Để đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thành tiêu chí môi trường, đưa xã Thụy Bình trở thành một xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới của tỉnh Thái Bình, là bài học cho các xã có đặc điểm chung nh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi Số liệu và kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa từng được sử dụng trong bất cứ một học vị nào Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đều đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp cao học, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các cá nhân trong và ngoài Học viện Nông Nghiệp Việt Nam
Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy cô giáo khoa Môi trường cùng các thầy cô giáo Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã dìu dắt, dạy dỗ tôi trong quá trình học tập tại Học viện
Tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô giáo – PGS.TS Cao Việt Hà, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của cán bộ UBND, người dân xã Thụy Bình, huyện Thái Thụy ,tỉnh Thái Bình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt nội dung đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm động viên, giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình
Hà Nội, ngày tháng năm
Học viên
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
Danh mục chữ viết tắt viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 3
1.1.1 Các khái niệm chung 3
1.1.2 Cơ sở pháp lý về xây dựng nông thôn mới 5
1.1.3 Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới 7
1.1.4 Nội dung tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới 7
1.1.5 Tác nhân gây hại môi trường nông thôn và quá trình phát tán 9
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 12
1.2.1 Những vấn đề tồn tại về môi trường nông thôn 12
1.2.2 Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 15
1.2.3 Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Thái Bình 20
1.2.4 Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện các tiêu chí về nông thôn mới 22
1.2.5 Tình hình thực hiện các tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới 27
1.2.6 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới của một số địa phương 30
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Đối tượng nghiên cứu 35
2.2 Phạm vi nghiên cứu 35
2.3 Nội dung nghiên cứu 35
2.4 Phương pháp nghiên cứu 35
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 35
2.4.2 Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp 36
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 37
Trang 62.4.4 Phương pháp so sánh 37
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
3.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội xã Thụy Bình 38
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 38
3.1.2 Tình hình kinh tế xã hội 40
3.2 Tình hình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Thụy Bình 46
3.2.1 Văn bản pháp lý xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Thụy Bình 46
3.2.2 Tình hình thực hiện nông thôn mới ở xã Thụy Bình 47
3.3 Đánh giá tình hình thực hiện các tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới ở xã Thụy Bình 51
3.3.1 Khả năng tiếp cận nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh ở xã Thụy Bình 51
3.3.2 Khả năng đáp ứng tiêu chuẩn về môi trường trong các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn xã Thụy Bình 56
3.3.3 Hoạt động thu gom và xử lý chất thải, rác thải, nước thải trên địa bàn xã Thụy Bình 63
3.3.4.Quy hoạch và quản lý theo quy hoạch các nghĩa trang trên địa bàn xã Thụy Bình 73
3.3.5 Hoạt động giữ gìn vệ sinh môi trường trên địa bàn xã Thụy Bình 77
3.3.6 Một số tiêu chí có liên quan tới tình hình thực hiện tiêu chí môi trường ở xã Thụy Bình 79
3.3.7 Một số khó khăn khi thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới ở xã Thụy Bình 82
3.4 Một số giải pháp để đáp ứng tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới ở xã Thụy Bình 84
3.4.1 Giải pháp chính sách 84
3.4.2 Giải pháp về kỹ thuật 85
3.4.3 Giải pháp về tuyên truyền 87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Số bảng Tên bảng Trang
3.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của xã Thụy Bình 40
3.2 Tình hình chăn nuôi của xã Thụy Bình giai đoạn 2011- 2014 43
3.3 Hình thức xử lý chất thải chăn nuôi lợn ở xã Thụy Bình 58
3.4 Các khu nghĩa trang trên địa bàn xã Thụy Bình 74
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Số hình Tên hình Trang
3.1 Sơ đồ vị trí xã Thụy Bình, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 38
3.2 Cơ cấu các ngành kinh tế của xã Thụy Bình năm 2014 41
3.3 Cơ cấu lao động của xã Thụy Bình năm 2014 41
3.4 Quy mô chăn nuôi lợn của xã Thụy Bình giai đoạn 2011 - 2014 44
3.5 Tỷ lệ sử dụng các nguồn nước vào mục đích ăn uống của các hộ gia đình tại xã Thụy Bình 51
3.6 Tỷ lệ sử dụng các nguồn nước vào mục đích sinh hoạt của hộ gia đình tại xã Thụy Bình 52
3.7 Hệ thống bể chứa và lọc nước giếng khoan hộ gia đình ông Phạm Văn Nam, thôn Hạ Tập, xã Thụy Bình 53
3.8 Hình thức xử lý nước giếng khoan tại xã Thụy Bình 54
3.9 Đánh giá của các hộ gia đình về chất lượng nước mưa và nước giếng khoan 55 3.10 Chuồng nuôi lợn quy mô trang trại và chăn nuôi nhỏ lẻ ở xã Thụy Bình 58
3.11 Chất thải chăn nuôi lợn được xả trực tiếp vào môi trường tại xã Thụy Bình 59
3.12 Đánh giá ảnh hưởng hoạt động chăn nuôi của hộ gia đình tới môi trường 60 3.13 Chất thải chăn nuôi lắng đọng tại kênh mương, ao hồ ở xã Thụy Bình 63
3.14 Tỷ lệ sử dụng các loại nhà vệ sinh của các hộ gia đình ở xã Thụy Bình 64
3.15 Nhà tắm, nhà vệ sinh tại hộ gia đình trong xã Thụy Bình 65
3.16 Hệ thống mương thoát nước thải của xã Thụy Bình 66
3.17 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt ở xã Thụy Bình 67
3.18 Bãi rác thải sinh hoạt thôn Trà Hồi, xã Thụy Bình 70
3.19 Khu nghĩa trang thôn An Ninh, xã Thụy Bình 75
3.20 Cảnh quan đường làng, ngõ xóm thôn An Ninh, xã Thụy Bình 78
3.21 Nhà văn hóa nhỏ hẹp, xuống cấp của thôn Hạ Tập, xã Thụy Bình 80
Trang 9BVMT Bảo vệ môi trường BVTV Bảo vệ thực vật CTR Chất thải rắn HTX Hợp tác xã
NQ - CP Nghị quyết Chính phủ
NQ - TW Nghị quyết Trung ương
NQ - LT Nghị quyết liên tịch NTM Nông thôn mới
TN & MT Tài nguyên và Môi trường TTLT Thông tư liên tịch
UBND Ủy Ban nhân dân VAC Vườn - Ao - Chuồng
Trang 10MỞ ĐẦU
• Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp với khoảng 70% dân số là nông dân vì
thế vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn luôn được Đảng, Nhà nước hết sức coi trọng Nông nghiệp, nông dân, nông thôn chiếm vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Đây là cơ sở quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái
Sau 25 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt nhiều thành tựu to lớn Tuy nhiên, nhiều thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển giao khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế Nông nghiệp, nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng như giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, cấp nước còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm Đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị còn lớn làm phát sinh nhiều vến đề xã hội bức xúc
Vì vậy, việc xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa quê hương, đất nước
Xã Thụy Bình, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình là một trong những xã thuần nông, mang đặc điểm chung của nhiều làng xã ở nông thôn Việt Nam Nền kinh tế xã mấy năm gần đây bước đầu khởi sắc, tuy nhiên cơ cấu kinh tế nông nghiệp vẫn chiếm vị trí chủ đạo, chưa khai thác được hết tiềm năng kinh tế xã hội của xã trong định hướng phát triển chung của huyện, của tỉnh
Xã Thụy Bình bắt đầu kế hoạch xây dựng nông thôn mới từ năm 2011 Sau hơn 3 năm thực hiện, với sự cố gắng của các cấp chính quyền và người dân địa phương xã đã hoàn thành 14/19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới Đó là kết quả đáng ghi nhận, nhưng bên cạnh đó xã vẫn phải tiếp tục hoàn thiện 5 tiêu chí còn lại để đạt chuẩn về nông thôn mới Một trong năm tiêu chí xã đang cố gắng hoàn
Trang 11thành đó là tiêu chí về môi trường Đây là một tiêu chí quan trọng, việc thực hiện còn gặp nhiều khó khăn vì vấn đề môi trường trên địa bàn xã còn nhiều bất cập Nhiều nơi trên địa bàn xã thì tình trạng các chất thải chăn nuôi, sinh hoạt vẫn được
xả trực tiếp vào môi trường Để đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thành tiêu chí môi trường, đưa xã Thụy Bình trở thành một xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới của tỉnh Thái Bình, là bài học cho các xã có đặc điểm chung như thế học tập, tôi tiến hành
hiện đề tài: “Đánh giá tình hình thực hiện các tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới ở xã Thụy Bình, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình”
• Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá được tình hình thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới ở xã Thụy Bình theo 5 chỉ tiêu của tiêu chí môi trường quy định trong Thông tư số 41/2013/TT - BNNPTNT, ngày 4/10/2013 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn “Hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới”
− Các giải pháp đề xuất phù hợp với điều kiện của xã Thụy Bình, có tính thực tiễn và khả năng áp dụng thực tế cao để đạt được tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Các khái niệm chung
1.1.1.1 Khái niệm về môi trường và ô nhiễm môi trường
Khái niệm về môi trường
Theo Luật Bảo vệ môi trường, 2005 quy định: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”
Khái niệm về ô nhiễm môi trường
Theo Luật Bảo vệ môi trường, 2005 thì : “ Ô nhiễm môi trường là sự thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường”
1.1.1.1 Khái niệm về nông thôn
Ở nước ta, có rất nhiều cách hiểu, định nghĩa về nông thôn Khi nói khái niệm về nông thôn người ta thường so sánh nông thôn với đô thị Có ý kiến cho rằng, khi xem xét nông thôn dùng chỉ tiêu mật độ dân số, số lượng dân cư ở nông thôn thấp hơn so với thành thị Có quan điểm lại cho rằng dựa vào chỉ tiêu trình
độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa là vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng thành thị
Trong từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, xuất bản năm 1994, nông thôn được định nghĩa là khu vực dân cư tập trung chủ yếu làm nghề nông (Vũ Đình Thắng, 2002)
Theo Đỗ Kim Chung, 2012 thì khu vực của nền kinh tế trong đó có các
hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp được tiến hành là nông thôn Nông thôn là khu vực khác với thành thị về không gian, hoạt động kinh tế, đặc điểm
cộng đồng và sinh thái
Những ý kiến này chỉ đúng trong từng khía cạnh cụ thể và từng nước nhất định, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ chế áp dụng cho từng nền kinh tế Như vậy, khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối, nó có thể thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc
Trang 13gia trên thế giới Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ
quản lý chúng ta có thể hiểu: “ Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác” (Mai Thanh Cúc và cs, 2005)
Đến nay, khái niệm nông thôn được thống nhất với quy định tại Theo Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/08/2009 của Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn, cụ thể: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là
ủy ban nhân dân xã"
1.1.1.2 Khái niệm về nông thôn mới
Khái niệm nông thôn mới trước tiên phải là nông thôn chứ không phải là Thị tứ; thứ hai là nông thôn mới chứ không phải nông thôn truyền thống Nếu so sánh giữa nông thôn mới và nông thôn truyền thống, thì nông thôn mới phải bao hàm cơ cấu và chức năng mới
Theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/T.Ư của Trung ương, nông thôn mới là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch;
xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa Khái niệm mô hình nông thôn mới mang đặc trưng của mỗi vùng nông thôn khác nhau Nhìn chung, mô hình nông thôn mới là mô hình cấp xã, thôn được phát triển toàn diện theo định hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, dân chủ hoá và văn minh hoá
Vì vậy có thể quan niệm: “Mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn
Trang 14được xây dựng mới so với mô hình nông thôn cũ ở tính tiên tiến về mọi mặt”
(Nguyễn Phượng Lê, 2012)
1.1.2 Cơ sở pháp lý về xây dựng nông thôn mới
Một trong những yếu tố tiên quyết góp phần thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên cả nước được thuận lợi và thành công phải kể đến các Văn bản pháp luật, Nghị quyết, Thông tư… được ban hành để định hướng cũng như hướng dẫn cụ thể thực hiện xây dựng nông thôn mới Một số Văn bản pháp luật, Nghị quyết, Thông tư có liên quan như:
- Nghị quyết số 26/NQ - TW, ngày 05/08/2008 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) "Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”
- Nghị quyết số 24/2008/NQ - CP, ngày 28/10/2008, xác định "Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới"
- Nghị quyết liên tịch số 05/2006/NQLT/HND - BNN ngày 03/08/2006 về việc hỗ trợ nông dân phát triển kinh tế nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2006 - 2010
- Quyết định số: 491/QĐ - TTg ngày 16/04/2009 của Thủ tướng Chính phủ
về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới
- Thông tư số 54/2009/TT- BNNPTNT ngày 21/08/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (BNNPTNT) về việc hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới
- Thông tư 174/2009/TT - BTC ngày 08/09/2009 của Bộ Tài chính (BTC)
về việc hướng dẫn cơ chế huy động và quản lý các nguồn vốn tại 11 xã thực hiện
Đề án “Chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
- Thông tư 07/2010/TT- BNNPTNT ngày 08/02/2010 của BNNPTNT về việc hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp xã theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
- Thông tư 72/2010/TT- BTC ngày 11/05/2010 của BTC về việc hướng dẫn
cơ chế đặc thù về quản lý, sử dụng chi phí quản lý dự án đầu tư tại 11 xã thực
Trang 15hiện Đề án “Chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá"
- Quyết định số 800/QĐ - TTg, ngày 04/06/2010 của Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2010 - 2020
- Thông tư 18/2010/TT - BKH ngày 27/07/2010 của Bộ Kế hoạch (BKH)
về việc hướng dẫn cơ chế đặc thù về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản tại 11 xã thực hiện Đề án “Chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
- Thông tư 09/2010/TT - BXD ngày 04/08/2010 của Bộ Xây dựng (BXD)
về việc quy định việc lập nhiệm vụ, đồ án quy hoạch và quản lý quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới
- Thông tư liên tịch 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13/04/2011 về việc hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định số 800/QĐ-TTg về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020
- Thông tư liên tịch 13/2011/TTLT-BXD-BNNPTNT-BTNMT ngày 28/10/2011 về việc Quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng
xã nông thôn mới
- Quyết định số 342/QĐ - TTg, ngày 20/2/2013 của Thủ tướng Chính phủ
về sửa đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về Nông thôn mới
- Thông tư số 41/2013/TT - BNNPTNT ngày 04/10/2013 của BNNPTNT
về việc hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
- Thông tư 17/2011/TT BVHTTDL ngày 02/12/2013 của Bộ Văn hóa Thể thao - Du lịch (BVHTTDL) về việc hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với kinh phí chương trình khoa học và công nghệ phục vụ xây dựng nông thôn mới
Thông tư liên tịch số 01/VBHN - BNNPTNT, ngày 14/1/2014 Hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010 của Thủ
Trang 16tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020
- Thông tư liên tịch 191/2013/TTLT-BTC-BNNPTNT ngày 13/12/2013 về việc hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với kinh phí chương trình khoa học
và công nghệ phục vụ xây dựng nông thôn mới
- Thông tư 40/2014/TT-BNNPTNT ngày 13/11/2014 của BNNPTNT về việc hướng dẫn trình tự, thủ tục, hồ sơ xét công nhận và công bố xã, huyện, tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới
1.1.3 Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới
Căn cứ Quyết định số: 491/QĐ - TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính Phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới
Căn cứ Thông tư số 54/2009/TT - BNNPTNT ngày 21/8/2009 của BNNPTNT về việc “Hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới”
Căn cứ Thông tư số 41/2013/TT - BNNPTNT ngày 4/10/2013 của BNNPTNT về việc “Hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới”
• Các nhóm tiêu chí: Gồm 5 nhóm
− Nhóm I: Quy hoạch (có 01 tiêu chí)
− Nhóm II: Hạ tầng kinh tế - Xã hội (có 08 tiêu chí)
− Nhóm III: Kinh tế và tổ chức sản xuất (có 04 tiêu chí)
− Nhóm IV: Văn hóa - xã hội - môi trường (có 04 tiêu chí)
− Nhóm V: Hệ thống chính trị (có 02 tiêu chí)
Nội dung cụ thể của 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới được trích dẫn trong phụ lục 2
1.1.4 Nội dung tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới
Căn cứ Thông tư số 41/2013/TT - BNNPTNT, ngày 4/10/2013 của BNNPTNT “Hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới”, nội dung tiêu chí môi trường cụ thể như sau:
Trang 17• Khả năng tiếp cận nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh ở nông thôn
Nước sạch theo Quy chuẩn quốc gia là nước đáp ứng các chỉ tiêu theo quy định của QCVN 02:2009/BYT về chất lượng nước sinh hoạt; nước hợp vệ sinh là nước sử dụng trực tiếp hoặc sau lọc thỏa mãn yêu cầu chất lượng: không màu, không mùi, không vị lạ, không chứa thành phần gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, có thể dùng để ăn uống sau khi đun sôi Tỷ lệ hộ được sử dụng nước hợp
vệ sinh và nước sạch theo Quy chuẩn quốc gia theo vùng quy định như sau:
- Trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên: 80% số hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó 45% số hộ sử dụng nước sạch đáp ứng Quy chuẩn quốc gia
- Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long: 90% số hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó 50% số hộ sử dụng nước sạch đáp ứng Quy chuẩn quốc gia
- Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ: 85% số hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó 50% số hộ sử dụng nước sạch đáp ứng Quy chuẩn quốc gia
• Đáp ứng tiêu chuẩn về môi trường trong các cơ sở sản xuất kinh doanh ở khu vực nông thôn
90% cơ sở sản xuất - kinh doanh trên địa bàn đạt chuẩn về môi trường (10% còn lại tuy có vi phạm nhưng đang khắc phục) Các cơ sở sản xuất – kinh doanh đạt tiêu chuẩn môi trường nếu trong quá trình sản xuất, chế biến có xả nước thải, chất thải rắn, mùi, khói bụi, tiếng ồn nằm trong giới hạn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN & MT) tại Thông tư số 46/2011/TT - BTNMT Quy định về bảo vệ môi trường làng nghề, Thông tư số 47/2011/TT - BTNMT quy định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường và các văn bản khác
có liên quan Chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh là chuồng trại đáp ứng các yêu cầu: nằm cách biệt với nhà ở, chất thải chăn nuôi được thu gom xử lý, không xả, chảy tràn trên mặt đất, không gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường xung quanh
Trang 18• Hoạt động giữ gìn vệ sinh môi trường ở nông thôn
Để đảm bảo yêu cầu này cần đáp ứng:
• Quy hoạch và quản lý theo quy hoạch các nghĩa trang ở khu vực nông thôn
- Mỗi thôn hoặc liên thôn hoặc xã, liên xã có quy hoạch đất làm nghĩa trang lâu dài phù hợp với tập quán của địa phương;
- Có quy chế quản lý nghĩa trang;
- Việc táng người chết phải được thực hiện phù hợp với tín ngưỡng, phong tục, tập quán tốt, truyền thống văn hóa và nếp sống văn minh hiện đại
• Thu gom và xử lý chất thải, rác thải, nước thải ở nông thôn
- Hộ gia đình có nhà vệ sinh, nhà tắm đạt tiêu chuẩn quy định; có hệ thống tiêu thoát đảm bảo vệ sinh, không gây ô nhiễm không khí và nguồn nước xung quanh;
- Mỗi khu dân cư tập trung của thôn, xã phải có hệ thống tiêu thoát nước thải thông thoáng, hợp vệ sinh;
- Thôn, xã có tổ dịch vụ thu gom rác thải và xử lý tại bãi rác tập trung
1.1.5 Tác nhân gây hại môi trường nông thôn và quá trình phát tán
• Các tác nhân gây hại môi trường nông thôn
Chất thải thải sinh hoạt
Chất thải rắn sinh hoạt nông thôn phát sinh từ các nguồn: hộ gia đình, chợ, nhà kho, trường học, bệnh viện, cơ quan hành chính… Chất thải rắn sinh hoạt nông thôn có tỷ lệ khá cao chất hữu cơ và phần lớn là chất hữu cơ dễ phân hủy (chiếm khoảng 65%).Theo ước tính, với lượng thải khoảng 0,3 kg/người/ngày thì lượng rácthải sinh hoạt phát sinh ở khu vực nông thôn năm 2013 khoảng 18.200 tấn/ ngày, tương đương 6,6 triệu tấn/năm Lượng phát thải các loại CTR sinh hoạt có sự phân hóa tương ứng với số dân nông thôn của từng vùng, theo đó
Trang 19ĐBSH và ĐBSCL có lượng CTR sinh hoạt nông thôn phát sinh lớn nhất (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2014)
Người dân nông thôn (đặc biệt là vùng sâu, vừng xa) vẫn giữ thói quen đổ rác thải bừa bãi ven đường làng, bờ sông, ao hồ, tạo nên các bãi rác tự phát, ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường sống và ảnh quan nông thôn Việc làm này không chỉ gây mất mỹ quan mà còn dẫn đến nhiều tác hại cho môi trường cũng như ảnh hường tới sức khỏe con người
Bên cạnh đó nguồn nước thải phát sinh từ hoạt động sinh hoạt hàng ngày của người dân nông thôn cũng là một trong những nguồn gây tác động lớn tới ô nhiễm môi trường Nhìn chung, nguồn thải này hầu như chưa được xử lý mà thải trực tiếp vào môi trường nên rất gây ô nhiễm, đặc biệt ảnh hưởng tới môi trường đất và nước ngầm
Chất thải chăn nuôi
Hoạt động chăn nuôi đã và đang tạo nguồn thu nhập chính cho nhiều hộ nông dân Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng đàn vật nuôi thì tình trạng ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi cũng đang gia tăng
Chất thải chăn nuôi bao gồm phân và các chất độn chuồng, nước tiểu, nước rủa chuồng, xác gia súc, gia cầm chết… Theo ước tính, năm 2013 chất thải rắn chăn nuôi lợn trên cả nước là 18.900 triệu tấn/năm; chất thải chăn nuôi trâu
bò là 32.200 triệu tấn/năm; gia cầm là 22.600 triệu tấn/năm Trong tổng số 23.500 trang trại chăn nuôi , mới chỉ có khoảng 1.700 cơ sở có hệ thống cử lý chất thải (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2014)
Bên cạnh đó, trong những năm gần đây tình hình dịch bệnh trên gia súc, gia cầm có xu hướng ngày càng tăng và diễn ra trên diện rộng Theo Cục Thú y –
Bộ NNPTNT, năm 2013, dịch bệnh lở mồm long móng diễn ra tại 145 xã cảu 44 huyện thuộc 9 tỉnh; dịch cúm gia cầm xảy ra ở 50 xã tại 23 huyện thuộc 7 tỉnh trong cả nước Nếu công tác tiêu hủy, dập dịch không đảm bảo kỹ thuật sẽ gây hại nghiêm trọng tới môi trường đất, nước, không khí và gây ảnh hưởng rất lớn đối sức khỏe người dân ở gần khu vực chăn nuôi.(Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2014)
Trang 20Chất thải nông nghiệp
Trong trồng trọt, việc sử dụng ngày càng tăng lượng phân bón hóa học và thuốc BVTV đang ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường Dư lượng phân hóa học làm ô nhiễm nguồn nước, gây phú dưỡng hóa, gây tác hại tới thủy sinh, nguồn lợi thủy sản và làm thoái hóa đất Vấn đề vỏ bao bì sau khi đã sử dụng cũng đang là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường ở nhiều vùng nông thôn Bên cạnh đó việc thâm canh mùa vụ đã làm tăng phế phụ phẩm sau thu hoạch (rơm, rạ, trấu…) Một phần làm chất đốt, một phần tận dụng làm thức ăn chăn nuôi nhưng số lương lớn còn lại đang bị bỏ quên Chất thải nông nghiệp rơm rạ thải ra hàng năm ước tính lên tới 76 triệu tấn, nếu không được xử lý phù hợp sẽ gây rất nhiều hệ lụy tới môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2014)
Chất thải làng nghề
Hiện nay làng nghề đang phát triển mạnh nhưng cơ bản vẫn mang tính tự phát, nhỏ lẻ, thiếu thiết bị thủ công, công nghệ lạc hậu cộng thêm ý thức người dân làng nghề trong công tác bảo vệ môi trường còn hạn chế Chính những yếu tố trên tạo ra sức ép không nhỏ đến chất lượng môi trường sống của chính làng nghề và cộng động xung quanh Các làng nghề đang có xu hướng bị ô nhiễm nặng nề do nước thải từ làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi, giết mổ… Ước tính nước hải từ các làng nghề là 15.000 m3 / ngày Trong khi đó
ô nhiễm chất vô cơ lại chủ yếu tập trung tại các làng nghề dệt nhuộm, thủ công
mỹ nghệ và mây tre đan Ô nhiễm môi trường không khí tại các làng nghề lại đến
từ việc sử dụng than làm nhiên liệu, sử dụng nguyên vật liệu và hóa chất trong dây chuyền công nghệ sản xuất Các chất thải ở hầu hết làng nghề chưa được thu gom và xử lý triệt để gây tác động xấu tới cảnh quan và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2014)
• Quá trình phát tán các tác nhân gây hại môi trường
Qua môi trường đất, nước
Các chất thải từ hoạt động chăn nuôi, sinh hoạt, nông nghiệp, làng nghề như nước thải chăn nuôi, nước thải sinh hoạt, nước rỉ rác, dư lượng phân bón hóa học, thuốc BVTV hay nước thải sản xuất từ các làng nghề không được xử lý
Trang 21sẽ vào nguồn nước tưới, qua các sản phẩm nông nghiệp gây hại cho sức khỏe con người hoặc ngấm vào đất, vào nguồn nước ngầm gây ô nhiễm đất, nước ngầm, ảnh hưởng tới chất lượng nước sinh hoạt của người dân vùng nông thôn
Qua môi trường không khí
Chất chất khí thải từ các hoạt động sản xuất làng nghề, từ việc đốt các phế phẩm nông nghiệp, khí thải từ khu chăn nuôi hay hoạt động phân hủy rác như
SO2, NO2, CO2, H2S, CH4… sẽ phát tán rất nhanh vào môi trường không khí gây tới diện tích rộng Các chất khí này cực kì nguy hiểm lại có mùi khó chịu, hôi thối nên rất ảnh hưởng tới sức khỏe người dân
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Những vấn đề tồn tại về môi trường nông thôn
1.2.1.1 Phát triển sản xuất chưa quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường
Trong những năm qua, các ngành nông, lâm, thủy sản đã phát huy thế mạnh và tăng trưởng đều qua các năm Tuy nhiên, các doanh nghiệp các nhà đầu
tư mới chỉ tập trung vào phát triển kinh tế, chưa quan tâm thích đáng tới công tác BVMT, thiếu sự đầu tư vào cơ sở hạ tầng, đặc biệt là thiếu sự đầu tư cho hệ thống xử lý chất thải hoặc đầu tư nhưng hoạt động không hiệu quả nên khiến cho các cơ sở này thành một nguồn thải gây ô nhiễm môi trường
Việc sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trong trồng trọt, sử dụng thuốc tăng trọng, thuốc kháng sinh trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản nhưng không tuân thủ kỹ thuật đã đưa vào môi trường một
dư lượng hóa chất không nhỏ, gây ô nhiễm, ảnh hưởng xấu tới môi trường sinh thái và sức khỏe cộng đồng
1.2.1.2 Thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt chưa đạt hiệu quả cao
Công tác thu gom chất thải rắn (CTR) sinh hoạt tại khu vực nông thôn chưa được coi trọng Nhiều thôn xã chưa có các đơn vị chuyên trách trong việc thu gom CTR sinh hoạt Theo thống kế có khoảng 60% số thôn hoặc xã tổ chức thu dọn định kỳ, trên 40% thôn, xã hình thành các tổ thu gom tự quản Tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt tại khu vực nông thôn mới chỉ đạt 40 - 55% nên rác vẫn tràn ngập khắp nơi công cộng, ao hồ…(Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2014)
Trang 22Đối với công tác xử lý CTR sinh hoạt nông thôn, nhiều địa phương xử lý chủ yếu bằng phương pháp chôn lấp hoặc đổ thải tự nhiên, không đáp ứng được yêu cầu kĩ thuật, vệ sinh môi trường Một số địa phương sử dụng phương pháp ủ phân compost tuy nhiên phương pháp này chưa thể áp dụng rộng rãi tại khu vực nông thôn
1.2.1.3 Thu gom và xử lý chất thải chăn nuôi còn gặp nhiều hạn chế
Thu gom và xử lý chất thải chăn nuôi còn gặp nhiều khó khăn Theo ước tính, có khoảng 40 -50% lượng chất thải chăn nuôi được xử lý, còn lại được thải trực tiếp ra ao hồ, kênh rạch Việc xử lý chất thải chăn nuôi bằng công nghệ biogas là hình thức phổ biến nhất hiện nay với tổng số cơ sở chăn nuôi áp dụng biện pháp này chiếm tỷ lệ 31,79% Tuy nhiên, so với hơn 4 triệu hộ chăn nuôi lợn trên cả nước thì tỷ lệ các công trình xử lý vẫn còn rất thấp Việc xả thẳng chất thải ra môi trường xung quanh mà không qua xử lý tồn tại ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ Đây là tồn tại lớn, gây khó khăn cho công tác BVMT nói chung và môi trường chăn nuôi nói riêng Trong những năm gần đây, tình hình dịch bệnh trên gia súc, gia cầm có xu hướng tăng Nếu việc xử lý, tiêu hủy không đảm bảo sẽ là một nguồn gây ô nhiễm lớn (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2014)
1.2.1.4 Chưa kiểm soát được chất thải là bao bì hóa chất bảo vệ thực vật
Việc thu gom CTR từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp như bao bì, chai lọ, hóa chất BVTV còn rất hạn chế Đây là nguồn chất thải thuộc danh mục độc hại cần được thu gom, xử lý đúng quy định, nhưng thực tế, sau khi sử dụng người nông dân thường xả ngay tại bờ ruộng, góc vườn hoặc nguy hiểm hơn là vứt xuống ao, hồ, đầu nguồn nước sinh hoạt
Công tác xử lý các loại vỏ bao bì, chai lọ thuốc BVTV hiện nay hầu như chưa an toàn, hợp vệ sinh Bao bì thuốc BVTV sau khi được thu gom cùng với bao bì phân hóa học thường đem đốt hoặc chôn lấp ở xa khu dân cư Nhiều địa phương các loại chất thải này còn được thu gom với rác thải sinh hoạt Phương pháp đốt ở các lò tiêu chuẩn có khả năng xử lý triệt để ô nhiễm thì chi phí xây dựng và vận hành cao, xa cụm khu dân cư… Hiện tại số lò đủ tiêu chuẩn của Việt Nam còn quá ít, chi phí vận chuyển tới nơi tiêu hủy khá cao
Trang 231.2.1.5 Khó khăn trong kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề
Hiện nay, nhiều vùng nông thôn vẫn còn tồn tại những ngành sản xuất gây
ô nhiễm không khí nặng như: tái chế kim loại, chăn nuôi gia súc, sản xuất giấy… Trung bình mỗi ngày, hoạt động sản xuất trong các làng nghề thải ra từ 300 - 500 tấn bã, hơn 15.000 m3 nước thải, hàng trăm tấn CTR chứa các chất tẩy rửa hóa học Phần lớn các làng nghề có quy mô sản xuất nhỏ, mặt bằng chật hẹp xen kẽ khu dân cư, quy trình sản xuất thô sơ, lạc hậu, chủ yếu tận dụng sức lao động trình độ thấp, ít sử dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, gây lãng phí tài nguyên và phát sinh nhiều chất gây ô nhiễm môi trường, tác động trực tiếp đến môi trường sống, điều kiện sinh hoạt và sức khỏe người dân Chính vì thế nên rất khó kiểm tra, giám sát nguồn phát thải các chất ô nhiễm
Thêm vào đó, trách nhiệm của các địa phương trong công tác quản lý làng nghề cũng chưa thực sự cao, kinh phí và nguồn lực phục vụ cho các hoạt động thanh tra, kiểm tra chưa đáp ứng được yêu cầu nên khu vực này vẫn là điểm nóng
về ô nhiễm môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2014)
1.2.1.6 Công tác quản lý môi trường nông thôn còn đan xen, thiếu đơn vị đầu mối quản lý, nhiều mảng còn bị bỏ ngỏ
Trong những năm qua, công tác quản lý môi trường nông thôn chưa có đơn vị đầu mối quản lý, ngay từ cấp trung ương Mặc dù, theo chức năng nhiệm
vụ được giao, Bộ TN &MT là đơn vị đầu mối quản lý môi trường nói chung nhưng trong quy định về chức năng nhiệm vụ chưa nêu rõ trách nhiệm quản lý môi trường nông thôn
Công tác quản lý CTR khu vực nông thôn hiện nay tại các địa phương cũng đang trong tình trạng không thống nhất, nơi do Sở TN &MT quản lý, nơi lại do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiêm Riêng đối với CTR sinh hoạt ở vùng nông thôn và CTR làng nghề, công tác quản lý vẫn còn bỏ ngỏ Chính
vì sự phân công, phân nhiệm của các Bộ/ngành trong quản lý CTR nông thôn còn chưa được rõ ràng nên chưa thấy được vai trò của các cấp trong hệ thống quản lý
và chồng chéo khi triển khai thực hiện
Trang 241.2.1.7 Tỷ lệ dân cư nông thôn được cấp nước sạch và điều kiện vệ sinh môi trường nông thôn còn thấp
Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm
2020 đã đặt ra mục tiêu “Đến năm 2020, tất cả dân cư nông thôn sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn quốc gia, sử dụng hố xí hợp vệ sinh và thực hiện tốt vệ sinh
cá nhân, giữ sạch vệ sinh môi trường làng xã” Tuy nhiên, với kết quả đạt được tính tới thời điểm hiện nay, để đạt được mục tiêu đặt ra là cả một thách thức lớn trước mắt Tính đến hết năm 2014, tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch chỉ đạt 42%, tỷ lệ hộ dân sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh là 63% và chỉ có khoảng 45% hộ gia đình ở nông thôn chăn nuôi có chuồng trại hợp vệ sinh (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2014)
Bên cạnh đó, ở một số vùng nông thôn, các công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã đi vào hoạt động nhưng chưa thực sự bền vững, năng lực
và nguồn lực cho kiểm soát chât lượng của các công trình cấp nước ở địa phương còn rất hạn chế, đặc biệt là các công trình cấp nước quy mô nhỏ giao cho cộng đồng quản lý các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và Bắc Trung Bộ
1.2.2 Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Ở Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn là cơ quan đầu mối,
triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2010-2020
(Thủ tướng Chính Phủ, 2010) Chương trình này gồm 11 nội dung: Quy hoạch xây dựng nông thôn mới; Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội; Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập; Giảm nghèo và an sinh xã hội; Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn; Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn; Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn; Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn; Cấp nước sạch
và vệ sinh môi trường nông thôn; Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn; Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn Với 11 nội dung này, chương trình nông thôn mới có 19 tiêu chí để đánh giá Việc triển khai chương trình nông thôn mới lấy xã là xuất phát điểm
Trang 25Các địa phương xây dựng nông thôn mới từ xã, nếu đạt tiêu chí đánh giá thì
được công nhận là (Nguyễn Hồng Chương, 2013)
Để có cơ sở thực tiễn cho chỉ đạo xây dựng nông thôn mới, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã chỉ đạo 11 xã điểm, đại diện cho các vùng kinh tế - văn hóa trên cả nước xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới Ban chỉ đạo chương trình mục tiêu quốc gia hướng dẫn các cấp quy trình thực hiện xây dựng nông thôn mới như quy hoạch, lập kế hoạch và đề án triển khai Xã thành lập Ban quản
lý chương trình nông thôn mới để triển khai, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban chỉ đạo chương trình NTM cấp huyện và tỉnh Huyện tổ chức mời tư vấn để xây dựng quy hoạch và đề án xây dựng nông thôn mới cho xã Cấp huyện và tỉnh phê duyệt đề án quy hoạch và bố trí nguồn lực để thực hiện Ủy ban nhân dân (UBND) xã, các đoàn thể xã hội các cấp phối hợp thực hiện cùng với các Ban ngành chuyên môn triển khai thực hiện xây dựng mô hình nông thôn cấp xã Tháng 9 năm 2010, Ban chỉ đạo chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đã tiến hành sơ kết kinh nghiệm triển khai ở 11 xã điểm đầu tiên, làm
cơ sở nhân rộng cho cả nước
Đến tháng 6 /2012, cả nước đã có 65% trong tổng số xã làm thí điểm được phê duyệt quy hoạch nông thôn mới Sau gần 3 năm thực hiện, trong 11 xã thí điểm của Trung ương không có xã nào đạt cả 19 tiêu chí của Trung ương 27,3%
số xã điểm (3 xã) đạt 14 tiêu chí 36,4% số xã (4 xã) đạt trên 10 tiêu chí Còn 36,4% số xã (4 xã) đạt từ 10 tiêu chí trở xuống, trong đó có xã Thanh Chăn (Điện Biên) đạt 7 tiêu chí Tính chung các xã thí điểm và trên diện rộng, đến tháng 6 năm 2012, cả nước đã chỉ có 1 xã (Xuân Định thuộc huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai) công bố đạt được 19 tiêu chí Tính đến tháng 6 năm 2012, cả nước mới chỉ
có 1,2% số xã đạt từ 15-18 tiêu chí, khoảng 3,8% số xã đạt từ 11-14 tiêu chí, 13% số xã đạt từ 7-10 tiêu chí và 82% số xã đạt dưới 7 tiêu chí (Ban Chỉ đạo
chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, 2012)
Có thể nói, đến nay hình hài nông thôn mới đã rõ, được thể hiện khá toàn diện như về quy hoạch: có 95,7% số xã có quy hoạch, 84% xã được phê duyệt
Trang 26xong, 64% số xã có đề án xây dựng nông thôn mới ở địa phương mình.(Hà Phúc Mịch, 2013)
Ngày 16 /05/2014, tại Hội nghị sơ kết 03 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới toàn quốc, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tổng kết, trong 03 năm qua có 185 xã đạt 19 tiêu chí; số tiêu chí đạt chuẩn bình quân cả nước tăng từ 4,7 tiêu chí/xã năm 2011 lên 8,47 tiêu chí/xã năm 2014; có 93,1% số xã hoàn thành quy hoạch chung; 81% số xã phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới; có khoảng trên 9.000 mô hình sản xuất có hiệu quả, tăng thu nhập cho nông dân, bao gồm: mô hình sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị có ứng dụng công nghệ cao, cánh đồng lớn, gắn sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản, liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân; thu nhập của dân cư nông thôn năm 2013 tăng hơn 1,8 lần so với năm 2010; tỷ lệ hộ nghèo nông thôn đến hết 2013 là 12,6%, giảm bình quân 2% năm trong thời điểm kinh tế khó khăn (Nguyễn Tấn Dũng,2014)
Năm 2014, nguồn vốn trung ương đầu tư trực tiếp cho chương trình 5.255
tỷ đồng, các địa phương đã huy động, lồng ghép các nguồn lực thực hiện với số vốn đạt 157.814,170 tỷ đồng Ước tính đến hết năm 2014 có 785 xã đạt chuẩn quốc gia về NTM (chiếm tỷ lệ 8,8%), 1.285 xã (14,5%) đạt từ 15 - 18 tiêu chí, 2.836 xã (32,1%) đạt từ 10 - 14 tiêu chí, 2.963 xã (33,6%) đạt từ 5 - 9 tiêu chí,
945 xã (11%) đạt dưới 5 tiêu chí, không còn xã chưa đạt tiêu chí nào Bình quân mỗi xã đạt 10 tiêu chí, tăng 5,38 tiêu chí/xã so với năm 2010 Hiện nay có 2 đơn
vị cấp huyện (Xuân Lộc, Long Khánh của tỉnh Ðồng Nai) được Thủ tướng Chính phủ công nhận huyện đạt chuẩn quốc gia về NTM (Báo Thái Bình, 2015)
Hiện nay, bình quân mỗi xã đã đạt 10 tiêu chí, tăng 5,38 tiêu chí so với năm 2010 Có thể kể ra các tiêu chí hoàn thành cao như 97,2% số xã hoàn thành quy hoạch nông thôn mới, 75,6% đạt tiêu chí điện, 50,2% đạt tiêu chí nhà ở dân
cư, 44,5% đạt chuẩn về thu nhập, 72,2% đạt tiêu chí hộ nghèo, 65% số xã đạt tiêu chí hình thức sản xuất, 54,2% đạt tiêu chí y tế, 68,2% đạt tiêu chí hệ thống tổ chức chính trị xã hội, 91% số xã đạt tiêu chí an ninh trật tự xã hội ( Hiền Anh, 2014)
Trang 27Năm 2015, phấn đấu hoàn thành mục tiêu 20% số xã đạt chuẩn quốc gia
về NTM; bảo đảm mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có 3 xã đạt chuẩn quốc gia về NTM trở lên; có trên 5 huyện đạt chuẩn quốc gia về NTM Dự kiến đến năm 2020, khoảng 50% số xã trên cả nước đạt chuẩn quốc gia về NTM, bình quân đạt 15 tiêu chí/xã, thu nhập tăng 2,5 lần, tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2%/năm
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc thực hiện chương trình trong thời gian qua vẫn còn một số hạn chế: Tiến độ triển khai nhìn chung còn chậm so với mục tiêu, yêu cầu; nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và người dân về những nội dung thiết yếu của chương trình chưa đầy đủ, việc quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền ở một số nơi chưa thường xuyên, sát sao; một số cơ chế, chính sách, không phù hợp, chậm được bổ sung điều chỉnh, sửa đổi; công tác sơ kết, nhân rộng mô hình chưa được thường xuyên, kịp thời; bộ máy giúp việc Ban Chỉ đạo ở một số địa phương còn chưa đủ mạnh; việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới và phương thức tổ chức mô hình sản xuất trong nông nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu; tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp đang có xu hướng chậm lại; sản xuất nông nghiệp chậm phát triển theo hướng hiện đại, thiếu tính bền vững; quy mô sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, manh mún, chưa gắn được sản xuất với chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu; nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất nông nghiệp chưa được coi trọng Ðào tạo nghề cho lao động nông thôn chưa đáp ứng được yêu cầu Tỷ lệ hộ nghèo cả nước tuy có giảm nhưng vẫn cao, thu nhập và mức sống của nông dân còn khó khăn; tình trạng ô nhiễm môi trường ở nông thôn chưa được giải quyết có hiệu quả, năng lực ứng phó với thiên tai còn nhiều hạn chế; chất lượng y tế, văn hóa, giáo dục ở nhiều nơi còn thấp; hệ thống hạ tầng nông thôn, nhất là các vùng miền núi còn lạc hậu, chậm được cải thiện Nguồn lực trung ương và huy động nguồn lực xã hội cho chương trình còn thấp nhiều so với yêu cầu thực tế (Nguyễn Hoàng, 2014)
Xuất phát từ thực tế đó, phương hướng, nhiệm vụ, cần chú trọng các nội dung sau:
Trang 28- Cần tập trung đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp để tăng năng suất, tăng sản lượng và giá trị để tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất, nâng cao đời sống nông dân trong điều kiện đất đai có hạn, dân số tăng lên Hết sức chú trọng đến việc nghiên cứu sử dụng giống cây, giống con; biện pháp tưới tiêu, canh tác mới, giảm tổn thất sau thu hoạch , có cơ chế chính sách đặc thù để khuyến khích các nhà khoa học tạo ra những đột phá trong nghiên cứu giống mới có giá trị cao.
- Xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất: Thúc đẩy mạnh mẽ việc liên kết, hợp tác, hình thành các mô hình tổ chức phù hợp yêu cầu điều kiện cụ thể, hình thành chuỗi sản xuất tiên tiến để giảm chi phí, hạ giá thành, tăng giá trị Tăng cường rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch sản xuất nông nghiệp phù hợp với yêu cầu tái cơ cấu nông nghiệp, phát triển thị trường hàng hóa nông nghiệp trong điều kiện hội nhập quốc tế Quy hoạch nông thôn mới cần chú trọng tính liên kết, bảo đảm thống nhất với quy hoạch xây dựng liên vùng và các quy hoạch chuyên ngành khác để có thể phát triển và khai thác đồng bộ kết cấu hạ tầng, đáp ứng sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn
- Có chính sách đủ mạnh, đủ khả năng thu hút doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn nông thôn, phát triển sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; chú trọng công nghiệp chế biến nông sản và công nghiệp thu dụng nhiều lao động nhằm chuyển dịch cơ cấu lao động và kinh tế nông thôn
- Huy động các nguồn vốn, tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế -
xã hội nông thôn Nâng cấp các công trình hiện có, sớm đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng thiết yếu (giao thông, thủy lợi, điện, nước, viễn thông ) trên địa bàn các xã; việc đầu tư xây dựng nhà văn hóa, chợ nông thôn, nghĩa trang cần xem xét kỹ
về tính thiết thực, hiệu quả, tránh hình thức, lãng phí Trong quá trình thực hiện cần hết sức lưu ý việc huy động đóng góp tự nguyện của nhân dân phải cân nhắc, đảm bảo vừa sức dân; tuyệt đối không được yêu cầu dân đóng góp bắt buộc
- Chú trọng tạo việc làm cho lao động nông thôn theo cả 2 hướng: Ưu tiên đào tạo tại chỗ bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng để nâng cao năng suất chất lượng công việc của người lao động đang làm và đào tạo ngành nghề mới để người lao
Trang 29động có thể chuyển sang ngành nghề khác Có chính sách khuyến khích, hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc chủ động đào tạo, nâng cao tay nghề cho lao động làm việc cho doanh nghiệp.
- Tiếp tục tập trung làm tốt công tác giảm nghèo, chú trọng nhất là các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, gắn với việc thực hiện chủ trương tái
cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững trên địa bàn
- Chú trọng quan tâm tổ chức, hướng dẫn, hỗ trợ nhân dân thực hiện các nội dung về phát triển y tế, văn hóa, xã hội, môi trường, đảm bảo an ninh trật tự ở nông thôn; cải tạo cảnh quan môi trường nông thôn xanh - sạch - đẹp, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa và truyền thống, tập quán tốt đẹp của làng quê Việt Nam; bảo đảm trật tự an toàn xã hội, phòng, chống các tệ nạn, giữ vững sự bình yên, hạnh phúc trong cuộc sống gia đình và văn hóa cộng đồng ở nông thôn (Nguyễn Tấn Dũng, 2014)
1.2.3 Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Thái Bình
Thực hiện Nghị quyết số 26 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VII (khóa X) về nông nghiệp, nông dân và nông thôn và Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” được Trung ương chọn làm điểm, phong trào xây dựng nông thôn mới ở Thái Bình được tập trung chỉ đạo tích cực Từ tỉnh đến cơ sở đã thành lập Ban chỉ đạo, xây dựng Nghị quyết của cấp ủy, lập đề án xây dựng nông thôn mới của địa phương, xác định mục tiêu, yêu cầu, nội dung, tiến độ xây dựng nông thôn mới, bám sát 19 tiêu chí của Chính phủ đề ra Đồng thời tuyên truyền vận động nhân dân tích cực tham gia xây dựng nông thôn mới, khảo sát đánh giá thực trạng, lập đề án, tập trung vào việc quy hoạch các vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn, hiệu quả cao theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa Nâng cấp xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân Theo đó, tập trung huy động các nguồn vốn để xây dựng nông thôn mới với mục tiêu chung là: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông
Trang 30nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp dịch vụ, xây dựng xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, đời sống nhân dân ổn định và phát triển” Có thể nói, trong những năm qua, xây dựng nông thôn mới ở Thái Bình đã trở thành phong trào chung và sâu rộng trong quần chúng nhân dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ, các địa phương tích cực chỉ đạo thực hiện
Toàn tỉnh có 267/267 xã hoàn chỉnh quy hoạch xây dựng nông thôn mới
và quy hoạch chi tiết giao thông thủy lợi nội đồng, hoàn thành việc lấy ý kiến nhân dân trong xã và đã được phê duyệt Đến hết tháng 12/2012, có 253/267 xã
đã thực hiện xong việc dồn điền đổi thửa (bình quân đạt 1,79 thửa/hộ, trước đây bình quân 3,67 thửa/hộ) Tỉnh đã chọn 8 xã làm điểm năm 2010, sau sơ kết rút kinh nghiệm, tiếp tục chọn 70 xã làm điểm để tập trung đầu tư, chỉ đạo thực hiện Sau khi Chính phủ phát động phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, trong 2 năm 2011 - 2012, kinh phí thực hiện chương trình 1.883,9 tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương 476,9 tỷ đồng, ngân sách địa phương 669 tỷ đồng, vốn tín dụng ưu đãi 35 tỷ đồng, vốn hỗ trợ là 244 tỷ đồng, vốn của dân đóng góp 459 tỷ đồng (trong đó có đóng góp bằng tiền, ngày công đào đắp giao thông thủy lợi) Tính đến tháng 2/2013, toàn tỉnh có 10 xã đạt 15 đến 18 tiêu chí, 116 xã đạt 11 đến 14 tiêu chí, 100 xã đạt 8 đến 10 tiêu chí, 40 xã đạt 6 đến 8 tiêu chí Trong số 10 xã đạt từ 15 đến 18 tiêu chí, có 8 xã điểm (Nguyễn Hồng Chương, 2013)
Đến hết năm 2013, toàn tỉnh đã có 14 xã đã được công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới Trong đó có 7 xã điểm và đã xuất hiện nhiều địa phương không phải là xã điểm nhưng đã bứt phá vươn lên về đích sớm như xã Thụy Phúc, Thụy Văn (huyện Thái Thụy), xã Nam Thắng, Nam Cường, Tây Giang (huyện Tiền Hải), xã Vũ Tây, Bình Định (huyện Kiến Xương).Đối với 14 xã đạt chuẩn nông thôn mới , không có nghĩa là sự nghiệp xây dựng nông thôn mới ở các xã này đã hoàn thiện Mà việc hoàn thành các tiêu chí mới chỉ là cơ sở ban đầu để các xã tiếp tục củng cố, giữ vững làm cơ sở cho một nền sản xuất mới phát triển (Phạm Hương, 2014)
Trang 31Cuối năm 2014, toàn tỉnh đã có 30 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới Đây là 1 kết quả đáng khích lệ đôi với sự cố gắng của các cấp chính quyền và người dân trong tỉnh (Báo Thái Bình, 2014)
1.2.4 Nh ững thuận lợi và khó khăn khi thực hiện các tiêu chí về nông thôn mới
Một là được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Chính phủ, Bộ, Ngành Trung
ương, của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, sự phối hợp có hiệu quả trong tổ chức thực hiện giữa các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, huy động được cả
hệ thống chính trị cùng vào cuộc, tạo được sự đồng thuận cao của toàn xã hội đối với chủ trương xây dựng nông thôn mới
Hai là hệ thống quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện chương trình đã được thành lập từ tỉnh đến cơ sở và luôn được củng cố, kiện toàn Công tác triển khai lập quy hoạch, xây dựng đề án xã theo tiêu chí nông thôn mới được triển khai thực hiện cơ bản đạt kế hoạch đề ra
Ba là các Sở, Ban, Ngành, mặt trận, đoàn thể các cấp đã tranh thủ vốn từ các chương trình, dự án lồng ghép đầu tư vào khu vực nông thôn phát huy được hiệu quả Các huyện, thành phố tổ chức triển khai thực hiện chương trình theo đúng hướng dẫn của Trung ương, lấy việc xây dựng hộ gia đình nông thôn mới làm hạt nhân, chọn những tiêu chí dễ, tiêu chí ít vốn đầu tư để thực hiện trước, tiêu chí khó làm sau Bước đầu đã có những mô hình, cách làm phù hợp trong triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh
Bốn là nhiều công trình kết cấu hạ tầng (về thủy lợi, điện, đường, trường, trạm, các thiết chế văn hóa, chợ nông thôn và xây dựng nhà ở dân cư, v, v, …) phục
Trang 32vụ sản xuất và đời sống dân sinh khu vực nông thôn được xây dựng hoàn thành đưa vào sử dụng, với tổng vốn đầu tư lớn đã góp phần hoàn thành nhiều tiêu chí xây dựng nông thôn mới (Lan Phương, 2011)
• Khó khăn
Trong quá trình thực hiện nông thôn mới trên địa bàn cả nước, bên cạnh những thuận lợi nói trên thì việc thực hiện còn gặp rất nhiều khó khăn, cụ thể ở một số địa phương như sau:
Theo Phạm Văn Mười (2014) thì xây dựng nông thôn mới dựa trên nền tảng phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, trong khi sản xuất nông nghiệp của Bạc Liêu có điểm xuất phát thấp, phát triển chưa bền vững nên một số khó khăn mà tỉnh gặp phải khi thực hiện nông thôn mới như:
Việc thực hiện lồng ghép từ các chương trình mục tiêu khác hiệu quả chưa cao, do đầu tư dàn trải, mang tính chấp vá đối với kết cấu hạ tầng ở khu vực nông thôn, nhất là các công trình giao thông nông thôn Quy mô xã lớn, dân cư thưa thớt, sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, nền địa chất yếu, doanh nghiệp lớn không nhiều, vốn ngân sách hạn hẹp
Công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực còn hạn chế, chưa có đội ngũ xây dựng nông thôn mới chuyên nghiệp, trình độ năng lực cán bộ cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu, còn nhiều lúng túng khi triển khai thực hiện
Tình trạng môi trường sống bị ô nhiễm do chất thải công nghiệp, chất thải đô thị, chất thải do sinh hoạt của con người, chất thải chăn nuôi không được ngăn chặn
và xử lý; hệ thống hạ tầng cấp, thoát nước chưa đồng bộ và đầu tư đúng mức
Đời sống vật chất, tinh thần của một bộ phận người dân nông thôn còn thấp; việc thực hiện chính sách an sinh xã hội còn nhiều bất cập, nhiều vấn đề bức xúc chưa được giải quyết triệt để, nhất là những khiếu kiện về đất đai, thiếu
việc làm, thu nhập thấp, khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn
ngày một gia tăng, tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn ở mức cao, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc
Một số chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước được ban hành khá đồng bộ, kịp thời, hợp lòng dân nhưng lại chậm được triển khai
Trang 33thực hiện ở từng cơ quan, đơn vị.Trong quá trình thực hiện thiếu kiểm tra, giám sát dẫn đến việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về nông nghiệp, nông thôn hiệu quả chưa cao
Với Hà Nội,một số tồn tại, vướng mắc chưa được giải quyết đã ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện chương trình xây dựng NTM đó là:
Một là trình độ năng lực cán bộ quản lý huyện và xã còn yếu do kiêm
nhiệm, chưa được đào tạo bài bản nên lúng túng từ việc tuyên truyền vận động nhân dân, phân công trách nhiệm triển khai các bước công việc theo nội dung đề
án, lập hồ sơ dự án thành phần, lập kế hoạch huy động nguồn lực và đăng ký nhu cầu vốn thực hiện đề án và nhất là phương pháp tổng hợp báo cáo tiến độ triển khai thực hiện các dự án nằm trong và ngoài đề án của xã…
Hai là hiện nay tình trạng hầu hết các xã làm điểm chỉ quan tâm triển khai
các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, chưa quan tâm triển khai các dự
án phát triển sản xuất, quy hoạch dồn điền đổi thửa, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, duy trì đảm bảo vệ sinh môi trường nông thôn,…nhằm thu hút lao động, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống nông dân theo nội dung đề án được duyệt Các công việc, nhiệm vụ do dân tự làm như hoàn thiện thiết chế văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư; cải tạo nhà ở, công trình vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi và cải tạo nâng cấp đường làng ngõ xóm, giao thông, thuỷ lợi nội đồng… nhìn chung tiến độ triển khai chậm, ở một vài nơi người dân vẫn còn tư tưởng trông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, chưa thực sự vào cuộc
Ba là công tác quy hoạch lập kế hoạch tổ chức đấu giá đất, xử lý đất lấn
chiếm, đất xen kẹt, chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong khu dân cư mặc dù Thành phố đã có văn bản quy định hướng dẫn thực hiện song các xã gặp nhiều vướng mắc, khó khăn: Cán bộ xã lúng túng về việc lập thủ tục hồ sơ trình cấp
có thẩm quyền duyệt; việc giải quyết, xử lý hồ sơ, thẩm định phê duyệt tiến độ chậm, kết quả chờ đợi kéo dài; thủ tục thu hồi đất, tổ chức đấu giá chưa thông thoáng, còn phức tạp Vì vậy, thời gian đã trôi qua 2 năm, hầu hết các xã điểm chưa thực hiện được việc đấu giá đất để có tiền vốn huy động từ đất thực hiện
đề án;
Trang 34Bốn là kêu gọi, huy động thu hút nguồn vốn đầu tư của các đơn vị, doanh
nghiệp, tổ chức và nhân dân cùng tham gia bỏ vốn đầu tư thực hiện các dự án còn hạn chế; UBND xã chưa có kế hoạch và giải pháp cụ thể nhằm phát huy các nguồn lực trong cộng đồng dân cư; nguồn vốn của Ngân sách xã chủ yếu dựa vào đấu giá đất, thu tiền sử dụng đất; vốn lồng ghép của thành phố chưa được bố trí kịp thời
Năm là công tác điều tra khảo sát, đánh giá thực trạng theo 19 tiêu chí
nông thôn mới của xã khi lập đề án chưa cụ thể, sát với thực tế; việc phối kết hợp giữa các phòng, ban chuyên môn ở huyện và xã chưa tập trung thường xuyên (cùng vào cuộc thực sự), công việc chủ yếu giao toàn bộ cho đơn vị tư vấn nên số liệu phản ánh chưa chính xác, chất lượng hạn chế, đề án thiếu tính khả thi; mặt khác phương pháp triển khai thực hiện đề án của Ban quản lý xã còn lúng túng khi lập hồ sơ thiết kế kỹ thuật và dự toán các dự án thành phần, nhóm các dự án
hạ tầng kỹ thuật tổng mức đầu tư tăng hơn so với mức đầu tư trong đề án đã được phê duyệt chưa có giải pháp xử lý, tháo gỡ về vốn; huyện, xã chờ vốn hỗ trợ từ Thành phố mới chỉ đạo lập hồ sơ dự án thành phần
Sáu là 19 tiêu chí XDNTM, một số tiêu chí không thể đạt được chỉ
trong khoảng thời gian ngắn 3 hoặc 5 năm như: Thu nhập bình quân đầu người tăng 1,5 lần; giảm tỷ lệ hộ nghèo; cơ cấu lao động nông thôn; tiêu chí về văn hóa, thể thao
Bảy là chế huy động nguồn lực, phân bổ nguồn vốn và chính sách hỗ
trợ khuyến khích phát triển nông nghiệp, xây dựng hạ tầng nông thôn, Thành phố chưa có văn bản quy định để các xã thống nhất thực hiện trên địa bàn Thành phố Mặt khác công tác lập và phê duyệt quy hoạch của một số huyện chưa hoàn chỉnh (nhất là quy hoạch sử dụng đất, giao thông, thủy lợi…) đã ảnh hưởng đến tiến độ lập, phê duyệt đề án và dự án quy hoạch XDNTM của các xã giai đoạn 2011 - 2015
Cũng như ở một số địa phương khác,phong trào xây dựng nông thôn mới
ở Thái Bình còn bộc lộ một số hạn chế cần khắc phục, đó là:
Trang 35Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân còn hạn chế Nhìn chung, đại đa số nhân dân đều đồng tình hưởng ứng và tích cực thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng nông thôn mới, xây dựng quyết tâm thực hiện Song trong tuyên truyền còn nặng về chủ trương xây dựng cơ sở hạ tầng, mà chưa chú ý đến mục tiêu chung là xây dựng một xã hội ở nông thôn từng bước hiện đại, có kinh tế phát triển, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng lên, một xã hội có nếp sống văn hóa Một
số nơi chưa chú ý xây dựng tiêu chí xây dựng thôn, làng gia đình văn hóa, giảm
hộ nghèo, phát triển nghề và làng nghề, chưa chú trọng việc giảm thiểu dần những tệ nạn xã hội, những hành vi phản văn hóa trong lễ hội, lễ cưới, lễ tang và các hoạt động văn hóa khác Việc tuyên truyền vận động nhân dân, các tổ chức chính trị, các đoàn thể nhân dân cùng chung sức xây dựng nông thôn mới còn hạn chế Nhiều nơi còn trông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ của cấp trên, thiếu chủ động sáng tạo, nên tiến độ thực hiện còn chậm Phong trào chưa đều, bên cạnh những
xã đạt kết quả tốt, còn nhiều xã kết quả thực hiện các tiêu chí đạt còn thấp
Công tác xây dựng quy hoạch (bao gồm cả quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết) chất lượng chưa cao Một vài nơi, cán bộ chủ chốt thiếu kinh nghiệm và chuyên môn về xây dựng, còn phó mặc cho đơn vị tư vấn thiết kế, nên chất lượng quy hoạch chưa cao, thiếu sự bền vững, chưa phù hợp với quy hoạch chung của huyện và vùng Xây dựng quy hoạch còn gò bó cứng nhắc, chạy theo chỉ số của các tiêu chí nên một số hạng mục công trình xây dựng xong chất lượng và hiệu quả sử dụng thấp như: nhà văn hóa, trạm cấp nước, chợ nông thôn, trạm rác thải… gây lãng phí tổn kém Cá biệt có nơi việc thực hiện công khai dân chủ còn hạn chế, nên có hiện tượng còn thắc mắc về quỹ đóng góp đối ứng của nhân dân, đền bù giải phóng mặt bằng, v.v Việc dồn điền đổi thửa một số nơi còn chậm Một số nơi chưa chú ý đến tổ chức sản xuất của nhân dân, thiếu quan tâm việc tiêu thụ sản phẩm cho nông dân Một số sản phẩm tiêu thụ chậm hoặc không có thị trường gây khó khăn cho người sản xuất (Nguyễn Hồng Chương, 2015) Xây dựng NTM vẫn còn là một bước đi rất dài, do đó không thể tránh khỏi những khó khăn cần sự chung sức của toàn xã hội
Trang 361.2.5 Tình hình thực hiện các tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới
Tiêu chí môi trường là một trong 19 tiêu chí cần thiết để một địa phương hoàn thành Chương trình xây dựng nông thôn mới Đây trong là một trong những tiêu chí được các địa phương đánh giá là khó thực hiện tuy nhiên những năm qua, công tác vệ sinh môi trường luôn được cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm thực hiện Nhiều giải pháp tích cực đã được triển khai nhằm từng bước giảm thiểu tác hại tiêu cực từ việc ô nhiễm môi trường gây ra Cụ thể ở một số địa phương như sau:
Sau 3 năm triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, đối với tiêu chí 17 về môi trường, các xã NTM của huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện Tính đến hết tháng 5/2014, hầu hết các xã đã triển khai thực hiện tiêu chí môi trường nhưng chỉ có 2 xã điểm nông thôn mới Hồ Sơn, Bồ Lý đạt chuẩn, các xã còn lại chưa xã nào đạt tiêu chí môi trường
Theo báo cáo của UBND huyện Tam Đảo, tính đến hết tháng 5 năm
2014, tỷ lệ hộ dân sử dụng nước hợp vệ sinh theo quy chuẩn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên địa bàn là 66,04%, trong đó có 5 xã đạt tiêu chí nước hợp vệ sinh và 3 xã chưa đạt Số hộ đạt tiêu chí sử dụng nước sạch trên toàn huyện là gần 34% Hầu hết các hộ dân trên địa bàn đều sử dụng nước giếng đào, mạch nông, chưa được xử lý trước khi sử dụng cho mục đích sinh hoạt Đánh giá sơ bộ về hiện trạng xử lý chất thải tại các cơ sở sản xuất kinh doanh, chăn nuôi tại các xã trên địa bàn huyện cho thấy: Toàn huyện có 87/110 cơ sở kinh doanh dịch vụ đạt yêu cầu về chất lượng môi trường) và 98/126 cơ sở sản xuất làm nghề đạt yêu cầu về môi trường xung quanh) Hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh hoặc hố xí tự hoại là 10.935/19.422 hộ Về nghĩa trang nhân dân, các xã trên địa bàn huyện đều chưa đạt tiêu chí này Tình hình thu gom, xử lý rác thải tại các xã trên điạ bàn: đã thực hiện xong việc thành lập hợp tác xã (HTX) dịch vụ vệ sinh môi trường hoặc bổ sung ngành nghề về dịch vụ vệ sinh môi trường Thực hiện hướng dẫn liên ngành của Sở TN &MT, Sở Tài chính, Kho bạc nhà nước tại
Trang 37Hướng dẫn số 835/HDLN-STNMT-STC-KBNN ngày 15/8/2012, các xã đã tiến hành kiểm tra, rà soát các tuyến đường cần thu gom, xử lý rác trên địa bàn và ký hợp đồng với các HTX dịch vụ vệ sinh môi trường theo quy định (Hồng Chung, 2014)
Theo ông Huỳnh Văn Thái - Phó Chi Cục trưởng Chi cục bảo vệ môi trường (BVMT) tỉnh An Giang ,sau hơn 03 năm mức độ thực hiện tiêu chí này có tăng lên nhưng tăng không đáng kể Đối với chỉ tiêu 17.1 tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch theo quy định của Bộ y tế, toàn tỉnh đã có 49/119 xã thực hiện đạt chỉ tiêu này Riêng đối với 17 xã điểm thì có 08 xã thực hiện đạt; Đối với chỉ tiêu 17.3, 17.4, 17.5, 17.6 hầu hết các địa phương đều thực hiện có đạt tăng lên so với năm trước Riêng đối với chỉ tiêu 17.8 về nghĩa trang, nghĩa địa, hiện nay ngành Tài nguyên và Môi trường đang rà soát để xây dựng, quy hoạch lại các điểm này đúng với quy hoạch trong xây dựng nông thôn mới (Tiếp Thu, 2014)
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai cho biết các cấp chính quyền và người dân trong tỉnh đang cố gắng để đáp ứng tiêu chí thứ 17.1 nước sạch, hợp vệ sinh Đến cuối tháng 5/2013, toàn tỉnh có 80% dân số khu vực nông thôn được sử dụng nước sạch, gần 600 trường học khu vực nông thôn có công trình cấp nước và nhà tiêu hợp vệ sinh chiếm 89% Đáng chú ý, có đến 91% trụ sở Ủy ban nhân dân xã trên địa bàn tỉnh đã có công trình cấp nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh (Tạp chí Nông thôn mới, 2013)
Đối với Phú Thọ, tính đến thời điểm tháng 10/2014, cả tỉnh có 40/247 xã thực hiện hoàn thành tiêu chí 17 về môi trường Theo thống kê của ban chỉ đạo chương trình môi trường quốc gia về xây dựng NTM, trong số 5 nội dung của tiêu chí 17 thì đa số các nội dung đều gặp vướng mắc, tỷ lệ đạt thấp Cụ thể, số
cơ sở sản xuất kinh doanh đạt chuẩn về môi trường có gần 7.000/12.000 cơ sở,chiếm tỷ lệ chưa đến 60% Toàn tỉnh có khoảng 230/320 nghĩa trang nhân dân được xây dựng và quản lý theo quy hoạch Tỷ lệ hộ gia đình có đủ 3 công trình
vệ sinh theo chuẩn chưa đến 50% Và nan giải nhất vẫn là vấn đề thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt bởi toàn tỉnh hiện chỉ có 37 HTX làm dịch vụ môi trường, 7 tổ
vệ sinh môi trường, 4 ban quản lý các công trình công cộng thực hiện công tác vệ
Trang 38sinh môi trường Với con số này thì xử lý rác thải nông thôn vẫn là thách thức đang được đặt ra Thực tế cho thấy, trong tổng số 40 xã của tỉnh đã hoàn thành tiêu chí 17, đa phần là những xã thuộc vùng đồng bằng, cận đô thị Các xã thuộc miền núi khó đáp ứng được các tiêu chí này Điển hình như các huyện Thanh Sơn, Yên Lập, Tân Sơn, Cẩm Khê mới chỉ có từ 1 đến 2 xã đạt tiêu chí môi
trường (Nguyễn Huế, 2014)
Theo Đức Dũng (2014) với những giải pháp đồng bộ, cụ thể, sau 4 năm xây dựng nông thôn mới,tính đến cuối năm 2014 toàn huyện Quỳnh Phụ - Thái bình đã có 24/36 xã đạt tiêu chí môi trường Huyện ủy Quỳnh Phụ đã xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 41 của Bộ Chính trị, Chỉ thị số
21 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về công tác BVMT trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hàng năm, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện phối hợp với Phòng Tư pháp, Ðài Truyền thanh huyện, các đoàn thể tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức BVMT, đồng thời tích cực hưởng ứng Tuần lễ nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, ngày Môi trường thế giới, Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn Chủ động phối hợp với Thanh tra Sở TN & MT thường xuyên thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về BVMT trong các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh phát sinh chất thải, nước thải
Trên địa bàn huyện Đông Hưng - Thái Bình, với nhiều giải pháp thiết thực, huy động sự hưởng ứng của người dân và sự vào cuộc của chính quyền các địa phương Năm 2014, hơn 50% số xã ở Đông Hưng đã hoàn thành tiêu chí môi trường Tuy nhiên, một số xã vẫn tồn tại những khó khăn khi thực hiện tiêu chí môi trường Một trong các nguyên nhân là do nhận thức của chính quyền xã và một bộ phận người dân còn hạn chế, chưa thấy rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong việc triển khai thực hiện tiêu chí môi trường, chưa thực sự quan tâm đầu tư cho hoạt động bảo vệ môi trường, còn nặng tư tưởng trông chờ ỷ lại vào sự đầu
tư của nhà nước Kinh phí sự nghiệp môi trường của các xã đều được huyện quan tâm phân bố hàng năm, nhưng việc sử dụng của một số địa phương còn thụ động, chưa mang lại hiệu quả thiết thực Mặt khác, chế độ thu hút nguồn lực từ các
Trang 39thành phần kinh tế cho xây dựng nông thôn mới nói chung, tiêu chí 17 nói riêng
có những nơi còn chưa phù hợp nên khó thu hút được nhiều doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực môi trường (Hà My, 2014)
1.2.6 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới của một số địa phương
Thực hiện Nghị quyết số 26 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VII (khóa X) về nông nghiệp, nông dân và nông thôn và Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” được Trung ương chọn làm điểm, phong trào xây dựng nông thôn mới ở Thái Bình được tập trung chỉ đạo tích cực Có thể nói, trong những năm qua, xây dựng nông thôn mới ở Thái Bình đã trở thành phong trào chung và sâu rộng trong quần chúng nhân dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ, các địa phương tích cực chỉ đạo thực hiện Qua nhiều kỳ hội thảo, sơ kết, Thái Bình rút ra một số kinh nghiệm sau:
Một là, cần thực hiện tốt công tác chính trị tư tưởng, tuyên truyền nâng cao nhận thức về xây dựng nông thôn mới cho cán bộ, đảng viên và nhân dân
Xuất phát từ quan điểm Nhà nước và nhân dân cùng làm, trong đó vai trò của nhân dân có ý nghĩa quyết định, Nhà nước và cấp trên tạo mọi điều kiện hỗ trợ, do đó phải huy động được trí tuệ và công sức của nhân dân cùng chung tay, góp sức xây dựng nông thôn mới Phát huy sức mạnh của toàn dân và sự vào cuộc của các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể, các doanh nghiệp đầu tư, con em người địa phương đang công tác và làm việc ở trong và ngoài nước để có kinh phí xây dựng Chống tư tưởng trông chờ và ỷ lại vào cấp trên, có kinh phí
hỗ trợ thì mới triển khai thực hiện mà thiếu sự chủ động sáng tạo của địa phương Kinh nghiệm của Thái Bình cho thấy, ở nhiều xã do làm tốt công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức tư tưởng cho toàn dân, nhân dân đồng tình ủng hộ thì khó khăn mấy cũng vượt qua, các tiêu chí thực hiện có chất lượng, hiệu quả và bảo đảm tiến độ đề ra Phải làm cho nghị quyết, cơ chế chính sách của cấp ủy, chính quyền các cấp thấu suốt tới mọi tầng lớp dân cư ở cơ sở, để tạo sự đồng thuận, thống nhất giữa Đảng và nhân dân thôn, lắng nghe ý kiến của dân để bổ
Trang 40sung và hoàn thiện đề án Khi ý Đảng đã hợp với lòng dân thì triển khai có nhiều thuận lợi và hiệu quả
Hai là bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch trong xây dựng nông thôn mới. Chỉ đạo việc xây dựng nông thôn mới lần này, Thái Bình đã tập trung thực hiện nghiêm túc việc dân chủ, công khai minh bạch Đó là phải dân chủ từ khâu triển khai chủ trương, nghị quyết của Đảng Những vấn đề triển khai thực hiện ở
cơ sở nhân dân phải được biết, được bàn, được làm, được kiểm tra; bảo đảm dân chủ công khai về quy hoạch, thiết kế, dự toán, các khoản đóng góp đối ứng của nhân dân, để xây dựng công trình trong phạm vi thôn, làng, tổ dân cư của mình
và thanh quyết toán minh bạch để nhân dân biết Thực hiện như vậy vừa bảo đảm nghiêm túc pháp lệnh dân chủ ở cơ sở, vừa huy động được trí tuệ và đóng góp của nhân dân
Ba là huy động được sức mạnh tổng hợp của nhân dân và hệ thống chính trị tham gia xây dựng nông thôn mới.
Ngoài việc huy động sự đóng góp của nhân dân, sự hỗ trợ của cấp trên, địa phương cần tích cực huy động sự đóng góp của con em địa phương đang công tác, ở trong nước và nước ngoài; thu hút đầu tư của các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm Cần phải vận động các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội của địa phương trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mình, cấp ủy tập hợp thu hút đoàn viên, hội viên chung sức xây dựng nông thôn mới Ở Thái Bình có nhiều xã, ngoài nhiệm vụ chung của các đoàn thể, Đảng ủy còn giao thêm nhiệm
vụ cụ thể, phụ trách từng lĩnh vực để thực hiện các tiêu chí đề ra, như: hội phụ
nữ tập trung vận động thực hiện công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình, vấn đề môi trường; đoàn thanh niên vận động thực hiện phòng chống tệ nạn xã hội, an toàn giao thông, đời sống; việc làm; cựu chiến binh vận động thực hiện trồng cây xanh, an ninh trật tự, an toàn xã hội, hội nông dân vận động phát triển kinh tế, tăng thu nhập và cơ cấu lao động của địa phương,v.v
Bốn là chỉ đạo và thực hiện tốt công tác xây dựng và thực hiện quy hoạch