ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN VIẾT HOÀNG NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KĨ THUẬT CANH TÁC ĐẾN SINH TRƯỞNG NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA GIỐNG SẮN MỚI K
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VIẾT HOÀNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN
PHÁP KĨ THUẬT CANH TÁC ĐẾN SINH TRƯỞNG
NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA GIỐNG SẮN
MỚI KM21-12 TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
THÁI NGUYÊN
NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 60.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Viết Hưng
THÁI NGUYÊN, 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan tất cả các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Mọi trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc
Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ luận văn, trước phòng quản lý sau đại học và nhà trường về các thông tin, số liệu trong đề tài
Tác giả luận văn
Nguyễn Viết Hoàng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ nông nghiệp của mình, tôi đã nhận được
sự quan tâm của nhiều tập thể và cá nhân Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn ban Giám hiệu, thầy giáo, cô giáo khoa Nông học, thầy cô giáo khoa sau Đại học, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS
Nguyễn Viết Hưng, khoa Nông học, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi vượt qua khó khăn để hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi cũng chân thành cảm ơn bạn bè và gia đình đã luôn động viên giúp
đỡ tôi về tinh thần và vật chất trong quá trình học tập và thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình
Do còn hạn chế về trình độ lý luận và kinh nghiệm thực tế nên không tránh khỏi thiếu sót, tôi rất mong được sự giúp đỡ, góp ý kiến bổ sung của các thầy cô để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 9 năm 2016
Học viên
Nguyễn Viết Hoàng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Yêu cầu của nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới 4
1.2 Tình hình sản xuất sắn các châu lục trên thế giới 5
Toàn thế giới 5
1.3 Tình hình sản xuất sắn ở Việt Nam 7
1.4 Tình hình sản xuất sắn của một số vùng ở Việt Nam 8
1.5 Tình hình sản xuất sắn tại tỉnh Thái Nguyên 9
1.6 Tình hình nghiên cứu về một số biện pháp kỹ thuật thâm canh sắn ở trên thế giới và trong nước 9
1.6.1 Tình hình nghiên cứu dinh dưỡng và kỹ thuật bón phân cho sắn 9
1.6.2 Tình hình nghiên cứu mật độ và khoảng cách trồng sắn trên thế giới và trong nước 14
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Đối tượng nghiên cứu 17
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 17
2.3.Nội dung nghiên cứu 17
2.4 Phương pháp nghiên cứu 17
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 17
Trang 52.4.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 19 2.5 Phương pháp xử lý số liệu 20 CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21 3.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến sinh trưởng năng suất
và chất lượng giống sắn mới KM21-12 21 3.1.1 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến sinh trưởng của giống sắn mới
KM21-12 21 3.1.2 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất năng suất
và chất lượng của giống sắn mới KM21-12 28 3.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của giống sắn mới KM21-12 41 3.2.1 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng của giống sắn mới KM21-12 41 3.2.2 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và chất lượng của giống sắn mới KM21-12 47 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57 1.Kết luận 57 1.1 Thí nghiệm xác định tổ hợp phân bón thích hợp cho giống sắn mới KM21-12 57 1.2 Thí nghiệm xác định mật độ trồng thích hợp cho giống sắn mới KM21-12 57
2 Đề nghị 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 6
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BNN&PTNT : Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn
CIAT : Trung tâm Quốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới
ĐHNLTN : Đại học Nông lâm Thái Nguyên
NSSVH : Năng suất sinh vật học
MARD : Cổng thông tin điện tử Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới từ năm 2009 – 2014 4 Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của các châu trên thế giới năm 2014 5 Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng sắn ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2005
đến 2014 7 Bảng 1.4 Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của các vùng trong cả nước năm 2014 8 Bảng 1.5 Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn
từ năm 2008- 2014 9 1.6.2 Tình hình nghiên cứu mật độ và khoảng cách trồng sắn trên thế giới và
trong nước 14 Bảng 3.1 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của giống sắn mới KM21-12 tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên 22 Bảng 3.2 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến tốc độ ra lá của giống sắn mới KM21-12 tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên 23 Bảng 3.3 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến tuổi thọ lá của giống sắn mới KM21-12 tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên 24 Bảng 3.4 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến đặc điểm nông sinh học của giống sắn mới KM21-12 tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên 26 Bảng 3.5 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống sắn mới KM21-12 tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên 28 Bảng 3.6 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến năng suất của giống sắn mới KM21-12 tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên 30 Bảng 3.7: Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến chất lượng của giống sắn mới KM21-12 tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên 35 Bảng 3.8 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến hiệu quả kinh tế của giống sắn mới KM21-
12 tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên 40 Bảng 3.9 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của giống sắn mới KM21-12 tại Trường Đại học Nông lâmThái Nguyên 42 Bảng 3.10 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tốc độ ra lá của giống sắn mới KM21-12 tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên 43
Trang 8Bảng 3.11 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tuổi thọ lá của giống sắn mới KM21-12 tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên 44 Bảng 3.12 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến đặc điểm nông sinh học của giống sắn mới KM21-12 tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên 45 Bảng 3.13 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống sắn mới KM21-12 47 tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên 47 Bảng 3.14 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất của giống sắn mới KM21-12 tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên 48 Bảng 3.15: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến chất lượng của giống sắn mới KM21-12 tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên 51 Bảng 3.16 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến hiệu quả kinh tế của giống sắn mới KM21-12 tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên 55
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Biểu đồ ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến năng suất củ tươi của giống sắn mới KM21-12 32 Hình 3.2: Biểu đồ ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến tỷ lệ chất khô của giống sắn mới KM21-12 36 Hình 3.3: Biểu đồ ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến tỷ lệ tinh bột
của giống sắn mới KM21-12 38 Hình 3.4: Biểu đồ ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến năng suất tinh bột 39 Hình 3.5: Biều đồ hoạch toán kinh tế ở các tổ hợp phân bón của
giống sắn mới KM21-12 41 Hình 3.6: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất củ tươi của giống sắn mới KM21-12 49 Hình 3.7: Biểu đồ ảnh hưởng của mật độ trồng đến tỷ lệ chất khô
của giống sắn mới KM21-12 52 Hình 3.8: Biểu đồ ảnh hưởng của mật độ trồng đến tỷ lệ tinh bột
của giống sắn mới KM21-12 54 Hình 3.9: Biểu đồ ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất tinh bột
của giống sắn mới KM21-12 55 Hình 3.10: Biều đồ hoạch toán kinh tế ở các mật độ của
giống sắn mới KM21-12 56
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây sắn (Manihot esculenta crants) là một trong những cây lương thực
dễ trồng, có khả năng thích ứng rộng, và trồng được trên những vùng đất nghèo, không yêu cầu cao về điều kiện sinh thái, phân bón, chăm sóc Sắn được trồng rộng rãi ở 300 Bắc đến 300 Nam và được trồng ở trên 100 nước nhiệt đới thuộc ba châu lục lớn là châu Phi, châu Mỹ và châu Á
Trên thế giới sắn là cây lương thực, thực phẩm chính của hơn 500 triệu người đồng thời là cây thức ăn gia súc và cũng là cây hàng hóa có giá trị xuất khẩu cao
Sắn là cây lương thực rất quan trọng bởi có giá trị lớn trên nhiều mặt: Sắn là nguồn lương thực đáng kể cho con người, hiện nay nhiều nước trên thế giới đã sử dụng sắn và các sản phẩm chế biến từ sắn làm nguồn lương thực chính, nhất là các nước của châu Phi Tinh bột sắn còn là một thành phần quan trọng trong chế độ ăn của hơn một tỷ người trên thế giới Sắn cũng là thức ăn cho gia súc, gia cầm quan trọng tại nhiều nước trên thế giới, ngoài ra sắn còn là hàng hóa xuất khẩu có giá trị để làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến bột ngọt, bánh kẹo, mì ăn liền, ván ép, bao bì, màng phủ sinh học và phụ gia dược phẩm… Đặc biệt trong thời gian tới việc nghiên cứu phát triển sản xuất và sử dụng nhiên liệu sinh học đang được các quốc gia trên thế giới quan tâm bởi các lợi ích của loại nhiên liệu này đem lại mà cây sắn là nguyên liệu chính cho công nghiệp chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol) Việc nghiên cứu phát triển các giống sắn mới có năng suất tinh bột cao và kỹ thuật canh tác sắn theo hướng sử dụng đất nghèo dinh dưỡng, đất khó khăn và phù hợp với vùng sinh thái là việc làm có hiệu quả vì nó góp phần chuyển một phần đất trồng sắn sang canh tác những cây trồng khác mà vẫn không làm giảm sản lượng sắn
Trang 11Giống sắn mới KM21-12 do Trung tâm Nghiên cứu và phát triển cây
có củ (Viện CLT&CTP) chọn tạo từ nguồn giống nhập nội của Trung tâm Quốc tế nông nghiệp nhiệt đới (CIAT) Giống sắn KM21-12 là con lai được chọn lọc từ tổ hợp lai SM2354, dòng SM2354-4 có mẹ là CM805-15 (polycross) có nguồn gốc từ CIAT/Colombia (GY94.35 Z01), được nhập nội bằng hạt lai vào Việt Nam từ năm 1996 KM21-12 đã được Cục Trồng trọt –
Bộ Nông nghiệp và PTNT đặc cách công nhận giống cây trồng mới theo Quyết định 168/QĐ-TT-CLT, ngày 14 tháng 5 năm 2012 Năng suất củ tươi của KM21-12 cao hơn KM94 từ 10-15% (3-5 tấn/ha) ở hầu hết các điểm nghiên cứu; trên đất nghèo dinh dưỡng năng suất củ tươi đạt từ 30 tấn/ha đến
37 tấn/ha Giống sắn KM21-12 có tỷ lệ tinh bột 28,0% và tỷ lệ chất khô 39,0% tương đương với KM94 Giống có ưu điểm: Thích hợp trên đất kém màu mỡ, năng suất khá, dùng để chế biến tinh bột và thái lát phơi khô để làm nguyên liệu cho sản xuất cồn sinh học và thức ăn chăn nuôi
Tuy vậy, năng suất sắn KM21-12 tại nhiều địa phương ở Việt Nam cũng như ở tỉnh Thái Nguyên còn thấp Đó là do người nông dân thường quan niệm sắn là cây dễ trồng, thích ứng rộng, ít sâu bệnh, chịu đất chua, nghèo dinh dưỡng và không đòi hỏi kỹ thuật phức tạp nên chưa chú ý đầu tư thâm canh và chọn giống phù hợp với điều kiện sinh thái Để phục vụ cho chiến lược phát triển bền vững ở tỉnh Thái Nguyên, việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thâm canh (mật độ, thời vụ, phân bón) cho giống sắn KM21-12 nhằm nâng cao năng, suất chất lượng của giống sắn KM21-12 là vấn đề rất cần thiết Từ những
lý do trên nên việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện
pháp kĩ thuật canh tác đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của giống sắn mới KM21-12 tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên” là hết sức cần
thiết trong giai đoạn hiện nay
Trang 122 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được biện pháp kỹ thuật canh tác (mật độ trồng, tổ hợp phân bón) hợp lý đối với giống sắn mới KM21-12 nhằm nâng cao năng suất và chất lượng giống sắn mới KM21-12 góp phần tăng hiệu quả kinh tế cho người dân
3 Yêu cầu của nghiên cứu
- Xác định được mật độ trồng hợp lý cho giống sắn mới KM21-12 nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cho người sản xuất
- Xác định được tổ hợp phân bón thích hợp cho giống sắn mới KM21-12 nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cho người sản xuất
4 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Giúp học viên củng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, áp dụng vào thực tế tạo điều kiện cho học viên chau dồi thêm kiến thức cũng như kinh nghiệm trong sản xuất
- Trên cơ sở học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn đã giúp cho học viên nâng cao được chuyên môn, có phương pháp và tổ chức tiến hành nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
4.2 Ý nghĩa trong sản xuất
Là cơ sở khuyến cáo kĩ thuật cho nông dân lựa chọn được tổ hợp phân bón và mật độ trồng phù hợp cho giống sắn KM21-12 nhằm đạt được năng suất cao, chất lượng tốt để đưa vào áp dụng trong sản xuất đại trà nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất của tỉnh Thái nguyên nói riêng và các tỉnh trung du miền núi phía Bắc nói chung
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới
Qua bảng 1.1 cho ta thấy:
Trong giai đoạn 2009 – 2014 diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới đều có xu hướng tăng Năm 2009 diện tích trồng sắn trên thế giới đạt 19,378 triệu ha, đến năm 2014 diện tích trồng sắn đạt 23,867 triệu ha, tăng 4,489 triệu ha Năng suất sắn năm 2009 đạt 12,135 tấn/ha Sản lượng sắn năm 2009 là 235,141 triệu tấn, đến năm 2014 đạt 268,278 tăng 33,137 triệu tấn so với năm 2009
Trang 141.2 Tình hình sản xuất sắn các châu lục trên thế giới
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của các châu
trên thế giới năm 2014 Vùng trồng Diện tích
Qua bảng số liệu cho ta thấy:
Châu Phi đứng đầu thế giới về diện tích trồng sắn lên tới 17,524 triệu
ha trong khi toàn thế giới 24,222 triệu ha Sắn là nguồn lương thực chính của nhiều nước thuộc Châu lục này Một số nước trồng nhiều sắn ở Châu Phi như: Nigeria (54,832 triệu tấn), Cộng hòa Congo (16,609 triệu tấn), Ghana (16,524 triệu tấn)
Châu Á cùng với Châu Phi và Châu Mỹ là một trong ba vùng sắn quan trọng của thế giới Diện tích sắn Châu Á hiện là 4,134 triệu ha, sản lượng đạt 90,372 triệu tấn đứng thứ hai sau Châu Phi, năng suất sắn ở Châu Á hiện đạt
Trang 15bình quân 21,859 tấn/ha cao hơn Châu Phi 13,480 tấn/ha Nước có diện tích trồng sắn lớn nhất Châu Á là Thái Lan với diện tích 1,349 triệu ha và có sản lượng cao nhất đạt 30,022 triệu tấn
Tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em của Châu Phi cao nhất trên thế giới nên cây sắn được coi là giải pháp an toàn lương thực hàng đầu, Sắn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu lương thực ở Châu Phi, bình quân khoảng 96kg/người/năm Zaire là nước sử dụng sắn nhiều nhất với 391kg/người/năm (hoặc 1123calori/ngày)
Viện nghiên cứu chính sách lương thực thế giới (IFPRI), đã tính toán nhiều mặt và dự báo tình hình sản xuất sắn toàn cầu với tầm nhìn đến năm
2020 Năm 2020 sản lượng sắn toàn cầu ước đạt 275,10 triệu tấn, trong đó sản xuất sắn ở các nước đang phát triển là 274,7 triệu tấn, các nước đã phát triển khoảng 0,40 triệu tấn Mức tiêu thụ sắn ở các nước đang phát triển dự báo đạt 254,60 triệu tấn so với các nước đã phát triển là 20,5 triệu tấn Châu phi vẫn
là khu vực dẫn đầu sản lượng sắn toàn cầu với dự báo sản lượng năm 2020 đạt 168,6 triệu tấn Trong đó, khối lượng sản phẩm sử dụng làm lương thực thực phẩm là 77,2%, làm thức ăn gia súc là 4,4% Châu Mỹ La Tinh giai đoạn 1993-2020, ước tính tốc độ tiêu thụ sản phẩm sắn tăng hàng năm là 1,3 %, so với châu Phi là 2,44% và châu Á là 0,84 – 0,96% Cây sắn tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong nhiều nước ở Châu Á, đặc biệt là các nước vùng Đông Nam
Á nơi cây sắn có tổng diện tích đứng thứ ba sau lúa và ngô và tổng sản lượng đứng thứ ba sau lúa và mía Chiều hướng sản xuất sắn phụ thuộc vào khả năng cạnh tranh cây trồng Giải pháp chính là tăng năng suất sắn bằng cách áp dụng giống mới và các biện pháp kỹ thuật tiến bộ
Trang 161.3 Tình hình sản xuất sắn ở Việt Nam
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng sắn ở Việt Nam giai đoạn
Qua bảng số liệu 1.3 cho ta thấy diện tích trồng sắn của Việt Nam năm
2005 là 425,50 nghìn ha, đến năm 2014 đạt 551,10 tăng 125,6 nghìn ha Năm
2005 năng suất sắn của Việt Nam là 15,87 tấn/ha, đến năm 2014 đạt 18,55 tấn/ha tăng 2,66 tấn/ha Về sản lượng sắn của Việt Nam thì năm 2005 sản lượng sắn chỉ đạt 6,72 triệu tấn, nhưng đến năm 2014 sản lượng sắn đã tăng lên 10,21 triệu tấn tăng 3,51 triệu tấn
Ở Việt Nam, sắn là một trong bốn cây trồng có vai trò quan trọng trong chiến lược an toàn lương thực quốc gia sau lúa và ngô (Phạm Văn Biên, 1998) [1]
Từ lâu, cây sắn đã trở thành cây có củ đứng hàng đầu về diện tích và sản lượng so với cây có củ ở nước ta và trở thành cây công nghiệp hàng hóa xuất khẩu và làm thức ăn cho gia súc có giá trị kinh tế cao trong xu thế hội nhập khu vực và thế giới
Trang 171.4 Tình hình sản xuất sắn của một số vùng ở Việt Nam
Bảng 1.4 Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của các vùng trong cả
nước năm 2014
(Nghìn ha)
Năng suất (Tạ/ha)
Sản lượng (Nghìn tấn)
Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 170,10 180,30 3.103,40
Nguồn ( Mard, 2016) [12]
Qua bảng số liệu 1.4 cho ta thấy:
Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung là vùng có tổng diện tích trồng sắn cao nhất cả nước đạt 170,10 nghìn ha, tiếp đến là Tây Nguyên với 152,20 nghìn ha Tây Nguyên phần lớn dân số còn gặp nhiều khó khăn, điều kiện canh tác còn nhiều lạc hậu do vậy sắn là cây lương thực giúp xóa đói giảm nghèo Các tỉnh trồng sắn phía Nam tăng nhanh về cả diện tích và sản lượng sắn
Tuy diện tích trồng sắn ở vùng Đông Nam Bộ chỉ đứng thứ tư ở các vùng trong cả nước nhưng năng suất sắn lại cao nhất đạt 277,90 tạ/ha, cao hơn năng suất sắn trung bình của cả nước 92,40 tạ/ha
Sản lượng sắn của vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung cao nhất đạt 3.103,40 nghìn tấn, Đồng Bằng sông Hồng có sản lượng sắn thấp nhất chỉ đạt 99,20 nghìn tấn
Trang 181.5 Tình hình sản xuất sắn tại tỉnh Thái Nguyên
Bảng 1.5 Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của tỉnh Thái Nguyên
giai đoạn từ năm 2008- 2014
Năm Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
lệ tinh bột cao Năng suất sắn năm 2008 là 10,60 tấn/ha đến năm 2014 đã tăng lên 14,76 tấn/ha, tăng 4,16 tấn/ha so với năm 2008
1.6 Tình hình nghiên cứu về một số biện pháp kỹ thuật thâm canh sắn ở trên thế giới và trong nước
1.6.1 Tình hình nghiên cứu dinh dưỡng và kỹ thuật bón phân cho sắn
Trang 191.6.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới:
Theo tác giả Howeler và cộng sự, (1997) cho rằng sắn được trồng trên đất giầu dinh dưỡng hoặc được bón đầy đủ và hợp lý các loại phân
vô cơ, hữu cơ thì sức sinh trưởng tốt dẫn đến năng suất củ, năng suất sinh học, tỷ lệ tinh bột đạt cao Nếu sắn trồng trên đất nghèo dinh dưỡng có sức sinh trưởng yếu, năng suất củ, năng suất sinh học và tỷ lệ tinh bột trong củ thấp; bón quá nhiều phân đặc biệt là đạm đối với một số giống sắn có tốc độ sinh trưởng nhanh sẽ dẫn đến thân lá phát triển nhiều, năng suất sinh vật cao,
năng suất củ tươi giảm, chỉ số thu hoạch thấp Cũng theo tác giả Howeler,
(1997) nếu cung cấp P, K vượt mức giới hạn cho phép sẽ ức chế đến sự hấp phụ các chất dinh dưỡng khác như Fe và Zn hoặc Ca, Mg làm cho sắn sinh trưởng và phát triển kém, năng suất củ giảm Việc cung cấp dư thừa đạm dẫn đến cây sắn phát triển rất mạnh về thân lá, ẩm độ không khí của bộ lá cao, không bào lá lớn, lá non hơn dẫn đến cây sắn dễ bị sâu bệnh phá hoại Bón phân dư thừa sẽ làm tăng giá thành sản xuất và đôi khi làm giảm năng suất dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp Chính vì vậy duy trì việc cung cấp dinh
dưỡng cân đối cho cây sắn là rất cần thiết để đạt năng suất cao [20]
Tác giả Duangpatra (1987), cho biết đạm là nguyên tố rất cần thiết đối với sinh trưởng và phát triển của cây sắn Cây sắn hấp thu một lượng N rất lớn từ đất, nên bón đạm làm tăng số lá trên thân, số đốt, số rễ củ và năng suất củ Tuy nhiên, theo các tác giả khác thì bón đạm làm giảm tỷ lệ tinh bột chứa trong củ Ở các thí nghiệm dài hạn và ngắn hạn cho thấy sắn phản ứng với đạm rất mạnh, nhất là trên các loại đất nghèo dinh dưỡng Phản ứng của sắn đối với các liều lượng N khác nhau đã thể hiện rõ ngay từ năm thí nghiệm đầu tiên Ngoài ra có mối quan hệ khá rõ giữa lượng N bón vào đất
Trang 20và hàm lượng N chứa trong thân lá sắn Hàm lượng N trong thân lá tăng khi mức bón đạm tăng.[18]
Tác giả Kanapaty, (1974) cho rằng để đạt được mức năng suất củ tươi
20 tấn/ha thì cây sắn đã hấp thu một lượng dinh dưỡng là: 87kgN + 37,0kgP2O5 + 177kgK2O + 35,1kgMgO [22]
Theo tác giả Howeler, (1999) nếu lúc thu hoạch người ta lấy toàn bộ sinh khối của sắn có trên đồng ruộng (củ tươi, các bộ phận thân lá) thì họ đã lấy đi hầu hết các chất hữu cơ do cây sắn hấp thụ được trong quá trình sinh trưởng
và phát triển bao gồm 75% N, 92%Ca, 76,% Mg Số liệu phân tích được cho thấy tổ hợp lân chứa trong củ lúc thu hoạch tương đương với lượng P ở bộ phận trên mặt đất (thân, lá) khi thu hoạch cộng với lượng P ở nhiều bộ phận lá
đã rụng (lá già) Riêng ở rễ và củ sắn thì tỷ lệ N, P, K bị lấy đi khi thu hoạch
là 2:1:4 Song tính chung cho tất cả các bộ phận ở dưới và trên mặt đất thì tỷ
lệ này là 3:1:3 [21]
Theo tác giả Sittibusaya (1984), Weite, (1996) từ những kết quả nghiên cứu hơn 100 thí nghiệm trên đồng ruộng của nông dân tại Thái Lan và Trung Quốc cho rằng cây sắn phản ứng mạnh với mức bón phân N từ 50 đến 200kgN/ha nhưng cũng có sự khác nhau tuỳ theo giống (giống SC205 phản ứng với mức bón 200kgN/ha còn giống SC201 ở mức 50kgN/ha) [27]
Tác giả Howeler, (1981) khi tập hợp nhiều kết quả nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng đối với cây sắn của các tác giả khác nhau trên thế giới đã đi đến kết luận: Để đạt năng suất 15 tấn củ tươi/ha, cây sắn lấy đi lượng dinh dưỡng trung bình là 74kgN, 16kgP2O5, 87kgK2O, 27kg Ca và 12kg Mg Nhiều công trình nghiên cứu về bón N, P, K đơn lẻ hoặc kết hợp, so sánh phản ứng của cây sắn đối với phân bón là tuỳ thuộc vào tình trạng dinh dưỡng ban đầu
Trang 21của đất, điều kiện sinh thái của vùng cũng như các loại phân và phương pháp bón khác nhau [19]
K là nguyên tố được cây sắn hấp phụ nhiều nhất và là nguyên tố hạn chế năng suất củ của cây sắn Theo tác giả Aiyer và cộng sự (1995) triệu chứng thiếu hụt K2O được đặc trưng bởi sự giảm tốc độ sinh trưởng của cây sắn và dễ dàng nhận thấy triệu chứng thiếu K2O xuất hiện ở phiến lá và cuống những lá già, thiếu K2O dẫn đến là những lá này bị rụng sớm Khi cung cấp quá nhiều K sẽ làm giảm sự hấp thu Mg và Ca [15] Theo các kết quả nghiên cứu khác tại Côlombia bón K2O làm tăng năng suất sắn từ 23,0 lên 43,7 tấn/ha và có sự tương quan thuận giữa năng suất và hàm lượng K2O chứa trong lá Kết quả nghiên cứu của Quinol và Amora (1987) cho thấy trên đất độc canh sắn, nếu hàng năm đều bón phân K2O đầy đủ thì năng suất sắn sẽ không bị giảm [26]
Theo kết quả nghiên cứu của Anneke M Fermont và cộng sự, (2005) ở Châu Phi cụ thể là ở Kenya, Uganda mức phân bón [100kgN + 22kgP2O5 + 80kgK2O]/ha là phù hợp để cho năng suất từ 14,4 -25,7 tấn/ha [16]
1.6.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam:
Tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu của tác giả Công Doãn Sắt và Hoàng Văn Tám cho thấy sắn được trồng chủ yếu trên các loại đất có độ phì thấp, quá trình canh tác không bón phân hoặc bón ít và chưa áp dụng đầy đủ các biện pháp bảo vệ đất trồng sắn Hàng năm cây sắn đã lấy đi một lượng dinh dưỡng khá lớn so với các cây trồng khác; mặt khác sắn trồng với mật độ thưa, diện tích che phủ thấp đã làm tăng quá trình rửa trôi, xói mòn đất, dẫn đến sự cạn kiệt và mất cân đối nguồn dinh dưỡng của cây, do vậy cần phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật bón phân để duy trì sản xuất sắn bền vững [9]
Trang 22Thái Phiên và Nguyễn Công Vinh (1998) chỉ ra rằng: Hậu quả của tập quán sản xuất độc canh sắn nhiều năm đã làm cho đất mất sức sản xuất Sự thoái hoá đất dẫn đến độ chua của đất tăng, hàm lượng mùn trong đất giảm kéo theo độ phì cũng như lý, hoá tính của đất bị suy giảm [8]
Theo tác giả Trần Công Khanh, Nguyễn Văn Long (1998) cho thấy bón phân NPK cân đối cho sắn có hiệu lực rõ rệt so với không bón phân hoặc bón mất cân đối, đồng thời ở các công thức bón cho 1 ha: 160kgN +80kgP2O5
+100kgK2O và 120kgN +80kgP205 +160Kg K2O đem lại hiệu quả cao nhất trên đất nâu đỏ ở Bình Long [6]
Theo tác giả Trần Công Khanh thì lượng phân bón thích hợp trồng sắn
ở vùng Đông Nam bộ và Tây Nguyên là: Trên vùng đất đỏ bón (80kgN + 40kg P2O5 + 80kg K2O)/ha; kết hợp với 5 - 10 tấn phân hữu cơ và trên các vùng đất khác bón (160 kgN+ 60 – 80 kg P2O5 + 120 – 160 kg P2O5)/ ha; kết hợp với 5 - 10 tấn phân hữu cơ hoặc phân xanh [5]
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thế Đặng (1997) bón phân khoáng hợp lý cho sắn có tác dụng tốt đến việc cải thiện các đặc tính lý - hoá của đất cũng như nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế sản xuất sắn [2]
Theo tác giả Thái Phiên và Nguyễn Công Vinh(1998) khi trồng sắn 3 năm liên tục trên cùng một diện tích đất ở miền Bắc Việt Nam thì năng suất sắn giảm xuống chỉ còn 10 tấn/ha nếu không bón phân, ngược lại năng suất sắn tăng lên đến 20tấn/ha khi cung cấp đầy đủ N; P;K và đặc biệt khi bón
K ở mức cao [8]
Theo tác giả Lê Hồng Lịch, Võ Thị Kim Oanh (2000) lượng phân khoáng bón cho đất trồng sắn tại Đắc Lắc (đất phiến thạch sét và đất bazan nâu đỏ) là 70kgN +50kgP2O5 +100kgK2O/ha năng suất sắn tăng và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất [7]
Trang 23Một số công trình nghiên cứu thực hiện tại miền Bắc Việt Nam trên đất
đỏ vàng của Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và một số địa điểm khác trên ruộng của nông dân cho thấy rõ phản ứng của cây sắn với N và K Trong các nguyên tố đa lượng thì K là yếu tố hạn chế năng suất sắn Thí nghiệm bón
N, P, K hàng năm trên đất đỏ vàng của Đại học Nông lâm Thái Nguyên chỉ ra rằng nếu bón N, K mà thiếu P thì năng suất sắn vẫn cao, nhưng khi bón N, P
mà không bón K thì năng suất sẽ giảm
Hàng năm cây sắn đã lấy đi một lượng dinh dưỡng khá lớn so với các cây trồng khác; mặt khác sắn trồng với mật độ thưa, diện tích che phủ thấp đã làm tăng quá trình rửa trôi, xói mòn đất, dẫn đến sự cạn kiệt và mất cân đối nguồn dinh dưỡng của cây, do vậy cần phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật bón phân để duy trì sản xuất sắn bền vững
Nhiều kết quả nghiên cứu của các tác giả khác nhau cho thấy bón phân hữu cơ làm giảm dung trọng đất, tăng độ xốp, điều hoà được chế độ nhiệt và
ẩm độ trong đất, dung tích hấp thụ của đất được cải thiện, nhờ đó khả năng trao đổi ion và khoáng chất của đất được tốt hơn Phân hữu cơ còn có tác
dụng chuyển lân từ dạng khó tiêu thành dạng dễ tiêu cho cây trồng
1.6.2 Tình hình nghiên cứu mật độ và khoảng cách trồng sắn trên thế giới
và trong nước
* Trên thế giới:
Theo tác giả Ociano (1980) cho biết rằng khoảng cách trồng sắn thích hợp nhất đối với giống sắn có mức độ phân cành ít, thân gọn là 75cm x 75 cm/cây (17.700 cây/ha) [25]
Theo tác giả Tongglum (1987) cho biết mật độ và khoảng cách trồng có
sự ảnh hưởng khác biệt lớn đến năng suất Khoảng cách mật độ trồng phụ thuộc vào giống: Giống Rayong 2 mật độ trồng thích hợp có thể thay đổi từ 7.000 - 27.000 cây/ha, còn giống Rayong 3 là 10.000-15.000cây/ha [28]
Trang 24Kết quả nghiên cứu của Weite (1987) cho rằng mật độ trồng sắn phụ thuộc vào loại đất và mùa vụ trồng Thường những đất có độ phì cao thì trồng sắn với mật độ thưa còn đối với đất có thành phần dinh dưỡng thấp thì trồng với mật độ dầy Mật độ trồng sắn còn liên quan đến đặc tính phân cành và sự sinh trưởng thân lá của từng giống: Giống phân cành nhiều, thân lá phát triển nhanh trồng với mật độ thưa và ngược lại [30]
Theo tác giả Villamayor, F.G.Jr (1983) Mật độ trồng sắn chịu ảnh hưởng bởi các đặc điểm về hình thái của giống Đối với những giống sắn ít phân nhánh có tán gọn thì năng suất ít bị ảnh hưởng bởi khoảng cách mật độ trồng Trái lại những giống phân cành nhiều thân lá phát triển mạnh trồng với mật độ cao năng suất sẽ giảm Mật độ trồng sắn thích hợp có thể thay đổi từ 13.00020.000 cây/ha [33]
* Ở Việt Nam:
Ở Việt Nam mật độ trồng sắn thích hợp với các giống sắn KM60, KM94 trồng vụ đầu mùa mưa trên đất đỏ ở Đông Nam Bộ là 10.000 cây/ha và trên đất xám là 11.080 cây/ha sẽ đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao (Nguyễn Hữu Hỷ, 2002) [4]
Theo Nguyễn Viết Hưng (2004) thì mật độ thích hợp cho giống sắn KM94 và KM98-7 được trồng ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam là 15.625 cây/ha và 12.500 cây/ha sẽ cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất [3]
Theo Bộ Nông nghiệp và PTNT (2010) tổng hợp từ nhiều kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học và đưa ra nguyên tắc chung cho trồng sắn là đất tốt trồng thưa, đất xấu trồng dày hơn Ở đất tốt khoảng cách 1,0m x 1,0m (tương ứng mật độ 10.000 hom/ha); Ở vùng đất xấu khoảng cách trồng là 1,0m x 0,7m (mật độ 14.000 hom/ha)
Trang 25Theo tác giả Trần Công Khanh thì mật độ trồng sắn thích hợp ở vùng Đông Nam bộ và Tây Nguyên là: Đối với đất tốt nên trồng với khoảng cách 1.0m x 1.0m, tương đương với 10.000 cây/ha, đất xấu trồng với khoảng cách 1m x 0.9m hoặc 1m x 0.8m (tương đương với 11.080 cây và 14.000 cây/ha) thì cây sắn sẽ cho năng suất cao [5]
Vậy qua phân tích trong từng điều kiện sinh thái, từng nơi mà trồng với mật độ trồng sắn thích hợp để đạt năng suất cao, chất lượng tốt
Trang 26CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Mật độ trồng của giống sắn mới KM21-12
- Tổ hợp phân bón của giống sắn mới KM21-12
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 3 năm 2015 đến tháng 01 năm 2016
- Địa điểm nghiên cứu: Thí nghiệm được bố trí tại Trung tâm thực hành thực nghiệm, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
2.3.Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng, năng suất
và chất lượng giống sắn mới KM21-12
- Nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của giống sắn mới KM21-12
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Các thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh với 3 lần nhắc lại
2.4.1.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến sinh
trưởng, năng suất và chất lượng giống sắn mới KM21-12
Công thức 1: Không xử dụng phân bón
Công thức 2: 45kg N: 30kg P2O5: 40kg K2O và 20 tấn phân hữu cơ Công thức 3: 90kg N: 40kg P2O5: 80kg K2O và 15 tấn phân hữu cơ Công thức 4: 135kg N: 60kg P2O5: 120kg K2O và 10 tấn phân hữu cơ Công thức 5: 135kg N: 80kg P2O5: 160kg K2O và 5 tấn phân hữu cơ Công thức 1 là công thức đối chứng Thí nghiệm trồng khoảng cách: 1,0m x 1,0m tương đương 10.000 cây/ha
Trang 27Thí nghiệm gồm 5 công thức tương ứng với 5 công thức phân bón khác nhau, mỗi công thức phân bón có 3 lần nhắc lại Mỗi ô 30 m2, tổng diện tích
450 m2 (không tính dải đất bảo vệ)
2.4.1.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh
trưởng, năng suất và chất lượng giống sắn mới KM21-12
Công thức 1: Trồng khoảng cách: 0,8m x 0,8m tương đương 15.625 cây/ha Công thức 2: Trồng khoảng cách:1,0m x 0,6m tương đương 16.667 cây/ha Công thức 3: Trồng khoảng cách: 1,0m x 0,8m tương đương 12.500 cây/ha Công thức 4: Trồng khoảng cách: 1,0m x 1,0m tương đương 10.000 cây/ha Công thức 5: Trồng khoảng cách: 1,0m x 1,2m tương đương 8.333 cây/ha
Công thức 4 là công thức đối chứng Thí nghiệm gồm 5 công thức tương ứng với 5 mật độ khác nhau, mỗi mật độ 3 lần nhắc lại Mỗi ô 30 m2, tổng diện tích
450 m2 (không tính dải đất bảo vệ)
Sơ đồ bố trí thí nghiệm:
Dải bảo vệ
Dải Bảo
Vệ
Dải Bảo
Trang 28- Phân bón
+ Lượng phân bón: 10 tấn phân hữu cơ + 60kg N + 40kg P2O5 + 80kg
K2O/ha
+ Phương pháp bón phân:
Bón lót: Toàn bộ phân hữu cơ + 100% P2O5 + 1/3 N + 1/3 K2O
Bón thúc lần 1: Sau trồng 45 ngày với lượng 1/3N + 1/3 K2O kết hợp với làm cỏ lần 1 và vun gốc
Bón thúc lần 2: Sau trồng 90 ngày với lượng 1/3N + 1/3 K2O kết hợp với làm cỏ và vun cao gốc
2.4.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
Các chỉ tiêu nghiên cứu được tiến hành theo Quy chuẩn Quốc gia về
khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống sắn (QCVN
01-61:2011/BNNPTNT) của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Theo dõi sự sinh trưởng của giống sắn mới KM21-12
- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của giống sắn KM21-12 ở các công thức tham gia thí nghiệm (chiều cao thân chính, chiều dài các cấp cành, chiều
cao cây )
+ Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây được xác định bằng cách 15 ngày
đo một lần, 5 cây/ô thí nghiệm sau lấy số liệu trung bình ở mỗi giai đoạn sinh trưởng trong tháng
+ Tốc độ ra lá được xác định bằng phương pháp đánh dấu lá non 15 ngày đo một lần, 5 cây/ô thí nghiệm sau lấy số liệu trung bình ở mỗi giai đoạn sinh trưởng trong tháng
+ Tuổi thọ lá được xác định bằng cách đánh dấu lá non mới được hình thành và phát triển đầy đủ đến khi lá chuyển sang màu vàng, 15 ngày theo dõi một lần, 5 cây/ ô thí nghiệm sau lấy số liệu trung bình ở mỗi giai đoạn sinh trưởng trong tháng
Trang 29* Theo dõi các yếu tố cấu thành năng suất (đường kính củ, chiều dài củ,
số củ/gốc, khối lượng củ/gốc) và năng suất chất lượng các giống sắn
+ Chiều dài củ, đường kính củ chọn mẫu (mỗi ô thí nghiệm chọn 9 củ trong đó có 3 củ dài, 3 củ trung bình và 3 củ ngắn, đo lấy số liệu trung bình)
+ Số củ/gốc (đếm tổng số củ trên một gốc thu hoạch)
+ Khối lượng củ/gốc (cân khối lượng củ thu hoạch trên một gốc)
+ Năng suất củ tươi = Khối lượng trung bình của 1 cây x mật độ cây/ha + Năng suất thân lá = Khối lượng trung bình của 1 cây x mật độ cây/ha + Năng suất sinh vật học = Năng suất củ tươi + Năng suất thân lá
+ Tỷ lệ chất khô, tỷ lệ tinh bột: Xác định theo phương pháp khối lượng riêng của CIAT, mỗi ô thí nghiệm khi thu hoạch lấy 5kg củ tươi cân trong không khí để xác định chất khô theo công thức sau:
y = 158 , 3 142 , 0
B A A
Trong đó: y là tỷ lệ chất khô
A là khối lượng củ tươi cân trong không khí
B là khối lượng củ tươi cân trong nước
Năng suất củ tươi
CSTH =
NS củ tươi + NS thân lá
+ Năng suất củ khô = Năng suất củ tươi x Tỷ lệ chất khô
+ Năng suất tinh bột = Năng suất củ tươi x Tỷ lệ tinh bột
2.5 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý trên Excel và phần mềm thống kê sinh học IRRISTAT
Trang 30CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến sinh trưởng năng suất và chất lượng giống sắn mới KM21-12
3.1.1 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến sinh trưởng của giống sắn mới KM21-12
3.1.1.1 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của giống sắn mới KM21-12
Sắn thuộc loại cây hai lá mầm, dạng thân gỗ, sự sinh trưởng của cây sắn phụ thuộc vào hoạt động của mô phân sinh đỉnh và mô phân sinh tượng tầng Chiều cao cây sắn quyết định bởi mô phân sinh đỉnh và nó chịu ảnh hưởng khá nhiều của các yếu tố: Giống, điều kiện canh tác, điều kiện ánh sáng Nếu chăm sóc tốt cây sinh trưởng nhanh và ngược lại trồng mật độ quá dày cây thiếu ánh sáng để quang hợp cây sẽ rất cao và nhỏ
Trong cùng một điều kiện sống: chăm sóc, bón phân, mật độ như nhau thì chiều cao của cây sắn được quyết định bởi giống Chiều cao cây ảnh hưởng gián tiếp đến năng suất và ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chống đổ của cây Cây cao số lá nhiều thuận lợi cho quá trình quang hợp tích lũy vật chất khô Nếu quá cao các lá che lấp nhau ảnh hưởng đến quang hợp, khả năng chống
đổ kém, không có nhiều chất hữu cơ chuyển về củ, củ sẽ bé, năng suất thấp
Kết quả theo dõi sinh trưởng chiều cao cây của giống sắn tham gia thí nghiệm được thể hiện ở bảng 3.1
Trang 31Bảng 3.1 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của giống sắn mới KM21-12 tại Trường Đại học
Nông lâm Thái Nguyên
Qua bảng số liệu 3.1 ta thấy:
Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các CTTN tăng dần sau trồng và đạt cực đại vào tháng thứ 4 và tháng thứ 5 sau đó giảm dần và ổn định ở tháng thứ 8
+ Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây ở tháng thứ 4 sau trồng của các công thức biến động trong khoảng 1,29 - 2,39 cm/ngày Trong đó công thức 1
và công thức 5 có tốc độ tăng trưởng chiều cao cây thấp nhất dao động từ 1,29
- 1,84 cm/ngày, các công thức còn lại đều có tốc độ tăng trưởng chiều cao cây cao hơn công thức đối chứng
+ Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây ở tháng thứ 5 sau trồng của giống sắn KM21-12 trồng ở các tổ hợp phân bón khác nhau dao động trong khoảng (1,19 - 1,83 cm/ngày) Trong đó công thức 5 có tốc độ tăng trưởng chiều cao cây thấp nhất đạt 1,19 cm/ngày Các công thức còn lại có tốc độ tăng trưởng chiều cao cây cao hơn công thức đối chứng từ 0,13 - 0,47 cm/ngày
+ Ở tháng thứ 6 sau trồng tốc độ tăng trưởng chiều cao cây ở công thức đối chứng là 1,11 cm/ngày thấp hơn tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các công thức khác trong thí nghiệm từ 0,05 – 0,49 cm/ngày
+ Ở tháng thứ 7 sau trồng tất cả các mật độ đều có tốc độ tăng trưởng chiều cao cây cao hơn so với công thức đối chứng từ 0,04 - 0,66 cm/ngày
Trang 32+ Tháng thứ 8 sau trồng tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của giống sắn mới KM21-12 dao động từ 0,27cm/ngày đến 0,40cm/ngày, tốc độ tăng trưởng chiều cao cây có xu hướng giảm mạnh và hầu như không thay đổi ở những tháng giai đoạn cuối Như vậy có thể nói đây là giai đoạn hoàn tất lượng vật chất hữu cơ tổng hợp về cơ quan kinh tế (củ) để chuẩn bị cho thời kì thu hoạch, đồng thời giảm thiểu lượng dinh dưỡng trong thân lá
3.1.1.2 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến tốc độ ra lá của giống sắn mới KM21-12
Quá trình tăng trưởng chiều cao cây và quá trình ra lá mới là hai quá trình diễn ra đồng thời và tỷ lệ thuận với nhau Sắn ra lá liên tục trong suốt quá trình sinh trưởng của cây, tốc độ ra lá liên quan đến chỉ số diện tích lá , khả năng quang hợp, tổng số lá trên cây, tốc độ ra lá càng nhanh thì cây càng nhanh chóng đạt được chỉ số diện tích lá cao Đây cũng là yếu tố để cây quang hợp tốt và cho năng suất cao Kết quả theo dõi ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến tốc độ ra lá của giống sắn mới KM21-12 được thể hiện
ở bảng 3.2
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến tốc độ ra lá của giống sắn
mới KM21-12 tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Trang 33Qua bảng số liệu 3.2 cho thấy:
Tốc độ ra lá của các công thức tham gia thí nghiệm tăng dần theo thời gian sinh trưởng của cây và đạt cực đại ở tháng thứ 4 sau trồng Sau đó tốc độ
ra lá giảm dần từ tháng thứ 5 sau trồng trở đi và hầu như không ra lá mới ở các tháng cuối
+ Ở tháng thứ 4 sau trồng tốc độ ra lá của giống sắn KM21-12 dao động trong khoảng 0,88 - 1,03 lá/ngày Tốc độ ra lá giữa các công thức thí nghiệm chênh lệch nhau không nhiều và tương đương với công thức đối chứng
+ Tháng thứ 5 sau trồng công thức 3 có tốc độ ra lá nhanh nhất đạt 0,98 lá/ngày Công thức 2 có tốc độ ra lá chậm nhất thí nghiệm đạt 0,87 lá/ngày Các công thức công thức còn lại có tốc độ ra lá dao động từ 0,90 - 0,93 lá/ngày
+ Tháng thứ 6 sau trồng tốc độ ra lá của các công thức thí nghiệm dao động từ 0,82 lá/ngày đến 0,91 lá/ngày Tất cả các công thức đều có tốc độ ra
lá cao hơn công thức đối chứng dao động từ 0,04 - 0,09 lá/ngày
+ Ở tháng thứ 7 và tháng thứ 8 sau trồng thì tốc độ ra lá của các mật độ tham gia thí nghiệm giảm mạnh còn 0,29 lá/ngày đến 0,35 lá/ngày và không tăng nữa Giai đoạn này sắn ngừng sinh trưởng nên giống sắn mới được trồng
ở các tổ hợp phân bón khác nhau hầu như không ra lá mới
3.1.1.3 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến tuổi thọ lá của giống sắn mới KM21-12
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến tuổi thọ lá của giống sắn
mới KM21-12 tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Trang 34Qua bảng số liệu 3.3 cho ta thấy:
+ Ở tháng thứ 4 sau trồng tuổi thọ lá ở các công thức dao động từ 80,13
- 90,20 ngày Tuổi thọ lá cao nhất là công thức 2 đạt 90,20 ngày cao hơn công thức đối chứng 10,07 ngày
+ Tuổi thọ lá ở tháng thứ 5 sau trồng dao động từ 89,27 - 97,40 ngày đây là thời gian ở các công thức có tuổi thọ cao nhất, các tháng sau tuổi thọ lá giảm dần Công thức 3 có tuổi thọ lá cao nhất đạt 97,40 ngày cao hơn công thức đối chứng 7,87 ngày
+ Tuổi thọ lá ở tháng thứ 6 sau trồng dao động từ 75,27 - 84,93 ngày Trong đó công thức 3 có tuổi thọ lá thấp nhất đạt 75,27 ngày thấp hơn công thức đối chứng 1,60 ngày Các công thức còn lại đều có tuổi thọ lá cao hơn công thức đối chứng từ 2,53 - 8,06 ngày
+ Tuổi thọ lá ở tháng thứ 7 và tháng thứ 8 sau trồng giảm mạnh, đến tháng thứ 8 sau trồng tuổi thọ lá chỉ còn dao động từ 39,80 - 50,86 ngày
Điều này hoàn toàn phù hợp trong giai đoạn sinh trưởng của cây, giảm thân lá ở giai đoạn này để tập chung dinh dưỡng tích lũy về củ, tạo năng suất sau này Mặt khác trong giai đoạn này độ ẩm, nhiệt độ giảm, không có mưa dẫn đến việc tuổi thọ lá giảm xuống
3.1.1.4 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến đặc điểm nông sinh học của giống sắn mớí KM21-12
Đặc điểm nông sinh học là đặc điểm hình dáng bên ngoài để ta dễ dàng phân biệt cây trồng này với cây trồng khác Đồng thời dựa vào đó ta có thể chọn được giống tốt, cho năng suất cao
Một số đặc điểm nông học của giống sắn KM21-12, kết quả nghiên cứu số liệu thu thập được trình bày ở bảng 3.4
Trang 35Bảng 3.4 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến đặc điểm nông sinh học của giống sắn mới KM21-12 tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Qua bảng số liệu 3.4 cho ta thấy:
- Chiều cao cây cuối cùng:
Chiều cao thân chính được tính từ mặt đất tới điểm phân cành đầu tiên, chiều cao thân chính cao hay thấp tùy thuộc vào giống Chiều cao thân chính ảnh hưởng đến khả năng phân cành của các giống sắn Chiều cao thân chính càng thấp thì cây sẽ phân cành nhiều, ngược lại chiều cao thân chính cao và cây mập sẽ phân cành ít hơn Chiều cao thân chính còn ảnh hưởng đến tổng
số lá trên cây và khả năng chống đổ Lựa chọn các giống sắn có chiều cao thân chính đồng đều sẽ tạo điều kiện cho cơ giới hóa nghề trồng sắn
Chiều cao cuối cùng của giống sắn KM21-12 dao động từ 257,26cm đến 318,60cm Trong đó công thức 4 có chiều cao cuối cùng cao nhất đạt 318,60cm, cao hơn công thức đối chứng (257,26cm) là 61,34cm Các công thức còn lại đều có chiều cao cây cuối cùng cao hơn công thức đối chứng từ 12,67cm đến 47,07cm
- Đường kính gốc:
Đường kính gốc phản ánh sự tăng trưởng về bề ngang của cây, sự tăng trưởng này là nhờ sự hoạt động của mô phân sinh tượng tầng Đường kính gốc phản ánh mức độ sinh trưởng phát triển của giống trong điều kiện nhất
Tổng số lá (lá/cây)
Trang 36định Đường kính gốc lớn thân cây sẽ mập, khả năng chống đổ cao và tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển các chất sinh dưỡng nuôi cành lá và đồng thời vận chuyển dinh dưỡng về củ dễ dàng Ngược lại đường kính gốc cây bé thì cây sẽ dễ đổ và khả năng vận chuyển chất dinh dưỡng về củ kém dẫn đến năng suất giảm
+ Đường kính gốc của giống sắn mới KM21-12 ở các tổ hợp phân bón dao động từ 2,81cm – 3,04cm
+ Đường kính gốc của các công thức thí nghiệm đều cao hơn đường kính gốc của công thức đối chứng (2,81cm) cao hơn từ 0,03cm – 0,23cm
- Tổng số lá trên cây:
Trong quá trình tích lũy và hình thành vật chất khô trong củ, lá sắn là
bộ phận rất quan trọng Lá nhiều, chỉ số diện tích lá lớn, quang hợp nhiều dẫn đến cây cho năng suất cao, ngược lại cây ít lá sẽ cho năng suất kém hơn, củ nhỏ hơn Tổng số lá trên cây phụ thuộc vào giống, điều kiện ngoại cảnh (nhiệt
độ, ẩm độ, ánh sáng) và phụ thuộc vào kĩ thuật canh tác như mật độ, chăm sóc
và phân bón
+ Đứng thứ nhất là công thức 4 có tổng số lá trên cây đạt 167,33 lá/cây cao hơn tổng số lá trên cây của công thức đối chứng (156,60 lá/cây) là 10,73 lá/cây
+ Đứng thứ hai là công thức 3 (161,80 lá/cây) có tổng số lá trên cây cao hơn công thức đối chứng (156,60 lá/cây) 5,2 lá/cây
+ Đứng thứ ba là công thức 2 (160,53 lá/cây) có tổng số lá trên cây cao hơn công thức đối chứng (156,60 lá/cây) 3,93 lá/cây
+ Đứng thứ tư về tổng số lá trên cây là công thức 5 (157,08 lá/cây) cao hơn tổng số lá trên cây của công thức đối chứng 0,48 lá/cây
Trang 373.1.2 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất năng suất và chất lượng của giống sắn mới KM21-12
Để có thể đánh giá được tính ưu việt của các giống sắnngười ta không chỉ dựa vào khả năng sinh trưởng và phát triển mà còn dựa vào các yếu tố cấu thành năng suất như: Chiều dài củ, đường kính củ, số củ/gốc, khối lượng củ/gốc, chỉ số thu hoạch, năng suất thu hoạch, năng suất củ tươi, chỉ số tinh bột trong củ
3.1.2.1 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống sắn mới KM21-12
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống sắn mới KM21-12 tại Trường Đại học Nông lâm
* : Sai khác so với đối chứng ở mức độ tin cậy 95%
ns: không có sự sai khác so với công thức đối chứng
* Chiều dài củ
Củ sắn có hình thon dài, cũng có loại củ sắn ngắn Đặc tính này phần lớn
là do đặc tính giống quy định như giống củ ngắn, giống củ dài và tròn, tuy nhiên chiều dài củ phụ thuộc vào yếu tố bên ngoài như đất đai điều kiện canh tác, thời
Trang 38vụ Nếu đất cứng củ sẽ ngắn hơn đất tơi xốp Chiều dài củ lớn sẽ cho năng suất cao, chống đổ tốt khả năng ăn sâu, rộng, bám đất tuy nhiên lại khó khăn trong việc canh tác, thu hoạch và trồng xen Ngược lại nếu củ ngắn thì khả năng chống
đổ kém hơn nhưng lại thuận tiện trong việc trồng xen canh tác
Qua bảng số liệu 3.5 ta thấy:
Các công thức thí nghiệm có chiều dài củ dao động từ 29,74cm – 31,41cm và không có sự sai khác so với công thức đối chứng (30,07cm)
* Đường kính củ
Đường kính củ là một trong những yếu tố trực tiếp cấu thành nên năng suất Đường kính củ lớn hay nhỏ phụ thuộc vào khả năng đồng hóa, quá trình vận chuyển và tích lũy dinh dưỡng vào củ Cây sinh trưởng mạnh, vận chuyển nhiều dinh dưỡng và tinh bột vào củ thì đường kính củ sẽ lớn và cho năng suất cao, ngược lại cây sinh trưởng kém thì củ sẽ nhỏ và năng suất sẽ giảm
Đường kính củ là một trong những yếu tố trực tiếp cấu thành nên năng suất Đường kính củ lớn hay nhỏ phụ thuộc vào khả năng đồng hóa, quá trình vận chuyển và tích lũy dinh dưỡng vào củ Cây sinh trưởng mạnh vận chuyển nhiều dinh dưỡng và tinh bột vào củ thì đường kính củ sẽ lớn và cho năng suất cao, ngược lại cây sinh trưởng kém thì củ sẽ nhỏ và năng suất giảm
Qua bảng số liệu 3.5 ta thấy:
Công thức 2 và công thức 3 có đường kính củ tương đương với công thức đối chứng lần lượt là 3,46cm và 3,50cm Công thức 4 và công thức 5 có chiều dải củ lớn hơn công thức đối chứng từ 0,38cm - 0,57cm (chắc chắn ở mức độ tin cậy 95%)
* Số củ trên gốc
Sự phình to của rễ sẽ hình thành nên củ sắn, số lượng củ trên gốc nhiều hay ít phụ thuộc vào giống, điều kiện ngoại cảnh như: Điều kiện canh tác, phân bón, điều kiện khí hậu Số củ trên gốc nhiều dẫn đến khối lượng củ/gốc
Trang 39cao và năng suất cao Ngược lại, số củ trên gốc ít khối lượng củ trên gốc thấp dẫn đến năng suất không cao
Qua bảng số liệu 3.5 cho thấy:
Số củ trên gốc ở các công thức thí nghiệm là tương đương nhau, số củ trên gốc ở các công thức dao động từ 10,93 – 12,24 củ/gốc
* Khối lượng củ trên gốc
Khối lượng củ trên gốc là một yếu tố quan trọng trực tiếp tác động đến năng suất sắn Khối lượng củ trên gốc phản ánh đồng thời 3 yếu tố: chiều dài
củ, đường kính củ và số củ trên gốc Nếu cây sắn có số củ trên gốc nhiều,
đường kính củ lớn và củ dài sẽ cho khối lượng củ trên gốc lớn và năng suất cao
Qua bảng số liệu 3.5 ta thấy:
Công thức 2 có khối lượng trung bình củ trên gốc đạt 2,12 kg/gốc tương đương với công thức đối chứng 1,99 kg/gốc
Các công thức còn lại đều có khối lượng trung bình củ/gốc lớn hơn công thức đối chứng dao động từ 0,8 - 1,66kg, (chắc chắn ở mức độ tin cậy 95%)
3.1.2.2 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến năng suất của giống sắn mới KM21-12
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến năng suất của
giống sắn mới KM21-12 tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Công thức thí
Trang 40ns: không có sự sai khác so với công thức đối chứng
* Năng suất củ tươi
Năng suất củ tươi là chỉ tiêu phản ánh trực tiếp hiệu quả kinh tế của cây sắn Năng suất củ sắn phụ thuộc vào khả năng quang hợp và quá trình phân bố các chất vào các bộ phận khác của cây
Chất khô tạo được nhờ quang hợp được sử dụng cho sinh trưởng thân lá
và sự phát triển của củ Cân bằng quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực sẽ có tiềm năng cho năng suất cao hơn
Năng suất củ tươi ở các tổ hợp phân bón khác nhau cho kết quả khác nhau thể hiện qua bảng số liệu 3.6 và hình 3.1 cho ta thấy:
+ Năng suất củ tươi của giống sắn mới KM21-12 ở các công thức dao động từ 21,15 tấn/ha đến 38,53 tấn/ha
+ Đứng thứ nhất về năng suất củ tươi là công thức 4 đạt 38,53 tấn/ha cao hơn năng suất củ tươi của công thức đối chứng (21,15 tấn/ha) 17,38 tấn/ha
+ Đứng thứ 2 là công thức 2 năng suất củ tươi đạt 35,39 tấn/ha cao hơn công thức đối chứng (21,15 tấn/ha) 14,24 tấn/ha
+ Đứng thứ 3 là công thức 3 năng suất củ tươi đạt 34,83 tấn/ha cao hơn công thức đối chứng 13,68 tấn/ha
+ Đứng thứ 4 là công thức 5 năng suất củ tươi đạt 29,80 tấn/ha cao hơn công thức đối chứng 8,65 tấn/ha