3.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo mô hình trang trại 3.4.4 Đánh giá chung hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo mô hình 3.5 Định hướng và giải pháp phát triển các mô hìn
Trang 11.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 3
1.1.2 Nguyên tắc và các quan điểm sử dụng đất nông nghiệp 6 1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 8
1.2.1 Khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại 10 1.2.2 Vai trò và vị trí của kinh tế trang trại 12 1.2.3 Các văn bản pháp lý liên quan đến mô hình trang trại nông nghiệp 13
1.3.1 Tình hình phát triển trang trại và kinh tế trang trại trên thế giới 16 1.3.2 Loại hình sản xuất trang trại phổ biến trên thế giới 20
1.4.1 Tình hình phát triển trang trại và kinh tế trang trại ở Việt Nam 21 1.4.2 Loại hình sản xuất trang trại phổ biến ở Việt Nam 25
Trang 22.3 Nội dung nghiên cứu 29
2.3.2 Đánh giá tình hình sử dụng đất của huyện Sóc Sơn 29 2.3.3 Tình hình phát triển sản xuất theo mô hình trang trại trên địa
bàn huyện Sóc Sơn giai đoạn 2010 - 2014 29 2.3.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo mô hình trang
2.3.5 Định hướng và giải pháp phát triển các trang trại nông nghiệp
2.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 30
2.4.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất 31
3.1 Đánh giá hiện trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Sóc Sơn 33
3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của huyện Sóc Sơn 40 3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan
đến sử dụng đất và sản xuất nông nghiệp 46 3.2 Đánh giá tình hình sử dụng đất của huyện Sóc Sơn 47 3.2.1 Biến động sử dụng đất của huyện Sóc Sơn giai đoạn 2010 - 2014 47 3.2.2 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện Sóc Sơn 49 3.3 Đánh giá tình hình phát triển sản xuất theo mô hình trang trại trên
3.3.1 Số lượng trang trại nông nghiệp trên địa bàn huyện Sóc Sơn giai
3.3.2 Loại hình sản xuất trang trại của huyện giai đoạn 2010 - 2014 52 3.3.3 Quy mô và hiện trạng sản xuất các trang trại trên địa bàn huyện Sóc Sơn 57
Trang 33.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo mô hình trang trại
3.4.4 Đánh giá chung hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo mô hình
3.5 Định hướng và giải pháp phát triển các mô hình trang trại có hiệu
3.5.1 Định hướng phát triển các mô hình trang trại của huyện Sóc Sơn 70 3.5.2 Những tồn tại trong phát triển kinh tế trang trại 70 3.5.3 Đề xuất phát triển các loại hình sản xuất trang trại trên địa bàn huyện 71 3.5.4 Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo
Trang 4TTCN Tiểu thủ công nghiệp
VACR Vườn - ao - chuồng - rừng
Trang 5DANH MỤC BẢNG
1.1 Biến động diện tích đất nông nghiệp và diện tích đất sản xuất nông
1.2 Số lượng trang trại năm 2013 phân theo lĩnh vực sản xuất 27 3.1 Diện tích, cơ cấu các loại đất của huyện Sóc Sơn 36 3.2 Biến động sử dụng đất của huyện Sóc Sơn giai đoạn 2010 - 2014 48 3.3 Diện tích đất nông nghiệp của huyện Sóc Sơn năm 2014 49 3.4 Số lượng các trang trại nông nghiệp trên địa bàn huyện Sóc Sơn
3.10 Thu nhập bình quân của người lao động trong các trang trại 61
3.13 Đánh giá chung về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo mô hình
Trang 6DANH MỤC ĐỒ THỊ, HÌNH ẢNH
3.1 So sánh cơ cấu kinh tế huyện Sóc Sơn năm 2010 - 2014 41 3.2 Cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp huyện Sóc Sơn năm 2014 42 3.3 Tình hình biến động đất đai của huyện Sóc Sơn giai đoạn 2010 -2014 49 3.4 Mô hình trang trại chăn nuôi của gia đình ông Nghiêm Xuân Hùng
3.5 Mô hình trang trại chăn nuôi gà thịt của ông Đỗ Văn Thanh xã
3.6 Mô hình trang trại trồng lúa kết hợp với thả cá của ông Vương
3.7 Đánh giá ảnh hưởng hoạt động của chăn nuôi trong trang trại tới
3.8 So sánh môi trường của trang trại chăn nuôi và chăn nuôi truyền
Trang 7MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, ngư nghiệp
có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hóa Kinh tế trang trại có vai trò thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, góp phần đưa công nghiệp hóa, hiện đại hóa vào sản xuất nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hình thành quan hệ sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn Kinh tế trang trại giúp huy động khai thác các nguồn lực trong dân, giải quyết việc làm cho lao động xã hội, làm giàu cho nông dân, làm giàu cho đất nước, và quan trọng nhất kinh tế trang trại sẽ giúp cho việc
sử dụng và bảo vệ có hiệu quả tài nguyên đất đai Ngày nay, trang trại là loại hình tổ chức sản xuất phổ biến trong nền nông nghiệp của hầu hết các quốc gia trên thế giới
Việt Nam đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
sự phát triển của kinh tế nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân Tuy nhiên, để phát huy sức mạnh của nền nông nghiệp nước nhà thì nền nông nghiệp lạc hậu, tự cung tự cấp cần được thay đổi bởi một nền nông nghiệp hiện đại, có sự ứng dụng rộng rãi của khoa học kỹ thuật, cần có sự thay đổi các loại hình sử dụng đất và đưa các mô hình sử dụng đất khác nhau để có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất Hiện nay, mô hình phù hợp mang lại lợi ích là
mô hình kinh tế trang trại Mô hình kinh tế trang trại có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội nước nhà, góp phần đưa nông nghiệp nông thôn Việt Nam lên một tầm cao mới Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, đến nay cả nước có khoảng 120.000 trang trại, bình quân mỗi năm số trang trại tăng gần 6%, diện tích đất sử dụng trên 900.000 ha, đa số trang trại là quy mô nhỏ Hàng năm, các trang trại tạo khoảng 30 vạn việc làm thường xuyên và 6 triệu ngày công lao động thời vụ, đóng góp cho nền kinh tế trên 12.000 tỷ đồng giá trị sản lượng Việc phát triển nhanh cả số lượng lẫn chất lượng trang trại đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Huyện Sóc Sơn là huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội, chủ yếu vẫn
Trang 8là sản xuất nông nghiệp Huyện có đầy đủ điều kiện thuận lợi để phát triển nền nông nghiệp với nhiều mô hình sử dụng đất khác nhau Trong đó, mô hình trang trại đang thể hiện những tiến bộ, sự phù hợp với xu thế phát triển hàng hóa tập trung đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Năm 2000, huyện Sóc Sơn chỉ có 17 trang trại với diện tích hơn 50 ha, vốn đầu tư cho một trang trại là 20 triệu đồng, lợi nhuận một năm thu về không đáng kể Đến nay, toàn huyện đã có 124 trang trại, thâm canh trên diện tích 432,4 ha, vốn đầu tư cho một trang trại là 414,8 triệu đồng, lợi nhuận thu về của mỗi trang trại một năm đạt hơn 50 triệu đồng, thu hút 400 lao động làm việc Sử dụng đất nông nghiệp theo
mô hình trang trại ở huyện Sóc Sơn đang thể hiện hướng đi đúng đắn, vì vậy việc đánh giá thực trạng và định hướng sử dụng đất nông nghiệp theo mô hình này là việc làm hết sức cần thiết
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tôi xin được tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Đánh giá thực trạng và định hướng sử dụng đất nông nghiệp theo mô hình trang trại trên địa bàn huyện Sóc Sơn - thành phố Hà Nội”
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Nắm chắc cách thức điều tra, nguyên tắc, quy trình và phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất
- Nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, các chỉ tiêu phải đảm bảo tính chính xác và hệ thống
- Số liệu điều tra, thu thập phản ánh trung thực, khách quan các điều kiện trên địa bàn huyện
- Những đề xuất, kiến nghị phải có tính khả thi phù hợp với điều kiện hiện tại và tương lai của địa phương
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam
1.1.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1.1 Trên thế giới
Trong sản xuất nông nghiệp thì đất đai là nhân tố vô cùng quan trọng Trên thế giới, mặc dù sự phát triển của sản xuất nông nghiệp của các nước không giống nhau nhưng tầm quan trọng của nó đối với xã hội thì quốc gia nào cũng thừa nhận Hầu hết các nước đều coi nông nghiệp là cơ sở nền tảng của sự phát triển Tuy nhiên, khi dân số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn Trong khi đó đất đai lại có hạn, đặc biệt quỹ đất nông nghiệp lại có xu hướng giảm do chuyển sang các mục đích phi nông nghiệp Để đảm bảo an ninh lương thực loài người phải tăng cường các biện pháp khai thác, khai hoang đất đai phục vụ cho mục đích nông nghiệp Vì vậy đất đai là đối tượng bị khai thác triệt để, trong khi đó các biện pháp bảo vệ và tăng độ phì cho đất không được chú trọng dẫn tới hậu quả môi trường sinh thái bị phá vỡ, hàng loạt diện tích đất bị thoái hóa trên phạm vi toàn thế giới, người ta ước tính có tới 15% tổng diện tích đất trên trái đất bị thoái hoá do những hành động bất cẩn của
con người gây ra
Theo P.Buringh, toàn bộ đất nông nghiệp của thế giới khoảng 3,3 tỉ ha (chiếm khoảng 22% tổng diện tích đất liền); Phần diện tích còn lại (khoảng 78%, tương đương 11,7 tỷ ha) không dùng được vào nông nghiệp Trong tổng số 3,3 tỷ
ha đất nông nghiệp, con người hiện đang sử dụng cho trồng trọt khoảng 1,5 tỉ ha (chiếm xấp xỉ 10,8% tổng diện tích đất đai và 46% đất đang có khả năng trồng
trọt) Như vậy, còn 54% đất có khả năng trồng trọt chưa được khai thác (Hội khoa học kinh tế Việt Nam, 2000)
Trên thế giới đất đai phân bố ở các châu lục không đều Châu Á tuy có diện tích đất nông nghiệp khá cao so với các châu lục khác nhưng tỉ lệ diện tích đất nông nghiệp trên diện tích tự nhiên thấp, trong khi đây là khu vực có tỷ lệ dân
Trang 10số đông trên thế giới Có các quốc gia dân số đông nhất nhì thế giới như: Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia Ở Châu Á đất đồi núi chiếm 35% tổng diện tích, tiềm năng đất trồng trọt nhờ nước trời là khá lớn khoảng 407 triệu ha, trong đó xấp xỉ
282 triệu ha đang được trồng trọt
Đông Nam Á là một khu vực có dân số khá đông trên thế giới nhưng diện tích canh tác thấp, trong đó chỉ có Thái Lan là diện tích đất canh tác trên đầu người khá nhất và Việt Nam là quốc gia đứng vào hàng thấp nhất trong số các
quốc gia ASEAN (Hoàng Văn Hoa, 1995)
1.1.1.2 Ở Việt Nam
Việt Nam là nước có diện tích đứng thứ 4 ở vùng Đông Nam Á, nhưng dân số lại đứng ở vị trí thứ 2 nên bình quân diện tích trên đầu người xếp vào hàng thứ 9 trong khu vực Theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục thống kê, tính đến ngày 01/01/2014 diện tích đất nông nghiệp cả nước là 26.822,9 nghìn ha, trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp có 10.231,7 nghìn
ha Bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp đạt 1.127,7m2/người (Tổng cục Thống kê, 2014)
Bảng 1.1 Biến động diện tích đất nông nghiệp và diện tích đất sản xuất
nông nghiệp của cả nước Năm TDT đất
nông nghiệp
(1000 ha)
TDT đất sản xuất nông nghiệp (1000 ha)
Dân số (1.000 người) Bình quân diện tích đất sản xuất nông
Trang 11Phương hướng chủ yếu phát triển nông nghiệp Việt Nam trong những năm tới sẽ là:
- Tập trung vào sản xuất nông sản hàng hoá theo nhóm ngành hàng, nhóm sản phẩm, xuất phát từ cơ sở dự báo cung cầu của thị trường nông sản trong nước, thế giới và dựa trên cơ sở khai thác tốt lợi thế so sánh của các vùng
- Xác định cơ cấu sản phẩm trên cơ sở các tiềm năng tự nhiên, kinh tế,
xã hội của từng vùng, lấy hiệu quả kinh tế tổng hợp làm thước đo để xác định cơ cấu, tỷ lệ sản phẩm hợp lý về các chỉ tiêu, kế hoạch đối với từng nông sản hàng hoá
- Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, tăng tỷ trọng cây công nghiệp, rau quả so với cây lương thực, giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp xuống dưới 50% Tăng quỹ đất nông nghiệp bình quân trên một lao động nông nghiệp Đồng thời đẩy mạnh công nghiệp hoá, phát triển ngành nghề công nghiệp, dịch vụ ngoài nông nghiệp Mặt khác, cần phải phát triển mạnh các ngành nghề, dịch vụ trong nông nghiệp để giải quyết lao động nông nhàn
Khối lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam tăng liên tục trong hơn 10 năm qua, từ năm 1997 Việt Nam trở thành nước đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo Rau quả, cà phê, cao su, chè, điều, hồ tiêu đều tăng về sản lượng, khối lượng và kim ngạch xuất khẩu Về chăn nuôi, trong thời gian trên, các đàn gia súc, sản lượng thịt, trứng, sữa đều tăng Thuỷ hải sản nuôi trồng, khai thác cũng đều tăng về sản lượng, kim ngạch xuất khẩu nông sản trong 11 năm gần đây bình quân tăng mỗi năm 20% đã đạt và vượt 11 tỷ USD
Bên cạnh những thành tựu đạt được, nền nông nghiệp Việt Nam cũng tồn tại và phát sinh một số vấn đề:
- Quỹ rừng, quỹ đất, quỹ nước, quỹ gien của nông nghiệp đang bị thu hẹp đến giới hạn thấp, ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp
Rừng đang suy giảm nhanh về số lượng và chất lượng Diện tích rừng chỉ còn chiếm 27,7% diện tích tự nhiên, thấp xa so với độ an toàn của môi trường sinh thái
Trang 12Đất nông nghiệp và đất canh tác bình quân đầu người ngày càng giảm, do dân số vẫn tiếp tục tăng nhanh, dẫn đến sự thiếu hụt tư liệu cơ bản để phát triển sản xuất nông nghiệp Diện tích đất đai bị xói mòn, thoái hóa do việc phá rừng gây ra cũng đang ngày càng tăng lên
- Môi trường sinh thái đang bị ô nhiễm nghiêm trọng ở một số địa phương
do chất thải công nghiệp, do sử dụng bừa bãi phân hóa học, hóa chất trừ sâu, diệt
cỏ, gây ô nhiễm đất canh tác, nguồn nước mặt, nước ngầm và để dư lượng chất độc hại trong nông sản thực phẩm
- Đói nghèo đang tồn tại ở nhiều vùng miền núi cũng như vùng nông thôn đồng bằng
1.1.2 Nguyên tắc và các quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
1.1.2.1 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi đó nhu cầu sử dụng đất ngày càng gia tăng, đặc biệt đất nông nghiệp có xu hướng ngày càng giảm do bị trưng dụng sang các mục đích phi nông nghiệp Vì vậy, sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta với mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở bảo đảm an ninh lương thực, thực phẩm, bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp, đảm bảo khả năng phòng hộ môi trường, bảo vệ tính đa dạng sinh học, bảo vệ hệ động thực vật quý hiếm của rừng, phát triển công nghiệp chế biến vừa và nhỏ với thiết bị công nghệ tiên tiến; khai thác tiềm năng lao động, giải quyết công ăn việc làm góp phần xoá đói, giảm nghèo, thu hút nguồn lực đầu tư, nâng cao vai trò và giá trị đóng góp của ngành nông - lâm nghiệp vào phát triển kinh tế quốc dân
Sản xuất nông nghiệp trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển kinh
tế xã hội, tận dụng được tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên đất Do đó đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc "đầy đủ, hợp lý và hiệu quả"
- Đầy đủ: Đây là nguyên tắc quan trọng, đảm bảo diện tích đất canh tác luôn đáp ứng được nhu cầu về an toàn lương thực, diện tích đất nông nghiệp đáp
Trang 13ứng được tiêu chuẩn môi trường sinh thái được bền vững cũng như nhu cầu sinh hoạt của con người
- Hợp lý: Đây là nguyên tắc giúp cho việc khai thác, sử dụng đất đạt hiệu quả cao nhưng vẫn đảm bảo được tính an toàn và hiệu quả
- Hiệu quả: Trong khai thác và quản lý sử dụng đất tính hiệu quả cao nhất
cả về kinh tế, xã hội và môi trường Mặt khác có những quan điểm đúng đắn theo
xu hướng tiến bộ phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, làm cơ sở thực hiện sử dụng đất có hiệu quả kinh tế xã hội cao
1.1.2.2 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
Theo Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2011 – 2020 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, quan điểm sử dụng đất nông nghiệp:
- Tận dụng triệt để các nguồn lực thuận lợi, khai thác lợi thế so sánh về khoa học kỹ thuật, đất đai, lao động để phát triển cây trồng, vật nuôi có tỷ xuất hàng hóa cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu
- Áp dụng phương thức sản xuất nông lâm kết hợp, lựa chọn các loại hình
sử dụng đất thích hợp, đa dạng hoá sản phẩm, chống xói mòn, thâm canh sản xuất bền vững
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp trên cơ sở thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với sinh thái và bảo vệ môi trường
- Phát triển nông lâm nghiệp một cách toàn diện và có hệ thống trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển theo chiều sâu, đáp ứng yêu cầu đa dạng hoá của nền kinh tế quốc dân
- Phát triển nông nghiệp toàn diện gắn liền với việc xoá đói giảm nghèo, giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và phát huy nền văn hoá truyền thống của các dân tộc, không ngừng nâng cao vai trò nguồn lực của con người
- Phát triển kinh tế nông nghiệp trên cơ sở áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của địa phương phải gắn liền
Trang 14với định hướng phát triển kinh tế, xã hội của vùng và cả nước (Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn, 2010)
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.1.3.1 Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết, địa hình, thổ nhưỡng…)
có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp,
vì các yếu tố của điều kiện tự nhiên là tài nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối
Vì vậy, cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên để trên cơ sở đó xác định cây trồng vật nuôi chủ lực phù hợp, định hướng đầu tư thâm canh đúng
Theo Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch I Theo N.Borlang, người được giải Nobel về giải quyết lương thực cho các nước phát triển cho rằng: yếu tố duy nhất quan trọng hạn chế năng suất cây trồng ở tầm cỡ thế giới trong các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông dân thiếu vốn là độ
phì đất (Hội Khoa học đất, 2000)
1.1.3.2 Nhóm yếu tố kinh tế, kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của các quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế Đây là những tác động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh và sắc sảo Trên cơ sở nghiên cứu các quy luật tự nhiên của sinh vật để lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các đầu vào nhằm đạt được các mục tiêu sử dụng đất đề ra Theo Frank Ellis và Douglass C.North, ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới đối với tổ chức sử dụng đất Có nghĩa là ứng dụng công nghiệp sản xuất tiến
bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh Cho đến giữa thế kỷ 21, trong nông nghiệp nước ta, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả
sử dụng đất nông nghiệp (Nguyễn Sinh Cúc, 2007)
Trang 151.1.3.3 Nhóm yếu tố kinh tế tổ chức
Nhóm yếu tố này bao gồm:
- Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất
Thực hiện phân vùng sinh thái nông nghiệp dựa vào điều kiện tự nhiên, dựa trên cơ sở phân tích, dự báo và đánh giá nhu cầu của thị trường, gắn với quy hoạch phát triển công nghiệp chế biến, kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực
và các thể chế luật pháp về bảo vệ tài nguyên, môi trường Đó là cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng vật nuôi và khai thác đất một cách đầy đủ, hợp lý, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiến hành tập trung hoá, chuyên môn hoá, hiện đại hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Hình thức tổ chức sản xuất
Các hình thức tổ chức sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Vì thế, cần phát huy thế mạnh của các loại hình tổ chức sử dụng đất trong từng cơ sở sản xuất, thực hiện
đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập một hệ thống tổ chức sản xuất phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa các hình thức đó
1.1.3.4 Nhóm các yếu tố xã hội
Nhóm yếu tố này bao gồm:
- Hệ thống thị trường và sự hình thành thị trường đất nông nghiệp, thị trường nông sản phẩm Theo Nguyễn Duy Tính (1995), ba yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là: năng suất cây trồng, hệ số quay vòng đất và thị trường cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra
- Hệ thống chính sách (đất đai, hỗ trợ, điều chỉnh cơ cấu đầu tư )
- Sự ổn định chính trị - xã hội và các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp của Nhà nước
- Những kinh nghiệm, tập quán sản xuất nông nghiệp, trình độ năng lực của các chủ thể kinh doanh, trình độ đầu tư
Theo Douglass C.North, sự thay đổi công nghệ và sự thay đổi hợp lý các thể chế là những yếu tố then chốt cho sự tiến triển của kinh tế - xã hội
Trang 161.2 Tổng quan chung về trang trại
1.2.1 Khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại
1.2.1.1 Khái niệm trang trại
- Trang trại nói chung là cơ sở sản xuất nông nghiệp, là đơn vị sản xuất nông nghiệp độc lập tự chủ, là chủ thể pháp lý có tư cách pháp nhân trong các quan hệ kinh tế xã hội
- Trang trại có cơ sở vật chất kỹ thuật để đảm bảo sản xuất nông nghiệp có
tổ chức lao động sản xuất kinh doanh, có quản lý kiểu doanh nghiệp (hạch toán kinh tế)
- Trang trại là tổ chức sản xuất nông nghiệp có vị trí trung tâm thu hút các hoạt động kinh tế của các tổ chức sản xuất tư liệu sản xuất, các hoạt động dịch vụ
và các tổ chức chế biến tiêu thụ nông sản
- Trang trại có các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất và phương thức quản
lý khác nhau:
+ Trang trại gia đình: là loại hình trang trại phổ biến nhất trong nông nghiệp ở tất cả các nước, thường do các chủ gia đình làm chủ và quản lý sản xuất kinh doanh của trang trại, sử dụng lao động gia đình là chủ yếu và có thể sử dụng lao động thuê ngoài, sở hữu một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất (ruộng đất, công cụ sản xuất, vốn…) cũng có thể đi thuê ngoài một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất trên
+ Trang trại tư bản tư nhân: là loại hình trang trại nông nghiệp ít phổ biến
ở các nước, đến nay số lượng không nhiều thường là các trang trại tư bản tư nhân, công ty cổ phần, sản xuất kinh doanh trên cơ sở sử dụng lao động làm thuê
kể cả lao động sản xuất và lao động quản lý
- Trang trại thường có các quy mô khác nhau (nhỏ, vừa và lớn) song song tồn tại lâu dài với sự thay đổi về cơ cấu tỷ lệ và quy mô trung bình… Trang trại thường có các cơ cấu sản xuất khác nhau với cơ cấu thu nhập khác nhau, trong và ngoài nông nghiệp, với phương thức quản lý kinh doanh khác nhau (chuyên môn hoá, đa dạng hoá sản phẩm) với trình độ năng lực sản xuất khác nhau
- Phân loại trang trại theo lĩnh vực sản xuất bao gồm:
Trang 17+ Trang trại trồng trọt
+ Trang trại chăn nuôi
+ Trang trại lâm nghiệp
+ Trang trại nuôi trồng thuỷ sản
+ Trang trại tổng hợp
Tóm lại: Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của chủ thể độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung tương đối lớn, với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường
1.2.1.2 Khái niệm kinh tế trang trại
- Theo nghị quyết số 03/2000/NQ-CP của Thủ tướng Chính phủ ngày 02/02/2000 về kinh tế trang trại: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản”
- Kinh tế trang trại là nền kinh tế sản xuất nông sản hàng hoá, phát sinh và phát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá, thay thế cho nền kinh tế tiểu nông tự cấp tự túc
- Kinh tế trang trại là tổng thể các quan hệ kinh tế của các tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp bao gồm: các hoạt động trước và sau sản xuất nông sản hàng hoá xung quanh các trục trung tâm là hệ thống các trang trại thuộc các ngành nông, lâm, ngư nghiệp ở các vùng kinh tế khác nhau
- Kinh tế trang trại là sản phẩm thời kỳ công nghiệp hoá Quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại gắn liền với quá trình công nghiệp hoá từ thấp đến cao Thời kỳ bắt đầu công nghiệp hoá kinh tế trang trại với tỷ trọng còn thấp, quy mô nhỏ và năng lực sản xuất hạn chế, nên chỉ đóng vai trò xung kích trong sản xuất nông sản hàng hoá phục vụ công nghiệp hoá Thời kỳ công nghiệp
Trang 18hoá đạt trình độ kinh tế trang trại với tỷ trọng lớn, quy mô lớn và năng lực sản xuất lớn trở thành lực lượng chủ lực trong sản xuất nông sản hàng hoá cũng như hàng nông nghiệp nói chung phục vụ công nghiệp hoá Kinh tế trang trại phát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá, phục vụ nhu cầu sản xuất hàng hoá trong công nghiệp là phù hợp với quy luật phát triển kinh tế, là một tất yếu khách quan của nền kinh tế nông nghiệp trong quá trình chuyển từ sản xuất tự cấp, tự túc lên sản xuất hàng hoá
- Kinh tế trang trại là loại hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp mới có tính ưu việt hơn hẳn so với các loại hình sản xuất nông nghiệp khác như: Kinh tế nông nghiệp phát canh thu tô, kinh tế tư bản tư nhân, đồn điền, kinh tế cộng đồng, nông nghiệp tập thể, kinh tế tiểu nông
- Kinh tế trang trại đến nay đã khẳng định vị trí của mình trong sản xuất hàng hoá thời kỳ công nghiệp hoá ở các ngành sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp
ở các vùng kinh tế ở nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, đã thích ứng với các trình độ công nghiệp hoá khác nhau
1.2.2 Vai trò và vị trí của kinh tế trang trại
Kinh tế trang trại có vai trò tích cực và quan trọng cả về kinh tế, xã hội và môi trường:
- Về kinh tế: Kinh tế trang trại là bước phát triển mới của sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp
+ Kinh tế trang trại góp phần xóa bỏ nền kinh tế tự cung, tự cấp và thúc đẩy kinh tế hàng hóa phát triển ở nông thôn
+ Kinh tế trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các loại cây trồng vật nuôi có giá trị cao, khắc phục tình trạng sản xuất phân tán, manh mún, tạo nên những vùng chuyên môn hóa, tập trung hóa cao
+ Kinh tế trang trại góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, là mô hình gắn kết giữa nông nghiệp và công nghiệp, là xu thế phát triển công nghiệp nông thôn Đặc biệt là công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn, kinh tế trang trại đảm nhận khâu cung cấp nguồn nguyên liệu cho các cơ sở chế biến Thực tế cho thấy việc phát triển kinh tế trang trại ở những nơi có điều kiện bao
Trang 19giờ cũng đi liền với việc khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp, nông thôn
+ Kinh tế trang trại có khả năng tận dụng được mọi nguồn lao động chính, phụ trong từng hộ nông dân, đồng thời thu hút được lao động dư thừa ở nông thôn, góp phần tạo việc làm, cải thiện đời sống cho một bộ phân dân cư
+ Kinh tế trang trại góp phần tích cực vào thúc đẩy tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn
- Về mặt xã hội:
Kinh tế trang trại làm tăng số hộ giàu trong nông thôn, tạo thêm việc làm
và thu nhập cho người lao động, góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng trong nông thôn, tạo tấm gương cho hộ nông dân về cách thức tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh
- Về môi trường:
Do sản xuất kinh doanh tự chủ và vì lợi ích thiết thực, lâu dài của mình
mà các chủ trang trại có ý thức khai thác hợp lý và quan tâm đến việc bảo vệ môi trường Trước hết là bảo vệ trong phạm vi không gian sinh thái trang trại
và sau đó là phạm vi từng vùng Các trang trại ở trung du, miền núi góp phần quan trọng vào việc trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi trọc và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất
(Nguyễn Đình Hương, 2000)
1.2.3 Các văn bản pháp lý liên quan đến mô hình trang trại nông nghiệp
Những biểu hiện của mô hình kinh tế trang trại ở nước ta được hình thành
từ rất sớm, đi liền với nó là những quy định cụ thể Những quy định liên quan đến mô hình kinh tế trang trại nông nghiệp ở những năm của thời kỳ phong kiến hay thời kỳ thực dân Pháp xâm lược chưa được cụ thể thành những quy định, điều, luật Sau khi thống nhất đất nước, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (1988) đã được ban hành cùng với đó là Luật Đất đai, Luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp và các Nghị định hướng dẫn nhằm thể chế hóa chính sách đối với kinh tế tư nhân trong nông nghiệp Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ năm khóa VII năm
1993 đã chủ trương khuyến khích phát triển các nông, lâm, ngư trại với quy mô
Trang 20thích hợp Luật Đất đai năm 1993 và Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 cũng đã thể chế hóa chính sách đất đai đối với các hộ gia đình và cá nhân trong việc kinh
doanh nông nghiệp (Hội khoa học kinh tế Việt Nam, 1996)
Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại đã nhấn mạnh chủ trương của Chính phủ trong việc phát triển kinh tế trang trại Điều đó đã tạo điều kiện hợp pháp cho loại hình kinh tế trang trại phát huy năng lực sản xuất, kinh doanh thông qua các chính sách ưu đãi về nhiều mặt đối với kinh tế trang trại Mặt khác, hình thành các tiêu chí kinh tế về trang trại nhằm tạo điều kiện quản lý, hỗ trợ và khuyến khích phát triển kinh tế trang trại trong nền kinh tế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước
Để xác định một đơn vị sản xuất kinh doanh cơ sở trong nông nghiệp có phải là trang trại hay không cần phải có tiêu chí để nhận dạng Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 69/2000/TTLT-BNN-TCTK ngày 23 tháng 6 năm 2000 hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại, thông tư nêu rõ:
Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản được xác định là trang trại phải đạt được cả hai tiêu chí định lượng sau đây:
1 Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân 1 năm:
- Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung từ 40 triệu đồng trở lên
- Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên từ 50 triệu đồng trở lên
2 Quy mô sản xuất phải tương đối và vượt trội với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế
a Đối với trang trại trồng trọt
(1) Trang trại trồng cây hàng năm
+ Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung + Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên
(2) Trang trại trồng cây lâu năm
+ Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung + Từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên
Trang 21+ Trang trại trồng hồ tiêu 0,5 ha trở lên
(3) Trang trại lâm nghiệp
Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước
b Đối với trang trại chăn nuôi
(1) Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò…
+ Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên
+ Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên
(2) Chăn nuôi gia súc: lợn, dê…
+ Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối với hon 20 con trở lên, đối với
dê, cừu từ 100 con trở lên
+ Chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn sữa), dê thịt từ 200 con trở lên
(3) Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng… có thường xuyên từ 2.000 con trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi)
c Trang trại nuôi trồng thuỷ sản
Diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản có từ 2 ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên)
d, Đối với các loại sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản
có tính chất đặc thù như: trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thuỷ
sản và thuỷ đặc sản thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hoá (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và Tổng cục thống kê, 2000)
Để thay thế Thông tư 69/2000/TTLT-BNN-TCTK, ngày 13 tháng 4 năm
2011 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh
tế trang trại Thông tư nêu rõ:
Cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại phải thỏa mãn điều kiện sau:
* Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp phải đạt: a) Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu:
- 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long;
Trang 22- 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại
b) Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm
* Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên;
* Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên
Tiêu chí xác định kinh tế trang trại được điều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳ, ổn định trong thời gian tối thiểu là
5 năm.(Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2011)
1.3 Trang trại nông nghiệp trên thế giới
1.3.1 Tình hình phát triển trang trại và kinh tế trang trại trên thế giới
1.3.1.1 Tình hình phát triển trang trại và kinh tế trang trại ở một số nước Châu Á
Ở Châu Á, chế độ phong kiến kéo dài cho nên kinh tế trang trại sản xuất hàng hóa ra đời chậm hơn Tuy vậy, vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX sự xâm nhập của tư bản phương Tây vào các nước Châu Á, cùng với việc xâm nhập của phương thức sản xuất kinh doanh tư bản chủ nghĩa, đã làm nảy sinh hình thức kinh tế trang trại trong nông nghiệp Trong quá trình phát triển kinh tế trang trại
ở các nước trên thế giới đã có sự biến động lớn về quy mô, số lượng và cơ cấu trang trại
Ở khu vực Châu Á, do đất canh tác trên đầu người vào loại thấp nhất thế giới, bình quân có 0,15 ha/người như Đài Loan: 0,047 ha/người, Malaixia: 0,25 ha/người, Hàn Quốc: 0,053 ha/người, Nhật Bản 0,035 ha/người… Ở các nước có nền kinh tế phát triển: Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản sự phát triển kinh tế trang trại cũng theo quy luật, số lượng trang trại giảm và quy mô diện tích tăng Ở Nhật Bản, năm 1950 số trang trại là 6.176.000, năm 1993 là 3.691.000 trang trại Số lượng trang trại giảm bình quân hàng năm 1,2% Diện tích trang trại bình quân năm 1950 là 0,8 ha, năm 1993 là 1,38 ha, tốc độ tăng diện tích bình quân hàng năm là 1,3% Ở Đài Loan, năm 1955 số trang trại là 1,12 ha 744.000, năm 1988
là 739.000 trang trại Tốc độ trang trại giảm bình quân 0,02% Diện tích trang trại
Trang 23bình quân năm 1955 là 1,12 ha năm 1988 là 1,21 ha Tốc độ tăng diện tích trang trại bình quân hàng năm là 0,2% Ở Hàn Quốc, năm 1953 có 2.249.000 trang trại, năm 1979 giảm xuống 1.172.000 trang trại Số lượng trang trại giảm bình quân hàng năm 0,7%, diện tích bình quân của trang trại tăng bình quân hàng năm là
0,9% (Hội Khoa học kinh tế Việt Nam, 2000)
Nhật Bản là nước có mô hình trang trại phát triển khá mạnh, hiện nay Nhật Bản có các loại hình trang trại sau:
- Các trang trại chuyên làm nông nghiệp: không làm việc khác và nguồn thu nhập duy nhất là sản xuất nông nghiệp Năm 1988, có 62.000 cơ sở quy mô diện tích từ 2 - 3 ha trở lên, bình quân 4 ha, sản xuất 45% sản lượng thóc gạo của
cả nước Ngoài ra, còn có các loại trang trại chăn nuôi: lợn, gà, bò sữa, bò thịt có quy mô lớn và chuyên môn hóa
- Các trang trại làm nông nghiệp chính: Thu nhập từ nông nghiệp là chủ yếu, ngoài ra còn làm các công việc ngoài nông nghiệp nhưng thu nhập không đáng kể Năm 1988, có 404.000 cơ sở có quy mô từ 1 - 2 ha Sử dụng lao động gia đình sản xuất nông nghiệp trong lúc thời vụ khẩn trương, lúc nông nhàn đi làm công nhân ở xí nghiệp hoặc làm ngành nghề thủ công ngay ở trang trại như lắp ráp linh kiện điện tử, nghề thủ công mỹ nghệ
Ở Châu Á nói chung, hiện tượng tích tụ ruộng đất diễn ra chậm nên xảy ra tình trạng phân tán, manh mún ruộng đất, đây là một trong những trở ngại trong vấn đề phát triển kinh tế trang trại
1.3.1.2 Tình hình phát triển trang trại và kinh tế trang trại ở một số nước Châu Âu
Châu Âu cái nôi của của cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, đã xuất hiện hình thức tổ chức sản xuất kinh tế trang trại, thay thế cho hình thức kinh tế tiểu nông và hình thức điền trang của chế độ phong kiến Nước Anh đầu thế kỷ XVII
có sự tập trung ruộng đất đã hình thành nên những trang trại tập trung trên quy
mô rộng lớn, cùng với việc sử dụng lao động làm thuê Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp ở đây giống như mô hình hoạt động ở các công xưởng Thực tế cho thấy, sản xuất nông nghiệp tập trung lớn về quy mô và sử dụng
Trang 24nhiều lao động làm thuê đã không mang lại hiệu quả kinh tế cao bằng các trang trại vừa và nhỏ
Các nước Pháp, Hà Lan, Đan Mạch… kinh tế trang trại cũng được phát triển mạnh tạo ra nhiều nông sản hàng hóa Nước Anh năm 1950 có 543.000 trang trại đến năm 1957 còn có 25.400 trang trại Nước Pháp năm 1955 có 2.285.000 trang trại đến năm 1993 chỉ còn 801.000 trang trại Diện tích bình quân của các trang trại qua các năm có xu hướng tăng lên như: ở Anh năm 1950 diện tích bình quân một trang trại là 36 ha, Cộng hòa liên bang Đức năm 1949 là
11 ha năm 1985 là 15 ha, Hà Lan năm 1960 là 7 ha đến năm 1987 là 1 ha (Hội Khoa học kinh tế Việt Nam, 2000)
1.3.1.3 Tình hình phát triển trang trại và kinh tế trang trại ở một số nước Châu Mỹ
Nước Mỹ là nước có kinh tế trang trại rất phát triển Năm 1950, ở Mỹ có 5.648.000 trang trại và giảm dần số lượng đến năm 1960 còn 3.962.000 Trong khi đó, diện tích bình quân một trang trại tăng lên, năm 1950 là 56 ha năm 1960
là 120 ha, năm 1992 là 198,7 ha
Các trang trại nông nghiệp Mỹ đi vào sản xuất chuyên môn hoá với 20 chuyên ngành phân bố trên 10 vùng sản xuất khác nhau như vành đai ngô, vành đai sữa nhằm tạo ra ưu thế cạnh tranh về chất lượng nông sản và giá thành Các trang trại nông nghiệp không hoạt động đơn độc mà nằm trong hệ thống kinh tế liên ngành mang tên AGRIBUSINESS
Công nghệ sản xuất nông nghiệp của các trang trại Mỹ đến nay đã được công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở mức độ cao, từ cơ giới hoá, điện khí hoá, đến thuỷ lợi hoá, hoá học hoá Các khâu sản xuất và chế biến các loại nông sản chính
đã được cơ giới hoá toàn bộ và công nghệ tin học và tự động hoá bắt đầu xâm nhập vào sản xuất nông nghiệp của các trang trại
Công nghiệp hoá nông nghiệp trong các trang trại từ bề rộng chuyển sang bề sâu đi vào thâm canh cao, trên cơ sở giảm chi phí năng lượng, vật tư
kỹ thuật, nâng cao hiệu quả sản xuất, như áp dụng rộng rãi công nghệ sản xuất trồng trọt bằng làm đất tối thiểu, trên diện tích 45 - 50 triệu hecta, giảm chi
Trang 25phí nhiên liệu, bảo vệ đất, chống xói mòn, ứng dụng kỹ thuật tưới tiêu cho cây trồng, tiết kiệm nước
Công nghiệp hoá nông nghiệp Mỹ đã đem lại hiệu quả to lớn đối với kinh
tế trang trại Thành tựu nổi bật của nền nông nghiệp công nghiệp hoá của Mỹ là tạo ra năng suất cây trồng gia súc cao đi đôi với năng suất lao động nông nghiệp cao trên cơ sở kỹ thuật thâm canh công nghiệp hoá theo hướng giảm đầu tư lao động sống, tăng đầu tư lao động kỹ thuật (vật tư kỹ thuật, máy móc thiết bị) Đến nay năng suất các cây trồng và vật nuôi chủ yếu của Mỹ đều đạt mức cao vào loại hàng đầu thế giới trên diện tích lớn và cao gấp 2 - 3 lần năng suất bình quân thế giới Năng suất bình quân hạt cốc của Mỹ trên 64 triệu hecta đạt 6,674 tấn/hecta, cao gấp 2 lần năng suất bình quân thế giới (2,83 tấn/hecta) Năng suất ngô là cây hạt cốc có diện tích gieo trồng lớn nhất nước Mỹ - trên 29 triệu hecta, đạt 8,685 tấn/hecta, cao gấp 2 lần năng suất bình quân thế giới 4,3 tấn/hecta Năng suất lúa nước của Mỹ trên 1,3 triệu hecta đạt 6,674 tấn/hecta cao hơn gấp 1,9 lần năng suất bình quân thế giới Năng suất lúa mì của Mỹ trên 25 triệu hecta đạt 2,53 tấn/hecta cao hơn năng suất bình quân thế giới không nhiều 2,5 tấn/hecta vì lúa
mỳ ở Mỹ tập trung ở các vùng đất xấu, khô cạn, còn đất tốt nhất dành cho ngô Năng suất đỗ tương ở Mỹ đạt 2,83 tấn/hecta trên diện tích 25 triệu hecta, cao hơn bình quân thế giới 30% Năng suất khoai tây của Mỹ đạt bình quân 34,2 tấn/hecta cao gấp 2,2 lần năng suất bình quân thế giới (15,12 tấn/hecta) Năng suất cà chua của Mỹ đạt bình quân 60,5 tấn/hecta cao gấp 2,2 lần năng suất bình quân thế giới Năng suất sữa bò của Mỹ bình quân đạt 7.295 kg/con trên 9,5 triệu con bò sữa, cao hơn bình quân thế giới 3,5 lần Năng suất lao động nông nghiệp Mỹ đứng ở vị trí dẫn đầu thế giới do chi phí lao động nông nghiệp thấp và năng suất sản lượng nông nghiệp cao, kết quả của thâm canh và cơ giới hoá liên hoàn, đồng
bộ trong sản xuất trồng trọt, chăn nuôi Năng suất lao động nông nghiệp cao dẫn đến chi phí lao động trên đơn vị sản phẩm thấp Đến nay chi phí lao động của các trang trại Mỹ để sản xuất 1 tạ ngô là 0,12 giờ công, 1 tạ lúa nước là 0,30 giờ công, 1 tạ thịt là 0,88 giờ công, 1 tạ sữa là 0,66 giờ công Sản lượng nông sản của các trang trại Mỹ trong 30 năm gần đây tăng nhanh Sản lượng hạt cốc tăng từ 176,5 triệu tấn lên 354 triệu tấn (thời gian 1961 - 1995) riêng ngô tăng từ 103
Trang 26triệu tấn lên 254 triệu tấn Sản lượng trái cây tăng từ 8,7 triệu tấn lên 23,35 triệu tấn Sản lượng thịt tăng từ 19,6 triệu tấn lên 32,4 triệu tấn Sữa từ 56,9 triệu tấn lên 69,85 triệu tấn Sản lượng ngô và đỗ tương của các trang trại Mỹ chiếm trên 50% tổng sản lượng ngô của toàn thế giới Sản lượng thịt sữa của Mỹ chiếm 16-17% tổng sản lượng thế giới
(Nguồn: Status of the family farm, Washington, 1999, dẫn theo KS Vũ Văn Tân)
1.3.2 Loại hình sản xuất trang trại phổ biến trên thế giới
- Trang trại gia đình:
Là loại hình trang trại mà mỗi gia đình có tư cách pháp nhân riêng do người chủ hộ hay một người có năng lực và uy tín trong gia đình đứng ra quản lý
Ở nhiều nước phát triển, những chủ trang trại muốn được Nhà nước công nhận thì về trình độ quản lý và tư cách pháp nhân phải tốt nghiệp các trường kỹ thuật
và quản lý nông nghiệp, đồng thời có kinh nghiệm qua thực tập lao động sản xuất kinh doanh một năm ở các trang trại khác Họ không chỉ có bằng tốt nghiệp đại học về nông học, mà còn có sự am hiểu về kỹ thuật, về kinh tế, về thị trường Ở
Mỹ, chủ trang trại thực sự là một chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp, có trình
độ học vấn cao Các chủ trang trại như vậy được thường xuyên liên hệ với các cơ quan nghiên cứu khoa học để thu thập thông tin kinh tế kỹ thuật, tham gia các hội thảo khoa học Loại hình trang trại gia đình được coi là phổ biến nhất trên tất cả các nước, ở các nước Châu Á, do quy mô nhỏ nên hình thức phổ biến là do một
hộ gia đình quản lý sản xuất Chẳng hạn, ở Malaixia, người chủ gia đình cũng là chủ trang trại và thường là chồng hoặc con trai, mỗi trang trại là một đơn vị kinh
tế độc lập Trong các trang trại trồng cây hàng năm, việc thuê nhân công thường theo mùa vụ Trong các trang trại trồng cây lâu năm, lao động làm thuê thường
xuyên khá phổ biến (Nguyễn Đình Hương, 2000)
- Trang trại liên doanh:
Là kiểu trang trại do hai hay ba trang trại hợp nhất thành một trang trại lớn hơn để tăng thêm khả năng về vốn và tư liệu sản xuất nhằm tạo ra sức cạnh tranh với các trang trại khác có quy mô lớn và tận dụng định hướng ưu đãi của Nhà nước dành cho các trang trại lớn
Trang 27Hiện nay, loại hình trang trại liên doanh ở Mỹ và các nước Châu Âu còn chiếm tỷ lệ thấp, ở Mỹ loại hình này chỉ chiếm 10% tổng số trang trại với 16% đất đai
Đối với các nước Châu Á, quy mô trang trại còn nhỏ nên loại hình này hầu
như rất ít (Nguyễn Điền, 1997)
- Trang trại hợp doanh theo cổ phần:
Là loại trang trại được tổ chức theo nguyên tắc một công ty cổ phần, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm Cổ phần của trang trại gia đình liên doanh không bán trên thị trường chứng khoán, còn cổ phần của các trang trại hợp doanh theo cổ phần có bán trên thị trường chứng khoán Đó là sự
khác biệt giữa trang trại hợp doanh gia đình và phi gia đình.(Ban vật giá chính phủ, 2000)
- Trang trại uỷ thác cho người nhà, bạn bè quản lý sản xuất từng việc theo
từng vụ hay liên tục nhiều vụ
Hình thức này phổ biến ở Đài Loan Những chủ trang trại này thường ít ruộng nên đã đi làm thuê cho các xí nghiệp, dịch vụ Về phương diện tâm lý họ không muốn từ bỏ ruộng đất vì cho rằng ruộng đất cho thuê hay cho mướn sau này khó đòi lại được, nên họ uỷ thác lại ruộng đất cho bà con thân thuộc, bạn bè từng khâu hay nhiều khâu trong sản xuất Đến nay 75% số chủ trang trại ở Đài Loan đã áp dụng hình thức này Đây là biện pháp tích cực góp phần tập trung
ruộng đất tạo thành các trang trại lớn để mở rộng quy mô sản xuất (Hội Khoa học kinh tế Việt Nam, 2000)
1.4 Trang trại nông nghiệp ở Việt Nam
1.4.1 Tình hình phát triển trang trại và kinh tế trang trại ở Việt Nam
1.4.1.1 Tình hình phát triển trang trại ở Việt Nam:
Các trang trại ở nước ta được hình thành từ các hướng chủ yếu sau đây:
- Các hộ nông dân đi xây dựng vùng kinh tế mới hoặc các hộ tại địa phương được giao đất sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp với quy mô đủ lớn lập trang trại trồng cây ăn quả, trồng rừng, chăn nuôi đại gia súc, nuôi trồng thuỷ sản
- Các hộ nông dân lập trang trại trên cơ sở tập trung ruộng đất thông qua
Trang 28nhận chuyển nhượng và chuyển đổi ruộng đất cho nhau để có quy mô ruộng đất
đủ lớn và tập trung liền khoảnh
- Một số hộ nông dân thuê đất của hợp tác xã hay chính quyền dưới hình thức nhận đấu thầu diện tích ruộng đất, mặt nước để sản xuất và lập trang trại
- Một số công nhân, viên chức, bộ đội, công an về hưu hay phục viên chuyển về địa phương có điều kiện về vốn và khả năng tổ chức sản xuất xin nhận đất hay nhận chuyển nhượng ruộng đất lập trang trại
- Một số ít người sinh sống ở thành thị về nông thôn nhận chuyển nhượng hay thuê đất để lập trang trại
Trong thời kỳ phong kiến, nước ta đã có chính sách khai khẩn đất hoang bằng cách lập các đồn điền, doanh điền được biểu hiện dưới các hình thức khác nhau như: điền trang, điền doanh, thái ấp
Trong thời kỳ Pháp thuộc, mục đích chủ yếu của thực dân Pháp thời kỳ này là khai thác thuộc địa, cho nên thực dân Pháp đã ban hành một số chính sách như: chính sách ruộng đất, chính sách thuế nhằm thiết lập các đồn điền để tăng sức sản xuất ở khu vực thuộc địa Năm 1927, chỉ riêng ở Bắc Kỳ đã có tới 155 đồn điền rộng từ 200 ha đến hơn 8.500 ha Nam Kỳ và Cao nguyên Trung Kỳ, nhiều tên thực dân đã có những đồn điền rộng hàng vạn ha Đến năm 1930, số ruộng đất do thực dân Pháp chiếm để lập đồn điền đã lên tới 1,2 triệu ha tương
đương khoảng ¼ diện tích đất canh tác của ta lúc bấy giờ (Trần Đức, 1998)
Thời kỳ 1954 - 1975, ở miền Bắc nền nông nghiệp mang nặng tính kế hoạch hóa tập trung, ở đó có các hình thức tổ chức sản xuất như: Nông - Lâm trường quốc doanh, hợp tác xã nông nghiệp… Mọi tư liệu sản xuất chủ yếu là ruộng đất được tập trung một cách triệt để, kinh tế tư nhân không được coi là một thành phần kinh tế của nền kinh tế quốc dân Còn miền Nam thời kỳ này, các hình thức tổ chức sản xuất ở vùng tạm chiếm chủ yếu là các đồn điền, dinh điền, các hợp tác xã sản xuất hàng hóa
Từ cuối những năm 1975, hiệu quả sản xuất trong nền kinh tế nói chung
và trong ngành nông nghiệp nói riêng là thấp kém trong các hợp tác xã ở miền
Trang 29Bắc dẫn tới khủng hoảng của mô hình tập thể hóa nông nghiệp Trước tình hình
đó, tại Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986), Đảng ta đã đề ra được các chủ trương chính sách mới đặc biệt là cơ chế khoán gọn tới từng hộ gia đình, tiếp đến là Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị và cùng nhiều văn bản khác của Chính phủ đã giải phóng sức lao động và các tư liệu sản xuất đặc biệt là đất đai Việc đổi mới
cơ chế chính sách này đã tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế trang trại phát triển
Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 về kinh tế trang trại đã nhấn mạnh chủ trương của Chính phủ trong việc phát triển kinh tế trang trại, tạo điều kiện hợp pháp cho loại hình kinh tế trang trại phát huy năng lực sản xuất, kinh doanh thông qua các chính sách ưu đãi về nhiều mặt đối với kinh tế trang trại Mặt khác, hình thành các tiêu chí kinh tế trang trại nhằm tạo điều kiện quản lý,
hỗ trợ và khuyến khích phát triển kinh tế trang trại trong nền kinh tế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước
Như vậy, sự hình thành kinh tế trang trại ở nước ta là sự vận động từ kinh
tế nông hộ gắn liền với quá trình đổi mới của đất nước và quá trình hình thành kinh tế trang trại chứa đựng những đặc điểm sau đây:
- Sự hình thành kinh tế trang trại diễn ra với tốc độ nhanh, chủ yếu là những năm đổi mới, nhất là thời gian gần đây khả năng phát triển mạnh Quá trình này hàm chứa xu hướng phát triển kinh tế hàng hoá, đi lên sản xuất lớn trong nông nghiệp, hướng đến thị trường là xu thế hợp với quy luật phát triển
- Có nhiều thành phần kinh tế trong xã hội tham gia kinh tế trang trại nhưng nền tảng chủ yếu hình thành kinh tế trang trại là do vận động kinh tế hộ gia đình nông dân
1.4.1.2 Kinh tế trang trại ở Việt Nam
Ngày 13 tháng 4 năm 2011, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại Theo tiêu mới này, số lượng trang trại ở nước
ta giảm mạnh từ 145.880 trang trại vào năm 2010 xuống còn hơn 23.774 trang trại năm 2013, tập trung lớn nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long Nếu chia theo loại hình sản xuất của trang trại bao gồm: trang trại trồng trọt có 8.745 trang trại
Trang 30chiếm 36,78% tổng số trang trại cả nước, trang trại chăn nuôi có 9.206 trang trại chiếm 38,72%, trang trại nuôi trồng thủy sản có 4.690 trang trại chiếm 19,73%
và trang trại khác có 1.133 trang trại chiếm 4,77%
Các trang trại sử dụng đất đai với số lượng lớn, tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động, tạo ra nhiều sản phẩm và sản phẩm hàng hóa nông, lâm, thủy sản Các trang trại đang sử dụng 154.900 ha diện tích đất, mặt nước nuôi trồng thủy sản, trong đó có 36.600ha đất trồng cây hàng năm; 77.100 ha đất trồng cây lâu năm; 8.900 ha đất lâm nghiệp và 32.200 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản Vùng có nhiều diện tích đất do trang trại sử dụng là Đông Nam bộ với 60.600 ha Các trang trại sử dụng gần 95.000 lao động song số chưa qua đào tạo chiếm đến 73,9%; số còn lại có trình độ như sau: đào tạo nhưng không có chứng chỉ học nghề 12,5%; đào tạo có trình độ sơ cấp nghề 7,3%; trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp 3,4%; cao đẳng nghề gần 0,4%; cao đẳng gần 0,6% và đại học chỉ có gần 2%
Về kết quả sản xuất, năm 2011, các trang trại đã tạo ra gần 39.100 tỷ đồng giá trị thu từ nông, lâm, thủy sản Giá trị sản phẩm và dịch vụ nông, lâm, thủy sản bán ra đạt gần 38.200 tỷ đồng, chiếm 97,6% tổng giá trị thu từ nông, lâm, thủy sản tạo ra trong năm
Quy mô đất đai, lao động và doanh thu của trang trại năm 2011 phụ thuộc vào loại hình trang trại và điều kiện cụ thể của vùng, từng địa phương Đất nông, lâm, thủy sản bình quân 1 trang trại là 7,7 ha, trong đó nhiều nhất là vùng Đông Nam bộ đạt 11,2 ha; thấp nhất là đồng bằng Sông Hồng 3,5 ha
Quy mô lao động bình quân 1 trang trại nông nghiệp chung cả nước là 4,8 người, trong đó cao nhất là Đông Nam bộ 5,9 người còn 5 vùng còn lại đều xấp xỉ với mức bình quân chung Khi phân theo loại hình trang trại, quy mô lao động có khác nhau: Bình quân số lao động 1 trang trại trồng trọt là 5,3 người; trang trại thủy sản là 4,3 người; trang trại chăn nuôi là 4,2 người Quy mô về giá trị thu từ nông, lâm, thủy sản trong 12 tháng qua bình quân 1 trang trại là 1.952 triệu đồng, trong đó đồng bằng sông Hồng là 2.547 triệu đồng; trung du và miền
Trang 31núi phía Bắc là 2.889 triệu đồng; Bắc trung bộ và duyên hải miền Trung là 1.607 triệu đồng; Tây nguyên là 1.314 triệu đồng; Đông Nam bộ là 2.398 triệu đồng và đồng bằng sông Cửu Long 1.499 triệu đồng
Kinh tế trang trại nói chung đạt hiệu quả kinh tế cao hơn hộ gia đình Thu nhập và hiệu quả của trang trại: Chỉ tiêu này phụ thuộc vào loại hình
và quy mô của trang trại Đối với trang trại trồng trọt, giá trị thu từ các hoạt động nông, lâm, thủy sản bình quân 1 trang trại năm 2010 là 1.263 triệu đồng Nếu tính bình quân trên 1 ha đất trồng trọt, giá trị thu từ nông, lâm, thủy sản của trang trại trồng trọt năm 2010 cả nước là 103,5 triệu đồng Vùng có thu nhập cao nhất
là là đồng bằng sông Hồng đạt 318,5 triệu đồng; Tây nguyên đạt 124 triệu đồng; trung du và miền núi phía Bắc đạt 185 triệu đồng; đồng bằng sông Cửu Long đạt 89,7 triệu đồng; đông Nam bộ đạt 102 triệu đồng; bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung 105 triệu đồng Nếu tính riêng giá trị thu từ trồng trọt, bình quân 1 ha đất trồng trọt chung cả nước là 100 triệu đồng Đồng bằng sông Hồng đạt 260 triệu đồng; trung du và miền núi phía Bắc đạt 173 triệu đồng; Tây nguyên đạt
124 triệu đồng Nếu so với hộ thì hiệu quả sử dụng đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản của trang trại cao hơn hẳn thể hiện qua mức thu trên 1 ha Chung cả nước, so với hộ, các trang trại trồng trọt cao hơn đến 38,5% giá trị thu từ 1 ha đất trồng trọt; các trang trại nuôi trồng thủy sản thu cao hơn 8% thu từ 1ha nuôi trồng
thủy sản.(Tổng cục Thống kê, 2012)
1.4.2 Loại hình sản xuất trang trại phổ biến ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, việc sử dụng đất nông nghiệp theo mô hình trang trại ở nước ta ngày càng được mở rộng Các hình thức sản xuất được kết hợp sử dụng chủ yếu trong trang trại bao gồm: chăn nuôi, trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, lâm nghiệp… Các hoạt động này có những mối quan hệ mật thiết và khăng khít nhau, tạo nên một hệ thống canh tác tổng thể, giúp sử dụng hợp lý và tốt hơn nguồn tài nguyên đất đai, nguồn nước và năng lượng mặt trời để đạt tới hiệu quả kinh tế cao với mức đầu tư thấp Tuỳ thuộc vào điều kiện địa phương và các khu vực, các hình thức sản xuất chăn nuôi, trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản,
Trang 32trồng rừng… kết hợp với nhau để hình thành nên các loại hình sản xuất phổ biến khác nhau như: mô hình vườn - ao - chuồng (VAC), mô hình vườn - chuồng - rừng (VCR), mô hình vườn - rừng (VR)… Trong những trường hợp như vậy, sự tác động tương hỗ của con người đối với các thành phần của hệ thống vẫn đóng vai trò quyết định Sự phát triển của cây trồng và vật nuôi phụ thuộc vào những tác động quan trọng từ những điều chỉnh của con người như nguồn phân bón hay thức ăn chăn nuôi được cung cấp theo đặc điểm sinh học của từng loại cây trồng, vật nuôi Tuy nhiên, điều kiện của môi trường xung quanh là yếu tố quan trọng quyết định quá trình sinh trưởng của chúng Do đó, điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu là các yếu tố căn bản để hình thành các mô hình trang trại cho các vùng sinh thái khác nhau
Thực hiện đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, các địa phương ở các vùng khác nhau đã chuyển hàng chục nghìn ha đất trồng lúa sang nuôi trồng thuỷ sản Kinh tế trang trại đã hình thành các vùng sản xuất thuỷ sản ở các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ, đồng bằng sông Hồng, các vùng ven biển, đồng bằng sông Cửu Long Trang trại trồng cây lâu năm ở các tỉnh đông Nam bộ, Tây Nguyên, Đông Bắc, Tây Bắc bộ Trang trại chăn nuôi tập trung ở các tỉnh gần thành phố lớn, nơi có thị trường tiêu thụ mạnh
Theo Thông tư 27/2011/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ngày 13 tháng 4 năm 2011, các trang trại được xác định theo lĩnh vực sản xuất bao gồm:
- Trang trại trồng trọt
- Trang trại chăn nuôi
- Trang trại nuôi trồng thuỷ sản
- Trang trại lâm nghiệp
- Trang trại tổng hợp
Số lượng trang trại nước ta năm 2013 phân theo lĩnh vực sản xuất được thể hiện ở bảng 1.2:
Trang 33Bảng 1.2 Số lượng trang trại năm 2013 phân theo lĩnh vực sản xuất
số
Trang trại trồng trọt
Trang trại chăn nuôi
Trang trại NTTS
Trang trại khác
Một số tỉnh, thành phố trong cả nước đã xây dựng thành công những
mô hình trang trại đem lại hiệu quả kinh tế cao góp phần thúc đẩy kinh tế của tỉnh, thành phố như: Vĩnh Phúc, Hải Dương, Thái Nguyên, Hà Nội, Đồng Nai, Bình Phước…
Ở Vĩnh Phúc, mô hình trang trại đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, tạo việc làm cho hàng chục nghìn lao động địa phương, xoá đói, giảm nghèo cho hàng trăm nghìn hộ đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu vùng xa và các xã thuộc Chương trình 135 Tỉnh đã có hơn 500 trang trại gia đình và tập thể ở tất cả các huyện và thị xã Sản xuất, kinh doanh theo mô hình kinh tế VACR, VAC, với hơn 200 trang trại VACR, hơn 300 trang trại VAC với tổng diện tích đất sử dụng
là hơn 15.000 ha, quy mô diện tích mỗi trang trại trung bình từ 1 đến 10 ha
Ở Hải Dương, phát triển trang trại là một trong những kết quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nâng cao giá trị thu nhập Hiện toàn tỉnh có hơn 500 trang trại, trong đó có hơn 300 trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp, hơn 100 trang trại chăn nuôi, hơn 100 trang trại trồng trọt Hệ thống các trang trại đang sử dụng gần 1.700 ha đất, bình quân mỗi trang trại sử dụng 3,23 ha và đầu tư cho sản xuất, kinh doanh trên 221 triệu đồng
Trang 34Năm 2013, kinh tế trang trại ở Thành phố Hà Nội phát triển với hơn 1.291 trang trại trong đó: trang trại trồng trọt 11 trang trại, trang trại chăn nuôi là 944 trang trại, trang trại NTTS là 180 trang trại và 156 các loại trang trại khác Việc phát triển kinh tế trang trại đã đóng góp vào sự phát triển kinh tế của Thủ đô
Như vậy, ở nước ta, các loại hình sản xuất trang trại phổ biến bao gồm: trang trại trồng trọt, chăn nuôi, NTTS, lâm nghiệp… các loại hình này có thể kết hợp với nhau để hình thành những mô hình sản xuất như: VAC, VACR, VCR, VR… góp phần tích cực vào phát triển kinh tế đất nước
Hiện nay, cả nước đang thực hiện chương trình xây dựng Nông thôn mới nhằm đưa kinh tế nông thôn phát triển, thay đổi diện mạo nông thôn Thực hiện xây dựng Nông thôn mới giúp cho việc nông dân có thể tích tụ ruộng đất, thuận tiện cho việc vay vốn, đưa sản xuất nông nghiệp từ nhỏ lẻ thành sản xuất lớn, hình thành các mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng trang trại Như vậy, xây dựng Nông thôn mới là tiền đề đẩy mạnh phát triển kinh tế trang trại ở nước
ta hiện nay
Trang 35CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các mô hình trang trại nông nghiệp trên địa bàn huyện Sóc Sơn - Thành phố Hà Nội
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài đánh giá thực trạng phát triển trang trại nông nghiệp trên địa bàn huyện Sóc Sơn - Thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 - 2014
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
- Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, đặc điểm địa hình, khí hậu, thủy văn, các nguồn tài nguyên
- Điều kiện kinh tế, xã hội: tăng trưởng kinh tế, thực trạng phát triển kinh tế các ngành, dân số và lao động, thực trạng cơ sở hạ tầng
- Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội: những thuận lợi, khó khăn tồn tại
2.3.2 Đánh giá tình hình sử dụng đất của huyện Sóc Sơn
- Biến động sử dụng đất của huyện Sóc Sơn giai đoạn 2010 - 2014
- Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện Sóc Sơn
2.3.3 Tình hình phát triển sản xuất theo mô hình trang trại trên địa bàn huyện Sóc Sơn giai đoạn 2010 - 2014
- Số lượng trang trại trên địa bàn huyện Sóc Sơn giai đoạn 2010 - 2014
- Loại hình sản xuất trang trại của huyện giai đoạn 2010 - 2014
- Quy mô và hiện trạng sản xuất của các trang trại trên địa bàn huyện Sóc Sơn
2.3.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo mô hình trang trại trên địa bàn huyện
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất về các mặt: kinh tế, xã hội và môi trường của quá trình sản xuất theo mô hình trang trại
Trang 362.3.5 Định hướng và giải pháp phát triển các trang trại nông nghiệp trên địa bàn huyện đến năm 2020
2.4 Phương pháp nghiên cứu:
2.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
- Thu thập số liệu thứ cấp về các mặt: tình hình phát triển kinh tế - xã hội, các loại bản đồ hiện trạng sử dụng đất, tình hình sử dụng đất, hiện trạng sử dụng đất và các vấn đề có liên quan qua các ban ngành hữu quan
- Điều tra số liệu sơ cấp:
+ Điều tra phỏng vấn nông hộ với phiếu điều tra nông hộ đã soạn sẵn
(Mẫu phiếu điều tra có trong phần phụ lục)
Tổng số trang trại điều tra: 50/124 trang trại Các trang trại được lựa chọn điều tra là các trang trại nằm trong 3 tiểu vùng có thu nhập hỗn hợp cao, ổn định trong số các trang trại trên địa bàn huyện, đại diện cho từng loại hình sản xuất khác nhau Trong đó:
• Trang trại chăn nuôi tập trung: 6/19 trang trại
• Trang trại nuôi trồng thuỷ sản kết hợp với chăn nuôi: 9/28 trang trại
• Trang trại trồng cây ăn quả kết hợp với chăn nuôi: 15/34 trang trại
• Trang trại nuôi trồng thuỷ sản kết hợp trồng lúa: 6/8 trang trại
• Trang trại tổng hợp kết hợp giữa trồng trọt nuôi trồng thuỷ sản và chăn nuôi: 14/54 trang trại
+ Điều tra thực địa, khảo sát hệ thống đồng ruộng, khả năng tưới tiêu, tình hình sản xuất thực tế…
2.4.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Đề tài lựa chọn các trang trại điều tra ở 3 tiểu vùng của huyện Sóc Sơn Mỗi tiểu vùng có 1 loại hình trang trại điển hình
- Vùng 1: khu vực các xã có nhiều ao đầm, diện tích đất thấp trũng chiếm diện tích lớn: Xuân Giang, Việt Long, Tân Hưng, Đông Xuân, Phú Minh tập trung các trang trại tổng hợp
-Vùng 2: khu vực các xã có địa hình cao, nhiều đồi gò, diện tích các trang trại lớn: Minh Phú, Minh Trí, Bắc Phú, Tân Dân, Hiền Linh tập trung các trang trại trồng trọt kết hợp với chăn nuôi
Trang 37- Vùng 3: khu vực các xã có diện tích trang trại nhỏ, chủ yếu là các trang trại chuyên canh, tập trung ở các xã: Phủ Lỗ, Tân Minh, Xuân Thu, Phú Cường
2.4.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất
- Đánh giá hiệu quả kinh tế qua các chỉ tiêu:
+ Giá trị sản xuất (GTSX): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất, dịch vụ được tạo ra trong một thời kì nhất định
GTSX = Sản lượng x Giá bán + Chi phí trung gian (CPTG): là toàn bộ chi phí vật chất và các loại hình khác được sử dụng trong quá trình sản xuất
CPTG = ∑
n j j
HQĐV = TNHH/CPTG + Khả năng phát triển thị trường và ổn định giá cả
Các chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng (giá trị tuyệt đối) bằng tiền theo thời gian, giá hiện hành và định tính (giá tương đối) được tính bằng mức độ cao và thấp Các chỉ tiêu đạt được mức càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn
- Đánh giá hiệu quả về mặt xã hội thông qua:
Đánh giá hiệu quả xã hội là chỉ tiêu khó định lượng, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, do thời gian có hạn chúng tôi chỉ đề cập đến một số chỉ tiêu sau:
+ Đảm bảo đời sống cho người lao động: thể hiện qua chỉ tiêu thu nhập bình quân/lao động nông nghiệp/năm
+ Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho người nông dân thể hiện qua chỉ tiêu số công lao động sử dụng/ha/năm
Trang 38- Đánh giá hiệu quả môi trường:
+ Đối với các trang trại có hình thức chăn nuôi: hình thức xử lý chất thải rắn, lỏng; vệ sinh, khử trùng chuồng trại; nguồn gốc con giống, thức ăn, công tác thú ý
+ Đối với các trang trại có hình thức trồng trọt: mức độ sử dụng thuốc BVTV; mức độ sử dụng phân bón hoá học, hữu cơ có ảnh hưởng như thế nào đến môi trường đất, nước
2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu
Thống kê, tính toán và xử lý bằng phần mềm EXCEL
Trang 39CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đánh giá hiện trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Sóc Sơn
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Sóc Sơn là huyện ngoại thành Thành phố Hà Nội, cách trung tâm Thủ đô
Hà Nội 40 km về phía Bắc, có tổng diện tích tự nhiên 30.651,30 ha, bao gồm 26 đơn vị hành chính: 25 xã và 01 thị trấn Có vị trí địa lý:
- Phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên;
- Phía Nam giáp huyện Đông Anh;
- Phía Đông giáp tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh;
- Phía Tây giáp thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
Huyện có vị trí cửa ngõ của Thủ đô Hà Nội: cửa ngõ phía Bắc theo Quốc
lộ 3, cửa ngõ phía Tây theo Quốc lộ 2, cửa ngõ phía Đông theo Quốc lộ 18 Đây
là địa bàn có vị trí thuận lợi với hệ thống giao thông đối ngoại khá phát triển, đặc biệt là cảng hàng không quốc tế Nội Bài, các trục quốc lộ Hà Nội - Thái Nguyên, Bắc Ninh - Hà Nội - Việt Trì, vì vậy nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển
nhanh nền kinh tế - xã hội
Vùng đồi gò của Sóc Sơn là hệ thống núi thấp và đồi gò, là một phần kéo dài về phía Đông của dãy núi Tam Đảo, có độ cao trung bình 200 - 300 m so với mặt nước biển Đỉnh núi cao nhất là núi Hàm Lợn cao 485 m, Cánh Tay với đỉnh
332 m, núi Đền Sóc với đỉnh 308 m, điểm thấp nhất của vùng này là 20 m
Địa hình của vùng đồi gò thấp dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, địa
Trang 40hình ở đây chia cắt tương đối mạnh, sườn dốc lưu vực ngắn Độ dốc trung bình từ
Phân theo cấp độ dốc: ở độ dốc dưới 70 có diện tích 2.030 ha, từ 8 - 150 có diện tích 1.310 ha, từ 16 - 250 có diện tích 1.360 ha, từ 26 - 350 có diện tích 770ha, độ dốc trên 350 có diện tích 360 ha
b/ Vùng chuyển tiếp nằm trải dài từ phía Bắc đến vùng giữa huyện Sóc Sơn với diện tích khoảng 9.300 ha nằm trên địa bàn 9 xã Tân Minh, Quang Tiến, Tân Dân, Hiền Ninh, Phù Linh, Trung Giã, Mai Đình, Tiên Dược và thị trấn Sóc Sơn Địa hình của vùng chủ yếu là ruộng bậc thang, độ cao trung bình từ 20 - 40m
c/ Vùng đồng bằng ven sông: trải dài bao quanh huyện từ phía Đông Bắc, phía Đông đến Đông Nam qua địa bàn 12 xã là Thanh Xuân, Phù Lỗ, Việt Long, Kim Lũ, Xuân Giang, Phú Minh, Phú Cường, Đông Xuân, Đức Hoà, Tân Hưng, Xuân Thu và Bắc Phú với diện tích khoảng 88.510ha Địa hình của vùng khá bằng phẳng, độ cao trung bình từ 10 - 20m, trong đó có khoảng 1.000 ha đất thường xuyên bị ngập úng
3.1.1.3 Điều kiện đất đai
Tài nguyên đất của huyện có 03 nhóm đất chính, trong đó:
a/ Đất phù sa có diện tích phân bố ở hầu khắp trên địa bàn huyện, nhưng tập trung nhiều ở các xã phía Nam huyện Tổng diện tích khoảng 5.061 ha, bao gồm 8 loại sau đây:
- Đất phù sa được bồi hàng năm, chua (Pb.c) với tổng diện tích 385 ha
- Đất phù sa ít được bồi trung tính kiềm yếu (Pb.j.k) với tổng diện tích 419ha