ưu tú, được tuyển
chọn qua những kỳ thi tuyển nghiêm túc và bằng sự đào tạo, rèn luyện liên tục trên các cương vị khác nhau khi được tuyển dụng
- Ki ện toàn pháp quy, làm việc theo luật: công chức làm việc không chỉ
có pháp quy về chuyên môn mà còn được bảo đảm về pháp luật từ địa vị xã hội, vị trí, đến quyền lợivà nghĩa vụ Tại Pháp, địa vị của công chức trong mối quan hệ của họ với tổ chức hành chính thuộc quy định của pháp luật và pháp quy Để quản lý và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, mỗi ngành ở Pháp
đều có một “Hội đồng hành chính” Hội đồng hành chính các cấp có trách
nhiệm đề xuất ý kiến về những vấn đề giám định, đề bạt, điều động, thưởng
phạt công chức
- H ệ thống quản lý đồng bộ, các nước phát triển có đội ngũ công chức
đông và ngày càng tăng thêm; tại Pháp, Mỹ đều có từ 2-3 triệu công chức Để cả đội ngũ này gắn bó với nhau, nhà nước đã quan tâm đến xây dựng hệ thống quản lý phù hợp với đặc điểm của nước mình, từ bộ máy thống nhất, chế độ thi cử, tuyển dụng nghiêm túc, đến phương thức đào tạo và bồi dưỡng, bố trí,
sử dụng chặt chẽ
- Nhấn mạnh tác phong, kỷ luật, đạo đức chức nghiệp, các nước phát
triển đều đòi hỏi công chức phải giữ chuẩn mực hành vi cá nhân với tiêu chuẩn cao, đặc biệt chính trực khi thi hành công vụ Công chức không chỉ tuân theo pháp quy về kỷ luật do nhà nước quy định mà còn phải tuân theo “ khuôn phép danh dự” - đạo đức chức nghiệp
Qua nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước có thể rút ra một số kinh nghiệm cho Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào:
Trang 39M ột là, Nhà nước phải ban hành đồng bộ các văn bản pháp quy để
thống nhất việc xây dựng, quản lý, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức Chính
những văn bản này là cơ sở cho việc tuyển chọn, sử dụng và đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức
Hai là, đội ngũ cán bộ, công chức phải là những người được qua đào tạo cơ bản trong các trường đại học và được đào tạo, bồi dưỡng liên tục sau khi tuyển dụng Được rèn luyện qua các cương vị cần thiết trong thực tế và
hội tụ đầy đủ những tố chất đạo đức cơ bản của một cán bộ nhà nước
Ba là, Nhà nước xây dựng tiêu chuẩn các chức danh cụ thể cho từng loại công việc của cán bộ, công chức Tiêu chuẩn chức danh là cơ sở cho việc tuyển chọn, sử dụng, đánh giá thực hiện công việc của cán bộ, công chức và
là chuẩn mực để họ phấn đấu, rèn luyện
B ốn là, thực hiện tốt việc tuyển chọn cán bộ, công chức thông qua thi
tuyển công khai, nghiêm túc, công bằng, tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội cạnh tranh Có như vậy mới tuyển chọn được người thực sự tài giỏi vào làm việc trong các cơ quan và kích thích mọi người không ngừng học tập vươn lên Đó là một trong những biện pháp lựa chọn tốt nhất đội ngũ cán bộ, công chức có chất lượng
Năm là, cần bố trí, sử dụng hợp lý đội ngũ cán bộ, công chức Phải biết
“tuỳ tài mà dùng người”, bố trí đúng người, đúng việc nhằm phát huy hết khả năng làm việc, tạo điều kiện cho họ phát huy sở trường của mình; Nhà nước
cần có chế độ đãi ngộ xứng đáng đối với cán bộ, công chức, đảm bảo đời sống
của đội ngũ này ngày càng được cải thiện; đặc biệt quan tâm tới chế độ tiền lương, chế độ hưu trí và các loại bảo hiểm xã hội khác
Sáu là, duy trì chặt chẽ chế độ quản lý, giám sát, thưởng phạt nghiêm
minh đối với cán bộ, công chức; kiểm tra, đánh giá công chức hàng năm một
Trang 40cách nghiêm túc, theo tiêu chuẩn cụ thể nhằm phát hiện nhân tài để đề bạt, trọng dụng Cho thuyên chuyển, thôi chức đối với những người không đủ tiêu chuẩn hoặc sai phạm Mặt khác, đây là dịp làm cho công chức tự nhìn nhận
lại mình, phát huy những điểm mạnh, sửa chữa hạn chế, khuyết điểm
B ảy là, rút ngắn nhiệm kỳ đối với cán bộ, công chức lãnh đạo; bộ máy
nhà nước gọn nhẹ, giảm số lượng công chức nhất là công chức cấp cao theo kinh nghiệm của các nước đã thực hiện thành công; cần quan tâm, chú ý đến
xu thế trẻ hoá, tri thức hoá, chuyên môn hoá đội ngũ cán bộ quản lý vì đây là
xu thế phù hợp với thời đại ngày nay, nhằm đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và CNH, HĐH đất nước
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Từ khi nhà nước CHDCND Lào đã thành lập độc lạ p đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng cách mạng nhân dân Lào và nhà nước CHDCND Lào đã thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược bảo vệ Tổ Quốc và xây dựng đất nước vững mạnh đi theo con đường quá độ lên xã hội chủ nghĩa , những năm qua Đảng và nhà nước Lào đã coi trọng công tác quản lý cán bộ, công chức là chủ yếu, Thủ Tướng Chinh Phủ đã ban hành nhiều các văn b ản về quản lý về cán bộ, công chức, về tuyển dụng , bố trí, sắp xếp, bổ nhiệm, vào các vị trí chức danh nhà nướcvà đánh giá, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức