Ở Việt Nam mới phổ biến hai loài hoa hiên với màu sắc cổ điển là vàng chanh Hemerocallis hyperion và vàng cam Hemerocallis fulva, hai loại này có ngồng hoa cao, thời gian nở hoa ngắn t
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Giới thiệu về cây hoa hiên 3
1.1.1 Nguồn gốc, phân loại 3
1.1.2 Đặc điểm thực vật học 3
1.1.3 Giá trị sử dụng 5
1.1.4 Đặc điểm sinh trưởng 6
1.1.5 Yêu cầu ngoại cảnh 7
1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới và Việt Nam 7
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới 7
1.2.2 Tình hình sản xuất hoa và tiêu thụ hoa ở Việt Nam 9
1.3 Tình hình nghiên cứu hoa hiên trên thế giới và Việt Nam 12
1.3.1 Các nghiên cứu về NST 12
1.3.2 Các nghiên cứu nhân giống, lai tạo hoa hiên 14
1.3.3 Các nghiên cứu về giá thể trồng một số loại hoa có củ và hoa hiên 17
1.3.4 Một số ứng dụng phân bón lá trên cây nuôi cấy mô khi mới đưa ra đồng ruộng 18
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 19
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 20
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 20
Trang 22.3 Nội dung nghiên cứu 20
2.3.1 Nghiên cứu đăc điểm nông sinh học của một số tổ hợp lai hoa hiên 20
2.3.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật ra ngôi cây hoa hiên vàng cam (Hemerocallis fulva) in- vitro giai đoạn vườn ươm. 20
2.4 Phương pháp nghiên cứu 21
2.4.1 Bố trí thí nghiệm 21
2.4.2 Xác định số lượng nhiễm sắc thế trong tế bào chóp rễ 22
2.4.4 Các chỉ tiêu theo dõi 23
2.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 24
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 Đặc điểm nông sinh học của các tổ hợp lai hoa hiên 25
3.1.1 Số lượng nhiễm sắc thể của các tổ hợp lai hoa hiên 25
3.1.2 Một số đặc điểm sinh trưởng của các tổ hợp lai hoa hiên 28
3.1.3 Đặc điểm hoa của các tổ hợp lai hoa hiên 34
3.1.3 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của các THL hoa hiên 46
3.3 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật chăm sóc cây hoa hiên in-vitro 49
3.3.1 Ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng và chất lượng cây hoa hiên vàng cam in- vitro 49
3.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng và chất lượng cây hoa hiên vàng cam in- vitro. 50
3.3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ đến sinh trưởng và chất lượng cây hoa hiên vàng cam in- vitro. 51
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 58
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Tốc độ phát triển của ngành sản xuất hoa, cây cảnh giai đoạn 2000-2012 10 Bảng 2.1 Ký hiệu các tổ hợp lai hoa hiên tạo ra năm 2013 và 2014 19 Bảng 3.1 Số lượng NST trong tế bào chóp rễ của các THL hoa hiên 2013
và 2014 25 Bảng 3.2 Màu sắc, kích thước lá của một số tổ hợp lai hoa hiên năm 2013
và 2014 28 Bảng 3.3a Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp lai hoa hiên năm 2013 30 Bảng 3.3b Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp lai hoa hiên năm 2014 31 Bảng 3.4 Tỷ lệ ra hoa và đường kính hoa của các THL hoa hiên năm 2013
và 2014 34 Bảng 3.5a Một số đặc điểm ngồng và cụm hoa của một số cây hoa hiên lai
2013 35 Bảng 3.5b Một số đặc điểm ngồng và cụm hoa của một số cây hoa hiên lai 2014 36 Bảng 3.6 Tỷ lệ phân ly một số đặc điểm hoa của các THL hoa hiên năm 2013
và 2014 38 Bảng 3.7 Đặc điểm màu sắc hoa của các tổ hợp lai hoa hiên 2013 39 Bảng 3.8a Đặc điểm về màu sắc, kích thước và dạng hoa của các THL hoa hiên năm 2014 - Nhóm hoa đường kính nhỏ 41 Bảng 3.8b Đặc điểm về màu sắc, kích thước và dạng hoa của các THL hoa hiên năm 2014 - Nhóm hoa có đường kính trung bình 42 Bảng 3.8c Đặc điểm về màu sắc, kích thước và dạng hoa của các THL hoa hiên năm 2014 - Nhóm hoa đường kính lớn 43 Bảng 3.9a Một số đặc điểm nhị nhụy của các THL hoa hiên năm 2013 45 Bảng 3.9b Một số đặc điểm nhị nhụy của các THL hoa hiên năm 2014 45 Bảng 3.10 Ảnh hưởng của giá thể trồng đến sự sinh trưởng của cây hoa
hiên in-vitro 49 Bảng 3.11 Ảnh hưởng của phân bón đến sự sinh trưởng của cây hoa hiên
in-vitro 50 Bảng 3.12 Ảnh hưởng của thời vụ đến sự sinh trưởng của cây hoa hiên
in-vitro 51
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Các bộ phận của cây hoa hiên (Gulia, S.K et al., 2009) .4
Hình 3.1 Hình ảnh số lượng NST trong tế bào chóp rễ của các tổ hợp lai hoa hiên năm 2013 và 2014 27
Hình 3.2a Động thái tang trưởng chiều cao cây của các THL hoa hiên năm 2013 30
Hình 3.2b Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các THL hoa hiên năm 2014 32
Hình 3.3a Hình ảnh hoa của một số cây lai đơn màu 40
Hình 3.3b Hình ảnh hoa của một số cây lai có họng 40
Hình 3.4 Thời gian sinh trưởng của một số THL hoa hiên 2013, 2014 46
Hình 3.5 Hoa của một số cây lai hoa hiên 2014 48
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoa hiên (Hemerocallis sp) còn có tên gọi khác hoàng hoa, huyên
thảo, rau huyên, kim châm thái… thuộc chi Hemerrocallis, họ hành
(Liliaceaea) Hoa hiên là loại cây được biết đến với nhiều công dụng : Trang
trí cảnh quan công viên, công sở, trường học, sân vườn Ngoài ra hoa hiên còn được sử dụng làm dược liệu trị một số bệnh như trị tiểu buốt, chảy máu, điều kinh, vàng da, an thai, bổ máu, mất ngủ trong dân gian thường dùng lá
và hoa hiên như một loại rau cao cấp, giàu vitamin, có thể chế biến được rất nhiều món ăn ngon như xào, hấp, lẩu
Trên thế giới hoa hiên đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi từ rất lâu Hiện nay có khoảng hơn 60.000 giống hoa hiên lai tạo được đăng ký và xuất hiện trên thị trường với đủ màu sắc rực rỡ đáp ứng nhu cầu thị hiếu thay đổi không ngừng và việc thưởng ngoạn mỗi ngày một tinh tế hơn của con người Ở Việt Nam mới phổ biến hai loài hoa hiên với màu sắc cổ điển là vàng chanh
(Hemerocallis hyperion) và vàng cam (Hemerocallis fulva), hai loại này có
ngồng hoa cao, thời gian nở hoa ngắn thường tập trung từ tháng 5- 7 được trồng làm cảnh ở vùng có khí hậu quanh năm ẩm mát như Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Sa Pa (Lào Cai) và Đà Lạt (Lâm Đồng), …
Năm 2013, bộ môn Rau- hoa- quả, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tiến hành thu thập mẫu giống/ giống hoa hiên và bước đầu đã lai tạo thành công một số THL hoa hiên Tuy nhiên công tác đánh giá chưa được thực hiện, mặt khác để có thể lựa chọn ra được các dòng lai hoa hiên có triển vọng thì việc nghiên cứu đánh giá đặc điểm nông sinh học là vô cùng cần thiết Bên cạnh đó
do cây hoa hiên có hệ số nhân giống thấp (từ 1-7 thân/ năm) ( Nguyễn Thị Hoa, 2014) Phương pháp nuôi cấy mô tế bào là một phương pháp nhân nhanh tạo ra
số lượng lớn cây con, hiện nay khoa công nghệ sinh học – Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã bước đầu thực hiện nuôi cấy mô tế bào cây hoa hiên và đã
đưa ra được quy trình nhân giống in- vitro cây hoa hiên, tuy nhiên việc đưa cây
con từ trong phòng nuôi cấy ra điều kiện tự nhiên vẫn chưa có công bố nào
Trang 7Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số tổ hợp lai hoa hiên và biện pháp kỹ thuật ra ngôi cây hoa hiên (Hemerocallis fulva) in- vitro tại Gia Lâm, Hà Nội”
- Xác định được giá thể phù hợp cho sinh trưởng và chất lượng của cây hoa
hiên vàng cam (Hemerocallis fulva) in- vitro
- Xác định được thời vụ thích hợp cho sinh trưởng và chất lượng cây hoa
hiên vàng cam (Hemerocallis fulva) in- vitro
- Xác định loại phân bón lá thích hợp cho sinh trưởng và chất lượng của
cây hoa hiên vàng cam (Hemerocallis fulva) in- vitro
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học có giá trị về đặc điểm nông sinh học của các tổ hợp lai hoa hiên, cũng như ảnh hưởng
của một số biện pháp kỹ thuật đến sự sinh trưởng của cây hoa hiên in- vitro giai
đoạn vườn ươm
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Giới thiệu một số dòng lai hoa hiên có triển vọng cho sản xuất
- Giới thiệu một số biện pháp kỹ thuật ra ngôi hoa hiên in-vitro tại Việt Nam.
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu về cây hoa hiên
1.1.1 Nguồn gốc, phân loại
Hoa Hiên thuộc chi Hemerocallis, họ Hemerocallidacea là cây thân thảo,
rễ củ, sống lưu niên có nguồn gốc từ Trung Quốc, Bắc Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc Theo các tài liệu của người Trung Quốc, hoa Hiên được biết đến từ năm
2697 TCN với tên gọi là Huyên Thảo Nhà nghiên cứu Hu đã tìm thấy các ghi
chép về Hemerocallis fulva trong các tư liệu từ thời nhà Chu có niên đại từ 112-
355 TCN Chúng được người dân sử dụng làm thực phẩm và thuốc Khoảng năm
300 TCN Chi hoa hiên được mang từ Viễn Đông đến châu Âu bởi các thương nhân lụa và gia vị Năm 25 TCN Chi Hoa Hiên được biết đến ở Hy Lạp, La Mã,
Ai Cập, và châu Phi Năm 1620 Chi Hoa Hiên đã được trồng tại Anh Hoa Hiên
có mặt ở Mỹ vào năm 1890 Năm 1985, Dahlgren và cộng sự đã tách chi Hemerocallis từ Họ Loa kèn và đặt chúng trong họ hoa hiên Hemerocallidaceae
Năm 1992, Erhard công nhận 20 loài hoa hiên, chia thành 5 nhóm bao gồm:
fulva, citrine, middendoffii, nana và multiflora (Gulia, S.K et al., 2009)
Tại Việt Nam theo Phạm Hoàng Hộ (1993) và Nguyễn Thị Đỏ (2007) hoa
hiên được biết đến với hai loài là Hemerocallis fulva (L.) và Hemerocallis lilioasphodelus (L.)
1.1.2 Đặc điểm thực vật học
Rễ: Rễ hoa hiên có dạng sợi, hình trụ, chóp rễ phình to lên thành dạng củ
hình thoi Rễ có màu vàng xám hoặc xám nhạt Rễ hoa hiên có khả năng giữ
nước tốt và sử dụng nước hiệu quả giúp cây có thể chịu hạn (Gulia, S.K et al.,
2009)
Thân: Thân giả do các bẹ lá xếp tạo thành Thân rễ ngắn chứa các mô
phân sinh đỉnh, rễ và lá phát sinh từ thân rễ ngắn này
Trang 9
Hình 1.1 Các bộ phận của cây hoa hiên (Gulia, S.K et al., 2009)
Lá: Lá hoa hiên không có cuống, dạng dải dài, thuôn nhọn ở đỉnh, gốc lá
dạng bẹ ôm lấy thân, lá có thể đứng thẳng, cong hướng ra ngoài, hoặc cúi xuống Mép lá nguyên hoặc lượn sóng, lá mọc tập trung ở gốc xếp thành hai hàng đối nhau giống như rẻ quạt (Nguyễn Thị Đỏ, 2007)
Ngồng hoa: Hoa hiên thuộc dạng hoa tự hữu hạn (xim), ngồng hoa phân
nhánh mạnh, mỗi nhánh có thể mang một hoa hoặc nhiều hoa tùy từng giống
Ngồng hoa hình trụ hoặc thẳng đứng, hơi cong cúi xuống mặt đất dưới sức nặng của cụm hoa Kích thước ngồng hoa nằm trong khoảng từ 4 cm (H darrowiana) đến 200 cm (H altissima) Ngồng hoa xuất hiện từ nách lá hoặc đỉnh sinh trưởng, một năm chi Hoa hiên thường cho từ 1-3 ngồng hoa (Gulia, S.K et al.,
2009)
Hoa: lưỡng tính; có mùi thơm hoặc không; cuống hoa ngắn Bao hoa 6
mảnh, phần dưới dính nhau thành hình phễu; phần trên có 6 thùy, xếp 2 lớp: lớp bên trong cánh hoa to hơn lớp cánh đài bên ngoài, khi hoa nở cánh hoa cong ra ngoài Nhị 6, đính ở ống bao hoa, chỉ nhị dài không bằng nhau Bao phấn đính ở lưng hoặc ở gần gốc, 2 ô, mở bằng khe dọc Nhụy hoa dạng sợi, mảnh, dài hơn nhị; đầu nhụy dạng đầu (Nguyễn Thị Đỏ, 2007) Thời gian nở hoa tùy thuộc các giống/ loài có thể bắt đầu từ tháng tư đến tháng bảy, thậm chí có thể kéo dài đến
thnags mười hai (Gulia, S.K et al., 2009)
Trang 10Quả: Quả hoa hiên có dạng quả nang, hình tròn hoặc bầu dục; chia
làm 3 ô gồm 6 mảnh vỏ đóng mở theo cặp Hạt nhỏ, bóng, màu đen, hình
tròn hoặc elip
1.1.3 Giá trị sử dụng
1.1.3.1 Gía trị trong trang trí cảnh quan
Trên thế giới hoa hiên được ứng dụng trong trang trí cảnh quan từ rất lâu (Dunwell, 2000) Do loài hoa này có sự đa dạng về hình dáng, màu sắc và thời gian nở hoa (Garber, 2004) nên chúng thường được kết hợp các giống khác với nhau để tạo thảm hoa dài Hoa hiên có một số chức năng trong việc nâng cao tác dụng cảnh quan tổng thể, có thể là sự lựa chọn để trồng thảm dưới hàng rào hoặc những địa hình có cấu trúc bậc thang làm giảm cảm giác thô cứng; kết hợp sáng tạo hoa hiên với những bức tượng làm cảnh quan trở nên sinh động, không còn đơn điệu; có thể kết hợp nhiều giống hoa hiên xen
kẽ với nhau, hoặc kết hợp với các loại cây khác để tạo sự tương phản của các dạng thực vật và màu màu sắc theo mùa Ngoài việc là một cây trồng trang trí cảnh quan thì hoa hiên còn được trồng trên các vùng đất dốc, ven các đường cao tốc để giảm xói mòn, rửa trôi hoặc sử dụng làm hoa cắt (các giống có
ngồng hoa cao trên 0,9m) Các giống H flava và H fulva thích hợp để chống
xói mòn bởi chúng sinh trưởng và phát triển nhanh (Fosler and Kamp, J.R., 1954)
1.1.3.2 Gía trị ẩm thực
Người Trung Quốc và Nhật Bản cổ đại đã sử dụng cả rễ, lá, và hoa của cây hoa hiên như thực phẩm và dược liệu Nụ hoa hiên chứa nhiều protein và vitamin C hơn đậu xanh và măng tây, vitamin A tương đương với măng tây (Erhardt, 1992) Hầu hết các bộ phận của cây đều có thể ăn được (ví dụ: chồi non được sử dụng như một loại rau ở Trung Quốc trong khi hoa và nụ là món ngon trong các món ăn của một số quốc gia Đông Nam Á) Hoa hiên có thể được chế biến bằng nhiều cách- cùng nhiều loại nguyên liệu khác nhau tạo nên các món ăn khác nhau, chẳng hạn như chế biến cùng thịt gà, súp từ hoa hiên, hầm với thịt, chiên hoặc hấp (Gulia, Singh and Griesbach, 2009)
Trang 111.1.3.3 Gía trị y học
Năm 1964, Ngô Thế Phương (Bộ môn sinh lý) và Dương Hữu Lợi (Bộ môn dược lý) trường Đại học Y khoa Hà Nội đã dựa vào kinh nghiệm nhân dân, nghiên cứu cơ chế tác dụng của hoa hiên trên súc vật thì thấy rằng dùng nước sắc hoa hiên thời gian Quick giảm rõ rệt, nghĩa là tăng tỷ lệ protrombin toàn phần, cũng như vitamin K, nước sắc hoa hiên có tác dụng chống lại tác dụng của dicumarin, làm tiểu cầu và hồng cầu tăng, nhưng số lượng bạch cầu và công thức bạch cầu không thay đổi, tăng trương lực của tử cung và thành ruột cô lập, tác dụng ngoại vi rõ rệt hơn là tác dụng trung ương (Đỗ Tất Lợi, 2000)
Theo các nhà nghiên cứu ấn Độ, hoa hiên tươi của Trung Quốc có 85,5% nước; 1,66% protein; 0,4% chất béo; 10,44% nitơ tự do; 1,23% chất xơ; 0,78% tro Hoa hiên chứa nhiều vitamin A và vitamin C Ngoài ra còn có cholin, adenin
và một số chất khác như asparagin, colchicin, azulen… và men cholinesteraza
Lá hoa hiên chứa glucid 55%, protein 9.8 %, lipit 0.2 %, chất vô cơ 5.85
%, CaO 0.4 %, P2O5 0.47 %, Fe2O3 0.67%, các vitamin A, B, C; glucose, flavonoid, coumarin, carotenoid Rễ có chứa: Asparagin, colchicin, fricdelin Nước sắc lá cây hoa hiên có tác dụng rút ngắn thời gian chảy máu và đông máu, tăng trương lực cơ trơn, tăng lượng tiểu cầu, hồng cầu nhưng bạch cầu và huyết sắc tố không đổi Lá thu hái vụ hè thu phơi khô để làm thuốc có vị ngọt tính lạnh tác dụng an thần trị suy nhược thần kinh, mất ngủ, bứt rứt, mệt mỏi, phù thũng(Bùi Trường, 2014)
1.1.4 Đặc điểm sinh trưởng
Dựa trên sự sinh trưởng của bộ lá, hoa hiên được phân thành các nhóm: ngủ nghỉ hoàn toàn, thường xanh và bán thường xanh Nhóm hoa hiên ngủ nghỉ hoàn toàn có bộ lá chuyển vàng, cây ngừng sinh trưởng vào mùa thu khi thời gian chiếu sáng trong ngày ngắn và nhiệt độ thấp Vào mùa xuân, khi nhiệt độ bắt đầu tăng cây tiếp tục tăng trưởng, ra lá mới Nhóm hoa hiên thường xanh duy trì được bộ lá màu xanh trong suốt mùa đông, khi nhiệt độ đóng băng lá có thể chết cũng như toàn bộ cây ngừng sinh trưởng Nhóm hoa hiên bán thường xanh phụ thuộc nhiều vào khí hậu, chúng có thể thường xanh ở những nơi có khí hậu
Trang 12ôn hòa và ngủ nghỉ ở những nơi có mùa đông khắc nghiệt Trong một số trường hợp, phần lá phía trên có thể bị chết do lạnh trong khi vẫn tiếp tục ra lá mới Nhiều con lai hiện đại thuộc lớp này, là kết quả của sự pha trộn giữa nhóm
thường xanh và nhóm ngủ nghỉ hoàn toàn (Gulia, S.K et al., 2009)
1.1.5 Yêu cầu ngoại cảnh
Ánh sáng: Hoa hiên sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện 6-8 giờ
chiếu sáng một ngày, giống hoa màu tối (đỏ và tím) cần cường độ ánh sánh trung bình(có che bóng), trong khi các giống hoa sáng màu (màu vàng, hồng hay trắng) cần cường độ ánh sáng mạnh để có màu sắc đẹp nhất Hoa hiên trồng trong nhà kính ánh sáng yếu cây sẽ sinh trưởng kém, lá mỏng ,ít và ra hoa kém Trong thời gian ra hoa, cường độ ánh sáng mạnh sẽ làm hoa bị phai màu, nhanh héo và rụng
Nước: Hoa hiên chịu được khô hạn do bộ rễ lan rộng, tuy nhiên kích
thước và số lượng hoa có thể bị ảnh hưởng nếu khô hạn kéo dài trong thời gian ngồng hoa phát triển
Đất: Đất trồng hoa hiên yêu cầu tơi xốp, không chứa mầm bệnh và thoát
nước tốt PH đất nên duy trì trong khoảng 6.2-6.8
1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới
Hiện nay việc sản xuất hoa cây cảnh trên thế giới đang phát triển mạnh và mang tính thương mại cao Ngành công nghiệp sản xuất hoa trên thế giới không chỉ có các sản phẩm hoa cắt truyền thống mà bao gồm rất nhiều sản phẩm khác như hoa chậu (potter flowers), các loại cây dùng bộ lá để trang trí và hoa trồng thảm mang lại giá trị kinh tế cao Hoa và các sản phẩm từ hoa đã trở thành loại hàng hóa có khối lượng lớn trong mậu dịch quốc tế nhưng do sự chênh lệch về trình độ khoa học kỹ thuật, sự khác biệt về điều kiện môi trường sinh thái nên ở mỗi nước có tốc độ phát triển ngành sản xuất hoa và các sản phẩm từ hoa khác nhau Số liệu thống kê của AIPH (International Association of Horticultural Producers) /Union Fleurs (International Floricultural Trade Association) đến năm
2011 cho thấy giá trị sản xuất hoa và cây trồng chậu của EU có giá trị 11,699 triệu euro chiếm 44,1 %, Mỹ xếp thứ 2 với 3.115 triệu euro chiếm 11,8%, Trung
Trang 13Quốc và Nhật Bản lần lượt ở vị trí thứ 3 và thứ 4 với giá trị sản xuất là 3,406 và 2,512 triệu euro chiếm 12,9% và 9,5% điều này cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp sản xuất hoa khu vực châu Á (Advisory Group Flowers and Ornamental Plants, 2012)
Tại châu Á nghề trồng hoa đã có từ lâu đời với diện tích xấp xỉ 900.000
ha, chiếm khoảng 60% diện tích trồng hoa trên thế giới Nhưng diện tích hoa cây cảnh thương mại của châu Á nhỏ, tỷ lệ thị trường hoa của các nước đang phát triển chỉ chiếm khoảng 20% thị trường hoa cây cảnh trên thế giới Những nước
có xu hướng phát triển hoa trồng thảm và các loại lá dùng để trang trí bao gồm Đài Loan, Thái Lan, Israel, Ấn Độ, Malaysia và Trung Quốc Chủng loại hoa thảm khá đa dạng nhưng chủ yếu là hoa xôn (Salvia), thu hải đường (Begonia), hoa bướm (Panse), Viola, Primula, Cinneraria, tô liên (Torenia) với diện tích xấp
xỉ khoảng 50.000 ha Diện tích sản xuất hoa cây cảnh ở một số nước năm 2006 là: Trung Quốc 722.000 ha, Ấn Độ 75.327 ha, Nhật Bản 51.000 ha, Việt Nam 13.000 ha, Thái Lan 7.655 ha, Malaysia 2.278 ha, Srilanka 1.012 ha (Nguyễn Thị Kim Lý, 2009)
Trong các nước châu Á trên phải kể đến Thái Lan, Thái Lan đã xuất khẩu hoa lan nhiệt đới trong khoảng bốn mươi năm qua, chiếm 32 %, đứng thứ hai sau
Hà Lan (48%) trong việc sản xuất và xuất khẩu hoa lan thương mại Trong khi,
Hà Lan xuất khẩu hoa lan ôn đới (Cymbidium), sản phẩm chính của Thái Lan là hoa lan nhiệt đới (Dendrobrium) Hoa lan là sản phẩm chính của nghề trồng hoa
ở Thái Lan và chiếm 99% tổng giá trị xuất khẩu hoa cắt cành Nhật Bản và Hoa
Kỳ chiếm một nửa giá trị tổng nhập khẩu hoa lan của Thái Lan (FAO, 2010) Sau gần hai thập kỷ phát triển ngành công nghệ hoa của Trung Quốc đã trở thành một ngành công nghiệp có nhiều hứa hẹn bởi sản xuất hoa phát triển hàng năm Trung Quốc hiện có 775 500 ha (2008) dành cho ngành sản xuất hoa, với hơn một nửa của diện tích sản xuất cây cảnh Hoa cắt cành và lá, cây trồng chậu và hạt giống
có mức tăng trưởng đạt khoảng 500 %, các sản phẩm khác, như cây giống và cây cảnh có tốc độ tăng trưởng thấp hơn khoảng 300 % Trong các loại hoa cắt,hoa
Trang 14hồng chiếm sản lượng tối đa diện tích và chiếm khối lượng lớn nhất của hoa cắt sản xuất (FAO, 2010)
Ngoài các hoa kể trên thì hoa hiên đã được sử dụng trong trang trí cảnh quan từ lâu, do sự đa dạng về hình dáng, màu sắc và thời gian nở hoa (Dunwell, 2000) Hoa hiên chủ yếu được sử dụng trồng thảm, trồng bồn, trồng viền (Ted L Petit and Dorothy J Callaway, 2008) Giá trị thương mại của hoa hiên năm 2002 trên thị trường Mỹ ước tính 571 triệu đô la (dẫn theo số liệu USDA, 2003) Đây
là một trong những lý do hoa hiên là một trong những loại hoa trồng thảm được nghiên cứu nhiều nhất trên thế giới Cho đến hôm nay đã có gần 75.000 giống được đăng ký tại American Hemerocallis Society - đây là cơ quan đăng ký chính thức của hoa hiên Nhiều giống mới đã được phát triển và giới thiệu hàng năm
Do sự khan hiếm nên một số giống mới đã được bán với giá 100$ hoặc cao hơn, tuy nhiên vẫn có một số giống hiện đại có hoa đẹp lại có giá cả khá hợp lý Phần lớn các giống mới được phát triển ở khu vực phía Nam nước Mỹ (Mary, H.M 2009)
Những con số thống kê cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của ngành trồng hoa trên thế giới, đặc biệt là mảng hoa trồng thảm và hoa trồng chậu Cùng với
sự phát triển về kinh tế thì các rào cản về thương mại cũng dần được dỡ bỏ tạo cơ hội cho các nước xuất khẩu sản phẩm hoa của mình đi khắp thế giới, nhưng cũng đồng thời mang lại thách thức cạnh tranh về giá cả, mẫu mã và chất lượng Những thuận lợi và khó khăn này thúc đẩy việc nghiên cứu các giống hoa mới, nâng cao chất lượng song song với việc phát triển hệ thống phân phối và marketing
1.2.2 Tình hình sản xuất hoa và tiêu thụ hoa ở Việt Nam
Sản xuất hoa, cây cảnh ở Việt Nam có từ lâu đời, nhưng chỉ được coi là một ngành kinh tế hàng hoá có giá trị hàng hóa từ những năm 1980 ngành kinh tế này có tốc độ phát triển khá nhanh
Trang 15Bảng 1.1 Tốc độ phát triển của ngành sản xuất hoa, cây cảnh
giai đoạn 2000-2012 Chỉ tiêu Năm 2000 Năm 2005 Năm 2008 Năm 2012
Giá trị sản lượng (Tr.đ) 950.000 196.000 4.410.000 7.200.000 Giá trị thu nhập TB
so với các ngành công nghiệp khác
Năm 2013, cả nước có khoảng 18.700 ha hoa, cây cảnh; trong đó các tỉnh miền Bắc có 9.500 ha, miền Nam khoảng 9.200 ha, thu nhập bình quân trồng hoa, cây cảnh trên cả nước là 250 triệu đ/ha/năm.Nhiều mô hình đạt 700 - 800 triệu đ/ha/năm; có những cây thế giá hàng tỷ đồng, các vùng trồng hoa, cây cảnh chủ yếu tập trung ở Hà Nội, Hải Phòng, Sa Pa (Lào Cai), Mộc Châu (Sơn La), Nam Điền (Nam Định), Đà Lạt (Lâm Đồng), Thành phố Hồ Chí Minh, Sa Đéc (Đồng Tháp), Chợ Lách, Cái Mơn (Bến Tre) (Trần Xuân Định, 2015)
Hoa xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu ở Đà Lạt Diện tích trồng hoa Đà Lạt trên 3.500ha, chiếm 40% diện tích và 50% sản lượng cả nước Mỗi năm thành phố này cung ứng khoảng 10 triệu cây hoa giống và hơn 2 tỷ cành hoa cắt các loại cho thị trường trong nước và xuất khẩu Năm 2010, kim ngạch xuất khẩu hoa Đà Lạt đạt khoảng 16 triệu USD (theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
Trang 16Bên cạnh việc sản xuất hoa cắt cành thì việc trồng và nghiên cứu hoa trồng chậu, trồng thảm đang ngày càng được quan tâm và phát triển ở nước ta Hiện nay, hoa nước ta tập trung ở vùng đồng bằng sông Hồng, thành phố Hồ Chí Minh, Đà lạt, Sa Pa Ở thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 235 ha công viên tại nội thành, trong đó có khoảng 11 ha (5%) là diện tích các bồn hoa Hàng năm thành phố Hồ Chí Minh cần khoảng 38,5 triệu cây hoa thời vụ các loại (khoảng
14 lần thay hoa/ năm) cho nhu cầu trang trí, chưa kể đến diện tích công viên sinh thái (công viên du lịch suối Tiên, Lâm viên Thủ Đức) và vành đai xanh Thành phố Tại thành phố Hà Nội hiện có khoảng trên 20 chủng loại hoa trồng thảm khác nhau đang được trồng phổ biến (Đỗ Thị Lai và cs., 2006)
Sản phẩm hoa của Việt Nam vẫn tiêu thụ trên thị trường bằng hình thức bán buôn, bán lẻ, quy mô nhỏ, mạng lưới phân phối rộng khắp nhưng chưa minh bạch, không có các hệ thống bảo quản lạnh Hiện nay, ngoài các loại hoa cắt thì hoa trồng thảm, trồng chậu hay còn gọi là hoa trang trí đóng một phần quan trọng trong môi trường cảnh quan và là một phần không thể thiếu được trong trang trí vườn cảnh, công viên, trên các trục đường giao thông , các biệt thự và các công trình kiến trúc hiện đại Tuy nhiên, sản xuất hoa chậu, hoa thảm chưa được phát triển mạnh mà chủ yếu được sản xuất ở một số cơ sở có chức năng trang trí cảnh quan như khu nhân giống hoa Phú Thượng (quận Tây Hồ) cung cấp hoa cho lăng chủ tịch Hồ Chí Minh và quảng trường Ba Đình, công ty công viên cây xanh chuyên cung cấp cây trang trí vườn hoa, công viên, dải phân cách, vườn thú Thủ
Lệ và một số vùng sản xuất hoa thảm và cây cảnh như Phụng Công - Văn Giang (Hưng Yên), La Phù – An Khánh (Hà Tây)
Ở Việt Nam hoa hiên được biết đến chủ yếu với công dụng làm thuốc Dân gian hay dùng lá và hoa hiên nấu canh, dùng lá, rễ và nụ làm thuốc Gần đây việc sử dụng hoa hiên trong trang trí cảnh quan đang dần được quan tâm bởi hoa hiên nở vào mùa hè mà trong thời gian này số lượng và chủng loại hoa trang trí trên thị trường kém phong phú, hoa hiên có nhiều ưu điểm so với các loài hoa khác như: thời gian nở hoa khá dài tập trung chủ yếu vào hè, số lượng hoa/ngồng từ 6-12 hoặc hơn (Nguyễn Thị Đỏ, 2007) (Phạm Hoàng Hộ, 2003)
Trang 17Trong nhiều năm trở lại đây, hoa hiên được trồng làm cảnh ở những nơi
có khí hậu mát, ẩm như Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Sapa (Lào Cai), Đà Lạt (Lâm Đồng) Người ta thường trồng hoa hiên bằng gốc sau khi đã lấy củ Ở Hà Nội, khu đô thị Ciputra - Nam Thăng Long và khu đô thị Đặng Xá - Gia Lâm trong 3 năm trở lại đây đã triển khai sử dụng hoa hiên trong trang trí cảnh quan Hoa hiên được trồng trên các dải phân cách lớn hoặc trồng thành thảm hoa trang trí, kết hợp với các loại cây trồng tạo thành một cảnh quan hài hòa trong tổng thể Chủ yếu sử dụng giống hoa hiên màu vàng của Việt Nam Tuy đã có sử dụng hoa hiên trong trang trí, nhưng diện tích ở cả hai khu đô thị còn khá khiêm tốn Tại khu đô thị Đặng Xá diện tích này chỉ ở vào khoảng 13-15 m2, ở khu đô thị Ciputra diện tích lớn hơn, khoảng 20-25 m2 Một trong những lý do làm cho việc sử dụng hoa hiên trong trang trí còn hạn chế là vì nguồn giống hoa hiên ở nước ta còn ít, số loài còn hạn hẹp Mặt khác màu sắc hoa chưa đa dạng, giống phổ biến chỉ có loại màu vàng cơ bản Một vài năm gần đây hoa hiên cũng có mặt nhiều hơn trong các hộ gia đình, nhất là các dịp gần tết (Trần Thị Thơm, 2014)
Như vậy có thể thấy hoa trồng thảm cũng đang phát triển ở Việt Nam, cùng với tốc độ đô thị hoá, công nghiệp hoá ở Việt Nam yêu cầu phát triển các khu công viên giải trí là rất lớn Hoa hiên với ưu điểm ra hoa tập trung vào vụ hè, số lượng hoa trên ngồng tương đối nhiều, thời gian sử dụng trang trí dài đang là đối tượng đáng quan tâm và phát triển phục vụ sản xuất hoa trồng thảm và trồng chậu
1.3 Tình hình nghiên cứu hoa hiên trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Các nghiên cứu về nhiễm sắc thể
Hầu hết hoa hiên có bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội Một số loài như loài H fulva (H fulva 'Europa', H fulva 'Kwanso', H fulva var paucijiora Hotta & Matsuoka, và H fulva var maculate Baroni) có bộ nhiễm sắc thể là tam bội (2n =
33) Vì trong tự nhiên không tìm thấy hoa hiên có bộ NST tứ bội nên hoa hiên tam bội không thể được tạo ra từ tổ hợp lai hoa hiên tứ bội và hoa hiên lưỡng bội
Có giả thiết cho rằng hoa hiên tam bội có nguồn gốc từ một tế bào trứng trong quá trình giảm phân NST không tách ra Theo Arisumi (1970) ước tính rằng khoảng tần số của các tế bào trứng không giảm là 1/ 15.000 Arisumi (1973) đã
Trang 18thu được 29 cây con tam bội trên 1,607 con lai trong tổng số được tạo ra giữa hoa hiên lưỡng bội và tứ bội Tỷ lệ tạo ra hoa hiên tam bội là rất thấp, chỉ chiếm 1,8% Trong thực tế, các nhà lai tạo quan tâm đến việc tạo ra cây tứ bội do cây có hoa to, màu sắc đa dạng, số lượng hoa nhiều và thân cây to hơn các cây lưỡng bội và tam bội Biện pháp được sử dụng rộng rãi để tạo cây tứ bội là xử lý bằng hoa chất
colchicines (Gulia, S.K et al., 2009)
Năm 1929, Takenaka đã xác định số lượng nhiễm sắc thể trong hạt phấn
và tế bào chóp rễ của mười loài trong chi hoa hiên, 7/10 loài có số lượng nhiễm
sắc thể trong hạt phấn là n=11 và trong tế bào chóp rễ là 2n=22 Kết quả nghiên
cứu của Stout (1932)và Chandlerm (1940) khẳng định, đa số các loài trong chi
hoa hiên có bộ nhiễm sắc thể 2n=22 (nhị bội) với 11 cặp nhiễm sắc thể Loài H disticha var Kwanso đa bội tự nhiên có nguồn gốc từ loài H Disticha và H fulva Một số loài lai tự nhiên H fulva 'Europa', H fulva 'Kwanso', H fulva var paucijiora Hotta & Matsuoka, và H Fulva var maculate Baroni có bộ nhiễm sắc thể tam bội (2n=33)
Năm 2003, Hiroyuki Saito và cộng sự đã tiến hành xác định số lượng
nhiễm sắc thể cho chín loài và 94 giống thuộc chi Hoa hiên (Hemerocallis ) bằng
phương pháp phân tích dòng chảy tế bào (Flow Cytometry- FCM) cho 103 mẫu
tế bào hoa Hiên Kết quả đã được phân loại rõ ràng thành ba nhóm: nhị bội, tam
bội và tứ bội Hai loài nhị bội là H fulva var littorea (2n=22) , loài tam bội H fulva var kwanso (2n=33) Số lượng nhiễm sắc thể đếm được trong tế bào chóp
rễ cũng cho kết quả tương ứng Đây là phương pháp nhanh và hiệu quả trong xác định số lượng nhiễm sắc thể
Ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu được công bố về nhiễm sắc thể của hoa hiên Năm 2012, bộ môn Rau-hoa-Quả, Khoa Nông học, Học Viên Nông nghiệp Việt Nam đã tiến hành thu thập các giống hoa hiên bản địa và nhập nội một số giống của nước ngoài phục vụ công tác nghiên cứu, phát triển hoa hiên trong điều kiện Hà Nội Năm 2014, Hoàng Thị Quyên đã nghiên cứu đánh giá một số đặc điểm sinh học của tập đoàn hoa hiên nhập nội và tổ hợp lai 2013 Kết quả có
12/19 giống nhập nội có bộ NST lưỡng bội (2n=22), 3/19 giống có bộ NST tam
Trang 19bội (2n=33), 4/19 giống có bộ NST tứ bội (2n=44) Tất cả 19 giống hoa hiên
nhập nội đều sinh trưởng tốt trong vụ hè thu tại Gia Lâm-Hà Nội Dựa vào chiều cao cây chia các giống hoa hiên nhập nội thành 3 nhóm: Giống thấp cây (gồm các giống C2, C3, C4, C6, C9, C11, 3, NN01), giống có chiều cao trung bình (gồm các giống C10, C12, C15, C19, C26, C27, CK0, NN02, NN03) và giống cao cây (gồm giống C14 và NB) Trước đó Trần Thị Thơm (2014) và Nguyễn Thị Hoa (2014) đã bước đầu đánh giá sinh trưởng phát triển của tập đoàn hoa hiên tại Gia Lâm-Hà Nội Kết quả cho thấy các giống, mẫu giống hoa hiên đều sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện Gia Lâm- Hà Nội Tập đoàn giống có
sự đa dạng về hình dáng và kích thước cây, màu sắc và kích thước hoa Số hoa/ thân lớn, thời gian ra hoa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 6 Từ các kết quả trên các tác giả đã lựa chọn một số giống hoa có đặc điểm nổi trội về màu sắc, thời gian
nở hoa như C14, C19, C15… sử dụng trong trang trí cảnh quan Đây là cơ sở cho công tác lai tạo các giống hoa hiên phù hợp với điều kiện và mục đích sử dụng ở Việt Nam
1.3.2 Các nghiên cứu nhân giống, lai tạo hoa hiên
1.3.2.1 Các nghiên cứu nhân giống hoa hiên
Hiện nay, trên thế giới đã có những nghiên cứu về các biện pháp nhân giống cây hoa hiên, bao gồm cả phương pháp vô tính và hữu tính
Phương pháp nhân giống hữu tính được biết đến nhiều nhất là phương pháp gieo hạt Hạt hoa hiên được nhân giống bằng hạt thu được từ quả trên các ngồng hoa sau khi quả chín và nứt Hạt của loại hoa hiên cần trải qua xử lý nhiệt độ lạnh từ 0-7ºC trong 6-8 tuần để có khả năng nảy mầm, sau đó được sấy khô và bảo quản ở nhiệt độ phòng cho đến khi gieo (Griesbach, 1956) Hạt của loại hoa hiên thường xanh có thể được gieo trực tiếp hoặc xử lý theo các bước
xử lý cho hạt giống từ hoa hiên ngủ đông để dưa vào bảo quản (Benzinger, 1968; Munson, 1989; Dunwell, 1998) Cây hoa hiên gieo từ hạt có hoa sau khi trồng từ 1-2 năm
Đối với hoa hiên, biện pháp nhân giống vô tính thường được sử dụng phổ biến do đơn giản, dễ thực hiện, rút ngắn thời gian ra ngôi Trong tự nhiên,
Trang 20tỷ lệ ra chồi mới trên một gốc cây hoa hiên cao nhất là 25/ 1, tuy nhiên tỷ lệ trung bình là khoảng 8/ 1, với một tỷ lệ tối thiểu cho sản xuất thương mại là 3/
1 (Apps, 1995) do đó người sản xuất sẽ phải mất đến 10 năm để có đủ số lượng cây con sản xuất thương mại Các phương pháp nhân giống vô tính khác như tách thân: Một gốc thân hoa hiên có thể được cắt thành nhiều mảnh, từ các mảnh này sẽ phát triển thành cây mới (Erhardt, 1992) Ngoài ra, các chồi nhỏ
có thể phát triển trên ngồng hoa hay còn gọi là keiki, loại chồi này dễ dàng bắt
rễ vào đất để tạo thành cây mới Cây phát triển từ keiki thường mất 10-30 ngày
để phát triển bộ rễ, và hoa trong vòng 12 đến 15 tháng sau đó Dunwell (1998) thu được đến 14 keyki trên một cây hoa hiên giống 'Lisa My Joy' có bốn cụm hoa Phương pháp sử dụng phổ biến hiện nay sử dụng chất điều hòa sinh trưởng như benzyladenine (BA), benylarnino purine (BAP), acid indoleacetic (IAA),
và có cycocel được sử dụng vừa để tăng số lượng chồi và kích thích chồi ngủ
phát triển (Gulia, S.K et al., 2009)
Mặc dù có hàng ngàn giống hoa hiên mới với các đặc tính được cải thiện
đã được sản xuất bằng cách sử dụng phương pháp lai hữu tính, rất nhiều giống trong số đó vẫn chỉ được giữ trong phạm vi vườn nhân giống do sự hạn chế của phương pháp nhân giống truyền thống (Apps and Heuser, 1975) Do đó phát triển các phương pháp nhân giống vô tính (nuôi cấy mô) với số lượng lớn là rất cần thiết.Nuôi cấy mô hoa hiên có thể sử dụng vật liệu khởi đầu là mầm hoa, cánh hoa, bầu nhụy, và chỉ nhị Các nghiên cứu ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô tế
bào nhân nhanh hoa hiên đã được tiến hành từ những năm 70 của thế kỷ 20
Năm 1972, Chen và Holden đã thành công trong việc tạo cây hoa hiên
bằng phương pháp nuôi cấy cánh hoa loài Hemerocallis fulva L Hoa hiên tứ bội
có thể tạo mô sẹo trong môi trường MS có 10 mg/l NAA và 0,1 mg/l Kinetin trong điều kiện tối từ nguồn vật liệu khởi đầu là chồi hoa Cây con sẽ được phát triển trên môi trường bổ sung 0,5 mg/l NAA và 0,1 mg/l Kinetin Năm 1976, Charles W Heuser và Darrel A Apps đã tiến hành nuôi cấy mô sẹo thu được từ
cánh hoa Hemerocallis cv Chipper Cherry Môi trường nuôi cấy MS có bổ sung
2,4-D (1,0 mg / lít) + kinetin (1,0 mg / lít) Chồi và rễ phát triển khi mô sẹo được
Trang 21nuôi cấy trên môi trường thiếu 2,4-D (Charles W.H., 1976) Năm 2000, tác giả Johnny Carter và Seema Dhir (Dhir, 2000) đã tiến hành nhân nhanh cây hoa hiên
từ nguồn vật liệu khởi đầu là nụ hoa Chỉ nhị lấy từ nụ hoa có kích thước 5-10
mm là tốt nhất,được nuôi cấy trên môi trường MS + BAP (3,0 mg / L) + IAA (0,5 mg / L), hình thành chồi sau 4 tuần nuôi cấy, tỷ lệ sống đạt 100% trong môi
trường nhà kính Cây con đưa ra sản xuất sau 6-7 tháng Zhao, et al., (2011) đã nhân giống hoa hiên H Ore oriole bằng phương pháp nuôi cấy thân và nụ hoa
Kết quả cho thấy môi trường thích hợp đưa mẫu thân là MS+ 6-BA 1,5 mg/l+ IBA 0,2 mg/l, và môi trường nuôi nụ hoa là MS+6-BA 2,0-3,0 mg/l+IBA 0,2 mg/l và cho chồi khí (keiki) là MS+6-BA 0,3 mg/l + IBA 0,1 mg/l and MS+6-
BA 1,5 mg/l +IBA 0,2 mg/l Môi trường cho ra rễ là 1/2MS+IBA 0,5 mg/l Trên giai đoạn vườn ươm, giá thể cát thích hợp để ra cây
Tại Việt Nam, các nghiên cứ nhân giống cây hoa hiên đã bước đầu được thực hiện Về nhân giống vô tính, Nguyễn Thị Tố Giang (2014) đã tiến hành nghiên cứu và bước đầu xây dựng được quy trình nhân giống vô tính hoa hiên bằng phương pháp chẻ thân có 5 bước gồm: chuẩn bị giá thể và hom giâm, chẻ
và xử lý hom giâm, giâm hom, chăm sóc và ra ngôi cây con Giá thể giâm mảnh
củ phù hợp gồm: Đất + Cát + Trấu hun + Xơ dừa (tỷ lệ 1:1:1:1 theo thể tích) Phương pháp chẻ thân hoa hiên làm 4 mảnh khi nhân giống cho hệ số nhân giống cao đạt 2,9 Xử lý hom giâm hoa hiên bằng chế phẩm kích thích ra rễ Atonik 20g/l trong 10-12 giây giúp rễ sớm xuất hiện (13,3 ngày), nâng cao chất lượng
hom giâm Năm 2014, Nguyễn Thị Loan đã nghiên cứu nhân giống in-vitro cây hoa hiên vàng cam (Hemerocallis fulva) Kết quả thu được cho thấy môi trường nhân nhanh in- vitro chồi cây hoa hiên thích hợp nhất cho hệ số nhân cao, chồi
sinh trưởng phát triển tốt là MS + 1 mg/l BA + 1mg/l IAA + 30 g/l đường + 8g/l
agar Môi trường ra rễ cho chồi cây hoa hiên in- vitro là MS + 0,5 mg/l α –NAA
+ 30 g/l đường + 8g/l agar
1.3.2.2 Các nghiên cứu lai tạo hoa hiên
Từ đầu thế kỷ XX, lai tạo hoa hiên ngày càng trở nên phổ biến Năm
1929, giống lai đầu tiên của Arlow Burdette Stout, “Mikado”, được công bố Cho
Trang 22đến nay đã có gần 75.000 giống được đăng ký tại American Hemerocallis Society- đây là cơ quan đăng ký chính thức của hoa hiên Colchicine được phát hiện có khả năng gây đột biến đa bội vào năm 1937 Trong suốt những năm 1940 nó được sử dụng rộng rãi trong đột biến tạo cây hoa hiên tứ bội Năm 1947, "Brilliant Glow" là giống tứ bội đầu tiên được sản xuất bởi Robert Schreiner, bằng cách xử
lý lưỡng bội 'Cressida’ với colchicine Chương trình nhân giống tứ bội lớn đầu tiên được bắt đầu vào năm 1955 bởi Robert A Griesbach tại Đại học DePaul ở Chicago, Illinois, và Orville Fay Các tác giả thực hiện phương pháp mới, ngâm hạt mới nảy mầm trong dung dịch coichicine trước khi trồng Phương pháp này thực hiện dễ hơn và hiệu quả hơn so với phương pháp xử lý toàn bộ cây con của
Schreiner, Buck, và Traub Theo Griesbach et al (1963) xử lý hạt giống thì tần
số xuất hiện thể tứ bội sẽ cao hơn Năm 1961, Fay và Griesbach đưa ra thị trường bốn giống tứ bội: Crestwood Ann, Crestwood Bicolor, Crestwod Evening và Crestwood Lucy
Ở Việt Nam các nghiên cứu về hoa hiên rất ít và chủ yếu là các nghiên cứu về dược tính của cây hoa hiên sử dụng trong y học Từ năm 2012, bộ môn Rau Hoa Quả, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tiến hành thu thập và nghiên cứu tập đoàn hoa hiên trong điều kiện Hà Nội
1.3.3 Các nghiên cứu về giá thể trồng một số loại hoa có củ và hoa hiên
Các tác giả J Treder, A Borkowska và E Gabryszewska đã nghiên cứu các tác nhân ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây hoa hiên nhân giống vô tính nhằm nâng cao chất lượng cây giống của hai giống hoa hiên ‘Fire Agate’ và ‘Polish Truffle’ Kết quả cho thấy cây con của cả hai giống trồng trên giá thể gồm than bùn và perlite có hệ thống rễ phát triển tốt hơn và chiều dài rễ lớn hơn trồng trên than bùn và xơ dừa (Treder, A.B., 2013)
Hà Thị Thúy (2005) đã tiến hành thí nghiệm trồng củ lily in- vitro trên các
giá loại giá thể khác nhau và đưa ra kết luận: giá thể bọt núi lửa + trấu hun phối trộn theo tỷ lệ 2:1 có tác dụng tốt nhất Tuy nhiên trên hoa đồng tiền tác giả Phan Ngọc Diệp và cs (2010) đã nghiên cứu về giá thể ra ngôi cây đồng tiền giai đoạn
sau in- vitro và kết luận giá thể ra ngôi tốt nhất là hỗn hợp (½ trấu hun + ¼ xơ
Trang 23dừa + ¼ đất phù sa) sau khi xử lý phun đều Ridomil (nồng độ 3g/lít) để xử lý nấm bệnh trong giá thể Tác giả Nguyễn Thị Lý Anh (2006) xác định được giá
thể mùn + trấu hun (1:1) là giá thể thích hợp để đưa cây Calla lily nuôi cấy mô ra
vườn ươm Năm 2014, Nguyễn Thị Tố Giang đã nghiên cứu giá thể giâm hom mảnh củ của cây hoa hiên, kết quả cho thấy giá thể giâm mảnh củ phù hợp gồm: Đất + Cát + Trấu hun + Xơ dừa (tỷ lệ 1:1:1:1 theo thể tích) Nguyễn Thị Loan
(2015) khi tiến hành nghiên cứu nhân giống in- vitro cây hoa hiên vàng cam (Hemerocallis fulva) đã sử dụng các loại giá thể ra ngôi khác nhau sau in- vitro
cho rằng giá thích hợp nhất là đất
1.3.4 Một số ứng dụng phân bón lá trên cây nuôi cấy mô khi mới đưa ra đồng ruộng
Tác giả Phan Ngọc Diệp và cs (2010) trong nghiên cứu quy trình ra ngôi
cây đồng tiền giai đoạn sau in- vitro, để bổ sung dinh dưỡng cho cây, giúp cây
sinh trưởng phát triển tốt khi cây bén rễ hồi xanh (sau 2 tuần) sử dụng phân bón
lá Đầu trâu 502 (N:P:K = 30:12:10) cho cây với liều lượng 10ml/bình 8 lít nước,
7 ngày phun một lần Tác giả Nguyễn Văn Tỉnh và cs (2010) đã tiến hành nghiên
cứu quy trình kỹ thuật sản xuất lan hồ điệp theo quy mô công nghiệp tại các tỉnh phía bắc Việt Nam và đưa ra kết luận giai đoạn cây con sau khi ra ngôi nên sử dụng phân bón HT-Orchid (N-P205-K20+TE = 30-10-10+TE), pha với tỷ lệ 3 gam/10 lít nước, phun và tưới định kỳ 7 – 10 ngày 1 lần Vậy để cây nuôi cấy mô
có thể sinh trưởng tốt sau khi ra ngôi việc sử dụng phân bón lá là rất cần thiết
Như chúng ta đã biết để cây in-vitro sinh trưởng tốt cần rất nhiều yếu tố
như giá thể trồng, thời vụ, điều kiện nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, phân bón, chế độ chăm sóc… mỗi loại cây có thời vụ ra ngôi thích hợp khác nhau nên việc nghiên
cứu thời vụ ra ngôi cho cây in-vitro cũng rất cần thiết
Trang 24Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Thí nghiệm được thực hiện trên 4 tổ hợp lai năm 2013 và 16 tổ hợp lai năm 2014 Được thể hiện ở bảng 2.1
Bảng 2.1 Ký hiệu các tổ hợp lai hoa hiên tạo ra năm 2013 và 2014
- Cây hoa hiên vàng cam (Hemocarollis fulva) in- vitro: Đạt chiều cao 5-
7cm và có 3- 4 lá
Trang 252.1.2 Vật liệu nghiên cứu
- Giá thể: Đất, cát, trấu hun và sơ dừa
- Phân bón lá:
+ Đầu trâu 005: Sản phẩm của công ty CỔ PHẦN PHÂN BÓN BÌNH ĐIỀN Thành phần: N 30%, P2O5 10%, K2O 10%, S, Mg, Ca, Zn, Fe, Cu, Mn,
B, Mo, gibberellins, aNAA…
+ Pomior P198: Sản phẩm của công ty CP GIỐNG - VẬT TƯ NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO VIỆT NAM Thành phần: N 5.5%, P2O5 10.5%, K2O 4.8%, CaO 0.04% Mg, Cu, FeO, Mn, B, Ni…
- Phân bón: đầu trâu 13:13, phân NPK tổng hợp, pomior, thùng xốp đục
lỗ, nilong đen, thước thẳng thước palme, kính hiển vi, máy ảnh canon A810, một
số hóa chất trong phòng thí nghiệm (colchicine 0.05%, Carnoy, HCL 1N, Fuchsin 0.5% ), một số vật tư nông nghiệp khác…
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Nhà lưới số 1, khoa Nông học, trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 9/2014 đến tháng 9/2015
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu đăc điểm nông sinh học của một số tổ hợp lai hoa hiên
- Nghiên cứu đăc điểm nông sinh học của các tổ hợp lai hoa hiên tạo ra năm 2013 và 2014
+ Nghiên cứu số lượng NST
+ Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng
+ Nghiên cứu đặc điểm hoa
2.3.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật ra ngôi cây hoa hiên vàng
cam (Hemerocallis fulva) in- vitro giai đoạn vườn ươm
- Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng và chất lượng cây
hoa hiên vàng cam (Hemerocallis fulva) in- vitro giai đoạn vườn ươm
- Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng và chất lượng
cây hoa hiên vàng cam (Hemerocallis fulva) in- vitro giai đoạn vườn ươm
Trang 26- Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ đến sinh trưởng và chất lượng cây
hoa hiên vàng cam (Hemerocallis fulva) in- vitro giai đoạn vườn ươm
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Bố trí thí nghiệm
- Thí nghiệm về đánh giá đặc điểm nông sinh học được bố trí theo
phương pháp tuần tự không nhắc lại Các chỉ tiêu theo dõi được thực hiện trên tất
cả các cây Cây là cây gieo từ hạt được trồng trên đất có thành phần cơ giới nhẹ,
tơi xốp, nhiều mùn, thoát nước tốt nhưng có khả năng giữ ẩm… Lên luống
1mx2m Khoảng cách trồng: hàng cách hàng 30 x 30 cm, cây cách cây 30 x 30
cm Bón thúc NPK định kỳ 30 ngày/lần, bón cách gốc khoảng 10 cm, với liều
lượng cho 1 lần bón là 7,2kg/sào Phun phân bón lá Pomior (dùng 30ml/bình 16
lít) 33 ml/sào định kì 7 ngày/lần Thường xuyên vặt lá khô, lá sâu bệnh, làm cỏ,
tưới nước cho cây
- Thí nghiệm về kỹ thuật được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB)
gồm 3 công thức, 3 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc lại 30 cây ( tổng số cây/ công thức
là 90 cây), theo dõi 10cây/ 1 lần nhắc lại Cây in- vitro được lấy là cây không
nhiễm sâu bệnh, đúng giống Chiều cao 5-7cm, có 3- 4 lá Xử lý cây in-vitro với
dung dịch thuốc trừ nấm Daconil 75WP 20g/10l trong 10 phút, rồi để ráo trong
10 phút Trồng cây trong thùng xốp được lót nilon đen và đục lỗ thoát nước, độ
dày giá thể 20 cm Khoảng cách trồng: cây cách cây 7 cm x 7 cm Độ ẩm giá thể
và không khí trong 2-5 ngày đầu được duy trì ở mức cao 85-90%, sau đó giảm
dần còn khoảng 75-80% Khi cây bén rễ bắt đầu phun phân bón lá pomior (dùng
30ml/bình 16 lít) 33 ml/sào, định kỳ 7 ngày/lần
2.4.1.1 Thí nghiệm 1: Đánh giá đăc điểm nông sinh học của tổ hợp lai hoa hiên
tạo ra năm 2013 (18 cây)
2.4.1.2 Thí nghiệm 2: Đánh giá đăc điểm nông sinh học của tổ hợp lai hoa hiên
tạo ra năm 2014 (153 cây)
2.4.1.3 Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng và chất
lượng cây hoa hiên vàng cam (Hemerocallis fulva) in- vitro
- Thí nghiệm gồm 3 công thức:
Trang 27+ Công thức 1: Đất + trấu hun (1:1)
+ Công thức 2: Đất + cát + trấu hun (1:1:1)
+ Công thức 3 (Đối chứng): Đất + cát + trấu hun + sơ dừa (1:1:1:1)
- Các tỉ lệ phối trộn của giá thể được thực hiện theo thể tích Trồng vào tháng 3
2.4.1.4 Thí nghiệm 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng và
chất lượng cây hoa hiên vàng cam (Hemerocallis fulva) in- vitro
- Thí nghiệm gồm 3 công thức:
+ Công thức 1( Đối chứng): phun nước lã
+ Công thức 2: Đầu trâu
+ Công thức 3: Pomior
- Giá thể trồng cây gồm đất : trấu hun (phối trộn theo tỷ lệ thể tích 1:1) Trồng vào tháng 3
2.4.1.5 Thí nghiệm 5: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ đến sinh trưởng và
chất lượng cây hoa hiên vàng cam (Hemerocallis fulva) in- vitro
- Thí nghiệm gồm 3 công thức:
+ Công thức 1: Trồng tháng 02/2015
+ Công thức 2: Trồng tháng 03/2015
+ Công thức 3: Trồng tháng 04/2015
- Giá thể trồng cây gồm đất : trấu hun (phối trộn theo tỷ lệ thể tích 1:1)
2.4.2 Xác định số lượng nhiễm sắc thế trong tế bào chóp rễ
Xác định số lượng nhiễm sắc thể trong tế bào chóp rễ theo phương pháp Squash (Tashiro, 1980) gồm 3 bước cụ thể như sau:
- Bước 1: cố định nhiễm sắc thể
Lấy chóp rễ của cây vào buổi sáng, từ 7 đến 8 giờ, rửa sạch, cắt đầu chóp
rễ dài 1cm, sau đó xử lý bằng dung dịch colchicine 0.05% trong 3 giờ để cố định nhiễm sắc thể soma Mẫu chóp rễ sau xử lý được bảo quản trong dung dịch Carnoy (1axit acetic : 3 ethanol 95%, v/v) ở 4°c trong 24 giờ
- Bước 2: nhuộm nhiễm sắc thể
Trang 28Thủy phân nhiễm sắc thể trong dung dịch HCL 1N ở 600C trong 10 phút Chóp rễ thủy phân được nhuộm trong dung dịch Feulgen (0.5% Fuchsin gốc)
- Bước 3 Quan sát và đếm nhiễm sắc thể
Tán đều tế bào chóp rễ đã xử lý trong dung dịch acetocamine 45% trên lam kính, soi dưới kính hiển vi ở các vật kính 10, 40, 100 Chụp ảnh, vật kính
100 Đếm số lượng nhiễm sắc thể trong mỗi tế bào
2.4.4 Các chỉ tiêu theo dõi
2.4.3.1 Xác định số lượng nhiễm sắc thể
- Đếm số lượng NST (2n) trong tế bào chóp rễ, quan sát ở vật kính 100, chụp ảnh bằng máy ảnh canon A810
2.4.3.2 Các chỉ tiêu về sinh trưởng
- Chiều cao cây (cm): đo từ phần sát mặt đất đến mút lá cao nhất Giai đoạn ra hoa đo từ gốc đến đỉnh của ngồng hoa 30 ngày đo 1 lần
- Số lá/thân: Đếm toàn bộ số lá trên thân theo dõi, 30 ngày đếm 1 lần
- Kích thước lá (cm): dài lá (bắt đầu theo dõi khi lá mới nhú được 3 cm), rộng lá (phần rộng nhất của lá) 30 ngày đo 1 lần
- Đặc điểm màu sắc lá: so sánh theo bảng màu RHS ( Royal Horticulture Socicty) chuẩn tại các lá đã ổn định sinh trưởng, 1 tuần/lần
2.4.3.3 Các chỉ tiêu về hoa
- Thời gian xuất hiện ngồng (ngày/ tháng): Khi toàn bộ lá bắc nhú ra khỏi nách lá
- Thời gian nở hoa: tính từ khi bông hoa đầu tiên nở (ngày)
- Thời gian tàn hoa: tính khi bông hoa cuối cùng tàn (ngày)
- Chiều cao ngồng hoa (cm): Dùng thước thẳng đo từ gốc ngồng đến gốc bao hoa
- Đường kính ngồng hoa (cm): Dùng palme đo cách gốc 5cm, đo 2 lần vuông góc với nhau, đo khi hoa bắt đầu tàn
- Số hoa/ngồng: Đếm số hoa/ngồng
- Màu sắc hoa: Quan sát bằng mắt và so sánh bằng bảng so màu RHS
Trang 29- Đường kính hoa (cm): Đo khi hoa đã nở hoàn toàn Dùng thước thẳng
đo khoảng cách giữa 2 đầu đối diện nhau, đo 2 lần vuông góc
- Chiều cao hoa (cm): Đo khi hoa đã nở hoàn toàn Đo từ gốc cánh hoa, đến mặt phẳng cánh hoa
- Dạng hoa: theo mô tả của Ted L Petit and Dorothy J Callaway (2008)
- Kích thước cánh hoa: Đo khi hoa nở hoàn toàn
+ Dài cánh hoa (cm): Đo từ gốc cánh hoa đến đầu cánh
+ Rộng cánh hoa (cm): Đo tại vị trí rộng nhất của cánh
- Chiều dài chỉ nhị (cm): Đo khi hoa đã nở hoàn toàn, đo từ gốc chỉ nhị đến đầu bao phấn, đo hết các chỉ nhị trên hoa
- Chiều dài vòi nhụy (cm): Đo khi hoa đã nở hoàn toàn, đo từ gốc vòi nhụy đến đầu nhụy
- Chiều dài bao phấn khi chưa nứt (cm): Dùng thước thẳng đo các bao phấn khi chưa nứt Đo tất cả các bao phấn trên hoa
2.4.3.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu trong các thí nghiệm ra ngôi cây in- vitro
- Thời gian từ trồng đến xuất vườn (ngày)
- Chiều cao cây (cm): đo từ phần sát mặt đất đến mút lá cao nhất 7 ngày đo
Trang 30Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đặc điểm nông sinh học của các tổ hợp lai hoa hiên
3.1.1 Số lượng nhiễm sắc thể của các tổ hợp lai hoa hiên
Bộ nhiễm sắc thể là nơi lưu trữ thông tin di truyền đóng vai trò rất quan trọng trong di truyền của các loài, là một trong yếu tố quyết định cho sự tiến hóa hay suy thoái của giống nòi Trong các tế bào bình thường mỗi NST gồm 2 nhiễm sắc tử (chromatid), còn trong các giao tử NST đơn bội ở dạng một nhiễm
sắc tử Mỗi loài bình thường có bộ NST lưỡng bội (2n) đặc trưng về số lượng,
hình thái, cấu trúc và ổn định tương đối qua các thế hệ Theo quy luật chung, mỗi một cá thể cùng một loài có số lượng NST đặc trưng cho loài đó Xác định số lượng NST là cơ sở ban đầu để phân loại loài, xác định vật liệu khởi đầu cho
công tác lai tạo giống Tiến hành xác định số lượng NST của các tổ hợp lai hoa
hiên chúng tôi thu được kết quả thể hiện trên bảng 3.1 và hình 3.1
Bảng 3.1 Số lượng nhiễm sắc thể trong tế bào chóp rễ của các tổ hợp lai hoa
Trang 32KC 16 (2n = 22) KC 17 (2n = 22) KC 18 (2n = 22)
KC 19 (2n = 22) KC 20 (2n = 22)
Hình 3.1 Hình ảnh số lượng nhiễm sắc thể trong tế bào chóp rễ của các tổ
hợp lai hoa hiên năm 2013 và 2014 Qua bảng 3.1 và hình 3.1 chúng tôi nhận thấy:
Trên các THL hoa Hiên 2013 và 2014 chúng tôi thu được 19/20 THL
nhị bội với số lượng NST 2n=22 (chiếm tỉ lệ 95%), 1/20 THL tam bội với bộ NST 2n=33 (chiếm tỉ lệ 5%) Kết quả cho thấy, hầu hết con lai có bộ NST 2n=22 là số lượng NST đặc trưng của chi Hemerocallis Riêng THL KC14 có
số lượng NST 2n=33 là kết quả của phép lai C30xC9, cả bố và mẹ trong phép lai đều có bộ NST nhị bội (2n=22), do đó thể tam bội có thể hình thành do
quá trình giảm phân của tế bào trứng đã không diễn ra Theo Arisumi (1973) thì việc lai tạo cây con tam bội từ bố mẹ tứ bội và nhị bội rất thấp Trong 1607
con lai thì chỉ có 29 cây con có NST tam bội 2n = 33, chiếm tỷ lệ 1,8% Kết
quả nghiên cứu của chúng tôihoàn toàn trùng hợp, số lương cây tam bội là 2/
171 cây lai, chiếm 1,2%
Số lượng NST là đặc trương cho loài, tương đối ổn định qua các thế hệ, tuy nhiên do có sự phân chia và tái tổ hợp trong quá trình phân bào đã tạo nên nguồn biến dị tổ hợp vô cùng phong phú Ngoài ra, các thể đa bội hình thành
tự nhiên qua quá trình phân bào là cơ chế phổ biến hình thành loài mới Xác định được số lượng NST của con lai kết hợp với công tác đánh giá, chọn lọc các THL ưu tú để chọn được các giống mới phục vụ nhu cầu sản xuất
Trang 333.1.2 Một số đặc điểm sinh trưởng của các tổ hợp lai hoa hiên
3.1.2.1 Một số đặc điểm sinh trưởng của các tổ hợp lai hoa hiên
Các đặc điểm như chiều cao cây, màu sắc lá, số lá, kích thước lá ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây thông qua khả năng quang hợp Khi cây quang hợp tốt thì thân lá phát triển mạnh do được cung cấp nhiều dinh dưỡng, số lượng và chất lượng hoa cũng tốt hơn Mặt khác những chỉ tiêu này giúp các nhà chọn giống cũng như người sản xuất phân biệt giữa tổ hợp lai này với tổ hợp lai kia, nhận biết các tổ hợp lai mang tính trạng mong muốn và là cơ sở cho việc chọn lọc, lai tạo giống mới
Tiến hành theo dõi đặc điểm chiều cao cây, màu sắc lá, số lá của các tổ hợp lai hoa hiên, chúng tôi thu được kết quả thể hiện trong bảng 3.2
Bảng 3.2 Màu sắc, kích thước lá của một số tổ hợp lai hoa hiên năm
2013 và 2014 Thời
Trang 34Qua bảng 3.2 chúng tôi nhận thấy:
Hầu như tất cả các THL có màu sắc lá là màu xanh đậm, riêng màu sắc lá của THL KC1 và KC16 có màu xanh nhạt hơn
Cùng với chiều cao cây, kích thước lá của các THL cũng có sự khác biệt Kích thước lá trung bình lớn nhất ở THL KC1 (dài 71,8cm- rộng 2.5cm) và THL KC13 có giá trị thấp nhất (dài 28,5cm và rộng 0,9cm) Thời gian tồn tại của lá cũng nói lên khả năng quang hợp của cây Tuổi thọ của lá dài sẽ kéo dài thời gian quang hợp, tích lũy được nhiều dinh dưỡng nuôi cây Nhìn chung thời gian tồn tại của lá của các THL trung bình từ 3-4 tháng
3.1.2.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp lai hoa hiên
Theo dõi các đặc điểm nông sinh học như chiều cao, số lá,… đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá các tổ hợp lai nhằm đánh giá sự phân ly các tính trạng của bố mẹ ở con lai Những chỉ tiêu này giúp các nhà chọn giống cũng như người sản xuất phân biệt giữa tổ hợp lai này với tổ hợp lai kia, nhận biết các tổ hợp lai mang tính trạng mong muốn và là cơ sở cho việc chọn lọc, lai tạo giống mới Đánh giá sự biến động chiều cao cây của từng con lai tạo ra chúng tôi thu được kết quả thể hiện trong bảng 3.3a, 3.3b và hình 3.2a, 3.2b
Trang 35Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 30
Bảng 3.3a Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp lai hoa hiên năm 2013
Đơn vị: cm STT THL Tháng 10 Tháng 11 Tháng 12 Tháng 01 Tháng 02 Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5 Tháng 6 Tháng 7
Hình 3.2a Động thái tang trưởng chiều cao cây của các tổ hợp lai hoa hiên năm 2013