1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức hồ chí minh cho sinh viên trường đại học tây bắc trong dạy học môn tư tưởng hồ chí minh

77 512 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho SV có thể thực hiện ở nhiều nội dung, với nhiều hình thức, thông qua chương trình, giáo trình học tập; thông qua vai trò của tổ chức Đảng, Đoàn thanh niê

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Luận bàn minh triết và minh triết Việt, cố giáo sư Hoàng Ngọc Hiến có khẳng định “… trong nền minh triết Việt có nhiều nguồn, có minh triết lục giáo, có minh triết đạo thờ cúng tổ tiên… có minh triết văn hóa các dân tộc anh em Trong thời đại Hồ Chí Minh, minh triết Hồ Chí Minh với sức thấm sâu và lan tỏa rộng trong lòng dân là nguồn trung tâm trong đa nguồn minh triết Việt” Ông nhấn mạnh

“minh triết chính trị của Hồ Chí Minh là một kho báu vô giá” Đặc trưng của minh triết Hồ Chí Minh nói chung, đạo đức Hồ Chí Minh nói riêng là Người gộp bội thành công nhiều ý tưởng tinh hoa của nhân loại, đặc biệt của các vị tiền nhân phương Đông mà dân tộc ngưỡng mộ, cô đúc thành thông điệp mang tâm thức Việt

để giáo dục cho nhân dân Việt Nam Vì thế, đạo đức Hồ Chí Minh là điểm nhấn, trung tâm phát ra năng lượng, định hướng giá trị đạo đức trong thời đại mới

Nhận thức được vị trí, vai trò của đạo đức Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, ngay từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II, Đảng ta đã đặt ra nhiệm

vụ học tập tư tưởng đạo đức và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Mục đích cuộc vận động là làm cho toàn Đảng, toàn dân nhận thức sâu sắc về những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, từ đó chuyển sang hành động, làm theo tấm gương đạo đức của Người, tạo

sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện trong mỗi người dân Việt Nam; đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội của Đảng và tạo đà cho những năm tiếp theo

Đối với sinh viên trường Đại học Tây Bắc, đặc thù sinh sống trên một địa bàn tương đối phức tạp với vị trí địa chính trị quan trọng của Tổ quốc, trong thời gian gần đây, do tác động của KTTT và cả sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch nên công tác giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống luôn được các cấp ủy Đảng, các cấp chính quyền, các cấp giáo dục quan tâm Một trong những việc làm

đó là giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh để sinh viên rèn luyện bản thân, tu dưỡng đạo đức, hun đúc lòng tự hào, bản sắc văn hóa dân tộc, quyết tâm chiến thắng đói

Trang 2

nghèo, xây dựng khối đại đoàn kết, phòng chống diễn biến hòa bình và góp phần thực hiện cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” Giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho SV có thể thực hiện ở nhiều nội dung, với nhiều hình thức, thông qua chương trình, giáo trình học tập; thông qua vai trò của tổ chức Đảng, Đoàn thanh niên và Hội SV trong nhà trường; thông qua việc phối hợp với gia đình và toàn xã hội… trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của môn tư tưởng Hồ Chí Minh Điều này được lý giải từ vị trí môn tư tưởng Hồ Chí Minh với việc giáo dục đạo đức cách mạng, lối sống mới văn minh, lành mạnh cho SV, vị trí này các môn khác không thể thay thế được Tuy nhiên, trong giảng dạy, nhiều GV còn thiên về truyền đạt nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh mà ít quan tâm liên hệ thực

tế, chưa sử dụng nhiều tấm gương người thật, việc thật trong học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh, chưa chú ý đúng mức đến giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cũng như chưa hướng đến những biện pháp dạy học phù hợp để giáo dục đạo đức,

lý tưởng sống cho người học

Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên Trường Đại học Tây Bắc trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh” là một hướng nghiên cứu vừa có ý nghĩa lí luận, vừa mang tính thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Từ năm học 2005, môn tư tưởng Hồ Chí Minh được đưa vào giảng dạy đại trà trong các trường ĐH, CĐ Việt Nam So với các môn LLCT khác, tư tưởng Hồ Chí Minh là một môn học mới, tích hợp tri thức tổng hợp, khó đối với cả người dạy và người học để lĩnh hội sát, đúng các quan điểm gốc của Hồ Chí Minh Để dạy tốt môn học, liên quan đến rất nhiều vấn đề như sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, lòng yêu nghề, kĩ năng, PP dạy học phù hợp từ phía GV, thái độ và tinh thần tự học của SV… tuy nhiên theo chúng tôi, một trong những điều kiện cơ bản là hệ thống tài liệu phục vụ môn học Trong đó, liên quan trực tiếp đến giảng dạy môn học,

phải là bộ giáo trình quốc gia về “Tư tưởng Hồ Chí Minh” của Hội đồng lí luận

trung ương biên soạn, Nxb CTQG xuất bản năm 2003 Từ đó cho đến nay, giáo trình môn tư tưởng Hồ Chí Minh đã được Bộ GD&ĐT phối hợp với Nxb CTQG xuất bản năm 2005, lần lượt chỉnh sửa và tái bản cho phù hợp với tình hình mới

Trang 3

vào các năm 2009, 2011, 2013 Trong giáo trình quốc gia, đạo đức Hồ Chí Minh được thể hiện trong chương VII, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, đạo đức và xây dựng con người mới

Trên cơ sở giáo trình quốc gia, Nguyễn Khánh Bật đã biên soạn “Những bài

giảng về môn tư tưởng Hồ Chí Minh”, góp thêm những tư liệu để nghiên cứu, học

tập tốt môn học Trong bài 11, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, tác giả luận giải sự quan tâm của lãnh tụ Hồ Chí Minh về đạo đức; nguồn gốc hình thành; vị trí, vai trò của đạo đức; những chuẩn mực đạo đức cơ bản và những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới [8]

Còn có thể kể đến tài liệu “Tìm hiểu thân thế - sự nghiệp và tư tưởng Hồ

Chí Minh (hỏi và đáp)” do Hoàng Trang và Nguyễn Khánh Bật đồng chủ biên

Tài liệu đưa ra hình thức hỏi - đáp, dựa trên cơ sở những công trình nghiên cứu

về Hồ Chí Minh đã công bố và được thừa nhận rộng rãi, nội dung những câu hỏi

và đáp trong cuốn sách đã cung cấp cho người đọc những nét cơ bản về thân thế

và những hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh Đồng thời, nội dung cuốn sách còn phản ánh được những vấn đề cơ bản về quá trình hình thành và nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh Đặc biệt, cuốn sách còn có những câu hỏi bàn

về vị trí, vai trò, chuẩn mực, yêu cầu đạo đức Hồ Chí Minh, vận dụng trong giai đoạn hiện nay [81]

Trong năm 2007, vào tháng 3, Bộ GD&ĐT đã xuất bản Kỷ yếu hội thảo

khoa học “Giảm tải, nâng cao chất lượng dạy và học các môn khoa học Mác -

Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” Về cơ bản, các nhà khoa học đều tập trung bàn

vấn đề giảm tải, tích hợp các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

để đảm bảo tính hiện đại, tính quốc tế nhưng đồng thời vẫn giữ được tính dân tộc

và bổ sung trách nhiệm của lớp trẻ trong thời đại mới [12] Nhằm góp phần đổi mới kết cấu, nội dung chương trình, giáo trình và PP giảng dạy các môn lí luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trưởng ĐH, Trung tâm đào tạo, bồi

dưỡng giảng viên LLCT đã tổ chức hội thảo “Giảng dạy các môn LLCT ở các

trường ĐH Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế” Liên quan đến môn tư

tưởng Hồ Chí Minh, các tác giả đã luận bàn về giá trị của môn học, về kết cấu, nội dung, về đổi mới PP giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường ĐH,

Trang 4

CĐ hiện nay; những yêu cầu đặt ra đối với việc giảng dạy, học tập môn tư tưởng

Hồ Chí Minh cho SV trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế [19] Đây là những tư liệu quan trọng định hướng cho việc giảng dạy, học tập môn tư tưởng

Hồ Chí Minh góp phần giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho SV

Trong cuốn “Tư tưởng Hồ Chí Minh, tài liệu phục vụ dạy và học chương

trình các môn LLCT trong các trường ĐH, CĐ”, nhóm tác giả chia tài liệu thành

các chuyên đề theo cấu trúc tổng thể chương trình môn học, nhằm tạo lập thêm nguồn tư liệu tham khảo cho quá trình GV biên soạn bài giảng và tự học của SV

Vì vậy, so với giáo trình môn học, một mặt tập tài liệu này không đề cập hết mọi nội dung mà chỉ đi sâu hơn một số nội dung cơ bản; mặt khác, tập tư liệu này cũng

mở rộng một số nội dung có liên quan và có thể giới thiệu một số cách diễn giải khác nhau đối với cùng một vấn đề nhằm gợi ý những suy nghĩ, tìm tòi của GV và

SV trong thực tế dạy và học Trong tài liệu, nhóm tác giả đã dành chuyên đề thứ 7:

SV học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh nhằm giúp SV hiểu được tại sao Bác Hồ đặc biệt quan tâm tới đạo đức và giáo dục đạo đức cho SV; giúp họ hiểu được những phẩm chất cơ bản của con người Việt Nam theo quan điểm Hồ Chí Minh và cả những nội dung đạo đức cần học tập và làm theo cũng như nội dung trái với đạo đức Hồ Chí Minh cần chống [13]

Cuốn sách “Tư tưởng Hồ Chí Minh (hỏi và đáp)”, Bùi Đình Phong chủ biên

được biên soạn dưới dạng câu hỏi và trả lời về những vấn đề cơ bản nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh Với 24 câu hỏi và trả lời, các tác giả đã chắt lọc những vấn đề

cơ bản nhất, những PP thực hiện và những vận dụng có ý nghĩa thời sự hiện nay, qua đó góp phần khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng bộc lộ sức sống trường tồn Về đạo đức Hồ Chí Minh, tác giả bàn đến vai trò và các PP thực hành đạo đức cách mạng; các giải pháp nâng cao hiệu quả học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh [74]

Đó còn là “Tài liệu nghiên cứu, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh” của Võ Văn

Lộc biên soạn, tuyển chọn và giới thiệu Cuốn sách là kết quả của một quá trình sưu tầm, tích lũy tư liệu, thể hiện tâm huyết, tình cảm của nhà khoa học đối với vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, mong muốn làm điều thiết thực, có ích, nhằm đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống, đến với mọi người, nhất là thế hệ trẻ, HS, SV

Trang 5

Trong cuốn sách, tác giả đã chọn lọc kỹ lưỡng những tài liệu gốc của Hồ Chí Minh, các bài viết tiêu biểu của 30 nhà nghiên cứu trong nước, kể cả công trình tập thể và 16 học giả nước ngoài, sắp xếp theo từng chương của giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh Các tài liệu này đảm bảo tính chân xác lịch sử, lôgic, hệ thống, cập nhật

và thời sự, giúp cho người đọc từ những giá trị lí luận và thực tiễn các quan điểm của Hồ Chí Minh mà suy ngẫm về những vấn đề, khía cạnh khác nhau của cuộc sống đương đại Sau mỗi tài liệu, người viết có những lời bình, nhận xét sắc sảo, gợi mở những vấn đề cần thảo luận, tiếp tục nghiên cứu sâu thêm, kích thích sự tìm tòi sáng tạo của người học, không áp đặt khiên cưỡng tư duy một chiều của nhà nghiên cứu Về đạo đức Hồ Chí Minh, có thể tham khảo nhiều tư liệu trong chương

1, chương 3, chương 4, chương 5, chương 7 [50]

Như vậy, để giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho thanh niên - SV, các nhà

nghiên cứu đã bàn đến dưới các góc độ khác nhau, tuy nhiên, về giáo dục đạo đức

Hồ Chí Minh trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh thì hầu như chưa có công trình nào bàn đến một cách chi tiết: cần giáo dục cho SV như thế nào? môn tư tưởng Hồ Chí Minh có ưu thế ra sao, biện pháp dạy học nào là phù hợp, phát huy hiệu quả mà chỉ lồng ghép nội dung đạo đức Hồ Chí Minh qua tài liệu Vì vậy,

đề tài nghiên cứu “Giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho SV Trường Đại học Tây Bắc trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh”, là một hướng nghiên cứu mới, vừa

có ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc

3 Mục tiêu nghiên cứu

Tiếp tục làm sáng tỏ một số vấn đề về giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh, thực trạng giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh và đề xuất biện pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Địa bàn nghiên cứu: sinh viên Trường Đại học Tây Bắc

Trang 6

Thời gian nghiên cứu: từ 12 năm 2015 đến tháng 12 năm 2016

5 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu

5.1 Cách tiếp cận:

Đề tài dựa trên cơ sở quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục đạo đức

Hồ Chí Minh cho sinh viên; kết quả nghiên cứu của những công trình khoa học đã công bố và thực trạng giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa

duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ

thống hóa, điều tra, khảo sát nhằm thu thập thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

- Với kết quả đạt được, đề tài có ý nghĩa sâu sắc cả về mặt lý luận và thực

tiễn, cung cấp những luận cứ và cơ sở khoa học góp phần vào việc giáo dục đạo đức cho sinh viên nói chung và nâng cao chất lượng của công tác giáo dục đạo đức

Hồ Chí Minh cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc nói riêng

- Đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, nhất là trong công tác giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh viên

- Kết quả của đề tài chỉ ra được thực trạng đạo đức sinh viên và thực trạng giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc, đánh giá được nội dung, hình thức và phương pháp, chất lượng và hiệu quả giáo dục chính trị tư tưởng, rèn luyện đạo đức lối sống cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc

- Đề tài đề xuất được các biện pháp khả thi góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc đáp ứng yêu cầu thực tiễn về mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ vừa hồng, vừa chuyên góp phần phục

vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, cấu trức của đề tài gồm 3 chương, 10 tiết:

Trang 7

Chương 1: Lý luận về giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh

Chương 2: Thực trạng giáo dục đạo đức đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên Trường Đại học Tây Bắc trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh

Chương 3: Một số biện pháp giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên trường Đại học Tây Bắc trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh

Trang 8

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH CHO SINH VIÊN

TRONG DẠY HỌC MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

1.1 Lý luận chung về đạo đức và giáo dục đạo đức

1.1.1 Đạo đức

Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội, nó ra đời

và tồn tại một cách khách quan trong cuộc sống nhằm điều chỉnh ý thức và hành vi của con người Đạo đức bao gồm những chuẩn mực, quy tắc ứng xử mang tính tự nguyện, ra đời và phát triển là do nhu cầu của xã hội phải điều tiết mối quan hệ và hoạt động chung của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Đạo đức biểu hiện bản chất xã hội của con người, là nết cơ bản trong tính người Vì vậy, sự tiến bộ của ý thức đạo đức là một trong những tiêu chí căn bản để đánh giá sự tiến

bộ chung của xã hội

Ở phương Tây, danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh là mos, morris, nghĩa là phong tục, tập quán Đạo đức còn có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là ethicos, cũng có nghĩa là thói quen, tập quán Như vậy, theo phần gốc của khái niệm, khi nói đến đạo đức là nói đến những thói quen, tập quán sinh hoạt và ứng

xử của con người trong cộng đồng, trong xã hội

Ở phương Đông, theo các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại, đạo có nghĩa là con đường, đường đi, là đường sống của con người trong xã hội Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý Theo đó, đạo đức chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà con người phải tuân theo

Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, đạo đức xét đến cùng là

sự phản ánh các quan hệ xã hội Giá trị đạo đức được xác định ở chỗ nó phục vụ cho tiến bộ xã hội vì hạnh phúc của con người “Đạo đức giúp cho xã hội loài người tiến lên trình độ cao hơn, thoát khỏi ách áp bức bóc lột lao động” [46; 371] Bàn về đạo đức CSCN, Lênin cho rằng: “đó là những gì góp phần phá hủy xã hội

cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh

giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản” [47; 214]

Trang 9

Đây là một quan niệm mang tính cách mạng và khoa học về đạo đức mà quan niệm của các tôn giáo và các nền đạo đức khác không thể đạt tới

Vậy là, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đạo đức không phải nảy sinh bên ngoài xã hội Sự xuất hiện của ý thức đạo đức là do nhu cầu khách quan của sự phát triển nhận thức, của đời sống xã hội, mà trước hết là do nhu cầu phối hợp hành động trong lao động sản xuất, trong việc phân phối sản phẩm xã hội, trong đấu tranh

Theo Từ điển tiếng Việt, đạo đức là: “1 Những tiêu chuẩn, nguyên tắc được

dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội (nói tổng quát) 2 Phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng

theo những tiêu chuẩn đạo đức mà có” [72; 290]

Trong cuốn “Giáo trình đạo đức học” của Trần Hậu Kiêm xuất bản năm

1997, đạo đức được định nghĩa là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực

xã hội Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội Nhờ đó, con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người

và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội

Theo chúng tôi, đạo đức là một phương thức điều chỉnh các quan hệ xã hội,

bao gồm một hệ thống các qui tắc, các chuẩn mực nhằm điều chỉnh hành vi và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội

để bảo vệ lợi ích của cá nhân và của cộng đồng, chúng được đảm bảo thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống, tập quán và sức mạnh của dư luận xã hội

Như vậy, đạo đức không phải có sẵn ở đâu đó, nó được hình thành từ khi có

xã hội loài người và tồn tại vĩnh viễn cùng loài người Tuy nhiên, hệ thống các nguyên tắc, quy tắc và chuẩn mực đạo đức lại có tính lịch sử vì với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức cũng phản ánh tồn tại xã hội, mà tồn tại xã hội lại không bất biến Hình thái ý thức xã hội đạo đức giúp con người điều chỉnh hành vi của mình, hướng con người tới cái tốt, cái thiện

1.1.2 Giáo dục đạo đức

Trang 10

Giáo dục - hiểu theo nghĩa rộng - là quá trình trao đổi và chuyển giao tri thức, là sự đạt được những giá trị và hành vi theo một mục đích, yêu cầu định sẵn

Hiểu theo nghĩa hẹp, giáo dục là một quá trình hình thành nhân cách con người dưới ảnh hưởng của các hoạt động có mục đích của nhà giáo dục trong hệ thống các cơ quan giáo dục và DH

Trong Từ điển tiếng Việt, giáo dục được định nghĩa là “hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra” [72; 394]

Về bản chất, giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu cho đối tượng giáo dục, nhằm giúp họ nhận thức đúng, tạo lập tình cảm và thái độ đúng, hình thành những thói quen hành vi văn minh trong cuộc sống, phù hợp với chuẩn mực xã hội [88; 137]

Như vậy, giáo dục có vai trò rất lớn trong việc hình thành phẩm chất, nhân cách, định hướng phát triển cho mỗi người Sự phát triển và hoàn thiện con người

có nhiều yếu tố tác động, song có thể khẳng định yếu tố giáo dục đóng vai trò chủ yếu Nếu không có giáo dục, con người không thể tiếp cận và tiếp thu được nền văn hóa, văn minh của nhân loại; và do đó, các thế hệ sau cũng không thể tiếp thu,

kế thừa và bảo tồn được những di sản truyền thống dân tộc Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế, văn hóa cả

Vấn đề giáo dục đạo đức cũng được loài người bàn đến từ rất sớm Ngay từ thời cổ đại, người phương Tây đã coi giáo dục đạo đức là yếu tố đóng vai trò chi phối quá trình giáo dục tri thức Còn ở phương Đông, xu hướng coi giáo dục đạo đức như là quá trình giáo dục nhân cách, đồng nhất với giáo dục nhân cách, là quá trình giáo dục cách xử thế ở đời và đạo lý làm người

Giáo dục đạo đức góp phần to lớn trong việc chuyển các quan niệm đạo đức

từ tự phát sang tự giác, từ bị động sang chủ động, không ngừng nâng cao trình độ nhận thức các giá trị đạo đức cho mỗi người Qua giáo dục đạo đức, nội dung các phạm trù, các quy tắc đạo đức được nhận thức một cách đầy đủ, đúng đắn hơn, góp phần điều chỉnh hành vi phù hợp với những chuẩn mực đạo đức xã hội

Trang 11

Cùng với việc nâng cao nhận thức các giá trị đạo đức, giáo dục đạo đức còn góp phần tạo ra những giá trị đạo đức mới; xây dựng những quan điểm, phẩm chất đạo đức mới, quan niệm sống tích cực cho mỗi đối tượng giáo dục Đồng thời, giáo dục đạo đức cũng góp phần khắc phục những quan điểm đạo đức lạc hậu, sự lệch chuẩn các giá trị nhân cách, chống lại các hiện tượng phi đạo đức, tạo ra cơ chế phòng ngừa các phản giá trị đạo đức, phản giá trị văn hóa trong mỗi một nhân cách, có như vậy giáo dục đạo đức mới thực hiện được nhiệm vụ “dạy người” của

nó Hơn hai nghìn năm trước, Arixtốt (384 - 322), một trong những triết gia lớn nhất “trong suốt nhiều thế kỷ là người thầy của tất cả các nhà triết học” đã nói rằng: chúng ta bàn về đạo đức không phải để biết đức hạnh là gì mà là để trở thành con người có đức hạnh

Giáo dục đạo đức góp phần to lớn vào việc truyền lại cho thế hệ sau những giá trị đạo đức truyền thống mà từ đời này qua đời khác chúng ta đã dày công gìn giữ và xây dựng Thông qua việc giáo dục sẽ giúp họ nhận thức đầy đủ chân giá trị của truyền thống đạo đức dân tộc, ý nghĩa lớn lao của chúng trong đời sống hiện thực, lòng nhân ái và tính nhân văn sâu sắc đã được lưu giữ, bảo tồn và lắng đọng trong cốt cách con người và nền văn hóa Việt Nam

Như vậy, một trong những nội dung quan trọng nhất của quá trình giáo dục

là giáo dục đạo đức, sẽ là duy tâm nếu chúng ta cho rằng tư tưởng quyết định tất

cả, và giáo dục đạo đức có thể làm thay đổi toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội Nhưng cũng sẽ là sai lầm khi chúng ta xem nhẹ vai trò của đạo đức trong đời sống

xã hội, tự tước bỏ vũ khí tinh thần của mình bằng sự hoài nghi, dao động về lý tưởng đạo đức

Giáo dục đạo đức có thể được thực hiện qua nhiều hình thức khác nhau như tổ chức lao động, tổ chức hoạt động xã hội, hoạt động vui chơi giải trí, văn hóa, thể dục thể thao, hoạt động tập thể… trong đó, dạy học là con đường giáo dục có bài bản nhất, tích cực, chủ động và ngắn nhất, có hiệu quả nhất làm cho thế hệ trẻ lĩnh hội một cách có hệ thống những kho tàng văn hóa của loài người trong một thời gian nhất định Điều này được lý giải từ vai trò của nhà trường, đây là cơ sở chuyên thực hiện chức năng giáo dục, do một đội ngũ các nhà sư phạm đã được đào tạo và có đầy đủ kinh nghiệm thực hiện các chương trình giáo dục có mục

Trang 12

đích, nội dung và phương pháp theo một kế hoạch nhất định Thông qua nội dung các môn học, người học lĩnh hội được một khối lượng kiến thức hệ thống, xây dựng kĩ năng lao động, tiếp thu những tri thức, phẩm chất chính trị, nhờ đó nhân cách được hình thành và phát triển Con đường dạy học được tổ chức theo hình thức nội khóa và ngoại khóa Dạy học nội khóa được tiến hành theo tiết, theo bài, theo môn, theo thời khóa biểu đã định sẵn Còn hình thức ngoại khóa được nhà trường, GV tổ chức cho SV vào thời gian ngoài giờ lên lớp Thông qua việc tổ chức cho SV được tiếp xúc với thực tiễn cuộc sống xã hội phong phú, tham gia các hoạt động đa dạng, giúp củng cố, khắc sâu, mở rộng những tri thức được giáo dục trong hình thức nội khóa và qua đó, hình thành ở các em thái độ đúng đắn và kĩ năng cần thiết theo mục tiêu môn học

Sự kết hợp giữa nội và ngoại khóa tạo sự gắn kết giữa lý thuyết với thực hành, giữa nhận thức với hành động, mang lại hiệu quả tích cực, bổ ích, phát huy được tính năng động sáng tạo, khơi gợi niềm hứng thú, qua đó, giúp SV mở rộng nhận thức, phát triển tình cảm, rèn luyện thói quen đạo đức tích cực Từ những vấn

đề trên, có thể khái quát: giáo dục đạo đức là quá trình tác động đến đối tượng giáo dục để hình thành trong họ ý thức, tình cảm, niềm tin, lý tưởng đạo đức và được thể hiện ở hành vi đạo đức

1.2 Giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên

1.2.1 Đạo đức Hồ Chí Minh

1.2.1.1 Nguồn gốc hình thành đạo đức Hồ Chí Minh

Đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam đã được hình thành, phát triển trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước Quá trình đó dân tộc ta đã tạo lập cho mình một nền văn hóa riêng, phong phú và bền vững với những truyền thống tốt đẹp và cao quý Trong những

truyền thống đó, truyền thống đạo đức là nổi trội hơn cả

Trước hết, đó là truyền thống yêu nước Từ văn hóa dân gian đến văn hóa bác học, từ những nhân vật trong truyền thuyết đến các tên tuổi sáng ngời trong lịch sử như: Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi đều đã phản ánh chân lý đó là một cách hùng hồn Chủ nghĩa yêu nước là dòng chủ lưu chảy xuyên suốt trường kỳ lịch sử Việt Nam, là chuẩn mực cao nhất, đứng đầu

Trang 13

bảng giá trị văn hóa - tinh thần Việt Nam Mọi học thuyết đạo đức, tôn giáo từ nước ngoài khi du nhập vào Việt Nam đều được người Việt Nam tiếp nhận qua lăng kính của tư tưởng yêu nước đó

Truyền thống nhân nghĩa đoàn kết, tương thân, tương ái, “lá lành đùm lá rách” trong những hoạn nạn, khó khăn Truyền thống này cũng hình thành cùng một lúc với sự hình thành dân tộc, xuất phát từ hoàn cảnh và nhu cầu đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên và với giặc ngoại xâm Người Việt Nam quen sống với nhau trong tình làng nghĩa xóm, tắt lửa tối đèn có nhau Bước sang thế kỉ XX, mặc

dù xã hội Việt Nam đã có sự phân hóa về giai cấp, truyền thống này vẫn còn rất bền vững Hồ Chí Minh đã chú ý kế thừa, phát huy sức mạnh của truyền thống nhân nghĩa, Người nhấn mạnh bốn chữ “đồng”: đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh

Truyền thống cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo trong sản xuất và chiến đấu là cơ sở tạo nên một dân tộc ham học hỏi, không ngừng mở rộng cửa đón nhận tinh hoa văn hóa của nhân loại Trên cơ sở giữ vững bản sắc của dân tộc, nhân dân ta đã biết chọn lọc, tiếp thu, cải biến những cái hay, cái tốt, cái đẹp của người thành những giá trị riêng của mình Hồ Chí Minh là hình ảnh sinh động và trọn vẹn của truyền thống đó

Truyền thống tôn sư trọng đạo Truyền thống này đã thấm vào nhận thức, tình cảm, trở thành triết lý sống từ đó định hướng cho những hành vi cụ thể của người Việt Nam qua các thế hệ Tôn vinh người thầy giáo, nhân dân ta nhận thức một cách sâu sắc rằng để trở thành những người có ích, đóng góp cho quê hương đất nước thì phải được dạy dỗ học hành Lịch sử Việt Nam còn mãi mãi ghi ơn những người thầy đã có công đào tạo cho đất nước nhiều trí thức Người thầy được

xã hội tôn vinh ở hàng quan trọng thứ nhì trong xã hội, trước hết là vua, rồi đến thầy giáo, sau mới đến cha mẹ

Truyền thống lạc quan, yêu đời trong muôn nguy, ngàn khó, người lao động vẫn động viên nhau “chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo” Tinh thần lạc quan đó có

cơ sở từ niềm tin vào sức mạnh của bản thân mình, tin vào sự tất thắng của chân lý, chính nghĩa, dù trước mặt còn đầy gian truân, khổ ải phải chịu đựng, vượt qua

Trang 14

Đạo đức Hồ Chí Minh còn bắt nguồn từ sự tiếp thu có chọn lọc và phát triển những tinh hoa văn hóa, đạo đức của nhân loại, cả phương Đông và phương Tây Xuất thân trong gia đình khoa bảng, ngay từ nhỏ Hồ Chí Minh đã được tiếp thu một nền Hán học khá vững vàng Khi ra nước ngoài, Người đã không ngừng làm giàu trí tuệ mình bằng ý chí vượt lên trên mọi khó khăn để tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại Vì vậy, trong lúc đấu tranh Hồ Chí Minh vẫn có thể viết văn bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, sắc sảo như một nhà báo phương Tây thực thụ, nhưng khi có nhu cầu “tự bạch” thì Người lại làm thơ bằng chữ Hán Chính điều đó làm nên nét đặc sắc của Hồ Chí Minh, con người tượng trưng cho sự kết hợp hài hòa của văn hóa, đạo đức Đông - Tây

Khi ra đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành đã được dân tộc, quê hương và gia đình trang bị cho một vốn học vấn chắc chắn, một năng lực trí tuệ sắc sảo, giúp Người phân tích, tổng kết các phong trào yêu nước chống Pháp từ cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX ở Việt Nam một cách khoa học Nhờ tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo cộng với đầu óc phê phán tinh tường, sáng suốt trong việc nghiên cứu tìm hiểu các cuộc cách mạng tư sản hiện đại đã giúp cho Nguyễn Ái Quốc đến được với chủ nghĩa Mác - Lênin Đó là sự khổ công học tập nhằm chiếm lĩnh vốn tri thức phong phú của thời đại Cuối cùng, đó là tâm hồn của một nhà yêu nước, một chiến sĩ nhiệt thành cách mạng, một trái tim yêu nước, thương dân, thương yêu những người cùng khổ, sẵn sàng chịu đựng những hy sinh cao nhất vì độc lập của Tổ quốc, vì tự do, hạnh phúc của đồng bào

Tác động biện chứng của mối quan hệ giữa cá nhân với dân tộc và thời đại

đã đưa Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác - Lênin Nhờ có thế giới quan và

PP luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu và chuyển hoá được những nhân tố tích cực và tiến bộ của truyền thống đạo đức dân tộc cũng như của văn hoá và đạo đức tiến bộ của nhân loại để hình thành đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh

1.2.1.2 Khái niệm

Luận bàn minh triết và minh triết Việt, cố giáo sư Hoàng Ngọc Hiến có khẳng định “… trong nền minh triết Việt có nhiều nguồn, có minh triết lục giáo, có minh triết đạo thờ cúng tổ tiên… có minh triết văn hóa các dân tộc anh em Trong thời

Trang 15

đại Hồ Chí Minh, minh triết Hồ Chí Minh với sức thấm sâu và lan tỏa rộng trong lòng dân là nguồn trung tâm trong đa nguồn minh triết Việt” [36; 49-50] Ông nhấn mạnh “minh triết chính trị của Hồ Chí Minh là một kho báu vô [36; 41] Đặc trưng của minh triết Hồ Chí Minh nói chung, đạo đức Hồ Chí Minh nói riêng là Người gộp bội thành công nhiều ý tưởng tinh hoa của nhân loại, đặc biệt của các vị tiền nhân phương Đông mà dân tộc ngưỡng mộ, cô đúc thành thông điệp mang tâm thức Việt để giáo dục cho nhân dân Việt Nam Vì thế, đạo đức Hồ Chí Minh là điểm nhấn, trung tâm phát ra năng lượng, định hướng giá trị đạo đức trong thời đại mới Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của một người cộng sản mẫu mực, kiên định trên lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa quốc tế chân chính của GCCN Đó

là đạo đức của người chiến sĩ suốt đời đấu tranh, dâng hiến cả cuộc đời và sự nghiệp của mình cho lý tưởng và mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng

xã hội và giải phóng con người Do đó, đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức cách mạng, đạo đức hành động

Đạo đức cách mạng, đạo đức hành động Hồ Chí Minh là cả một hệ thống lý thuyết tư tưởng phong phú và tinh tế, nổi bật các đức tính, chuẩn mực “cần, kiệm, liêm, chính” - bốn đức tính để làm người mà thiếu một đức thì không thành người

Đó là, yêu cầu ứng xử chí công vô tư, là bản lĩnh biết quên mình, biết vượt qua những vướng bận toan tính cá nhân để vì người chứ không vì mình, vị tha chứ không vị kỷ Bản lĩnh này là sức mạnh bền bỉ để đánh bại chủ nghĩa cá nhân, chiến thắng giặc nội xâm, suốt đời tu dưỡng đạo đức cách mạng, coi phục vụ nhân dân là phục tùng một chân lý lớn nhất, là lẽ sống cao thượng nhất

Không chỉ nhận rõ chân giá trị ấy mà Hồ Chí Minh còn tự mình thực hiện một cách triệt để, nhất quán trong cả cuộc đời Người không chỉ thực hành và nêu gương mà còn làm hết sức mình, công phu rèn luyện, giáo dục đạo đức cách mạng cho lớp lớp cán bộ, đảng viên, cho quần chúng nhân dân ở mọi tầng lớp, nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính Làm cho cái hay, cái tốt ở mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân còn cái dở, cái xấu sẽ mất dần đi

Trang 16

Điều này có thể khẳng định Hồ Chí Minh là một nhà đạo đức học Người không phải là nhà đạo đức học hàn lâm, kinh viện mà là một nhà đạo đức học thực hành, thực hành một cách biện chứng, sáng suốt, đầy chất trí tuệ và nhân văn Lý thuyết đạo đức Hồ Chí Minh chuyển vào thực tiễn đạo đức xã hội mà đời sống đạo đức của Người như một tấm gương sáng tiêu biểu Đó là một nét riêng, tính đặc thù riêng, in đậm dấu ấn, phong cách riêng của Hồ Chí Minh Người vẫn thường căn dặn chúng ta, nói ít làm nhiều, cái chủ yếu là hành động Chỉ nói và viết khi cần thiết, lại phải nói và viết ngắn gọn, giản dị sao cho quần chúng dễ hiểu Hiểu để làm, để làm đúng và làm tốt Hơn nữa, để quần chúng noi theo, làm theo thì mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu làm trước, đã nói thì phải làm, lời nói đi đôi với việc làm

Vậy là, đạo đức Hồ Chí Minh và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là thống nhất nhưng không đồng nhất Tư tưởng đạo đức là phần lí luận, là triết lý của Người Ngoài bộ phận cốt yếu ấy, thuộc về nhận thức, đạo đức Hồ Chí Minh còn là đời sống đạo đức của bản thân Người với tư cách là một con người bình thường giữa muôn người khác, dù hết sức vĩ đại nhưng lúc nào và ở đâu, Người cũng chỉ coi mình là một con người bình thường Cùng với điều đó còn phải chú trọng tìm hiểu nghiên cứu hoạt động thực tiễn phong phú, đa dạng của Người, sự phong phú của các mối quan hệ giữa Người với Dân, với Đảng, với các địa phương, vùng, miền trong cả nước, với các bạn bè quốc tế, tình cảm yêu mến, sự kính trọng và lòng ngưỡng mộ của nhân dân ta và nhân dân các dân tộc trên thế giới dành cho Người

Bỏ qua phương diện này trong nghiên cứu sẽ là một thiếu hụt lớn, sẽ không thể hình dung được sự sâu sắc, phong phú, đa dạng trong tư tưởng và sự nghiệp của Người, trong thế giới tinh thần, lối sống và nhân cách của Người

Tổng hợp các phương diện ấy, nhìn nhận từ các chiều cạnh ấy, trong sự thống nhất tư tưởng với hành động, lí luận với thực tiễn mới có thể nhận thức đầy đủ đạo đức Hồ Chí Minh

Như vậy, đạo đức Hồ Chí Minh bao gồm nhiều nội dung cơ bản và toàn diện, cần được hiểu một cách đầy đủ, đó không chỉ là tư tưởng mà còn là thực tiễn đời sống đạo đức của Người

Trang 17

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một hệ thống những quan điểm cơ bản và toàn diện về đạo đức, bao gồm vị trí, vai trò, nội dung; những phẩm chất đạo đức

cơ bản và những yêu cầu xây dựng nền đạo đức mới; yêu cầu rèn luyện đạo đức đối với người cách mạng

Sở dĩ đạo đức Hồ Chí Minh trở nên vĩnh hằng, trở thành tài sản tinh thần vô giá đối với Đảng với nhân dân là bởi tấm gương đạo đức cao đẹp của Người Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được thể hiện qua hoạt động, hành vi và lối sống, qua các mối quan hệ với con người, với công việc, trong giao tiếp, ứng xử hàng ngày

Ở đâu, lúc nào, với mọi đối tượng khác nhau, chủ thể đạo đức Hồ Chí Minh cũng

là hiện thân sinh động của tính nhất quán giữa nói và làm, tính trung thực và sự khiêm tốn; tính kiên định về yêu cầu và niềm tin gắn liền với tính linh hoạt và uyển chuyển trong phương pháp đối nhân xử thế; lòng dũng cảm, sự sáng suốt, đức hy sinh và nghị lực phi thường vượt lên mọi khó khăn, thử thách; sự ân cần, chu đáo, lòng khoan dung độ lượng đầy tính nhân ái, vị tha đối với mỗi con người; sự nhạy cảm và rất mực tinh tế của Người đối với mỗi con người, mỗi cảnh đời và những

số phận khác nhau Đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh, đó là tình người mênh mông, nâng niu giá trị con người, là tình nghĩa thủy chung son sắt Suốt đời, Người sống một cuộc sống đạm bạc mà tao nhã vô cùng Người chỉ viết và nói những lời, những chữ mộc mạc bình dị không màu mè tô vẽ nhưng đi thẳng vào lòng người Với Hồ Chí Minh, đạo đức cốt ở thực hành đạo đức, nêu gương đạo đức trong lao động, trong đấu tranh cho tình thương và lẽ phải, cho cái hay, cái tốt nảy nở trong con người, còn cái xấu, cái dở thì dần dần mất đi Đó là niềm tin vào chiến thắng của cái thiện đối với cái ác

Tất cả biểu hiện trên là đạo đức Hồ Chí Minh Đó là đạo đức của một nhà tư tưởng lớn mang tầm vóc của thời đại, danh nhân văn hóa thế giới, cốt cách hiền triết Á Đông, tiêu biểu cho tinh hoa của dân tộc Vượt qua cái hữu hạn 79 mùa xuân của cuộc đời một con người để đi vào cõi vĩnh hằng, Hồ Chí Minh đã trở thành cái vô hạn trong lòng dân tộc Việt Nam để đi vào đời sống của nhân loại

1.2.1.3 Bản chất, đặc điểm, nội dung đạo đức Hồ Chí Minh

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi, Hồ Chí Minh để lại rất nhiều tác phẩm, bài nói, bài viết chuyên về đạo đức Ngay trong tác phẩm lí luận

Trang 18

đầu tiên, cuốn “Đường Kách Mệnh”, Người viết để huấn luyện những người yêu nước Việt Nam trẻ tuổi, vấn đề đầu tiên được đề cập là tư cách người cách mệnh Tác phẩm sau cùng bàn sâu về đạo đức được Người viết nhân dịp kỉ niệm 39 năm ngày thành lập Đảng (3/2/1969), đăng trên báo Nhân Dân là bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” Trước khi đi xa, trong bản Di chúc cuối cùng, khi nói về Đảng, Bác cũng căn dặn Đảng phải rất coi trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, thanh niên Tư tưởng và thực tiễn đạo đức sinh động trong cuộc đời của Người đã hình thành nên đạo đức Hồ Chí Minh

Bản chất đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức cách mạng, là đạo đức của người cách mạng trong thời kỳ giải phóng dân tộc đi lên xây dựng CNXH ở Việt Nam, đó

là đạo đức vì dân, vì mọi người Người khẳng định: đạo đức chỉ có ý nghĩa khi nó phục vụ cách mạng và trong điều kiện đó nó mới tạo ra một sức mạnh to lớn cho

sự nghiệp của chúng ta

Đạo đức mới, đạo đức cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xướng và cùng với Đảng ta dày công xây dựng, bồi đắp khác với đạo đức cũ về chất Đó là kết hợp truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với đạo đức mang bản chất GCCN và tinh hoa đạo đức của nhân loại Người nói: “Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất, chân chổng lên trời Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời” [59; 220] Đạo đức cũ - đạo đức thực dân, phong kiến, là thứ đạo đức ích kỷ, nó kìm hãm trói buộc con người, tàn phá con người Còn đạo đức mới là vì nước, vì dân Đây là đạo đức vĩ đại Bởi lẽ, đạo đức đó “ không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người” [57; 292]

Đặc điểm đạo đức Hồ Chí Minh thể hiện ở tính thực tế, tính toàn diện và tính thống nhất

Tính thực tế trong đạo đức Hồ Chí Minh hình thành không phải do sự suy lý

tư biện mà mà do chính sự tổng kết thực tiễn đạo đức xã hội Việt Nam, đạo đức của con người Việt Nam, nhất là tổng kết kinh nghiệm rèn luyện tu dưỡng đạo đức của chính bản thân Hồ Chí Minh mà nâng lên tầm lí luận, và qua sự làm gương và

Trang 19

nêu gương, qua các gương người tốt, việc tốt hàng ngày mà đúc kết thành luân lý, thành chuẩn mực điều chỉnh hành vi của người Việt Nam trong hoạt động sống Tính toàn diện biểu hiện ở chỗ vấn đề đạo đức được Hồ Chí Minh đề cập cho mọi đối tượng (sĩ, nông, công, thương, chính khách, tu hành, nam, nữ, ấu, phụ), cho mọi lĩnh vực (lao động, sản xuất, học tập, công tác, chiến đấu), mọi phạm vi (từ gia đình đến xã hội, từ giai cấp đến dân tộc, từ quốc gia đến quốc tế), mọi quan hệ (với mình, với người, với việc, với đoàn thể) Không chỉ bàn đến, đề cập đến mà Hồ Chí Minh còn nêu các tiêu chí, tiêu chuẩn đạo đức để mỗi đối tượng rèn luyện tu dưỡng theo, như 5 điều Bác Hồ dạy thiếu nhi, 6 lời dạy công an nhân dân

Đạo đức Hồ Chí Minh thể hiện tính thống nhất: giữa đức với tài, giữa hồng với chuyên, giữa hành vi đạo đức với ý thức đạo đức, giữa đạo đức với pháp luật, giữa đạo đức với chính trị, đạo đức đời thường với đạo đức cách mạng nhất là sự thống nhất trong văn hóa đạo đức, trong từng nội dung khái niệm, chuẩn mực đạo đức, trong quan hệ cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Đặc biệt quan trọng là

“nói phải làm” và tấm gương sáng của Hồ Chí Minh là nói đi đôi với làm, nhiều khi làm nhiều hơn những điều đã nói, luôn làm gương và nêu gương cho mọi người xung quanh

Vậy là, đạo đức cách mạng, dù xét ở góc độ nào, cuối cùng đều nhằm đem lại độc lập - tự do - hạnh phúc cho Tổ quốc, nhằm giải phóng con người một cách toàn diện và triệt để nhất Vì vậy đạo đức đó phải là sự thống nhất biện chứng của nhiều mặt, mang tính toàn diện Đạo đức Hồ Chí Minh là sự gắn bó giữa dân tộc và nhân loại, phương Đông và phương Tây, truyền thống và hiện đại

Về nội dung đạo đức Hồ Chí Minh có thể khái luận ở các vấn đề sau:

Một là, Hồ Chí Minh nhận thức rõ vị trí, vai trò của đạo đức trong xã hội và trong đời sống của mỗi người Người cho rằng: đạo đức là gốc của người cách mạng, là nguồn nuôi dưỡng và phát triển của con người, như gốc của cây, như ngọn nguồn của sông suối Người viết: “cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân ” [57; 292-293]

Trang 20

Hai là, đạo đức Hồ Chí Minh thể hiện ở những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người Việt Nam trong thời đại: trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu

hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì CNXH, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng; là suốt đời trau dồi cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; luôn yêu thương quý trọng con người, sống có tình, có nghĩa; tinh thần quốc tế trong sáng

Ba là, đạo đức Hồ Chí Minh biểu hiện ở những yêu cầu xây dựng đạo đức mới trong xã hội và chính Người đã suốt đời không mệt mỏi tự rèn mình, giáo dục, động viên cán bộ, đảng viên, nhân dân cùng thực hiện Đó là: nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức; xây đi đôi với chống; phải tu dưỡng đạo đức suốt đời Bốn là, tấm gương trong sáng, mẫu mực về đạo đức của Người trong đời sống đạo đức hàng ngày Người đã thực hiện nhất quán giữa tư tưởng đạo đức và hành động đạo đức Suốt một đời tận tụy vì dân, vì nước, Người là biểu tượng cao quý của đức hy sinh, lo cho dân, sống vì dân, thấu hiểu dân tình, dân sinh, dân ý, trở thành lãnh tụ của dân, thân dân và chính tâm Tình thương yêu rộng lớn của Người đối với nhân dân, đồng bào là không bao giờ thay đổi Lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, đó là phương châm ứng xử và hành động của Người

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nêu lên những nội dung phong phú của đạo đức cách mạng mà còn gợi mở bao điều quý giá khác về giáo dục, thực hiện đạo đức cách mạng Theo Người, PP phải thích hợp, mềm dẻo, linh hoạt, đã đúng lại còn phải khéo nữa thì mới có sức thuyết phục lòng người Người đã nâng PP giáo dục và thực hành đạo đức cách mạng lên tầm PP tư tưởng, lên trình độ khoa học và nghệ thuật, có sức lôi cuốn, thuyết phục mạnh mẽ lòng người ở mọi đối tượng, tầng lớp, thế hệ

1.2.2 Giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên

1.2.2.1 Sự cần thiết giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên

Trong quá trình toàn cầu hóa đời sống kinh tế hiện nay, việc xây dựng nền kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan Từ khi đất nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, thực tiễn cho thấy sức sản xuất được giải phóng, năng suất lao động ngày một tăng, tạo tiền đề vật chất nâng cao đời sống của nhân dân, kích thích tiềm

Trang 21

năng sáng tạo của con người khiến họ năng động hơn, mang tính tự chủ cao, luôn vươn lên để tự khẳng định mình

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong những năm qua, chúng ta cũng đang phải đối mặt với một thực tế đáng buồn, đó là sự xuống cấp về mặt đạo đức trong đời sống xã hội Những hiện tượng băng hoại về đạo đức đang là nỗi nhức nhối của xã hội Vấn đề đạo đức xã hội, đạo đức cá nhân đang diễn ra hết sức phức tạp, đang có sự đấu tranh giữa cái mới, cái tiến bộ, cái thiện với cái cũ, cái lạc hậu, cái ác; giữa chủ nghĩa vị tha với chủ nghĩa vị kỷ, giữa lối sống trung thực với thói dối trá chạy theo đồng tiền dẫn đến tình trạng trong gia đình con cái bất hiếu với cha mẹ, anh chị em quay lưng lại với nhau đây là một tình trạng đảo lộn về các chuẩn mực đạo đức truyền thống dân tộc, làm hoen ố những giá trị đạo đức truyền thống mà ông cha ta đã đổ biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, thậm chí cả máu xương để tạo dựng nên

Vấn đề tác động của kinh tế thị trường đối với đạo đức đã có nhiều cách lý giải khác nhau Có quan điểm cho rằng, kinh tế thị trường và đạo đức là bài xích lẫn nhau, kinh tế thị trường càng phát triển thì đạo đức càng suy thoái Có quan điểm lại cho rằng, kinh tế thị trường tạo khả năng đẩy nhanh sự tiến bộ trong mọi lĩnh vực của đời sống, nó sẽ nâng cao trình độ luân lý và đạo đức xã hội Cuộc sống chứng tỏ rằng kinh tế thị trường đã tác động đến đạo đức theo cả hai hướng:

cả tích cực, lẫn tiêu cực

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sinh viên có điều kiện để bộc lộ hết khả năng vốn có của mình, đồng thời đây cũng là một thách thức lớn đối với sinh viên hiện nay, vì kinh tế thị trường là sự cạnh tranh khốc liệt làm biến dạng mối quan hệ giữa người với người Trong gia đình, hiện tượng con cái hắt hủi cha mẹ vì lợi ích kinh tế Ở nhà trường, trò khinh thầy, đi ngược lại truyền thống “tôn sư trọng đạo” Ngoài xã hội, quan hệ giữa người với người theo kiểu

“đèn nhà ai nấy rạng” là một tầng lớp xã hội đặc thù, do đó sinh viên cũng chịu tác động từ hai phía của kinh tế thị trường

Đồng thời, trong tình hình thế giới hiện nay, kẻ thù vẫn chưa từ bỏ âm mưu thôn tính và phá hoại chúng ta Với “diễn biến hòa bình”, kẻ thù tấn công chúng

ta chủ yếu trên các lĩnh vực văn hóa để làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào

Trang 22

sự nghiệp của Đảng, làm băng hoại đạo đức, lối sống của nhân dân Đối tượng trực tiếp của chúng là lớp trẻ, trong đó có sinh viên - những chủ nhân tương lai của đất nước Dựa trên đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi sinh viên, lợi dụng những tiến bộ của khoa học, công nghệ hiện đại - nhất là dịch vụ mạng, sách báo, phim ảnh Kẻ thù dùng đủ mọi thủ đoạn hòng lôi kéo sinh viên xa rời cội nguồn, sống quay lưng lại với chế độ, với nhân dân, với dân tộc, khuyến khích sinh viên tìm đến sự hưởng thụ mà không thiết nghĩ đến tương lai Về phần mình, có không ít sinh viên chưa tự ý thức được vai trò, vị trí của họ trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, sống ỷ lại bố mẹ, không chịu phấn đấu rèn luyện Trong học tập còn có hiện tượng thiếu trung thực như: chạy điểm, chạy bằng, thờ ơ với các sinh hoạt đoàn thể Vì ngại khó, ngại khổ, nên thực dụng trong việc chọn ngành nghề Một

số thích lối sống hưởng thụ đua đòi, ăn chơi, sống buông thả, dẫn đến vi phạm pháp luật và các chuẩn mực xã hội Đây đó còn xảy ra hiện tượng sinh viên giết người, cướp của, tự tử con số nghiện hút trong sinh viên cũng không phải là ít Thực trạng đó chứng tỏ giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay, là một việc làm cần thiết và hết sức cấp bách vì hơn ai hết, Hồ Chí Minh là một trong những lãnh tụ viết nhiều, bàn nhiều và thực hiện nhiều nhất về đạo đức Bên cạnh đó, Bác cũng rất quan tâm đến sinh viên - những thanh niên có học thức cao và theo Người cần phải bồi dưỡng, giáo dục đạo đức cho họ để họ trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước vừa “hồng” vừa “chuyên” Có như vậy, mới góp phần giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo tồn được bản sắc văn hóa và các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Mặt khác, tính tất yếu phải giáo dục đạo đức

Hồ Chí Minh cho sinh viên Việt Nam hiện nay, cũng là một đảm bảo cho thành công của sự nghiệp CNH, HĐH hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

1.2.2.2 Nội dung giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên

Giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh là quá trình tác động đến đối tượng giáo dục

thông qua tư tưởng và tấm gương đạo đức của Người để hình thành trong họ ý thức, tình cảm, niềm tin, lý tưởng đạo đức và được thể hiện ở hành vi đạo đức

Như trên đã nói, đạo đức Hồ Chí Minh bao gồm nhiều nội dung cơ bản và toàn diện, cần được hiểu một cách đầy đủ, đó không chỉ là tư tưởng đạo đức mà

Trang 23

còn là thực tiễn đời sống đạo đức của Hồ Chí Minh - tấm gương sáng của đạo đức cách mạng Do vậy, liên quan đến nội dung giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cần chú trọng giáo dục về tư tưởng và cả tấm gương đạo đức của Người Đồng thời, với SV nên tập trung giáo dục các vấn đề sau đây:

Một là, giáo dục cho sinh viên nắm được vị trí, tầm quan trọng của đạo đức đối với mỗi người

Hồ Chí Minh thường nói: đạo đức cách mạng là cái gốc, cái nền tảng, cái bản chất Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân Với thanh niên, Người yêu cầu: “phải có đức, có tài Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi, nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa Nếu có đức

mà không có tài ví như ông bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì cho loài người” [63; 172]

Như vậy, đạo đức là vấn đề tiên quyết của việc xây dựng con người mới, cần giáo dục để sinh viên thấy rõ tầm quan trọng của việc tu dưỡng đạo đức và năng lực để có đủ đức, đủ tài Có đạo đức làm nền tảng sinh viên mới hoàn thành được nhiệm vụ học tập, tu dưỡng nhân cách để chuẩn bị cho tương lai Đạo đức chính là những phẩm chất đòi hỏi sinh viên cần phải có để tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đạo đức là gốc, là nền tảng bởi vì muốn làm người thì trước hết sinh viên phải có cái tâm trong sáng, cái đức cao đẹp Cái tâm, cái đức ấy phải được thể hiện trong các mối quan hệ hàng ngày với dân với nước, với thầy, cô giáo, với bạn bè, với mọi người xung quanh

Hai là, giáo dục phẩm chất trung với nước, hiếu với dân

Khái niệm trung, hiếu đã có trong tư tưởng đạo đức truyền thống dân tộc Việt Nam và phương Đông, là chuẩn mực đạo đức phong kiến mà Nho giáo đề ra Trung của Nho giáo là trung với vua, bó hẹp trong phạm vi quan hệ vua tôi, phải hết sức thờ vua trong bất kỳ điều kiện nào Hiếu là hiếu với cha mẹ, phải kính trọng thương yêu và hết lòng phụng dưỡng cha mẹ đền đáp công ơn sinh thành, dưỡng dục Khái niệm trung, hiếu đó được Hồ Chí Minh nâng cao, phát triển với ý

Trang 24

nghĩa mới, mang tính giai cấp công nhân sâu sắc để giáo dục SV Trung với nước, hiếu với dân, trước hết phải có tinh thần yêu nước nồng nàn, phấn đấu hy sinh vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, làm sao cho “dân giàu, nước mạnh”

Đối với SV, trung với nước, hiếu với dân, “trước hết phải yêu Tổ quốc, yêu nhân dân” Nói chuyện với nam nữ thanh niên, học sinh các trường Trung học ở Hà Nội, Hồ Chí Minh căn dặn: yêu Tổ quốc: việc gì trái với quyền lợi của Tổ quốc, chúng ta kiên quyết chống lại Yêu nhân dân: việc gì hay người nào phạm đến lợi ích chung của nhân dân, chúng ta kiên quyết chống lại Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân không phải là lý thuyết cao xa mà được thể hiện cụ thể, thiết thực trong học tập, tu dưỡng, trong mọi hoạt động của cuộc sống thường ngày Muốn vậy, SV cần: trung thành vô hạn với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc; quan tâm đến lợi ích của nhân dân; có

ý thức vươn lên học tập tốt đóng góp sức mình cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Ba là, giáo dục những phẩm chất cao quý: cần, kiệm, liêm chính, chí công vô

Cần, tức là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có

năng suất cao, lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm

Đối với SV, giáo dục tinh thần, thái độ siêng năng, chăm chỉ trong học tập; đồng thời phải có kế hoạch học tập chu đáo, học lý thuyết tốt rồi mới làm bài tập, thực hành, thí nghiệm Bài ngày nào phải học xong ngày đó, chớ để đến ngày mai Nếu không có kế hoạch, SV sẽ hao tổn thời giờ mà kết quả học tập lại không cao

Kiệm, là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của của dân,

của nước, của bản thân mình, phải tiết kiệm cái to đến cái nhỏ, vì nhiều cái nhỏ

Trang 25

cộng lại thành cái to; “không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi”, “không liên hoan chè chén lu bù”

Với SV, thực hiện chữ “Kiệm” là phải biết tiết kiệm, tiết kiệm mọi mặt nhưng tiết kiệm không phải là keo kiệt Tiết kiệm sách vở, giấy bút, tiền bạc nhất

là thời gian, bởi vì SV thường vung phí thời gian, để thời gian trôi đi vô vị, đáng tiếc Nói về điều này, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: của cải nếu hết còn có thể làm thêm Khi thời gian qua rồi, không bao giờ kéo nó trở lại được Có ai kéo lại ngày hôm qua được không Do đó, SV phải biết tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí Liêm, là “luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân”, “không xâm

phạm một đồng xu, một hạt thóc của nhân dân” Phải “trong sạch, không tham lam” Đối với SV khi đang học tập trên ghế nhà trường phải giữ gìn, bảo vệ bàn ghế, phòng, học, tài liệu, giáo trình và các trang thiết bị khác Phải trong sạch; phải ham học tập để không ngừng nâng cao hiểu biết, chuyên môn nghiệp vụ và cần phải chống lại tư tưởng sợ khó nhọc, nguy hiểm, ngại gian khổ, khó khăn

Chính, nghĩa là không tà, thẳng thắn, đúng đắn Đối với mình, không tự cao

tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình Đối với người, không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết thật thà; không dối trá, lừa lọc Đối với việc, để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà Đã phụ trách việc gì thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó khăn, nguy hiểm; việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước, cho dân Đối với SV, nhiệm vụ chính là học tập để nắm vững chuyên môn nghiệp vụ, nắm bắt khoa học

kỹ thuật vì vậy, mỗi SV phải khắc phục mọi khó khăn, chịu khó học tập, học thầy, học bạn, học trong sách vở, không tự ý giấu dốt, khiêm tốn học hỏi để không ngừng tiến bộ

Cần, kiệm, liêm, chính, là cái gốc quan trọng của đạo đức mới, của con người Việt Nam mới, cũng là cái gốc đạo đức của SV Hồ Chí Minh chỉ rõ:

“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính Thiếu một mùa, thì không

Trang 26

thành trời Thiếu một phương, thì không thành đất Thiếu một đức, thì không thành người” [58; 632]

Do vậy, Người yêu cầu SV phải luôn trau dồi đạo đức cách mạng, khiêm tốn, chống kiêu căng, tự mãn, chống lãng phí xa hoa, cần kiệm trong lao động, học tập, công tác, có đời tư trong sáng Thực hành tự phê bình và phê bình thẳng thắn

để giúp nhau cùng tiến bộ

Chí công vô tư, là “đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc”

“Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau” Chí công vô tư là nối tiếp của cần, kiệm, liêm, chính Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư; ngược lại đã chí công vô tư, một lòng vì nước vì dân, nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm, liên, chính

Bốn là, giáo dục lòng yêu thương con người

Tình yêu thương là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất của con người, đó cũng là tình cảm rộng lớn được thể hiện trong các mối quan hệ bạn

bè, thầy trò, đồng chí, đồng bào Nó đòi hỏi mỗi SV trước hết phải nghiêm khắc chặt chẽ với bản thân mình, rộng rãi, độ lượng với bạn bè, đồng chí Nó đòi hỏi phải tôn trọng, “phải đoàn kết thương yêu giúp đỡ nhau như anh chị em một nhà” Nói chuyện tại buổi lễ khai mạc trường ĐH nhân dân Việt Nam (19/01/1955), Hồ Chí Minh nhắc nhở: các cháu học tập, ăn ở tập thể đông đảo, trai có, gái có Các cháu phải thương yêu giúp đỡ nhau như anh em, chị em; đồng thời phải kính trọng nhau như đồng học, đồng chí Mỗi SV một quê hương khác nhau, có hoàn cảnh, phong tục tập quán khác nhau, tựu trường cùng học tập phải thấu hiểu và giúp đỡ nhau để không ngừng tiến bộ

Năm là, yêu cầu SV tự giáo dục, tự rèn luyện, chống lại chủ nghĩa cá nhân

Đối với SV, khi có được học thức thường có biểu hiện tư tưởng tiểu tư sản Nói chuyện tại Đại hội SV Việt Nam lần thứ hai (7/5/1958), Hồ Chí Minh chỉ rõ:

“tư tưởng tiểu tư sản là cái gì Nó là cá nhân chủ nghĩa Cá nhân chủ nghĩa nó đẻ ra

tư tưởng danh lợi, chỉ muốn làm ông này ông khác, bà này bà khác Rồi tư tưởng danh lợi lại đẻ ra con nó, rồi con nó lại đẻ ra cháu nó… tức là hai cái khinh: khinh lao động chân tay và khinh người lao động chân tay và hai cái sợ là: sợ khó nhọc và

sợ khổ” Vì vậy, ngay từ khi đang học tập mỗi SV phải tự học tập rèn luyện nâng

Trang 27

cao nhận thức hiểu biết, hoàn thiện thế giới quan, nhân sinh quan cộng sản, kiên quyết chống những biểu hiện tư tưởng tiểu tư sản trong bản thân mình, để không ngừng tiến bộ Nếu SV không tự giác giáo dục, rèn luyện, đặt lợi ích tập thể lên lợi ích cá nhân thì cá nhân chủ nghĩa có cơ hội trỗi dậy Bởi vì: “Chủ nghĩa cá nhân là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt, nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc Mà ai cũng biết xuống dốc thì dễ hơn lên dốc Vì thế mà càng nguy hiểm” [63; 284]

Hồ Chí Minh cũng khẳng định rằng: “đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là giày xéo lên lợi ích cá nhân Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình Nếu như lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích tập thể thì không phải là xấu” [63; 291-292] Vì vậy đòi hỏi SV phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích của mình với lợi ích tập thể, phải biết làm cho lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể phát triển hài hoà Điều

đó cũng đồng nghĩa với việc SV phải tự giáo dục, rèn luyện nâng cao nhận thức, kiên quyết chống những biểu hiện tiểu tư sản trong bản thân mình, trong tập thể lớp, trong nhà trường, để không ngừng tiến bộ Bởi vì, tự tu dưỡng đạo đức cũng phải thường xuyên “như công việc rửa mặt hàng ngày”, không hề ngơi nghỉ, phải kiên trì, bền bỉ do “đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” [63; 293]

Sáu là, giáo dục cho SV tinh thần quốc tế trong sáng

Đó là tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản mà Hồ Chí Minh đã nêu lên “bốn phương vô sản đều là anh em” Người đòi hỏi SV phải luôn luôn quan tâm đến tình hình thế giới Nói chuyện tại buổi lễ khai mạc trường ĐH nhân dân Việt Nam, Người nhắc nhở SV: phải chú ý đến tình hình thế giới, vì nước ta là một bộ phận của thế giới, mọi việc trên thế giới có quan hệ với nước ta, việc gì trong nước ta cũng có quan hệ với thế giới Tinh thần quốc tế trong sáng là phẩm chất đạo đức nhằm vào mối quan hệ rộng lớn vượt qua biên giới, lãnh thổ quốc gia, dân tộc

Bảy là giáo dục tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một tấm gương của một vĩ nhân, một lãnh tụ cách mạng và là một người cộng sản vĩ đại, nhưng đồng thời cũng là tấm gương đạo đức của một người bình thường, ai cũng có thể học theo, làm theo, trở

Trang 28

thành một người cách mạng, người công dân tốt trong xã hội Để giáo dục tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cho SV cần tập trung trong các điểm sau:

Giáo dục tấm gương trọn đời phấn đấu hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; tấm gương của ý chí và nghị lực tinh thần to lớn, vượt qua mọi thử thách, khó khăn để đạt mục đích cách mạng; tấm gương tuyệt đối tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân; tấm gương của lòng nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu, hết mực vì con người; tấm gương cần, kiệm, giản dị, coi khinh sự xa hoa, không ưa chuộng những nghi thức sang trọng

1.3 Vị trí môn tư tưởng Hồ Chí Minh với việc giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên

Tư tưởng Hồ Chí Minh có một quá trình hình thành và phát triển từ trước năm 1911 cho đến khi Hồ Chí Minh vĩnh biệt chúng ta Đảng ta có một quá trình phát triển nhận thức về tư tưởng Hồ Chí Minh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam (6/1991) lần đầu tiên chính thức khẳng định:

“Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động” Đây là một trong những nội dung mới rất quan trọng trong nghị quyết của Đảng, tác động tích cực đến sự phát triển của cách mạng Việt Nam Từ cái mốc tạo sự đột phá cho sự phát triển mới đó, đến nay, Đảng ta đã nhiều lần khẳng định và nhấn mạnh rằng: “Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và của cách mạng Việt Nam”

Cùng với xu thế nhận thức về vị trí, vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam của Đảng thì ngay từ những năm 90 một chương trình nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh ở tầm quốc gia đã được xác lập trong hệ thống các chương trình nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn Đó là một trong mười chương trình nghiên cứu khoa học công nghệ cấp Nhà nước, mang mã số KX.02 được triển khai trong 5 năm (1991-1995) do GS Đặng Xuân Kỳ làm Chủ

nhiệm

Chương trình nghiên cứu này, sau 5 năm thực hiện đã thu được nhiều thành tựu, tuy mới là bước khai phá mở đầu nhưng rất quan trọng, góp phần tích cực vào

Trang 29

cuộc vận động tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong Đảng và trong

xã hội Mặt khác, từ những kết quả nghiên cứu này mà tư tưởng Hồ Chí Minh với

tư cách là một môn khoa học đã ra đời, chính thức đưa vào giảng dạy trong các nhà trường ở bậc ĐH và CĐ Các giai đoạn nghiên cứu tiếp theo về khoa học xã hội nhân văn vẫn tiếp tục đặt vấn đề nghiên cứu di sản tư tưởng Hồ Chí Minh như một trọng điểm của công tác nghiên cứu lý luận và công tác giáo dục tư tưởng chính trị trong toàn Đảng, toàn dân Nó thấm sâu vào tất cả các chương trình, các đề tài nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau, đóng vai trò là cơ sở lý luận và PP luận nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn ở nước ta

Một sự kiện quan trọng là, Hội đồng Trung ương chỉ đạo việc biên soạn các giáo trình quốc gia về các môn khoa học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã sớm được thành lập Sau nhiều năm nghiên cứu và biên soạn, hệ thống giáo trình quốc gia về các môn khoa học nói trên đã hoàn thành, được phê duyệt và xuất bản, cung cấp những định hướng tư tưởng và học thuật để tiếp tục xây dựng Năm 2003, lần đầu tiên, giáo trình quốc gia về tư tưởng Hồ Chí Minh của Hội đồng lý luận trung ương đã được công bố, chính thức định hình môn khoa học non trẻ nhưng đầy triển vọng này Từ đó cho đến nay, giáo trình môn tư tưởng Hồ Chí Minh đã được Bộ giáo dục phối hợp với Nxb CTQG xuất bản năm 2005, lần lượt chỉnh sửa

và tái bản cho phù hợp với tình hình mới vào các năm 2009, 2011, 2013

Có thể thấy, môn tư tưởng Hồ Chí Minh có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cho SV nói chung, đạo đức Hồ Chí Minh nói riêng

Trước hết, môn học tư tưởng Hồ Chí Minh, trên cơ sở thế giới quan khoa học

sẽ giúp SV phấn đấu, hướng mọi suy nghĩ và hành động vào việc vận dụng, thực hiện các quan điểm đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy chế của nhà trường Đó là biểu hiện sinh động, thiết thực và tác dụng to lớn của việc học tập môn tư tưởng Hồ Chí Minh

Không những thế, môn tư tưởng Hồ Chí Minh với việc giáo dục ý thức đạo đức, lối sống cho SV, xây dựng quan hệ đạo đức mới, xác lập lối sống tiến bộ trong TN, SV ngày càng đóng vai trò quan trọng, có ý nghĩa nền tảng hết sức căn bản, để hình thành cốt lõi tư tưởng chính trị của SV

Trang 30

Mặt khác, nghiên cứu, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, SV sẽ có những kiến thức, quan điểm, lập trường, đạo đức, lẽ sống cách mạng của CNXH Điều đó trở thành nghị lực, đi vào tình cảm chi phối mọi suy nghĩ và hành động của SV để khi

ra trường trở thành người hữu ích cho xã hội, là những chiến sĩ xung phong hàng đầu trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa, chính trị, khoa học, lao động sản xuất; những chiến sĩ xung kích trong sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp xây dựng CNXH, đập tan những luận điểm sai trái của các thế lực thù địch với âm mưu “diễn biến hòa bình” gây ra

Thêm vào đó, nghiên cứu, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh giúp cho SV học tập và rèn luyện đạo đức cách mạng, không chỉ là để chiến đấu và chiến thắng mọi

kẻ thù của giai cấp và của dân tộc, mà còn để xây dựng chế độ mới XHCN như Hồ Chí Minh đã nói: muốn xây dựng CNXH thì trước hết cần có những con người XHCN Đó là những con người có đầy đủ phẩm chất và năng lực, đáp ứng được những yêu cầu của cách mạng XHCN

Sau nữa, qua giảng dạy môn tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần giáo dục cho SV thấm nhuần các phẩm chất đạo đức cách mạng mà Hồ Chí Minh đã nêu, đó là: trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư;

có tinh thần quốc tế trong sáng

Để có những phẩm chất đạo đức tốt đẹp đó, Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi con người chúng ta phải kiên trì rèn luyện trong đấu tranh, công tác và học tập hằng ngày Người nói: đạo đức cách mạng không phải từ trên trời rơi xuống Nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong Qua đó, có thể thấy trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh rất chú ý đến vấn đề đạo đức Từ những tác phẩm đầu tiên cho đến Di chúc, Người luôn ân cần dạy bảo chúng ta đạo lý làm người cách mạng, đạo đức CSCN cao đẹp Người đặc biệt căn dặn và nhắc nhở

“bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và cần thiết” Do đó, Đảng ta cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cho TN Đào tạo họ thành những người thừa kế công cuộc xây dựng CNXH vừa “hồng” vừa “chuyên”, tức là những con người mới vừa có phẩm chất, đạo đức cách mạng, vừa có năng lực công tác

Trang 31

Đặc biệt, môn tư tưởng Hồ Chí Minh giáo dục cho SV sống và học tập theo gương Bác Hồ - người đã thực sự khởi xướng một cuộc cách mạng triệt để nhất trong lĩnh vực đạo đức ở nước ta Đạo đức mới, đạo đức cách mạng do Hồ Chí Minh truyền bá và giáo dục đã làm cho nhân dân ta đứng lên kiên quyết đấu tranh

vì thắng lợi hoàn toàn của Tổ quốc và mục tiêu xây dựng thành công CNXH trên đất nước ta

Những quan điểm đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh mãi mãi là kho tàng vô giá đối với thế hệ trẻ ngày nay và muôn đời sau Thông qua đó, giáo dục cho SV những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, chủ nghĩa anh hùng cách mạng Tấm gương sáng ngời về đạo đức của Hồ Chí Minh đã soi đường, dẫn lối, trở thành vũ khí mạnh mẽ của dân tộc ta trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và CNXH Qua

đó, thế hệ SV hôm nay thấy được trọng trách của mình trước dân tộc, đất nước, để không ngừng phấn đấu vươn lên thoát khỏi đói nghèo, đưa dân tộc Việt Nam hoàn thành sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, sánh vai với các cường quốc năm châu

Như vậy, môn tư tưởng Hồ Chí Minh đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cho SV, là môn học có nội dung sát với nội dung giáo dục đạo đức nói chung ở các trường ĐH, CĐ đồng thời việc nghiên cứu, học tập môn tư tưởng Hồ Chí Minh là một trong những nội dung quan trọng của cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh do Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng phát động trong toàn Đảng, toàn dân ta Nếu GV trực tiếp giảng dạy bộ môn tư tưởng Hồ Chí Minh chú ý đúng mức đến vấn đề này thì tin chắc rằng sẽ tạo ra hiệu quả thiết thực trong việc giáo dục đạo đức, định hướng

lý tưởng, lẽ sống cao đẹp cho SV trong thế kỷ mới và mãi mãi về sau

Trang 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC TRONG DẠY HỌC MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

2.1 Vài nét về trường Đại học Tây Bắc và đặc điểm sinh viên Trường Đại học Tây Bắc

Để đáp ứng yêu cầu đào tạo đội ngũ giáo viên tại chỗ, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội ở Tây Bắc trong thời kỳ mới, ngày 30/06/1960, Bộ trưởng

Bộ Giáo dục nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Nguyễn Văn Huyên đã kí Quyết định số 267/QĐ về việc thành lập Trường Sư phạm cấp II liên tỉnh, trong đó có Trường Sư phạm cấp II đặt tại Khu Tự trị Thái - Mèo

Sự ra đời của Trường Sư phạm cấp II Khu Tự trị Thái - Mèo là sự kiện lịch

sử trọng đại đối với sự nghiệp phát triển văn hoá, giáo dục ở Tây Bắc Trường Sư phạm cấp II Khu Tự trị Thái - Mèo được thành lập không chỉ đáp ứng được yêu cầu đào tạo đội ngũ giáo viên tại chỗ cho các tỉnh Tây Bắc, đặc biệt là đội ngũ giáo viên dân tộc ít người ở địa phương, mà còn đặt nền móng cho một trường đại học

đa ngành ở Tây Bắc về sau này

Trong 20 năm đầu tiên là thời kì Nhà trường phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức Nhưng bằng ý chí và nghị lực vượt khó, Trường đã không ngừng vươn lên, trưởng thành Đội ngũ cán bộ, giáo viên không ngừng tăng lên Công tác đào tạo có nhiều chuyển biến tích cực Các đoàn thể quần chúng ngày càng vững mạnh Thành tựu rực rỡ nhất của Nhà trường trong 20 năm xây dựng và phát triển

là đã đào tạo, bồi dưỡng được 2.271 giáo viên (thuộc các hệ 7+2, 7+3, 10+3 và Cao đẳng bồi dưỡng), trong đó có 490 giáo viên người dân tộc thiểu số Đây là kết quả sự nỗ lực phấn đấu đầy tâm huyết của tập thể Đảng uỷ, Ban Giám hiệu, cùng toàn thể cán bộ, giáo viên và giáo sinh Nhà trường

Thành tựu này thực sự đã góp phần tạo cơ sở nền tảng cho Nhà trường phát triển đi lên trong các giai đoạn sau

Trang 33

Ngày 06 tháng 04 năm 1981, Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định số 146/CP, nâng cấp Trường Sư phạm cấp II (10+3) Tây Bắc thành Trường Cao đẳng

Sư phạm Tây Bắc

Trường Sư phạm cấp II (10+3) Tây Bắc được công nhận là Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc không chỉ là sự thay đổi thuần tuý về tên gọi mà còn là sự khẳng định bước phát triển mạnh mẽ về chất của Nhà trường Từ đây, Nhà trường

đã đào tạo đội ngũ giáo viên cấp II có trình độ chuẩn quốc gia - cao đẳng sư phạm, cho các tỉnh Tây Bắc Đây là kết quả của quá trình phấn đấu xây dựng không mệt mỏi của các thế hệ giáo viên, cán bộ, giáo sinh đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách đưa Nhà trường không ngừng phát triển đi lên Việc công nhận Nhà trường

là Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc cũng thể hiện sự quan tâm của Trung ương mà trực tiếp là Bộ Giáo dục đối với sự nghiệp giáo dục ở miền Tây Bắc của Tổ quốc, nơi

mà sự nghiệp giáo dục còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, nhu cầu về giáo dục luôn đặt ra bức thiết

Năm 1982 kết thúc khóa đào tạo giáo viên 10+3 cuối cùng, Nhà trường từ

đó chỉ đào tạo hệ cao đẳng chính quy, cao đẳng bồi dưỡng và Dự bị cao đẳng 7+2 Kết thúc năm học 1982 - 1983, Nhà trường đã cho ra đời những sản phẩm đầu tiên của hệ cao đẳng sư phạm chính quy

Từ năm học 1986 - 1987, Nhà trường bắt đầu mở các lớp Dự bị 1 năm để đáp ứng nguồn đào tạo, vì thời điểm này thí sinh dự thi vào Trường ít, thường không đủ chỉ tiêu tuyển sinh

Ngoài việc đào tạo giáo viên cho hai tỉnh Sơn La, Lai Châu, trong khoá học

1984 - 1987, Nhà trường còn làm nhiệm vụ đào tạo giáo viên cho Nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào, đã có 14 sinh viên hệ cao đẳng chính quy tốt nghiệp trở về nước công tác

Về công tác đào tạo đội ngũ, từ đầu những năm 1980, số lượng giáo viên của Trường tăng lên nhanh chóng Nhiều thầy, cô tốt nghiệp các trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Sư phạm Việt Bắc, Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Đại học Sư phạm Vinh tiếp tục được Bộ Giáo dục điều lên tăng cường cho Nhà trường

Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ giáo viên của Trường không ổn định, số cán bộ giảng dạy hàng năm chuyển vùng rất lớn Tình hình đó đặt ra yêu cầu phải ổn định

Trang 34

đội ngũ cán bộ giảng dạy mới có thể củng cố được đội ngũ, nâng cao chất lượng đào tạo Trước yêu cầu đó Đảng uỷ, Ban Giám hiệu đã có tầm nhìn chiến lược về công tác quản lí cán bộ và đào tạo đội ngũ

Trong những năm 1983 - 1985, ngoài việc tiếp tục cử các học sinh Dự bị dự thi vào các trường đại học, hàng năm, Nhà trường còn chọn 20 - 30 sinh viên đã tốt nghiệp cao đẳng sư phạm gửi đi học chuyên tu ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

2 và Trường Quản lí Giáo dục Sau khi tốt nghiệp, số sinh viên này trở về Trường công tác, bổ sung một số lượng đáng kể vào đội ngũ cán bộ giảng dạy của Trường Tuy vậy, Nhà trường lại phải đối mặt với một sự thật hết sức nghiệt ngã đó

là sinh mệnh của Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc đã nhiều lần được đặt lên

“bàn cân” của Bộ Giáo dục Đầu năm 1991, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có chủ trương sáp nhập Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc với Trường Đại học Sư phạm

Hà Nội 2 để thành lập Trường Đại học Tây Bắc, đóng tại thị xã Hoà Bình

Như vậy sau hơn 40 năm xây dựng và phát triển (1960 - 2000) là chặng đường đầy gian nan thử thách, song với bề dày truyền thống, với ý chí quyết tâm

và trí tuệ tập thể, Nhà trường vẫn tìm ra giải pháp hiệu quả, có tính chất quyết định bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển đi lên của Trường Thành tựu lớn nhất trong công tác đào tạo của Nhà trường thời kỳ này là đã đào tạo, bồi dưỡng được 4.219 giáo viên có trình độ 10+3 và cao đẳng sư phạm cho sự nghiệp giáo dục các tỉnh Tây Bắc Với những thành tựu của Nhà trường đạt được trong thời kỳ này đã góp phần tạo cơ

sở, nền tảng để Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc vươn lên trở thành trường đại học

đa ngành ở khu vực Tây Bắc

Tóm lại, trong 55 năm xây dựng phát triển, Trường Đại học Tây Bắc đã vượt qua mọi khó khăn gian khổ, từng bước phát triển đi lên và đạt được những thành tựu rực rỡ về tất cả các mặt Một trong những thành tựu rực rỡ nhất của Nhà trường đạt được thời gian qua là đã xây dựng được đội ngũ giáo viên cán bộ hùng hậu nhất trong lịch sử 55 năm của Nhà trường Hiện nay, Trường có 3 Phó Giáo sư, 4 Nhà giáo Ưu tú, 40 Tiến sĩ, 330 Thạc sĩ và 94 nghiên cứu sinh Nhà trường đã đào tạo được hàng chục nghìn sinh viên thuộc các ngành Sư phạm, Nông lâm, Kinh tế, Khoa học máy tính; nhiều cử nhân tốt nghiệp ra trường có việc làm, được xã hội thừa nhận, đánh giáo cao; trong số những sinh viên tốt nghiệp, nhiều em đã trở

Trang 35

thành giảng viên của các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và có không ít sinh viên đã thi đỗ vào các lớp Thạc sĩ của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội

Về đặc điểm sinh viên trường Đại học Tây Bắc

Năm 2016, tổng số sinh viên của trường Nhà trường là hơn 8000 sinh viên, trong đó số sinh viên chính quy gần 6000, còn lại là hệ vừa làm vừa học Vùng tuyển sinh của nhà trường từ Hà Tĩnh trở ra và gồm cả du học sinh Lào Với những đặc điểm tuyển sinh như vậy, cơ cấu thành phần sinh viên theo dân tộc của trường cũng rất đa dạng với đặc điểm nổi bật là sinh viên người dân tộc thiểu số chiếm tỷ

lệ lớn khoảng hơn 80% sinh viên

Sống ở miền núi và biên giới, được kế thừa truyền thống và có ý thức sâu sắc về việc bảo vệ, giữ gìn an ninh biên cương của Tổ quốc Ngoài ra, còn mang những phẩm chất, lối sống tốt đẹp của người dân tộc miền núi như: hiền lành, thật thà, chăm chỉ Trong môi trường sư phạm, SV chấp hành tốt những quy định của nhà trường, lễ phép với thầy cô giáo, thân ái với bạn bè Do điều kiện sống và học tập của nhiều SV khó khăn nên các em có tinh thần vượt khó rất cao Mặt khác, sinh viên trường Đại học Tây Bắc luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ, sự chỉ đạo tận tình từ phía nhà trường, của các giảng viên, cán bộ, viên chức Ngoài ra, cơ sở vật chất của trường ngày càng hoàn thiện và đi vào hoạt động, đem lại sự thuận tiện, hiệu quả trong việc hỗ trợ công tác học tập và rèn luyện của sinh viên

Bên cạnh những ưu điểm thì sinh viên trường Đại học Tây Bắc vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định, do đối tượng tuyển sinh rất đa dạng, điểm chuẩn đầu vào tính theo vùng miền khác nhau, giữa thành thị và vùng nông thôn, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa có sự chênh lệch rất lớn giữa các sinh viên Đặc điểm này, ảnh hưởng đến tính không đồng đều về trình độ nhận thức của SV Đặc biệt, SV là người dân tộc thiểu số chiếm hơn 80%, trong đó có những SV ở vùng sâu, vùng xa

Do sử dụng tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ chủ yếu trong gia đình nên so với SV dân tộc Kinh, việc tiếp thu, diễn đạt, giao tiếp bằng tiếng phổ thông hạn chế hơn, ảnh hưởng đến khả năng giáo dục đạo đức cho họ

Các SV thuộc nhiều thành phần dân tộc khác nhau, khi đến trường mang theo những phong tục tập quán, lối sống của quê mình, nên khó khăn bước đầu trong

Trang 36

việc đưa vào nề nếp chung của nhà trường Do điều kiện sống ở miền núi, cập nhật thông tin hạn chế đã phản ánh vào ý thức của SV là hiểu biết xã hội hạn hẹp, còn những tàn dư của nếp nghĩ, cách sống lạc hậu Đó là những đặc điểm riêng của SV Trường Đại học Tây Bắc mà khi giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh, GV cũng cần phải lưu tâm

2.2 Thực trạng giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên trường đại học Tây Bắc trong dạy học môn tư tưởng Hồ Chí Minh

2.2.1 Thực trạng đạo đức sinh viên trường đại học Tây Bắc

Điểm nổi bật đầu tiên khi ta nghĩ về sinh viên, đó là những con người năng động và sáng tạo Chính sinh viên là những người tiên phong trong mọi công cuộc cải cách, đổi mới về kinh tế, giáo dục trong đầu họ luôn đầy ắp các ý tưởng độc đáo và thú vị; và họ tận dụng mọi cơ hội để biến các ý tưởng ấy thành hiện thực Không chỉ chờ đợi cơ hội đến, họ còn tự mình tạo ra cơ hội Đã có nhiều sinh viên nhận được bằng phát minh, sáng chế; và không ít trong số những phát minh ấy được áp dụng, được biến thành những sản phẩm hữu ích trong thực tiễn Với thế mạnh là được đào tạo vừa toàn diện vừa chuyên sâu, sinh viên có mặt trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội của đất nước Trong học tập, sinh viên không ngừng tự đổi mới phương pháp học sao cho lượng kiến thức họ thu được là tối đa Không chờ đợi, thụ động dựa vào thầy cô, họ tự mình đọc sách, nghiên cứu, lấy thông tin, tài liệu từ mọi nguồn Phần lớn sinh viên đều có khả năng thích nghi cao với mọi môi trường sinh sống và học tập Họ không chỉ học tập trong một phạm vi hẹp ở trường, lớp; giới trẻ ngày nay luôn phát huy tinh thần học tập ở mọi nơi, mọi lúc Không chỉ lĩnh hội tri thức của nhân loại, sinh viên Việt Nam còn tiếp thu những cái hay, cái đẹp trong mọi lĩnh vực khác như văn hóa, nghệ thuật sự năng động của sinh viên còn được thể hiện ở việc tích cực tham gia các hoạt động xã hội như y tế, từ thiện ngoài giờ học, những sinh viên-tuyên truyền viên hiến máu nhân đạo lại ngược xuôi đi lại mang kiến thức về hiến máu đến mọi người, mọi nhà bằng

sự năng động, sinh viên luôn tự cập nhật thông tin, kiến thức, làm mới mình phù

Trang 37

hợp với sự thay đổi và phát triển của xã hội Rõ ràng, năng động và sáng tạo là những ưu điểm nổi bật của sinh viên Việt Nam nói chung

Đối với sinh viên Trường Đại học Tây Bắc luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, chấp hành pháp luật của Nhà nước, tích cực phấn đấu trong học tập và rèn luyên cũng như tam gia các hoạt động phong trào của Đoàn thanh niên, Hội sinh viên nhà trường Đa phần sinh viên sống có lý tưởng, động cơ học tập đúng đắn

Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự định hướng và quản

lý của Nhà nước, bên cạnh những mặt tích cực, đã xuất hiện những cách sống và lối sống xa lạ, trái với các chuẩn mực của xã hội và thuần phong mỹ tục của dân tộc Một bộ phận trong các tầng lớp, các thành phần xã hội khi mưu cầu lợi ích cá nhân đã chà đạp lên nhưng khuôn mẫu, những giá trị đạo đức đích thực Nạn tham nhũng, buôn lậu, làm giàu bất chính và các tệ nạn xã hội khác đang phát triển tràn lan Một bộ phận trong lớp trẻ hiện nay có tâm lý sống thực dụng, buông thả, quay lưng lại với văn hóa, đạo đức truyền thống Trong bối cảnh đó, việc bảo vệ các giá trị đạo đức truyền thống là vấn đề cần phải nhìn nhận một cách nghiêm túc và

có sự quan tâm đặc biệt cùng với quá trình xây dựng và phát triển kinh tế thị trường ở nước ta

Thực tiễn chứng tỏ rằng, tương lai của mỗi dân tộc phụ thuộc một phần rất lớn vào thế hệ trẻ nói chung, sinh viên nói riêng Sinh viên Đại học Tây Bắc là lực lượng trẻ, với gần 6000 sinh viên chính quy đó là một lực lượng thích ứng nhanh với những biến đổi của thời đại, đặc biệt là những điều được cho là đến từ “Thế giới văn minh” Cũng chính vì thế mà nhiều khi các em chưa ý thức hết được giá trị của việc giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống trong bản sắc văn hóa của dân tộc Trong một bộ phận lớn sinh viên đã nảy sinh xu hướng quan tâm nhiều đến lợi ích kinh tế của cá nhân, điều đó được biểu hiện trong việc chọn ngành nghề để làm giàu hoặc có quyền lực Khi tốt nghiệp ra trường, phần lớn trong số họ không muốn làm việc ở các cơ quan của tổ chức Đảng, đoàn thể, giáo

Trang 38

dục "Thập nạn" trong sinh viên hiện nay, như tiêu cực trong thi cử, cờ bạc, quan

hệ tình dục phóng túng, mê tín dị đoan, uống rượu say, nghiện hút, cắm quán, trộm cướp, ham mê văn hoá phẩm đồi truỵ, vô kỷ luật, mất trật tự vệ sinh, đua đòi, chạy theo lối sống thực dụng Những hạn chế này sẽ được thể hiện rõ hơn qua nhận thức của sinh viên về chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam qua kết quả điều tra

100 sinh viên

Biểu đồ 2.1: Tỉ lệ nhận thức của sinh viên về chuẩn mực đạo đức của người

Việt Nam hiện nay

Kết quả điều tra từ 100 sinh viên sư phạm cho thấy đa số sinh viên đã nhận thức rõ chuẩn mực đạo đức của người Việt Nam hiện nay cần phải có như 73.5% sinh viên biết được có tinh thần yêu nước, lòng tự tôn dân tộc; 67.5% biết được phải sống có nghĩa tình, chung thực, nhân ái, ứng xử có văn hoá; 55.5% sinh viên hiểu rằng ý thức cộng đồng, cố kết gia đình - dòng họ - xã hội

Tuy nhiên vấn còn một số lượng không nhỏ sinh viên sư phạm chưa nhận thức đúng về những chuẩn mực đạo đức của người Việt Nam như 50% sinh viên chưa thấy được ý thức hành động theo pháp luật; 55.5% sinh viên chưa thấy được

Ngày đăng: 18/02/2017, 01:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Anh (2009), Mãi mãi học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mãi mãi học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Anh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2009
2. Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong (đồng chủ biên) (2004), Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh (dưới dạng hỏi và đáp), Nxb LLCT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh (dưới dạng hỏi và đáp)
Tác giả: Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb LLCT
Năm: 2004
3. Bác Hồ với thanh niên (2011), Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ với thanh niên
Tác giả: Bác Hồ với thanh niên
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2011
4. Ban tuyên giáo Trung ương (2007), 117 chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 117 chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Tác giả: Ban tuyên giáo Trung ương
Năm: 2007
5. Ban tư tưởng văn hóa Trung ương (2007), Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Tác giả: Ban tư tưởng văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2007
6. Hoàng Chí Bảo (2009), Văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2009
8. Nguyễn Khánh Bật (1998), Những bài giảng về môn tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài giảng về môn tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Khánh Bật
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1998
9. Bộ giáo dục và đào tạo (2009), Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2009
10. Bộ giáo dục và đào tạo (2011), Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2011
11. Bộ giáo dục và đào tạo (2013), Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2013
12. Bộ giáo dục và đào tạo (2007), Giảm tải, nâng cao chất lượng dạy và học các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảm tải, nâng cao chất lượng dạy và học các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Năm: 2007
13. Bộ giáo dục và đào tạo (2008), Tư tưởng Hồ Chí Minh (tài liệu phục vụ dạy và học chương trình các môn LLCT trong các trường ĐH, CĐ), Nxb Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb Kinh tế quốc dân
Năm: 2008
14. Bộ giáo dục và đào tạo, Dự án Việt - Bỉ (2009), Tập huấn đào tạo giáo viên về nghiên cứu khoa học ứng dụng, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập huấn đào tạo giáo viên về nghiên cứu khoa học ứng dụng
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo, Dự án Việt - Bỉ
Năm: 2009
15. Nguyễn Hữu Châu (2006), Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
16. Thành Duy (1996), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1996
17. Thái Bình Dương (2007), Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cách mạng cho SV ở trường ĐH Vinh hiện nay, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cách mạng cho SV ở trường ĐH Vinh hiện nay
Tác giả: Thái Bình Dương
Năm: 2007
18. Hồ Ngọc Đại (2012), Nghiệp vụ sư phạm hiện đại, tập 1, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ sư phạm hiện đại, tập 1, tập 2
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2012
19. Đại học Quốc gia Hà Nội (2007), Giảng dạy các môn LLCT ở các trường ĐH Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Kỷ yếu hội thảo khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảng dạy các môn LLCT ở các trường ĐH Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Chỉ thị số 06/CT-TW của Bộ Chính trị về tổ chức cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 06/CT-TW của Bộ Chính trị về tổ chức cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2006
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Chỉ thị số 03/CT-TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 03/CT-TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Nguyên nhân tình trạng xuống cấp đạo đức của SV - Nghiên cứu các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức hồ chí minh cho sinh viên trường đại học tây bắc trong dạy học môn tư tưởng hồ chí minh
Bảng 2.1 Nguyên nhân tình trạng xuống cấp đạo đức của SV (Trang 41)
Bảng 2.4: Hoạt động để Nhà trường giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho SV - Nghiên cứu các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức hồ chí minh cho sinh viên trường đại học tây bắc trong dạy học môn tư tưởng hồ chí minh
Bảng 2.4 Hoạt động để Nhà trường giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho SV (Trang 45)
Bảng 2.5: Yêu cầu đối với GV tư tưởng Hồ Chí Minh - Nghiên cứu các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức hồ chí minh cho sinh viên trường đại học tây bắc trong dạy học môn tư tưởng hồ chí minh
Bảng 2.5 Yêu cầu đối với GV tư tưởng Hồ Chí Minh (Trang 47)
Bảng 2.7: Lý do khiến cho việc giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh thông - Nghiên cứu các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức hồ chí minh cho sinh viên trường đại học tây bắc trong dạy học môn tư tưởng hồ chí minh
Bảng 2.7 Lý do khiến cho việc giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh thông (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w