b Tác động của QHKHSDĐ tới chính sách bồi thường đất đai Theo Tôn Gia Huyên 2009 thì QHKHSDĐ có những tác động tới chính sách bồi thường đất đai như sau:: - QHKHSDĐ là một trong những c
Trang 1MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Danh mục viết tắt ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích của đề tài 2
3 Yêu cầu của đề tài 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở lý luận về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất 4
1.1.1 Khái niệm về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 4
1.1.2 Mối quan hệ giữa bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 5
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 6
1.2.1 Một số yếu tố cơ bản trong quản lý Nhà nước về đất đai 6
1.2.2 Yếu tố giá đất và định giá đất 8
1.2.3 Thị trường bất động sản 10
1.3 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của các tổ chức tài trợ, một số nước trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam 11
1.3.1 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của Ngân hàng thế giới (WB) và Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) 11
1.3.2 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của một số nước trên thế giới: 12
1.4 Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại Việt Nam 15
1.4.1 Cơ sở pháp lý về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư qua các thời kỳ 15
Trang 21.4.2 Cơ sở pháp lý về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hiện hành 21
1.4.3 Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam 23
1.5 Tình hình chung về thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại tỉnh Lào Cai 29
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 32
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 32
2.1.2 Phạm vi 32
2.2 Nội dung nghiên cứu 32
2.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Lào Cai ảnh hưởng đến công tác thu hồi bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 32
2.2.2 Đánh giá chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của 02 dự án trên địa bàn tỉnh Lào Cai 32
2.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách GPMB đến người dân có đất bị thu hồi 32
2.2.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy nhanh quá trình thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng tại các dự án trong tương lai ở tỉnh Lào Cai 32
2.3 Phương pháp nghiên cứu 32
2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu, tài liệu 32
2.3.2 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu điều tra bằng phần mềm Excel 33
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34
3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Lào Cai 34
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 34
3.1.2 Các nguồn tài nguyên 38
3.2 Thực trạng phát triển kinh tế, xã hội 42
3.2.1 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 42
3.2.2 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 43
Trang 33.3 Tình hình quản lý sử dụng đất đai 45
3.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và tình hình quản lý sử dụng đất 51
3.4.1 Những yếu tố thuận lợi và kết quả đạt được 51
3.4.2 Những khó khăn, hạn chế 54
3.5 Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở 02 dự án nghiên cứu 54
3.5.1 Khái quát về 02 dự án nghiên cứu 54
3.5.2 Quy trình thực hiện chính sách bồi thường GPMB 56
3.5.3 Xác định đối tượng và điều kiện được bồi thường 58
3.5.4 Kết quả thực hiện bồi thường, hỗ trợ ở Dự án 1 61
3.5.5 Kết quả thực hiện bồi thường, hỗ trợ ở Dự án 2 64
3.5.6 Thực hiện chính sách TĐC ở 2 dự án nghiên cứu 67
3.6 Ảnh hưởng của quá trình thực hiện chính sách GPMB tới các hộ gia đình bị thu hồi đất tại 02 dự án nghiên cứu 71
3.6.1 Ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp 71
3.6.2 Ảnh hưởng tới cơ cấu ngành nghề 72
3.6.3 Ảnh hưởng tới an ninh trật tự xã hội 72
3.7 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình GPMB ở các dự án trên địa bàn tỉnh Lào Cai 74
3.7.1 Giải pháp về chính sách 74
3.7.2 Hoàn thiện trình tự thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư 76
3.7.3 Xây dựng, triển khai các chương trình, dự án giải quyết các tác động tiêu cực của việc thu hồi đất đối với người có đất bị thu hồi 76
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 79
Kết luận 79
Đề nghị 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Số bảng Tên bảng Trang
3.1 Đặc điểm khí hậu chính của tỉnh Lào Cai 35
3.2 Các nhóm và loại đất chính tỉnh Lào Cai 39
3.3 Diện tích đất lâm nghiệp tỉnh Lào Cai 40
3.4 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập của tỉnh Lào Cai giai đoạn từ 2010-2014 42
3.5 Tình hình quản lý sử dụng đất đai của tỉnh Lào Cai 46
3.6 Xác định đối tượng được bồi thường và không được bồi thường 58
3.7 Ý kiến của người dân có đất bị thu hồi trong việc xác định đối tượng và điều kiện được bồi thường 61
3.8 Kết quả bồi thường về đất và tài sản trên đất 62
3.9 Ý kiến của người dân về mức bồi thường về đất và tài sản trên đất 63
3.10 Kết quả hỗ trợ người dân dự án 1 nhận được khi GPMB 64
3.11 Kết quả bồi thường về đất và tài sản trên đất 65
3.12 Ý kiến của người dân về mức bồi thường về đất và tài sản trên đất 66
3.13 Kết quả hỗ trợ người dân dự án 2 nhận được khi GPMB 67
3.14 Xác định đối tượng, điều kiện được TĐC 70
3.15 Ý kiến của người có đất ở bị thu hồi trong việc xác định đối tượng và điều kiện được tái định cư 70
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Số hình Tên hình Trang
3.1 Tỉnh Lào Cai và mối liên hệ vùng 35 3.2 Sơ đồ hệ thống thủy văn của tỉnh Lào Cai 37 3.3 Quy trình thực hiện chính sách GPMB khi Nhà nước thu hồi đất 57
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
BTHT&TĐC Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài sản vô cùng quý giá của quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn xây dựng và phát triển dân sinh, kinh tế sản xuất, an ninh quốc phòng Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam chương II điều 18 đã xác định "Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài"
Trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước, việc chuyển đổi mục đích sử dụng (MĐSD) đất đáp ứng cho phát triển kinh tế xã hội là việc làm tất yếu xẩy ra thường xuyên ở tất cả các địa phương trên toàn lãnh thổ Việt Nam Đặc biệt là chuyển diện tích đất nông nghiệp sang quỹ đất phi nông nghiệp thuộc các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp, thương mại dịch vụ và du lịch
Thu hồi đất, bồi thường thiệt hại khi giải phóng mặt bằng là khâu then chốt, quan trọng, là điều kiện ban đầu và tiên quyết để triển khai các dự án
Có thể nói "Công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) nhanh là đã hoàn thành được 1/3 đến 1/2 dự án" Bồi thường giải phóng mặt bằng (BTGPMB) là vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp, nó tác động tới mọi vấn đề về đời sống kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng và cả vấn đề tâm linh của mọi tầng lớp trong nhân dân Ảnh hưởng trực tiến đến Nhà nước, chủ đầu tư và đặc biệt là đối với các tổ chức, cá nhân có đất bị thu hồi
Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới, nằm giữa vùng Đông Bắc và vùng Tây Bắc, có diện tích tự nhiên là 638.389,59 ha (là tỉnh có diện tích đứng thứ 19/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và chiếm 1,93% diện tích cả nước); các đơn
vị hành chính của tỉnh gồm có 09 đơn vị cấp huyện (08 huyện và 01 thành phố) với tổng số 164 đơn vị hành chính cấp xã (143 xã, 12 phường và 09 thị trấn)
Trang 8Vị trí địa lý của Lào Cai có nhiều lợi thế phát triển kinh tế - xã hội
(KT-XH) và hội nhập kinh tế quốc tế Vì vậy, trong thời gian vừa qua cũng như trong
tương lai, nhu cầu về đất phải thu hồi để giành cho việc phát triển du lịch, khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, văn hoá, y tế, giáo dục, thể dục thể thao, giao thông, thủy lợi là rất lớn
Thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (BTHT&TĐC), giải phóng mặt bằng là điều kiện tiên quyết để triển khai các dự án; giải phóng mặt bằng nhanh là khâu quyết định sự thành công của dự án Tuy nhiên, BTHT&TĐC khi Nhà nước thu hồi đất là vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp, nó tác động tới các vấn đề an sinh, trật tự an ninh, an toàn xã hội và sự phát triển ổn định, bền vững của quốc gia, ảnh hưởng trực tiếp đến Nhà nước, chủ đầu tư, đặc biệt là đối với người dân có đất bị thu hồi
Tồn tại lớn nhất trong quá trình thực hiện công tác BTHT&TĐC ở hầu hết các địa phương là việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư không tuân thủ các quy định của pháp luật, giá bồi thường thấp, không công khai, thiếu dân chủ, tiêu cực, tham nhũng Nhũng tồn tại có thể gọi là “ bệnh cố hữu” nay đang là nguyên nhân của tình trạng khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện đông người
về đất đai hiện nay
Vì vậy, việc điều tra xã hội học, khảo sát thực tế, phân tích, đánh giá có cơ
sở khoa học, trên cơ sở đó đề xuất để sửa đổi bổ sung, hoàn thiện chính sách bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi, góp phần thiết lập trật tự, kỷ cương pháp luật, hạn chế tranh chấp, khiếu kiện về đất đai trong việc BTGPMB khi Nhà nước thu hồi đất
Đề tài “Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường GPMB tại 02 dự án Xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn tỉnh Lào Cai” được thực hiện
2 Mục đích của đề tài
- Đánh giá việc thực hiện chính sách Bồi thường Giải phóng mặt bằng ở 02
dự án trên địa bàn tỉnh Lào Cai
Trang 9- Đề xuất một số giải pháp đẩy nhanh việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lào Cai
3 Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá việc thực hiện các nội dung của chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng tại 02 dự án nghiên cứu
- Rút ra những vấn đề còn tồn tại trong quá trình thực hiện chính sách ở 02
dự án nghiên cứu
- Các giải pháp đề xuất có tính khả thi và phù hợp với điều kiện cụ thể của tỉnh Lào Cai
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở lý luận về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
1.1.1 Khái niệm về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
1.1.1.1 Thu hồi đất
Theo Khoản 5 Điều 4 Luật đất đai năm 2003, Khoản 11 Điều 3 Luật đất đai năm 2013 thì “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này”
1.1.1.3 Hỗ trợ
- Theo Hoàng Phê (1998): Hỗ trợ là giúp nhau, giúp thêm vào
- Theo Khoản 7, Điều 4, Luật đất đai năm 2003: “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới”
1.1.1.4 Tái định cư
Theo Ngân hàng phát triển Châu Á (2006): Tái định cư (TĐC) là việc di chuyển đến một nơi khác với nơi ở trước đây để sinh sống và làm ăn TĐC bắt buộc đó là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi Nhà nước thu hồi hoặc trưng thu đất đai để thực hiện các dự án phát triển
TĐC được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản; di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu
Trang 11nhập, cơ sở vật chất, tinh thần tại đó Như vậy, TĐC là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế - xã hội (KT-XH) đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung
Theo Điều 4, Nghị định 197/2004/NĐ-CP 03/12/2004 của Chính phủ: Hiện nay ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì người
sử dụng đất được bố trí TĐC bằng một trong các hình thức sau:
- Bồi thường bằng nhà ở
- Bồi thường bằng giao đất ở mới
- Bồi thường bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở
TĐC là một bộ phận không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trong chính sách GPMB
1.1.2 Mối quan hệ giữa bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Theo Ngân hàng phát triển Châu Á (2006): Trong công tác giải phóng mặt bằng thì chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC đảm bảo việc bồi hoàn đất đai, tài sản trên đất bị thu hồi đúng đối tượng, đúng chính sách và hơn nữa là đảm bảo ổn định đời sống cho người bị thu hồi đất bằng những chính sách phù hợp để tạo hướng phát triển nghề nghiệp ổn định
Có thể thấy bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (BTHT&TĐC) khi Nhà nước thu hồi đất là một quá trình đa dạng và phức tạp nó không đơn thuần là bồi thường
về vật chất mà còn phải đảm bảo được lợi ích của các bên tham gia và lợi ích của toàn xã hội
- Tính đa dạng thể hiện ở: Mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác nhau với điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội và trình độ dân trí nhất định Ở khu vực nội thành, khu vực ven đô, khu vực ngoại thành, mật độ dân cư khác nhau, ngành nghề đa dạng và đều hoạt động sản xuất theo một đặc trưng riêng của vùng đó
- Tính phức tạp thể hiện ở: Đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng trong đời sống KT-XH đối với mọi người dân Ở khu vực nông thôn, dân
cư chủ yếu sống nhờ vào hoạt động sản xuất nông nghiệp (SXNN) mà đất đai lại
Trang 12là tư liệu sản xuất quan trọng trong khi trình độ sản xuất của nông dân thấp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp khó khăn do đó tâm lý người dân là giữ được đất
để sản xuất, thậm chí họ cho thuê đất còn được lợi nhuận cao hơn là sản xuất nhưng họ vẫn không cho thuê
Đối với đất ở lại càng phức tạp hơn vì:
- Đất ở là tài sản có giá trị lớn, gắn bó trực tiếp với đời sống sinh hoạt của người dân Cộng thêm tâm lý người dân là ngại di chuyển chỗ ở, thay đổi môi trường sống
- Nguồn gốc hình thành đất đai khác nhau do tồn tại chế độ cũ để lại và do
cơ chế chính sách không đồng bộ dẫn đến tình trạng lấn chiếm đất đai, xây nhà trái phép gây khó khăn cho việc xác định diện tích đủ điều kiện bồi thường
- Dân cư một số vùng sống chủ yếu bằng nghề buôn bán nhỏ và sống bám vào các trục đường giao thông của khu dân cư làm kế sinh nhai nay chuyển đến ở khu vực mới điều kiện sống thì bị thay đổi nên họ không muốn di chuyển
Từ các đặc điểm trên cho thấy công tác BTHT&TĐC khi Nhà nước thu hồi đất tại mỗi địa bàn khác nhau và những đặc điểm khác nhau Từ đó phải có những phương án BTHT&TĐC sao cho phù hợp và thỏa đáng đối với chủ sử dụng đất bị thu hồi đất
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
1.2.1 Một số yếu tố cơ bản trong quản lý Nhà nước về đất đai
1.2.1.1 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
a) Vai trò của Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong quản lý đất đai
Theo Tôn Gia Huyên (2009): Đất đai nằm trong nhóm tài nguyên hạn chế của Việt Nam, nhưng lại là điều kiện không thể thiếu được trong mọi quá trình
phát triển Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (QHKHSDĐ) được xem là một giải
pháp Nhà nước áp dụng để định hướng việc sử dụng hợp lý, hiệu quả quỹ đất nhằm phát triển KT-XH
Trang 13QHKHSDĐ không chỉ là công cụ “tạo cung” cho thị trường mà còn là phương tiện quan trọng nhất để thực hiện các mục tiêu chính trị, xã hội, công bằng, dân chủ, văn minh trong đền bù có tổ chức TĐC và cũng là công việc mà hoạt động quản lý Nhà nước có ảnh hưởng nhiều nhất, hiệu quả nhất, đúng chức năng nhất
Thông qua việc lập, xét duyệt, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất để tổ chức việc thu hồi đất, tổ chức TĐC trở thành sự nghiệp của cộng đồng mà Nhà nước đóng vai trò tổ chức chỉ đạo, nhà đầu tư chịu trách nhiệm thực hiện Bất kỳ một phương án đền bù, tổ chức TĐC nào cũng phải dựa trên một quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất đạt được các yêu cầu sau đây:
- Là phương án có hiệu quả KT-XH cao nhất
- Đã được hoàn thiện sau khi có ý kiến đóng góp của tổ chức, cá nhân có liên quan một cách thực chất
- Đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và công khai hóa theo đúng trình tự của pháp luật
b) Tác động của QHKHSDĐ tới chính sách bồi thường đất đai
Theo Tôn Gia Huyên (2009) thì QHKHSDĐ có những tác động tới chính sách bồi thường đất đai như sau::
- QHKHSDĐ là một trong những căn cứ quan trọng nhất để thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, chuyển MĐSD đất, mà theo quy định của Luật đất đai, việc giao đất, cho thuê đất chỉ được thực hiện khi có quyết định thu hồi đất của người đang sử dụng
- QHKHSDĐ là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất; từ đó tác động tới giá đất tính bồi thường
1.2.1.2 Đăng ký đất đai (ĐKĐĐ), lập và quản lý hồ sơ địa chính (HSĐC) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ)
a) Đăng ký đất đai:
Theo Tôn Gia Huyên và Nguyễn Đình Bồng (2007): Trong hệ thống đăng
ký quyền, mỗi thửa đất được mô tả trên bản đồ và các quyền gắn với nó được ghi
Trang 14vào sổ đăng ký cùng với tên của chủ đất Nếu tất cả thửa đất được chuyển dịch thì chỉ cần đổi tên người chủ Khi chuyển dịch một phần thửa đất thì bản đồ phải được sửa đổi và phát hành một tài liệu mới, tuy chủ đất giữ giấy chứng nhận quyền sở hữu, nhưng đăng ký cuối cùng vẫn được cơ quan đăng ký bảo quản - Như vậy, khó xảy ra tranh chấp quyền sở hữu giả mạo Ở Australia, hệ thống đăng ký đất đai theo quyền sở hữu được gọi là hệ thống Torrens Yêu cầu đối với
một hệ thống đăng ký đất đai:
- Bao gồm quyết định pháp lý của đơn vị bất động sản phản ảnh một cách chính xác các điều kiện trên đất
- Đảm bảo việc chuyển dịch đất đai thông qua hệ thống đơn giản, rẻ, an toàn
- Loại bỏ việc truy tìm cả dãy đăng ký trong quá khứ
- Hỗ trợ pháp lý kịp thời
- Thoả mãn được yêu cầu của địa phương
- Đăng ký các quyền đặc biệt về bất động sản, quyền sở hữu và những hạn chế về quyền sở hữu
- Bao trùm tất cả đất đai của Nhà nước, cá nhân và tổ chức
- Quá trình đăng ký có thể tiến hành một cách riêng rẽ hoặc theo hệ thống Theo Tôn Gia Huyên và Nguyễn Đình Bồng (2007): GCNQSDĐ là chứng thư pháp lý khẳng định quyền sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đối với những thửa đất cụ thể, làm căn cứ cho việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất và giải quyết các tranh chấp liên quan tới quyền sử dụng đất
b) Tác động của đăng ký đất đai, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tới chính sách bồi thường đất đai :
Theo Tôn Gia Huyên và Nguyễn Đình Bồng (2007): Trong công tác BTGPMB, cấp GCNQSDĐ là căn cứ để xác định đối tượng được bồi thường, loại đất, diện tích đất tính bồi thường Làm tốt công tác đăng ký đất đai, cấp GCNQSDĐ thì công tác BTGPMB sẽ thuận lợi, tiến độ giải phóng mặt bằng nhanh hơn
1.2.2 Yếu tố giá đất và định giá đất
Trang 15a) Giá đất: Theo Tôn Gia Huyên và Nguyễn Đình Bồng (2007): Giá đất được
sản sinh ra trên cơ sở các giao dịch về quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng, tuân thủ quy luật cung cầu nhưng do những đặc điểm của hàng hoá đất đai tác động làm cho biến động của giá đất mang tính đặc thù; vì vậy căn cứ vào chính sách kinh tế quốc gia và tình hình thị trường đất đai của từng thời kỳ nhất định, Chính phủ (CP) đã xây dựng một chế độ quản lý giá đất tương ứng, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của Nhà nước và các bên giao dịch, duy trì sự phát triển lành mạnh của thị trường đất đai và bất động sản
b) Định giá đất: Theo Tôn Gia Huyên và Nguyễn Đình Bồng (2007): Việc
định giá đất/bất động sản, ở đô thị và nông thôn xuất phát từ nhu cầu công ích, nhu cầu kinh doanh và nhu cầu của người dân Định giá gắn với việc xác định thuế và mức thuế nhà đất/bất động sản, thuế thừa kế đánh vào di sản của người đã chết, thuế trước bạ, thuế hiến tặng, tiền đền bù phải trả hoặc truy thu, tiền thuê nhà đất/bất động sản, ngoài ra còn liên quan đến các dịch vụ công cộng, quản lý đất TĐC v.v
Theo Tôn Gia Huyên và Nguyễn Đình Bồng (2007): Định giá đất là cơ sở của quản lý giá đất, tiêu chuẩn giá đất được định ra một cách khoa học là yêu cầu của việc sử dụng hợp lý đất đai, quản lý đất đai và giá đất ở cả tầm vĩ mô và vi
mô Định giá đất cung cấp tiêu chuẩn thị trường cho việc hoạch định chính sách quản lý giá đất, đồng thời các tài liệu thị trường về tiêu chuẩn, quy phạm quản lý giá đất thúc đẩy hệ thống hoá phương pháp định giá và nâng cao độ chính xác của công tác định giá Có sự quan hệ rất mật thiết giữa việc định giá đất với việc quản lý đất đai và quản lý thị trường bất động sản Quản lý tốt giá đất sẽ mang đến những tác động tích cực sau đây: đề phòng được giá cả đất đai tăng đột biến;
đề phòng được nạn đầu cơ đất đai; thúc đẩy sử dụng đất hợp lý; quy phạm hoá được hành vi giao dịch của hai bên, góp phần xây dựng một thị trường đất đai có quy phạm, định giá đất được khách quan và chính xác; ngăn chặn được thất thoát thu lợi của đất đai quốc hữu
c) Tác động của giá đất tới chính sách bồi thường đất đai
Trang 16Theo Tôn Gia Huyên (2009): Vướng mắc chủ yếu trong đền bù đối với đất nông nghiệp là giá đất Giá đất nông nghiệp là thấp hơn rất nhiều so với ngay đất
đó sau khi đã chuyển đổi mục đích sử dụng, sự chênh lệch này càng lớn khi thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng nhà ở hay khu dịch vụ thương mại, nếu không được xử lý thỏa đáng trong đền bù thì người nông dân bị thu hồi đất luôn cảm thấy mình bị thiệt thòi Trên thực tế đã có nhiều trường hợp người có đất bị thu hồi phải chi ra hơn một nửa số tiền được đền bù để nhận lại 10% diện tích đất đó sau khi đã xây dựng xong cơ sở hạ tầng Mặt khác, do còn ít giao dịch, nên khi định giá đất nông nghiệp khó sử dụng phương pháp so sánh thị trường mà phải dùng đến phương pháp giá thành hay thu nhập trong khi các tiêu chuẩn về định mức sản xuất chưa thống nhất nên giá đất nông nghiệp mỗi nơi mỗi khác dẫn đến tình trạng có những thửa đất liền kề nhau nhưng giá cả khác nhau, mức đền bù khác nhau một cách phi lý Ngoài ra, việc thực hiện các phương án đền bù thường phải kéo dài nhiều năm, trong thời gian đó giá cả biến động làm cho “tiền hậu trở thành bất nhất”, nếu không được xử lý kịp thời thì sẽ là nguồn gốc gây khiếu kiện liên miên
Giá cả của bất động sản được hình thành trên thị trường và nó sẽ tác động tới giá đất tính bồi thường
Trang 171.3 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của các tổ chức tài trợ, một
số nước trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam
1.3.1 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của Ngân hàng thế giới (WB) và Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
1.3.1.1 Ngân hàng thế giới (WB)
Theo World Bank (WB), (2009): Hầu hết các dự án được tài trợ bởi vốn vay của Ngân hàng thế giới (WB) đều có chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư do WB đưa ra Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của tổ chức này có nhiều khác biệt so với luật, quy định, chính sách của Nhà nước Việt Nam nên có những khó khăn nhất định, nhưng bên cạnh cũng có những ảnh hưởng tích cực tới việc hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người bị thu hồi đất của Việt Nam Trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thì vấn đề tái định cư được WB quan tâm nhiều hơn, hỗ trợ những người bị ảnh hưởng trong suốt quá trình tái định cư, từ việc tìm nơi ở mới thích hợp cho một khối lượng lớn chủ sử dụng đất phải di chuyển, tổ chức các khu tái định cư, trợ giúp chi phí vận chuyển, xây dựng nhà ở mới, đào tạo nghề, cho vay vốn để phát
triển sản xuất, cung cấp các dịch vụ tại khu tái định cư
1.3.1.2 Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
Theo Ngân hàng phát triển Châu Á (2006): Khung chính sách của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) được xây dựng với mục tiêu tránh việc tái định cư bắt buộc bất cứ khi nào có thể được hoặc giảm thiểu tái định cư nếu không thể tránh khỏi di dân; đảm bảo những người phải di chuyển được giúp đỡ để ít nhất
họ cũng đạt mức sống sung túc như hộ đã có được nếu không có dự án hoặc tốt hơn Với các nguyên tắc cơ bản là:
- Cần tránh hoặc giảm thiểu tái định cư bắt buộc và thiệt hại về đất đai, công trình, các tài sản và thu nhập bằng cách khai thác mọi phương án khả thi
- Tất cả các hộ đều được quyền đền bù theo giá thay thế cho tài sản, thu nhập và các công việc sản xuất, kinh doanh bị ảnh hưởng, được khôi phục đủ để cải thiện hay ít nhiều cũng hồi phục được mức sống, mức thu nhập và năng lực
Trang 18sản xuất của họ như trước khi có dự án
- Trường hợp di chuyển cả một khu vực dân cư phải cố gắng tối đa để duy trì các thể chế văn hóa và xã hội của những người phải di chuyển và của cộng đồng dân cư nơi chuyển đến
- Việc chuẩn bị các kế hoạch giải phóng mặt bằng (được coi như một phần trong công tác chuẩn bị tiểu dự án) và thực hiện các kế hoạch này sẽ được tiến hành với sự tham gia và tư vấn của những người bị ảnh hưởng
- Phải hoàn tất việc chi trả đền bù các loại tài sản bị ảnh hưởng và kết thúc
di dân đến nơi ở mới trước khi thi công tuyến tiểu dự án
- Việc đền bù cho người dân tộc thiểu số, hộ gia đình do phụ nữ làm chủ, gia đình có người tàn tật và các hộ dễ bị ảnh hưởng khác sẽ được thực hiện với
sự tôn trọng các giá trị văn hóa cũng như sự bảo vệ các nhu cầu riêng biệt của họ
- Khi triển khai thực hiện công tác giải phóng mặt bằng, ADB quan tâm đến hầu hết các vấn đề liên quan đến chủ hộ như nghề nghiệp, thu nhập hàng tháng, nguồn thu của gia đình, số người trong độ tuổi lao động, có trong diện chính sách hay không và cả trình độ học vấn… cùng tính pháp lý của đất đai, tài sản trên đất
- Về vấn đề tái định cư, mục tiêu chính sách tái định cư của ADB là giảm thiểu tối đa tái định cư và phải đảm bảo cho các hộ bị di chuyển được bồi thường
và hỗ trợ sao cho tương lai kinh tế và xã hội của họ được thuận lợi tương tự trong trường hợp không có dự án
1.3.2 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của một số nước trên thế giới:
1.3.2.1 Trung Quốc
Theo Ngân hàng phát triển Châu Á (2006): Trung Quốc thi hành chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về đất đai, gồm hai dạng: 1/ đất đô thị thuộc sở hữu nhà nước; 2/ đất nông thôn và ngoại thành, ngoại thị thuộc sở hữu tập thể Hiến pháp lần sửa đổi mới nhất năm 2005 quy định: “Quốc gia do sự cần thiết vì lợi ích công cộng, có thể căn cứ vào pháp luật mà trưng thu hay trưng dụng đất đai
và trả bồi thường” Các nhà làm luật giải thích rằng trưng thu áp dụng đối với đất
Trang 19thuộc sở hữu tập thể do phải chuyển quyền sở hữu tập thể sang sở hữu nhà nước, còn trưng dụng thì áp dụng đối với đất thuộc sở hữu nhà nước vì chỉ thay đổi MĐSD đất mà thôi
Hiến pháp Trung Quốc quy định có 2 hình thức sở hữu đất đai: Sở hữu Nhà nước và sở hữu tập thể Vì vậy đất đai thuộc sở hữu Nhà nước nên khi thu hồi đất, kể cả đất nông nghiệp tùy từng trường hợp cụ thể, Nhà nước sẽ cấp đất mới cho các chủ sử dụng đất bị thu hồi đất và bồi thường cho các công trình gắn liền với đất bị thu hồi
Về phương thức bồi thường, Nhà nước thông báo cho người sử dụng đất biết trước cho việc họ sẽ bị thu hồi đất trong thời hạn một năm Người dân có quyền lựa chọn các hình thức bồi thường bằng tiền hoặc bằng nhà tại khu ở mới
1.3.2.2 Thái Lan
Theo Ánh Tuyết (2002): Tại Thái Lan chưa có chính sách bồi thường TĐC quốc gia, nhưng tại Hiến Pháp năm 1982 quy định việc trưng dụng đất cho các mục đích xây dựng cơ sở hạ tầng, quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên cho đất nước, phát triển đô thị cải tạo đất đai và mục đích công cộng khác phải theo thời giá thị trường cho những người hợp pháp về tất cả thiệt hại do việc trưng dụng gây ra và quy định việc bồi thường phải khách quan cho người chủ mảnh đất và người có quyền thừa kế tài sản đó Dựa trên quy định này, các ngành có quy định chi tiết cho việc thực hiện trưng dụng đất của ngành mình
Năm 1987, Thái Lan ban hành Luật về trưng dụng BĐS áp dụng cho việc trưng dụng đất sử dụng vào mục đích xây dựng tiện ích công cộng, quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên hoặc có lợi ích khác cho đất nước phát triển đô thị, nông nghiệp, công nghiệp, cải tạo đất đai vào các mục đích công cộng Luật quy định những nguyên tắc trưng dụng đất, nguyên tắc tính giá trị bồi thường các loại tài sản bị thiệt hại Căn cứ vào đó, từng ngành đưa ra các quy định cụ thể về trình
tự tiến hành bồi thuờng TĐC, nguyên tắc cụ thể xác định giá bồi thường, các bước lập và phê duyệt dự án bồi thường thủ tục thành lập các cơ quan, ủy ban tính toán bồi thường TĐC, trình tự đàm phán, nhận tiền bồi thường quyền khiếu
Trang 20nại, quyền khởi kiện đưa tòa án Ví dụ: Trong ngành điện năng thì cơ quan điện lực Thái Lan là nơi có nhiều dự án bồi thường TĐC lớn nhất nước, họ đã xây dựng chính sách riêng với mục tiêu: “Đảm bảo cho những người bị ảnh hưởng và đặt một mức sống tốt hơn” thông qua việc cung cấp cơ sở hạ tầng có chất lượng
và đạt mức tối đa nhu cầu, đảm bảo cho những người bị ảnh hưởng có thu nhập cao hơn và được tham gia nhiều hơn vào quá trình phát triển xã hội, vì vậy thực
tế đã tỏ ra hiệu quả khi cần thu hồi đất trong nhiều dự án
Trang 211.3.2.3 Hàn Quốc
Theo Hee-Nam Jung (2010): Luật đất đai của Hàn Quốc được xác lập trên
cơ sở Luật quy hoạch đô thị cho từng đô thị và Luật quản lý sử dụng quốc thổ bao gồm tất cả các đô thị Nhà nước chỉ định năm khu vực sử dụng để cân bằng
sự phát triển đồng bộ
Luật bồi thường GPMB của Hàn Quốc được chia ra thành hai thể chế Một
là “đặc lệ” liên quan đến bồi thường GPMB cho đất công cộng và đạt được theo thủ tục thương lượng của pháp luật Hai là Luật “sung công đất” theo thủ tục quy định cưỡng chế của công pháp Luật bồi thường Hàn Quốc được thực hiện theo
ba giai đoạn trên đối với đất đai, bất động sản và các quyền kinh doanh nông nghiệp, ngư nghiệp, khoáng sản để cung cấp tiền bồi thường và chi phí di dời Chế độ và luật GPMB: theo luật sung công đất đai thì nếu như đã trả hoặc đặt cọc tiền bồi thường xong nhưng không chịu di dời thì được xem như gây hại cho lợi ích công cộng do đó phải thi hành cưỡng chế giải tỏa được thực hiện quyền thi hành theo luật thực hiện thi hành hành chính và quyền thi hành ngay phải theo pháp lệnh cảnh cáo theo quy định Thực chất biện pháp GPMB thường
bị người dân hoặc các người ở thuê phản đối và chống trả quyết liệt gây ảnh hưởng xấu đến xã hội cho nên tốt nhất là phải có sự nghiên cứu tìm ra biện pháp cho dân tự nguyện di dời là hay hơn cả
1.4 Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại Việt Nam
1.4.1 Cơ sở pháp lý về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư qua các thời kỳ
1.4.1.1 Giai đoạn trước năm 1987
Ngày 14/4/1959, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định 151-TTg quy định tạm thời về trưng dụng ruộng đất Quy định như sau:
- Về việc bồi thường thiệt hại do lấy đất gây nên phải bồi thường hai khoản: Về đất thì bồi thường từ 1 đến 4 năm sản lượng thường niên ruộng đất bị trưng thu
- Đối với hoa màu thì được bồi thường đúng mức
Trang 22- Đối với nhà cửa, vật kiến trúc và các công trình phục vụ sinh hoạt được giúp đỡ xây dựng cái khác
- Ngoài ra, mồ mả thì căn cứ vào tình hình cụ thể về phong tục tập quán của địa phương mà giúp cho họ một số tiền làm phí tổn di chuyển
Theo Nguyễn Đình Bồng, Tôn Gia Huyên, Phạm Minh Hạnh, 2010: Có thể nói, những nguyên tắc cơ bản của việc bồi thường thiệt hại trong Nghị định này là đúng đắn, đáp ứng nhu cầu trưng dụng đất đai trong những năm 1960 Cách bồi thường như vậy được thực hiện cho đến khi Hiến pháp 1980 ra đời
1.4.1.2 Giai đoạn từ năm 1987 đến năm 1993
Luật đất đai năm 1987 ban hành quy định về bồi thường cũng cơ bản dựa trên những quy định tại Hiến pháp năm 1980
Hiến pháp năm 1980 quy định đất đai thuộc sỡ hữu toàn dân, chính vì vậy việc thực hiện đền bù về đất không được thực hiện mà chỉ thực hiện đền bù những tài sản có trên đất hoặc những thiệt hại do việc thu hồi đất gây nên
Luật đất đai năm 1988, không nêu cụ thể việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, mà chỉ nêu nghĩa vụ của người sử dụng đất (Điều 48) Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 1988 không hướng dẫn nội dung về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chỉ tập trung vào việc bồi thường đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang mục đích khác
Ngày 31/5/1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 186/HĐBT
về việc đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi bị chuyển mục đích sử dụng vào mục đích khác thì phải bồi thường Căn cứ để tính bồi thường thiệt hại
về đất nông nghiệp và đất có rừng theo quyết định này là diện tích, chất lượng và
vị trí đất Mỗi hạng đất tại mỗi vị trí đều quy định giá tối đa, tối thiểu Ủy ban nhân dân (UBND) các tỉnh, thành phố quy định cụ thể mức bồi thường thiệt hại của địa phương mình sát với giá đất thực tế ở địa phương nhưng không thấp hơn hoặc cao hơn khung giá định mức Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào mục đích khác thì phải bồi thường về đất nông nghiệp, đất có rừng cho Nhà nước Khoản tiền này được nộp vào ngân
Trang 23sách Nhà nước và sử dụng cho việc khai hoang, phục hóa, trồng rừng, cải tạo đất nông nghiệp, ổn định cuộc sống, định canh, định cư cho vùng bị lấy đất
Trang 241.4.1.3 Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2003
Hiến pháp năm 1992 đã đặt nền móng cho việc xây dựng chính sách bồi thường GPMB qua những điều 17, 18, 23
Trên cơ sở Hiến pháp 1992, Luật đất đai 1993 được Quốc hội thông qua
và có hiệu lực từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 với quy định “ đất có giá” và người
sử dụng đất có các quyền và nghĩa vụ Đây là sự đổi mới có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác bồi thường GPMB
Những quy định về bồi thường GPMB của Luật đất đai năm 1993 đã thu được những thành tựu quan trọng trong giai đoạn đầu thực hiện, nhưng càng về sau, do sự chuyển biến mau lẹ của tình hình kinh tế – xã hội nó đã dần mất đi vai trò làm động lực thúc đẩy phát triển Để tạo điều kiện đẩy nhanh tốc độ GPMB đẩy nhanh tiến độ thi công công trình đồng thời đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đất đai đã được thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2001
Để cụ thể hóa các quy định của Luật đất đai năm 1993 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 2001, nhiều văn bản quy định về chính sách bồi thường GPMB đã được ban hành, bao gồm:
- Nghị định số 90/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ quy định về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Xét về tính chất và nội dung, Nghị định số 90/CP đã đáp ứng được một số yêu cầu nhất định so với các văn bản trước Nghị định này là văn bản pháp lý mang tính toàn diện cao và cụ thể hóa việc thực hiện chính sách bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, việc đền bù bằng đất cùng mục đích sử dụng, cùng hạng đất…Tuy nhiên trên thực tế, trong quá trình thực hiện lại cho thấy một số điểm bất cập như việc người bị ảnh hưởng thu hồi gặp rất nhiều khó khăn
- Nghị định số 87/CP ngày 17/8/1994 ban hành khung giá các loại đất
- Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng,
an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Nghị định này quy định chi tiết, hoàn
Trang 25chỉnh, toàn diện, tiến bộ và hợp lý hơn Nghị định 90/CP Chi tiết hơn vì phạm vi
áp dụng quy định thêm một số chính sách hỗ trợ mới về TĐC, giá đất để tính đền
bù thiệt hại được xác định trên cơ sở giá đất của địa phương ban hành theo quy định của Chính phủ nhân với hệ số K
Tuy nhiên trong quá trình triển khai Nghị định 22/1998/NĐ – CP còn có những hạn chế nhất định Nó chưa đáp ứng được các yêu cầu của thực tế, chưa phù hợp với thực tiễn và gây ra phát sinh nhiều khiếu kiện cho Nhà nước… Đặc biệt chưa giải quyết được những tồn tại do yếu tố lịch sử để lại khi thực hiện chính sách đền bù thiệt hại cho chủ sử dụng đất có tài sản, nhà cửa nằm trên đất không đủ điều kiện được bồi thường…
1.4.1.4 Giai đoạn có Luật đất đai năm 2003 đến nay
Tại kỳ họp thứ tư Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật đất đai năm 2003, Luật này có hiêụ lực từ ngày 01/7/2004 Luật đất đai năm 2003 có rất nhiều nội dung mới trong đó có vấn đề bồi thường, hỗ trợ GPMB và tái định cư: khắc phục
cơ bản những bất cập trong chính sách pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế thông qua cơ chế giá đất bồi thường, chính sách tái định cư và hạn chế phạm vi dự án phải thu hồi
Sau khi Luật đất đai 2003 được ban hành, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư cụ thể hoá các điều luật về giá đất, bồi thường, hỗ trợ thu hồi đất; thì chính sách đền bù, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đi vào bước hoàn thiện, có tác dụng trong việc đảm bảo cân đối
và ổn định cho phát triển, khuyến khích được nhà đầu tư và tương đối giữ được nguyên tắc công bằng, người bị thu hồi đất được đặt vào vị trí trung tâm để giải quyết mọi xung đột, các lợi ích phi vật thể bắt đầu được quan tâm, các hiệu quả
xã hội - môi trường do việc thu hồi đất mang lại được chú ý khi đánh giá các dự
án xây dựng có thu hồi đất và đền bù, hỗ trợ, tái định cư Tuy nhiên, đối chiếu
với mục tiêu phát triển lâu dài và bền vững thì hệ thống chính sách hiện hành về
Trang 26thu hồi, đền bù, tổ chức TĐC đối với đất nông nghiệp và nông dân vẫn còn một
số vấn đề tồn tại
Trang 271.4.2 Cơ sở pháp lý về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hiện hành
1.4.2.1 Các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở Trung ương ban hành
Sau khi Luật đất đai 2003 được ban hành, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư cụ thể hoá các điều luật về giá đất, bồi thường, hỗ trợ thu hồi đất, bao gồm:
- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
- Thông tư số 114/2004/TT-BTC ngày 26/11/2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
- Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Thông tư số 116/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định
bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
- Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15/6/2007 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số
84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại
về đất đai
Trang 28- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 Quy định bổ sung về QHSDĐ, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
- Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 Quy định chi tiết
về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất
1.4.2.2 Các văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai ban hành
Căn cứ vào thẩm quyền và các quy định của pháp luật, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Lào Cai có ban hành một số Quyết định về công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC Khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn như sau:
- Quyết định số 68/2007/QĐ-UBND ngày 14/9/2007 của UBND tỉnh Lào Cai; Quyết định số 794/QĐ-UBND ngày 03/4/2008 của UBND tỉnh Lào Cai về việc điều chỉnh đơn giá bồi thường nhà cửa, vật kiến trúc ban hành kèm theo Quyết định số 68/2007/QĐ-UBND ngày 14/9/2007 của UBND tỉnh Lào Cai; Quyết định số 2064/QĐ-UBND ngày 24/7/2008 của UBND tỉnh Lào Cai về việc điều chỉnh, bổ sung đơn giá và chế độ chính sách bồi thường ban hành kèm theo Quyết định số 68/2007/QĐ-UBND để áp dụng cho tiểu dự án giải phóng mặt bằng đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai; Quyết định 2143/QĐ-UBND ngày 31/7/2008 của UBND tỉnh Lào Cai về việc điều chỉnh bổ sung đơn giá và chế độ chính sách bồi thường ban hành kèm theo Quyết định số 68/2007/QĐ-UBND để
áp dụng cho dự án giải phóng mặt bằng cụm công nghiệp Tằng Loỏng, huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai; Quyết định số 2786/QĐ-UBND ngày 01/10/2008 của UBND tỉnh Lào Cai về điều chỉnh bổ sung về đơn giá và chế độ, chính sách bồi thường ban hành kèm theo Quyết định số 68/2007/QĐ-UBND để áp dụng cho tiểu dự án giải phóng mặt bằng đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai; Quyết định số 1503/QĐ-UBND ngày 01/6/2009 của UBND tỉnh Lào Cai về việc điều chỉnh mức hỗ trợ và bổ sung đơn giá bồi thường để áp dụng cho tiểu dự án giải phóng mặt bằng xây dựng đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai
Trang 29- Quyết định số 45/2009/QĐ-UBND ngày 25/12/2009 của UBND tỉnh Lào Cai về việc ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Lào Cai; Quyết định số 22/2011/QĐ-UBND ngày 18/8/2011 của UBND tỉnh Lào Cai về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của ban Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Lào Cai ban hành kèm theo Quyết định số 45/2009/QĐ-UBND ngày 25/12/2009 của UBND tỉnh
- Quyết định số 26/2013/QĐ-UBND ngày 25/7/2013 của UBND tỉnh ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để
sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Lào Cai; Quyết định số 06/2014/QĐ-UBND ngày 18/02/2014 của UBND tỉnh về việc sửa đổi nội dung quy định tại Khoản 4 Điều 39 bản quy định ban hành kèm theo Quyết định số 26/2013/QĐ-
UBND của UBND tỉnh
1.4.3 Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam
1.4.3.1 Thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại Việt Nam
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012a): Vai trò của đất đai đối với quá trình phát triển xã hội ngày càng được nhìn nhận đầy đủ, toàn diện và khoa học, đặc biệt là trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước Trong những năm qua, việc thực hiện chính sách bồi thường GPMB ở Việt Nam đã và đang đạt được những hiệu quả nhất định Nhờ những thay đổi hợp lý của quy định pháp luật về phương pháp tổ chức và năng lực cán bộ thực thi GPMB đã thúc đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng trong các dự án đầu tư gần đây, góp phần giảm bớt tác động tiêu cực đối với người dân bị thu hồi đất cũng như đối với dự án Việc thực hiện chính sách BTHT&TĐC đã giúp cho đất nước xây dựng cơ sở vật chất, phát triển
Trang 30kết cấu hạ tầng, xây dựng khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, các
dự án trọng điểm của Nhà nước cũng như góp phần chuyển đổi cơ cấu nền kinh
tế, ổn định đời sống sản xuất cho con người có đất bị thu hồi
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012a): Báo cáo của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, sau gần 7 năm triển khai thực hiện Luật Đất đai, tổng diện tích đất đã thu hồi là 728 nghìn ha (trong đó có 536 nghìn ha đất nông nghiệp) để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế Trong đó các tỉnh, thành phố có diện tích đất thu hồi lớn là Đắk Lăk, Điện Biên, Sơn La, Nghệ An, Bình Phước
Nhìn chung, diện tích đất được thu hồi đã đáp ứng được mục tiêu phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh của địa phương; các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư từng bước được điều chỉnh, bổ sung phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế thị trường, đảm bảo tốt hơn quyền lợi hợp pháp của người bị thu hồi đất Việc tổ chức thực hiện thu hồi đất, BTHT&TĐC của Trung tâm phát triển quỹ đất bước đầu đã phát huy hiệu quả tốt, góp phần đáp ứng nhu cầu "đất sạch"
để thực hiện các dự án đầu tư nhất là các dự án đầu tư nhằm mục đích công cộng Tuy nhiên, việc thực hiện công tác này trong thời gian qua cũng còn những tồn tại, vướng mắc, và hiện nay vấn đề bồi thường thiệt hại, GPMB đang trở thành một trong những vấn đề nổi cộm nhất trong công tác quản lý đất đai, làm phát sinh nhiều khiếu nại của công dân
- Về chính sách: Chính sách BTHT&TĐC trong thời gian trước đây chưa thoả đáng, làm thiệt hại lợi ích chính đáng của người có đất bị thu hồi Tuy nhiên hiện nay chính sách BTHT&TĐC đã được điều chỉnh ngày càng thoả đáng hơn
và về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu thực tế
- Về tổ chức thực hiện: Trong tổ chức thực hiện đã để xảy ra nhiều sai phạm, là nguyên nhân dẫn đến khiếu nại, đáng chú ý là các sai phạm sau:
+ Giá đất bồi thường chủ yếu thực hiện theo bảng giá nên trong nhiều trường hợp thấp hơn giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường, đặc biệt là đối với đất nông nghiệp trong khu vực đô thị Tiền bồi thường đất nông nghiệp
Trang 31thường không đủ để nhận chuyển nhượng diện tích đất nông nghiệp tương tự hoặc không đủ để chuyển sang làm ngành nghề khác Nhiều trường hợp bị thu hồi đất ở thì tiền bồi thường không đủ để nhận chuyển nhượng đất ở hoặc mua lại nhà ở mới tại khu TĐC (theo kết quả kiểm tra việc thi hành Luật Đất đai 2003, trong số đơn khiếu nại về bồi thường, giải phóng mặt bằng, TĐC có tới 70% số trường hợp khiếu nại về giá đất nông nghiệp bồi thường quá thấp so với giá đất chuyển nhượng thực tế trên thị trường, giá đất ở được giao tại nơi TĐC lại quá cao so với giá đất ở đã được bồi thường tại nơi bị thu hồi) Đa số các tỉnh đã giải quyết tốt công tác khiếu nại, tố cáo, bên cạnh đó cũng có một số địa phương chưa thực sự quan tâm trong công tác giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân về GPMB
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012a): Kết quả tổng hợp báo cáo của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì trong gần 7 năm, các địa phương đã quyết định thu hồi 50.906 ha của 1.481 tổ chức và 598 hộ gia đình, cá nhân vi phạm pháp luật về đất đai Những tỉnh thu hồi nhiều đất do vi phạm pháp luật về đất đai như: Bình Phước, Phú Yên, Đắk Nông, Quảng Nam, Gia Lai,
Quảng Ninh, Khánh Hòa, Hà Nội
+ Chưa có sự liên kết giữa các quy định trong việc xác nhận tính hợp thức
về quyền sử dụng đất khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và khi tính toán mức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Từ đó dẫn đến việc áp dụng pháp luật ở các địa phương để giải quyết vấn đề này cũng khác nhau, nhiều trường hợp mang tính chủ quan, không công bằng trong xử lý giữa những trường hợp có cùng điều kiện + Tại nhiều dự án, các cơ quan có trách nhiệm thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để giải phóng mặt bằng chưa thực hiện đúng trình tự, thủ tục từ công khai quy hoạch, thông báo kế hoạch, quyết định thu hồi đất, đề xuất phương án, cho tới khâu cưỡng chế Sai phạm chủ yếu về trình tự thực hiện là không thông báo trước cho người có đất bị thu hồi, không có quyết định thu hồi đất của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong thành phần hội đồng bồi thường, giải phóng mặt bằng không có sự tham gia của đại diện
Trang 32những người có đất bị thu hồi
+ Nhiều dự án chưa có khu TĐC đã thực hiện thu hồi đất ở Nhìn chung các địa phương chưa coi trọng việc lập khu TĐC chung cho các dự án tại địa bàn, một số khu TĐC đã được lập nhưng không bảo đảm yêu cầu “tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ”
+ Trong việc thu hồi đất tại một số dự án còn có những biểu hiện tiêu cực như: thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế hoặc xây dựng công trình công cộng nhưng một thời gian sau lại quyết định sử dụng vào mục đích xây dựng nhà ở hoặc phân lô bán nền; trong khu TĐC bố trí cả những đối tượng không thuộc diện tái định cư, trong đó có cả những trường hợp là người nhà, người thân của cán bộ lãnh đạo trong khi nhiều người thuộc diện TĐC không được bố trí
+ Một số địa phương chưa làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, giải thích cho nhân dân hiểu rõ quy định của pháp luật hoặc né tránh, thiếu cương quyết, không giải quyết dứt điểm, làm cho việc giải phóng mặt bằng bị kéo dài nhiều năm Năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác giải phóng mặt bằng còn hạn chế, thiếu chuyên nghiệp, lúng túng trong việc giải thích chính sách pháp luật cho nhân dân, thậm chí còn làm trái quy định của pháp luật dẫn đến khiếu nại, khiếu kiện
1.4.3.2 Những ưu nhược điểm trong quá trình thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thời gian qua
- Các quy định về thu hồi đất, bồi thường và tái định cư ngày càng phù hợp hơn với quy luật kinh tế, quan tâm nhiều hơn đến lợi ích của người có đất bị
Trang 33thu hồi; trình tự, thủ tục thu hồi đất ngày càng rõ ràng hơn
- Đối với trường hợp thu hồi đất để sử dụng vào mục đích lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, quốc phòng, an ninh; việc triển khai BTHT&TĐC khá thuận lợi và ít gặp trở ngại từ phía người có đất bị thu hồi
- Mức bồi thường hỗ trợ cao tạo điều kiện cho người dân bị thu hồi đất có thể khôi phục lại tài sản bị mất Một số biện pháp hỗ trợ đã được bổ sung và quy định rất rõ ràng, thể hiện được tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước nhằm giúp cho người dân ổn định đời sống và sản xuất
- Nhiều địa phương đã vận dụng chính sách BTHT&TĐC thỏa đáng nên việc thu hồi đất tiến hành bình thường hầu như không có hoặc có rất ít khiếu nại
- Việc bổ sung quy định về quyền tự thỏa thuận của các nhà đầu tư cần đất với người sử dụng đất đã góp phần giảm sức ép cho các cơ quan hành chính trong việc thu hồi đất
- Đội ngũ cán bộ làm công tác BTHT&TĐC có năng lực và có nhiều kinh nghiệm ngày càng đông đảo; sự chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn của công tác BTHT&TĐC giữa các bộ, ban, ngành có các dự án đầu tư ngày càng được mở rộng và có hiệu quả
b) Những mặt thiếu sót, yếu kém và khó khăn
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2005), đánh giá những mặt thiếu sót, yếu kém và khó khăn trong quá trình thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thời gian qua:
- Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền của Nhà nước với tư cách là đại diện sở hữu toàn dân về đất đai và quyền của người sử dụng đất được pháp luật công nhận Đặc biệt là trong việc định giá đất bồi thường, xử lý mối tương quan giữa giá đất thu hồi với giá đất TĐC (thu hồi giá quá thấp, chưa sát với thị trường)
- Chưa giải quyết tốt việc làm cho người có đất bị thu hồi, nhất là đối với nông dân không còn hoặc còn ít đất sản xuất hoặc những người không còn việc làm như nơi ở cũ
- Chưa giải quyết tốt mối quan hệ về lợi ích giữa nhà đầu tư cần sử dụng đất với người có đất bị thu hồi Việc quy định giá đất quá thấp so với giá chuyển
Trang 34nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường tuy có tác động tích cực tới việc việc khuyến khích nhà đầu tư nhưng lại gây ra những phản ánh gay gắt của những người có đất bị thu hồi
- Giá đất bồi thường, hỗ trợ nhìn chung chưa sát giá thị trường trong điều kiện bình thường, trong nhiều trường hợp quá thấp so với giá đất cùng loại chuyển nhượng thực tế, đặc biệt là đối với đất nông nghiệp trong khu vực đô thị
và liền kề với khu dân cư Tại vùng giáp ranh giữa các tỉnh và vùng giáp ranh giữa đô thị và nông thôn còn chênh lệch quá lớn về giá đất bồi thường, hỗ trợ
- Tiền bồi thường đất nông nghiệp thường không đủ để chuyển sang làm ngành nghề khác Những trường hợp bị thu hồi đất ở thì tiền bồi thường trong nhiều trường hợp không đủ để nhận chuyển nhượng lại đất ở tương đương hoặc nhà ở mới tại khu tái định cư
- Tại nhiều dự án, các cơ quan có trách nhiệm thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để giải phóng mặt bằng chưa thực hiện đúng trình tự, thủ tục từ khi công khai quy hoạch, thông báo kế hoạch, quyết định thu hồi,… cho tới khâu cưỡng chế
- Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế hoặc xây dựng công trình công cộng nhưng một thời gian sau lại quyết định sử dụng vào mục đích xây dựng nhà ở hoặc phân lô bán nền
- Nhiều dự án chưa có khu TĐC đã thực hiện thu hồi đất ở Nhìn chung các địa phương chưa coi trọng việc lập khu TĐC chung cho các dự án tại địa bàn, một số khu TĐC đã lập nhưng không bảo đảm điều kiện tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ
- Chính sách BTHT&TĐC ngày càng được Nhà nước quan tâm giải quyết thoả đáng hơn; tuy nhiên, việc thay đổi chính sách cùng với việc thiếu sự vận dụng
cụ thể, linh hoạt tại các dự án mức bồi thường khác nhau do sự thay đổi chính sách
đã dẫn tới sự so bì và khiếu kiện kéo dài của người có đất bị thu hồi Vì vậy việc GPMB để thực hiện một số dự án không bảo đảm tiến độ
- Nhiều nhà đầu tư không đủ khả năng về tài chính để bồi thường, hỗ trợ
Trang 35cho người có đất bị thu hồi Việc ngân hàng rút bỏ cam kết, không cho vay vốn khi thị trường nhà đất chững lại cũng ảnh hưởng đến việc huy động vốn của nhà đầu tư để triển khai dự án
- Trong nhiều trường hợp, việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư đã được giải quyết đúng pháp luật, thoả đáng nhưng người sử dụng đất hoặc do không hiểu pháp luật, cố ý trì hoãn để được bồi thường hỗ trợ thêm nên không chấp hành quyết định thu hồi đất, thậm chí liên kết khiếu nại đông người, gây áp lực với cơ quan nhà nước Trong khi đó, cơ chế về giải quyết đơn thư khiếu nại còn nhiều bất cập đã làm cho việc giải quyết khiếu nại kéo dài, gây ách
tắc việc giải phóng mặt bằng
Trên đây là những vấn đề tồn tại cần nghiên cứu trong công tác bồi thường thiệt hại, GPMB trên cả nước trong những năm vừa qua Nếu giải quyết được các tồn tại này, khung pháp lý về quản lý đất đai sẽ được hoàn thiện, làm cơ
sở thực tiễn vững chắc cho Luật Đất đai và các văn bản quy phạm pháp luật
1.5 Tình hình chung về thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại tỉnh Lào Cai
- Trên địa bàn tỉnh Lào Cai, công tác BTHT&TĐC khi Nhà nước thu hồi đất đang được thực hiện theo các quy định tại Quyết định số 68/2007/QĐ-UBND ngày 14/9/2007 và Quyết định số 45/2009/QĐ-UBND ngày 25/12/2009 của UBND tỉnh Lào Cai ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Lào Cai;
- Về cơ chế chính sách BTHT&TĐC: UBND tỉnh Lào Cai đã tập trung chỉ đạo, giải quyết kịp thời các cơ chế chính sách đặc thù tháo gỡ vướng mắc cho nhiều dự án trọng điểm trên địa bàn như: Dự án đường cao tốc Hà Nội - Lào Cai,
dự án giải phóng mặt bằng cụm công nghiệp Tằng Loỏng, huyện Bảo Thắng, Dự
án nhà máy luyện đồng Lào Cai, Dự án nâng cấp cải tạo tuyến đường sắt Yên Viên - Lào Cai, Dự án trường Đại học Fansipan
Trang 36- Công tác tập huấn truyền thông cơ chế chính sách GPMB của thành phố được coi trọng, được triển khai dưới nhiều hình thức, trên cơ sở đó đã tranh thủ được sự đồng thuận, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân, của các cấp các ngành, của cả hệ thống chính trị, các cơ quan thông tấn, báo chí Trung ương và địa phương Tổ chức tập huấn, đối thoại về cơ chế chính sách BTHT&TĐC với Hội nghị cán bộ Mặt trận Tổ quốc, Hội Cựu chiến binh tại các huyện, thành phố
- Việc giải quyết đơn thư, kiến nghị của công dân: các ngành và UBND các huyện, thành phố đã chủ động giải quyết kịp thời nhiều đơn thư của công dân, tham mưu cho UBND tỉnh ban hành kịp thời các quyết định giải quyết đơn thư theo thẩm quyền, góp phần làm giảm bức xúc và hạn chế thấp nhất các vụ việc khiếu kiện đông người
- Về cải cách hành chính trong công tác BTHT&TĐC:
Sự phối kết hợp giữa các Sở, ban, ngành thành phố trong việc tham mưu,
đề xuất UBND tỉnh giải quyết các vướng mắc phát sinh là một việc không thể thiếu được trong công tác GPMB
Tại các cuộc họp liên ngành đều có sự tham gia của các ngành, đơn vị có liên quan, của UBND các huyện, thành phố và các chủ đầu tư để cùng nhau thảo luận, phản biện và đi đến thống nhất về nội dung tham mưu đề xuất với UBND tỉnh giải quyết đảm bảo đúng quy định, đúng thẩm quyền, đảm bảo mọi cơ chế chính sách đi vào cuộc sống
- Phương châm dân chủ - công khai - công bằng - đúng pháp luật trong công tác BTHT&TĐC
Thực hiện phương châm của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh; UBND các huyện, thành phố, Hội đồng Bồi thường hỗ trợ và tái định cư các huyện, thành phố đã trực tiếp triển khai nhiều cuộc tập huấn, đối thoại về cơ chế chính sách BTHT&TĐC với đội ngũ cán bộ lãnh đạo trực tiếp làm công tác GPMB tại các huyện, thành phố và với các cán bộ, cộng tác viên các Trung tâm tư vấn pháp lý (của Sở Tư pháp); đồng thời luôn coi trọng việc truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng, thông qua các cơ quan thông tấn báo chí người dân ngày
Trang 37càng hiểu rõ hơn về cơ chế chính sách của Nhà nước, về quy trình GPMB, về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm từ đó ủng hộ, chấp hành quyết định thu hồi đất, tạo sự đồng thuận trong toàn tỉnh
Trang 38Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Chính sách BTHT&TĐC khi Nhà nước thu hồi đất tại 02 dự án thuộc địa bàn tỉnh Lào Cai, cụ thể như sau:
+ Dự án Tiểu khu đô thị số 4, phường Nam Cường, Phường Bắc Cường,
TP Lào Cai (Dự án 1)
+ Dự án Đường Vi Ô Lét, thị trấn Sa Pa, huyện Sa Pa (Dự án 2)
- Các tổ chức, cá nhân có đất bị thu hồi của 02 dự án
2.1.2 Phạm vi
Huyện Sa Pa và TP Lào Cai - tỉnh Lào Cai Số liệu có liên quan tới đề tài được thu thập từ năm 2000-2014
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Lào Cai ảnh hưởng đến công tác thu hồi bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
2.2.2 Đánh giá chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của 02 dự án trên địa bàn tỉnh Lào Cai
2.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách GPMB đến người dân có đất bị thu hồi
2.2.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy nhanh quá trình thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng tại các dự án trong tương lai ở tỉnh Lào Cai
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu, tài liệu
a) Số liệu thứ cấp
- Thu thập tài liệu, các văn bản, chính sách có liên quan đến công tác BTHT&TĐC khi Nhà nước thu hồi đất ở các dự án như khung giá đất của Chính phủ, giá quy định của Nhà nước và giá bồi thường được áp dụng cho tỉnh Lào Cai
Trang 39- Tìm hiểu thực trạng của các dự án trong phạm vi đề tài nghiên cứu
b) Số liệu sơ cấp
Thu thập các số liệu sơ cấp bằng phương pháp:
- Điều tra quá hình thực hiện và kết quả dự án nghiên cứu
- Lập phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong diện bồi thường về đất: Để thu thập các thông tin liên quan đến tình hình bồi thường và sử dụng tiền bồi thường sau khi thu hồi đất, chúng tôi tiến hành phỏng vấn
hộ gia đình theo phiếu điều tra đã được xây dựng (mẫu phiếu điều tra được thể hiện tại phần phụ lục) Do hạn chế về mặt thời gian, nên chỉ tiến hành phỏng vấn được 75 hộ,trong đó tại Dự án 1 là 50 phiếu, Dự án 2 là 25 phiếu
Đối tượng phỏng vấn: chọn hộ điều tra theo tỷ lệ diện tích đất thu hồi của mỗi hộ Cụ thể:
+ Tại dự án 1: Phỏng vấn 10 hộ bị thu hồi đất ở và nhà ở trên đất;
Phỏng vấn 15 hộ có diện tích đất bị thu hồi <30% tổng diện tích đất được giao; Phỏng vấn 15 hộ có diện tích đất bị thu hồi từ 30% đến 70% tổng diện tích đất được giao;
Phỏng vấn 10 hộ có diện tích đất bị thu hồi >70% tổng diện tích đất được giao + Tại dự án 2: Phỏng vấn 10 hộ bị thu hồi đất ở và nhà ở trên đất;
Phỏng vấn 10 hộ có diện tích đất bị thu hồi từ 30% đến 70% tổng diện tích đất được giao;
Phỏng vấn 5 hộ có diện tích đất bị thu hồi >70% tổng diện tích đất được giao Nội dung phỏng vấn:
Phỏng vấn, điều tra thông tin của các hộ được hưởng chính sách bồi thường,
hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất GPMB thực hiện tại 02 dự án nghiêu cứu
+ Phỏng vấn, điều tra thông tin thuộc tính liên quan đến đối tượng được bồi thường, hỗ trợ như: Tên chủ hộ, địa chỉ
+ Phỏng vấn, điều tra lấy ý kiến khách quan của các hộ gia đình đối với các nội dung như: Giá bồi thường về đất, công trình, cây cối hoa màu
2.3.2 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu điều tra bằng phần mềm Excel
Số liệu điều tra, thu thập được được tổng hợp trên các bảng bằng việc sử
Trang 40dụng phần mềm Excel Trên cơ sở đó phân tích, so sánh các số liệu để đánh giá kết quả thực hiện công tác bồi thường tại 2 dự án nghiên cứu
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Lào Cai
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Thành phố Lào Cai là trung tâm kinh tế, chính trị của tỉnh Lào Cai; cách
Hà Nội 296 km theo đường sắt và 345 km theo đường bộ
Tỉnh Lào Cai có diện tích tự nhiên là 638.389,59 ha (là tỉnh có diện tích đứng thứ 19/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và chiếm 1,93% diện tích
cả nước); các đơn vị hành chính của tỉnh gồm có 09 đơn vị cấp huyện (08 huyện
và 01 thành phố) với tổng số 164 đơn vị hành chính cấp xã (143 xã, 12 phường
và 09 thị trấn)
Như vậy, vị trí địa lý của Lào Cai không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của tỉnh mà nó còn có vai trò rất quan trọng đối với cả vùng Trung du miền núi Bắc bộ và cả nước; là đầu mối kinh tế quan trọng của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc; thể hiện