nhiên, với những gì đã làm được vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của khu vực nông thôn, giao thông liên thôn, ngõ xóm vẫn đang được xây dựng một cách nhỏ lẻ và manh mún; chưa có
Trang 1MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục viết tắt vii
Danh mục bảng viii
Danh mục hộp ix
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.2.1 Mục tiêu chung 4
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.4 Những câu hỏi được đặt ra trong quá trình nghiên cứu đề tài: 5
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
2.1 Cơ sở lý luận 6
2.1.1 Một số khái niệm 6
2.1.2 Đặc điểm trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn 8
2.1.3 Vai trò của hệ thống đường giao thông liên thôn đối với phát triển kinh tế - xã hội 10
2.1.4 Ý nghĩa của nghiên cứu vai trò của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm 12
2.1.5 Nội dung đánh giá vai trò của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm 14
2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường bộ giao thông nông thôn 19
2.2 Cơ sở thực tiễn 21
Trang 22.2.1 Vai trò của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao
thông liên thôn, ngõ xóm ở một số nước 21
2.2.2 Vai trò của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm tại một số địa phương của Việt Nam 26
2.2.3 Kinh nghiệm về vai trò của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm ở các nước trên thế giới và một số huyện tại Việt Nam rút ra vận dụng vào huyện Phúc Thọ 29
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 31
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 31
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 33
3.1.3 Kết quả phát triển kinh tế của huyện trong những năm qua 37
3.2 Phương pháp nghiên cứu 41
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 41
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin, tài liệu 42
3.2.3 Phương pháp xử lý thông tin, số liệu 43
3.2.4 Phương pháp phân tích thông tin, số liệu 43
3.2.5 Hệ thống các chỉ tiêu trong nghiên cứu 44
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45
4.1 Kết quả tình hình xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm huyện Phúc Thọ 45
4.1.1 Tình hình chung về hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm huyện Phúc Thọ 45
4.1.2 Kết quả khảo sát thực trạng xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm huyện Phúc Thọ 53
4.2 Đánh giá vai trò của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm huyện Phúc Thọ 57
4.2.1 Vai trò của người dân trong tham gia quy hoạch, khảo sát, thiết kế đường giao thông liên thôn, ngõ xóm huyện Phúc Thọ 57
Trang 34.2.2 Vai trò của người dân trong việc đóng góp tài chính xây dựng đường
giao thông liên thôn, ngõ xóm 63
4.2.3 Vai trò của người dân trong việc đóng góp ngày công lao động xây dựng đường giao thông liên thôn, ngõ xóm 68
4.2.4 Vai trò của người dân trong việc quyết định tham gia giải phóng mặt bằng để xây dựng đường giao thông liên thôn, ngõ xóm 72
4.2.5 Vai trò của người dân trong việc tham gia giám sát, quản lý, duy tu, bảo dưỡng các tuyến đường giao thông liên thôn, ngõ xóm 75
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm 80
4.3.1 Nhóm các yếu tố về kinh tế - xã hội 80
4.4 Định hướng và một số giải pháp chủ yếu nâng cao vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng và quản lý hệ thống đường bộ giao thông liên thôn, ngõ xóm huyện Phúc Thọ trong thời gian tới 88
4.4.1 Định hướng 88
4.4.2 Hệ thống các giải pháp 92
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97
5.1 Kết luận 97
5.2 Kiến nghị 98
5.2.1 Đối với Nhà nước 98
5.2.2 Đối với huyện Phúc Thọ 99
5.2.3 Đối với người dân 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất của Huyện Phúc Thọ 34
Bảng 3.2 Giá trị sản xuất theo giá hiện hành phân theo ngành kinh tế huyện Phúc Thọ năm 2012 – 2014 40
Bảng 4.1 Tổng hợp hiện trạng đường giao thông huyện Phúc Thọ năm 2014 46
Bảng 4.2 Hiện trạng các tuyến đường quốc lộ và tỉnh lộ huyện Phúc Thọ 48
Bảng 4.3 Hiện trạng các tuyến đường huyện của Phúc Thọ 50
Bảng 4.4 Kết quả khảo sát đường liên thôn, ngõ xóm tại 3 xã 52
Bảng 4.5 Kinh phí thực hiện giao thông huyện Phúc Thọ năm 2012 – 2014 54
Bảng 4.6 Trách nhiệm quản lý các tuyến đường tại huyện Phúc Thọ 57
Bảng 4.7 Tỷ lệ người dân được tham gia quy hoạch, khảo sát, thiết kế, lập kế hoạch xây dựng đường giao thông liên thôn, ngõ xóm (%) 59
Bảng 4.8 Tiếp cận với nguồn thông tin tuyên truyền xây dựng đường GTLT, ngõ xóm của hộ điều tra (%) 62
Bảng 4.9 Tiến trình hoạt động của việc huy động nguồn tài chính 64
Bảng 4.10 Mức đóng góp kinh phí xây dựng đường giao thông liên thôn, ngõ xóm tại các điểm nghiên cứu 65
Bảng 4.11 Ý kiến đánh giá của người dân về đóng góp tài chính 66
Bảng 4.12 Số ngày công lao động và ý kiến người dân khi tham gia 69
Bảng 4.13 Diện tích người dân hiến đất cho xây dựng 73
đường liên thôn, ngõ xóm 73
Bảng 4.14 Ý kiến của người dân về giải phóng mặt bằng 74
Bảng 4.15 Phân cấp trách nhiệm quản lý hệ thống đường bộ giao thông liên thôn tại các xã nghiên cứu 77
Bảng 4.16 Ý kiến của người dân về hình thức quản lý đường GTLT, ngõ xóm 78
Bảng 4.17 Phân nhóm thu nhập theo kết quả điều tra 81
Bảng 4.18 Các hộ dân tham gia đóng góp tiền, ngày công lao động xây dựng 2km đường giao thông liên thôn, ngõ xóm qua điều tra 81
Bảng 4.19 Trình độ văn hóa, chuyên môn của chủ hộ 83
Bảng 4.20 Các hộ dân tham gia các cuộc họp triển khai xây dựng đường 84
giao thông liên thôn, ngõ xóm qua điều tra 84
Bảng 4.21 Đánh giá của người dân về chất lượng tuyến đường 85
Trang 6DANH MỤC HỘP
Hộp 4.1 Ý kiến phát biểu tại một cuộc họp tại xã Trạch Mỹ Lộc 60
Hộp 4.2 Ý kiến phát biểu tại một cuộc họp tại xã Phụng Thượng 61
Hộp 4.3 Ý kiến phát biểu của cán bộ UBND xã Vân Phúc 62
Hộp 4.4 Ý kiến phát biểu tại một cuộc họp tại xã Trạch Mỹ Lộc 70
Hộp 4.5 Ý kiến của người dân ở xã Vân Phúc 71
Hộp 4.6 Ý kiến của người dân ở xã Vân Phúc 71
Hộp 4.7 Ý kiến của cán bộ lãnh đạo xã Vân Phúc 72
Hộp 4.8 Ý kiến của người dân trước việc giải phóng mặt bằng tại xã Phụng Thượng 74
Hộp 4.9 Ý kiến của người dân xã Trạch Mỹ Lộc 75
Hộp 4.10: Nhận thức về lợi ích của hệ thống giao thông liên thôn, ngõ xóm của người dân xã Phụng Thượng 77
Trang 7PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo Kết luận của Bộ Chính trị, Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn có tầm chiến lược và mang tính đột phá, được triển khai thực hiện khá đồng bộ, nghiêm túc, sâu rộng; huy động được cả hệ thống chính trị và đông đảo người dân tham gia (Bộ Chính trị, 2014) Phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để thực hiện được điều này, nông thôn cần phát triển toàn diện theo hướng xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, trong đó hệ thống giao thông liên thôn, ngõ xóm là một bộ phận không thể thiếu, vừa là điều kiện mang tính tiền đề, vừa mang tính chiến lược lâu dài Hệ thống giao thông liên thôn được hình thành sẽ giúp lưu thông được hàng hóa, cải thiện cơ cấu sản xuất, thu hút đầu tư, kỹ thuật, công nghệ để phát triển sản xuất, khai thác tốt tiềm năng
và nguồn lực ở khu vực nông thôn
Trong những năm gần đây, Đảng và Chính phủ luôn có nhiều chính sách quan tâm đến khu vực nông thôn, với mục tiêu cải thiện và nâng cao mức sống cho người dân nông thôn, đặc biệt là người dân ở các vùng xa, miền núi và hải đảo; với nhiều phương châm là “Nhà nước và nhân dân cùng làm, dân làm là chính, có sự hướng dẫn, hỗ trợ của Nhà nước” Để phát triển kinh tế nông thôn thì việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng nông thôn là việc làm rất quan trọng và cấp thiết, trước hết là xây dựng, mở rộng và phát triển hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm Hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm góp phần mở rộng giao lưu giữa nông thôn và thành thị, giữa vùng sản xuất và nơi tiêu thụ và giữa các vùng sản xuất với nhau Kinh nghiệm phát triển của nhiều nước cho thấy, muốn phát triển kinh tế xã hội khu vực nông thôn, trước hết phải đầu tư phát triển mạng lưới giao thông liên thôn, ngõ xóm
Thực tế Bộ giao thông vận tải đã có nhiều cố gắng trong việc đầu tư xây dựng và quản lý hệ thống giao thông liên thôn, ngõ xóm trên toàn quốc Tuy
Trang 8nhiên, với những gì đã làm được vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của khu vực nông thôn, giao thông liên thôn, ngõ xóm vẫn đang được xây dựng một cách nhỏ lẻ và manh mún; chưa có tính liên kết với hệ thống giao thông quốc gia
để tạo nên một hệ thống giao thông thống nhất; chưa thật sự thu hút được sự tham gia của người dân nông thôn trong việc đầu tư vốn để xây dựng và quản lý sau xây dựng
Tổng chiều dài đường bộ của Việt Nam khoảng 180.000 km, trong đó có trên 90 tuyến quốc lộ với tổng chiều dài 15.065 km, tỉnh lộ 36.225 km, huyện lộ 129.259 km, đường đô thị 6.650 km, còn lại là đường xã trên 130.000 km Chất lượng đường còn nhiều hạn chế, tính chung cả hệ thống tỷ lệ trải nhựa mới đạt 42.170 km (xấp xỉ 19%) Khổ đường còn hẹp, nhiều cầu trọng tải thấp Trên các quốc lộ và tỉnh lộ có tổng cộng 7.440 công trình cầu, trong đó số lượng cầu vĩnh cửu mới đạt trên 60% (Harrynguyen, 2015) Ngoài ra còn có một mạng lưới đường thủy với hệ thống sông, kênh rạch dày đặc vào loại tốt nhất trong khu vực Giá trị của hệ thống giao thông nông thôn lên tới hàng nhiều tỷ đô la, nếu không được khai thác, quản lý, bảo trì tốt sẽ là một sự lãng phí rất lớn và ảnh hưởng đến
số đông người hưởng lợi
Vai trò của giao thông là rất lớn, góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế, văn hóa ở những vùng núi xa xôi, củng cố tính thống nhất của nền kinh tế, tăng cường sức mạnh quốc phòng của đât nước và tạo nên một giao lưu kinh tế giữa các vùng, các nước trên thế giới Dước tác động của kinh tế thị trường, sự phát triển của các khối ngành kinh tế và tốc độ đô thị hóa ngày càng gia tăng của thành phố Hà Nội trong những năm qua đã ít nhiều có ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực nông thôn các huyện ngoại thành Hà Nội và huyện Phúc Thọ là một huyện nằm trong số đó Huyện Phúc Thọ nằm ở cửa ngõ phía Tây thành phố Hà Nội, là một trong những huyện ngoại thành đang hứa hẹn rất nhiều tiềm năng cho phát triển kinh tế thương mại và du lịch Do đó, sự phát triển hệ thống giao thông liên thôn, ngõ xóm đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn nói riêng và toàn huyện Phúc Thọ nói chung Tuy nhiên, hoạt động này hiện nay vẫn chưa nhận được sự
Trang 9quam tâm đúng mức từ phía Nhà nước và chính quyền địa phương, đặc biệt là sự ủng hộ từ phía người dân – những người trực tiếp hưởng lợi từ các công trình này, nhưng họ lại chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng hệ thống giao thông liên thôn cũng như sự cần thiết phải bảo vệ và quản lý các công trình này trong quá trình sử dụng Vì vậy, người dân vẫn còn có nhiều vai trò khác nhau trong xây dựng và cũng như sự cần thiết phải bảo vệ và quản lý các công trình này trong quá trình sử dụng Xuất phát từ thực tế tại địa phương, tôi
lựa chọn nghiên cứu đề tài “Đánh giá vai trò của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm ở huyện Phúc Thọ thành phố Hà nội” làm đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế
Trang 101.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng vai trò của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm; trên cơ sở đó đề xuất những định hướng và giải pháp phát huy vai trò của người dân trong việc phát triển hệ thống
đường giao thông liên thôn, ngõ xóm huyện Phúc Thọ trong thời gian tới
- Phân tích những nguyên nhân chủ yếu và yếu tố tác động ảnh hưởng đến vai trò của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm ở huyện Phúc Thọ
- Đề xuất định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của người dân trong xây dựng và quản lý đường giao thông liên thôn, ngõ xóm huyện Phúc Thọ trong thời gian tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu vai trò của người dân trong đầu tư xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm
- Những vấn đề kinh tế, kỹ thuật chủ yếu liên quan đến xây dựng và quản
lý hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm huyện Phúc Thọ
Trang 11- Phân tích những yếu tố tác động đến vai trò của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm ở huyện Phúc Thọ
- Định hướng một số giải pháp chủ yếu trong xây dựng và quản lý đường
bộ giao thông liên thôn, ngõ xóm nhằm góp phần phát triển hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm trong những năm tới đạt hiệu quả cao
1.3.2.2 Phạm vi về không gian
Đề tài được thực hiện tại huyện Phúc Thọ thành phố Hà Nội, trong đó nghiên cứu chọn ra 3 xã là Trạch Mỹ Lộc, Vân Phúc, Phụng Thượng làm điểm nghiên cứu điển hình trên địa bàn huyện Phúc Thọ
1.4 Những câu hỏi được đặt ra trong quá trình nghiên cứu đề tài:
- Lý thuyết vai trò của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường bộ giao thông liên thôn, ngõ xóm – nông thôn như thế nào?
- Người dân đã có vai trò gì trong xây dựng và quản lý hệ thống đường bộ giao thông liên thôn, ngõ xóm?
- Thực trạng vai trò của người dân ở huyện Phúc Thọ trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm ra sao?
- Các tác động, ảnh hưởng của xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm đến phát triển kinh tế - xã hội và cộng đồng ở đây là gì?
- Người dân đã đối mặt với những khó khăn, thuận lợi, thách thức và cơ hội trong tương lai ra sao?
- Làm gì và làm như thế nào để phát huy vai trò của người dân trong quản lý và xây dựng hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm trong những năm tới?
Trang 12PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm
- Khái niệm về đánh giá
Đánh giá có nghĩa nhận định giá trị Những từ có nghĩa gần với đánh giá
là phê bình, nhận xét, nhận định, bình luận, xem xét (Viện ngôn ngữ học, 1994) Đánh giá một đối tượng nào đó, chẳng hạn một con người, một tác phẩm nghệ thuật, một sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ, đội ngũ giáo viên hay đánh giá tác động môi trường có ý nghĩa quan trọng trong nhiều lĩnh vực như chính trị, nghệ thuật, thương mại, giáo dục hay môi trường (Nguyễn Kim Dung, 2012)
- Khái niệm về vai trò
Vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ được gắn liền với một vị thế xã hội nhất định (Robertson, 1987)
Nội dung nghiên cứu vai trò xã hội của một người có nghĩa là người đó phải đảm nhận hay thể hiện đầy đủ các hành vi, nghĩa vụ, hệ thống chuẩn mực trên cơ sở vị thế của người đó Đ
ồng thời họ cũng nhận được những quyền lợi xã hội tương ứng với việc thực hiện vai trò của họ (Robertsons, 1987)
Trong điều kiện hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm nói chung và
hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm nói riêng hiện nay, vai trò của người dân với vấn đề này chính là quyết định của người dân trong việc tham gia xây dựng
hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm
- Khái niệm về hoạt động xây dựng
+ Hoạt động xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình (Quốc Hội, 2014)
Trang 13Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế Công trình xây dựng bao gồm công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, năng lượng và các công trình khác
- Khái niệm về quản lý
Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý có đối tượng quản
lý một cách liên tục, liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằm đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất (Phạm Quang Lê, 2007)
Quản lý đường giao thông liên thôn là việc thực thi các chính sách do hội đồng quyết định và phối hợp các hoạt động hàng ngày để đạt được mục đích và mục tiêu của cơ quan hay tổ chức Nâng cao điều kiện sống cho người dân nông thôn thông qua cải tạo các đường giao thông liên thôn; tăng khả năng tiếp cận cho các vùng nông thôn với các dịch vụ, thương mại; góp phần vào chương trình xóa đói giảm nghèo của Chính phủ Tăng cường năng lực quản lý của các cơ quan trung ương và địa phương Giảm tác động xấu do điều kiện hệ thống đường giao thông liên thôn kém gây ra đối với sức khỏe của dân cư nông thôn và giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn
- Khái niệm về giao thông liên thôn
Giao thông liên thôn được định nghĩa là sự di chuyển người và hàng hóa ở cấp huyện và cấp xã Giao thông liên thôn có thể chia thành 3 loại nhỏ như sau: cơ sở hạ tầng (đường sá, cầu, đường thủy và cảng), phương tiện vận chuyển và con người (Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, 1999)
Theo Sở Giao thông vận tải thành phố Hà Nội, 2013:
+ Đường xã: Là đường nối trung tâm hành chính xã với trung tâm các thôn hoặc đường nối các xã
+ Đường thôn: là đường nối các thôn đến xóm (đường từ trung tâm đến các thôn bản đến các khu dân cư thuộc thôn bản đó)
+ Đường xóm, ngõ: Là đường nối giữa các hộ gia đình (đường chung của
Trang 14liên gia, từ đường trục thôn, xóm đến hộ gia đình)
+ Đường trục chính nội đồng: là đường chính nối từ đồng ruộng đến khu dân cư (các tuyến đường này nhiều đoạn có thể trùng với đường xã, đường trục thôn xóm)
2.1.2 Đặc điểm trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn
2.1.2.1 Về mặt đầu tư xây dựng hệ thống đường giao thông
Mạng lưới đường giao thông liên thôn, ngõ xóm ở các huyện nghèo, các
xã vùng sâu vùng xa được ưu tiên phục hồi, nâng cấp, đặc biệt làm mới nhiều đoạn đường cho các xã chưa có đường ô tô vào tới trung tâm Tuy nhiên, việc phát triển hệ thống đường giao thông liên thôn cũng còn quá nhiều bất cập Vấn
đề đầu tiên đặt ra là sự hạn hẹp của nguồn vốn so với nhu cầu to lớn của phát triển hệ thống giao thông liên thôn; đi kèm với công tác đầu tư phát triển, nhu cầu vốn cho duy tu bảo dưỡng đường nông thôn cũng tăng lên; Mô hình quản lý đường giao thông liên thôn cũng chưa được định hình và thống nhất; năng lực của các nhà thầu tại địa phương cũng còn nhiều bất cập Để thực hiện được mục tiêu xóa đói giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam thông qua việc cải thiện sự lưu thông của người dân, hàng hóa và dịch vụ tại nông thôn, chương trình giao thông liên thôn cần rất nhiều yếu tố để phát triển, từ nguồn kinh phí, năng lực cán bộ và quan trọng là một chương trình chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí trong toàn ngành (Dương Chí Thanh, 2011)
Đồng thời thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn có tầm chiến lược và mang tính đột phá, được triển khai thực hiện khá đồng bộ, nghiêm túc, sâu rộng; huy động được cả hệ thống chính trị và đông đảo người dân tham gia
2.1.2.2 Về mặt khai thác các công trình giao thông
Do việc đầu tư cơ giới cho nông nghiệp ngày càng tăng, nên các tuyến đường giao thông liên thôn hiện nay hầu như không đảm bảo về kỹ thuật (tiêu chuẩn nền, mặt đường và tải trọng thiết kế công trình) cho việc vận tải bằng cơ giới hiện nay và trong tương lai, hệ thống giao thông đường huyện hầu hết không
Trang 15có hệ thống cọc tiêu, biển báo nên cũng đã gây ảnh hưởng đến chất lượng khai thác và sử dụng (Dương Chí Thanh, 2011)
2.1.2.3 Về duy tu và bảo dưỡng hệ thống đường giao thông
Dù là đường nhỏ thì việc duy tu bảo dưỡng cũng rất tốn kém tại vùng nông thôn và mọi nỗ lực cần được bỏ ra nên tập trung vào một mạng lưới nòng cốt được lựa chọn một cách cẩn thận, đồng thời dựa vào các nguồn lực địa phương càng nhiều càng tốt Việc duy tu bảo dưỡng là một yếu tố then chốt liên quan đế cả về mặt chất kỹ thuật, tài chính và thể chế Các vấn đề thường phát sinh vì quỹ cho việc duy tu bảo dưỡng và trách nhiệm cho từng cấp chính quyền liên quan tới các việc cần làm chưa được xác định như các việc phải làm, quy định người chịu trách nhiệm về công việc đó, xác định rõ phần ngân sách cần thiết cũng như các nguồn lực để gây quỹ thường không được xem trọng (Dương Chí Thanh, 2011)
Đường nông thôn thường là đường đất nên rất dễ bị lầy lội, sụt lún do nước mưa, nước lũ, mương máng chảy cạnh đường hoặc bắc qua đường, nước ngầm mao dẫn từ dưới lên hoặc hai bên vào làm đường hư hỏng Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác như:
- Tác động của môi trường: các điều kiện thời tiết ẩm ướt, khô hanh, mưa nắng, lũ lụt…Tải trọng tác dụng lên mặt đường: người và xe chạy trên đường, nhất là xe quá tải trọng Các tác nhân khác: cây đổ, đá lăn, sụt lở, thiên tai…
- Yếu tố con người: việc sử dụng mặt đường, vai đường, rãnh thoát nước
để chất đống vật liệu và nông sản của địa phương, gây cản trở thoát nước, làm hỏng kết cấu mặt và rãnh Người dân chưa có ý thức trong việc sử dụng đường giao thông vào các mục đích khác
Việc bảo dưỡng là công việc rất cần thiết bao gồm: bảo dưỡng đường không rải mặt, bảo dưỡng lớp bề mặt của đường có rải mặt, bảo dưỡng thường xuyên và làm mới định kỳ lớp áo đường bằng đá hoặc láng lớp mặt Tăng cường công tác bảo trì theo kế hoạch, đưa việc bảo trì đường thành một công việc nhất định phải làm giống như phần xây dựng, trong đó cần gắn kết quyền lợi có công trình với trách nhiệm gìn giữ, khai thác, bảo trì công trình có hiệu quả thông qua yêu cầu
Trang 16“cam kết bảo trì” cho tất cả các cấp và người hưởng lợi
2.1.2.4 Về mặt quản lý
Các địa phương chưa quan tâm đầy đủ về vấn đề duy tu bảo dưỡng mà vẫn còn nặng nề trong công tác xây dựng và nâng cấp đường mới, do đó hệ thống giao thông liên thôn càng xuống cấp nhanh chóng Chưa có quản lý chặt chẽ về quy mô, tiêu chuẩn kỹ thuật, độ bền vững của công trình, khi có mưa lớn và lũ lụt xẩy ra đã làm sụt lở đường sá, cầu cống bị trôi, đường bị hỏng hóc đã gây ách tắc giao thông.Chưa thực hiện tốt công tác quản lý và duy tu sửa chữa đường và các công trình trên đường
Đa số các huyện nói chung nắm chưa chắc tình hình đường sá trên địa bàn huyện mình quản lý, số liệu báo cáo chưa chính xác, chưa có sổ sách theo dõi tình trạng đường Hệ thống đường giao thông xã không có bộ phận quản lý giao thông rõ rệt.Trong khâu thi công nghiệm thu bàn giao, nhìn chung còn chưa chặc chẽ, nhất là đường trong các dự án, đường của các xã tự huy động vốn Tuy mạng lưới giao thông liên thôn rất quan trọng, nhưng cho đến nay thì từ trung ướng đến các cơ sở chưa có tổ chức chuyên trách làm tham mưu cho chính quyền các cấp về công tác xây dựng và quản lý (Dương Chí Thanh, 2011)
2.1.2.5 Về nguồn vốn cho phát triển giao thông liên thôn
Để huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển hệ thống giao thông liên thôn, Nhà nước thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, các cơ quan chức năng của Chính phủ hướng dẫn các địa phương xây dựng chương trình phát triển giao thông liên thôn theo cơ chế ban đầu là: Đường nông thôn do dân làm là chính; Đường miền núi, trung du do dân làm, Nhà nước hỗ trợ
ở mức cần thiết; Đường vùng cao do dân làm, Nhà nước hỗ trợ đúng mức (Dương Chí Thanh, 2011)
2.1.3 Vai trò của hệ thống đường giao thông liên thôn đối với phát triển kinh
tế - xã hội
Theo phân cấp thông lệ quốc tế, thì mạng lưới giao thông liên thôn thuộc loại 3 Chức năng của nó là gắn kết hệ thống giao thông liên thôn với mạng lưới
Trang 17thứ cấp (loại 2) và mạng lưới chính yếu (loại 1) thành hệ thống giao thông liên hoàn phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Trong giao thông liên thôn thì đường bộ có vai trò chủ đạo, quan trọng nhất sau đó là đường thủy nội địa Đường thủy nội địa có vai trò hỗ trợ, liên kết, đặc biệt là ở hai vùng Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long
Đường bộ nông thôn là đường cấp huyện trở xuống, bao gồm đường huyện, đường xã và đường thôn xóm Song chỉ có đường huyện và đường xã là được phân cấp trong Nghị định 186/2004/NĐ-CP ngày 05 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ quy định về Quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ còn mạng lưới đường thôn xóm chưa được phân cấp (Lê Thị Bích Lan, 2008)
a Đối với phát triển kinh tế
Giao thông liên thôn, ngõ xóm giúp hộ nông dân, các trang trại đưa nông sản đến bán cho các cơ sở chế biến, đến các đô thị, đến các vùng dân cư trong cả nước, đảm bảo và nâng cao chất lượng hàng hóa nông sản, nhất là các nông sản tươi sống phục vụ cho tiêu dùng cũng như cho khu công nghiệp chế biến Ngược lại, nó còn giúp cho thị trường nông thôn phát triển, vì nông thôn là thị trường rộng lớn để tiêu thụ các hàng hóa các ngành công nghiệp, sản xuất khác Đối với vùng núi, vùng sâu, vùng xa giao thông liên thôn còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Nếu cơ sở hạ tầng giao thông liên thôn không tốt sẽ là trở ngại chính đối với sự phát triển khả năng chuyên môn hóa sản xuất tại từng khu vực về cả cây ngắn ngày và cây dài ngày có tiềm năng phát triển nhưng không thể tiêu thụ được sản phẩm hoặc không được cung cấp lương thực một cách ổn định Như vậy, giao thông liên thôn còn là giải pháp tích cực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn (cả nông nghiệp và phi nông nghiệp) sang sản xuất hàng hóa
Hệ thống đường giao thông liên thôn hoàn chỉnh tạo tiền đề cho quá trình phát triển kinh tế và thực hiện nhiệm vụ xã hội Nó đảm bảo tính liên tục của quá trình sản xuất trong phạm vi lưu thông, là khâu mở đầu và cũng là khâu kết thúc cho quá trình sản xuất; hệ thống giao thông liên thôn hoàn chỉnh nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông thôn và thúc đẩy công nghiệp hóa – hiện đại
Trang 18hóa ở nông thôn một cách nhanh chóng Ở các vùng nông thôn, sản phẩm họ làm
ra chủ yếu là các sản phẩm thô phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến như hoa quả, ngũ cốc, tôm, cua, cá… Một số mặt hàng cần tươi sống khi đến nơi sản xuất
và tiêu dùng Nếu như hệ thống giao thông không tốt, nó sẽ ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm như vậy sẽ kìm hãm quá trình sản xuất Còn nếu hệ thống giao thông tốt nó sẽ thúc đẩy sự lưu chuyển này từ đó thúc đẩy sản xuất của người dân
và của các nhà máy Vì vậy, đời sống của các vùng nông thôn được cải thiện (Ban quản lý dự án huyện Gia Lâm, 2007)
b Đối với phát triển xã hội
Hệ thống đường giao thông liên thôn phát triển đảm bảo cho các hoạt động đi lại của người dân vùng đó được thuận lợi hơn Từ đó sẽ thúc đẩy việc giao lưu văn hóa giữa các vùng, các khu vực, giữa thành phố với nông thôn, giữa đồng bằng với miền núi
Giao thông liên thôn phát triển còn tạo công ăn việc làm cho người dân nông thôn lúc nông nhàn Vì các công trình giao thông này được xây dựng ngay tại địa phương và phải cần đến một lượng lao động lớn Do đó có thể huy động một số lao động của địa phương, giải quyết vấn đề thất nghiệp tạm thời cho người dân Ngoài ra, giao thông liên thôn phát triển còn để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trên bước đường hội nhập kinh tế trên thế
giới và trong khu vực (Lê Thị Bích Lan, 2008)
2.1.4 Ý nghĩa của nghiên cứu vai trò của người dân trong xây dựng và quản lý
hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm
Hệ thống đường giao thông nói chung có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của khu vực nông thôn Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi lượng hàng nông sản khu vực nông thôn sản xuất ra ngày một nhiều thì lưu lượng vận chuyển hàng hóa trên các tuyến đường này càng gia tăng Mỗi một quyết định của người dân chính là vai trò về một khía cạnh nào đó liên quan đến vấn đề xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm
Đánh vài trò của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường
Trang 19giao thông liên thôn mang một ý nghĩa kinh tế - xã hội sâu sắc, quan trọng trong đời sống về phát triển kinh tế - xã hội Ý nghĩa ấy được thể hiện trên các khía cạnh sau:
Thứ nhất, việc nghiên cứu cho thấy người dân khu vực nông thôn sẽ có
vai trò ra sao với vấn đề xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm trong điều kiện hiện tại Chúng ta sẽ biết được rằng hiện tại họ đang nghĩ gì về tương lai các con đường trong khu vực nông thôn họ đang sống?
Họ mong muốn điều gì với những tuyến đường sắp tới được xây dựng? Liệu họ
có gặp phải khó khăn trong vấn đề góp vốn xây dựng? Việc đền bù khi xây dựng các tuyến đường liệu có thỏa đáng với người dân? Hay việc lựa chọn loại đường
sẽ xây dựng là láng nhựa hay bê tông xi măng?… Tất cả những điều này đều ảnh hưởng tới việc ra quyết định của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm Nghiên cứu sẽ cho thấy xu hướng đưa ra các quyết định của người dân về một khía cạnh nào đó trong hoạt động xây dựng
và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm Chẳng hạn khi người dân nhận được sự hỗ trợ về kinh phí của Nhà nước để đầu tư xây dựng mới hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm và những khoản đóng góp của họ nằm trong phạm vi điều kiện kinh tế hộ cho phép thì người dân thường có xu hướng là cùng kêu gọi mọi người trong thôn tham gia (Dương Chí Thanh, 2011)
Thứ hai, nghiên cứu này sẽ tìm hiểu nguyên nhân đi đến quyết định trước
những thay đổi có liên quan đến xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm Vai trò trong việc tham gia của người dân phụ thuộc chủ yếu vào các điều kiện kinh tế tài chính của hộ Chính sự ràng buộc
về tài chính – kinh phí đóng góp xây dựng đã bắt buộc người dân phải có những vai trò rất khác nhau trước những quyết định xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm Tuy nhiên, ngoài những yếu tố có liên quan đến vấn đề tài chính thì còn có những vấn đề như giải phóng mặt bằng, đền bù nhà cửa, ruộng đất cho người dân, tham gia quy hoạch các tuyến đường (Dương Chí Thanh, 2011)
Thứ ba, từ việc xác định, phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng tới hành
Trang 20vi của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm nghiên cứu sẽ góp phần quan trọng cho việc đề xuất các khuyến cáo, tư vấn và định hướng chính sách cho việc phát triển hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm (Dương Chí Thanh, 2011)
- Đối với người dân khu vực nông thôn, nghiên cứu sẽ đưa ra các khuyến cáo trong việc đưa ra các quyết định, sự tham gia của người dân trước việc xây dựng hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm Họ có thể tự mình đưa ra các quyết định hay cần sự hỗ trợ và tư vấn từ phía Nhà nước và các cơ quan chuyên môn để đưa ra những quyết định cuối cùng
- Đối với vấn đề phát triển thể chế và chính sách, nghiên cứu sẽ đưa ra những tư vấn, định hướng chính sách để hình thành những thể chế, cơ chế có vai trò ngày càng tích cực trong việc xây dựng, quản lý và phát triển hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm phù hợp với địa phương Cụ thể, nghiên cứu sẽ góp phần định hướng nên tạo ra những thay đổi gì để những vai trò tích cực của người dân được diễn ra nhanh hơn, mạnh dạn hơn, hiệu quả hơn (Lê Thanh Tùng, 2014)
Thứ tư, đó là ý nghĩa về mặt kinh tế - xã hội mà nghiên cứu mang lại
Phát triển đời sống kinh tế xã hội khu vực nông thôn nói chung và phát triển
hệ thống giao thông liên thôn, ngõ xóm nói riêng đang là mối quan tâm của toàn xã hội Nghiên cứu vai trò của người dân sẽ có những tác động tích cực cho quá trình xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm ở các địa phương (Dương Chí Thanh, 2011)
2.1.5 Nội dung đánh giá vai trò của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm
Để đánh giá vài trò của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm chính là nghiên cứu về thái độ, hành động của người dân trước một sự việc cụ thể có liên quan đến hệ thống giao thông liên thôn, ngõ xóm trên địa bàn họ đang sinh sống Đánh giá vai trò của người dân được thể hiện cụ thể: người dân tham gia quy hoạch xây dựng; mức độ đóng góp tài chính; đóng góp ngày công lao động; giải phóng mặt bằng, hiến đất; giám sát,
Trang 21quản lý, duy tu, bảo dưỡng các tuyến đường giao thông liên thôn, ngõ xóm
a) Vai trò của người dân trong việc quy hoạch xây dựng các tuyến đường giao thông liên thôn, ngõ xóm
Người dân được tham gia quy hoạch, khảo sát, thiết kế, lập kế hoạch xây
dựng các tuyến đường giao thông liên thôn, ngõ xóm , họ là người hiểu rõ tường tận, rõ ràng về hiện trạng tuyến đường, ảnh hưởng và cách thức lựa chọn như thế nào Họ được tham gia các cuộc họp, có ý kiến xây dựng, trình bày quan điểm, thảo luận, quyết định, lựa chọn các vấn đề và đi đến thống nhất vấn đề được cộng đồng dân cư biểu quyết thông qua
Ở mỗi cụm dân cư ở các xã, khi xây dựng tuyến đường giao thông liên thôn, ngõ xóm thành lập một Tiểu ban xây dựng, Trưởng Tiểu ban xây dựng có thể là trưởng Ban Mặt trận tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội cụm dân cư, có thể
có sự tham gia của cán bộ xã Ủy ban nhân dân xã ra quyết định thành lập TBXD dựa trên danh sách của cụm dân cư đã tín nhiệm, giới thiệu bầu
Nhiệm vụ của Tiểu ban xây dựng là tổ chức các cuộc họp dân ở tại Nhà văn hóa cụm dân cư để xin ý kiến thống nhất việc quy hoạch xây dựng đường giao thông liên thôn, ngõ xóm Tại các cuộc họp người dân lần lượt được trình bày ý kiến, là lực lượng trực tiếp khảo sát hiện trạng các tuyến đường, lựa chọn xây dựng loại đường, lựa chọn vật liệu xây dựng cùng thảo luận rồi đưa ra các phương án, thống nhất một cách hợp lý xây dựng thành khung kế hoạch cụ thể Tiểu ban xây dựng có vai trò rất quan trọng trong việc huy động sự tham gia của người dân, làm cầu nối với các cá nhân, tổ chức bên ngoài cộng đồng thực hiện các nội dung liên quan đến việc xây dựng và quản lý đường giao thông liên thôn, ngõ xóm như quản lý, tổng hợp các văn bản cam kết, các hợp đồng được ký kết giữa người dân và Tiểu ban xây dựng nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm của người dân trong các hoạt động chung của thôn, xóm
Thông qua các cuộc họp phát huy tinh thần dân chủ của người dân, để bàn bạc, nhất trí cao đưa ra các quyết định, quy định cuối cùng của thôn trong việc chuẩn bị xây dựng đường liên thôn, ngõ xóm Được cụ thể thành các văn bản cam kết có chữ ký của từng người trong cuộc họp Đồng thời việc xây dựng các
Trang 22hạng mục công trình trong kế hoạch, người dân tự đứng ra mua vật liệu xây dựng như xi măng, cát, sỏi, việc mua bán này được thực hiện thông qua giấy biên nhận, hóa đơn có xác nhận của chính quyền xã để tiện cho việc làm chứng từ thanh toán
Vai trò của người dân trong quy hoạch là việc người dân tham gia khảo sát, thiết kế, lập kế hoạch xây dựng và quản lý đường giao thông liên thôn, ngõ xóm là việc đặc biệt quan trọng vì người dân được phát huy tính chủ động, dân chủ cho chính vấn đề họ quan tâm, phục vụ lợi ích của họ Từ đó hoạt động này mang tính thiết thực, được sự hưởng ứng tích cực, tham gia nhiệt tình của người dân trong các cụm dân cư góp phần xây dựng đường giao thông liên thôn, ngõ xóm ngày càng đẹp hơn
b) Vai trò của người dân quyết định đóng góp vốn, tài chính để xây dựng đường giao thông liên thôn, ngõ xóm
Cũng như các ngành khác, nguồn vốn huy động đầu tư cho giao thông nông thôn gồm các loại:
Nguồn vốn đầu tư trong nước bao gồm nguồn hỗ trợ từ ngân sách trung ương, vốn đối ứng của chính phủ Việt Nam trong các chương trình, dự án ODA nước ngoài, nguồn vốn đầu tư giao thông nông thôn được lồng ghép trong các chương trình như 135, trung du miền núi phía Bắc, vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, Tây Nguyên,… Một số địa phương được cấp vật tư, thiết bị
để phát triển giao thông nông thôn, đặc biệt là do các địa phương nghèo Ngoài ra có mỗi tỉnh, mỗi huyện có một khoản ngân sách hàng năm dành cho đường bộ, được cấp phát từ các nguồn thu để lại, cộng với bất kỳ khoản vốn
ủy thác nào của tỉnh hoặc huyện (Lê Thanh Tùng, 2014)
Nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, bao gồm vốn hỗ trợ phát triển (ODA) của các nhà tài trợ, viện trợ không hoàn lại của các tổ chức chi phí chính phủ, các chương trình phát triển kinh tế nước ngoài đầu tư hoặc liên doanh đóng trên địa bàn Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: nguồn vốn dành cho thực hiện các trương trình kiên cố hóa kênh mương, phát triển đưởng giao thông nông thôn (theo Quyết định số 13/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) Theo đó, Ngân hàng phát triển Việt Nam cho các địa phương vay vốn thực hiện theo đúng các chương trình đã được thực hiện theo đúng các chương
Trang 23trình đã được quy định (Lê Thanh Tùng, 2014)
Xác định giao thông liên thôn, ngõ xóm là một tiêu chí quan trọng trong xây dựng nông thôn mới, đồng thời tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nhân dân Trong việc xây dựng đường giao thông liên thôn, ngõ xóm thì nguồn lực vốn, tài chính được huy động từ nhân dân là rất lớn và đặc biệt quan trọng góp phần vào việc quyết định có xây dựng hay không và mức đóng góp là bao nhiêu? Hình thức đóng góp như thế nào?
Trong việc huy động đóng góp vốn, tài chính, từ sự tín nhiệm bầu ra TBXD kết hợp với các tổ chức chính trị - xã hội và người chủ trì là Cụm trưởng cụm dân cư có trách nhiệm tổ chức họp dân Thông qua các cuộc họp bàn, thống nhất theo đa được biểu quyết tại các cuộc họp để quy định cụ thể
về mức đóng góp đối với từng hộ hay đóng góp theo khẩu, quy định mức đóng góp đối với hộ nghèo,… TBXD có trách nhiệm phân công, chia tổ đến từng hộ gia đình thu tiền theo mức đã được thông qua tại các cuộc họp
c) Vai trò của người dân trong việc quyết định đóng góp ngày công lao động trong việc xây dựng đường giao thông liên thôn, ngõ xóm
Sự đóng góp của nhân dân thông qua ngày công lao động xây dựng phát triển các công trình công cộng trong đó có giao thông nông thôn, đóng góp của các doanh nghiệp, các hợp tác xã, các tổ chức cá nhân đầu tư phát triển giao thông nông thôn cũng như đóng góp từ các phong trào, đoàn thể để thực hiện các chương trình về cơ sở hạ tầng nông thôn ưu tiên
Với hoạt động thiết thực như phong trào “Nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới” được người dân hưởng ứng, tích cực thực hiện Tham gia đóng góp nguyên vật liệu, ngày công lao động, xây dựng đường giao thông liên thôn, ngõ xóm Cũng như việc đóng góp tài chính thì việc huy động đóng góp ngày công lao động cũng được thông qua các cuộc họp để thống nhất số ngày công lao động trên số km đường xây dựng cho từng hộ, hay từng khẩu trong thôn, xóm
Là lực lượng đông đảo, trực tiếp xây dựng, giữ gìn và bảo vệ những công trình tại địa phương, người nông dân hiện nay đã phát huy những tiềm năng, đức tính cần cù, sáng tạo, tinh thần đoàn kết, góp phần to lớn trong sự ngiệp phát triển
Trang 24kinh tế - xã hội nói chung (Đỗ Văn Tuấn, 2012)
d) Vai trò của người dân tham gia giải phóng mặt bằng, hiến đất để xây dựng đường giao thông liên thôn, ngõ xóm
Khi xây dựng các tuyến đường mới thì những hộ nằm trong khu vực quy hoạch sẽ bị ảnh hưởng tới diện tích đất thổ cư, nhiều gia đình phải phá bỏ tường rào, chặt bỏ cây cối… Hiểu được ý nghĩa to lớn của việc làm đường giao thông
và trách nhiệm của mình, một số hộ nông dân đã gương mẫu đi đầu trong việc tự nguyện hiến đất, phá bỏ những tài sản nằm trong khu vực quy hoạch làm đường
để việc giải phóng mặt bằng được thuận lợi Bởi đường giao thông được mở rộng tạo điều kiện thuận lợi hơn trong quá trình đi lại, sản xuất nông nghiệp và khi đó năng suất cây trồng sẽ được nâng lên, thu nhập cũng tăng lên và ngày càng ổn định hơn (Đỗ Văn Tuấn, 2012)
Bên cạnh đó, cũng có khó khăn vì một số hộ lưỡng lự, không đồng tình, ủng hộ trong việc tham gia hiến đất để giải phóng mặt bằng xây dựng đường giao thông liên thôn, ngõ xóm Được sự vận động tích cực của các ban, ngành, đoàn thể của cụm dân cư, TBXD, các hộ cũng nhanh chóng hiểu ra, tự giác chấp hành giúp cho việc xây dựng các tuyến đường được thuận lợi, đúng tiến độ
e) Vai trò của người dân trong việc tham gia giám sát, quản lý, duy tu, bảo dưỡng các tuyến đường giao thông liên thôn, ngõ xóm
Hoạt động giám sát kiểm tra được thực hiện do người dân bầu ra Ban Giám sát riêng của từng địa phương có sự phê chuẩn của chính quyền địa phương cùng với việc thuê một số chuyên gia giám sát từ bên ngoài đảm bảo tiến hành giám sát các công trình xây dựng các tuyến đường giao thông liên thôn, ngõ xóm theo đúng kỹ thuật như thiết kế Đây là việc gắn kết trách nhiệm của người dân với việc thi công các công trình, nâng cao ý thức vai trò của người dân Ban Giám sát trong quá trình thực hiện phát hiện việc thi công không đạt chất lượng, yêu cầu dỡ bỏ xây lại đảm bảo đúng kỹ thuật Trong trường hợp cần điều chỉnh, Ban Giám sát có thể xin ý kiến để điều chỉnh cho phù hợp với thực tế để đảm bảo hiệu quả giám sát và chất lượng công trình (Đỗ Văn Tuấn, 2012)
Các tuyến đường giao thông liên thôn, ngõ xóm được hoàn thành bàn giao, đưa
Trang 25vào sử dụng thì người dân là người được hưởng lợi, phục vụ lợi ích của người dân Trên thực tế, nhiều hệ thống đường huyện, đường xã do không có kinh phí cho công tác quản lý bảo trì, bảo dưỡng nên một số tuyến đường bị hư hỏng, xuống cấp gây khó khăn cho các phương tiện tham gia giao thông Chính vì vậy công trình sau khi đã hoàn thành thì việc quản lý, duy tu, bảo dưỡng là hoạt động rất quan trọng Việc huy động nhân dân tham gia quản lý, bảo dưỡng, bảo trì kết hợp với những phong trào được thực hiện thường xuyên Nhân dân được huy động tham gia với việc phát cây, dọn cỏ; khơi thông cống rãnh; khơi nước mùa mưa; tẩy gợn sóng mặt đường, đắp phụ lề đường, nền đường; hót đất sụt nhỏ; vá
ổ gà; chôn chỉnh cọc tiêu, biển báo (Đỗ Văn Tuấn, 2012)
2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường bộ giao thông nông thôn
2.1.6.1 Trình độ văn hóa
Trình độ văn hóa hay trình độ lao động có ảnh hưởng rất lớn đến vai trò của người dân Nếu một người có hiểu biết, nhận thức cao thì chắc chắn sẽ có nhận thức khác một người hiểu ít hay mức độ nhận thức thấp Khi một người có
sự hiểu biết hơn người khác về một vấn đề nào đó thì chắc chắn họ sẽ đưa ra những quyết định phù hợp và đúng đắn hơn Vai trò của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường bộ giao thông liên thôn, ngõ xóm cũng vậy Khi người dân nhận thức được những lợi ích mà các tuyến đường liên thôn, ngõ xóm mang lại thì sự tham gia của người dân vào các hoạt động xây dựng và những đóng góp của họ cho công tác này cũng tích cực hơn
2.1.6.2 Yếu tố về vốn
Vốn là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của người dân tham gia đóng góp kinh phí cho công tác làm đường Ở nhiều địa phương, người dân rất muốn được làm mới lại các tuyến đường, song do gặp phải khó khăn về vốn mà họ không thể thực hiện được Đặc biệt là đối với các hộ nghèo, đóng góp kinh phí xây dựng mới các tuyến đường, thật sự là một khoản đóng góp lớn đối với họ Đứng trước những khó khăn này, điều mà người dân mong muốn là nhận được nhiều hơn nữa sự hỗ trợ của Nhà nước, của chính quyền cho công tác xây
Trang 26dựng, làm mới các tuyến đường liên thôn, ngõ xóm trên địa bàn
2.1.6.3 Nhóm các yếu tố về cơ chế, chính sách, chủ trương của Nhà nước
- Các yếu tố về cơ chế
Để xây dựng giao thông nông thôn – giao thông liên thôn, ngõ xóm trên các địa bàn chưa có chính sách huy động sự tham gia đóng góp của các thành phần kinh tế để cùng với người dân xây dựng các công trình giao thông mà vẫn áp dụng cách tiếp cận dựa vào cung cấp là chính Nguồn kinh phí đầu tư của chính phủ và các tổ chức quốc tế hạn chế trong khi khu vực nông thôn còn khó khăn, trải rộng trên phạm vi lớn Về cơ chế chúng ta chưa thực sự rộng mở, vẫn rắp theo khuôn khổ và không có tính năng động để điều chỉnh cho sát với thực tiến và thực tế yêu cầu Chúng ta chỉ mới huy động được sự đóng góp của các tổ chức quốc tế và phần nhỏ đóng góp của nhân dân mà chưa huy động được hầu khắp các thành phần kinh
tế, chưa đủ khả năng và điều kiện để 100% các xã có đường giao thông nông thôn
Để bắt kịp theo sự phát triển về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cần phải đổi mới mạnh về cơ chế chính sách nhằm thu hút các thành phần kinh tế có tiềm lực đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn
Xây dựng cơ chế chính sách phát triển giao thông nông thôn là mục tiêu quan trọng và được nêu hàng đầu trong chiến lược phát triển mạng lưới giao thông nông thôn quốc gia, vì nếu quản lý chuyên ngành giao thông nông thôn có hiệu quả sẽ góp phần giảm đói nghèo và cải thiện điều kiện sống của người dân vùng nông thôn, đưa nền kinh tế của các vùng nông thôn ngày một phát triển Xây dựng cơ chế chính sách phát triển giao thông nông thôn cần quan tâm đến các vấn đề:
- Xác định vai trò của giao thông nông thôn đối với công tác giảm đói nghèo và cải thiện đời sống xã hội
- Xác định nhiệm vụ chính, xây dựng năng lực, xây dựng các chức năng quản lý của Bộ giao thông vận tải (trong vấn đề này cần quan tâm đến xây dựng năng lực cho ban Giao thông nông thôn của Bộ Giao thông vận tải về nhân lực và trình độ chuyên môn)
- Xây dựng năng lực của địa phương: phân rõ trách nhiệm quản lý, nhu
Trang 27cầu năng lực của tỉnh, huyện, xã, thôn
- Xây dựng cơ chế chính sách cho người dân địa phương: xác định vai trò của người dân trong việc xây dựng, nâng cấp, bảo dưỡng các tuyến đường giao thông nông thôn trên địa bàn huyện, xã, thôn mà họ sinh sống
- Các yếu tố về pháp chế
Do việc quản lý hiện nay còn mang tính áp đặt từ trên xuống, không bám sát thực tế và do vậy còn thiếu các qui định rõ ràng, phù hợp với thực tế đang phát triển Việc xây dựng quy định chỉ mang tính tương đối, không phù hợp với điều kiện, thực
tế của nhiều vùng hoặc đôi khi chỉ mang tính chất cho có Bên cạnh đó vẫn còn thiếu các hướng dẫn cụ thể để có thể quản lý tốt lĩnh vực xây dựng, quản lý và khai thác các công trình giao thông nông thôn Trong thời gian tới cần khắc phục ngay những yếu điểm này để việc quản lý đi vào khuôn khổ và tạo tiền đề cho những nội dung khác
- Các yếu tố về đầu tư
Tình trạng đường giao thông nông thôn nói chung là là rất xấu do vốn cho công tác duy tu bảo dưỡng còn hết sức hạn chế, nhiều tuyến trọng tải xe bị hạn chế do cầu yếu hoặc các công trình thoát nước kém Vì vậy nhiều xã đã có đường
về trung tâm nhưng không đảm bảo đi lại thông suốt va an toàn quanh năm Thực tế hiện nay để thúc đẩy quá trình phát triển đường giao thông nông thôn chúng ta cần huy động nguồn tài chính khá lớn phục vụ cho sự phát triển chung Chính phủ cần đẩy mạnh việc tạo nguồn đầu tư mới và tìm thêm các nguồn kinh phí cho việc đầu tư vào xây dựng, nâng cấp và duy tu bảo dưỡng các con đường giao thông nông thôn thông qua hàng loạt hình thức cung cấp tín dụng, kênh tài chính Các địa phương không thể ngồi yên chờ sự hỗ trợ từ phía trung ương mà cần năng động và vận dụng linh hoạt các chính sách nhằm tạo dựng nguồn tài chính, nguồn vốn cho việc duy tu và bảo dưỡng các con đường giao thông nông thôn của địa phương mình
Trang 28chỉ rõ, tất cả các nước có nền kinh tế phát triển nhanh đều đề ra chủ trương phát triển hệ thống giao thông liên thôn đi trước một bước, trong đó đặc biệt chú trọng đầu tư phát triển hệ thống giao thông liên thôn, giao thông liên thôn Có thể nói ở hầu hết các nước có tốc độ phát triển nhanh nhiều năm qua đều là những nước đã hoàn thành cơ bản xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, trong đó có giao thông liên thôn Có thể thấy rõ điều này qua tình hình thực hiện đầu tư và chiến lược phát triển hệ thống giao thông liên thôn của một số nước trên thế giới như Hà Quốc, Trung Quốc, Bangladesh và một số nước trong khu vực Đông Nam Á có điều kiện
tự nhiên và đặc điểm sản xuất nông nghiệp như nước ta (Dương Chí Thanh, 2011)
2.2.1.1 Malaysia
Trong cuốn “Malaysia – Kế hoạch triển vọng lần thứ hai” (1991 - 2000), do Cục xuất bản quốc gia Malaysia ấn hành, phần cơ sở hạ tầng và giao thông liên thôn đã đưa ra những kết luận quan trọng về phát triển hệ thống giao thông liên thôn trong sự phát triển nông nghiệp nông thôn nói chung Các kết luận này cũng đã được các nước khác trong khu vực và trên thế giới ghi nhận Trong đó đã ghi:
- Đầu tư phát triển hệ thống giao thông liên thôn là cần thiết Việc xây dựng và nâng cao đường sá nông thôn sẽ tiếp tục nâng cao khả năng tiếp cận của những khu vực nông thôn và bổ sung những nỗ lực xóa đói giảm nghèo của Chính phủ Các phương tiện cơ sở hạ tầng sẽ được mở rộng đến các trung tâm và những vùng kém phát triển hơn nhằm nâng cao khả năng tiếp cận, phù hợp với mục tiêu cân đối tổng thể sự phát triển kinh tế - xã hội
- Việc cung cấp một hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông liên thôn rộng rãi hơn và hiệu quả hơn trong một mạng lưới giao thông liên thôn ngày càng phức tạp với chất lượng ngày một nâng cao sẽ đòi hỏi những nguồn lực phức tạp Trong khi khu vực Nhà nước sẽ tiếp tục huy động các nguồn ngân sách để đáp ứng những nhu cầu này, thì sự tham gia mạnh mẽ hơn của khu vực tư nhân sẽ trở nên ngày càng quan trọng Để thực hiện phương châm này Chính phủ cần giải quyết những vấn đề mà khu vực tư nhân gặp phải như khuyến khích đầu tư, định giá, thu hồi phí…(Dương Chí Thanh, 2011)
Trang 292.2.1.2 Thái Lan
Thái Lan là một trong những nước lớn cả về diện tích và dân số trong khu vực Đông Nam Á, là nước nông nghiệp xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới Chính sách của Thái Lan là ưu tiên phát triển giao thông liên thôn, đặc biệt là giao thông đường bộ
Năm 1992 tổng chiều dài đường bộ cả nước là 167.488 km, trong đó 107.300 km đường nông thôn Từ kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1972 - 1976) mạng lưới giao thông liên thôn đã được quan tâm phát triển, đặc biệt là các đường nối liền khu sản xuất với các thị trường chế biến và tiêu thụ Tính đến năm 1976, năm cuối cùng của kế hoạch đã xây dựng mới và nâng cấp 16.569 km đường nông thôn, phần lớn tập trung vào các vùng có tiềm năng sản xuất (Dương Chí Thanh, 2011)
Đường giao thông liên thôn được đưa vào kế hoạch xây dựng với mục đích phát triển các khu vực có tiềm năng chưa được khai thác và phục vụ nhu cầu quốc phòng Mục đích chung của việc phát triển mạng lưới đường giao thông liên thôn là:
- Bảo đảm khoảng cách từ các làng xóm đến bất cứ tuyến đường ô tô nào cũng không được lớn hơn 5 km
- Hoàn thiện mạng lưới giao thông liên thôn kết hợp với biên giới hành chính của các tỉnh, huyện, xã
- Đảm bảo đầu tư các tuyến đường phục vụ cho quyền lợi của dân làng
Mặc dù đã phát triển hệ thống giao thông liên thôn trên toàn quốc và đã thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận trong việc mở mang sản xuất, nhưng sự cách biệt giàu nghèo ở nông thôn ngày càng lớn, đây là một vấn đề mà Thái Lan
đang gặp phải
2.2.1.3 Trung Quốc
Trung Quốc là nước nông nghiệp, đất rộng người đông, dân số trên 1,2 tỷ người trong đó nông dân chiếm 80% Với cơ sở nông thôn là làng hành chính, mỗi làng có từ 80 – 900 dân, do đó công nghiệp nông thôn phát triển nên mạng lưới giao thông liên thôn ở Trung Quốc có tác dụng rất lớn Nhưng do vốn đầu tư
cơ bản có hạn, Trung Quốc đã phát động phong trào toàn dân làm đường giao
Trang 30thông liên thôn, quan điểm chủ đạo của Chính phủ Trung Quốc là “thà làm nhiều đường tiêu chuẩn cấp thấp để liên hệ với những xóm làng hơn là đường tốt mà nối được ít làng xóm Bước đầu có đi tạm, sau nâng cấp cũng chưa muộn” (Dương Chí Thanh, 2011)
Với phương châm này, sử dụng một cách khoa học các loại vật liệu địa phương như đất và các vật liệu cấp thấp để xây dựng đường giao thông sử dụng kịp thời Sau đó phân loại để lần lượt nâng cấp và đặc biệt chú ý công tác bảo dưỡng nền đường Nhờ đó tạm thời đáp ứng được nhu cầu vận tải trước mắt, tiết
kiệm vốn đầu tư ban đầu
2.2.1.4 Indonesia
Trong vòng ba thập kỷ cho tới trước khi nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 – 1998, giao thông liên thôn đã đóng một vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo ở khu vực nông thôn Inđônêsia Từ năm 1967 – 1997, nền kinh tế Inđônêsia tăng trưởng trung bình 7%/năm, thu nhập bình quân đầu người của người dân đạt 1.100 USD năm 2005, cao gấp hơn 4 lần so với năm 1967; tỷ lệ người nghèo cũng đã giảm xuống còn 11% dân số so với mức 60% của năm 1965 (Dương Chí Thanh, 2011)
Cho đến trước khi nổ ra cuộc khủng hoảng, Indonesia đã đầu tư mạnh cho phát triển mạng lưới giao thông liên thôn Tổng cộng các khoản đầu tư của nhà nước và khu vực tư nhân chiếm khoảng 6% GDP Với kết quả đầu tư này, tính bình quân đầu người, mức độ dịch vụ kết cấu hạ tầng ở nước này là cao hơn so với Trung Quốc và Thái Lan
Sau khi nổ ra khủng hoảng, đầu tư cho phát triển giao thông liên thôn ở nước này đã sụt giảm nhanh chóng Đầu tư nhà nước giảm mạnh do Chính phủ bước vào một thời kỳ thắt chặt tài khóa Đầu tư tư nhân gần như bị đình lại do những yếu kém trong môi trường đầu tư, là hệ quả tác động của khủng hoảng Những năm sau đó, tình hình có trở nên sáng sủa hơn, nhưng đầu tư cho kết cấu
hạ tầng trong đó có phát triển giao thông liên thôn của Inđônêsia cũng chỉ chiếm khoảng 2% GDP và các nhà đầu tư tư nhân vẫn hầu như chưa trở lại Kết quả là, Inđônêsia đã thụt lại phía sau so với các nước khác về cấu hạ tầng nói chung và
Trang 31mạng lưới giao thông liên thôn nói riêng Theo điều tra của Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm 2006 ở 125 quốc gia, Indonesia đứng thứ 89 về cung ứng kết cấu hạ tầng cơ bản, xếp sau Trung Quốc thứ 60 và Thái Lan xếp thứ 38 (Dương Chí Thanh, 2011)
Để khắc phục những đình trệ sau khủng hoảng, những năm gần đây Chính phủ Inđônêsia đã khởi động lại nhiều dự án kết cấu hạ tầng quan trọng, đặc biệt chú ý tới hệ thống giao thông liên thôn và đã có những cải cách cần thiết liên quan đến cơ chế phối hợp giữa các bộ trong phát triển hạ tầng giao thông liên thôn Đặc biệt năm 2005, Chính phủ đã thiết lập một khung khổ hợp tác giữa Nhà nước và tư nhân (PPP) để kích thích đầu tư của Nhà nước cũng như khuyến khích đầu tư của khu vực tư nhân cho các hoạt động xây dựng hệ thống giao thông liên thôn Sau đó một loạt cải cách khác đã được thực hiện như thông qua một khung khổ quản lý rủi ro, sửa đổi các quy định về thu hồi đất, với các điều khoản cho phép sự tham gia sâu rộng hơn của khu vực tư nhân; và thành lập các cơ quan quản lý chuyên ngành đối với các lĩnh vực đường bộ có thu phí, cấp nước và viễn thông Chính phủ cũng ban hành các quy định cho phép thu phí trong các lĩnh vực then chốt Với sự hỗ trợ của Ngân hàng Phát triển Châu Á, Chính phủ Inđônêsia đã xây dựng một chương trình nghị sự cải cách trung hạn tập trung vào cải cách liên ngành và chuyên ngành nhằm đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng nói chung và hạ tầng giao thông liên thôn nói riêng Theo chương trình này, Chính phủ đã cam kết tiếp tục thực hiện những cải cách quan trọng sau đây:
- Những cải cách liên ngành nhằm:
+ Cải thiện các khung khổ chính sách, pháp lý và thể chế nhằm thu hút sự tham gia sâu rộng hơn của các nhà đầu tư vào phát triển hạ tầng giao thông liên thôn dựa trên các quy tắc quản trị tốt
+ Thực hiện có hiệu quả các nguyên tắc quản lý rủi ro
+ Đẩy mạnh huy động các nguồn tài chính dài hạn trong nước cho phát triển hạ tầng giao thông liên thôn qua các dự án có sự hợp tác giữa Nhà nước và khu vực tư nhân
+ Thiết lập một khung khổ quan lý cấp vùng hợp lý với việc xác định rõ
Trang 32chức năng, nhiệm vụ của Chính quyền quốc gia và các chính quyền địa phương liên quan đến việc cung cấp kết cấu hạ tầng
- Những cải cách chuyên ngành ở tất cả các lĩnh vực nhằm:
+ Cải thiện tính lành mạnh về tài chính và tính bền vững của các dịch vụ
hạ tầng nông thôn qua quá trình thu hồi chi phí dần dần
+ Gia tăng cạnh tranh trong việc cung cấp các dịch vụ cho xây dựng hệ thống giao thông liên thôn
+ Thiết lập các cấu trúc điều tiết độc lập, tách biệt với các chủ dự án và chủ thể khai thác hạ tầng giao thông liên thôn
+ Đảm bảo sự tiếp cận bình đẳng của tất cả các chủ thể và nhà đầu tư, ngăn chặn sự lạm dụng độc quyền tự nhiên
+ Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của Chính phủ trong việc cung cấp kết cấu
hạ tầng, gắn liền với việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo của đất nước (Dương Chí Thanh, 2011)
2.2.2 Vai trò của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm tại một số địa phương của Việt Nam
2.2.2.1 Vai trò của người dân huyện Bình Đại, Bến Tre trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn
Xác định giao thông nông thôn là một tiêu chí quan trọng trong xây dựng nông thôn mới, thời gian qua, các địa phương trong huyện Bình Đại đã tranh thủ
sự hỗ trợ của nhà nước, đặc biệt là nguồn lực trong nhân dân để xây dựng giao thông nông thôn, nổi bật nhất có xã Bình Thắng với phong trào vận động nguồn lực từ nhân dân để xây dựng giao thông nông thôn (Sơn Tùng, 2013)
Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm, nhân dân làm nhà nước hỗ trợ”, thời gian qua, Bình Thắng đã xây dựng được nhiều tuyến đường bê tông khang trang sạch đẹp nối liền các xóm ấp, qua đó tạo bộ mặt nông thôn từng bước đổi mới, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển Để thực hiện có hiệu quả phong trào, từ đầu năm, Bình Thắng mạnh dạn đề ra chủ trương bê tông hóa các tuyến lộ liên xóm ấp, đồng thời tổ chức tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân thông qua các ngành đoàn thể và tại các cuộc họp tổ nhân dân tự
Trang 33quản hàng tháng Với chủ trương đúng đắn, cộng với việc nhận thức được xây dựng giao thông là phục vụ lợi ích của nhân dân, nhiều hộ gia đình đã hưởng ứng tích cực chủ trương trên, tạo thành phong trào thi đua sôi nổi giữa các ấp trong
xã Người dân đã tích cực đóng góp kinh phí để bê tông hóa các tuyến lộ liên xóm ấp, điểm nổi bật của Bình Thắng là do người dân tự đứng ra vận động kinh phí, tự mua vật tư và lựa chọn đơn vị thi công, đồng thời cử người giám sát chặt chẽ việc thi công cũng như công khai minh bạch thu chi tài chính nên chất lượng công trình cũng như tiến độ luôn được đảm bảo với chất lượng cao nhất
Với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân thụ hưởng” và sự công khai, minh bạch về tài chính, cộng với sự động viên, khích lệ kịp thời từ các cấp ủy đảng, chính quyền, trong năm 2012, Bình Thắng đã bê tông hóa được 815 m lộ liên xóm, ấp Đặc biệt, xã đã hoàn thành việc bê tông hóa tuyến đường giao thông chính trong xã nối liền ấp 3, ấp 4 với chiều dài 1.300
m, chiều ngang từ 4 đến 5 m, mỗi bên đều có hệ thống cống thoát nước với kinh phí hoàn toàn do nhân dân đóng góp Đây là công trình quan trọng phục vụ đắc lực cho việc vận chuyển hàng hóa của nhân dân Để có được tuyến đường khang trang sạch đẹp này, nhiều người dân đã tự nguyện hiến đất, di dời nhà cửa hàng rào để công trình thi công được thuận lợi nhất đặc biệt, phải kể đến công sức đóng góp không nhỏ của ông 3 Mờ, người đứng ra vận động kinh phí cũng như
tổ chức thi công con đường Ông đã không quản ngại khó khăn, mặc dù tuổi cao, sức khỏe yếu nhưng ông đã đến từng nhà để vận động bà con nhân di dời nhà của, hàng rào để công trình được thi công đúng tiến độ Ngoài ra, trong quá trình thi công Ông luôn theo dõi giám sát chặt chẽ từng ngày để công trình đạt chất lượng cao nhất Đến nay, tuyến lộ này đã hoàn thành đưa vào sử dụng và phát huy được hiệu quả tích cực, nhân dân trong xã rất phấn khởi vì không còn cảnh lầy lội mỗi khi mùa mưa hay nắng bụi như trước, từ nay việc đi lại, vận chuyển hàng hóa của bà con nhân dân được thuận tiện nhanh chóng hơn, góp phần thúc đẩy kinh tế xã nhà phát triển
Thông qua phong trào xây dựng giao thông nông thôn ở Bình Thắng, đã xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu điển hình trong đóng góp xây dựng giao
Trang 34thông nông thôn như: vật liệu xây dựng Ba Lèo và Năm Phụng mỗi cơ sở đóng góp 150 triệu đồng để xây dựng 300m đường giao thông, ngoài ra, còn nhiều cá nhân, doanh nhiệp trong xã ủng hộ từ 20 đến 30 triệu đồng Đến nay, Bình Thắng đã vận động nhân dân đóng góp trên 2 tỷ đồng xây dựng giao thông nông thôn Ông Đào Văn Lộc-Chủ tịch UBND xã Bình Thắng cho biết: trong thời gian tới, xã sẽ tranh thủ sự ủng hộ của huyện cũng như tiếp tục vận động các nguồn nội lực, ngoại lực để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đồng
bộ, trong đó ưu tiên xây dựng giao thông nông thôn nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn, làm tiền đề để xã xây dựng đạt chuẩn xã văn hóa cũng như xã nông thôn mới trong thời gian tới
Mùa xuân này, đi trên những con đường bê tông phẳng phiu, hai bên đường nhà cửa khang trang sạch đẹp, nhà nhà phấn khởi vui mừng đón xuân mới, lòng người như mở ra, đón chào những điều tốt đẹp nhất Tin rằng, với sự đoàn kết, quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã nhà, Bình Thắng sẽ thực hiện thắng lợi những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng
mà nghị quyết đảng ủy đã đề ra, tạo tiền đề vững chắc để Bình Thắng đi lên xây dựng xã văn hóa trong thời gian tới (Sơn Tùng, 2013)
2.2.2.2 Vai trò của người dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình trong xây dựng
và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn
Lạc Thủy là một huyện trung du ở phía Đông Nam tỉnh Hoà Bình, Việt Nam với diện tích 320 km², địa hình đồi gò lượn sóng, nhiều núi đá vôi Là Huyện có điều kiện tự nhiên phức tạp, huyện Lạc Thủy đã tập trung chỉ đạo, tạo sự nhất trí đồng thuận từ huyện đến cơ sở, khơi dậy tiềm lực trong nhân dân, khả năng sẵn có của địa phương để phát triển mạng lưới giao thông liên thôn ở các xã Trong năm 2014 toàn huyện đã duy tu sửa chữa các loại đường trục huyện, xã, liên thôn, thôn xóm được 317 km; đào vét rãnh thoát nước dọc các tuyến đường là 225 km; phát quang tầm nhìn hai bên đường với khối lượng 440.000 m2; sửa chữa cầu phao, cầu gỗ qua suối, sông là 10 cái; đào đắp đất đá các loại, vá ổ gà với khối lượng 8.000 m2 với kinh phí hơn 2,2 tỷ đồng; huy động nhân dân tham gia làm giao thông nông thôn là 16.380 ngày công Để đạt được
Trang 35những kết quả trên là do có sự quan tâm của UBND tỉnh, các sở, ban, ngành cũng như sự chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp từ huyện đến xã, thị trấn và vai trò vận động tuyên truyền của các tổ chức đoàn thể ở địa phương tích cực tham gia; các tuyến đường được đầu tư cải tạo, nâng cấp thuộc các nguồn vốn có hiệu quả mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân, được nhân dân đồng tình ủng
hộ bằng việc hiến đất làm đường Qua đó chất lượng các công trình được bảo đảm bền vững, giao thông đi lại thuận tiện, góp phần vào phát triển kinh tế, xã hội của địa phương (Nguồn: Cổng thông tin điện tử huyện Lạc Thủy, 2015) Thời gian tới huyện Lạc Thủy sẽ xây dựng kế hoạch, tham mưu cho UBND huyện giao chỉ tiêu “chiến dịch giao thông nông thôn” cho các xã, thị trấn; phát động chiến dịch tổ chức triển khai thực hiện; quản lý tốt các công trình giao thông trên địa bàn huyện bằng các nguồn vốn; xây dựng kế hoạch thực hiện nguồn vốn sự nghiệp giao thông và nguồn vốn khác được UBND huyện giao về đầu tư xây dựng cải tạo, nâng cấp đường giao thông nông thôn trên địa bàn huyện và triển khai thực hiện Ngoài ra, để khắc phục những trục đường giao thông trên địa bàn huyện chưa được đầu tư, nâng cấp nhằm khai thác tốt hệ thống đường giao thông nông thôn hiện có đảm bảo cho nhu cầu phục vụ đi lại của nhân dân thuận tiện; tạo điều kiện cho phát triển kinh tế, xã hội của địa phương huyện Lạc Thủy cũng đang đề nghị tỉnh và các cơ quan chức năng đối với trục đường huyện, trục xã có kế hoạch đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách tỉnh và các nguồn vốn khác hàng năm, nhất là đối với các xã đặc biệt khó khăn về giao thông nông thôn; tiếp tục hỗ trợ đầu tư đề án cứng hóa đường giao thông nông thôn năm 2015 (Nguồn: Cổng thông tin điện tử huyện Lạc Thủy, 2015)
2.2.3 Kinh nghiệm về vai trò của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm ở các nước trên thế giới và một số huyện tại Việt Nam rút ra vận dụng vào huyện Phúc Thọ
Qua nghiên cứu vai trò của người dân trong xây dựng và quản lý hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm ở các nước trên thế giới và Việt Nam, nghiên cứu rút ra một số bài học kinh nghiệm vận dụng vào huyện Phúc Thọ như sau:
Trang 36- Nhà nước và chính quyền địa phương cần có sự quan tâm, đầu tư cho các hoạt động xây dựng và nâng cấp đường giao thông nông thôn sao cho phù hợp với mong muốn của nhân dân Khi chủ trương chính sách phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của nhân dân thì sẽ được nhân dân đồng tình ủng hộ
- Để đảm bảo chất lượng các công trình, các huyện cần mở các hội nghị tuyên truyền việc phát triển giao thông liên thôn, ngõ xóm tới các cơ quan, đơn
vị, các thôn bản, xã và thị trấn và đồng thời công khai mức phân bổ kinh phí Nhà nước hỗ trợ; phân công cán bộ chuyên môn trực tiếp tham gia hướng dẫn, chỉ đạo trong thi công xây dựng
- Các chương trình xây dựng hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm cần vận động nhân dân tham gia những hoạt động, đóng góp những nguyên vật liệu sẵn có của địa phương và ưu tiên thuê lao động tại địa phương
để tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân
- Công tác quản lý, giám sát chất lượng kỹ thuật phải đặc biệt được quan tâm Nguồn đóng góp của nhân dân được công khai, minh bạch để tạo lòng tin cho người dân và phát huy hiệu quả của hệ thống đường giao thông liên thôn, ngõ xóm
- Khi thực hiện công trình cần công khai minh bạch từ khâu khảo sát, lập
dự toán giá trị công trình để nhân dân hiểu, tham gia góp ý kiến từ đầu tư và phát huy vai trò giám sát của nhân dân
Trang 37PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Phúc Thọ là huyện nằm ở phía Tây trung tâm Hà Nội, bên bờ hữu ngạn của con sông Hồng và sông Đáy thuộc hệ thống sông Hồng, có vị trí địa lý như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc
- Phía Tây giáp thị xã Tây Sơn
- Phía Đông giáp huyện Đan Phượng và huyện Hoài Đức
- Phía Nam giáp huyện Thạch Thất và huyện Quốc Oai
Hình 3.1 Vị trí địa lý huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội
(Nguồn: Phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Phúc Thọ, 2014)
Tính đến hết năm 2014, toàn huyện Phúc Thọ có diện tích là 118,62 km2với dân số khoảng 18 vạn dân, bao gồm 1 thị trấn và 22 xã Huyện Phúc Thọ là nơi có nhiều dự án công nghiệp Đặc biệt khi quốc lộ 32 được hoàn thiện, Phúc Thọ sẽ là một trong những điểm đến của các nhà đầu tư trong và ngoài nước Thu
Trang 38nhập bình quân đầu người của huyện Phúc Thọ hiện nay là trên 600 USD/năm Phúc Thọ là một huyện thuần nông, có đập Đáy, có công trình Kênh Cẩm Đình – Hiệp Thuận dẫn nước từ sông Hồng vào sông Đáy, đây hứa hẹn là một điểm du lịch nổi tiếng
3.1.1.2 Về địa hình
Huyện Phúc Thọ nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ có địa hình tương đối bằng phẳng và được chia thành hai vùng rõ rệt là vùng đồng và vùng bãi Đất đai của huyện rất phì nhiêu, màu mỡ do được bồi đắp phù sa của 3 con sông lớn là sông Hồng, sông Đáy và sông Tích nên rất thuận lợi cho phát triển ngành nông nghiệp Bên cạnh đó, huyện Phúc Thọ là một địa phương nằm trong vùng phân lũ của thành phố Hà Nội (với 1/2 số xã nằm trong vùng phần lũ) với nhiều tuyến đê dài trong đó có những đoạn rất xung yếu nên công tác xây dựng củng cố cơ sở hạ tầng trong huyện có vai trò rất quan trọng trong việc ổn định xã hội và phát triển kinh tế
3.1.1.3 Khí hậu – thủy văn
a Khí hậu
Huyện Phúc Thọ nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều, với hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau Giữa hai mùa là thời kỳ chuyển tiếp tạo ra 4 mùa khá rõ: xuân – hạ - thu – đông
Nhiệt độ trung bình năm vào khoảng 24,460C, biên độ trong năm khoảng
12 – 130C, biện độ giao động giữa ngày và đêm khoảng 6 – 70C Độ ẩm trung bình hàng năm của huyện và toàn thành phố Hà Nội là khoảng 82% và ít thay đổi theo các tháng, thường chỉ giao động trong khoảng 77 – 87% Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.400 – 1.600 mm
b Thủy văn
Huyện Phúc Thọ có hệ thống sông ngòi dày đặc, quan trọng nhất là sông Hồng, sông Đáy và sông Tích, có ảnh hưởng lớn đến chế độ thủy văn của Huyện Bên cạnh đó là hệ thống các suối và nhiều đầm, hồ tự nhiên là nguồn dự trữ nước quan trọng vào mùa khô
Trang 39Hệ thống sông không chỉ là nguồn cung cấp nước tưới và nước sinh hoạt
mà còn là nơi tiếp nhận nguồn nước thải và tiêu nước khi vào mùa lũ đến Chế độ thủy văn của các sông, suối chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ mưa hàng năm Vào mùa mưa nước từ các sông đổ về uy hiếp hệ thống đê điều của huyện Vào mùa khô, nước các sông cạn kiệt gây khó khăn cho việc cung cấp nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp và giao thông trên các sông lớn
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Đặc điểm đất đai của huyện
Trong đời sống sản xuất, đất đai là yếu tố quan trọng không thể thiếu được của người dân, đất đai vừa là đối tượng sản xuất, vừa là tư liệu sản xuất Qua bảng 3.1, nói lên hiện trạng sử dụng đất của Huyện trong hai năm 2013 và 2014 Năm 2013, tổng diện tích toàn huyện Phúc Thọ là 11719,27 ha; trong đó diện tích đất nông nghiệp là 6490,2 ha chiếm 55,38%; đất phi nông nghiệp là 4703,83 ha và diện tích đất chưa sử dụng là 525,17 ha Năm 2014, tổng diện tích toàn huyện Phúc Thọ là 11719,27 ha; trong đó diện tích đất nông nghiệp là 6478,99 ha chiếm 55,28%; đất phi nông nghiệp là 4715,03 ha và diện tích đất chưa sử dụng là 525,17
ha Như vậy tổng diện tích đất của toàn huyện qua 2 năm không thay đổi, trong
đó diện tích đất nông nghiệp năm 2014 giảm 10% so với năm 2013, diện tích đất phi nông nghiệp tăng 0,9% và đất chưa sử dụng giữ nguyên 4,48%
Trang 40Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất của Huyện Phúc Thọ
TỔNG SỐ
Tổng số (Ha)
Cơ cấu (%)
Tổng số (Ha)
Cơ cấu (%) 11719,27 100.0 11719.27 100.0
4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 100,28 0,9 100,68 0,9
5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 984,77 8,4 963,93 8,2
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Phúc Thọ)