Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ AnQuản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ AnQuản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ AnQuản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ AnQuản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ AnQuản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ AnQuản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ AnQuản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ AnQuản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ AnQuản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ AnQuản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ AnQuản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LƯU QUANG NINH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LƯU QUANG NINH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.Nguyễn Hoàng Hiển
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn: “Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An” là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi
Nội dung của Luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí khoa học, kết quả nghiên cứu của các
đề tài khoa học (theo Danh mục tài liệu tham khảo)
Các số liệu trong Luận văn là trung thực và có nguồn gốc cụ thể, rõ ràng Các kết quả nêu trong Luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lưu Quang Ninh
Trang 4Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám đốc Học viện, Khoa Sau đại học đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lưu Quang Ninh
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 7
1.1 DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 7
1.1.1 Khái niệm Doanh nghiệp nhà nước 7
1.1.2 Các loại hình Doanh nghiệp nhà nước 10
1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế 13
1.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 16 1.2.1 Khái niệm 16
1.2.2 Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước 17
1.2.3 Các công cụ nhà nước dùng để quản lý doanh nghiệp nhà nước 19
1.2.4 Xu hướng can thiệp của nhà nước vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước 19
1.2.5 Nội dung quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước 22
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 27
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 28
2.1 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH NGHỆ AN 28
2.1.1 Vị trí địa lý, địa hình, tài nguyên thiên nhiên tỉnh Nghệ An 28
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội 30
Trang 62.1.3 Tình hình phát triển dân số 31
2.1.4 Tiềm năng tự nhiên có thể khai thác 32
2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 36
2.2.1 Quy mô tăng trưởng 36
2.2.2 Quy mô lao động 39
2.2.3 Quy mô vốn 41
2.2.4 Doanh thu và hiệu quả sản xuất kinh doanh 42
2.3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 44
2.3.1 Thực trạng công tác hoạch định chiến lược phát triển doanh nghiệp nhà nước 44
2.3.2 Công tác ban hành và thực thi các quy định pháp luật liên quan đến quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước 46
2.3.3 Công tác khuyến khích, hỗ trợ tạo môi trường hoạt động cho doanh nghiệp nhà nước 52
2.3.4 Công tác kiểm tra, thanh tra doanh nghiệp nhà nước 60
2.3.5 Bộ máy quản lý doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An 65 2.4 ĐÁNH GIÁ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 68
2.4.1 Những thành công 68
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 69
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 72
Trang 7Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN ĐẾN NĂM 2025 73 3.1 QUAN ĐIỂM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 73
3.1.1 Định hướng phát triển doanh nghiệp nhà nước tỉnh Nghệ An 73 3.1.2 Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước theo Luật doanh nghiệp, tạo môi trường bình đẳng cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo nguyên tắc thị trường 77 3.1.3 Cải cách thể chế quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước phải thích ứng với xu hướng hội nhập và phù hợp với thông lệ quốc tế 79 3.1.4 Đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước phải tiến hành đồng bộ với cải cách kinh tế nói chung, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 80
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU 84
3.2.1 Giải pháp về hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhà nước 84 3.2.2 Giải pháp làm lành mạnh hóa tài chính doanh nghiệp nhà nước 86 3.2.3 Đào tạo, sắp xếp, bố trí cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước chủ chốt 89 3.2.4 Tiếp tục tiến hành sắp xếp lại, phát triển và nâng cao hiệu quản hoạt động của doanh nghiệp nhà nước 92 3.2.5 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động của doanh nghiệp nhà nước 94 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 96
Trang 8KẾT LUẬN 97 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 9DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DN – Doanh nghiệp
DNNN – Doanh nghiệp nhà nước
ĐKKD – Đăng ký kinh doanh
HĐQT – Hội đồng quản trị
KTTT – Kinh tế thị trường
SXKD – Sản xuất kinh doanh
UBND – Ủy ban nhân dân
XHCN – Xã hội chủ nghĩa
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 – Số lượng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Bảng 2.2 – Phân bổ lao động theo loại hình doanh nghiệp trên
địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010 – 2014 40 Bảng 2.3 – Quy mô vốn các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh
Bảng 2.4 – Doanh thu thuần của các doanh nghiệp trên địa bàn
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Trong những năm qua, Chính phủ, các Bộ ban ngành đã ban hành kịp thời, đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật nhằm tạo cơ sở pháp lý cho các
cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp nhà nước hoạt động hiệu quả, minh bạch hơn; nội dung các văn bản pháp luật đã thể chế hóa chủ trương của Đảng, Nhà nước về việc tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước Các cơ chế, chính sách sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa, đa dạng hóa sở hữu các doanh nghiệp nhà nước, phân loại, sắp xếp cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, về đầu tư vốn được ban hành, sửa đổi, bổ sung phù hợp với yêu cầu quản lý; phân công, phân cấp rõ ràng các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, qua đó nâng cao tính công khai, minh bạch, tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản Nhà nước
Trên địa bàn Tỉnh Nghệ An, doanh nghiệp nhà nước vốn ít, quy mô nhỏ, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh thấp, nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ kéo dài Trước năm 2010 một số đơn vị lỗ nghiêm trọng dẫn đến giải thể, phá sản như: Công ty Gỗ Vinh, Xí nghiệp đánh cá Cửa Hội, Công ty Vật liệu xây dựng và Thi công cơ giới Một số đơn vị phải có các cơ chế mạnh của Chính phủ mới đủ điều kiện chuyển đổi hình thức sở hữu, vốn nhà nước
bị thâm hụt như: Công ty Mía đường Sông Lam, Công ty Mía đường Sông Con, Công ty Đầu tư hợp tác kinh tế Việt - Lào, Công ty Xây dựng số I, Công
ty Xuất nhập khẩu và Dịch vụ tổng hợp vv Thực hiện chủ trương sắp xếp, chuyển đổi, đến cuối năm 2010, trên địa bàn toàn tỉnh đã sắp xếp, chuyển đổi
160 doanh nghiệp, trong đó: Cổ phần hoá: 86; Giao, bán, khoán: 8; Giải thể: 6; Chuyển sang sự nghiệp có thu: 5; Phá sản: 2; Sáp nhập: 31 (Sáp nhập về
Trang 12TW: 20; Sáp nhập về địa phương: 11); Chuyển thành Công ty TNHH một thành viên: 22 DN Sau khi chuyển đổi, hầu hết các doanh nghiệp đã tinh giản lao động, tình hình tài chính lành mạnh; hoạt động theo cơ chế quản lý điều hành mới, nhận thức và trách nhiệm của bộ máy quản lý cũng như người lao động trong doanh nghiệp nâng cao Hiệu quả kinh tế - xã hội được nâng lên rõ rệt Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư hàng tỷ đồng mở rộng sản xuất kinh doanh
Để hoạt động quản lý của nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An tiếp tục được hoàn thiện đảm bảo cho các doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả, cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn đã đặt ra nhiều vấn đề lý luận và pháp lý cần phải được giải quyết thấu đáo, có căn cứ khoa học và thực tiễn Vì vậy việc chọn vấn đề “Quản lý nhà nước đối với Doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công là tất yếu khách quan, có tính cấp thiết sâu sắc
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Trong những năm gần đây, những vấn đề liên quan tới hoạt động quản
lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước đã được nhiều tác giả nghiên cứu, cụ thể như:
- “Đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trên đia bàn tỉnh Vĩnh Phú”, Luận án Tiến sĩ kinh tế năm 1996 của tác giả Trần Mạnh Tôn Luận án tập trung Hệ thống hóa một số vấn đề chung về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước; phân tích quá trình hình thành và phát triển, thực trạng doanh nghiệp nhà nước và quản lý doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phú, chỉ ra những thành tựu đổi mới bước đầu và những tồn tại, hạn chế hiện nay; Xác định những quan điểm cơ bản và từ điều kiện cụ thể của tỉnh Vĩnh Phú đề xuất phương hướng và giải pháp tiếp tục đổi mới về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn
Trang 13- “Quản lý kinh tế của cơ quan nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước – Thực trạng và kiến nghị”, Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Văn Cương, năm 2012 Luận văn phân tích đánh giá thực trạng quản
lý đối với doanh nghiệp nhà nước và những đòi hỏi khách quan của nền kinh
tế thị trường đối với doanh nghiệp nhà nước, đánh giá hệ thống pháp luật về doanh nghiệp nhà nước thông qua phân tích, so sánh các chế định của pháp luật hiện hành với hệ thống các mục tiêu, mục đích đặt ra trong quản lý doanh nghiệp nhà nước
- “Sức cạnh tranh của doanh nghiệp được hình thình từ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Nghệ An”, Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Anh Tuấn, năm 2006 Đề tài nghiên cứu những yếu tố bên trong kết hợp chặt chẽ với những yếu tố bên ngoài của năng lực cạnh tranh để thực hiện thành công chiến lược kinh doanh trên thị trường trong nước, khu vực và quốc tế, nhấn mạnh đến sự cạnh tranh tạo ra thông qua nâng cao tiềm lực tài chính toàn xã hội, đổi mới thiết bị, công nghệ, nâng cao trình độ nguồn nhân lực và trình độ quản trị doanh nghiệp, sản phẩm có chất lượng cạnh tranh cao, giá sản phẩm được người tiêu dùng chấp nhận làm tăng lợi nhuận doanh nghiệp và đời sống người lao động, nhấn mạnh tới xây dựng chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
“Một số khía cạnh pháp lý của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ Luật học năm 2012 của tác giả Đoàn Thị Lan Anh Luận văn nghiên cứu những bất cập trong quá trình quản lý doanh nghiệp nhà nước được hình thành do thói quen trong công tác quản lý từ chế độ cũ để lại, những dấu hiệu do lợi ích nhóm mang đến và mô hình doanh nghiệp nhà nước dàn trải, không trọng tâm; Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước trong thời gian qua trên cơ sở lý luận để thấy rõ những bất cập đồng thời nghiên cứu những giải
Trang 14pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; Việc quản lý nguồn vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước; Việc quản lý cán
bộ hoạt động tại doanh nghiệp nhà nước, tình trạng lãng phí nguồn nhân lực, cán bộ không phát huy được hết khả năng của mình hoặc tình trạng lạm quyền trong quản lý, điều hành
Ngoài ra còn một số sách đã xuất bản nghiên cứu về doanh nghiệp nhà nước như: Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và sự lãnh đạo của tổ chức Đảng trong công ty cổ phần, Phí Văn Chỉ- chủ biên, NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2000; Doanh nghiệp nhà nước trong cơ chế thị trường ở Việt nam, GS.TS Vũ Huy Từ, NXB Chính tri quốc gia, Hà Nội, 1994; Kinh tế nhà nước
và quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước, PGS.TS Ngô Quang Minh, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2001; Bán, khoán kinh doanh và cho thuê các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam.TS Nguyễn Văn Phúc, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; Doanh nghiệp nhà nước trong phát triển kinh tế- xã hội ở Việt Nam đến năm 2010, PGS.TS Ngô Thắng Lợi, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004
Các công trình nêu trên đã nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước ở nhiều góc độ và đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Tỉnh Nghệ An, đặc biệt sau khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) có hiệu lực thi hành Vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài này cho luận văn thạc sĩ của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích:
Trang 15Luận văn phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và vận dụng vào điều kiện của tỉnh Nghệ
An, từ đó đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm 2025
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An
- Phạm vi nghiên cứu:
Trong điều kiện và thời gian có hạn luận văn tập trung trọng tâm nghiên cứu đi sâu phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trong không gian là trên pham vi địa bàn tỉnh Nghệ An và thời gian trong giai đoạn 2011 - 2015 và đề xuất các giải pháp đến năm 2025
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận:
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo
Trang 16- Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử cùng các phương pháp cụ thể khác như: phân tích, tổng hợp, thống kê, diễn giải và quy nạp và phương pháp đối chiếu-
so sánh, v.v…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Cơ sở lý luận về doanh nghiệp nhà nước và làm rõ quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước
Đánh giá đúng thực trạng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An và đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Tài liệu tham khảo cho tất cả những ai quan tâm đến vấn đề quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Chương 3: Quan điểm và giải pháp chủ yếu hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm 2025
Trang 17Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1 DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1.1 Khái niệm Doanh nghiệp nhà nước
Trong những năm trước đổi mới (1954 – 1985), Việt Nam áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, trong đó đặc biệt đề cao vai trò của kinh
tế quốc doanh và kinh tế tập thể Tương thích với mô hình đó, có khái niệm
về các xí nghiệp quốc doanh, nông trường quốc doanh, công ty quốc doanh, mậu dịch quốc doanh được hiểu là những tổ chức do Nhà nước trực tiếp đầu
tư vốn 100%, quyết định thành lập, quyết định phương hướng hoạt động, quyết định bộ máy quản lý và tuyển dụng lao động theo chế độ biên chế ổn định Doanh nghiệp quốc doanh thường được đồng nhất với thành phần kinh
tế quốc doanh – bộ phận chủ yếu được coi là giữ vai trò chủ đạo của nền kinh
tế xã hội chủ nghĩa, kiểu kế hoạch hóa tập trung Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp quốc doanh và các tổ chức khác của Nhà nước đều là những cán bộ công nhân viên chức trong biên chế, ít có sự phân biệt về quyền lợi, chế độ phân phối và đãi ngộ
Trong hơn 30 năm đổi mới vừa qua, khái niệm về doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam từng bước được điều chỉnh và hoàn thiện Điều này thể hiện
rõ trong các văn bản pháp quy, tiêu biểu là Luật Doanh nghiệp nhà nước được Quốc hội thông qua, ban hành ngày 20 tháng 4 năm 1995
Điều 1 của Luật này quy định: “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh
tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội
Trang 18do Nhà nước giao” [43] Như vậy, theo Luật Doanh nghiệp nhà nước được Quốc hội thông qua, ban hành ngày 20 tháng 4 năm 1995, xét về quan hệ sở hữu vốn thì Luật mới chỉ chấp nhận loại doanh nghiệp nhà nước mà chủ sở hữu duy nhất năm giữ 100% vốn của doanh nghiệp là Nhà nước
Luật doanh nghiệp nhà nước được Quốc hội thông qua ngày 26 tháng
12 năm 2003, trong điều 1 quy định: “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh
tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách
nhiệm hữu hạn” [44] Theo đó, Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 đã có
điểm mới, đó là ngoài các doanh nghiệp có 100% vốn điều lệ là doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp mà nhà nước có cổ phần hoặc vốn góp chi phối cũng là doanh nghiệp nhà nước
Ngày 29 tháng 11 năm 2005, Quốc hội đã ban hành Luật Doanh nghiệp, luật này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 để thay thế luật Doanh nghiệp năm 1995 và Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 Khoản
22 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ”[45] Tuy nhiên, khái niệm về Doanh nghiệp nhà nước không thuộc phạm vi điều chỉnh trong Luật doanh nghiệp được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm
2005 Đến ngày 01 tháng 7 năm 2010 khi tất cả công ty nhà nước độc lập và tổng công ty nhà nước phải chuyển đổi sang mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thì Luật Doanh nghiệp năm 2005 mới có hiệu lực điều chỉnh các doanh nghiệp nhà nước
Năm 2014 Quốc hội ban hành Luật Doanh nghiệp có hiệu lực từ ngày
01 tháng 7 năm 2015, tại khoản 8 Điều 4 quy định: “Doanh nghiệp nhà nước
là doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” [46], tại Luật này
Trang 19doanh nghiệp nhà nước lại được quy định giống Luật Doanh nghiệp năm
1995
Như vậy, khái niệm về doanh nghiệp nhà nước trên đây đã không chỉ chú trọng đến hình thức sở hữu của loại hình doanh nghiệp có tính chất công hữu này, mà còn nhấn mạnh đến cả chức năng đặc thù của chúng, đó là doanh nghiệp nhà nước không chỉ thực hiện chức năng sản xuất kinh doanh thông thường giống như tất cả các doanh nghiệp khác mà còn là công cụ để Chính phủ sử dụng nhằm đặt mục tiêu kinh tế - xã hội mà một doanh nghiệp hoạt động đơn thuần vì mục tiêu lợi nhuận không thể thực hiện được Riêng về khía cạnh sở hữu, quan điểm của Đảng và Chính phủ Việt Nam trong Luật Doanh nghiệp 2005 cũng có những mặt nới lỏng và năng động hơn Bên cạnh những doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước, còn có những doanh nghiệp mà Nhà nước chỉ có cổ phần chi phối ở một số ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng Trong hệ thống các doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước đã chủ trương thành lập một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế Mặt khác, chủ trương cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước và đa dạng hóa sở hữu đối với các doanh nghiệp nhà nước (mà Nhà nước không cần nắm 100% vốn) cũng được chú trọng
Quan điểm trên đây hoàn toàn phù hợp với các nhìn nhận của Đảng và Nhà nước về vai trò của doanh nghiệp nhà nước thể hiện trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX:
Việc xem xét, đánh giá hiêu quả của doanh nghiệp nhà nước phải có quan điểm toàn diện cả về kinh tế, chính trị, xã hội; trong đó, lấy suất sinh lời trên vốn làm một trong những tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp, lấy kết quả thực hiện các chính sách xã hội
Trang 20làm tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp công ích[21]
Như vậy theo pháp luật của Việt Nam, DNNN có một số đặc trưng sau:
Một là, Nhà nước giữ quyền chi phối DN thông qua đầu tư vốn vào
DN Tỷ trọng đầu tư nhà nước có thể khác nhau trong các DN khác nhau, nhưng điểm chung là đủ để cho phép Nhà nước giữ quyền chi phối đối với hoạt động của DN
Hai là, DNNN hoạt động tự chủ theo chế độ phân cấp và ủy quyền
quản lý của Nhà nước, trong đó Nhà nước chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về nghĩa vụ tài chính của DN trong khuôn khổ số vốn đầu tư vào DN
Ba là, Về mặt pháp lý DNNN hoạt động trong môi trường cạnh tranh
bình đẳng với các DN khác
Bốn là, Mặc dù hoạt động kinh doanh tự chủ nhưng DNNN đương
nhiên phải thực hiện các nhiệm vụ do Nhà nước giao
Theo Luật Doanh nghiệp được Quốc hội ban hành ngày 26 tháng 11
năm 2014, tại khoản 8 Điều 4 quy định “Doanh nghiệp nhà nước là doanh
nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” [46] Tuy nhiên, trong phạm
vi nghiên cứu của Đề tài sẽ đề cập đến các doanh nghiệp nhà nước có cổ phần chi phối và doanh nghiệp nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
1.1.2 Các loại hình Doanh nghiệp nhà nước
Theo Luật DNNN sửa đổi 2003, DNNN được tổ chức dưới hình thức Công ty nhà nước, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn Theo đó, Công ty nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật DNNN
và công ty nhà nước được tổ chức dưới hình thức Công ty nhà nước độc lập
và tổng công ty nhà nước
Tổng công ty nhà nước:
Trang 21Tổng công ty do Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập trên cơ sở tập hợp và liên kết các công ty nhà nước thành viên có tư cách pháp nhân, hoạt động trong một hoặc một số chuyên ngành kinh tế kỹ thuật chính, nhằm tăng cường, tích tụ, tập trung vốn và chuyên môn hoá kinh doanh của các đơn
vị thành viên và toàn tổng công ty
Tổng công ty do các công ty tự đầu tư và thành lập là hình thức liên kết thông qua đầu tư, góp vốn của công ty nhà nước có qui mô lớn do Nhà nước
sở hữu toàn bộ vốn điều lệ với các doanh nghiệp khác, trong đó công ty nhà nước giữ quyền chi phối doanh nghiệp khác
Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước là tổng công ty được thành lập để thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với các công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên chuyển đổi từ các công ty nhà nước độc lập và các công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên do mình thành lập; thực hiện chức năng đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước và quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu với cổ phần, vốn góp Nhà nước tại các doanh nghiệp đã chuyển đổi sở hữu hoặc hình thức pháp lý từ các công ty nhà nước độc lập
Công ty nhà nước độc lập là công ty nhà nước không thuộc cơ cấu của
Tổng công ty nhà nước
Đến năm 2005 Luật Doanh nghiệp ra đời thay thế cho Luật Doanh nghiệp 1999 và Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003 nên các loại hình doanh nghiệp nhà nước đã có sự thay đổi, theo đó Luật doanh nghiệp 2005 quy định các loại hình doanh nghiệp nhà nước gồm: Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Nhóm công ty Khi Luật doanh nghiệp 2005 ra đời và có hiệu lực thi hành thì các Công ty nhà nước vẫn còn tiếp tục tổ chức hoạt động theo Luật DNNN 2003, phải đến ngày 1/7/2010 các Công ty nhà nước đã đồng loạt chuyển đổi sang loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc
Trang 22công ty cổ phần và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Sau đó nhóm công ty tức các Tổng công ty nhà nước, các Tập đoàn kinh tế nhà nước được sử dụng
để liên kết các doanh nghiệp nhà nước tạo sức mạnh về kinh tế và các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước không có tư cách pháp nhân
Đến năm 2014, Quốc hội thông qua Luật Doanh nghiệp có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2015 thay thế Luật Doanh nghiệp 2005 quy định
rõ hơn về các loại hình doanh nghiệp Như vậy, trải qua nhiều giai đoạn và hiện nay Doanh nghiệp nhà nước được tổ chức dưới các hình thức sau:
- Công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp được hình thành, tồn tại và phát triển bởi sự góp vốn của nhiều cổ đông Bộ máy tổ chức của các công ty cổ phần được cơ cấu theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty nhằm đảm bảo tính chuẩn mực, minh bạch và hoạt động có hiệu quả Đồng thời để bảo đảm sự quản lý của nhà nước thì các nhân sự cao cấp trong bộ máy đó phải do nhà nước quyết định
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một
tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu; chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty
- Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên,
- Tập đoàn kinh tế nhà nước là nhóm công ty, gồm công ty mẹ, các doanh nghiệp thành viên và công ty liên kết Tập đoàn kinh tế nhà nước phải
có ngành, lĩnh vực sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ đặc biệt quan trọng trong bảo đảm an ninh quốc gia về kinh tế; tạo nền tảng về hạ tầng kinh tế quốc gia; tạo động lực nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế Thủ tướng Chính phủ quy định các ngành, lĩnh vực kinh doanh được xem xét thành lập tập đoàn kinh tế trong từng thời kỳ
Trang 23- Tổng công ty nhà nước là nhóm công ty, gồm công ty mẹ, các doanh nghiệp thành viên và công ty liên kết Tổng công ty nhà nước có ngành, lĩnh vực kinh doanh chính thuộc một trong những ngành, lĩnh vực sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ quan trọng tạo nền tảng cho phát triển ngành hoặc vùng lãnh thổ; tạo động lực nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp và ngành hoặc vùng lãnh thổ Thủ tướng Chính phủ quy định những ngành, lĩnh vực kinh doanh được xem xét thành lập tổng công ty trong từng thời kỳ
Quy định về tập đoàn kinh tế nhà nước và tổng công ty nhà nước tại Nghị định số 69/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2014
1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế
Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá IX đã khẳng định:
Kinh tế nhà nước có vai trò quyết định trong việc giữ vững định hướng
xã hội chủ nghĩa, ổn định và phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, DNNN phải không ngừng được đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả, giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm công cụ vật chất quan trọng để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô, làm lực lượng nòng cốt, góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, là chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế Việc xem xét, đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước phải có quan điểm toàn diện cả về kinh tế, chính trị, xã hội; trong đó lấy suất sinh lời trên vốn làm một trong những tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp kinh doanh [21]
Trang 24Sự khẳng định trên đã nêu rõ vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Vai trò đó được thể hiện cụ thể trên các nội dung:
Một là, Các DNNN giữ những vị trí then chốt của nền kinh tế Khi xây
dựng và phát triển chế độ kinh tế xã hội, một quốc gia có chế độ chính trị định hướng xã hội chủ nghĩa như Việt Nam phải xây dựng một hệ thống doanh nghiệp có tính chất “xương cốt” của nền kinh tế, hệ thống đó có vai trò định hướng chính trị xã hội cho toàn bộ nền kinh tế Điều này thể hiện ở chỗ DNNN bảo đảm những điều kiện phát triển, bảo đảm những cân đối lớn cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân Sứ mạng đó thể hiện trước hết ở chỗ DNNN hiện đang nắm giữ các ngành công nghiệp then chốt, xương sống của nền kinh tế và toàn bộ ngành công nghiệp quốc phòng
Hai là, Các DNNN còn đảm nhận những trách nhiệm, những nhiệm vụ
xã hội rất lớn, đồng thời thúc đẩy sự phát triển các vùng kinh tế lạc hậu Với mục tiêu xây dựng một xã hội, công bằng, dân chủ, vì dân, những nghĩa vụ xã hội đặt ra cho nhà nước không chỉ nặng nề mà ngay trong những bước phát triển, những nhiệm vụ đó đã phải từng bước được giải quyết Do vậy DNNN thường phải đảm nhận những mục tiêu xã hội, đầu tư vào những lĩnh vực ít lãi, hoặc thu hồi vốn lâu nhưng có ý nghĩa xã hội lớn Đặc biệt, trong những lĩnh vực công ích, những lĩnh vực có vai trò phục vụ cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân như kết cấu hạ tầng, bảo vệ môi trường, đảm bảo an ninh quốc phòng Với các lĩnh vực này không thể kinh doanh đơn thuần vì mục tiêu lợi nhuận Đảm bảo các mục tiêu xã hội là nhiệm vụ phổ biến của các DNNN của hầu hết các nước trên thế giới Nhưng có thể nói ở nước ta, nhiệm vụ đó nặng
nề khó khăn hơn nhiều Điều đó do điều kiện lịch sử đặc thù và định hướng con đường phát triển chi phối
Trang 25Ba là, Các DNNN còn có sứ mệnh rất lớn là tạo điều kiện và thúc đẩy
toàn bộ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đặc biệt, trong điều kiện nước ta đang tiến hành hiện đại hoá, công nghiệp hoá từ điều kiện sản xuất nhỏ, lạc hậu, thì vai trò của các DNNN là rất to lớn
Bốn là, Trong điều kiện phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở
nước ta hiện nay, các DNNN còn những hạt nhân, nòng cốt trong việc liên doanh, liên kết lôi cuốn các thành phần kinh kế khác đi vào quĩ đạo phát triển
đi lên chủ nghĩa xã hội Đây là vai trò, sứ mệnh hết sức quan trọng của các DNNN Chủ trương đổi mới kinh tế đã kích thích, giải phóng sức sản xuất ở các thành phần kinh tế phát triển Nhưng các thành phần kinh tế với bản chất kinh tế vốn có của nó, nếu không có những tác động điều chỉnh có hiệu lực bằng các biện pháp kinh tế, nếu không có thực lực, những sức mạnh kinh tế
để khống chế và điều tiết, thì khó có thể định hướng hoạt động kinh tế của toàn xã hội Những sức mạnh, những trung tâm thực lực kinh tế cùng sống, cùng hoạt động trong một môi trường thị trường với các thành phần kinh tế trong sản xuất kinh doanh chính là các DNNN, đó là một đội quân chủ lực hùng mạnh mà nhà nước sử dụng để tác động và điều khiển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
Năm là, DNNN là nơi tạo ra việc làm cho xã hội, góp phần đào tạo và
phát triển nguồn nhân lực, giúp người lao động có thu nhập và cuộc sống ổn định
Sáu là, DNNN ngoài việc hoàn thành các mục tiêu do nhà nước đề ra
còn trực tiếp tạo ra sản phẩm, dịch vụ phục vụ thị trường, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội; đóng góp vào ngân sách nhà nước, tham gia xuất khẩu, từng bước mở rộng thị trường trong và ngoài nước
Trang 26Bảy là, DNNN vừa là một công cụ quản lý của Nhà nước vừa là một bộ
máy làm kinh tế của nhà nước, góp phần làm cho kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân
1.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1.2.1 Khái niệm
Khái niệm quản lý: Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành
khoa học tự nhiên và xã hội Dưới góc độ nghiên cứu riêng của mình, mỗi ngành khoa học lại đưa ra khái niệm về quản lý khác nhau Tuy nhiên, hiểu theo một cách chung nhất và thống nhất nhất, quản lý là sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa nó và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định
Khái niệm quản lý nhà nước: Về nghĩa rộng, quản lý nhà nước là toàn
bộ hoạt động của Nhà nước nói chung, mọi hoạt động mang tính chất nhà nước, nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước Như vậy, quản
lý xã hội trong xã hội đã có Nhà nước là một khái niệm rộng bao hàm quản lý mang tính chất nhà nước, tức là quản lý nhà nước theo nghĩa rộng và quản lý mang tính chất xã hội
Trong các công trình khoa học ở nước ta gần đây, khi nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước, cũng như trong nhiều nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước có nói nhiều đến thuật ngữ này, song cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm chính thức nào được đưa ra Trên cơ sở nghiên cứu và tìm hiểu các văn bản pháp luật của Nhà nước, các công trình khoa học, chúng tôi xin đưa ra khái niệm về quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước như sau:
Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước là phương thức tác động của Nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước thông qua hệ thống
Trang 27luật pháp, các quy định, cách thức, phương tiện để doanh nghiệp nhà nước hoạt động, thực hiện theo các mục tiêu kinh tế – xã hội mà Nhà nước đề ra
1.2.2 Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước
Với vai trò của DNNN nêu trên, thì việc Nhà nước quản lý DNNN là một yêu cầu “tất yếu”, nó thể hiện ở các nội dung sau:
Thứ nhất, Nhà nước không chỉ là một tổ chức chính trị hay tổ chức
hành chính đơn thuần mà trên thực tế trong điều kiện hiện nay, bộ máy nhà nước của bất kỳ quốc gia nào cũng đều phải đảm đương chức năng kinh tế quan trọng, điều này được quyết định bởi sự phát triển xã hội hoá sản xuất
Thứ hai, có thể thấy Nhà nước có ít nhất ba chức năng quan trọng liên
quan trực tiếp tới hoạt động kinh doanh sản xuất của DNNN: Một là, Nhà
nước phải định ra và quán triệt thực hiện chiến lược phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân, phải định ra chính sách kinh tế, bao gồm chính sách khoa học kỹ thuật, chính sách ngành nghề, chính sách phát triển khu vực, chính sách tiền lương, lao động,… tiến hành qui hoạch và thực hiện điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế quốc dân Chức năng này của nhà nước chủ yếu do các ban ngành, các cơ quan nhà nước thi hành, nhưng nếu không có sự tham gia phối hợp của DNNN thì khả năng thực thi là rất thấp Điều này tuy có liên quan đến tất cả các doanh nghiệp nhưng DNNN giữ vị trí chủ chốt do những tiềm năng về vốn, và những lĩnh vực mà nó đang nắm giữ đem lại, hay nói cách khác do vai trò của DNNN trong nền kinh tế đem lại Phải thừa nhận, DNNN đã và đang là một trong những công cụ quan trọng, là lực lượng tin cậy để nhà nước thực hiện chức năng kinh tế, chính sách kinh tế và xã hội, chiến lược và qui hoạch phát triển kinh tế, điều tiết nền kinh tế quốc dân Nếu kinh tế nhà nước không gánh vác được nghĩa vụ trách nhiệm này thì trên một mức độ rất lớn, đã tự làm mất đi giá trị tồn tại và phát triển của mình Chính
Trang 28vì vậy, Nhà nước không thể không hoàn toàn can thiệp vào DNNN, DNNN phải hoàn thành mục tiêu kinh doanh và phương hướng phát triển mà Nhà
nước đã qui định Hai là, Nhà nước phải thực hiện chức năng người sở hữu
đối với DNNN Điều này có liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh sản
xuất của DNNN Ba là, Nhà nước còn phải thực hiện chức năng quản lý kinh
tế, điều này liên quan trực tiếp tới tất cả các doanh nghiệp
Như vậy, sự quản lý của Nhà nước đối với DNNN là một yêu cầu cần thiết và không phân biệt nền kinh tế Nhưng ở mỗi nền kinh tế cụ thể, cách thức quản lý đối với DNNN lại khác nhau và cách thức này phụ thuộc vào đòi hỏi khách quan hay nói cách khác phụ thuộc vào sự vận hành của nền kinh tế (các qui luật kinh tế chi phối) Nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay đang đòi hỏi sự bình đẳng, sự tự do cạnh tranh giữa các doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu hay thành phần kinh tế Vì vậy, sự quản lý của Nhà nước đối với doanh nghiệp nói chung và DNNN nói riêng phải nhằm thoả mãn các đòi hỏi của nền kinh tế hiện tại, có như vậy, thì kinh tế thị trường mới phát huy được những ưu thế của nó Khắc phục những mặt hạn chế của nền kinh tế thị trường cũng được xác định là một trong những nhiệm
vụ của Nhà nước khi thực hiện chức năng quản lý kinh tế Nhưng xét trên phương diện pháp lý, Nhà nước quản lý xã hội phải bằng pháp luật, nên để khắc phục những hạn chế của nền kinh tế, Nhà nước cần xây dựng một hệ thống pháp luật chung để phòng ngừa và hạn chế, chứ không thể sử dụng một thành phần kinh tế (vốn được coi là bình đẳng với các thành phần kinh tế khác) để làm công cụ gây ảnh hưởng tới các thành phần kinh tế khác Vì vậy,
để giải quyết những hạn chế của nền kinh tế thị trường, Nhà nước cần thực hiện thông qua các hình thức như chính sách hỗ trợ, thuế, hạn mức chứ không nên sử dụng các DNNN, bởi lẽ mục tiêu hoạt động của DNNN là kinh doanh chứ không phải là giải quyết các vấn đề xã hội Chính vì vậy, điều quan
Trang 29trọng hiện nay trong việc quản lý đối với DNNN là phải tìm ra một cơ chế quản lý hợp lý, chứ không phải đi tìm lý do khẳng định sự cần thiết của quản
lý đối với DNNN
1.2.3 Các công cụ nhà nước dùng để quản lý doanh nghiệp nhà nước
Một là, Xác định quan điểm, đường lối, chiến lược quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội nói chung, các doanh nghiệp nhà nước nói riêng
Hai là, Xây dựng và thực thi luật pháp (quản lý doanh nghiệp nhà nước) nhằm tạo “luật chơi” cho doanh nghiệp nhà nước; vấn đề quan trọng nhất là chính sách thuế và chính sách kiểm soát đối với doanh nghiệp, các quy chế quản lý doanh nghiệp nhà nước
Ba là, Tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp nhà nước xây dựng kết cấu hạ tầng; hướng dẫn kinh doanh; hỗ trợ vốn; hỗ trợ về công tác đào tạo, quảng bá sản phẩm; xử lý các mối quan hệ trong và ngoài nước có liên quan đến sự tồn tại và phát triển doanh nghiệp nhà nước (trốn lậu thuế, lừa đảo, đối ngoại v v…)
Bốn là, Xây dựng bộ máy (các cơ quan) quản lý doanh nghiệp nhà nước
1.2.4 Xu hướng can thiệp của nhà nước vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước
Có hai xu hướng lớn sau:
Thứ nhất, thực hiện chế độ quản lý công ty đối với tất cả các doanh
nghiệp nhà nước
Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp nhà nước đã được trao quyền tự chủ trong hạch toán kinh doanh Tuy nhiên, về thực chất, đa số các doanh nghiệp nhà nước hiện vẫn đang hoạt động theo cơ chế cũ, tức là cơ chế “xin- cho” và ỷ lại vào Nhà nước Trong cơ chế đó, sự năng động của giám đốc doanh nghiệp được đánh giá bằng việc kiếm được nhiều dự án hoặc làm thế
Trang 30nào xin được nhiều tiền đầu tư của Nhà nước Sau khi xin được tiền đầu tư của Nhà nước, không ít giám đốc dùng số tiền đó vào việc mua sắm các trang thiết bị đắt tiền, ô tô sang trọng, tiếp khách và không chú ý nhiều đến công việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình Với cơ chế đó, tình trạng các doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ kéo dài, tội tham nhũng, hối lộ và
sự thoái hoá, biến chất trong một bộ phận không nhỏ cán bộ Nhà nước là khó tránh khỏi
Để sớm khắc phục tình trạng trên, Nhà nước đã thực hiện sớm chế độ quản lý công ty đối với tất cả các doanh nghiệp nhà nước Theo đó, các doanh
nghiệp nhà nước đều phải hoạt động theo Luật doanh nghiệp, thực sự là một
pháp nhân trong kinh doanh, là một chủ thể tự chủ kinh doanh, lời ăn, lỗ chịu
và có đầy đủ các quyền trong kinh doanh như các loại hình doanh nghiệp khác
Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp hoạt động theo chế độ quản
lý công ty thông qua Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc điều hành Giám đốc điều hành do Hội đồng quản trị tuyển chọn từ nhiều nguồn (cả trong và ngoài nước), là người có kinh nghiệm kinh doanh,
có tinh thần trách nhiệm, gắn bó với sự thành đạt của doanh nghiệp, được trả lương theo năm và theo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp làm ăn thua lỗ kéo dài trong nhiều năm thì Hội đồng quản trị phải xem xét nguyên nhân để có thể bãi nhiệm hoặc quy trách nhiệm cho giám đốc theo luật định
Các cấp Nhà nước có thẩm quyền thành lập Hội đồng quản trị đối với các doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước và cử cán bộ tham gia Hội đồng quản trị ở các doanh nghiệp nhà nước có cổ phần chi phối hoặc không chi phối theo Luật Doanh nghiệp
Trang 31Những người được Nhà nước cử tham gia Hội đồng quản trị là những người đại diện chủ sở hữu của vốn nhà nước và phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước và pháp luật về việc bảo toàn và phát triển vốn đó Lương của các thành viên Hội đồng quản trị do Nhà nước cử được trả theo năm, gắn với hiệu quả đầu tư từ nguồn vốn nhà nước và một phần từ kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà Nhà nước có cổ phần
Thực chất của việc thực hiện chế độ quản lý công ty đối với mọi doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước là quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, là sự đổi mới và cải tiến hình thức đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp nhà nước nhằm thực hiện đa dạng hoá sở hữu trong doanh nghiệp nhà nước
Thứ hai, đổi mới chức năng quản lý nhà nước và phương thức lãnh đạo
của Đảng trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước
Cũng như các doanh nghiệp khác, doanh nghiệp nhà nước hoạt động sản xuất và kinh doanh trong khuôn khổ và phạm vi của luật pháp Nhà nước
Do đó, Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bằng quyền lực hành chính, mà chi phối chúng dưới hình thức
là một cổ đông, thông qua những đại diện của sở hữu vốn nhà nước được cử tham gia Hội đồng quản trị Đối với những doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng, Nhà nước có thể chiếm tới 100% vốn, hoặc tham gia cổ phần chi phối để vừa có thể chi phối hoạt động kinh doanh với tư cách là cổ đông chi phối, vừa có thể quyết định với tư cách là Nhà nước Như vậy, phương thức lãnh đạo của Nhà nước được chuyển từ hình thức hành chính, mệnh lệnh sang hình thức kinh tế, mà biểu hiện trực tiếp của nó là vốn và năng lực quản lý của người đại diện Đó cũng chính là biện pháp nhằm kết hợp chặt chẽ giữa vốn (sở hữu) với khâu quản lý trong quá trình cải tiến, hoàn thiện quan hệ sản xuất
Trang 32Phương thức lãnh đạo của Đảng trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước đổi mới cho phù hợp với hoạt động của doanh nghiệp theo chế
độ công ty Bí thư và một số thành viên chủ chốt của tổ chức Đảng trong các doanh nghiệp tham gia Hội đồng quản trị được tổ chức theo cơ chế đề cử đối với doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước và được giới thiệu để Đại hội cổ đông bầu vào Hội đồng quản trị hoặc làm Chủ tịch Hội đồng quản trị
Tổ chức Đảng trong các doanh nghiệp phát huy vai trò lãnh đạo của mình thông qua công tác giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phát huy vai trò của người lao động, bảo vệ lợi ích của người lao động và các chủ sở hữu, khuyến khích đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ quản trị kinh doanh hiện đại cho người lao động và cán bộ quản lý Để có thể làm tốt vai trò lãnh đạo của mình, các đảng viên cần có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực quản lý kinh doanh để có thể được tín nhiệm và giới thiệu vào bộ máy quản trị doanh nghiệp Bên cạnh
đó, các tổ chức Đảng trong các doanh nghiệp nhà nước cần tổ chức giám sát chặt chẽ người được giao làm chủ đại diện cho phần vốn thuộc sở hữu nhà nước; khuyến khích đảng viên gương mẫu trong việc thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước; mạnh dạn đầu tư sản xuất, kinh doanh để làm giàu cho mình và làm giàu cho xã hội
1.2.5 Nội dung quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước
1.2.5.1 Hoạch định sự phát triển của các doanh nghiệp nhà nước
Đó là việc xác định sứ mệnh, tầm nhìn chiến lực, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển hệ thống doanh nghiệp nhà nước dựa trên phân tích
cơ hội và thách thức từ môi trường, phân tích tiềm năng, lợi thế về kinh tế của quốc gia, ngành kinh tế, vùng lãnh thổ, địa phương Việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhà nước phải thỏa mãn các yêu cầu về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng của đất nước
Trang 33Sứ mệnh và tầm nhìn chiến lược về phát triển các doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp nhà nước mang trên vai hai sứ mệnh: sứ mệnh chính trị
và sứ mệnh kinh tế Xác định tầm nhìn chiến lước về phát triển doanh nghiệp chính là định dạng hình ảnh và viễn cảnh của các doanh nghiệp mà Nhà nước muốn đạt được trong tương lai nhằm thực hiện các sứ mệnh chính trị và kinh
tế Để thực hiện sứ mệnh đó một cách có hiệu quả, Nhà nước phải tiếp tục sắp xếp đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước
Chiến lược phát triển các doanh nghiệp nhà nước là hệ thống các quan điểm cơ bản, các mục tiêu dài hạn về phát triển hệ thống doanh nghiệp nhà nước, các giải pháp chủ yếu được lựa chọn trên cơ sở huy động và sử dụng tối
ưu các lợi thế nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra Chiến lực phát triển các doanh nghiệp nhà nước là cơ sở để xây dựng quy hoạch và kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhà nước theo ngành, lĩnh vực kinh tế và vùng lãnh thổ Đây là công cụ quan trọng để Nhà nước phát triển doanh nghiệp theo định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Quy hoạch phát triển hệ thống doanh nghiệp nhà nước là tổng thể các mục tiêu và sự bố trí, sắp xếp các nguồn lực để thực hiện mục tiêu phát triển
hệ thống doanh nghiệp nhà nước theo không gian và thời gian Quy hoạch phát triển hệ thống doanh nghiệp nhà nước khi được nhà nước phê duyệt là căn cứ pháp lý để quyết định thành lập và bố trí không gian các doanh nghiệp nhà nước nhằm bảo đảm sự cân bằng hợp lý giữa các vùng, lãnh thổ, bảo đảm
sự phát triển nhanh chóng, ổn định, có trật tự và hòa hợp với môi trường của doanh nghiệp nhà nước
Trang 34Kế hoạch trung hạn (thường là kế hoạch 5 năm) để cụ thể hóa các mục tiêu, giải pháp được lựa chọn trong chiến lược phát triển các doanh nghiệp nhà nước
Kế hoạch hàng năm đối với doanh nghiệp là kế hoạch điều hành của nhà nước nhằm thưc hiện kế hoạch 5 năm về phát triển doanh nghiệp nhà nước Chức năng của kế hoạch này là phân phối các nguồn vật tư và tài chính nhằm bảo đảm hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, từng bước lượng hóa và điều chỉnh các nhiệm vụ hàng năm của kế hoạch 5 năm có tính đến tình hình kinh tế xã hội hiện tại Việc điều chỉnh những nhiệm vụ hàng năm không được làm ảnh hưởng lớn đến mục tiêu cuối cùng của kế hoạch 5 năm
về phát triển doanh nghiệp
1.2.5.2 Xây dựng pháp luật làm cơ sở cho DNNN hoạt động
Đứng trước yêu cầu phải thành lập doanh nghiệp nhà nước nhằm giữ vị trí then chốt trong một số lĩnh vực, quản lý nhà nước cũng đặt ra yêu cầu phải xây dựng hệ thống pháp luật làm cơ sở cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động, nhằm quản lý hoạt động của doanh nghiệp nhà nước Nhà nước xây dựng một
hệ thống pháp luật trong đó doanh nghiệp nhà nước là đối tượng Các văn bản pháp luật bao gồm luật, nghị định, thông tư, pháp lệnh … nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động và nhằm mục đích
để Nhà nước giám sát được quá trình hoạt động đó của doanh nghiệp nhà nước
1.2.5.3 Quản lý cán bộ hoạt động trong các DNNN
Tại doanh nghiệp nhà nước, người đại diện phần vốn nhà nước là những cán bộ Những cá nhân này được Nhà nước trao quyền quản lý, lãnh đạo doanh nghiệp dựa trên cơ sở quy định của pháp luật Cán bộ lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ cán
Trang 35bộ của hệ thống chính trị ở nước ta Đó là những người trực tiếp điều hành hoạt động của doanh nghiệp trên cơ sở phân tích kinh tế - kỹ thuật và hạch toán kinh tế nhằm đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả kinh tế -
xã hội tối đa; đồng thời chịu sự quản lý của Đảng và Nhà nước Cán bộ được
cử quản lý phần vốn của Nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước phải bám sát nhiệm vụ chính trị, cụ thể hóa nhiều chủ trương, chính sách chung của Nhà nước; đồng thời, phát huy trách nhiệm, có nhiều cách làm mới, tiến bộ, dân chủ, công khai, đảm bảo nguyên tắc quản lý… góp phần hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước
1.2.5.4 Quản lý nguồn vốn nhà nước tại các DNNN
Nhà nước quản lý nguồn vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước theo hướng:
Một là, tăng cường quyền tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp nhà
nước trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý vốn, tài sản;
Hai là, nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp nhà nước trong việc
quản lý và sử dụng nguồn lực của Nhà nước giao, thiết lập cơ chế thích hợp
để hướng sự quan tâm và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhà nước bảo toàn và phát triển vốn (như cơ chế trích lập dự phòng, cơ chế bù lỗ …)
Ba là, quy định các chính sách ưu đãi về mặt tài chính đối với các
doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích như: hỗ trợ vốn, bù chênh lệch khi thực hiện các nhiệm vụ Nhà nước giao, bảo đảm thỏa đáng lợi ích vật chất cho người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước này Đồng thời, Nhà nước thiết lập cơ chế quản lý hợp lý đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực quản
lý và sử dụng các nguồn lực Nhà nước giao
Việc quản lý nguồn vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước bao gồm các nội dung sau:
Trang 36Thứ nhất, Nhà nước quản lý việc hình thành vốn tại các doanh nghiệp
nhà nước: Doanh nghiệp nhà nước có thể đầu tư vốn từ quá trình thành lập hoặc đầu tư bổ sung trong quá trình hoạt động Ngoại trừ các doanh nghiệp nhà nước hình thành do quốc hữu hóa, hầu hết doanh nghiệp nhà nước được hình thành do nguồn cấp phát vốn ban đầu của Nhà nước Tuy nhiên, tùy theo tình hình thực tế mà Nhà nước quyết định hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp
Thứ hai, Nhà nước quản lý việc sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà
nước: Nhà nước thực hiện việc giao quyền sử dụng vốn và tài sản cho doanh nghiệp, tạo sự độc lập tương đối trong việc tổ chức sản xuất kinh doanh Mục tiêu cuối cùng của chính sách quản lý sử dụng vốn và tài sản là bảo toàn và phát triển tại doanh nghiệp Vì thế, Nhà nước theo dõi chặt chẽ sự biến động vốn, tài sản tại doanh nghiệp theo đúng nguyên tắc kế toán hiện hành, tránh thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước Đồng thời, doanh nghiệp cũng phải được trao quyền lựa chọn cơ cấu tài sản và các loại vốn hợp lý nhằm phát triển kinh doanh có hiệu quả - Nhà nước quản lý vốn đầu tư ra ngoài của doanh nghiệp nhà nước: Nhà nước quản lý việc đầu tư vốn
Trang 37TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, việc quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước là một đòi hỏi tất yếu khách quan, bởi lẽ kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Trong Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X (2006) khẳng định “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển” [24]
Chương 1 đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về doanh nghiệp nhà nước và quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước; nêu rõ khái niệm doanh nghiệp nhà nước, quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước Ngoài ra còn nêu rõ sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước, các công cụ nhà nước dùng để quản lý doanh nghiệp nhà nước và xu hướng can thiệp của nhà nước vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước
Trang 38Chương 2:
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN
2.1 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH NGHỆ AN
2.1.1 Vị trí địa lý, địa hình, tài nguyên thiên nhiên tỉnh Nghệ An
Vị trí địa lý: Nghệ An nằm ở vị trí trung tâm của vùng Bắc Trung
Bộ, có tọa độ địa lý từ 18035’ đến 200
vĩ độ Bắc và từ 103050’ đến 105040’ kinh độ Đông, cách thủ đô Hà Nội 297 km về phía Bắc, cách cố đô Huế 360
km về phía Nam Diện tích đất tự nhiên là 16.490,7 Km2, chiếm 5,1% diện tích tự nhiên cả nước và dân số 2.929 nghìn người, chiếm 3,4% dân số cả nước (năm 2010) Về mặt hành chính, tỉnh có 17 huyện, 01 thành phố và 02
thị xã, với 479 xã, phường và thị trấn
Nghệ An giáp tỉnh Thanh Hóa ở phía Bắc, tỉnh Hà Tĩnh ở phía Nam, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ở phía Tây với 419 km đường biên giới và biển Đông ở phía Đông với chiều dài 82 km Vị trí này tạo cho Nghệ
An có vai trò quan trọng trong mối giao lưu kinh tế - xã hội Bắc – Nam, xây dựng và phát triển kinh tế biển, mở rộng hợp tác quốc tế và trao đổi hàng hóa với các nước ASEAN thông qua các cửa khẩu Với vị trí như vậy, Nghệ An
có diện tích lớn nhất cả nước với đầy đủ các dạng địa hình: núi, trung du, đồng bằng, ven biển, biển thuận lợi phát triển một kinh tế khu vực nông thôn
đa dạng
Địa hình: Nghệ An nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn, địa hình đa
dạng, phức tạp và bị chia cắt bởi các hệ thống đồi núi, sông suối, hướng nghiêng từ Tây – Bắc xuống Đông – Nam Đỉnh núi cao nhất là đỉnh Pulaileng (2.711m) ở huyện Kỳ Sơn Thấp nhất là vùng đồng bằng huyện
Trang 39Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành, có nơi chỉ cao 0,2m so với mặt nước biển (xã Quỳnh Thanh, huyện Quỳnh Lưu) Địa hình Nghệ An có 2 dạng chủ
yếu: trung du miền núi và đồng bằng ven biển
Diện tích tự nhiên của vùng trung du miền núi là 13.749,2 km2, chiếm 83,4% diện tích đất tự nhiên của tỉnh Hệ thống núi cao ở phía Tây, và Tây Bắc thuộc hệ thống núi Trường Sơn, có độ cao trung bình 600 – 700m, độ dốc trên 250 Vùng trung du có độ cao trung bình từ 100 – 200m, độ dốc từ 15 –
200 Vùng trung du miền núi chia làm 2 tiểu vùng: (biểu đồ)
Tiểu vùng Tây Nam nằm ở phía Tây Nam của tỉnh, thuộc địa bàn 5 huyện: Kỳ Sơn, Con Cuông, Tương Dương, Thanh Chương và Anh Sơn Đây
là vùng có địa hình phức tạp, chủ yếu là núi trung bình và cao, tập trung dọc biên giới Việt – Lào, thuộc huyện Kỳ Sơn và Tương Dương, một số đỉnh cao trên 2000m
Tiểu vùng Tây Bắc nằm ở phía Tây Bắc của Tỉnh, thuộc địa bàn 6 huyện: Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ và thị xã Thái Hòa So với tiểu vùng Tây Nam, địa hình ít phức tạp hơn, phần lớn là đồi và núi thấp, với độ cao trung bình từ 500 – 1000m
Vùng trung du miền núi thích hợp để phát triển ngành lâm nghiệp và hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp dài ngày như cà phê, cao
su, chè, hồ tiêu… cũng như các loại cây công nghiệp ngắn ngày như đậu, lạc, thuốc lá, … Với địa hình rộng lớn có khả năng hình thành các trang trại, vùng chuyên canh quy mô lơn
Vùng đồng bằng ven biển của Nghệ An có diện tích tự nhiên là 2.741,5
km2, chiếm 16,6% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, gồm 7 huyện, 1 thị xã và 1 thành phố: Nam Đàn, Yên Thành, Đô Lương, Hưng Nguyên, Quỳnh Lưu, Nghi Lộc, Diễn Châu, thị xã Cửa Lò và thành phố Vinh Địa hình của vùng khá đồng nhất, chủ yếu là đồng bằng, độ cao trung bình từ 5 – 20 km, xen kẽ
Trang 40một số ngọn đồi thấp nằm rải rác ở các huyện Đô Lương, Nam Đàn, Hưng Nguyên Đất trong vùng chủ yếu là đất phù sa, đất pha cát, chạy dọc theo bờ biển có các vùng sình lầy, vùng đất cát, các bãi sú vẹt, bãi bồi Địa hình vùng đồng bằng thuận lợi về phát triển các loại hình trang trại, vùng chuyên canh cây công nghiệp ngắn ngày, vùng tập trung nuôi trồng thủy sản
Tuy nhiên, địa hình cũng là một trở ngại lớn cho việc phát triển mạng lưới giao thông đường bộ, đặc biệt là các tuyến giao thông vùng trung du và miền núi, gây khó khăn cho phát triên lâm nghiệp và bảo vệ đất đai khỏi bị xói mòn gây lũ lụt cho nhiều vùng trong tỉnh Các dòng sông hẹp và dốc gây khó khăn cho phát triển vận tải đường sông và hạn chế khả năng điều hòa nguồn nước mặn trong các mùa phục vụ canh tác nông nghiệp
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội
Nghệ An là tỉnh có tổng sản phẩm GDPr khá lớn, xu hướng GDPr tăng lên hàng năm cho thấy tốc độ phát triển của Nghệ An là tương đối tốt Năm
2015 đã đạt đến con số 81.577.115 triệu đồng cho thấy những thay đổi khá lớn về kinh tế Nghệ An
Cơ cấu GDPr thay đổi theo hướng phù hợp với xu thế phát triển Tỷ trọng ngành dịch vụ tăng lên so với ngành nông nghiệp và công nghiệp, cho thấy kinh tế Nghệ An đang có những bước chuyển dịch phù hợp
Thu ngân sách trên địa bàn tỉnh Nghệ An là chưa cao, còn có những biến động trong các năm Năm 2010 thu ngân sách là 21.920.539 triệu đồng, năm 2011 tăng lên 29.346.576 triệu đồng, năm 2012 lại giảm xuống còn 27.980.000 triệu đồng, năm 2015 hoạt động thu ngân sách tăng cao lên đến 36.726.821 triệu đồng Cơ cấu thu ngân sách còn thể hiện nhiều điểm chưa hợp lý, thu ngân sách trên địa bàn chiếm lỷ lệ nhỏ chủ yếu dựa vào nguồn thu
từ ngân sách trung ương Năm 2010 thu ngân sách từ trung ương là 12.865.498 triệu đồng chiếm tỷ lệ 58,69%, năm 2012 thu ngân sách từ trung