Xuất phát từ thực trạng tài nguyên đất, việc nghiên cứu tìm ra giải pháp khai thác sử dụng hiệu quả tài nguyên đất nói chung và đất chưa sử dụng nói riêng tại huyện Tân Kỳ là rất cần thi
Trang 11.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng khai thác đất chưa sử dụng 10
Trang 2Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.3.1 Điều tra, đánh giá các yếu tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện ảnh hưởng đến việc khai thác, sử dụng tài nguyên đất 28 2.3.2 Đánh giá hiện trạng đất chưa sử dụng và quá trình hình thành loại đất này 28 2.3.3 Đánh giá khả năng khai thác sử dụng đất chưa sử dụng huyện Tân Kỳ 28 2.3.4 Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất CSD đã thực hiện những
2.3.5 Đề xuất sử dụng đất chưa sử dụng phục vụ phát triển sản xuất nông lâm
2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu đã nghiên cứu trước đây 29 2.4.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp 30 2.4.3 Phương pháp điều tra thu thập tài liệu, số liệu sơ cấp 30
2.4.5 Phương pháp phân tích thống kê và xử lý số liệu 31
3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng nghiên cứu 32 3.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường 32
3.2 Đánh giá thực trạng khai thác sử dụng đất chưa sử dụng 53 3.2.1 Tình hình khai thác sử dụng đất chưa sử dụng huyện Tân Kỳ 53 3.2.2 Đặc điểm, các trạng thái đất chưa sử dụng của huyện Tân Kỳ 57
Trang 33.3.2 Khả năng về điều kiện tự nhiên 65
3.4 Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất chưa sử dụng đã thực hiện
3.4.2 Hiệu quả của các loại hình sử dụng đất trên đất chưa sử dụng trong
3.5 Đề xuất hướng sử dụng đất chưa sử dụng đến năm 2020 77
3.5.2 Quan điểm chung trong khai thác sử dụng đất chưa sử dụng 78 3.5.3 Đề xuất hướng khai thác sử dụng đất chưa sử dụng 78 3.5.4 Các giải pháp khai thác sử dụng hiệu quả đất chưa sử dụng 81
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viện QH&TKNN Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp
Trang 5
DANH MỤC BẢNG
1.2 Cơ cấu diện tích đất đai của vùng Bắc Trung Bộ năm 2013 10 1.3 Thống kê diện tích đất một số quốc gia trên thế giới 22 1.4 Biến động đất chưa sử dụng toàn quốc từ 2000 đến 2013 25 3.1 Thống kê nhóm đất trên địa bàn huyện Tân Kỳ năm 2014 35
3.3 Hiện trạng sử dụng đất huyện Tân Kỳ năm 2014 48 3.4 Hiện trạng sử dụng đất theo các xã điều tra 50 3.5 Hiện trạng đất chưa sử dụng có khả năng khai thác phân theo đơn vị
3.6 Biến động diện tích đất chưa sử dụng huyện Tân Kỳ giai đoạn 2005 – 2014 55 3.7 Hiện trạng đất bằng chưa sử dụng huyện Tân Kỳ năm 2014 57 3.8 Hiện trạng đất đồi núi chưa sử dụng theo độ cao và cấp độ dốc huyện
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH
Hình 3.1 Sơ đồ vị trí huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An 32
Biểu đồ 4.2 Biến động đất chưa sử dụng giai đoạn 2005-2014 55
Ảnh 3.5 Loại hình trồng chanh trên đất đồi núi CSD 70 Ảnh 3.6 Loại hình trồng rừng sản xuất trên đất đồi núi CSD 71 Ảnh 3.7 Loại hình trồng sắn xen canh rừng sản xuất trên đất đồi núi CSD 71
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tài sản quan trọng nhất đối với mỗi quốc gia, là một trong những thành phần quan trọng nhất của môi trường Trong những năm gần đây cùng với sự tăng trưởng kinh tế của nước ta, đó là sự gia tăng
về dân số, phát triển các khu dân cư, các khu đô thị, cơ sở hạ tầng và nhu cầu của xã hội về các sản phẩm nông nghiệp cũng ngày một cao Theo thông báo số 111/TB-VPCP của Văn phòng Chính phủ : Kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng tại Hội nghị trực tuyến Tổng kết Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng họp vào ngày 27 tháng 4 năm 2011 thì diện tích đất trống, đồi núi trọc còn lớn (khoảng 2,7 triệu ha) chiếm 8,1% tổng diện tích đất tự nhiên của nước ta Ở Việt Nam, dân số đông nên tỷ lệ đất tự nhiên trên đầu người thấp, chỉ khoảng 0,54ha/ người.Trong đó diện tích đất trồng trọt chỉ chiếm 20% diện tích đất đai tự nhiên.Vì vậy, việc mở rộng diện tích đất nông nghiệp, tăng sản lượng và nâng cao chất lượng sản phẩm nông nghiệp phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu nhằm tạo đà cho phát triển nông nghiệp toàn diện đang trở thành vấn đề cấp thiết
Do vậy, việc phát triển đất sản xuất nông lâm nghiệp phải dựa vào quản lý sử dụng đất đồi núi vốn giàu tiềm năng cũng bị thoái hoá, đó là loại đất chưa sử dụng đặc thù
Việc nghiên cứu sử dụng đất chưa sử dụng, không chỉ có ý nghĩa góp phần
mở rộng thêm quỹ đất sản xuất mà còn góp phần bảo vệ môi trường Vì vậy, đất chưa sử dụng đang được nhiều nhà khoa học trong nước và trên thế giới quan tâm, nghiên cứu để có những giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý diện tích đất đã bị thoái hoá do tác động của con người
Tân Kỳ là huyện miền núi của tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh khoảng
90 km về phía Tây Bắc Huyện có tổng diện tích tự nhiên 73.288,06 ha, phân bố ở
22 xã, thị trấn.Địa hình đồi núi chiếm khoảng 80% diện tích tự nhiên của huyện,
Trang 8trong đó diện tích đất chưa sử dụng là 2.384,60 ha, chiếm 3,27% tổng diện tích tự nhiên.Với đặc thù là một huyện miền núi, địa hình chia cắt mạnh nên hiện tượng suy thoái đất do xói mòn, mất chất dinh dưỡng là không thể tránh khỏi Trong những năm trước đây rừng bị tàn phá do đốt nương làm rẫy trên đất dốc, biện pháp canh tác chưa hợp lý cùng với điều kiện mưa lớn tập trung theo mùa đã làm cho đất đai bị xói mòn rửa trôi, trơ sỏi đá
Xuất phát từ thực trạng tài nguyên đất, việc nghiên cứu tìm ra giải pháp khai thác sử dụng hiệu quả tài nguyên đất nói chung và đất chưa sử dụng nói riêng tại huyện Tân Kỳ là rất cần thiết ; để đáp ứng nhu cầu về các loại sản phẩm nông nghiệp ngày càng tăng bên cạnh việc đầu tư thâm canh tăng năng suất thì việc mở rộng diện tích canh tác nông nghiệp ở những nơi còn đất chưa sử dụng cũng hết sức cần thiết Không chỉ phục vụ nhu cầu sản xuất trước mắt mà còn có ý nghĩa lâu dài đối với việc bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái Vì vậy, trong phạm vi của một luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý đất đai, tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Đánh giá thực trạng và khả năng khai thác sử dụng đất chưa sử dụng
huyện Tân Kỳ tỉnh Nghệ An” nhằm góp phần đáp ứng yêu cầu của thực tiễn trong
phát triển nông lâm nghiệp ở huyện Tân Kỳ nói riêng và tỉnh Nghệ An nói chung
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Điều tra, đánh giá hiện trạng đất chưa sử dụng: số lượng, chất lượng, địa bàn phân bố nhằm xác định những đặc tính cơ bản và khả năng khai thác sử dụng trong sản xuất nông lâm nghiệp của huyện
- Đề xuất sử dụng hợp lý đất chưa sử dụng vào mục tiêu phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp của huyện phù hợp với điều kiện sản xuất nông hộ hiện nay
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái quát về đất chưa sử dụng
1.1.1 Khái niệm về đất chưa sử dụng
Ở nước ta, các phạm trù đất trống, đồi núi trọc được sử dụng đã nhiều năm Đảng và nhà nước cũng đã có nhiều chỉ thị, chương trình liên quan đến phạm trù đất trống, đất đồi núi chưa sử dụng một số tài liệu nghiên cứu còn có những quan niệm khác nhau Đất trống, đất đồi núi chưa sử dụng là tên gọi chung của tất cả các loại đất hoang (cả ở đồng bằng và ven biển), đồi núi trọc, và mặt nước có khả năng kinh doanh vào hoạt động nông nghiệp (bao gồm lâm và ngư nghiệp) nhưng chưa được
sử dụng (Nguyễn Văn Thịnh, 1996)
- Theo quan điểm của ngành nông nghiệp: Đất chưa sử dụng: “Đất hoang nông nghiệp là đất không có chủ nhân canh tác liên tục, canh tác thường gián đoạn, manh mún, cơ cấu cây trồng không ổn định, hệ số sử dụng đất thấp” (Trần An Phong, 1995)
- Theo quan điểm ngành lâm nghiệp: “Đất hoang lâm nghiệp là những đất không còn rừng (có độ che phủ dưới 0,3%; trữ lượng gỗ dưới 25 m3/ha), không thuộc phạm vi lâm nghiệp quản lý” (Trần An Phong, 1995)
- Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất:
‘‘Đất chưa sử dụng’’ là đất chưa được đưa vào sử dụng cho các mục đích theo quy định của Luật Đất đai, bao gồm đất bằng chưa sử dụng, đất đồi núi chưa sử dụng, núi đá không có rừng cây
‘‘Đất bằng chưa sử dụng’’ là đất chưa sử dụng tại vùng bằng phẳng ở đồng bằng, thung lũng, cao nguyên
‘‘Đất đồi núi chưa sử dụng’’ là đất chưa sử dụng trên đất dốc thuộc vùng
Trang 10‘‘Núi đá không có rừng cây’’ là đất chưa sử dụng ở dạng núi đá mà trên đó không có rừng cây
1.1.2 Quá trình hình thành đất chưa sử dụng
Đồi núi trọc nước ta được hình thành do nhiều nguyên nhân tự nhiên kinh tế
xã hội nhất định Tại mỗi vùng đất trống, đồi núi trọc thì đều có những đặc điểm tự nhiên, nguồn nước, hệ sinh thái…khác nhau Do đó mà những giải pháp về khai hoang, sử dụng đất đồi núi chưa sử dụng không thể giống đất đồng bằng, thậm chí cũng không thể giống nhau giữa các vùng có đất đồi núi chưa sử dụng
- Đất đồi núi trọc tự nhiên:
Đó là những vùng đất có những điều kiện tự nhiên vốn có (địa hình, nông hóa, thổ nhưỡng) không thể có một loại cây nào có thể tồn tại và phát triển ở đó được đối với các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc thì loại đất này chiếm khoảng từ 7-10% tổng diện tích đất đồi núi chưa sử dụng (Nguyễn Văn Thịnh, 1996) Diễn biến của đất đồi núi chưa sử dụng tự nhiên phát triển theo hai xu hướng cơ bản:
Diện tích tăng một cách tự nhiên được tác động hoàn toàn các tính chất tự nhiên như điều kiện địa lý, địa chất…xu hướng này gia tăng hay hạn chế hoàn toàn chịu sự tác động của hai yếu tố đó là tự nhiên và con người Hoạt động tích cực của con người sẽ có tác động tích cực làm tăng khả năng thu hẹp diện tích đất này Ngược lại, nếu để tự nhiên diễn ra các quá trình xói mòn, rửa trôi đất do mưa, gió gây ra mà không có sự chế ngự của con người thì diện tích đất chưa sử dụng tăng thêm là lẽ dĩ nhiên
- Đất đồi núi chưa sử dụng do quá trình sử dụng, khai thác của con người tạo ra Loại đất này cũng diễn biến theo các xu hướng sau:
Diện tích đồi núi trọc ngày càng tăng nhanh nếu con người chỉ biết khai thác một lần theo kiểu bọc lột tài nguyên thiên nhiên
Diện tích có khả năng thu hẹp nếu biết kết hợp khai thác bảo vệ rừng và đất đồi rừng
- Đất đồi núi chưa sử dụng do tác động của cả tự nhiên và con người: Biểu hiện trực tiếp của sự xuất hiện loại đất này là việc phá hủy có tinh chất lan
Trang 11truyền của tự nhiên (bão, lụt lội, xói mòn) Về hình thức là do các diều kiện tự nhiên nhưng về thực chất thì gia tăng này lại do con người gây ra, đây là hoạt động gián tiếp
sự gia tăng này Ở trường hợp này dù vô thức hay cố ý thì hành động của con người là nguyên nhân trực tiếp dân tới sự gia tăng diện tích đất đồi núi chưa sử dụng
Vậy quá trình hình thành đất đồi núi chưa sử dụng có tính chất tự nhiên vừa
là kết quả của quá trình mà con người khai thác sử dụng tự nhiên Hành động của con người vừa là tác nhân gây ra vừa là nhân tố hạn chế sự gia tăng đất đồi núi chưa
sử dụng
Diện tích đất đồi núi nước ta chiếm 75% diện tích đất cả nước, vì vậy mà đời sống của người dân chủ yếu là canh tác trên đất dốc.Từ thực tế đó, khi mà đa số mọi người trong quá khứ cũng như hiện tại khai thác và canh tác chưa hợp lý thì đều dẫn đến hiện tượng xói mòn và rửa trôi từ đó làm đất thoái hóa bạc màu, có độ phì nhiêu thấp, hình thành nên đất chưa sử dụng
Hai tác động chủ yếu hình thành nên đất chưa sử dụng là do tự nhiên và con người Tùy thuộc vào lịch sử, điều kiện của từng vùng miền mà nguyên nhận và mức độ tác động có thể lớn hay nhỏ Với rất nhiều nguyên nhân tác động trực tiếp,có thể kể đến một số nguyên nhân tiêu biểu đóng vai trò chính trong việc góp phần làm suy thoái tài nguyên rừng của Việt Nam như: Chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác nguồn lâm sản quá mức cho phép, tập quán du canh du cư, hậu quả của chiến tranh để lại, nghèo đói,sức ép dân số
Hệ lụy của các nguyên nhân trên dẫn tới những hậu quả ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của con người như lũ quét, sạt lở đất, sa mạc hóa
Theo tổ chức lương thực thực phẩm thế giới (FAO) thì trong vòng 20 năm tới, hơn 140 triệu ha đất (tương đương với diện tích của Alska sẽ bị mất đi giá trị trồng trọt và chăn nuôi.Đất đai ở hơn 100 nước trên thế giới đang chuyển chậm sang dạng hoang mạc Trên phạm vi toàn cầu, khoảng 25 tỷ tấn đất đang bị cuốn trôi hằng năm vào các sông ngòi và biển cả (Lê Văn Khoa, 2010)
Do đó đất chưa sử dụng là một trong những hiện tượng có tính tự nhiên và chịu những tác động do con người tạo nên trong quá trình khai thác sử dụng Đây là
Trang 12nhân tố có ý thức, mục đích của con người gây ra và cũng có các biện pháp cải tạo nhằm làm giảm diện tích đất chưa sử dụng
Một số chỉ tiêu đánh giá đất chưa sử dụng và cải tạo sử dụng hợp lý đất chưa
sử dụng theo tiêu chuẩn ở bảng sau:
Một số chỉ tiêu đánh giá đất chưa sử dụng bảng 1.1
Bảng 1.1 Một số chỉ tiêu đánh giá đất chưa sử dụng
Nguồn: Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên -1999
1.1.3 Nguyên nhân hình thành đất chưa sử dụng
Nguyên nhân chính hình thành đất chưa sử dụng có thể quy tụ thành hai nhóm nguyên nhân sau:
- Nguyên nhân khách quan: Đó là những nguyên nhân nằm ngoài sự can thiệp của con người có liên quan đến cấu tạo tầng địa chất, nguồn gốc đá mẹ, độ dày tầng đất quá mỏng, bị xói mòn rửa trôi qua một quá trình lâu dài làm cho thực vật không thể mọc được, con người không thể khai thác đất đó cho các mục đích sản xuất nông, lâm nghiệp
Trang 13- Nguyên nhân chủ quan do quản lý, sử dụng của con người: Chủ yếu là các
nguyên nhân sau đây:
- Sức ép gia tăng dân số và tình trạng đói nghèo liên miên
- Đốt rừng làm rẫy, du canh du cư làm cho đất ngày càng nghèo kiệt đến phải
bỏ hoang Tập quán sống du canh du cư cùng với phương thức canh tác lạc hậu của dân cư cũng là nguyên nhân tạo nên đất đồi núi chưa sử dụng
Trên thực tế việc hình thành đất chưa sử dụng là chịu sự tác động của hai nguyên nhân trên Trong đó nguyên nhân chủ yếu là do việc quản lý và sử dụng của con người không tôn trọng các quy luật tự nhiên, khai phá rừng bừa bãi và kinh doanh nông nghiệp không hợp lý là nguyên nhân chủ yếu (Nguyễn Văn Thịnh, 1996) Chất lượng đất ở nhiều nơi, đặc biệt là ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ cho thấy: đất vốn có độ dốc lớn, lượng mưa tập trung theo mùa tạo khả năng lớn làm xói mòn đất Bên cạnh đó dưới sự tác động mạnh mẽ của con người như khai thác gỗ củi, đặc biệt có dãy trường sơn nơi tập trung các loài gỗ quý như:
Pơ mu, đinh hương, lim xẹt, việc chặt phá rừng khai thác gỗ, đốt rừng làm nương rẫy, cầy bừa thường xuyên, canh tác không có kỹ thuật làm cho độ giữ nước giảm, cường độ dòng chảy tăng lên và tất yếu làm tăng cường độ xói mòn Tất cả những hoạt động đó đã làm mất đi lớp đất mặt và các chất dinh dưỡng, trong đó nguyên nhân xói mòn và rửa trôi làm cho thảm thực vật che phủ diễn ra qua nhiều năm xấu
đi và tạo thành đất chưa sử dụng
Rừng, đất rừng và đồng cỏ hiện vẫn đang bị suy thoái hoặc bị triệt phá mạnh
mẽ, đất hoạng bị biến thành sa mạc.sa mạc Sa-Ha-Ra có diện tích rộng 8 triệu km2, mỗi năm bành trướng thêm từ 5-7km2 (Lê Văn Khoa, 2010)
Sự phá hủy rừng vẫn đang diễn ra ở mức độ cao Trên thế giới diện tích rừng
có khoảng 40 triệu km2 Song cho đến nay diện tích này đã mất đi một nửa, trong số
đó rừng ôn đới chiếm khoảng 1/3 và rừng nhiệt đới chiếm 2/3 Sự phá hủy rừng xảy
ra mạnh đặc biệt ở các nước đang phát triển chủ yếu do nhu cầu khai thác gỗ củi và nhu cầu lấy đất làm nông nghiệp và cho nhiều mục đích khác (Lê Văn Khoa, 2010)
Có nhiều nguyên nhân khiến diện tích rừng ở việt nam bị thu hẹp Đó là do
Trang 14chiến tranh, các chính sách phát triển không phù hợp, sự gia tăng dân số, cháy rừng
và sự dịch chuyển cơ cấu cây trồng (Trần Đức Viên và cs , 2005)
Ở khu vực thượng nguồn sông Cả tỉnh Nghệ An, diện tích rừng được tái sinh trong giai đoạn từ năm 1998-2003 cao hơn so với giai đoạn 2003-2007 khoảng 18.075 ha Trong khi đó diện tích rừng vị mất giai đoạn 2003-2007 thì nhiều hơn giai đoạn trước là khoảng 18.157 ha (Phạm Tiến Đạt và cs , 2009)
Ở các nước phát triển, diện tích rừng tăng 9 triệu ha, con số này quá nhỏ so với diện tích rừng đẫ mất đi chất lượng của những khu rừng còn lại đang bị đe dọa bởi nhiều sức ép do tình trạng gia tăng dân số, nhu cầu khai thác gỗ củi và cháy rừng
Nguyên nhân hình thành đất chưa sử dụng rất đa dạng và phong phú Do tính chất phức tạp về nguồn gốc, nên để thuận tiện trong phân tích và đánh giá ta nên chia thành các nhóm nguyên nhân sau đây:
Nguyên nhân thứ nhất: Các yếu tố tự nhiên đó là khí hậu và địa hinh.có thêt nói đây là hai yếu tố gây ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người
Địa hình là yếu tố có quan hệ chặt chẽ tới xói mòn bề mặt vì với địa hình dốc,dòng chảy sẽ dễ xảy ra Cường độ xói mòn tỷ lệ thuận với độ dốc Còn trong điều kiện đất bằng phẳng thì xói mòn bề mặt do mưa hầu như không đáng kể Địa hình dốc là yếu tố “bảo thủ” khó khắc phục
Nguyên nhân thứ hai: Tập quán du canh, du cư và tập tục di cư tự do của một
số đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu tập trung ở vùng Tây Bắc Du canh du cư là một phương thức sản xuất và sinh hoạt lạc hậu từ bao đời để lại Bên cạnh đó, có hơn 2 triệu người sống du canh du cư.số dân cư nay dang sống rải rác trên 90 huyện vùng cao cới 80% dân số có thu nhập từ nương rẫy Hàng năm họ đốt rừng trồng tỉa, không hề làm đât, bón phân và thực hiện các biện pháp chống xói mòn Việc di cư
tự do không theo kế hoạch hàng năm đã kéo theo việc khai thác sử dụng đất bừa bãi, chặt phá rừng làm nương rẫy đang là thực trạng đáng lo ngại nhất Theo điều tra của GS Bùi Quang Toản, ở Tây Bắc nước ta trong vòng 20 năm dân số tăng lên 2,3 lần thì độ che phủ giảm đi một nửa Cũng trong thời gian trên diện tích nương rẫy
Trang 15tăng lên 1,7 lần, như vậy là diện tích rừng giảm, diện tích nương rẫy tăng và đương nhiên diện tích đất đồi núi chưa sử dụng cũng tăng lên
Các dân tộc thiểu số ít nhiều cũng canh tác nương rẫy theo kiểu du canh (7% dân số người Tày, 16% người Nùng, 45% người Thái…), cả các hộ người Kinh sống ở miền núi cũng canh tác du canh nhưng không nhiều (Nguyễn Văn Thịnh, 1996)
Nguyên nhân thứ ba: Việc bố trí cây trồng đối với từng địa phương chưa hợp
lý Mỗi loài cây đòi hỏi mỗi cách trồng khác nhau, chọn và áp dụng các biện pháp
kỹ thuật không phù hợp có khi không thu hoạch được gì mà còn làm hỏng đất đai, môi trường, nhiều nơi trở thành hoang hóa Trồng thuần, trồng chay, trồng không có biện pháp giữ đất giứ nước là những cách trồng không đúng kỹ thuật cản trở việc sử dụng đất lâu bền ở nước ta hiện nay Thiết kế các khu khai hoang, bố trí cây trồng theo đường đồng mức để chống xói mòn, bón phân hữu cơ, trồng cây họ đậu…phương thức canh tác chủ yếu của vùng cao là quảng canh Ở nhiều vùng nếu đốt rừng làm lúa nương năm đầu có thể cho năng suất 10-12 tạ/ha, năm 2 từ 7-8 tạ/ha, năm 3 từ 2-3 tạ/ha.để sinh tồn nông dân bỏ lại những rẫy này đót rừng làm nương mới từ đó làm diện tích đồi núi tăng (Nguyễn Văn Thịnh, 1996)
Nguyên nhân thứ tư: Việc tuyên truyền cũng như ý thức bảo vệ môi trường của nhân dân chưa cao Các doanh nghiệp lâm, nông trường chỉ chú ý đến khai thác tài nguyên rừng mà không chú ý đến bổ sung, trồng mới rừng Theo số liệu thống
kê, từ đầu năm đến cuối năm 2008, trên cả nước đã xảy ra hàng chục nghìn vụ vi phạm các quy định của nhà nước về bảo vệ rừng và quản lý lâm sản Chỉ trong tháng 4/2008 đã có trên 1.509m gỗ tròn và 1536m gỗ xẻ bị thu giữ Trong lúc rừng trồng mới tập trung trong 4 tháng đầu năm 2008 chỉ đạt 19,2 nghìn ha, bằng 9,5%
kế hoạch năm (Lê Văn Khoa, 2010)
Về chủ quan có thể do nhận thức và hiểu biết còn hạn chế cho nên họ không lường trước được hậu quả gây ra, hoặc do vì lợi ích trước mắt mà cố tình gây ra Về khách quan chúng ta chưa có một chiến lược đầy đủ, toàn diện để bảo vệ môi trường, chậm hình thành quy định rõ ràng, chặt chẽ về pháp luật để bảo vệ môi trường Những nguyên nhân chủ quan, khách quan trên lại đặt trong tình hình kinh
Trang 16tế xã hội đang còn nhiều khó khăn phức tạp làm cho bảo vệ môi trường sinh thái càng khó thêm (Nguyễn Văn Thịnh, 1996)
Bảng 1.2 Cơ cấu diện tích đất đai của vùng Bắc Trung Bộ năm 2013
Đơn vị: ha
Tỉnh Diện tích
Đất nông nghiệp
Đất phi nông nghiệp
Đất chưa sử dụng
Đất sản xuất nông nghiệp
Đất lâm nghiệp
Đất NTTS
Đất
NN khác Thanh Hóa 1.112.948 247.526 585.592 12.408 1.077 166.251 99.788 Nghệ An 1.648.997 276.047 963.691 7.984 616 129.172 270.649
Hà Tĩnh 599.782 130.117 351.891 4.661 259 84.453 27.963 Quảng Bình 806.527 82.831 630.872 2.793 222 55.181 34.544 Quảng Trị 473.982 95.320 286.930 2.676 54 40.911 48.082
Toàn vùng 5145.556 892.657 3144.185 36.551 2.639 567.383 500.488
Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Qua bảng trên, diện tích đất sản xuất nông nghiệp của vùng là 892.657 ha, chiếm 17,35 % diện tích cả vùng; đất lâm nghiệp 3.144.185 ha đạt 61,10 % diện tích cả vùng; đất chưa sử dụng 500.488 ha, chiếm 9,73 % diện tích vùng
1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng khai thác đất chưa sử dụng
Ba nhân tố ảnh hưởng trực tiếp, mạnh mẽ và sâu sắc nhất tới quá trình khai thác và sử dụng đất chưa sử dụng đó là: Nhân tố tự nhiên, kinh tế và nhân tố xã hội
1.2.1 Nhóm nhân tố tự nhiên
Các yếu tố khí hậu thời tiết, địa hình, nguồn nước, thảm thực vật và cả tình trạng đất đai đều thuộc nhóm nhân tố tự nhiên Vì là nhân tố của tự nhiên nên nó mang quy luật của tự nhiên mà trong quá trình khai thác sử dụng con người theo dõi nắm bắt phát hiện quy luật và có tác động hợp lý, hiểu và nắm bắt được nó từ đó khai thác tốt các điều kiện thuận lợi mà nhóm nhân tố này mang lại cũng như giảm thiểu tối đa mặt bất lợi, làm giảm thiệt hại do chúng gây ra trong điều kiện cụ thể
Trang 17từng vùng, miền nhằm mục đích đạt được kết quả như mong muốn
Các nhân tố tự nhiên tác động đến quá trình hình thành đất và đang có những ảnh hưởng lâu dài trong quá trình sử dụng đất đai Trong mọi trường hợp, tốc độ phát triển sản xuất phần lớn phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên và trạng thái của chúng Những yếu tố tự nhiên thường có ảnh hưởng khá lớn đến các ngành, nhưng đặc biệt nhất là ngành nông nghiệp Sự ảnh hưởng đó mang ý nghĩa lớn không chỉ trong phạm vi vùng, khu vực mà ngay cả những vùng nhỏ tuỳ điều kiện cụ thể của từng nơi (Phùng Văn Hiếu, 2010)
- Khí hậu thời tiết: Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa Theo vị trí địa lý lãnh thổ Việt Nam nằm hoàn toàn trong vành đai nhiệt đới bắc bán cầu nên thời tiết là nắng lắm mưa nhiều, là điều kiện khá thuận lợi cho việc sinh trưởng của các loại thực vật nhiệt đới cũng như phát triển sản xuất nông nghiệp theo phương thức tăng vụ trong năm
- Nhiệt độ và ánh sáng: nhiệt độ cao đều, tổng tích ôn lớn, năng lượng dồi dào làm tăng khả năng quang hợp và tích tụ các chất là yếu tố thuận lợi cho nhiều loại cây trồng Các vùng nóng (vùng có tổng tích ôn từ 8000 – 90000C, nhiệt độ trung bình năm từ 21- 240C) rất thuận lợi để tăng vụ cây trồng hàng năm Các vùng nóng vừa (vùng có tổng tích ôn từ 7000 – 80000C, nhiệt độ trung bình năm từ 20-
210C) vẫn có khả năng tăng vụ nhưng không lớn Vùng rất nóng (vùng có tổng tích
ôn trên 90000C, nhiệt độ trung bình năm từ 24- 250C) rất thích hợp để phát triển cây dài ngày nhiệt đới, việc tăng vụ cũng khá dễ dàng
-Lượng mưa trung bình năm cao 1800-2000mm, mùa mưa thường ngắn nhưng cường độ mạnh là yếu tố thúc đẩy sự phân huỷ đá sâu sắc và tạo nên tầng đất dày cho nhiều loại đất đồi núi Xói mòn đất xảy ra nghiêm trọng trong mùa mưa làm cho đất bị nghèo xấu, năng suất cây trồng càng bị giảm sút mạnh, dẫn đến tình trạng nhiều vùng đất dốc không thể canh tác được nữa dẫn đến hiện tượng kết von
đá ong hoặc tạo ra những loại đất bạc màu, xói mòn trơ sỏi đá, là mối đe dọa trực tiếp cho sự phát triển kinh tế sản xuất nông lâm nghiệp vùng đồi núi
- Khả năng rửa trôi xói mòn của đất xảy ra cao nhất ở đất dốc Từ đó, khả
Trang 18năng canh tác cũng như đầu tư cho xây dựng các mô hình để cải tạo đất là cũng hạn chế hơn FAO đưa ra chỉ tiêu 4 cấp độ dày tầng đất:>90, 35-90, 20-35 và<20 cm.độ dày <20 ở bất kỳ độ dốc nào cũng cần bảo về để rừng tái sinh tự nhiên
- Nguồn nước: Nước là nguồn tài nguyên hữu hạn và vô cùng quý giá đối với
sự sống cũng như với sản xuất Để khai thác tối đa nguồn tài nguyên nguyên này và đưa ra phương hướng cải tạo thích hợp trong sản xuất nông lâm nghiệp thì chúng ta phải xem xét cả về nguồn nước mặt cũng như nguồn nước ngầm
- Thảm thực vật: Độ che phủ mặt đất tỉ lệ nghịch với xói mòn đất Thực vật
có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với đất cũng như quá trình hình thành đất là yếu
tố cơ bản và có mối quan hệ trực tiếp đến đất đai và các vi sinh vật sống trong đất Lớp phủ thực vật sẽ ảnh hưởng đến xói mòn theo hai cách: Tán cây của lớp phủ làm giảm động năng của hạt mưa rơi - một yếu tố trực tiếp gây nên xói mòn; rễ cây giúp bảo vệ đất, chống lại sự rửa xói của mưa cũng như các dòng nước mặt tạm thời (Trần Quốc Vinh và Đào Châu Thu, 2010) và sự che phủ của tầng cây làm tăng hàm lượng chất hữu cơ và mùn trong đất (Đỗ Thị Lan, 2010)
Chất hữu cơ trong đất nhiều hay ít đều ảnh hưởng đến xói mòn: Khi nhiều chất hữu cơ thì nước thấm nhanh hơn làm giảm xói mòn đất và ngược lại khi nghèo hữu cơ thì thấm chậm gây dòng chảy dẫn đến xói mòn mạnh Hàm lượng chất hữu
cơ và mùn nhiều sẽ cho đất có kết cấu tốt và hạn chế xói mòn Ảnh hưởng rõ rệt hơn cả là kết cấu đất Đất có kết cấu viên bền, tơi xốp không những thấm nước nhanh mà còn chống chịu sự bắn phá của động lực hạt mưa, hạn chế xói mòn và ngược lại (Đỗ Thị Lan, 2010)
Đất càng dày mà có kết cấu tốt thì thấm nước nhiều, nhanh nên xói mòn ít
Trang 19hơn đất mỏng và không có kết cấu
Vì những đặc điểm của nhân tố tự nhiên là mang tính khu vực, vị trí địa lý của vùng quyết định sự sai khác về tình trạng nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm không khí…Vì vậy khi nghiên cứu đất chưa sử dụng không thể áp đặt một cách máy móc các kỹ thuật canh tác cũng như cơ cấu cây trồng của vùng này cho vùng khác được nếu chủ quan sẽ mang lại hậu quả xấu, mà trước hết phải nghiên cứu các yếu tố tự nhiên, xác định các mặt lợi thế và hạn chế từ đó mà vạch ra phương hướng và mục tiêu cụ thể khai thác đất chưa sử dụng cho từng vùng Công việc trên không chỉ thông qua kinh nghiệm của quần chúng nhân dân mà phải có sự giúp đỡ của nhà nước- nhất lá các tổ chức nghiên cứu khoa học (Nguyễn Văn Thịnh, 1996)
1.2.2 Nhóm nhân tố kinh tế
Trước hết, vùng đất đồi núi chưa sử dụng tập trung ở các tỉnh trung du miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ gắn liền với sinh sống của các dân tộc ít người còn nhiều tập quán lạc hậu: đốt rừng làm rẫy, khai thác các sản phẩm có sẵn trong tự nhiên, du canh du cư…mặt khác trình độ dân trí thấp ,tỉ lệ nghèo đói cao, ít kinh nghiệm kinh doanh sản xuất hàng hóa là những nhân tố gây khó khăn cản trở cho quá trình bảo vệ tài nguyên, khai thác và sử dụng đất chưa sử dụng Sự điều chỉnh khôn khéo các phương thức khai thác sẽ giúp cho họ khắc phục được tình trạng thiếu lương thực và tồn tại bền vững
Nếu như trong nền kinh tế hiện vật, mỗi gia đình nông dân đều tự túc được nhu cầu tối thiểu cơ bản, thì chuyển sang nền kinh tế hàng hóa ,người kinh doanh nông nghiệp có thể lựa chọn những cây trồng, vật nuôi phù hợp với thế mạnh để tạo lợi thế so sánh
Trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, vai trò của nhà nước có vị trí quan trọng đặc biệt Nhà nước là thông qua chính sách, các công cụ trực tiếp ảnh hướng đến quá trình khai thác, sử dụng đất đồi núi chưa sử dụng ở nước ta Có thể nói trong mấy thập kỷ vừa qua, những thiếu sót của các chính sách, cách tổ chức của nhà nước ta trong việc lựa chọn hình thức kinh doanh, tự túc lương thực bằng hiện vật trên từng địa bàn, tổ chức xây dựng các vùng kinh tế mới là nguyên nhân chủ yếu làm cho
Trang 20diện tích đất đồi núi chưa sử dụng ngày càng tăng lên Trong những năm đổi mới việc thừa nhận nông hộ là đơn vị tự chủ được giao đất, giao rừng cho dân, hỗ trợ vốn đầu tư, được tự do giao lưu hàng hóa đa tạo nên những thay đổi bước đầu trong sản xuất khai thác, sử dụng dất đồi núi trọc (Nguyễn Văn Thịnh, 1996)
Khả năng đầu tư của nhà nước, doanh nghiệp, người dân nhằm khôi phục
và nâng cao độ phì đất, trên cơ sở đó nâng cao năng suất cây trồng, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao năng suất lao động, bảo vệ và cải tạo đất
- Khả năng huy động nguồn vốn tự có trong nhân dân gồm: Tiền mặt, lao động và tư liệu sản xuất vào phát triển kinh tế
1.2.3 Nhóm nhân tố xã hội
Ở các nước nghèo hay kém phát triển, kinh tế chủ đạo là nông nghiệp Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của dân số tăng nhanh và nhu cầu lương thực,thu nhập vì thế các cộng đồng đã buộc phải thực hiện hàng loạt những việc làm để mưu cầu cuộc sống như khai thác đất bừa bãi, đốt nương, làm rẫy, săn bắn, chặt phá rừng, du canh du cư Bên cạnh đó, việc đầu tư thâm canh ít được quan tâm và chú trọng, sự quy hoạch trong sản xuất chưa cao, cùng với kỹ thuật canh tác sản xuất lạc hậu làm cho khả năng khai thác sử dụng đất không hợp lý, không hiệu quả
Việc ban hành các văn bản và thực hiện các chính sách trong nông nghiệp của mỗi quốc gia được thể hiện thông qua Hiến pháp, Luật đất đai, Nghị định, Thông tư hướng dẫn…, chính sách nông nghiệp, bộ máy tổ chức và cán bộ, cơ sở vật chất kỹ thuật, cấu trúc hạ tầng, vốn Chính những nhân tố đó là đòn bảy kinh tế thúc đẩy các đối tượng khai thác sử dụng đất có hiệu quả (Phùng Văn Hiếu, 2010)
Như vậy, những nhân tố về điều kiện tự nhiên, và điều kiện kinh tế - xã hội tác động trực tiếp ảnh hưởng đến việc sử dụng đất đai Muốn nghiên cứu và xử lý mối quan hệ giữa các nhân tố chúng ta cần phải dựa vào quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế xã hội Việc xác định mục đích sử dụng đất hợp lý và sử dụng ưu thế tài nguyên đất đai sẽ làm cho diện tích đất hữu hạn cho hiệu quả kinh tế, xã hội ngày càng cao và hiệu quả khai thác, sử dụng được bền vững
Trang 211.3 Cơ sở khoa học về khai thác sử dụng hợp lý đất chưa sử dụng
1.3.1 Những đặc điểm cơ bản của vùng đất chưa sử dụng
Số liệu tổng hợp của Tổng cục Thống kê mới đây cho thấy, diện tích đất chưa sử dụng toàn quốc tính đến 01/01/2014 là 2.476.908 ha Diện tích đất chưa sử dụng nước ta hiện nay tập trung chủ yếu ở nhiều vùng núi hẻo lánh của nước ta và trung du thuộc các huyện dân cư thưa thớt, đất đai xấu, khó canh tác hoặc không thể canh tác được, cơ sở hạ tầng kém phát triển, địa hình phức tạp, độ dốc cao (Phùng Văn Hiếu, 2010) Một phần cũng do đặc điểm tự nhiên sẵn có của từng vùng, phần nữa cũng là do quá trình canh tác chưa đúng kỹ thuật, chọn cây trồng chưa phù hợp với từng loại đất Tình trạng du canh, đốt rừng làm nương rẫy của một số đồng bào dân tộc ít người dẫn đến diện tích đất chưa sử dụng nước ta ngày một tăng
Trong tương lai, nếu chúng ta biết giảm thiểu những điểm bất lợi và phát huy những điều kiện thuận lợi sẵn có như sử dụng kiến thức bản địa của địa phương trải qua một thời gian canh tác lâu dài họ đã tích lũy nhiều kinh nghiệm quý báu (Trần
Sỹ Hải và cs , 2007), biết đầu tư khai thác hợp lý hiệu quả nguồn tài nguyên đất này cho phát triển nông, lâm nghiệp sẽ đem lại lợi ích lớn cho đất nước
1.3.1.1 Những lợi thế trong khai thác đất chưa sử dụng
Do điều kiện tự nhiên, đất đai khí hậu của vùng thuận lợi cho việc phát triển nhiều loại cây trồng đặc biệt là nhóm cây ăn quả, cây công nghiệp hàng năm và trồng rừng kết hợp chăn nuôi
Vùng đồi núi có đặc điểm điều kiện tự nhiên, đất đai khí hậu thuận lợi cho việc phát triển nhiều loại cây trồng như cây công nghiệp hằng năm,các loại cây ăn quả và các mô hình canh tác nông lâm kết hợp: Vườn-rừng, vườn ao chuồng rừng…
Do có những đặc tính khác nhau về quá trình hình thành, địa hình phân bố và điều kiện sinh thái nên khả năng khai thác và đưa vào sử dụng của các loại hình hiện trạng chủ yếu nhóm đất đỏ vàng chiếm 72,61% diện tích đất chưa sử dụng Ở Nghệ An đất feralit đồi núi chiếm hơn 85% diện tích tự nhiên của tỉnh, thành phần
đa dạng, phụ thuộc vào đặc điểm của đá mẹ (Đào Khang, 1999) Diện tích đất chưa
sử dụng còn rất lớn, đó là một lợi thế trong tương lai để phát triển :Nông nghiệp với
Trang 22lâm nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi, cây công nghiệp dài ngày, thúc đẩy nền sản xuất hàng hoá Độ dốc<80 nên khai thác mở rộng diện tích đất nông nghiệp Với các khu vực có độ dốc 80-250 thì phát triển các mô hình canh tác nông lâm kết hợp
Vùng đồi núi Việt Nam chiếm ¾ diện tích tự nhiên của cả nước vì vậy mà Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng quan tâm phát triển vùng nông thôn miền núi qua các chương trình, dự án trong và ngoài nước đang đầu tư nhằm xóa dần khoảng cách giữa nông thôn và thành thị, nâng cao đời sống nhân dân cho các vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa
1.3.1.2 Những hạn chế trong khai thác đất chưa sử dụng
Đặc điểm cơ bản nhất của vùng là có địa hình phức tạp, tầng đất thường có
độ dày mỏng, thực vật không phát triển được và rất dễ bị xói mòn
Đất đồi núi ở Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của khí hậu nhiệt đới gió mùa Nắng gay gắt, mưa nhiều tập trung theo mùa, quá trình xói mòn và bốc hơi đều diễn
ra mãnh liệt, kết quả là đất bị rửa trôi chất dinh dưỡng, làm tích lũy secquioxit, kết von đá ong ở nhiều nơi có độ ẩm thấp Phần lớn đất feralit đỏ vàng ở Việt Nam chứa
Fe3+ và Al3+ cao, có nơi lên đến 50-60% Đất thường có mực nước ngầm cao, gây kết von trên diện rộng, có khi xuất hiện tầng đá ong chặt (Đào Khang, 1999)
Đối với các quốc gia có phần lớn lãnh thổ là đồi núi thì việc đầu tư cho công tác chống xói mòn đất là tương đối cao và khó khăn Một số giải pháp chống xói mòn bảo vệ đất có thể kể đến như: giải pháp công trình, giải pháp sinh học Vấn đề đặt ra ở đây là các biện pháp công trình có tác dụng bảo về đất tốt nhất đạt tới 80-90% nhưng đồng nghĩa với điều đó thì chi phí bỏ ra cho giải pháp đó tỷ lệ thuận với hiệu quả mà nó đem lại Đó là bài toán chưa có lời giải đối với các nước chậm phát triển, có vốn đầu tư thấp
Hậu quả của xói mòn là làm cho đất bị nghèo xấu, thoái hóa, năng suất cây trồng bị giảm mạnh dẫn đến tình trạng nhiều vùng đất dốc không thể canh tác được nữa Vì vậy phòng chống xói mòn là một biện pháp cực kỳ quan trọng để sử dụng đất dốc có hiệu quả, là một yêu cầu không thể thiếu được trong việc phát triển kinh
tế nông hộ ở miền núi Nhiều tác giả ở Việt Nam đặc biệt quan tâm và đã có những
Trang 23công trình nghiên cứu về vấn đề này ở một số vùng đồi núi khác nhau trên cả nước,
cụ thể là: Xói mòn đất hiện đại và các biện pháp chống xói mòn của Nguyễn Quang
Mỹ (2005) Nghiên cứu sự xói mòn rửa trôi do đất dốc gây lên đất chưa sử dụng Tây Bắc của Bùi Quang Toản (1991)
Đối với các vùng đất chưa sử dụng cũng cần chú ý một số đặc điểm về kinh
tế và xã hội như: Việc cày bừa chăm bón và thu hái sản phẩm rất vất vả, nặng nhọc
do phải trèo đèo, lội suối, vượt dốc Phần lớn những công việc đó phải dung sức người, phải đổ mồ hôi, công sức và thời gian rất nhiều, về cơ bản chủ yếu là bị yếu
tố địa hình chi phối, thứ hai nữa là do bên cạnh điều kiện kinh tế khó khăn kéo theo
cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật cũng như trình độ người lao động còn hạn chế Từ
đó việc tiếp thu, áp dụng kỹ thuật, biện pháp canh tác còn gặp nhiều khó khăn (Nguyễn Viết Khoa và cs , 2008)
1.3.2 Tiềm năng khai thác sử dụng và hướng cải tạo đất chưa sử dụng
1.3.2.1 Tiềm năng khai thác sử dụng
Để xác định khả năng sử dụng của đất chưa sử dụng, từ đó đề ra mục tiêu phát triển nông lâm nghiệp một cách bền vững, chúng ta cần nghiên cứu đất chưa sử dụng Một số tiềm năng có thể kể đến như: Tiềm năng mở rộng đất canh tác, tiềm năng lâm nghiệp, tiềm năng sản xuất cây hàng hóa và đa dạng sản phẩm, tiềm năng phát triển chăn nuôi, tiềm năng phát triển nguồn điện (Nguyễn Viết Khoa và cs , 2008) Phương châm phát triển của nước ta trong những năm gần đây và định hướng cho năm tiếp theo là vừa kết hợp thâm canh tăng vụ và mở rộng diện tích ở những nơi có điều kiện như diện tích đất chưa sử dụng, đất nông nghiệp bỏ hoang… Nhận thấy tầm quan trọng cũng như những lợi ích rất lớn của đất chưa sử dụng Hiện nay, Đảng, nhà nước ta đang có hàng loạt chương trình, dự án từ cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp địa phương tập trung cho vùng với nguồn kinh phí lớn và nguồn nhân lực kỹ thuật nhiều thành phần Nhằm hướng cải tạo diện tích đất chưa
sử dụng theo các chương trình có thể giải quyết được như: Chương trình phát triển nông nghiệp, chương trình xóa đói giảm nghèo đặc biệt ưu tiên các xã vùng sâu, vùng xa Dự án 5 triệu ha rừng phủ xanh đất trống đồi trọc nhằm tạo thêm nhiều
Trang 24việc làm cho người lao động góp phần ổn định chính trị, an ninh biên giới Chương trình và hệ thống khuyến nông, khuyến lâm các cấp từ tỉnh đến huyện trên toàn và
có những chính sách hỗ trợ cho vùng đồi núi
1.3.2.2 Hướng cải tạo đất chưa sử dụng của một số quốc gia trên thế giới
Nhiều nhà khoa học ở các nước như: Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Indonêxia, Pháp, Mỹ đều có nhận xét tương đối giống nhau về nạn suy giảm đất đồi núi như:
Rừng bị phá, đất bị thoái hóa, môi trường bị ôi nhiễm đó là những nguyên nhân để diện tích đồi núi trọc ngày càng tăng
Thiếu lương thực, thức ăn gia súc, thiếu chất đốt
Thiếu vốn sản xuất, cơ sở hạ tầng thấp kém
Thiếu trí tuệ
Xây dựng các chương trình, dự án khai thác đất đồi núi, bao gồm các giải pháp: Phát triển lâm nghiệp cồng đồng
Sử dụng lao động nông thôn
Phát triển thủy lợi, trồng cây đặc sản sản xuất
Ở Indonêxia chính phủ quan tâm đến nạn phá rừng nhất là rừng đầu nguồn, đến kỹ thuật canh tác nông nghiệp và chế biến lâm sản, chủ trương làm ruộng bậc thang và trồng cây theo vanh đai hợp tác với các nước Hà Lan, Đức, FAO, ICRAF
về nhiều lĩnh vực như: Xây dựng các chủ trương chính sách, chuyển giao kỹ thuật
và công nghệ, cung cấp thiết bị và thông tin hiện đại (Đào Khang, 1999)
Thành lập các tổ chức và văn phòng quốc gia quản lý đất đồi núi
Nhiều nước trong khu vực châu Á- Thái Bình Dương chủ trương đa dạng hóa các hình thức và tổ chức kinh doanh rừng, sử dụng đất chưa sử dụng với các mô hình: Rừng làng, vườn làng, vườn rừng gia đình, vườn ươm cây, vườn rừng nhân dân, trang trại nông - lâm nghiệp
Ở Ấn Độ thành lập văn phòng quốc gia sản xuất đất hoang hóa và văn phòng quốc gia bảo vệ và sử dụng đất đai (đặt tại Bộ Lâm nghiệp và Môi trường)
Ở Thái Lan: từ năm 1975 đã phát triển hình thức rừng làng, vườn làng được chú trọng và thu nhiều kết quả tốt
Trang 251.3.3 Cơ sở khoa học khai thác hợp lý đất chưa sử dụng
1.3.3.1 Đánh giá tiềm năng đất
Đề cương đánh giá đất của FAO:
Qua các hôi thảo quốc tế về đánh giá đất:
Năm 1972 tổ chức tại Wageningen có 44 chuyên gia từ 22 nước đã tham gia soạn thảo đề cương đánh giá đất
Năm 1973 công bố đề cương soạn thảo
Năm 1976 công bố đề cương chính thức FAO-Rome 1976: sau một thời gian
áp dụng, phương pháp đánh giá đất của đề cương được thực tiễn bổ sung, làm phong phú thêm (Đào Khang, 1999)
Năm 1984 FAO-Rome 1984: Chỉ dẫn đánh giá đất lâm nghiệp
Năm 1985 FAO-Rome 1985:Chỉ dẫn đánh giá đất nông nghiệp được tưới nước thủy lợi
Năm 1991 FAO-Rome 1991:Chỉ dẫn đánh giá đất quảng canh
Năm 1994 FAO-Rome 1994: Chỉ dẫn đánh giá đất phân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất (Đào Khang, 1999)
Nguyên tắc đánh giá của FAO là đánh giá đất đai phải gắn liền với loại hình
sử dụng đất xác định, có sự so sánh giữa lợi nhuận thu được và đầu tư cần thiết Đánh giá đất có liên quan chặt chẽ với các yếu tố môi trường tự nhiên của đất và điều kiện kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu Cơ sở của phương pháp này là sự
so sánh giữa yêu cầu sử dụng đất với chất lượng đất đai để lựa chọn phương pháp
sử dụng đất tối ưu
Cơ sở khoa học quan trọng để khai thác đất chưa sử dụng là đánh giá mức độ thích nghi dựa trên các đặc tính của đất và khả năng đầu tư khai thác của con người Trong điều kiện về sản xuất thực tế về sản xuất nông lâm nghiệp ở miền núi Nghệ An hiện nay, việc đánh giá đất đai chỉ yêu cầu đánh giá ở mức độ đồng nhất của một số chỉ tiêu bao gồm như: Địa hình, độ dốc và độ dày tầng đất mặt khí hậu
và loại đất theo nhóm đá mẹ giúp người sử dụng đất xác định giống cây trồng và biện pháp kỹ thuật chăm bón
Trang 261.3.3.2 Điều kiện đánh giá khả năng sử dụng đất chưa sử dụng
Để đánh giá khả năng sử dụng hiệu quả đất chưa sử dụng phải có sự tham gia, kết hợp của nhiều nhà khoa học với nhiều chuyên ngành khác nhau, nhằm cùng nhau thảo luận, bàn bạc thống nhất, có chung một quan điểm và ý tưởng để lựa chọn các chỉ tiêu thích hợp như: Việc khai thác sử dụng hợp lý đất chưa sử dụng phải kết hợp giữa lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái
Một là, hiệu quả kinh tế phải kết hợp với hiệu quả xã hội
Trong thực tế cho thấy rằng nhiều quốc gia trên thế giới tuy tăng trưởng kinh
tế cao kéo theo rất nhiều vấn đề phức tạp xã hội, cũng như môi trường; phân hoá giàu nghèo ở mức độ cao, tệ nạn xã hội, tỷ lệ thất nghiệp tăng từ đó mà dần xói mòn đạo đức và lối sống Đến lượt nó những tiêu cực xã hội sẽ cản trở tăng trưởng kinh
tế (Nguyễn Văn Thịnh, 1996)
Để kết hợp giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội, đòi hỏi các khu vực tiến hành khai thác sử dụng đất chưa sử dụng phải được quy hoạch đồng bộ từ xác định
cơ cấu cây trồng, cơ cấu kinh tế đến hệ thống kết cấu hạ tầng văn hóa xã hội
Hai là hiệu quả phải gắn liền với khôi phục và bảo vệ môi trường sinh thái
Ở nước ta việc bảo vệ rừng, khai thác sử dụng đất chưa sử dụng có tầm quan trọng đặc biệt về môi trường sinh thái Một mặt phải chú ý đến hiệu quả kinh tế mang lại một cách cụ thể Mặt khác phải thấy được hiệu quả to lớn về giữ nguồn nước, chống xói mòn, cải tạo khí hậu, huy động sử dụng đất chưa sử dụng vào việc trồng rừng và kinh doanh nông nghiệp (Nguyễn Văn Thịnh, 1996)
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả khai thác sử dụng đất chưa sử dụng
Đánh giá hiệu quả phải được xem xét một cách cả về mặt không gian và thời gian trong mối liên hệ chung của toàn bộ nền kinh tế Hiệu quả đó bao gồm hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường, chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau như một thể thống nhất không tách rời nhau Việc xác định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả khai thác sử dụng đất chưa sử dụng là để thực hiện các mục tiêu
về kinh tế xã hội, chúng ta cần phải có quan điểm nhìn nhận tổng quát gắn liền với các hiệu quả kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường Bao gồm các nhóm:
Trang 27- Nhóm tiêu chí bền vững về kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế và hiệu quả phân bổ Bao gồm các chỉ tiêu về năng suất cây trồng, vật nuôi, năng suất đất đai, thu nhập dân cư, trình độ sản xuất hàng hóa, hiệu quả sử dụng vốn Vì vậy khi xem xét đến việc sử dụng đất thì phải đều tính đến hai yếu tố là hiện vật và giá trị (Nguyễn Văn Thịnh, 1996)
Trong sản xuất nông lâm nghiệp khi đánh giá hiệu quả kinh tế của một hệ thống cây trồng phải xét đến khả năng sản xuất hàng hóa, hòa nhập thị trường và quốc tế, thực hiện cạnh tranh, phát huy hết lợi thế so sánh từng vùng
-Nhóm chỉ tiêu bền vững về xã hội
Khả năng giải quyết công ăn, việc làm, thu hút lao động, nhằm đáp ứng các nhu cầu của nông hộ, sản phẩm làm ra ngày càng thoả mãn nhu cầu sinh hoạt đời sống hàng ngày Hạn chế tình trạng du canh du cư, chặt phá rừng bừa bãi, không ngừng nâng cao trình độ dân trí, bình đẳng giới và quyền trẻ em, chăm lo sức khoẻ góp phần giải phóng phụ nữ, cải thiện vị trí của họ, không cho họ làm những công việc nặng nhọc và phụ thuộc, không dẫn đến lạm dụng sức lao động trẻ em và tước
đi quyền học tập của trẻ em Quản lý sử dụng đất phải tuân thủ đúng Hiến pháp, pháp luật và quy hoạch kế hoạch sử dụng đã được phê duyệt, phù hợp với nền văn hoá dân tộc và tập quán địa phương (Phùng Văn Hiếu, 2010)
- Nhóm chỉ tiêu bền vững về môi trường
Muốn canh tác bền vững trên đất dốc, cần ưu tiên cải tạo đất sau đó mới áp dụng các biện pháp bảo vệ, duy trì và nâng cao độ phì của đất, cũng như bố trí, cơ cấu giống cây trồng, cây lâm nghiệp trong hệ thống nông lâm kết hợp
Tăng tỉ lệ che phủ, diện tích trồng rừng được bảo vệ phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái(35%), tỉ lệ huy động sử dụng đất chưa sử dụng vào kinh doanh nông lâm nghiệp nhằm giảm thiểu lượng đất hàng năm (Phùng Văn Hiếu, 2010)
1.4 Những nghiên cứu về đất chưa sử dụng trên thế giới và Việt Nam
1.4.1 Tình hình sử dụng đất chưa sử dụng trên thế giới
Để có được thành tựu 1.5 tỷ đất canh tác, loài người đã phải lao động vất vả qua hang ngàn năm Nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, đã hủy hoại một khối
Trang 28lượng rất lớn loại đất đó Mỗi năm có từ 5- 7 triệu ha đất canh tác mất khả năng sản suất do bị thoái hóa (Đào Khang, 1999)
Theo FAO, trong tổng số gần 1,5 tỷ ha đất canh tác có đến 973 triệu ha thuộc vùng đồi núi (65,9%), đất nông nghiệp có độ dốc >100 chiếm 50-60% diện tích Châu á có số dân đông nhất nhưng tỷ lệ đất nông nghiệp cũng chỉ chiếm 26% trên thế giới(châu Mỹ 35%, châu Phi 20%, châu Âu 13%, châu Đại dương 6% và tỉ lệ đất chưa sử dụng còn rất lớn, thể hiện trong bảng 1.3 (Đào Khang 1999)
Bảng 1.3 Thống kê diện tích đất một số quốc gia trên thế giới
Đơn vị: triệu ha
TT Quốc gia
Tổng diện tích (Tr.ha)
Tài nguyên đất trên thế giới có khoảng 13.500 triệu ha, trong đó 1.000
triệu ha (chiếm 14,7% đất đồi núi có khả năng sản xuất nông lâm nghiệp Diện tích đất đồi núi ở khu vực Đông Nam Á được phân bố ở tất cả các nước khu vực, trong đó nhiều nhất là ở Việt Nam (chiếm 78% tổng diện tích toàn quốc)
và ở Lào (chiếm 73% tổng diện tích toàn quốc)
Các nước Đông Nam Á đã xây dựng và chuyển giao nhiều hình thức sử dụng đất đồi núi được nông dân tiếp nhận như FELDA của Malaysia, định canh định cư của Indonexia, SALT của Philippin…trong đó SALT của Philippin đáng chú ý nhất,
kể cả ở Việt Nam Đến nay đã có 4 loại mô hình là:
SALT1 :Kỹ thuật canh tác nông nghiệp trên đất dốc
SALT2 :Kỹ thuật nông súc kết hợp đơn giản
SALT3 :Kỹ thuật nông lâm kết hợp bền vững
SALT4 :Kỹ thuật nông nghiệp kết hợp cây ăn quả quy mô nhỏ
Trang 29SALT1: Được áp dụng ở Philippin, hình thức giống với tập quán canh tác nương rẫy truyền thống của đồng bào nhiều dân tộc ở Viêt Nam nói chung cũng như Nghệ An nói riêng
Trên những khu đất dốc (sườn núi, những quả đồi nhỏ…) chừa lại phần rừng
ở đỉnh Phần diện tích bên dưới, kết hợp trồng cây nông nghiệp với cây công nghiệp (cả ngắn và dài ngày) theo tỉ lệ 3:1 Cây ngắn ngày bao gồm: lúa, sắn, đậu, các loại che phủ đất Cây dài ngày bao gồm: cà phê, cacao, các loại cố dịnh đạm…các loại cây này được trồng thành bang ngang đỉnh đồi nên đã giảm được 4 lần lượng xói mòn đất so với cách sản xuất độc canh thông thường Hiệu quả kinh tế và môi trường tăng lên rõ rệt, sản phẩm đa dạng, ít vốn, công cụ lao động đơn giản, sản phẩm thu hoạch quanh năm nên các nông hộ dễ chất nhận (Đào Khang, 1999)
Ở châu Phi nhiệt đới việc tìm kiếm các giải pháp sử dụng đất chưa sử dụng cũng
đã được tiến hành ở nhiều quốc gia Camorun,Tanzania (Nguyễn Văn Thịnh, 1996)
Ở các quốc gia nhất là các quốc gia đang phát triển ở vùng nhiệt đới, hiện tượng phá rừng, canh tác thiếu khoa học là những nguyên nhân chủ yếu tạo nên đất chưa sử dụng Việc giảm độ che phủ, tăng diện tích đất đồi núi chưa sử dụng gây nên những hậu quả nghiêm rộng về kinh tế xã hội, tài nguyên môi trường Thực tế
đó đã buộc các quốc gia phải có những biện pháp tích cực để tăng độ che phủ, khai thác vá sử dụng đất chưa sử dụng
Thái Lan coi việc khai thác sử dụng đất đồi núi, đất rừng có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường,, mô sinh các hồ chứa nước trong việc điều tiết dòng chảy chống xói mòn đất tạo ra tiểu khí hậu có lợi cho con người
và sản xuất Cho tư nhân thuê đất hợp đồng dài hạn, cấm trồng những cây không phù hợp với điều kiện lập đia
Indonêxia coi đất đồi núi là quan trọng và cần hai thác hết mà không gây nguy hại đến môi trường, phù hợp với chính sách phát triển toàn diện của đất nước
Hầu hết các nước đều có chủ trương bảo vệ đất, bảo vệ thiên nhiên bằng biện pháp quy hoạch, chủ trường trồng rừng và cây nông nghiệp trên đất khô cằn thoái hóa
Trung Quốc để sử dụng có hiệu quả 100 triệu ha đất đồi núi chưa sử dụng
Trang 30chính phủ đã xây dựng nhiều chính sách:
Trồng và bảo vệ rừng, về quản lý và sử dụng đất rừng, ổn định chế độ sở hữu đất đồi núi, đất rừng đã giao cho nông dân Diện tích đất hoang trọc chưa giao sẽ cho thuê trên cơ sở hợp đồng tự nguyện
Ấn Độ chủ trương cho người ít đất và nông dân nghèo thuê đất, nhà nước giúp đỡ vật tư, hưỡng dẫn kỹ thuật, đảm bảo lợi ích cho người thuê đất
Mỗi địa phương cần xác lập mô hình kinh doanh phù hợp trên đất dốc: tiến hành xây dựng các mô hình canh tác nông lâm kết hợp, thực hiện đa canh trên vùng sinh thái để dân cư gắn bó lâu dài ở các vùng đất mới Muốn vậy, phải giải quyết đồng bộ các điều kiện kinh tế xã hội, mở mang hệ thống đường giao thông và ngoại vùng (Đào Khang, 1999)
Qua tìm hiểu và đánh giá số lượng diện tích đất chưa sử dụng trên thế giới chưa được nêu rõ là bao nhiêu, nhưng cũng đã có nhiều tài liệu đề cập đến sự hình thành đất chưa sử dụng và phương pháp cải tạo:
- Cho tư nhân thuê đất hợp đồng dài hạn
- Ổn định chế độ sở hữu đất đồi núi
- Trồng rừng và cây nông nghiệp trên đất khô cằn thoái hóa
- Xác lập mô hình kinh doanh phù hợp trên đất dốc
1.4.2 Tình hình sử dụng đất chưa sử dụng ở Việt Nam
1.4.2.1 Giai đoạn 1991-1995:
Đây là giai đoạn thực hiện nghị quyêt 72/BCT của bộ chính trị, quyết định
22 của HĐBT về chiến lược phát triển kinh tế xã hội miền núi, chương trình 327 của thủ tướng chính phủ về sử dụng đất chưa sử dụng, chỉ thị 525/TTg của thủ tướng chính phủ về phát triển kinh tế xã hội miền núi…mục tiêu chuyển từ sản xuất lương thực sang mục tiêu sản xuất hàng hóa Thực hiện đầu tư theo dự án, tập trung đầu tư có trọng điểm, được tính toán dựa trên cở sở có quy hoạch tương quan phát triển kinh tế xã hội Rừng tự nhiên vẫn giảm nhưng tốc độ chậm hơn thời kỳ trước công tác trồng rừng phủ xanh đồi núi trọc được chú ý cao Hàng năm nhà nước đầu
tư vốn ngân sách cho việc trồng rừng tăng lên gấp nhiều lần so với thời kỳ trước đó,
Trang 31đã xuất hiện các mô hình nông lâm kết hợp: Trồng rừng, cây công nghiệp, cây ăn quả,chăn nuôi đã phát huy hiệu quả trên cả nước
Từ sau 1992, định mức khai thác lâm sản giảm, nhất là gỗ, từ 15-20 vạn xuống còn 10-12 vạn m/năm; chủ trương cấm du canh được nhân dân các huyện Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Anh Sơn, Con Cuông chấp hành nghiêm chỉnh;vấn đề lương thực bớt gay gắt, đây là thuận lợi để Nghệ An thực hiện mục tiêu đưa độ che phủ rừng đạt 50% vào năm 2000 (Đào Khang, 1999)
1.4.2.1 Giai đoạn từ năm 1995 đến nay:
Giai đoạn 1995 - 2013: Việc kiểm kê đất đai qua các năm 2000 và 2005 và
2010 thực hiện dự án điều tra đất chưa sử dụng toàn quốc, xác định quỹ đất có khả năng khai thác, mở rộng cho diện tích đất nông lâm nghiệp, phát triển kinh tế, xã hội ở từng tỉnh, vùng kinh tế nông nghiệp và toàn quốc Qua đó thấy rõ được quy
mô diện tích thay đổi khá lớn trên tất cả các vùng kinh tế cả nước Sự biến động về đất chưa sử dụng toàn quốc qua các giai đoạn được trình bày dưới bảng sau:
Bảng 1.4 Biến động đất chưa sử dụng toàn quốc từ 2000 đến 2013
Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường 2000, 2005, 2013
Trong vòng từ 2000-2013 diện tích đất chưa sử dụng toàn quốc giảm 6.066,56 nghìn ha Điều này cũng có nghĩa là khả năng khai thác sử dụng cho mục đích phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp và các mục đích khác đem lại hiệu quả rõ ràng
Trang 321.4.3 Những công trình nghiên cứu sử dụng đất chưa sử dụng ở Việt Nam
Ở Việt Nam những công trình nghiên cứu về đất chưa sử dụng được tiến hành trên phạm vi toàn quốc từ năm 1980 với một số công trình như sau:
Năm 1980: Theo Tổng cục Địa chính nay là (Bộ Tài nguyên và Môi trường), Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp (Viện QH&TKNN), Tổng cục Kinh tế mới tiến hành điều tra xây dựng bản đồ đất vùng đất chưa sử dụng toàn quốc tỷ lệ 1/1.000.000 Diện tích đất chưa sử dụng được công bố thời kỳ này là 12.148,5 nghìn ha Năm 1980 - 1985: Viện QH&TKNN chủ trì, phối hợp cùng với Tổng cục Quản lý ruộng đất và Viện Điều tra Quy hoạch rừng thực hiện đề tài cấp Nhà nước
số 02.15.02.01 “Nghiên cứu đánh giá và quy hoạch sử dụng đất hoang ở Việt Nam"
Tổng diện tích đất hoang được công bố trong giai đoạn này 11.675,9 nghìn ha, phân
bố trên 13 nhóm đất, bao gồm 4.005 khoanh đất hoang trong đó có 1.681 khoanh diện tích dưới 1.000 ha, 202 khoanh diện tích trên 10.000 ha và đề xuất sử dụng đất hoang: cho nông nghiệp 4.145,7 nghìn ha, lâm nghiệp 7.140,6 nghìn ha và các mục đích khác 389,6 nghìn ha
Năm 1993: Viện QH&TKNN đã biên soạn tài liệu: “Đất chưa sử dụng Việt Nam, thực trạng, hướng cải tạo và sử dụng cho sản xuất nông nghiệp đến năm
2000” Để xuất bản được nguồn tài liệu này Viện thu thập và tổng hợp số liệu từ nhiều cơ quan ban ngành; Tổng cục Quản lý ruộng đất, Viện Điều tra Quy hoạch rừng, Viện QH&TKNN, Tổng cục Thống kê Tài liệu đã thống kê số lượng, chất lượng đất chưa sử dụng trên địa bàn cả nước, khả năng sử dụng đất vào sản xuất nông lâm nghiệp và các ngành khác
Năm 1994 công trình bàn về phân loại sử dụng đất ở việt nam của nhóm các nhà khoa học Nguyễn Ngọc Nhị, Bùi Quang Toản, Nguyễn Xuân Quát, võ văn du, Nguyễn Văn Khánh có đề cập đến kết kết quả phân loại đát theo phát sinh của các nhà khoa học đất Việt Nam (theo phát sinh, đất việt nam có 14 nhóm, 68 loại, trong
đó đất đồi núi có 8 nhóm 35 loại, đồng thời đưa ra các chỉ tiêu phân loại sử dụng đất Năm 1995 hội thảo quốc gia về đánh giá và quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền, nhiều công trình mới được công bố:
Trang 33Nguyễn Khang, Phạm Dương Ứng: Báo cáo tóm tắt kết quả bước đầu đánh giá tài nguyên đất đai Việt Nam
Trần An Phong: Ứng dụng nội dung và đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác của FAO vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam
Liên quan đến đất đồi núi Nghệ An còn có các công trình:
Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tài nguyên các tỉnh giáp biển miền Trung Đề tài 52E của UBKHKT Nhà Nước và Bộ giáo dục đào tạo tiến hành năm 1991
Nghiên cứu sử dụng có hiệu quả đất dốc vùng phủ quỳ Nghệ An, luận án PTS của Lê Đình Sơn, Viện KHKT Việt Nam năm 1993
Báo cáo tổng hợp điều tra cơ bản tài nguyên Nghệ An, UBKT tỉnh Nghệ An 6/1993:Thống kê tài nguyên đất các loại(lâm nghiệp, nông nghiệp, chuyên dùng, đất
ở, đất khác) và cả các loại tài nguyên khác(khí hậu, thủy văn, hải sản, khoáng sản)
Đề án tổng quan Công - Nông - Lâm nghiệp Nghệ An đến năm 2000 Sở lâm nghiệp Nghệ An 5/1993: Thống kê được đất lâm nghiệp ở Nghệ An là 1.181.064 ha, trong đó diện tích có rừng là 583.577 ha (49%), không có rừng và núi đá là 598.087
ha (51% diện tích đất lâm nghiệp)
Đề án: Phát triển kinh tế rừng tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011-2015 của UBND tỉnh Nghệ An, bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, đẩy mạnh công tác trồng rừng và khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên, đến năm 2015 trồng được 74.380 ha, nâng độ che phủ rừng đạt 55%
Đánh giá định lượng xói mòn đất đồi núi vùng Thanh- Nghệ- Tĩnh bằng phương trình mặt đất phổ dụng và hệ thống thông tin địa lý của Nguyễn Văn Dũng - Nguyễn Đình Kỳ, Viện Địa lý - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam năm 2012
Đề tài nghiên cứu của Trịnh Văn Bằng: Đánh giá hiện trạng và khả năng khai thác sử dụng đất trống đồi núi trọc huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, đề xuất được hướng khai thác và một số loại hình sử dụng đất đem lại hiệu quả trên đất trống đồi núi trọc
Trang 34Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu loại đất bằng chưa sử dụng, đất đồi núi chưa sử dụng nằm trong nhóm đất chưa sử dụng của huyện Tân Kỳ Trong đó bao gồm cả diện tích đất đã giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng và diện tích
chưa giao (đất chưa có chủ)
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Thực hiện trên địa bàn huyện Tân Kỳ
-Về không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên phạm vi toàn huyện Tân Kỳ với nghiên cứu sâu tập trung trên địa bàn xã Phú Sơn và Đồng Văn
- Về thời gian: Sử dụng số liệu trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến năm 2014
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Điều tra, đánh giá các yếu tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện ảnh hưởng đến việc khai thác, sử dụng tài nguyên đất
- Nghiên cứu đánh giá điều kịên tự nhiên (như vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, tài nguyên đất) ảnh hưởng đến sử dụng đất của huyện Tân Kỳ
- Nghiên cứu các điều kiện kinh tế - xã hội như (thực trạng phát triển kinh tế của huyện, tình hình dân số, lao động, tình hình sử dụng đất, thực trạng cơ sở hạ tầng, ) ảnh hưởng đến sử dụng đất của huyện Tân Kỳ Từ đó rút ra những thuận lợi
và khó khăn đến khả năng khai thác sử dụng đất chưa sử dụng của huyện
2 3.2 Đánh giá hiện trạng đất chưa sử dụng và quá trình hình thành loại đất này.
- Tìm hiểu hiện trạng, trạng thái, đặc điểm đất CSD trên địa bàn huyện
- Tìm hiểu tình hình khai thác sử dụng đất CSD những năm vừa qua
2.3.3 Đánh giá khả năng khai thác sử dụng đất chưa sử dụng huyện Tân Kỳ
a, Tiềm năng đất và điều kiện tự nhiên có thể khai thác
Trang 35chế độ nước, thảm thực vật Dựa vào kết quả phân loại đất của huyện, từ đó đánh giá khả năng khai thác sử dụng đất chưa sử dụng cho việc mở rộng đất sản xuất nông lâm nghiệp trong các năm tới
Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên có thể khai thác như: Khí hậu của huyện có những đặc điểm khác so với khí hậu các huyện trong tỉnh Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9, mùa này mưa tập trung từ tháng 8 đến tháng 10 (chiếm 70% lượng mưa của cả năm) và thường kèm theo gió bão Trên địa bàn huyện Tân Kỳ có Sông Con chảy qua theo hướng từ Đông Sang Tây Có hệ thống sông ngòi khá dày đặc, nhiều khe suối đan xen giữa các dãy núi đã cung cấp nước tưới cho sản xuất đồng thời là vùng đệm để điều hòa dòng chảy của các con sông chính
b, Khả năng đầu tư khai thác
- Đầu tư của nhà nước: khả năng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng (giao thông, thủy lợi ) để tạo điều kiện cho việc khai thác đất chưa sử dụng
-Đầu tư để khai hoang, cải tạo đất
-Đầu tư cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật để phục sản xuất…
- Đầu tư của các tổ chức và hộ gia đình
2.3.4 Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất CSD đã thực hiện những năm qua
a) Tình hình sử dụng đất CSD ở 02 xã nghiên cứu
b) Thực trạng khai thác sử dụng đất chưa sử dụng của các hộ điều tra
- Các loại hình sử dụng đất được áp dụng
- Hiệu qủa của các loại hình sử dụng đất
- Những thuận lợi và khó khăn của người dân trong việc khai thác sử dụng đất chưa sử dụng và nguyện vọng của họ
2.3.5 Đề xuất sử dụng đất chưa sử dụng phục vụ phát triển sản xuất nông lâm nghiệp của huyện
a, Đề xuất hướng sử dụng đất chưa sử dụng đến năm 2020
b, Các giải pháp pháp khai thác sử dụng hiệu quả đất chưa sử dụng
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu đã nghiên cứu trước đây
Trang 36- Tài liệu Quy hoạch sử dụng đất của huyện Tân Kỳ đến năm 2020
2.4.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp
- Thu thập các tư liệu và số liệu có sẵn từ các cơ quan ban ngành trong tỉnh
và huyện: (Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Phát triển Lâm nghiệp) và các phòng ban chức năng của huyện (Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Thống kê, Trung tâm khí tượng thuỷ văn Nghệ An, Nông Lâm trường trên địa bàn huyện) Các số liệu thu thập gồm:
- Thu thập các loại bản đồ: hiện trạng sử dụng đất, hiện trạng rừng, thổ nhưỡng, địa hình, độ dốc; số liệu về tài nguyên nước và các loại số liệu về điều kiện
tự nhiên, kinh tế xã hội trên địa bàn huyện
2.4.3 Phương pháp điều tra thu thập tài liệu, số liệu sơ cấp
- Điều tra thực địa theo phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) về thực trạng đất chưa sử dụng của huyện và các xã điểm lựa chọn
- Điều tra phỏng vấn nông hộ có người dân cùng tham gia (PRA) về tình hình giao đất và sử dụng đất chưa sử dụng (theo phiếu điều tra đã soạn) Chọn xã điểm để điều tra
2.4.4 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu và chọn mẫu
- Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đại diện cho huyện chúng tôi đề tài tiến hành chọn 02 xã điểm có các kiểu địa hình đặc trưng và có nhiều hộ được giao sử dụng đất chưa sử dụng để đánh giá hiện trạng và khả năng khai thác sử dụng đất bổ sung cho diện tích đất nông lâm nghiệp của huyện
- Số lượng mẫu điều tra: 100 mẫu
- Cách chọn mẫu điều tra: mẫu điều tra là các hộ nông dân được chọn ngẫu nhiên
- Nội dung điều tra: Hộ nông dân được chọn điều tra theo phương pháp chọn ngẫu nhiên, bộ câu hỏi phỏng vấn được soạn thảo trên cơ sở mẫu phiếu điều tra đánh giá đất của Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp có bổ sung điều chỉnh
cho phù hợp với đề tài nghiên cứu
Nội dung chính trong điều tra nông hộ mục đích là để phát hiện những nguyên nhân hình thành đất chưa sử dụng được giao:
Trang 37- Kỹ thuật làm đất
- Sử dụng các biện pháp chống xói mòn
- Khả năng khai thác và đưa vào sử dụng
- Phát hiện những giải pháp từ việc khai thác sử dụng đất chưa sử dụng qua
các nông hộ điều tra
2.4.5 Phương pháp phân tích thống kê và xử lý số liệu
- Phân tích số liệu, xử lý số liệu thống kê và số liệu điều tra mẫu bằng phần mềm Excel
2.4.6 Phương pháp so sánh
Hiệu quả của các loại hình sử dụng đất sử dụng đất của 02 xã điều tra được
so sánh với nhau từ đó tìm ra những ưu điểm, thế mạnh của loại hình sử dụng đất của từng vùng
2.4.7 Phương pháp xây dựng bản đồ
Tiến hành chồng xếp các loại bản đồ ( bản dồ hiện trang sử dụng đất, bản đồ đất) từ đó tỉm ra vị trí đất chưa sử dụng nằm trên nhóm đất nào, độ dốc, tầng dày…
Trang 38Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Hình 3.1 Sơ đồ vị trí huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An
Tân Kỳ là huyện miền núi của tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh khoảng
90 km về phía Tây Bắc Có tọa độ địa lý từ 18058'30'' đến 19032'30'' Vĩ độ Bắc và
105002'00'' đến 105014'30'' Kinh độ Đông Ranh giới hành chính tiếp giáp với các địa phương sau:
- Phía Bắc giáp huyện Nghĩa Đàn và huyện Quỳ Hợp;
- Phía Đông giáp huyện Yên Thành và huyện Đô Lương;
- Phía Nam giáp huyện Yên Thành và huyện Đô Lương;
- Phía Tây, Tây Nam giáp huyện Anh Sơn
Huyện Tân Kỳ là đầu mối giao lưu, phát triển kinh tế vùng núi Tây Bắc của tỉnh Nghệ An với cả nước thông qua hệ thống giao thông: Đường Hồ Chí
Trang 39Trại Lạt - Cây Chanh và tuyến đường thuỷ sông Con đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu phát triển kinh tế - xã hội của huyện với các địa phương khác trong và ngoài tỉnh
3.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Địa hình đồi núi chiếm khoảng 80% diện tích tự nhiên của huyện, phần diện tích tương đối bằng phẳng phân bố chủ yếu dọc theo hai bên bờ sông Con Nhìn chung địa hình của huyện nghiêng dần theo hướng từ Tây Bắc xuống Đông Nam, thấp dần về phía sông Con tạo nên thế lòng chảo Địa hình huyện được chia thành 2 dạng sau:
- Địa hình đồi núi: Mật độ núi cao được phân bố chủ yếu dọc theo tuyến địa giới hành chính của huyện, chạy dài từ vùng giáp ranh với Đô Lương, Yên Thành
và Nghĩa Đàn tạo nên hình cánh cung có đỉnh cao nhất là Phù Loi 829m
+ Dãy lèn đá vôi chạy dài từ Rỏi đến Nghĩa Phúc có độ cao từ 100 - 200m,
3.1.1.3 Khí hậu, thời tiết
Tân Kỳ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9, mùa này mưa tập trung từ tháng 8 đến tháng 10 (chiếm 70% lượng mưa của cả năm) và thường kèm theo gió bão Vào tháng 6, 7, 8 nhiệt độ lên cao, cùng với gió Tây Nam khô nóng đã gây ra hạn hán ảnh hưởng đến việc gieo trồng vụ hè thu Mùa khô thường bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ bình quân thường dưới 200C và có rét đậm kéo dài vào tháng 1, 2 ảnh hưởng lớn đến sản xuất vụ Đông Xuân
- Nhiệt độ: Nhiệt độ bình quân hàng năm 230C; Nhiệt độ tối cao tuyệt đối
420C; Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 10C Tổng tích ôn hàng năm từ 3.5000C - 4.0000C
Số giờ nắng bình quân hàng năm từ 1.500 - 1.700 giờ
- Lượng mưa: Lượng mưa bình quân hàng năm khoảng 2.000 mm và chia thành 2 mùa rõ rệt:
Trang 40+ Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 15 - 20% lượng mưa của cả năm, khô hạn nhất vào các tháng 1; 2, lượng mưa chỉ đạt 7 - 60 mm/tháng
+ Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm đến 80 - 85% lượng mưa của cả năm Mưa nhiều nhất vào tháng 8; 9 đạt từ 220 - 550 mm Số ngày mưa lên đến 15 -
20 ngày, mùa này thường có gió bão
- Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trung bình hàng năm tương đối cao, dao động từ 80 - 90% Tháng 9 có độ ẩm cao nhất khoảng trên 90%; Tháng 7 có độ ẩm không khí thấp nhất (khoảng 74%) Lượng nước bốc hơi bình quân hàng năm 781 mm
- Chế độ Gió: Hàng năm huyện Tân Kỳ chịu ảnh hưởng chủ yếu của 2 loại gió: + Gió mùa Đông Bắc: thường xuất hiện vào mùa Đông từ tháng 10 đến tháng
4 năm sau, bình quân hàng năm có khoảng 30 đợt gió mùa Đông Bắc, kèm theo không khí lạnh, khô làm cho nhiệt độ giảm xuống từ 5 - 100C so với ngày thường Tốc độ gió trung bình 3,3 m/s
+ Gió Tây Nam (gió Lào): là loại hình thời tiết đặc trưng của huyện nói riêng và vùng Bắc Trung bộ nói chung Gió Tây Nam thường xuất hiện từ đầu tháng 4 và kết thúc vào tháng 8, song tập trung chủ yếu vào tháng 5, tháng 6 (bình quân hàng năm có khoảng từ 20 - 30 ngày) Gió Tây Nam thường gây khô, nóng và hạn hán, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và sinh hoạt của người dân Tốc độ gió trung bình 4,7 m/s Với đặc điểm khí hậu như trên, cho phép trên địa bàn huyện có thể phát triển nền nông nghiệp đa dạng với các cây trồng, vật nuôi nhiệt đới, tuy nhiên cần lựa chọn hệ thống cây trồng hợp lý để tránh tình trạng úng ngập trong mùa mưa ở các vùng trũng ven sông và tình trạng khô hạn trong mùa khô ở vùng đồi núi Đồng thời cũng có những ảnh hưởng đến việc khai thác sử dụng đất phi nông nghiệp trên địa bàn huyện như tiến độ thi công các công trình, khai thác khoáng sản, vật liệu xây dựng trong mùa mưa…
3.1.1.4 Thủy văn
Huyện Tân Kỳ có hệ thống sông ngòi khá dày đặc, nhiều khe suối đan xen giữa các dãy núi đã cung cấp nước tưới cho sản xuất đồng thời là vùng đệm để điều hòa dòng chảy của các con sông chính