Trong thời gian qua, việc xây dựng nông thôn mới với nhiệm vụ tạo sự chuyển biến tích cực trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân trên cơ sở đẩy mạnh
Trang 1MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục bảng vii
Danh mục hình ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích của đề tài 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới 3
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 3
1.1.2 Sự cần thiết phải xây dựng NTM ở nước ta 4
1.1.3 Chức năng của nông thôn mới 5
1.1.4 Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới 7
1.1.5 Nội dung xây dựng nông thôn mới 8
1.1.6 Vị trí, vai trò của quy hoạch xây dựng nông thôn mới 9
1.1.7 Bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới 9
1.1.8 Vai trò, ý nghĩa của xây dựng NTM trong phát triển kinh tế - xã hội 12
1.1.9 Cơ sở pháp lý của xây dựng nông thôn mới 13
1.2 Thực tiễn xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới 15
1.2.1 Thực tiễn xây dựng nông thôn mới ở Nhật Bản 15
1.2.2 Thực tiễn xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc 17
1.2.3 Thực tiễn xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc 20
1.3 Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 21
1.3.1 Tình hình xây dựng nông thôn mới trên phạm vi cả nước 21
1.3.2 Tình hình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Hà Nội 24
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27
2.2 Nội dung nghiên cứu 27
Trang 22.2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội huyện Thạch Thất 27
2.2.2 Đánh giá tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới huyện Thạch Thất 27
2.2.3 Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại xã Hương Ngải và xã Phú Kim 28
2.2.4 Đề xuất một số giải pháp để đẩy nhanh tiến độ thực hiện xây dựng nông thôn mới 28
2.3 Phương pháp nghiên cứu 28
2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 28
2.3.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thu thập số liệu 29
2.3.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp và xử lý số liệu 29
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Thạch Thất 30
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 30
3.1.2 Các nguồn tài nguyên 31
3.1.3 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập của huyện Thạch Thất 34
3.1.4 Đánh giá tiềm năng của huyện Thạch Thất 36
3.2 Đánh giá tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới huyện Thạch Thất 38
3.2.1 Tình hình triển khai công tác xây dựng nông thôn mới huyện Thạch Thất 38
3.2.2 Kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới huyện Thạch Thất đến tháng 11 năm 2014 45
3.3 Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Hương Ngải và xã Phú Kim 60
3.3.1 Tình hình thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới tại xã Hương Ngải 60
3.3.2 Tình hình thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới tại xã Phú Kim 73
3.3.3 Đánh giá kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới xã Hương Ngải và xã Phú Kim 79
Trang 33.4 Những tồn tại trong công tác xây dựng nông thôn mới tại huyện Thạch Thất 86
3.5 Đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh tiến độ thực hiện xây dựng nông thôn mới 87
3.5.1 Đề xuất một số giải pháp để hoàn thành các chỉ tiêu chưa đạt 88
3.5.2 Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới 90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93
1 Kết luận 93
2 Kiến nghị 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNH - HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
NN & PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn SXNN Sản xuất nông nghiệp
VH-TT-DL Văn hóa - Thể thao - Du lịch
Trang 5DANH MỤC BẢNG
3.1 Dân số trung bình phân theo giới tính và phân theo thành thị, nông
3.2 Kết quả xây dựng nông thôn mới đến tháng 11/2014 huyện Thạch
3.3 Kết quả thực hiện xây dựng NTM chia theo số tiêu chí đạt chuẩn 58 3.4 Tổng hợp tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới huyện Thạch
3.5 Đánh giá tình hình thực hiện tiêu chí quy hoạch tại xã Hương Ngải 62 3.6 Đánh giá tình hình thực hiện tiêu chí hạ tầng kinh tế xã hội tại xã
3.7 Đánh giá tình hình thực hiện tiêu chí về kinh tế và hình thức tổ
3.8 Đánh giá tình hình thực hiện tiêu chí về văn hóa, xã hội và môi
3.9 Đánh giá tình hình thực hiện tiêu chí hệ thống chính trị tại xã Hương
3.10 Đánh giá tình hình thực hiện tiêu chí quy hoạch tại xã Phú Kim 74 3.11 Đánh giá tình hình thực hiện tiêu chí hạ tầng kinh tế xã hội tại xã
3.12 Đánh giá tình hình thực hiện tiêu chí về kinh tế và hình thức tổ
3.13 Đánh giá tình hình thực hiện tiêu chí về văn hóa, xã hội và môi
3.14 Đánh giá tình hình thực hiện tiêu chí hệ thống chính trị tại xã Phú
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn là ba lĩnh vực có quan hệ hữu cơ không thể tách rời, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp CNH – HĐH đất nước, là cơ sở và lực lượng chủ yếu để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững chính trị - xã hội, đảm bảo an ninh, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái
Trong thời gian qua, việc xây dựng nông thôn mới với nhiệm vụ tạo sự chuyển biến tích cực trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân trên cơ sở đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, xây dựng kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, hướng tới một nền nông nghiệp phát triển toàn diện, hiện đại đồng thời phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của Nghị quyết 26-NQ/TW Hội nghị lần thứ
7 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn
Ngày 16/4/2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 491/QĐ-TTg
về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới và Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới Dựa vào bộ tiêu chí này mà các Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới có thể đánh giá được mức độ đạt được đối với từng tiêu chí Chính vì còn một số mục tiêu chưa đạt được mà ngày 4/6/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 800/QĐ- TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020
Qua quá trình thực hiện chương trình xây dựng NTM ở các địa phương, nhất là cấp cơ sở đã lúng túng và bộc lộ nhiều vướng mắc trong quá trình chỉ đạo
tổ chức thực hiện Ngày 20/02/2013 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 342/QĐ-TTg về việc sửa đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
Trang 8Huyện Thạch Thất cách trung tâm thành phố Hà Nội 40 km về phía Tây, toàn huyện có 23 đơn vị hành chính cấp xã gồm thị trấn Liên Quan và 22 xã Để hưởng ứng phong trào chung của toàn Thành phố, huyện Thạch Thất đã thực hiện xây dựng NTM từ xây dựng điểm tại xã Đại Đồng cùng với xã Hương Ngải
và các xã khác trên địa bàn huyện cũng đang ra sức phấn đấu xây dựng xã đạt chuẩn quốc gia về NTM đến năm 2020 Phong trào xây dựng NTM đã làm thay đổi diện mạo nông thôn, nếp sống, suy nghĩ của người dân trong huyện, kỹ thuật tiến bộ được người dân áp dụng vào trong sản xuất trồng trọt, chăn nuôi làm cho đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày một được nâng cao, bộ mặt làng
xã được thay đổi rõ rệt
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện xây dựng NTM huyện Thạch Thất đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc cần giải quyết như: xuất phát điểm của phần lớn các xã trên địa bàn huyện so với mức chung trên địa bàn Thành phố còn thấp; trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức còn hạn chế; đời sống của nhân dân còn khó khăn; công tác quy hoạch xây dựng thiếu đồng bộ, hạ tầng nông thôn còn lạc hậu, kinh phí đầu tư còn khó khăn; vai trò và sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng NTM còn nhiều hạn chế
Xuất phát từ những yêu cầu trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh
giá tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội”
Trang 9Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
- Khái niệm nông thôn:
Khái niệm nông thôn được thống nhất với quy định tại Điều 1 Thông tư số
54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ NN & PTNT, cụ thể: "Nông
thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã"
- Khái niệm nông thôn mới:
Nông thôn mới là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2008)
- Khái niệm xây dựng nông thôn mới
Xây dựng NTM là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng
dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao
Xây dựng NTM là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả
hệ thống chính trị Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn
đề kinh tế - chính trị tổng hợp
Xây dựng NTM giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh
Có thể quan niệm: Xây dựng nông thôn mới là xây dựng nông thôn đạt 19
tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về Nông thôn mới
Trang 101.1.2 Sự cần thiết phải xây dựng NTM ở nước ta
Trải qua các kỳ Đại hội Đảng, vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân ngày càng được Đảng ta nhận thức sâu sắc hơn, trên cơ sở đó đề ra những chủ trương, định hướng đúng đắn, phù hợp với tình hình, yêu cầu trong từng giai đoạn phát triển của đất nước Điều này được thể hiện đặc biệt rõ nét kể từ Đại hội
VI khi thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã đánh dấu một bước ngoặt trong sự nghiệp quá độ lên CNXH và mở ra thời kỳ phát triển mới cho nước ta Các chủ trương chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn được đẩy mạnh, nông nghiệp càng chứng tỏ được vai trò và vị trí của mình trong nền kinh tế Sau gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông thôn luôn có bước phát triển, đạt được nhiều thành tựu
to lớn Tuy nhiên nhiều thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế, vẫn còn nhiều bất cập, cần phải giải quyết như:
- Quy hoạch chưa đồng bộ: Nhìn chung ở nước ta chất lượng công tác quy
hoạch, quản lý quy hoạch còn nhiều hạn chế Chất lượng các quy hoạch phát triển đặc biệt trong nông nghiệp được đánh giá chưa cao Công tác quản lý quy hoạch chưa được các cấp từ Trung ương đến địa phương quan tâm đúng mức
- Kết cấu hạ tầng như giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, cấp nước…còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm
- Do sản xuất nông nghiệp còn lạc hậu: Manh mún, nhỏ lẻ, bảo quản chế biến còn hạn chế, chưa gắn được nông nghiệp với công nghiệp và dịch vụ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng KH - CN trong nông nghiệp còn chậm, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp còn thấp; cơ giới hoá chưa đồng bộ
- Thu nhập người dân thấp, số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn còn ít; sự liên kết giữa người sản xuất và các thành phần kinh
tế khác ở khu vực nông thôn chưa chặt chẽ Kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại, hợp tác xã còn nhiều yếu kém Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn cao, cơ hội
có việc làm mới tại địa phương không nhiều, tỷ lệ lao động nông lâm nghiệp qua đào tạo thấp;
Trang 11- Đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị còn lớn phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc; tệ nạn xã hội gia tăng
- Nét đẹp văn hóa truyền thống bị mai một
Vì vậy phải xây dựng NTM giàu đẹp, văn minh, sản xuất phát triển, thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị
1.1.3 Chức năng của nông thôn mới
Nông thôn mới có các chức năng cơ bản sau:
- Chức năng sản xuất nông nghiệp hiện đại: Nông thôn là nơi diễn ra phần
lớn các hoạt động sản xuất nông nghiệp của các quốc gia Có thể nói nông nghiệp
là chức năng tự nhiên của nông thôn Chức năng cơ bản của nông thôn là sản xuất dồi dào các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao Khác với nông thôn truyền thống, sản xuất nông nghiệp của nông thôn mới bao gồm cơ cấu các nghành nghề mới, các điều kiện sản xuất nông nghiệp hiện đại hoá, ứng dụng phổ biến khoa học kỹ thuật tiên tiến và xây dựng các tổ chức nông nghiệp hiện đại (Cù Ngọc Hưởng, 2006)
- Chức năng giữ gìn văn hóa truyền thống: Trải qua hàng nghìn năm phát
triển, làng xóm ở nông thôn được hình thành dựa trên những cộng đồng có cùng phong tục, tập quán, huyết thống Quy tắc hành vi của xã hội gồm những người quen này là những phong tục tập quán đã được hình thành từ lâu đời, ở đó con người đối xử tin cậy lẫn nhau trên quy phạm phong tục tập quán đó Ở đó quan
hệ huyết thống là mối quan hệ quan trọng nhất Chính các tập thể nông dân cùng huyết thống đã giúp họ khắc phục được những nhược điểm của kinh tế tiểu nông, giúp bà con nông dân chống chọi với thiên tai đại họa Cũng chính văn hoá quê hương đã sản sinh ra những sản phẩm văn hoá tinh thần quý báu như lòng kính lão yêu trẻ, giúp nhau canh gác bảo vệ, giản dị tiết kiệm, thật thà đáng tin, yêu quý quê hương.vv , tất cả được sản sinh trong hoàn cảnh xã hội nông thôn đặc thù Các truyền thống văn hoá quý báu này đòi hỏi phải được giữ gìn và phát triển trong một hoàn cảnh đặc thù Môi trường thành thị là nơi có tính mở cao, con người cũng có tính năng động cao, vì thế văn hoá quê hương ở đây sẽ không
Trang 12còn tính kế tục Do vậy, chỉ có nông thôn với đặc điểm sản xuất nông nghiệp và
tụ cư theo dân tộc, dòng tộc mới là môi trường thích hợp nhất để giữ gìn và kế tục văn hoá quê hương Ngoài ra, các cảnh quan nông thôn với những đặc trưng riêng đã hình thành nên màu sắc văn hoá làng xã đặc thù, thể hiện các tư tưởng triết học như trời đất giao hoà, thuận theo tự nhiên với sự tôn trọng tự nhiên, mưu cầu phát triển hài hoà cũng như chú trọng sự kế tục phát triển của các dân tộc Để đảm bảo giữ gìn được văn hóa truyền thống tốt đẹp của nông thôn nên việc xây dựng nông thôn mới nếu như phá vỡ đi các cảnh quan làng xã mang tính khu vực
đã được hình thành trong lịch sử thì cũng chính là phá vỡ đi sự hài hoà vốn có của nông thôn, làm mất đi bản sắc làng quê nông thôn Điều này không những hạn chế tác dụng của chức năng nông thôn mà còn có tác dụng tiêu cực đến giữ gìn sinh thái cảnh quan nông thôn và cảnh quan văn hoá truyền thống (Cù Ngọc Hưởng, 2006)
- Chức năng sinh thái: Nền văn minh nông nghiệp được hình thành từ
những tích luỹ trong suốt một quá trình lâu dài, từ khi con người thích ứng với thiên nhiên, lợi dụng, cải tạo thiên nhiên, cho đến khi phá vỡ tự nhiên dẫn đến phải hứng chịu các ảnh hưởng xấu và cuối cùng là tôn trọng tự nhiên Trong nông thôn truyền thống, con người và tự nhiên sinh sống hài hoà với nhau, chức năng người tôn trọng tự nhiện, bảo vệ tự nhiên và hình thành nên thói quen làm việc theo quy luật tự nhiên Thành thị là hệ thống sinh thái nhân tạo phản tự nhiên ở mức độ cao nhất Quá trình mưu cầu cuộc sống đầy đủ về vật chất đã khiến người thành thị càng ngày càng xa rời tự nhiên Nền văn minh công nghiệp
đã phá vỡ mối quan hệ hài hoà vốn có giữa con người với thiên nhiên, dẫn đến phá vỡ môi trường một cách nghiêm trọng Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá khiến con người ngày càng xa rời tự nhiên, dẫn đến những ô nhiễm trong môi trường nước và không khí Nếu so sánh với hệ thống sinh thái đô thị, thì hệ thống sinh thái nông nghiệp một mặt có thể đáp ứng nhu cầu cung cấp các sản phẩm lương thực hoa quả cho con người, mặt khác cũng đáp ứng được các yêu cầu về môi trường tự nhiên Thuộc tính sản xuất nông nghiệp đã quyết định hệ thống sinh thái nông nghiệp mang chức năng phục vụ hệ thống sinh thái Đất đai
Trang 13canh tác nông nghiệp, hệ thống thuỷ lợi, các khu rừng, thảo nguyên vv phát huy các tác dụng sinh thái như điều hoà khí hậu, giảm ô nhiễm tiếng ồn, cải thiện nguồn nước, phòng chống xâm thực đất đai, làm sạch đất vv…(Cù Ngọc Hưởng, 2006) Chức năng này chính là một trong những tiêu chí quan trọng phân biệt giữa thành thị với nông thôn Thông qua sự tuần hoàn của tự nhiên và năng lượng, cuối cùng, thành thị cũng là nơi thu được lợi ích từ chức năng sinh thái của nông thôn Các cảnh quan tự nhiên tươi đẹp cùng với môi trường sinh thái có thể đáp ứng được nhu cầu trở về với tự nhiên của con người Nông thôn có thể bù đắp được những thiếu hụt sinh thái của thành thị Môi trường tự nhiên yên tĩnh có thể điều hoà cân bằng tâm lý con người Môi trường sinh vật phong phú khiến con người có thể cảm thụ được những điều tốt đẹp từ cuộc sống Sự chung sống hài hoà giữa con người với tự nhiên có tác dụng thanh lọc và làm đẹp tâm hồn Đây cũng chính là nguyên nhân khiến cho các khu du lịch sinh thái xung quanh các khu đô thị ngày càng phát triển rầm rộ Do vậy, phải nên xây dựng nông thôn mới với những đóng góp tích cực cho sinh thái Có thể coi chức năng sinh thái chính là thước đo một đơn vị có thể coi là nông thôn mới hay không Đồng thời phải phân biệt rõ không được lẫn lộn ranh giới giữa nông thôn với thành thị (Cù Ngọc Hưởng, 2006)
1.1.4 Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới
Theo Điều 2 Thông tư liên tịch số BKH&ĐT-BTC ngày 13 tháng 4 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính về hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020” đã đề ra 6 nguyên tắc trong xây dựng nông thôn mới như sau:
26/2011/TTLT-BNN&PTNT Các nội dung, hoạt động của Chương trình xây dựng nông thôn mới phải hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM ban hành tại Quyết định số 491/Q Đ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ
Trang 14- Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách, cơ chế
hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện
- Kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình
hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông thôn
- Thực hiện Chương trình xây dựng NTM phải gắn với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo thực hiện các quy hoạch xây dựng NTM đã được cấp có thẩm quyền xây dựng
- Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình, dự
án của Chương trình xây dựng NTM; phát huy vai trò làm chủ của người dân và cộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát đánh giá
- Xây dựng NTM là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp
ủy đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch, và tổ chức thực hiện Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng NTM
1.1.5 Nội dung xây dựng nông thôn mới
Nội dung xây dựng NTM được thể hiện trong chương trình MTQG xây dựng NTM Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 04/6/2010 gồm 11 nội dung sau: Quy hoạch xây dựng nông thôn mới; Phát triển
hạ tầng kinh tế - xã hội; Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập; Giảm nghèo và an sinh xã hội; Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn; Phát triển giáo dục – đào tạo ở nông thôn; Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn; Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn; Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông
Trang 15thôn; Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn; Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn
1.1.6 V ị trí, vai trò của quy hoạch xây dựng nông thôn mới
Trong quá trình xây dựng nông thôn mới, quy hoạch và thực hiện quy hoạch có vai trò quan trọng, nhằm bảo đảm cho việc sử dụng đất và xây dựng hạ tầng thiết yếu, các khu dân cư khu vực nông thôn vừa theo hướng văn minh, hiện đại, vừa giữ được bản sắc văn hóa làng, xã của địa phương
Quy hoạch xây dựng nông thôn mới sẽ góp phần hạn chế và giảm thiểu các quy hoạch chắp vá, tùy tiện, giữ gìn và phát huy các không gian kiến trúc truyền thống vốn có của nông thôn Việt Nam, đồng thời đáp ứng yêu cầu của Chính phủ về nông thôn mới trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Để thực hiện mục tiêu Nghị quyết của Đảng về “tam nông”, phấn đấu đến năm 2020
có 50% số xã đạt tiêu chí nông thôn mới thì vấn đề quy hoạch nông thôn đang rất cần được quan tâm
Trong các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, công tác quy hoạch được đặt lên hàng đầu, phải đi trước một bước
Công tác quy hoạch xây dựng nông thôn mới không chỉ liên quan đến nhiều tiêu chí khác, mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến quy hoạch phát triển kinh
tế - xã hội cả vùng - huyện
1.1.7 Bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới
Căn cứ Quyết định số: 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 và Quyết định số: 342/QĐ-TTg ngày 20/02/2013 của Thủ tướng Chính Phủ về Bộ tiêu chí Quốc gia
về nông thôn mới
Căn cứ Thông tư số 54/2009/TT-BNTPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ NN
& PTNT về việc Hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới
* Các nhóm tiêu chí: gồm 05 nhóm
- Nhóm I: Quy hoạch (có 01 tiêu chí)
- Nhóm II: Hạ tầng kinh tế - xã hội (có 08 tiêu chí)
- Nhóm III: Kinh tế và tổ chức sản xuất (có 04 tiêu chí)
- Nhóm IV: Văn hóa - xã hội - môi trường (có 04 tiêu chí)
Trang 16- Nhóm V: Hệ thống chính trị (có 02 tiêu chí)
* Tiêu chí xây dựng NTM áp dụng cho vùng ĐBSH, gồm:
- Tiêu chí thứ nhất: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch
+ Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ
+ Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế, xã hội, môi trường theo chuẩn mới + Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hoá tốt đẹp
- Tiêu chí thứ 2: Giao thông nông thôn
+ Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hoặc bê tông hoá đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT
+ Tỷ lệ km đường trục thôn, xóm được cứng hoá đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT
+ Tỷ lệ km đường ngõ, xóm sạch, không lầy lội vào mùa mưa
+ Tỷ lệ km đường trục chính nội đồng được cứng hoá, xe cơ giới đi lại thuận tiện
- Tiêu chí thứ 3: Thủy lợi
+ Hệ thống thuỷ lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh
+ Tỷ lệ km kênh mương do xã quản lý được kiên cố hoá
- Tiêu chí thứ 4: Điện nông thôn
+ Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện
+ Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn
- Tiêu chí thứ 5: Trường học
Tỷ lệ trường học các cấp mầm non, mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở có
cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia
- Tiêu chí thứ 6: Cơ sở vật chất văn hóa
+ Nhà văn hoá và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ VH - TT - DL
+ Tỷ lệ thôn có nhà văn hoá và khu thể thao đạt quy định của Bộ VH–TT-DL
- Tiêu chí thứ 7: Chợ nông thôn: Chợ đạt chuẩn của Bộ xây dựng
- Tiêu chí thứ 8: Bưu điện
Trang 17+ Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông
+ Có Internet đến thôn
- Tiêu chí thứ 9: Nhà ở dân cư
Về nhà ở của dân cư thì Bộ tiêu chí NTM xác định rõ sẽ không còn nhà tạm, nhà dột nát và phải đảm bảo 90% nhà ở đạt tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng đề ra
- Tiêu chí thứ 10: Thu nhập
Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đến năm 2015 là 29 triệu đồng/người
- Tiêu chí thứ 11: Tỷ lệ hộ nghèo: Tỷ lệ hộ nghèo dưới 3%
- Tiêu chí thứ 12: Cơ cấu lao động
Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp dưới 25%
+ Y tế xã đạt chuẩn quốc gia
+ Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế
- Tiêu chí thứ 16: Văn hóa
Số thôn, bản trong xã đạt tiêu chuẩn làng văn hoá theo tiêu chuẩn quy định của Bộ VH - TT - DL
- Tiêu chí thứ 17: Môi trường
+ Tỷ lệ hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn Quốc gia + Các cơ sở sản xuất - kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường
+ Không có các hoạt động gây suy giảm chất lượng môi trường; tăng cường các hoạt động phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp
Trang 18+ Nghĩa trang được xây dựng theo đúng quy định
+ Nước thải và chất thải được thu gom và xử lý theo quy định
- Tiêu chí thứ 18: Hệ thống tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh
+ Cán bộ xã đạt chuẩn
+ Có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị theo quy định
+ Đảng bộ, Chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh” + Các tổ chức đoàn thể trong xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên
- Tiêu chí thứ 19: An ninh, trật tự xã hội: An ninh, trật tự xã hội được giữ vững
1.1.8 Vai trò, ý nghĩa của xây dựng NTM trong phát triển kinh tế - xã hội
Sản xuất hàng hoá có chất lượng cao, mang nét độc đáo, đặc sắc của từng vùng, địa phương Tập trung đầu tư những trang thiết bị, công nghệ sản xuất, chế biến bảo quản nông sản sau thu hoạch để có khả năng tận dụng nhiều lao động và đáp ứng yêu cầu xuất khẩu
- Về chính trị
Phát huy dân chủ với tinh thần thượng tôn pháp luật, gắn lệ làng, hương ước với pháp luật để điều chỉnh hành vi con người, đảm bảo tính pháp lý, tôn trọng kỷ cương phép nước, phát huy tính tự chủ của làng xã
Trang 19Phát huy tối đa Quy chế Dân chủ ở cơ sở, tôn trọng hoạt động của các hội, đoàn thể, các tổ chức hiệp hội vì lợi ích cộng đồng, nhằm huy động tổng lực vào xây dựng nông thôn mới
- Về văn hóa - xã hội
Xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, giúp nhau xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng
- Về môi trường
Xây dựng, củng cố, bảo vệ môi trường, du lịch sinh thái Bảo vệ rừng đầu nguồn, chống ô nhiễm nguồn nước, môi trường không khí và chất thải từ các khu công nghiệp để nông thôn phát triển bền vững
1.1.9 Cơ sở pháp lý của xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới được thực hiện dựa trên các văn bản pháp lý sau:
- Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
- Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương Đảng Khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
- Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về
việc ban hành Bộ Tiêu chí Quốc gia về Nông thôn mới;
- Quyết định số 193/QĐ-TTg ngày 02/2/2010 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Chương trình rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới;
Trang 20- Quyết định số 800/2010/QĐ-TTg ngày 04/06/2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020;
- Thông tư số 31/2009/TT-BXD ngày 10/9/2009 của Bộ Xây dựng về Ban
hành Tiêu chuẩn quy hoạch xây dựng nông thôn;
- Thông tư số 32/2009/TT-BXD ngày 10/9/2009 của Bộ Xây dựng về Ban
hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng nông thôn;
- Quyết định số 2933/BGTVT-KHĐT ngày 11/5/2009 của Bộ Giao thông
vận tải hướng dẫn tiêu chí nông thôn mới trong lĩnh vực giao thông nông thôn;
- Thông tư 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp
và PTNT hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới;
- Thông tư liên tịch 13/2011/TTLT-BXD-BNNPTNT-BTN&MT ngày 28/10/2011 của Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, bộ Tài
nguyên và Môi trường;
- Thông tư liên tịch số 26/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13/04/2011 hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định số 800/TTg ngày 4/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về
xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020;
- Thông tư số 17/TT-BXD ngày 30/9/2010 của Bộ xây dựng hướng dẫn xác định và quản lý chi phí quy hoạch xây dựng và quy hoạch đô thị;
- Thông tư số 07/2010/TT-BNNPTNT ngày 08/02/2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp xã theo bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;
- Thông tư liên tịch số 22/2007/TTLT-BVHTT-UBTDTT ngày 4/7/2007 của Bộ Văn hóa thông tin và Ủy ban Thể dục Thể thao về việc hướng dẫn tổ chức và hoạt động của trung tâm văn hóa thể thao xã phường thị trấn;
- Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT ngày 04/10/2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
Trang 211.2 Thực tiễn xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới
Trong giai đoạn hiện nay, xây dựng NTM đang là mối quan tâm chung của cả cộng đồng thế giới Để công cuộc xây dựng NTM sớm thành công, chúng
ta cần phải nghiên cứu những kinh nghiệm của một số nước đã đạt được trong lĩnh vực này Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới là bài học quý báu cho Việt Nam
1.2.1 Thực tiễn xây dựng nông thôn mới ở Nhật Bản
Nhật Bản là quốc gia được coi là nghèo tài nguyên, chỉ dựa vào khả năng sáng tạo của mình đã đạt được những thành tựu rất quan trọng trong quá trình xây dựng NTM có thể được coi là một trong những thí dụ cụ thể mà chúng ta có thể tham khảo trong quá trình xây dựng nông thôn mới
Quá trình tiến hành HĐH đất nước của Nhật Bản chính là quá trình chuyển dịch từ nông nghiệp truyền thống sang công nghiệp hiện đại Trong quá trình phát triển nông nghiệp, Nhật Bản đã rút ra kinh nghiệm, phải xuất phát từ tình hình thực tế của đất nước, tập trung sức mạnh, thúc đẩy CNH nông nghiệp, CNH nông thôn, đô thị hóa nông thôn Trong thời kỳ thúc đẩy CNH nông nghiệp, Nhật Bản rất coi trọng phát triển nông nghiệp, thúc đẩy mạnh mẽ các “chính sách khuyến nông”, đổi mới kỹ thuật nông nghiệp và phát triển sản xuất nông nghiệp Hoạt động sản xuất nông nghiệp của Nhật Bản phát triển rất mạnh trong quá trình CNH Tiến trình CNH nông nghiệp, CNH nông thôn, đô thị hóa nông thôn đã phát huy vai trò quan trọng trong việc điều hòa sự phát triển của thành thị và nông thôn Nhật Bản
Xây dựng nông thôn mới ở Nhật Bản trải qua 4 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Từ năm 1956 đến năm 1962, giai đoạn đầu của quá trình xây
dựng NTM ở Nhật Bản, chủ yếu có ba nội dung: xác định khu vực, xây dựng cơ chế thúc đẩy xây dựng nông thôn mới, tăng cường nguồn vốn đầu tư, hỗ trợ cho công cuộc xây dựng nông thôn mới
Trong 7 năm, dưới sự hỗ trợ của các chính sách ưu đãi và nguồn kinh phí
từ Chính phủ, các chính sách xây dựng NTM của Nhật Bản đã hoàn thành một cách thuận lợi Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản
Trang 22Nhật Bản, trong 7 năm thúc đẩy công cuộc xây dựng nông thôn mới, tổng giá trị sản lượng của nông nghiệp Nhật Bản tăng từ 1.661,7 tỷ Yên năm 1955 lên 2.438,1 tỷ Yên năm 1962, biên độ tăng đạt 46,7%, trung bình lợi nhuận ròng của mỗi hộ nông dân cũng tăng 47%
Giai đoạn 2:Từ giữa thập kỷ 60 đến giữa thập kỷ 70
Mục tiêu chính của công cuộc xây dựng NTM trong giai đoạn này là dựa trên nền tảng xây dựng NTM của giai đoạn 1, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng cơ sở
hạ tầng cho hoạt động sản xuất nông nghiệp và đời sống của người nông dân, thu hẹp khoảng cách thành thị và nông thôn, nâng cao trình độ HĐH cho nông nghiệp và nông thôn
Nhờ có chính sách đúng đắn và nguồn vốn đầu tư mạnh từ Chính phủ, giai đoạn 2 của công cuộc xây dựng NTM ở Nhật Bản đã đạt được kết quả rõ rệt Theo thống kê, trong giai đoạn 2 xây dựng NTM kéo dài 13 năm, tổng sản lượng nông nghiệp tăng từ 4.166,1 tỷ Yên năm 1967 lên 11.564 tỷ Yên, biên độ tăng đạt 177,6%
Giai đoạn 3:Từ giữa thập kỷ 70 đến cuối thập kỷ 80
Trong phong trào xây dựng làng xã ở Nhật Bản, nổi tiếng nhất và có ảnh hưởng lớn nhất đến các nước châu Á là phong trào “mỗi làng một sản phẩm” do Giáo sư Hiramatsu Morihiko, Chủ tịch tỉnh Oita khởi xướng năm 1979 Nội dung chính của phong trào là mỗi địa phương, tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mình, lựa chọn ra những sản phẩm độc đáo, mang đậm nét đặc trưng của địa phương để phát triển
Qua hơn 20 năm xây dựng, phong trào xây dựng làng xã của Nhật Bản đã khiến bộ mặt nông thôn của đất nước này thay đổi rõ rệt, thể hiện ở một số mặt sau: xóa bỏ khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, tăng thu nhập cho người nông dân, mở ra thị trường nông thôn cho sản phẩm phi nông nghiệp
Giai đoạn 4: Sau thập kỷ 90:
Trong giai đoạn này, Chính phủ Nhật Bản tiếp tục hạ thấp giá thành và tăng sức cạnh tranh quốc tế cho các sản phẩm nông nghiệp Chính phủ Nhật Bản lần lượt đưa ra các đạo luật hỗ trợ nông nghiệp như: Luật Lương thực mới (1995),
Trang 23Luật cơ bản về thực phẩm, nông nghiệp, nông thôn (1997), nhưng không ngăn chặn được sự suy thoái của nông nghiệp, dẫn đến việc xuất hiện các vấn đề như lực lượng lao động nông thôn sụt giảm, diện tích đất nông nghiệp thu hẹp, tỷ lệ tự cung lương thực đi xuống, lệ thuộc ngày càng nhiều vào nông phẩm nước ngoài
Một số bài học kinh nghiệm từ công cuộc xây dựng nông thôn mới của Nhật Bản:
Một là, xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật hỗ trợ ngành nông
nghiệp và xây dựng nông thôn mới: Căn cứ vào tình hình phát triển của nông thôn và mục tiêu của từng thời kỳ, Chính phủ Nhật Bản đã lần lượt ban hành hàng loạt pháp lệnh và chính sách hỗ trợ nông nghiệp có ảnh hưởng sâu sắc, lâu dài, tạo hành lang pháp lý để công cuộc xây dựng NTM được tiến hành thuận lợi
Hai là , phát huy tối đa vai trò chỉ đạo của Nhà nước: Chính phủ Nhật Bản tích cực tham gia và đầu tư kinh phí lớn Các giai đoạn 1, giai đoạn 2, giai đoạn 4 đều có sự định hướng của Chính phủ Mặc dù giai đoạn 3 được triển khai một cách tự phát, nhưng vẫn giành được sự khẳng định và ủng hộ từ phía Chính phủ
Ba là , nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, lòng tin và lòng quyết tâm cho người nông dân: Muốn xây dựng NTM nếu chỉ dựa vào Chính phủ sẽ không thể
đủ, cần phải có sự tham gia tích cực của người nông dân - đội ngũ những người được hưởng lợi trong công cuộc này
Bốn là, phát huy đầy đủ vai trò của hợp tác xã nông nghiệp Đó là một tổ
chức bao quát các vấn đề về nông nghiệp, nông thôn và hộ nông dân Hiện nay, trên 99% số hộ nông dân ở Nhật Bản đều trực thuộc tổ chức này HTXNN đã phát huy vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển, nâng cao đời sống cho người nông dân, bảo vệ quyền và lợi ích cho người nông dân, thúc đẩy HĐH nông nghiệp và nông thôn (Nguyễn Thành Lợi, 2013)
1.2.2 Thực tiễn xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc
Hàn Quốc nằm trên bán đảo Triều Tiên, một nước từng bị đô hộ từ cuối thế kỷ XIX Sau trận lụt năm 1969, người dân phải tu sửa lại nhà cửa và đường
sá mà không có sự trợ giúp của Chính phủ Điều này làm Tổng thống suy nghĩ rất nhiều và nhận ra rằng “viện trợ của Chính phủ cũng là vô nghĩa nếu người dân
Trang 24không nghĩ cách tự giúp chính mình” Hơn thế nữa, khuyến khích người dân tự hợp tác và giúp đỡ nhau là điểm mấu chốt để phát triển nông thôn Những ý tưởng này chính là nền tảng của phong trào xây dựng NTM (Saemaul Udong)
Từ một nước nghèo sau chiến tranh Nam - Bắc Triều Tiên ở thế kỷ trước, đến nay Hàn Quốc đã trở thành con rồng Châu Á và đứng trong nhóm các nước phát triển G20
Phong trào Saemaul Udong ra đời với 3 tiêu chí: cần cù (chăm chỉ), tự lực vượt khó, và hợp tác (hiệp lực cộng đồng) Phong trào Saemaul Udong (1970) được nông dân hưởng ứng mạnh mẽ Họ thi đua cải tạo nhà mái lá bằng mái ngói, đường giao thông trong làng, xã được mở rộng, nâng cấp; các công trình phúc lợi công cộng được đầu tư xây dựng Phương thức canh tác được đổi mới, chẳng hạn, áp dụng canh tác tổng hợp với nhiều mặt hàng mũi nhọn như nấm và cây thuốc lá để tăng giá trị xuất khẩu Chính phủ khuyến khích và hỗ trợ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn, tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho nông dân Bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã có những thay đổi hết sức kỳ diệu Chỉ sau
8 năm, các dự án phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành Trong 8 năm từ 1971-1978, Hàn Quốc đã cứng hóa được 43.631km đường làng nối với đường của xã, trung bình mỗi làng nâng cấp được 1.322m đường; cứng hóa đường ngõ xóm 42.220km, trung bình mỗi làng là 1.280m; xây dựng được 68.797 cầu (Hàn Quốc là đất nước có nhiều sông suối), kiên cố hóa 7.839km đê,
kè, xây 24.140 hồ chứa nước và 98% hộ có điện thắp sáng Đặc biệt, vì không có quỹ bồi thường đất và các tài sản khác nên việc hiến đất, tháo dỡ công trình, cây cối, đều do dân tự giác bàn bạc, thỏa thuận, ghi công lao đóng góp và hy sinh của các hộ cho phong trào
Nhờ phát triển giao thông nông thôn nên các hộ có điều kiện mua sắm phương tiện sản xuất Phong trào cơ khí hóa trong sản xuất nông nghiệp, áp dụng công nghệ cao, giống mới lai tạo đột biến, công nghệ nhà lưới, nhà kính trồng rau, hoa quả đã thúc đẩy năng suất, giá trị sản phẩm nông nghiệp, tăng nhanh Năm 1979, Hàn Quốc đã có 98% số làng tự chủ về kinh tế (Xuân Quang, 2011) Thành công của Hàn Quốc trong xây dựng NTM được nhiều nước trên thế
Trang 25giới học tập Một số bài học kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam như sau:
- Đoàn kết nhân nhân, khơi dậy tinh thần tự lực, tự cường, chủ đạo trong nhân dân để xây dựng NTM: việc xây dựng NTM phải xác định vai trò tự lực, chủ đạo từ phát hiện nhu cầu đến cách làm và quản lý của người dân mới đảm bảo tính xác thực, cần thiết và phát huy được tiềm năng từ người dân
- Làm thí điểm diện hẹp và lựa chọn nơi nào làm tốt để làm hạt nhân phát triển tiếp theo: làm được điều này sẽ có những điều chỉnh trong việc xây dựng NTM phù hợp với điều kiện nông thôn Việt Nam, con người Việt Nam và văn hóa Việt Nam
- Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao KH - KT, phát triển sản xuất để tăng thu nhập: Khi kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất được xây dựng, các cơ quan, đơn
vị chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, giống mới, khoa học công nghệ giúp nông dân tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, xây dựng vùng chuyên canh hàng hóa Tăng cường sự đầu tư của Chính phủ trong việc xây dựng nhà máy ở nông thôn để chế biến và tiêu thụ nông sản cũng như có chính sách tín dụng nông thôn, cho vay thúc đẩy sản xuất
- Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác phát triển nông thôn chuyên nghiệp: bởi đặc thù công việc là phải làm việc với nông dân, gắn bó với nông dân, thấu hiểu nông dân, lại phải ở những vùng xa xôi, điều kiện khó khăn về công việc cũng như sinh hoạt Do đó cán bộ phải được đào tạo có đủ trình độ, năng lực, phẩm chất và sự tận tâm mới đáp ứng được yêu cầu công việc
- Phát huy dân chủ để phát triển nông thôn: Thành lập hội đồng phát triển
xã, quyết định sử dụng trợ giúp của chính phủ trên cơ sở công khai, dân chủ, bàn bạc để triển khai các dự án theo mức độ cần thiết của địa phương, xã hội hóa các nguồn hỗ trợ để dân tự quyết định lựa chọn dự án, phương thức đóng góp, giám sát công trình
- Khen thưởng, khuyến khích kịp thời: cần tránh tư tưởng bình quân, cào bằng, những nơi làm tốt hơn sẽ được khen thưởng và được ưu tiên đầu tư nhiều hơn, có như vậy mới khuyến khích được những nơi làm tốt
Trang 26- Xử lý nghiêm những cán bộ tham nhũng: việc xử lý tham nhũng, trước hết sẽ làm gương cho kẻ khác và tạo niềm tin trong nhân dân, đồng thời đảm bảo rằng tất cả vật lực, tài lực huy động từ các nguồn đều được sử dụng vào các dự
án phát triển nông thôn mới
- Thực hiện các chính sách hỗ trợ cho nông dân: Nhà nước cần có chính sách phù hợp hỗ trợ nông dân nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và tăng sức cạnh tranh cho nông sản Việt Nam, cũng như chính sách tạo việc làm cho lao động dư thừa ở nông thôn
Kinh nghiệm thành công của Hàn quốc về xây dựng NTM cho ta thấy rằng, quá trình xây dựng NTM chỉ thực sự thành công, khi chính người nông dân tự làm chủ vận mệnh của mình, với sự hỗ trợ của Nhà nước để thay đổi toàn diện bộ mặt nông thôn cùng với việc tăng thu nhập một cách ổn định (Ngô Văn Toại, 2011)
1.2.3 Thực tiễn xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc
Từ đầu những năm 1980, Trung Quốc đã chọn hướng phát triển nông thôn bằng cách phát huy những công xưởng nông thôn thừa kế được của những công
xã nhân dân trước đây, thay đổi sở hữu và phương thức quản lý để phát triển mô hình “công nghiệp hưng trấn” Các lĩnh vực như chế biến nông lâm sản, hàng công nghiệp nhẹ, máy móc nông cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp đang ngày càng được đẩy mạnh Nguyên tắc của Trung Quốc là quy hoạch đi trước, định ra các biện pháp thích hợp cho từng nơi, đột phá trọng điểm, làm mẫu đường Chính phủ hỗ trợ, nông dân xây dựng Với mục tiêu “ly nông bất ly hương” Trung Quốc đã thực hiện đồng thời 3 chương trình phát triển nông nghiệp và phát triển nông thôn (Quản Hải Yến và cs, 2010)
- Chương trình đốm lửa: điểm khác biệt của chương trình này là trang bị cho hàng triệu nông dân các tư tưởng, tiến bộ khoa học, bồi dưỡng nhân tài đốm lửa, nâng cao tố chất nông dân Sau 15 năm thực hiện, chương trình đã bồi dưỡng được 60 triệu thanh niên nông thôn thành một đội ngũ cán bộ khoa học cốt cán, tạo
ra một động lực tiềm năng thúc đẩy nông thôn phát triển theo kịp với thành thị
- Chương trình được mùa: chương trình này giúp đại bộ phận nông dân áp dụng khoa học tiên tiến, phương thức quản lý hiện đại để phát triển nông nghiệp,
Trang 27nông thôn Trong 15 năm sản lượng lương thực của Trung Quốc đã tăng lên 3 lần
so với năm 1970 Mục tiêu phát triển nông nghiệp là sản xuất các nông sản chuyện dụng, phát triển chất lượng và tăng cường chế biến nông sản phẩm
- Chương trình giúp đỡ vùng nghèo: mục tiêu là nâng cao mức sống của các vùng nghèo, vùng miền núi, dân tộc ít người; mở rộng ứng dụng thành tựu khoa học tiên tiến, phổ cập tri thức khoa học công nghệ và bồi dưỡng cán bộ khoa học cốt cán cho nông thôn xa xôi, tăng sản lượng lương thực và thu nhập của nông dân Sau khi thực hiện chương trình, số dân nghèo giảm từ 1,6 triệu người xuống còn 5 vạn người, diện nghèo khó giảm từ 47% xuống còn 1,5%
Tại hội nghị toàn thể Trung ương lần thứ 5 khóa XVI Trung Quốc đưa ra quy hoạch “Xây dựng NTM xã hội chủ nghĩa” Mục tiêu của quy hoạch là: “sản xuất phát triển, cuộc sống dư dật, làng quê văn minh, thôn xã sạch sẽ, quản lý dân chủ” Xây dựng NTM Trung Quốc tạo nên một hình ảnh mới đầy ấn tượng
về một “nông thôn Trung Quốc” đẹp và tráng lệ (Từ Tinh Minh và cs, 2010)
Tuy vậy phát triển nông thôn cấp cơ sở và NTM tại Trung Quốc cũng chưa đạt được các mục tiêu đề ra để thúc đẩy phát triển khu vực nông thôn Mô hình NTM của Trung Quốc chưa được coi là thành công khi hiện nay, khoảng cách giữa khu vực thành thị và nông thôn vẫn đang ngày càng rộng ra (Nguyễn Quang Dũng, 2010)
1.3 Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
1.3.1 Tình hình xây dựng nông thôn mới trên phạm vi cả nước
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X), Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới tại Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 và Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 tại Quyết định 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2020
Ngày 02 tháng 02 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 193/QĐ-TTg Phê duyệt Chương trình rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới Kết quả thực hiện đến nay trên các lĩnh vực như sau:
- Thành lập bộ máy chỉ đạo từ Trung ương đến cơ sở
Trang 28Ngày 01 tháng 7 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 1013/QĐ-TTg Thành lập Ban chỉ đạo Trung ương về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giai đoạn 2010 – 2020 Ban Chỉ đạo Trung ương có 24 thành viên, do đồng chí Nguyễn Sinh Hùng – Phó Thủ tướng Thường trực Chính Phủ làm Trưởng ban, Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Cao Đức Phát làm Phó trưởng ban thường trực
Ban chỉ đạo Trung ương đã ban hành Quy chế hoạt động (tại quyết định 437/QĐ-BCĐXDNTM, ngày 20/9/2010) và Kế hoạch triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2010 – 2020 (tại quyết định 435/QĐ- BCĐXDNTM, ngày 20/9/2010)
Để giúp việc cho Ban chỉ đạo, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã thành lập Văn phòng điều phối Chương trình với 24 cán bộ chuyên trách (4 chuyên trách, 9 kiêm nhiệm từ các Bộ, ngành, 11 kiêm nhiệm từ các đơn vị trong các Bộ)
Theo Kế hoạch của Ban chỉ đạo Trung ương, trong năm 2010, các cấp chính quyền từ tỉnh đến huyện đều đã thành lập Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
Ở cấp xã, thành lập Ban quản lý Chương trình nông thôn mới (do Chủ tịch UBND xã làm Trưởng ban, các ủy viên Ủy ban phụ trách các lĩnh vực nông nghiệp, kinh tế, giao thông công chính, đại diện Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần chúng làm thành viên) và Ban giám sát cộng đồng (gồm đại diện của Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị xã hội và đại diện của cộng đồng dân cư)
Cấp thôn bản: Mỗi thôn, bản thành lập một Ban phát triển thôn làm nòng cốt trong quá trình thực hiện nội dung xây dựng NTM trên địa bàn Nhiệm vụ của Ban phát triển thôn là động viên, khuyến khích nhân dân tham gia xây dựng, thực hiện, giám sát các quá trình xây dựng các nội dung về NTM ở xóm, bản
- Tổ chức quán triệt, tuyên truyền, chọn điểm chỉ đạo
Cũng trong năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã tổ chức Hội nghị trực tuyến với lãnh đạo các Bộ, ngành Trung ương, lãnh đạo các địa phương để triển
Trang 29khai Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2010 – 2020 (ngày 06/8/2010) Nhiều hoạt động tuyên truyền như họp báo, tổ chức Hội nghị với các tổ chức quốc tế cũng đã được tiến hành
Ban chỉ đạo Trung ương đã chọn 5 tỉnh là Phú Thọ, Thái Bình, Hà Tĩnh, Bình Phước, An Giang và 05 huyện là Nam Đàn – Hòa Bình, Hải Hậu – tỉnh Nam Định, Phước Long – tỉnh Bạc Liêu, Phú Ninh – tỉnh Quảng Nam, K’Bang – tỉnh Gia Lai làm điểm chỉ đạo
Theo Cục kinh tế hợp tác Phát triển nông thôn (công bố tại hội nghị ngày 15/2/2011), đến tháng 2 năm 2011, có 60 tỉnh chọn xã làm điểm chỉ đạo trước khi nhân ra diện rộng (766 xã/119 huyện), trong đó đa số lựa chọn 4-10 xã (chiếm 3-4%) Một số tỉnh chọn số xã làm điểm lớn như Lào Cai 31%, Phú Yên 22%, Hà Giang 23%, Đồng Tháp 25% Có tỉnh đề ra kế hoạch hoàn thành xây dựng NTM sớm hơn kế hoạch của Trung ương như Quảng Ninh phấn đấu 70%
xã đạt NTM vào năm 2015
- Ban hành các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo
Theo sự chỉ đạo của Chính Phủ, các Bộ, ngành trung ương đã ban hành nhiều Thông tư hướng dẫn quản lý, thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM
Bộ NN&PTNT đã ban hành Thông tư 07/2010/TT-BNNPTNT, ngày 08/02/2010 về “Hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp xã” và Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT ngày 04/10/2013 thay thế Thông tư 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 về “Hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới”
Bộ Xây dựng ban hành Thông tư 21/2009/TT-BXD, ngày 30/6/2009 về
“Quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch xây dựng nông thôn”; Thông tư số 31/2009/TT-BXD ngày 10/9/2009 về “ban hành tiêu chuẩn quy hoạch xây dựng nông thôn” và Thông tư số 32/2009/TT-BXD, ngày 10/9/2009 về “Ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng nông thôn”; Thông tư 09/2010/TT-BXD ngày 4/8/2010 và Sổ tay Hướng dẫn lập quy hoạch nông thôn mới
Liên Bộ NN&PTNT, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài chính đã ban hành
Trang 30thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHDT-BTC, ngày 13 tháng 4 năm 2011 để hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020
Các Bộ, ngành khác đều đã căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, tổ chức thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM theo chỉ đạo của Chính phủ
- Chỉ đạo cơ sở tập trung thực hiện một số nội dung
Mục tiêu của Chính phủ là trong năm 2011, cả nước cơ bản hoàn thành công tác quy hoạch xây dựng nông thôn mới
Để đảm bảo cho công tác quy hoạch có chất lượng, các địa phương (cấp xã) đã tiến hành rà soát thực trạng Việc xây dựng quy hoạch dự kiến đến cuối năm 2011 sẽ hoàn tất trên phạm vi cả nước
Song song với việc quy hoạch, các địa phương đang từng bước thực hiện các nội dung như xây dựng đường giao thông, thủy lợi, chuyển dịch kinh tế Một số tỉnh triển khai tích cực như Thái Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, Nam Định, Hà Nội, Hà Tĩnh, Tuyên Quang, Bắc Giang, Phú Thọ Tỉnh Tuyên Quang
có cơ chế hỗ trợ 100% xi măng, ống cống qua đường, công vận chuyển, kinh phí quản lý cho xây dựng giao thông nông thôn, Hải Phòng hỗ trợ 15-20% kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng
Năm 2011, Chính Phủ đã quyết định chi 1.600 tỷ đồng (trong đó vốn sự nghiệp 1.100 tỷ đồng) cho các địa phương thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM
1.3.2 Tình hình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trong 4 năm qua với sự chỉ đạo tập trung, tích cực thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, Hà Nội đã đạt được một số kết quả và đúc kết nhiều kinh nghiệm tạo ra bước ngoặt mới làm chuyển biến phong trào xây dựng NTM Kết quả triển khai xây dựng NTM ở 19 xã điểm của thành phố (như Xã Thụy Hương (Chương Mỹ), xã Song Phượng (Đan Phượng), xã Mai Đình (Sóc Sơn),
Trang 31xã Đại Áng (Thanh Trì), khá thành công, tạo ra hình hài NTM rõ nét làm đổi thay bộ mặt nông thôn Đây thực sự là cuộc vận động lớn tạo sự chuyển biến sâu sắc về bản chất được các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể và cộng đồng dân cư hưởng ứng vào cuộc, tạo tiền đề tốt cho bước triển khai mở rộng xây dựng NTM
ra các địa phương
Đến hết năm 2014, có 19/19 huyện, thị xã trên địa bàn thành phố đã lập xong đề án cấp huyện; 100% số xã lập đề án và tổ chức lập quy hoạch xây dựng NTM Tính đến hết tháng 9/2014 (không tính 12 xã của huyện Từ Liêm cũ đã chuyển lên quận), toàn Thành phố có 38/386 xã đạt chuẩn NTM, 178/386 xã đạt
và cơ bản đạt 14-18 tiêu chí; 129/386 xã đạt và cơ bản đạt 10-13 tiêu chí; 41/386
xã đạt và cơ bản đạt từ 5 đến 9 tiêu chí Sau 3 năm triển khai Chương trình 02 của Thành ủy Hà Nội, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội khu vực nông thôn không ngừng được nâng cấp Tỷ lệ xã có đường ô tô đến trụ sở được cứng hóa đạt 100%, đường trục thôn, liên thôn được cứng hóa đạt 95%; hệ thống thoát nước thải chung đạt 67%, 98% số xã có tổ chức thu gom rác thải, 100% thôn có điện,
tỷ lệ dân nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 91,56%, trong đó có 35,26% dùng nước sạch…
Về nâng cao đời sống nông thôn, 9 tháng đầu năm 2014, toàn thành phố ước giảm nghèo được 8.095 hộ, đưa tỉ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn ước còn 32.000 hộ nghèo, tỉ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn còn 3,3% Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn trong năm 2013 đạt trên 24 triệu đồng, cơ bản không còn nhà dột nát Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được đảm bảo, 100% trạm y tế có bác sỹ, trên 90% hộ dân có vô tuyến truyền hình…
Đối với công tác dồn điền đổi thửa, tính đến nay, toàn thành phố Hà Nội
đã dồn đổi được 74.158/76.365 ha, đạt 97,11% so với kế hoạch (trong quý III toàn thành phố đã dồn đổi được 588 ha) Sau dồn đổi, số diện tích dôi dư là 1.477
ha, tạo điều kiện để các địa phương quy hoạch cơ sở hạ tầng và công trình phúc lợi Đặc biệt, cùng với dồn điền đổi thửa, các địa phương cũng tích cực đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, hỗ trợ nông dân cơ giới hóa sản xuất Đến nay, trên 62 nghìn ha đã được chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, hình thành các
Trang 32vùng chuyên canh, sản xuất hàng hóa mang lại giá trị kinh tế cao, như mô hình trồng hoa, cây cảnh tại các huyện Hoài Đức, Đan Phượng, Thường Tín, mô hình cây ăn quả tại một số huyện Thanh Oai, Thanh Trì; trồng rau sạch tại các huyện
Mê Linh, Đan Phượng, Phúc Thọ; mô hình chăn nuôi tập trung xa khu dân cư tại các huyện Ứng Hòa, Chương Mỹ… Hiện các địa phương đang rà soát, đánh giá chấm điểm các tiêu chí xây dựng NTM năm 2014, dự kiến Hà Nội sẽ có thêm 60
xã nữa đạt chuẩn NTM
Để góp phần nâng cao các tiêu chí, nhất là các tiêu chí liên quan đến phát triển sản xuất, giảm hộ nghèo, nâng cao thu nhập cho người dân, ngành nông nghiệp đã xây dựng các quy hoạch, lập và triển khai các đề án: Rau an toàn; hoa, cây cảnh; chuyển đổi rừng keo, bạch đàn sang trồng rừng sinh thái; phát triển vùng chè chất lượng cao; đưa cơ giới hóa vào sản xuất; phát triển chăn nuôi theo vùng, xã trọng điểm và chăn nuôi quy mô lớn ngoài khu dân cư… Đến hết năm
2014, các huyện, thị xã đã thực hiện được gần 97% (74.000/76.000 ha) diện tích
có khả năng dồn điền, đổi thửa (DĐĐT) theo kế hoạch đề ra Trên cơ sở thành công của DĐĐT, nhiều địa phương đã quy hoạch sản xuất theo vùng tập trung; đưa cơ giới hóa vào sản xuất, góp phần giải phóng sức lao động, nâng cao năng suất, giá trị nông sản Thống kê cho thấy, trung bình mỗi ha canh tác ở Hà Nội đã đạt giá trị 231 triệu đồng Riêng các vùng trồng hoa, cây ăn quả, chăn nuôi xa khu dân cư, nuôi trồng thủy sản hiệu quả cao hơn hẳn đạt từ 500 triệu đồng đến 1,5 tỷ đồng/ha canh tác như Đan Phượng, Thanh Oai, Thạch Thất… góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân Hà Nội
Trang 33Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a) Đối tượng nghiên cứu
- Tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới huyện Thạch Thất
- Tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại 2 xã Hương Ngải và xã Phú Kim
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội huyện Thạch Thất
- Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thời tiết
- Tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên nhân văn, tài nguyên khoáng sản và tài nguyên rừng
- Dân số, lao động và thu nhập
- Tiềm năng của huyện
2.2.2 Đánh giá tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới huyện Thạch Thất
a) Tình hình triển khai công tác xây dựng nông thôn mới huyện Thạch Thất
- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo
- Công tác tuyên truyền, tập huấn
- Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất
b) Kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới huyện Thạch Thất giai đoạn 2011-2014
Trang 342.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Đến ngày 30/11/2014 qua điều tra và rà soát tổng số tiêu chí đạt được trên địa bàn toàn huyện là 342 tiêu chí Bình quân toàn huyện đạt 15,55 tiêu chí/xã Kết quả thực hiện các tiêu chí trên địa bàn huyện được chia làm 2 nhóm như sau:
Nhóm 1: Các xã thực hiện tốt (đạt 19/19 tiêu chí): có 06 xã (Đại Đồng,
Hương Ngải, Dị Nậu, Phùng Xá, Bình Yên, Hạ Bằng)
Nhóm 2: Các xã thực hiện khá (đạt từ 13 – 17 tiêu chí): có 2 xã đạt chuẩn 17
tiêu chí (Thạch Xá và Tân Xã); có 3 xã đạt chuẩn 16 tiêu chí (Hữu bằng, Cần Kiệm,
Đồng Trúc); có 3 xã đạt chuẩn 14 tiêu chí (Canh Nậu, Cẩm Yên, Tiến Xuân) và 8
xã đạt chuẩn 13 tiêu chí (Phú Kim, Chàng Sơn, Bình Phú, Kim Quan, Lại Thượng, Thạch Hòa, Yên Bình, Yên Trung)
Từ kết quả đánh giá chung về tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng NTM tại huyện Thạch Thất tiến hành chọn ngẫu nhiên 2 xã từ 02 nhóm (nhóm thực hiện tốt và nhóm thực hiện kém) là xã Hương Ngải và xã Phú Kim để nghiên cứu điểm để phân tích, đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch xây dựng NTM nhằm tìm hiểu những tồn tại trong quá trình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới
+ Xã Hương Ngải: Trước khi thực hiện chương trình xây dựng NTM
Trang 35(2010), xã Hương Ngải có 7/19 tiêu chí đạt Đến nay, sau 4 năm thực hiện đã có 19/19 tiêu chí đạt về nông thôn mới
+ Xã Phú Kim: Trước khi thực hiện chương trình xây dựng NTM (2010),
xã Phú Kim có 6/19 tiêu chí đạt, đến nay xã chỉ đạt 13/19 tiêu chí
2.3.2 Ph ương pháp điều tra, khảo sát thu thập số liệu
- Nguồn số liệu thứ cấp: được kế thừa, thu thập từ các phòng ban trong huyện và trong xã, từ các công trình nghiên cứu đã được công bố
- Số liệu sơ cấp: thực hiện điều tra, khảo sát các thông tin, tư liệu, số liệu phục vụ xây dựng quy hoạch nông thôn mới tại các xã; Các chỉ tiêu điều tra được xây dựng dựa trên 19 chỉ tiêu nêu trong bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới, gồm 5 nhóm tiêu chí là: quy hoạch, hạ tầng kinh tế xã hội, kinh tế và tổ chức sản xuất, văn hóa - xã hội - môi trường, và hệ thống chính trị Điều tra thực địa để bổ sung các số liệu cần thiết
- Điều tra 60 hộ dân (tại 02 xã đã chọn), theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên mỗi xã 30 phiếu nhằm thu thập những thông tin cơ bản như chủ hộ, số nhân khẩu, số lao động, sự quan tâm cũng như tác động của xây dựng NTM đến
hộ, và tìm hiểu những ý kiến đóng góp của hộ góp phần thúc đẩy hoàn thiện xây dựng NTM tại cơ sở
2.3.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp và xử lý số liệu
Các số liệu sau khi thu thập được xử lý và phân loại theo các chỉ tiêu nghiên cứu Sau đó sẽ được xử lý bằng phần mềm Excel
- Phương pháp thống kê: Sử dụng các chỉ tiêu tổng hợp (như số tuyệt đối,
số tương đối, số bình quân) để mô tả và phân tích thực trạng phát triển kinh tế xã hội sau 4 năm xây dựng nông thôn mới tại huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội
- Phương pháp so sánh: so sánh trước và sau khi thực hiện các tiêu chí
NTM huyện Thạch Thất So sánh 19 tiêu chí trong Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới của các xã điều tra theo các giai đoạn thời gian khác nhau (trước và sau khi có quy hoạch xây dựng NTM) Từ đó thấy được sự khác biệt khi thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới
Trang 36Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Thạch Thất
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý:
Huyện Thạch Thất nằm phía Tây Bắc thành phố Hà Nội, cách trung tâm thành phố Hà Nội 40 km về phía Tây, là vùng bán sơn địa, có tọa độ địa lý từ:
20o58’23” đến 21o06’10” vĩ độ bắc và 105o27’54” đến 105o38’22” kinh độ đông Phía Bắc giáp huyện Phúc Thọ
Phía Đông giáp huyện Phúc Thọ, huyện Quốc Oai
Phía Nam giáp huyện Quốc Oai, huyện Kỳ Sơn (tỉnh Hoà Bình)
Phía Tây giáp huyện Ba Vì và thị xã Sơn Tây
Huyện có 22 xã và 01 thị trấn Huyện có Quốc lộ 32 chạy sát phía Đông - Bắc của huyện kết nối huyện với thị xã Sơn Tây và trung tâm thủ đô Hà Nội Quốc lộ 21 xuất phát từ thị xã Sơn Tây đi qua giữa địa bàn huyện Thạch Thất là tuyến giao thông chính hướng về phía Nam cho huyện Hai tuyến quốc lộ này kết hợp đại lộ Thăng Long tạo thành mạng lưới giao thông đặc biệt quan trọng trong việc phát triển kinh tế và đáp ứng nhu cầu giao thông giữa các tỉnh phía Tây Bắc
- Hà Nội nói chung và của huyện Thạch Thất nói riêng
3.1.1.2 Đặc điểm địa hình:
Thạch Thất là khu vực chuyển tiếp giữa vùng núi và trung du phía Bắc với vùng đồng bằng Nhìn chung địa hình thấp dần từ Tây sang Đông và có các dạng địa hình chính:
+ Dạng địa hình đồng bằng: phân bố trên địa bàn 11 xã, tập trung bên bờ trái sông Tích, địa hình khá bằng phẳng, độ cao trung bình khoảng từ 3 đến 10 m
so với mặt biển Nền địa chất khá đồng nhất, tầng đất hầu hết dày trên 1m, thỉnh thoảng có nơi xuất hiện đá ong ở tầng sâu
+ Dạng địa hình bán sơn địa, đồi gò: có trên địa bàn 9 xã, độ cao trung bình so với mặt biển từ 10 m đến hơn 15 m Có nhiều đồi độc lập, thấp, thoải, độ dốc trung bình 3-8o, đã hình thành nhiều hồ thuỷ lợi nhỏ và vừa, tiêu biểu là hồ
Trang 37Tân Xã
+ Dạng địa hình núi thấp: nằm trên địa bàn 3 xã phía tây là Tiến Xuân, Yên Trung, Yên Bình Trên địa bàn có một số núi cao (trên 900m), hình thành các dãy núi, đồi Nhìn chung địa hình xu hướng nghiêng từ bắc xuống nam, từ đông sang tây Có những khu vực khá bằng, độ cao tuyệt đối dưới 100m tạo nên những vùng đồng ruộng thuận lợi cho phát triển nông nghiệp
3.1.1.3 Khí hậu, thời tiết:
Thạch Thất nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với các đặc trưng khí hậu chính như sau:
- Nhiệt độ không khí: nhiệt độ trung bình cả năm là 23,4oC, trong năm nhiệt độ thấp nhất trung bình 13,7oC (vào tháng 1) Tháng nóng nhất là tháng 5
có nhiệt độ trung bình trên 37,5oC
- Số giờ nắng trong năm trung bình là 1.680 giờ, năm cao nhất 1.700 giờ, năm thấp nhất 1.460 giờ
- Lượng mưa bình quân năm là 1.628 mm Lượng mưa phân bố trong năm không đều, mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 85% tổng lượng mưa
cả năm, lượng mưa ngày lớn nhất có thể tới 336mm
- Độ ẩm không khí trung bình năm khoảng 83%, giữa các tháng trong năm
Cơ cấu phân bổ sử dụng đất như sau:
+ Đất nông nghiệp có 8.844,81 ha chiếm 48,68% DTTN khu vực nông
thôn toàn huyện, trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp là 6.107,41 ha chiếm 69,05%; Đất trồng cây lâu năm là 678,13 ha chiếm 11,10%; Đất lâm nghiệp có rừng là 2.468,54 ha chiếm 27,91% ; Đất nuôi trồng thuỷ sản là 187,14 ha chiếm 2,12% và Đất nông nghiệp khác 81,72 ha chiếm 0,92% tổng diện tích đất nông nghiệp khu vực nông thôn
Trang 38+ Đất phi nông nghiệp có 8.353,47 ha chiếm 45,98% DTTN khu vực nông thôn toàn huyện
+ Đất chưa sử dụng 969,53 chiếm 5,34% DTTN khu vực nông thôn của toàn huyện
Nông thôn huyện Thạch Thất chịu ảnh hưởng khá mạnh của quá trình CNH và đô thị hóa nên đất sản xuất nông nghiệp có xu thế giảm nhanh làm cho một bộ phận người dân nông thôn bị mất đất sản xuất Trong điều kiện đất chưa
sử dụng của huyện không còn nhiều, việc tìm kiếm các giải pháp tạo việc làm cho người dân nông thôn và thúc đẩy chuyển dịch lao động nông nghiệp sang các lĩnh vực phi nông nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và cấp bách
3.1.2.2 Tài nguyên nước
Nước mặt: nguồn nước mặt được cung cấp chủ yếu bởi sông Tích, kênh dẫn nước Đồng Mô - Ngải Sơn, Phù Sa Nước mưa được lưu giữ trong các ao hồ (trong đó có các hồ thuỷ lợi nhỏ và vừa) để rồi cung cấp nước tưới cho đồng ruộng Nước sinh hoạt của nhân dân được lấy từ nước mưa, giếng khơi, giếng khoan, hệ thống cấp nước tập trung
Các xã vùng núi (Tiến Xuân, Yên Trung và Yên Bình) nguồn nước mặt là
từ các suối nhỏ, nhìn chung độ dốc lớn, dòng chảy khá mạnh, đặc biệt là vào mùa mưa Sản xuất và sinh hoạt của nhân dân chủ yếu lấy từ nguồn nước này Khu
Trang 39vực thung lũng bằng có một số công trình thủy lợi nhỏ (hồ xóm Nhòn, hồ suối Ngọc ở xã Tiến Xuân), các hồ ao nhỏ nằm rải rác Nhiều suối nhỏ bắt nguồn từ hợp thủy, khe suối trên núi chảy qua các cánh đồng là nguồn cung cấp nước cho cánh đồng
Nước ngầm: Vùng gò đồi và vùng đồng bằng có mực nước ngầm khá nông, kết quả khoan thăm dò ở Hoà Lạc thấy nước ngầm ở độ sâu 70-80m, lượng nước tuy không lớn nhưng có chất lượng tốt
Để sử dụng tốt tài nguyên nước cho mục tiêu phát triển sản xuất và sinh hoạt cần quy hoạch theo hướng giữ lại nguồn nước hồ Tân Xã và các hồ nhỏ phân bố rải rác trong huyện; sử dụng có hiệu quả nguồn nước được cấp bởi hệ thống kênh Đồng Mô-Ngải Sơn, Phù Sa; xây dựng các trạm cấp nước tập trung phục vụ sinh hoạt, các cụm, điểm công nghiệp
3.1.2.3 Tài nguyên nhân văn
Thạch Thất là vùng đất cổ, được khai phá từ thời xa xưa, tên huyện có từ thời thuộc Hán Từ xưa, trong huyện có nhiều người thi cử và đỗ đạt cao, giữ những trọng trách lớn trong các triều đại phong kiến Trong đó nhiều người được lưu danh trong sử sách, tiêu biểu là Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (thế kỷ XVI) Thạch Thất là huyện có nhiều di tích lịch sử - tôn giáo, với 98 di tích đình, chùa, đền, miếu, trong đó có 30 di tích đã được xếp hạng Chùa Tây Phương là công trình di tích lịch sử được xếp hạng đặc biệt quan trọng của quốc gia Cùng với hệ thống đình, đền, chùa phong phú, trên địa bàn huyện còn có tượng đài núi Nứa và nhà lưu niệm Bác Hồ tại xã Cần Kiệm cũng là một di tích lịch sử thu hút khách du lịch
Trong huyện có nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng hàng trăm năm của
xứ Đoài như: Nghề mộc xã Chàng Sơn, mây giang đan xã Bình Phú, cơ khí xã Phùng Xá, bánh chè lam xã Thạch Xá…đồng thời cũng là một trong những cái nôi của nghề: múa rối nước, hát chèo, vật cổ điển Hàng năm nhiều lễ hội truyền thống được tổ chức làm phong phú thêm đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân địa phương
Trang 403.1.2.4 Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện không có nhiều và không có các loại khoáng sản quý hiếm, chủ yếu là khoáng sản làm vật liệu xây dựng Các khoáng sản chính chỉ có: sét để sản xuất gạch ngói, đá ong Sét có nhiều ở xã Đại Đồng, đất để sản xuất vật liệu xây dựng phân bố ở nhiều nơi nhưng tập trung nhiều ở các xã: Cẩm Yên, Đồng Trúc, Đại Đồng Đá ong phân bố dọc tỉnh lộ
420, chủ yếu tập trung ở xã Bình Yên được người dân sử dụng trong xây dựng các công trình dân dụng, hiện nay trữ lượng đá ong còn lại rất ít do người dân địa phương khai thác trong thời gian dài
3.1.2.5 Tài nguyên rừng
Diện tích rừng trên địa bàn huyện Thạch Thất là 2.468,54 ha, trong đó tập trung chủ yếu ở 3 xã Tiến Xuân, Yên Trung, Yên Bình với 2.185,69 ha (bằng 88,54%) Tại đây diện tích rừng nhiều, tập trung bao gồm cả rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng Diện tích rừng phòng hộ có 346,03 ha tập trung chủ yếu ở xã Tiến Xuân với 301,03 ha Diện tích rừng đặc dụng với 325,90 ha có ở Yên Trung và Yên Bình Diện tích rừng sản xuất chiếm tới gần 70% tổng diện tích rừng Cây rừng bao gồm tre, nứa, các loại gỗ tạp là chính, các loại gỗ quý còn rất ít Động vật tự nhiên còn ít, là các thú nhỏ, các loài chim
Diện tích còn lại (282,85 ha) là rừng trồng sản xuất, phân bố rải rác ở các
gò đồi trên địa bàn 6 xã, trong đó diện tích khá tập trung ở các xã Bình Yên (153,01 ha), Thạch Hòa (62,57 ha), Cần Kiệm (52,45 ha), còn lại các xã Kim Quan, Phú Kim, Đồng Trúc diện tích ít, phân tán Tập đoàn cây trồng lâm nghiệp gồm: bạch đàn, keo lá chàm, keo tai tượng Ngoài ý nghĩa kinh tế cây lâm nghiệp được trồng trên đất đồi núi dốc có tác dụng phòng hộ, bảo vệ đất, tạo cảnh quan môi trường, điều hoà khí hậu Động vật tự nhiên ít do chỉ có rừng trồng nằm phân tán ở các đồi núi độc lập, chủ yếu là các loài chim
Những năm gần đây diện tích rừng trên địa bàn huyện bị thu hẹp khá nhanh do việc thực hiện các công trình, dự án lớn
3.1.3 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập của huyện Thạch Thất
- Dân số: Huyện Thạch Thất có 22 xã và 1 thị trấn với 199 thôn Dân số toàn