1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh

112 652 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 885,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng NinhNăng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng NinhNăng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng NinhNăng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng NinhNăng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng NinhNăng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng NinhNăng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng NinhNăng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng NinhNăng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng NinhNăng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng NinhNăng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng NinhNăng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ NGUYỄN HẢI QUỲNH

NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ NGUYỄN HẢI QUỲNH

NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: 60 34 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS VŨ THỊ LOAN

HÀ NỘI – 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là những nghiên cứu của cá nhân tôi Các kết quả được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất cứ công trình nào khác

Nội dung luận văn có sử dụng tài liệu tham khảo đều được trích dẫn nguồn một cách đầy đủ và chính xác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Nguyễn Hải Quỳnh

Trang 4

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Nguyễn Hải Quỳnh

Trang 6

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN CẤP TỈNH 9

1 1 Lý luận chung về công chức, công vụ, công chức chuyên môn cấp tỉnh 9

1.1.1 Quan niệm, đặc điểm và phân loại công chức 9

1.1.2 Quan niệm và đặc điểm của công vụ 16

1.1.3 Quan niệm, đặc điểm công chức chuyên môn cấp tỉnh 18

1.2 Năng lực, các tiêu chí đánh giá năng lực 21

1.2.1 Khái niệm năng lực, năng lực thực thi công vụ, năng lực thực thi công vụ công chức chuyên môn cấp tỉnh 21

1.2.2 Các yếu tố cấu thành năng lực thực thi công vụ của công chức chuyên môn cấp tỉnh 24

1.2.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực thực thi công vụ của công chức chuyên môn cấp tỉnh 29

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh 32

1.3.1 Yếu tố khách quan 32

1.3.2 Yếu tố chủ quan 35

1.4 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh 37

Trang 7

1.4.1 Đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách hành chính nhà nước, nâng cao

chất lượng công vụ 37

1.4.2 Đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng công chức, tinh giản biên chế 38

1.5 Kinh nghiệm của một số địa phương 39

1.5.1 Kinh nghiệm của TP Đà Nẵng 39

1.5.2 Kinh nghiệm của TP Hà Nội 41

Tiểu kết Chương 1 42

Chương 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH 43

2.1 Khái quát về tỉnh Quảng Ninh và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh 43

2.1.1 Một số nét về tỉnh Quảng Ninh 43

2.1.2 Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh 46 2.1.3 Thực trạng đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh 47

2.2 Thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh 49

2.2.1 Thực trạng về trình độ, kiến thức 50

2.2.2 Thực trạng về kỹ năng của công chức 53

2.2.3 Thái độ, hành vi của công chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh trong thực thi công vụ 55

2.2.4 Thực trạng kết quả thực thi công vụ của công chức 58

2.3 Đánh giá chung về năng lực thực thi công vụ của công chức 59

2.3.1 Ưu điểm 59

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 61

Tiểu kết Chương 2 66

Trang 8

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG

CAONĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG

NINH 67

3.1 Phương hướng và mục tiêu 67

3.1.1 Phương hướng 67

3.1.2 Mục tiêu 69

3.2 Giải pháp 71

3.2.1 Giải pháp về nhận thức 71

3.2.2 Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức 72 3.2.3 Xây dựng và hoàn thiện thái độ, hành vi của công chức trong thực thi công vụ 75

3.2.4 Nâng cao công tác quản lý công chức 79

3.2.5 Tạo động lực làm việc cho công chức 83

3.2.6 Kiểm tra giám sát hoạt động thực thi công vụ của công chức 90

3.3 Đề xuất, kiến nghị 92

3.3.1 Đối với Trung ương 92

3.3.2 Đối với tỉnh Quảng Ninh 93

Tiểu kết Chương 3 94

KẾT LUẬN 95 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Trình độ chuyên môn của công chức tại 10 cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh 50 Bảng 2.2 Trình độ lý luận chính trị của công chức tại 10 cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh 51 Bảng 2.3 Trình độ kiến thức quản lý nhà nước của công chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh 52 Bảng 2.4 Trình độ ngoại ngữ của công chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh 52 Bảng 2.5 Trình độ tin học của công chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh 53 Bảng 2.6 Mức độ đáp ứng các kỹ năng cần thiết của công chức 54 Bảng 2.7 Mức độ đáp ứng các yêu cầu về thái độ, hành vi của công chức trong thực thi công vụ 55 Bảng 2.8 Bảng kết quả kết quả thực thi công vụ của công chức 58

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nền hành chính nhà nước được hình thành bởi các yếu tố: hệ thống thể chế để quản lý xã hội theo pháp luật, cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của

bộ máy hành chính, nguồn lực vật chất, tài chính và đội ngũ cán bộ công chức hành chính Trong đó yếu tố đội ngũ cán bộ công chức – những người thực thi công vụ trong bộ máy hành chính công quyền đóng vai trò quan trọng nhất, là một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong bất kỳ nền hành chính nhà nước nào Đội ngũ công chức vừa có vai trò thực thi pháp luật, quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội, bảo đảm hiệu lực của đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, vừa là lực lượng đại diện cho quyền lợi của nhân dân Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 ban hành kèm theo Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 đã nhấn mạnh:

“nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; chú trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công chức, viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao”[7] Đặc biệt trong hoàn cảnh nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, việc nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức đóng vai trò quan trọng, có ý nghĩa quyết định; nhằm xây dựng một nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp

Bàn về vị trí vai trò của đội ngũ cán bộ công chức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là gốc của mọi việc, công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” Vì vậy việc nâng cao chất lượng và năng lực của đội ngũ công chức hành chính là yếu tố quyết định nhằm xây dựng nền hành chính nhà nước hoạt động chất lượng, hiệu lực, hiệu quả

Trang 11

Quảng Ninh là tỉnh thuộc vùng Đông Bắc đất nước, là địa phương hội

tụ những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nằm trong địa bàn động lực của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, cùng với Hà Nội và Hải Phòng, tỉnh Quảng Ninh đóng vai trò là một trong những đầu tàu về phát triển kinh tế xã hội và tạo ra sức lan tỏa trong quá trình phát triển của cả vùng Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XIV đã xác định mục tiêu phát triển tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 là: “Phấn đấu đến năm 2020, xây dựng Quảng Ninh trở thành tỉnh có cơ cấu kinh tế dịch vụ, công nghiệp; là trung tâm du lịch chất lượng cao của khu vực, một trong những cực tăng trưởng kinh tế của miền Bắc với hạ tầng kinh tế - xã hội, hạ tầng kỹ thuật đô thị đồng bộ; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, giảm nghèo bền vững; tổ chức Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh…”[20] Để thực hiện các mục tiêu này tỉnh Quảng Ninh phải có nguồn nhân lực chất lượng cao, chuyên nghiệp, hiện đại và đặc biệt là đội ngũ công chức hành chính nhà nước đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong tiến trình cải cách hành chính, hội nhập kinh tế quốc tế, “xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, thái độ văn minh, lịch sự gắn với tăng cường kỷ cương công chức, đổi mới chế độ công chức, công vụ.”[20]

Tuy nhiên, đội ngũ công chức hành chính Nhà nước nói chung và công chức làm công tác chuyên môn nói riêng tỉnh Quảng Ninh chưa hoàn toàn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của tình hình phát triển mới, đặc biệt là yêu cầu xây dựng nền hành chính hiện đại, hội nhập quốc tế Để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý hành chính nhà nước phải xây dựng đội ngũ công chức có năng lực chuyên môn và đạo đức công vụ, đặc biệt là nâng cao năng lực thực thi công vụ cho công chức

Trang 12

Dưới góc độ tiếp cận năng lực bao gồm các yếu tố kiến thức, kỹ năng và thái độ thì hiện nay đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Quảng Ninh cơ bản đã được chuẩn hóa về trình độ, kiến thức khi tuyển dụng, phù hợp với ngạch công chức và vị trí việc làm Tuy nhiên về kỹ năng và thái độ của công chức hành chính ở Quảng Ninh đặc biệt là đội ngũ công chức làm chuyên môn chưa đáp ứng yêu cầu của nền hành chính hiện đại

Xuất pháp từ thực tế trên và để góp phần nâng cao năng lực đội ngũ công chức nói chung và công chức chuyên môn nói riêng tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh đáp ứng yêu cầu nhiệm

vụ quản lý nhà nước trong tình hình hiện nay; phân tích thực trạng, chỉ ra những

ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân để đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng thực

thi công vụ của đội ngũ công chức, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Năng

lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài luận văn thạc sĩ Quản lý công

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Năng lực thực thi công vụ của công chức là một vấn đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Nhiều công trình nghiên cứu về vấn

đề này đã được công bố và tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, cụ thể như:

- PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Hải (2011), Một số vấn đề về phát triển năng lực của cán bộ, công chức, Tạp chí Tổ chức nhà nước số 1 Tác giả đã tập trung làm rõ lý luận về năng lực, cơ sở hình thành năng lực của cán bộ, công chức và đưa ra một số biện pháp để phát triển năng lực phù hợp với môi trường hành chính nhà nước

- PGS.TS Ngô Thành Can (2012), Chất lượng thực thi công vụ-Vấn đề than chốt của cải cách hành chính, Nội san khoa Tổ chức và Quản lý nhân sự Học viện Hành chính, số 12 Tác giả đã có những đóng góp nhất định trong việc làm sáng tỏ lý luận về công vụ và trách nhiệm công vụ Tác giả cũng đưa

Trang 13

ra một số giải pháp quan trọng nhắm nâng cao chất lượng công vụ của đội ngũ công chức như đổi mới quy trình tuyển dụng, thi nâng ngạch công chức có cạnh tranh, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng

- TS Nguyễn Thị Tâm, (2011), Một số kiến nghị về xây dựng đội ngũ cán

bộ, công chức gắn với yêu cầu cải cách hành chính hiện nay Tác giả đã đưa ra các giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ công chức; đó là: các giải pháp

về tiêu chuẩn chức danh cán bộ công chức, giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, giải pháp đổi mới chế độ, chính sách bảo đảm lợi ích vật chất và động viên tinh thần đối với cán bộ công chức

- Tìm hiểu tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài: “Nâng cao năng lực năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh” cho thấy các nhà khoa học tiếp cận theo các hướng khác nhau, với những cấp độ khác nhau, cụ thể như: “ Nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức hành chính nhà nước cấp thành phố ở Cần Thơ trong giai đoạn hiện nay”, Nguyễn Phương Thủy, Học viện hành chính, 2010; “Năng lực lãnh đạo của cán bộ chính quyền cơ sở - thực tiễn Thành phố

Hà Nội”, Đỗ Tuấn Thành, Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công, Học viện Hành chính, 2011; “Nâng cao năng lực thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, thị trấn ở huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên hiện nay”, Nguyễn Thị Thu Nhuần, Luận văn thạc sĩ quản lý hành chính công, Học viện Hành chính, 2012; “Nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức hành chính cấp tỉnh ở Thái Nguyên”, Trịnh Thị Thoa, Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công, Học viện Hành chính, 2013; Năng lực thực thi công vụ của công chức

Sở Thông tin và Truyền thông thành phố Hà Nội, Học viện hành chính, 2014

… Và một số công trình khoa học khác Các công trình nghiên cứu trên đã đưa

ra những vấn đề lý luận và thực tiễn về năng lực thực thi công vụ của công chức ở các góc độ nghiên cứu hoặc tiếp cận khác nhau, hướng tới một đối

Trang 14

tượng công chức ở mỗi cấp hành chính khác nhau Tuy nhiên hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh ở Quảng Ninh Đặc biệt đề tài tập trung nghiên cứu sâu đối tượng công chức chuyên môn và không giữ chức vụ lãnh đạo quản lý Đây là đội ngũ công chức làm công tác tham mưu, xây dựng triển khai các nội dung thuộc các lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước Vì vậy đây là vấn đề hoàn toàn mới và không trùng lặp với đề tài khác

Trên cơ sở các bài viết, các hướng tiếp cận, ở các mức độ khác nhau đã giúp tôi có được một số tư liệu và kiến thức cần thiết để hình thành những hiểu biết chung,

giúp tiếp cận, đi sâu nghiên cứu đề tài: “Năng lực thực thi công vụ của công chức

các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích:

Trên cơ sở lý luận về năng lực thực thi công vụ của công chức, trên cơ

sở đó đánh giá thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh và đề xuất giải pháp góp phần nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh

3.2 Nhiệm vụ:

+ Thứ nhất, tổng quan những lý luận cơ bản về công chức, công vụ, công

chức chuyên môn cấp tỉnh

+ Thứ hai, phân tích thực trạng và đưa ra đánh giá về năng lực thực thi

công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh

+ Thứ ba, đưa ra phương hướng, mục tiêu và các giải pháp nhằm nâng

cao năng lực thực thi công vụ của công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh

Trang 15

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Năng lực thực thi công vụ của công chức

các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh Số liệu trong luận văn được thu thập từ Sở Nội vụ tỉnh Quảng Ninh (284 công chức chuyên môn), Trung tâm Hành chính công tỉnh Quảng Ninh và điều tra khảo sát thu thập thông tin 10 cơ quan chuyên môn được chọn nghiên cứu (200 công chức)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về khách thể nghiên cứu: năng lực thực thi công vụ của công chức

đang công tác tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý (không tính công chức làm công việc thừa hành, phục vụ: văn thư, bảo vệ, lái xe )

- Về thời gian: Đề tài đánh giá năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Quảng Ninh năm 2015, các số liệu điều tra khảo sát được thu thập vào tháng 8 năm 2016

- Về không gian: Đề tài đánh giá năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Quảng Ninh

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp nghiên cứu khoa học quản lý, khoa học tổ chức nhân sự, học thuyết quản lý nhân sự…

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp khảo cứu tài liệu: Nghiên cứu các tài liệu có liên quan

để có những luận cứ khoa học cho việc đánh giá năng lực thực thi công vụ

Trang 16

của công chức nói chung và công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh nói riêng, trên cơ sở đó đánh giá thực trạng và đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc

Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh

- Phương pháp phân tích đánh giá: Đề tài đã tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh để từ đó đưa ra các mặt mạnh, hạn chế trong năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc

Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh làm cơ sở để đề xuất những giải pháp

- Phương pháp điều tra: Được tiến hành tại 10 cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhằm thu thập thông tin về mức độ hài lòng, kỹ năng hành vi…yếu tố ảnh hưởng đến năng lực thực thi công vụ

và những giải pháp nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức

- Phương pháp thống kê: Được tác giả sử dụng để xử lý số liệu thu thập được từ kết quả điều tra, khảo sát

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp quan sát, so sánh, tổng hợp…để thu thập thêm các thông tin phục vụ cho việc phân tích, đánh giá thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài đã hệ thống hoá, góp phần làm rõ các vấn đề lý luận chung về công chức, công vụ, năng lực, năng lực thực thi công vụ, công chức chuyên môn cấp tỉnh, đưa ra các yếu tố cấu thành và tiêu chí đánh giá năng lực thực thi công vụ của công chức, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực thực thi công vụ và sự cần thiết phải nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức trong giai đoạn hiện nay; kinh nghiệm thực tiễn về nâng cao năng lực

Trang 17

thực thi công vụ của một số địa phương của Việt Nam Kết quả nghiên cứu góp phần khẳng định và nâng cao vị trí vai trò của đội ngũ công chức và sự cần thiết nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Phân tích thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức qua các

số liệu, bảng biểu, biểu đồ từ đó có những đánh giá chung về năng lực thực thi công vụ của công chức, nhận xét những mặt đạt được và những hạn chế, tồn tại của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng đó Từ đó đưa ra những đánh giá và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực thực thi công

vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh Qua đó đây là một kênh thông tin để các cấp Lãnh đạo tỉnh, Sở ngành có những cơ chế, chính sách phù hợp để nâng cao năng lực thực thi công vụ của đội ngũ công chức cơ quan chuyên môn cấp tỉnh ở Quảng Ninh

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu khoa học, giảng dạy và học tập tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành quản lý hành chính nhà nước và các khóa bồi dưỡng đối với công chức nhà nước

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực thực thi công vụ của công chức

các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh

Chương 2: Thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ

quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực thực thi công vụ của

công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ

CỦA CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN CẤP TỈNH

1 1 Lý luận chung về công chức, công vụ, công chức chuyên môn cấp tỉnh

1.1.1 Quan niệm, đặc điểm và phân loại công chức

1.1.1.1 Quan niệm công chức

Công chức là thuật ngữ được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, tuy nhiên quan niệm và phạm vi công chức ở mỗi quốc gia có những điểm khác nhau Nó phụ thuộc vào đặc điểm thể chế chính trị, tổ chức bộ máy nhà nước, sự phát triển kinh tế - xã hội, truyền thống và các yếu tố văn hóa lịch sử của từng giai đoạn lịch sử cụ thể ở mỗi quốc gia

* Khái niệm công chức của một số quốc gia trên thế giới

Ở Đức, công chức là nhân viên làm việc trong các cơ quan nhà nước, tổ chức văn hóa, nghệ thuật, giáo dục và nghiên cứu khoa học quốc gia, nhân viên công tác trong các xí nghiệp nhà nước, công chức làm việc trong cơ quan chính phủ, nhân viên lao động công, giáo sư đại học, giáo viên trung học hay tiểu học…

Ở Pháp, công chức là những nhân viên trong bộ máy hành chính nhà nước, những người tham gia làm các dịch vụ công

Ở Nhật Bản, quan niệm công chức bao gồm cả công chức nhà nước trung ương và công chức địa phương, có nghĩa là cả những người làm việc trong các cơ quan chính quyền tự quản địa phương cũng là công chức

Như vậy, có thể nhận thấy rằng, đặc điểm chung của công chức ở các quốc gia: Công chức là những người làm việc trong bộ máy nhà nước được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ chức danh công vụ nhất định và được trả công từ nguồn ngân sách nhà nước

* Khái niệm công chức ở Việt Nam

Trang 19

Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành và phát triển theo tiến trình lịch sử, mỗi thời kỳ khác nhau có quan niệm khác nhau về công chức

Theo Điều 1, Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì công chức là “những người công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các

cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nước đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”

Sau đó do tình hình chiến tranh nên trong một thời gian dài, khái niệm công chức ít được sử dụng mà thay vào đó là khái niệm “cán bộ, công nhân viên chức nhà nước” để chỉ toàn bộ những người làm công ăn lương nhà nước, không phân biệt công chức và viên chức

Ngày 25/5/1991, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 169/HĐBT quy định chung về khái niệm công chức và phạm vi công chức Theo đó, công chức được hiểu như sau: “Công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng và

bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước gọi là công chức”

Pháp lệnh cán bộ công chức năm 1998 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 26/02/1998 có quy định: “Công chức Việt Nam là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ, được giao nhiệm vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của nhà nước, mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”

Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi bổ sung năm 2003 không đưa ra định nghĩa riêng cho khái niệm cán bộ, công chức, viên chức nhưng đã thực

Trang 20

hiện phân định biên chế hành chính với biên chế sự nghiệp Tuy nhiên theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ, công chức được định nghĩa như sau: “Công chức là công dân Việt Nam trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước được quy định tại điểm b, điểm c, điểm e khoản 1 điều 1 của Pháp lệnh Cán bộ, công chức, làm việc trong các cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội”

Luật cán bộ công chức năm 2008 tại khoản 2, điều 4 đã quy định:

“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước,

tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân

mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [23]

Như vậy, theo Luật cán bộ công chức phạm vi công chức được quy định rất rộng bao gồm công chức trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị của nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công, cơ quan đơn vị thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân Vì phạm

vi công chức được quy định rất rộng, chưa có quy định rõ ràng phân biệt giữa các nhóm công chức: công chức hành chính nhà nước, công chức trong cơ quan Đảng, tổ chức chính trị - xã hội nên việc quản lý sẽ có những chồng chéo và khó khăn

Trang 21

Như vậy, có thể đưa ra khái niệm chung nhất về công chức như sau: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, làm việc trong cơ quan nhà nước, trong biên chế nhà nước và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

1.1.1.2 Đặc điểm của công chức

* Đội ngũ công chức hành chính là chủ thể của nền hành chính nhà nước, là những người thực thi quyền lực công và được đảm bảo những điều kiện cần thiết, quyền lợi chính đáng để thực thi công vụ

Trong hoạt động của bộ máy quản lý hành chính nhà nước, cán bộ công chức đóng vai trò quan trọng, là mắt xích không thể thiếu trong bất kỳ nền hành chính nhà nước nào, đặc biệt là đội ngũ công chức trong bộ máy hành chính, thực thi pháp luật và thi hành công vụ nhằm phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hội Đây là yếu tố quyết định đảm bảo cho bộ máy quản lý hành chính nhà nước hoạt động có hiệu lực hiệu quả

Công chức là những người thực thi công vụ, trực tiếp thi hành quyền lực nhà nước, cụ thể hóa những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước vào thực tế đời sống xã hội Lao động của công chức khác với các dạng lao động khác trong xã hội Sản phẩm lao động của công chức là các văn bản quy phạm pháp luật, quyết định hành chính… để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, thi hành pháp luật và đưa pháp luật vào đời sống

Được Nhà nước trao quyền để thực thi quyền lực của Nhà nước, công chức có trách nhiệm, nghĩa vụ được quy định trong các văn bản của Nhà nước liên quan đến chức trách nhiệm vụ được giao Họ có thể bị từ chức, truy cứu trách nhiệm hoặc phải bồi thường thiệt hại nếu không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, ra quyết định hành chính làm tổn hại lợi ích hợp pháp của tổ chức công dân Để thực hiện công vụ, công chức được Nhà nước đảm bảo các điều kiện cần thiết, quyền lợi chính đáng để tiến hành thực thi công vụ Họ

Trang 22

được đảm bảo quyền lợi chính đáng về vật chất và tinh thần như: hưởng lương từ ngân sách của nhà nước tương xứng với chức trách và công việc, nhận các loại trợ cấp, phụ cấp, quyền được nghỉ ngơi, nghiên cứu khoa học, khen thưởng khi có thành tích trong thực hiện nhiệm vụ

* Công chức là lực lượng lao động chuyên nghiệp, có tính chuyên môn hóa cao

Các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương được

tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định để thực thi quyền hành pháp của Nhà nước để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội Phạm vi hoạt động của cơ quan quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội mang tính phức tạp, vì vậy đòi hỏi đội ngũ cán bộ công chức phải có tính chuyên nghiệp, chính xác Bởi lẽ các chính sách tham mưu của đội ngũ công chức chuyên môn nghiệp vụ và quyết định của công chức lãnh đạo quản lý ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, phát triển kinh tế- xã hội của người dân

Tính chuyên nghiệp của công chức được quy định bởi địa vị pháp lý và thể hiện qua hai yếu tố: thời gian, thâm niên công tác và trình độ năng lực chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp Thời gian, thâm niên công tác tạo cho công chức sự thành thạo, những kinh nghiệm trong thực thi công vụ, còn trình

độ năng lực chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ tạo cho họ khả năng, mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao, qua thời gian công tác trình độ kỹ năng ngày càng được hoàn thiện Trong nền kinh tế thị trường hội nhập kinh tế thế giới, việc nâng cao trình độ năng lực chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp ngày càng trở nên quan trọng để đáp ứng yêu cầu của quản lý hành chính nhà nước trong tình hình hiện nay

* Đội ngũ công chức phải am hiểu, tuân thủ các chính sách và pháp luật

Trang 23

Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp luật chiếm vị trí tối cao trong hoạt động nhà nước, công cụ để quản lý xã hội Trong đó, công chức là những thực thi công vụ, thực thi quyền hành pháp; vì vậy hoạt động công vụ của công chức phải tuân thủ theo pháp luật Trong bộ máy hành chính nhà nước, công chức là lực lượng tham mưu kiến tạo nên hệ thống pháp luật của nhà nước phù hợp với điều kiện của thực tiễn Pháp luật là hành lang pháp lý điều chỉnh hành vi, quyền và trách nhiệm của công chức trong thực thi công vụ Trong các trường hợp công chức vi phạm, gây thiệt hại đến quyền lợi chính đáng của tổ chức cá nhân thì chịu trách nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm hình sự nhất định Đặc biệt trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay, đội ngũ công chức phải có kiến thức, am hiểu pháp luật và thông lệ quốc tế Vấn đề đặt ra công chức phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức pháp luật và trình độ ngoại ngữ

* Đội ngũ công chức có trách nhiệm và đạo đức công vụ; trung thành với Đảng, Chính phủ, Tổ quốc và nhân dân

Đặc trưng cơ bản mang tính dân tộc và là yêu cầu của đội ngũ công chức hành chính Việt Nam là trung thành với Đảng, Chính phủ, Tổ quốc và nhân dân Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân nên hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước, công chức thực thi công vụ phải tôn trọng, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân

Trong quá trình thực thi công vụ phục vụ nhân dân, đòi hỏi công chức phải có đạo đức công vụ Đạo đức công vụ là những giá trị đạo đức và chuẩn mực pháp lý được áp dụng cho cán bộ công chức nhà nước khi thi hành công

vụ Đạo đức công vụ chính là sự thể hiện quá trình tự ý thức về lương tâm, trách nhiệm của mình để từ đó tự giác hành động vì các lợi ích đó Người công chức để thực hiện là công bộc của dân, ngoài yêu cầu về trình độ chuyên

Trang 24

môn nghiệp vụ thì phẩm chất đạo đức là yêu cầu tất phải có Bởi vậy người công chức phải có đầy đủ chuẩn mực đạo đức vừa “hồng”, vừa “chuyên”,

“cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” Bởi vì mục đích cuối cùng của nền công vụ là phục vụ nhân dân, có trách nhiệm với nhân dân

1.1.1.3 Phân loại công chức

Phân loại công chức là cơ sở để xây dựng tiêu chuẩn khách quan trong tuyển dụng người vào làm việc trong cơ quan hành chính; xác định tiền lương, các chế độ chính sách một cách hợp lý; đào tạo bồi dưỡng, quy hoạch,

cơ chế chính sách đối với từng đối tượng theo yêu cầu công tác, nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức Do tính chất đặc thù đa dạng của hoạt động công vụ, có thể phân loại công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước như sau:

* Căn cứ vào ngạch, bậc công chức:

Ngạch công chức là khái niệm để chỉ trình độ, năng lực, khả năng chuyên môn và ngành nghề của công chức Mỗi ngạch thể hiện một cấp độ

về trình độ chuyên môn nghiệp vụ và có tiêu chuẩn cụ thể Theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Luật cán bộ công chức 2008 thì công chức được phân loại như sau:

Loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương;

Loại B gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương;

Loại C gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương;

Loại D gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương đương và nhân viên.[23]

* Căn cứ vào vị trí công tác:

+ Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý là những người được bầu

cử hoặc bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, có thẩm quyền pháp lý để

Trang 25

hoạch định chủ trương công tác, điều hành, chỉ đạo và chịu trách nhiệm về tổ chức hoạt động của phòng, tổ chức, đơn vị được giao quản lý Đối tượng này được quy hoạch, đào tạo căn bản cả về trình độ chuyên môn và lý luận chính trị, nắm vững thẩm quyền trách nhiệm trong tổ chức điều hành công tác

+ Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo quản lý là những công chức

có trình chuyên môn nghiệp vụ nhất định, được tuyển dụng đảm nhiệm chức danh về chuyên môn nghiệp vụ, thừa hành phục vụ trong bộ máy quản lý hành chính nhà nước Đây là đối tượng có số lượng đông, nhiệm vụ chung là tham mưu giúp việc các mặt công tác được giao cho lãnh đạo, chịu trách nhiệm trước pháp luật và lãnh đạo về những nhiệm vụ được giao Có thể nói đây là đối tượng đóng vai trò quyết định đến việc chất lượng công việc, hiệu lực hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước

Ngoài ra, công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước còn có thể được phân loại theo trình độ đào tạo (tốt nghiệp đại học, trên đại học, trung cấp, sơ cấp, nghề…), hoặc phân loại theo cấp hành chính (công chức làm việc trong cơ quan nhà nước trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã)

1.1.2 Quan niệm và đặc điểm của công vụ

1.1.2.1 Khái niệm công vụ

Công vụ là khái niệm rộng về phạm vi và quan trọng về nội dung ý nghĩa trong nền hành chính nhà nước Khi nói đến công vụ là nói đến các hoạt động của Nhà nước; công vụ bao gồm các yếu tố hợp thành như: thể chế công vụ, đội ngũ công chức và các cơ quan công quyền

Các học giả trong và ngoài nước đã đưa ra các cách hiểu khác nhau về công vụ Một số tác giả trong một số tài liệu đã đưa quan niệm về công vụ như sau:

Công vụ là một loại lao động đặc biệt để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, để thi hành pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống và sử dụng có hiệu quả nguồn lực công để phục vụ các mục tiêu của Đảng và Nhà nước đặt ra

Trang 26

Công vụ gắn liền trực tiếp với con người là công chức, bao gồm toàn bộ những người được Nhà nước bổ nhiệm vào một công việc thường xuyên trong một công sở và được xếp vào một trong những ngạch của nền hành chính Trong Từ điển thuật ngữ hành chính, công vụ là “một dạng hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do các công chức, viên chức nhà nước tiến hành theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, phục vụ lợi ích nhà nước và xã hội”

Như vậy, hoạt động công vụ khác với nhiều loại hoạt động thông thường khác ở chỗ là hoạt động công quyền dựa trên cơ sở vận dụng quyền lực của Nhà nước giao cho Hoạt động này được thực hiện bởi một pháp nhân công quyền, được quyền lực nhà nước bảo đảm, được sử dụng cùng với ngân sách nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong phạm vi hệ thống chính trị quốc gia, có nghĩa vụ, quyền lợi, trách nhiệm do luật định

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, dưới góc độ quản lý hành chính nhà nước có thể đưa khái niệm: Công vụ là một loại hoạt động đặc thù mang tính quyền lực – pháp lý được thực thi chủ yếu bởi đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước nhằm thực hiện các chức năng nhiệm vụ quản lý của Nhà nước toàn diện trên các mặt, lĩnh vực của đời sống xã hội

Thứ ba, hoạt động công vụ mang tính quyền lực nhà nước, nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội không vì mục tiêu lợi

Trang 27

nhuận Hoạt động công vụ sử dụng nguồn ngân sách nhà nước hay quỹ công

để hoạt động

Thứ tư, hoạt động công vụ mang tính thường xuyên, chuyên nghiệp, đảm bảo cho mọi hoạt động nhà nước được liên tục, ổn định Nhiệm vụ của hoạt động công vụ là phục vụ nhân dân, đây là công việc hàng ngày, mang tính thường xuyên liên tục, thực hiện trên các mặt của đời sống xã hội

Thứ năm, hoạt động công vụ của công chức là những hoạt động không trực tiếp tạo ra của cải, vật chất cho xã hội nhưng những hoạt động đó đảm bảo các điều kiện để hỗ trợ và tổ chức quản lý hoạt động sản xuất, tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội, nhằm tác động lên hành vi, cách ứng

xử của con người hoặc phục vụ con người

Từ những đặc trưng trên, có thể nhận thấy rằng hoạt động công vụ là một dạng lao động đặc thù trong xã hội; nên việc thực thi công vụ cần đảm bảo thực hiện các nguyên tắc thực thi công vụ, tuân theo các quy định của pháp luật Trong hoạt động công vụ, hạt nhân đảm bảo cho nền công vụ hiệu lực hiệu quả là cán bộ công chức Vì vậy vấn đề đặt ra là phải xây dựng một đội ngũ cán bộ công chức vừa có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vừa có phẩm chất đạo đức, hay nói cách khác yêu cầu đặt ra là phải nâng cao năng lực thực thi công vụ cho công chức để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế

1.1.3 Quan niệm, đặc điểm công chức chuyên môn cấp tỉnh

1.1.3.1 Quan niệm

Trong tổ chức bộ máy nhà nước ở Việt Nam, theo quy định của Hiến pháp gồm: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp Các cơ quan hành chính nhà nước nằm trong hệ thống cơ quan hành pháp tiến hành

tổ chức, điều hành, quản lý các mặt, các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội; tổ chức thực hiện và đưa pháp luật vào đời sống Có thể đưa ra quan niệm chung nhất, cơ quan hành chính bao gồm: Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang

Trang 28

bộ, ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan chuyên môn trực thuộc ủy ban nhân dân, riêng cấp xã gồm có 7 công chức chuyên trách Những người làm việc trong cơ quan hành chính nhà nước thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là công chức cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (trong phạm vi đề tài, luận văn xem xét ở phạm vi công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh) Công chức ở các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh là một bộ phận hợp thành của nền hành chính nhà nước ở cấp địa phương, quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở phạm vi địa phương, trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ và kết hợp hài hòa giữa lợi ích của nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước

Như vậy, công chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh (sau đây gọi tắt là công chức chuyên môn cấp tỉnh) là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm, vào ngạch, chức vụ, chức danh, làm việc trong cơ quan hành chính nhà nước thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, quản lý nhà nước trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền địa phương, duy trì trật tự an ninh, giữ vững ổn định và phát triển kinh

tế xã hội

1.1.3.2 Đặc điểm

Nằm trong bộ máy quản lý hành chính nhà nước, công chức chuyên môn cấp tỉnh mang đặc điểm chung của công chức; đồng thời có những đặc trưng riêng

Thứ nhất, đội ngũ công chức chuyên môn cấp tỉnh là hạt nhân cơ bản của nền công vụ, nhân tố đảm bảo cho nền công vụ hoạt động có hiệu lực hiệu quả tại địa phương

Đội ngũ công chức chuyên môn cấp tỉnh hoạt động trong hệ thống quản

lý hành chính nhà nước thống nhất, có nhiệm vụ tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, chế độ quy định của nhà nước, cơ quan trung ương tại địa

Trang 29

phương Đây là nguồn nhân lực quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực hiệu quả của bộ máy quản lý hành chính ở cấp địa phương, đóng góp vào công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

Công chức chuyên môn cấp tỉnh là đội ngũ trực tiếp tham mưu, tham gia xây dựng kế hoạch, hoạch định chính sách, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức quản lý nhà nước và kiểm tra trên tất cả lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý của địa phương Đây là đội ngũ đóng vai trò nòng cốt trong tham mưu chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Đội ngũ công chức chuyên môn cấp tỉnh đồng thời là cầu nối gắn kết,

tổ chức thực hiện triển khai các đường lối, chính sách, cơ chế, chủ trương ở Chính phủ và cơ quan trung ương tại địa phương Thông qua đội ngũ này, Nhà nước đánh giá được tính đúng đắn của đường lối, chính sách, kịp thời phát hiện thiếu sót cần chỉnh sửa bổ sung và nhu cầu mới phát sinh từ thực tế

để hoàn thiện chính sách Đây vừa là đội ngũ công chức tham mưu văn bản quy phạm pháp luật, quyết định quản lý, chính sách, kế hoạch phát triển kinh

tế - xã hội của địa phương vừa đóng vai trò là đội ngũ tổ chức triển khai và thực hiện các chủ trương, chính sách của cơ quan nhà nước cấp trên Điều này đặt ra yêu cầu công chức chuyên môn cấp tỉnh phải có đủ năng lực, trình độ, phẩm chất chính trị trong thực thi công vụ để thực hiện những nhiệm vụ chính trị mà trung ương giao phó vừa phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an sinh xã hội cho nhân dân địa phương

Thứ hai, công chức chuyên môn cấp tỉnh làm việc trong bộ máy quản lý hành chính nhà nước ở địa phương, vừa thực hiện chức năng quản lý theo ngành vừa chịu sự quản lý của địa phương

Các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan tham mưu, giúp ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương; đồng thời chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của ủy ban nhân dân cấp tỉnh và chịu sự chỉ đạo kiểm tra

Trang 30

về nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nước về ngành lĩnh vực của cấp trên Được tuyển dụng, bổ nhiệm để làm việc trong các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, đội ngũ công chức thực hiện theo chức năng nhiệm vụ của cơ quan, chịu

sự quản lý về tổ chức biên chế của ủy ban nhân dân tỉnh; đồng thời tổ chức triển khai thực hiện, chịu sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý ngành Hai cấp quản lý này phải có sự quản lý, điều hành, chỉ đạo thống nhất, xuyên suốt

để đảm bảo hiệu quả thực thi công vụ của công chức

Thứ ba, chất lượng của đội ngũ công chức chuyên môn cấp tỉnh không đồng đều giữa các tỉnh trong cả nước, do điều kiện lịch sử, tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế - xã hội nhất định

Mỗi tỉnh thành phố trong cả nước khác nhau về vị trí địa lý, điều kiện

tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, do đó trình độ năng lực công chức chuyên môn mỗi tỉnh có sự khác biệt Đặc biệt là những tỉnh có nền kinh

tế còn khó khăn, trình độ dân trí chưa cao, thu nhập bình quân đầu người thấp Những chính sách phát triển, nâng cao trình độ cho đội ngũ công chức của Nhà nước cũng đã tính toán đến sự khác biệt này và có những cơ chế hỗ trợ đặc thù Tuy nhiên, đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với mỗi công chức, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, đặc biệt kiến thức trong thời kỳ hội nhập quốc tế, nâng cao năng lực thực thi công vụ để đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Đồng thời, công chức chuyên môn cấp tỉnh ở mỗi địa phương phải dựa trên điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ dân trí của nhân dân để có những biện pháp thích hợp để tổ chức thực hiện triển khai chính sách, giao tiếp ứng xử với người dân

1.2 Năng lực, các tiêu chí đánh giá năng lực

1.2.1 Khái niệm năng lực, năng lực thực thi công vụ, năng lực thực thi công vụ công chức chuyên môn cấp tỉnh

1.2.1.1 Khái niệm năng lực

Có nhiều tài liệu định nghĩa khác nhau về năng lực Theo Từ điển Tiếng Việt, năng lực là khả năng đủ để làm một công việc nào đó; hay năng lực là

Trang 31

những điều kiện được tạo ra hoặc vốn có để thực hiện một hoạt động nào đó Theo quan điểm của các nhà tâm lý học, năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động, nhằm đảm bảo cho hoạt động đạt hiệu quả cao

Năng lực được cấu thành bởi kiến thức – kỹ năng – thái độ cần có để đạt được những mục tiêu cụ thể trong các một điều kiện xác định, trong đó:

Kiến thức là những hiểu biết chung và hiểu biết chuyên ngành về một lĩnh vực cụ thể

Kỹ năng là quá trình chuyển hóa từ những tri thức, kiến thức của mình vào hoạt động thực tiễn

Thái độ, hành vi là trạng thái tinh thần, hành vi ứng xử của cá nhân đối với công việc, các mối quan hệ với những người khác trong công việc

Trên thực tế, khi thực hiện các hoạt động công việc hay ngành nghề nhất định, con người không chỉ sử dụng một năng lực duy nhất mà sẽ phối hợp với các năng lực khác nhau để thực hiện thành công một hoạt động hay công việc nào đó với mục tiêu là đạt được hiệu quả cao nhất Đồng thời, mỗi thời kỳ, hoàn cảnh, môi trường khác nhau đặt ra các yêu cầu về năng lực không giống nhau Hơn nữa, các hoạt động, sự vật, hiện tượng luôn luôn biến đổi, nguồn năng lực của cá nhân không phải là bất biến mà trong quá trình hoạt động nghề nghiệp của mỗi cá nhân, năng lực luôn biến động, hoàn thiện và kết hợp với các năng lực khác để giúp cá nhân đạt được mục tiêu của tổ chức đã đặt ra Như vậy có thể khái quát, năng lực là khả năng đáp ứng về kiến thức, kỹ năng và thái độ, hành vi một cách tốt nhất trong thực hiện công việc hoặc giải quyết vấn đề để đạt những mục tiêu đã đề ra

1.2.1.2 Khái niệm năng lực thực thi công vụ

Trên cơ sở khái niệm về năng lực, công vụ, công chức có thể đưa ra khái niệm về năng lực thực thi công vụ của công chức như sau: Năng lực thực

Trang 32

thi công vụ của công chức là khả năng đáp ứng về kiến thức, kỹ năng, thái độ

và hành vi của công chức một cách tốt nhất trong thực thi công vụ để hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước đạt được mục tiêu đã để ra

Năng lực của công chức các cơ quan hành chính nhà nước được coi là khả năng của một người để hoàn thành công việc được giao, xử lý tình huống

và để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể trong môi trường xác định Như vậy, năng lực của mỗi công chức các cơ quan hành chính nhà nước bao gồm việc

sử dụng tổng hợp các yếu tố như kiến thức, kỹ năng, thái độ, hành vi, phong cách cá nhân để đạt được những mục tiêu cụ thể Ngoài ra còn bao gồm khả năng quan hệ giữa công chức các cơ quan hành chính nhà nước, quan hệ với lãnh đạo, quản lý, với các tổ chức cá nhân trên cở sở những thái độ, kỹ năng giao tiếp cần thiết

1.2.1.3 Năng lực thực thi công vụ của công chức chuyên môn cấp tỉnh

Đội ngũ công chức chuyên môn cấp tỉnh đóng vai trò quan trọng trong việc tham mưu, dự thảo các chính sách, kế hoạch, chỉ tiêu phát triển kinh tế -

xã hội của địa phương, tham mưu quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội trong phạm vi địa phương; đồng thời tham mưu triển khai các chính sách của Trung ương và địa phương thuộc thẩm quyền quản lý Đặc biệt mỗi địa phương trong cả nước có đặc điểm kinh tế xã hội, trình độ phát triển dân trí khác nhau Sự phát triển kinh tế xã hội của một địa phương phụ thuộc rất lớn vào năng lực thực thi công vụ của công chức chuyên môn cấp tỉnh, phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, kỹ năng, thái độ hành vi của công chức trong thực thi công vụ

Như vậy, năng lực thực thi công vụ của công chức chuyên môn cấp tỉnh

là khả năng đáp ứng về kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi của công chức trong việc tham mưu, triển khai các chính sách phát triển kinh tế xã hội, quản

Trang 33

lý các lĩnh vực của đời sống xã hội tại địa phương, đảm bảo cơ quan hành chính nhà nước hoạt động có hiệu lực hiệu quả

Đội ngũ công chức chuyên môn cấp tỉnh đóng vai trò là hạt nhân cơ bản đảm bảo hoạt động công vụ tại các cơ quan hành chính nhà nước tại địa phương hoạt động có hiệu quả hiệu lực Chất lượng chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương phụ thuộc vào phần lớn năng lực của đội ngũ công chức chuyên môn Vì vậy vấn đề cần đặt ra là nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức chuyên môn cấp tỉnh để góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước của địa phương

1.2.2 Các yếu tố cấu thành năng lực thực thi công vụ của công chức chuyên môn cấp tỉnh

1.2.2.1 Trình độ chuyên môn và kiến thức cơ bản

Trình độ chuyên môn và kiến thức cơ bản về hình thức được thể hiện thông qua văn bằng, chứng chỉ của cấp học, ngành học Đây là một trong các tiêu chí để tuyển dụng công chức hành chính nhà nước nói chung và công chức chuyên môn cấp tỉnh nói riêng, liên quan đến yếu tố kiến thức của năng lực, là kết quả của quá trình đào tạo của cá nhân Những kiến thức chuyên môn mà cá nhân sử dụng trong quá trình giải quyết công việc là cơ sở đánh giá trình độ chuyên môn của công chức đó trong lĩnh vực được phân công công tác

Trong quá trình thực thi công vụ đòi hỏi công chức các cơ quan hành chính nhà nước phải đảm bảo các yêu cầu về trình độ, kiến thức sau đây:

* Trình độ chuyên môn

Trình độ chuyên môn của công chức được đào tạo thông qua hệ thống cơ

sở giáo dục, đào tạo, được cấp các văn bằng, chứng chỉ chuyên môn phù hợp với yêu cầu công việc Ở Việt Nam, các văn bằng chứng chỉ được chia thành:

sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học Trong hoạt động thực thi

Trang 34

công vụ cần xem xét sự phù hợp của trình độ chuyên môn được đào tạo với yêu cầu vị trí công việc được giao đảm nhận, bởi nó là yếu tố tiên quyết để công chức giải quyết công việc hiệu quả trong thực thi công vụ

* Trình độ lý luận chính trị

Lý luận là hệ thống tri thức được khái quát từ thực tiễn khách quan, tri thức cả về tự nhiên và xã hội trong tiến trình lịch sử được biểu đạt dưới dạng quy luật, tư tưởng, quan điểm…nhằm giúp con người chi phối và cải tạo thực tiễn Trong hoạt động thực thi công vụ của công chức, việc học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị là cần thiết Ngoài kiến thức về trình độ chuyên môn, công chức hành chính nhà nước phải được trang bị, đào tạo trình độ lý luận chính trị phù hợp với vị trí công tác, mục đích giúp cho công chức nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước để vận dụng vào thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước Các chương trình, đào tạo, bồi dưỡng

lý luận chính trị ở Việt Nam bao gồm: sơ cấp, trung cấp, cao cấp

* Trình độ quản lý nhà nước

Quản lý hành chính nhà nước là lĩnh vực quản lý phức tạp về nội dung, phạm vi và đối tượng quản lý, bởi phạm vi quản lý của nó là các lĩnh vực của đời sống xã hội Vì vậy, công chức làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước nói chung và công chức chuyên môn cấp tỉnh nói riêng phải được đào tạo về kiến thức quản lý nhà nước Trình độ quản lý nhà nước là những kiến thức, kỹ năng mà công chức được đào tạo bồi dưỡng để phù hợp với từng chức danh, ngạch, vị trí công việc của công chức để đáp ứng yêu cầu quản lý hành chính nhà nước Kiến thức quản lý nhà nước thông qua chương trình đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng tiêu chuẩn về ngạch bao gồm: bồi dưỡng quản lý nhà nước ngạch cán sự và tương đương, bồi dưỡng quản lý nhà nước ngạch chuyên viên và tương đương, bồi dưỡng quản lý nhà nước ngạch chuyên viên

Trang 35

chính và tương đương, bồi dưỡng quản lý nhà nước ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương

* Trình độ ngoại ngữ, tin học

Trình độ ngoại ngữ, tin học là kiến thức bổ trợ cần thiết để công chức hành chính nhà nước thực thi công việc đạt hiệu quả cao Đặc biệt trong khi nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế thế giới, đòi hỏi công chức làm việc trong bộ máy công quyền phải đạt chuẩn về trình độ ngoại ngữ tin học Kiến thức về ngoại ngữ, tin học của công chức phải được đánh giá thông qua việc vận dụng chúng vào quá trình thực thi công vụ

1.2.2.2 Kinh nghiệm, kỹ năng nghề nghiệp

Kỹ năng nghề nghiệp là khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết về kiến thức hoặc kinh nghiệm

để tạo ra kết quả mong đợi Kỹ năng luôn có chủ đích và định hướng rõ ràng Kinh nghiệm công tác là những hiểu biết, kiến thức có được do hoạt động thực tế, từng trải trong cuộc sống, trong lao động và công tác Kỹ năng của cá nhân có được dựa trên cơ sở hiểu biết, kiến thức còn kinh nghiệm công tác có được khi trải qua một quá trình lao động, công tác

Kỹ năng nghề nghiệp là sản phẩm của quá trình tư duy kết hợp với việc tích lũy kinh nghiệm thông qua đào tạo tạo, bồi dưỡng và quá trình công tác Trong hoạt động thực thi công vụ, công chức cần có những kỹ năng cụ thể

Kỹ năng của công chức các cơ quan hành chính nhà nước được phân thành kỹ năng công chức lãnh đạo quản lý và kỹ năng công chức chuyên môn Kỹ năng của công chức lãnh đạo bao gồm: lập kế hoạch, xây dựng chiến lược, phân tích và giải quyết vấn đề, ra quyết định, tổng hợp, thuyết trình, thanh tra, xử lý xung đột, tạo động lực… Kỹ năng của công chức chuyên môn bao gồm soạn thảo văn bản, giao tiếp hành chính, thu thập và xử lý thông tin, quản lý hồ sơ, làm việc nhóm, viết báo cáo, nghe và gọi điện thoại…

Trang 36

Kỹ năng nghề nghiệp là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng thực thi công vụ của công chức Đây là những yếu tố cần thiết khi công chức thực thi công vụ Ngoài những kỹ năng chung đối với mọi công chức, mỗi nhóm công chức nhất định phải có những kỹ năng riêng để phù hợp với từng vị trí công tác

1.2.2.3 Thái độ, hành vi của công chức

Thái độ được hiểu là cách nghĩ, cách nhìn nhận và cách hành động theo một hướng nào đó về một vấn đề hay tình hình cụ thể Thái độ của công chức trong hoạt động thực thi công vụ được hiểu là cách suy nghĩ, ứng xử, nhìn nhận vấn đề trong hoạt động công vụ Thái độ chi phối cách ứng xử, hành vi

và tác phong của công chức, khi giải quyết công việc công chức đều có thái

độ tích cực hoặc không tích cực Vì vậy yêu cầu đặt ra phải có chuẩn mực của công chức trong thực thi công vụ để hạn chế những thái độ không tốt và phát huy thái độ tích cực của công chức Thái độ, hành vi của công chức trong thực thi công vụ được thể thông qua tác phong, phong cách làm việc của cá nhân; trách nhiệm trong công việc; tinh thần phối hợp trong công tác và thái độ phục vụ nhân dân

* Tác phong, phong cách làm việc

Tác phong của người công chức được coi là phù hợp khi họ có những thái độ, cách ứng xử phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, với từng đối tượng, sự việc và từng người nhất định, đặc biệt là những người liên quan đến công việc của họ, tạo điều kiện để giải quyết công việc nhanh chóng, đạt hiệu quả cao

Phong cách làm việc là cách thức làm việc, mang sắc thái của mỗi cá nhân Phong cách làm việc phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực; vị trí, chức năng, nhiệm vụ, điều kiện làm việc, sự giáo dục, rèn luyện…

Trang 37

Người công chức có tác phong làm việc nhanh nhẹn, thái độ cư xử đúng mực và phong cách làm việc khoa học thì sẽ giải quyết công việc một cách nhanh chóng, đạt hiệu quả cao Vì vậy tác phong, phong cách làm việc là một trong yếu tố để đánh giá năng lực thi công vụ của công chức Bên cạnh trình

độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp thì việc ứng xử, phương pháp làm việc khoa học, kỹ năng ứng xử trong các mối quan hệ là yếu tố cấu thành nên năng lực thực thi công vụ của công chức

* Trách nhiệm trong công việc

Trong hoạt động thực thi công vụ đòi hỏi công chức phải có trách nhiệm trong công việc.Tận tâm với công việc, hoàn thành tốt công việc với hiệu quả tốt nhất do cơ quan đơn vị phân công Đối với những công việc, nhiệm vụ đã được phân công phải có ý thức thực hiện, không đùn đẩy trách nhiệm Tham gia nghiên cứu, tham mưu cải tiến quy trình nghiệp vụ, giảm bớt các thủ tục hành chính phiền hà, giải quyết công việc nhanh chóng, chính xác, không gây khó khăn cho tổ chức công dân

* Tinh thần phối hợp trong công tác

Hoạt động công vụ rất đa dạng và phức tạp diễn ra trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Vậy đòi hỏi trong quá trình thực thi công vụ, các công chức trong cơ quan hành chính và các cơ quan đơn vị khác phải có sự phối hợp hài hòa Đây cũng là yêu cầu trong thực thi công vụ, bởi trong bộ máy hành chính nhà nước, công chức không phải là một thực thể tách biệt đơn lẻ mà cần phải

có sự phối hợp trong công việc; mục đích là công việc được giải quyết nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân

* Thái độ phục vụ nhân dân

Mục tiêu của nền hành chính nước ta là xây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh, chính quy, chuyên nghiệp, hiện đại; không chỉ đòi hỏi công chức trong bộ máy hành chính nhà nước phải có trình độ chuyên môn nghiệp,

Trang 38

bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp mà phải có thái độ phục vụ nhân dân tốt Trong thực thi công vụ người công chức phải có thái độ niềm nở, đúng mực, tận tình hướng dẫn cho nhân dân, tránh các biểu hiện hách dịch, quan liêu, cửa quyền, nhũng nhiễu…

1.2.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực thực thi công vụ của công chức chuyên môn cấp tỉnh

Đánh giá việc thực thi công vụ của công chức là một trong những nội dung cơ bản và quan trọng, là khâu trọng yếu trong quản lý nhân sự hành chính nhà nước Thông qua đối chiếu giữa kết quả thực hiện nhiệm vụ công chức với mục tiêu đặt ra, nhiệm vụ được phân công để thấy được năng lực, trách nhiệm, mức độ hoàn thành công việc, sự công hiến, đạo đức công vụ của công chức Luật cán bộ công chức 2008 quy định mục đích “đánh giá công chức để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao Kết quả đánh giá là căn cứ để bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật

và thực hiện chính sách đối với công chức” [23] Đánh giá công chức là một trong những biện pháp để đánh giá thực chất chất lượng, thực trạng, qua đó xây dựng đội ngũ công chức chính quy chuyên nghiệp nâng cao hiệu lực hiệu quả của quản lý hành chính nhà nước

Hiện nay, văn bản quy phạm pháp luật về vấn đề đánh giá cán bộ công chức

đã được ban hành và thực thi trên thực tế Tuy nhiên, văn bản quy phạm pháp luật quy định rõ khung năng lực tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể để đánh giá năng lực thực thi công vụ của công chức hiện chưa có Việc đánh giá công chức hiện nay chủ yếu vẫn là các tiêu chí chung chung, chưa chú trọng tới kỹ năng hay thái độ, hành vi của công chức, tiêu chí cụ thể đối với từng vị trí công tác Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả xin đưa ra một số tiêu chí đánh giá năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan hành chính nhà nước

Trang 39

Đội ngũ công chức hành chính nhà nước là nhân tố quan trọng nhất của bất kỳ nền hành chính nhà nước nào, vai trò quan trọng trong quá trình thực thi pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống, quản lý nhà nước trên các mặt, lĩnh vực của đời sống xã hội Do đó, đặt ra yêu cầu bức thiết là phải nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính nhà nước Tùy theo vị trí công tác sẽ

có từng tiêu chí, mức độ cụ thể khác nhau

- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ được trang bị ở các cơ sở đào tạo trong

hệ thống giáo dục quốc dân trong nước hoặc nước ngoài bằng nhiều hình thức khác nhau Ở mỗi ngành nghề hay vị trí công việc đòi hỏi các trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhất định Kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ thường được đào tạo trước khi tuyển dụng, bố trí, sắp xếp công việc Trong quá trình thực thi công vụ, ở các vị trí công tác, mỗi công chức phải thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mình để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ

- Kiến thức về quản lý nhà nước

Kiến thức về quản lý nhà nước liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước nói chung và kiến thức quản lý hành chính nhà nước nói riêng giúp công chức

có kiến thức tổng quát và cụ thể về hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước

và công vụ công chức Đây là kiến thức liên quan đến hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và văn bản quy phạm pháp luật nói riêng Đây là kiến thức nền tảng giúp công chức có định hướng đúng đắn trong hoạt động thực thi công vụ

- Kiến thức bổ trợ: ngoại ngữ, tin học

Đây là những công cụ hỗ trợ cho quá trình thực thi công vụ của công chức, tùy ở mỗi ngành nghề và vị trí công việc khác nhau lại có mức độ yêu cầu khác nhau Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường hội nhập kinh tế quốc

tế, đây là những kiến thức cần thiết bắt buộc mỗi người công chức phải có

Trang 40

- Khả năng tham mưu

Một trong chức năng nhiệm vụ chủ yếu của công chức chuyên môn trong

cơ quan quản lý hành chính nhà nước là tham mưu cho lãnh đạo ban hành các quyết định, văn bản liên quan đến công việc Khả năng tham mưu của công chức phụ thuộc trình độ chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm trong thực thi công vụ

- Phối hợp trong công tác

Trong các cơ quan hành chính nhà nước cần có sự phối hợp giữa các bộ phận để tổ chức thực hiện những nhiệm vụ công tác cụ thể trong khuôn khổ chức năng, thẩm quyền của cơ quan Để hoạt động quản lý nhà nước đạt hiệu lực hiệu quả cao thì mỗi công chức trong co quan phải có sự phối hợp trong hoạt động để giải quyết công việc nhanh chóng và đạt hiệu quả cao Khả năng phối hợp trong công tác phụ thuộc lớn vào kỹ năng giao tiếp hành chính và làm việc nhóm của công chức

-Khả năng nhìn nhận, phân tích vấn đề, xử lý tình huống

Ngày đăng: 18/02/2017, 09:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Trung ương Đảng (1997), Nghị quyết số 03- NQ/HNTƯ Hội nghị lần thứ 3 BCHTƯ Đảng (khóa VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngày 18-6-1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 03-NQ/HNTƯ Hội nghị lần thứ 3 BCHTƯ Đảng (khóa VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 1997
2. Chính phủ (2003), Nghị định số 117/2003/NĐ-CP của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan Nhà nước, ngày 10-10-2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 117/2003/NĐ-CP của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan Nhà nước
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
3. Chính phủ (2005), Nghị định số 54/2005/NĐ-CP về chế độ thôi việc, chế độ bồi dưỡng chi phí đào tạo cán bộ, công chức, ngày 19-4-2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 54/2005/NĐ-CP về chế độ thôi việc, chế độ bồi dưỡng chi phí đào tạo cán bộ, công chức
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
4. Chính phủ (2005), Nghị định số 35/2005/NĐ-CP về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, ngày 17-3-2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 35/2005/NĐ-CP về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
5. Chính phủ (2003), Quyết định số 161/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, ngày 04/8/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 161/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
6. Chính phủ (2010), Nghị định 24/2010/NĐ-CP quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, ngày 15-3-2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2010), "Nghị định 24/2010/NĐ-CP quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
7. Chính phủ (2011), Nghị quyết số 30c/NQ-CP, “Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020”, ngày 08-11-2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020”
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
8. Chính phủ (2013), Nghị định số 36/2013/NĐ-CP về vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức,ngày 22/4/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 36/2013/NĐ-CP về vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
10. PGS.TS Ngô Thành Can (2014), “Chất lượng thực thi công vụ - vấn đề then chốt của cải cách hành chính”, www.isos.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng thực thi công vụ - vấn đề then chốt của cải cách hành chính”
Tác giả: PGS.TS Ngô Thành Can
Năm: 2014
12. PGS.TS Nguyễn Trọng Điều (2007), “Hoàn thiện chế độ công vụ và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức”, www.tapchicongsan.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện chế độ công vụ và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức”
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Trọng Điều
Năm: 2007
13. Nguyễn Trọng Điều (2007), Về chế độ công vụ Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chế độ công vụ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Trọng Điều
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2007
15. 13.PGS.TS Nguyễn Hữu Hải, “Phát triển đội ngũ công chức hành chính nhà nước hiện nay”, Tạp chí quản lý nhà nước, tháng 10/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển đội ngũ công chức hành chính nhà nước hiện nay”, "Tạp chí quản lý nhà nước
16. PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Hải, “ Một số vấn đề về phát triển năng lực của cán bộ, công chức, Tạp chí tổ chức nhà nước, số 9/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về phát triển năng lực của cán bộ, công chức, "Tạp chí tổ chức nhà nước
17. PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Hải, “Quản lý nguồn nhân lực hành chính nhà nước theo năng lực”, Tạp chi quản lý nhà nước, tháng 6/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nguồn nhân lực hành chính nhà nước theo năng lực”, "Tạp chi quản lý nhà nước
18. Đoàn Thị Ngọc Hải, “Thực trạng pháp luật về đạo đức công chức ở Việt Nam hiện nay và đề xuất hoàn thiện” (2016),http://www.moj.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đoàn Thị Ngọc Hải, “Thực trạng pháp luật về đạo đức công chức ở Việt Nam hiện nay và đề xuất hoàn thiện” (2016)
Tác giả: Đoàn Thị Ngọc Hải, “Thực trạng pháp luật về đạo đức công chức ở Việt Nam hiện nay và đề xuất hoàn thiện”
Năm: 2016
19. ThS Chu Thị Hảo, “Quản lý và phát triển nhân sự trong khu vực công”, Tạp chí quản lý nhà nước, tháng 11/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và phát triển nhân sự trong khu vực công”, "Tạp chí quản lý nhà nước
21. TS Giang Thanh Nghị, “Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí quản lý nhà nước, tháng 4/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính trong giai đoạn hiện nay”, "Tạp chí quản lý nhà nước
22. Học viện hành chính quốc gia (2007), “Giáo trình tổ chức nhân sự hành chính nhà nước”, NXB Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tổ chức nhân sự hành chính nhà nước
Tác giả: Học viện hành chính quốc gia
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2007
9. Bửu Lân (2013), Đà Nẵng: Đo năng lực công chức bằng phần mềm, http://www.vtc.vn Link
14. TS Đinh Ngọc Giang (2015), Thu hút và trọng dụng nhân tài trong giai đoạn hiện nay, http://tcnn.vn/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w