1.1.1 Đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp 4 1.2 Những vấn đề về hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất 1.2.2 Đặc điểm, phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụ
Trang 11.1.1 Đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp 4
1.2 Những vấn đề về hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất
1.2.2 Đặc điểm, phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 8 1.3 Sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá 11 1.3.1 Những xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới 11 1.3.2 Phương hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam trong những năm tới 13
1.4 Các nghiên cứu liên quan đến nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá 26
Trang 2Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có liên quan đến sử dụng đất đai 32
2.2.3 Thực trạng sản xuất nông nghiệp hàng hóa trên địa bàn nghiên cứu: 33 2.2.4 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Duy Tiên theo hướng
2.3.3 Phương pháp xác định hệ thống chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả sử
3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội huyện Duy Tiên 39 3.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và cảnh quan môi trường 39
3.1.3 Hiện trạng sử dụng đất năm 2014 của huyện Duy Tiên 51
3.2 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Duy Tiên 53 3.2.1 Hiện trạng và biến động trong sử dụng đất nông nghiệp 53 3.2.2 Thực trạng các loại hình sử dụng đất nông nghiệp 54 3.2.3 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Duy Tiên 57
Trang 33.4 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Duy Tiên theo hướng sản
3.4.2 Các căn cứ lựa chọn các loại hình sử dụng đất 77 3.4.3 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá 78 3.4.4 Một số giải pháp nhằm định hướng sử dụng đất nông nghiệp theo
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
TT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
3 CNH - HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
3.1 Cơ cấu kinh tế huyện Duy Tiên giai đoạn 2006-2014 44
3.6 Hiện trạng các loại hình sử dụng đất huyện Duy Tiên 563.7 Hiệu quả sử dụng đất các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 1 583.8 Hiệu quả sử dụng đất các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 2 603.9 Tổng hợp mức đầu tư lao động và thu nhập/ngày công tiểu vùng 1 623.10 Tổng hợp mức đầu tư lao động và thu nhập/ngày công và mức độ sản
3.11 Tổng hợp mức đầu tư lao động và thu nhập bình quân trên ngày công
3.13 So sánh lượng thuốc BVTV thực tế và khuyến cáo trên cây trồng 68
3.16 Tỷ lệ hàng hóa và phương thức tiêu thụ các nông sản chính huyện
3.17 Định hướng các LUT phát triển theo hướng hàng hóa 743.18 Định hướng một số loại hình sử dụng đất đến năm 2020 79
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
3.2 Biểu đồ Cơ cấu sử dụng đất năm 2014 huyện Duy Tiên 52
Trang 7MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai có vai trò quan trọng đối với mỗi quốc gia vì nó là nền tảng, là môi trường sống của con người Với sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, không có đất thì không có sản xuất nông nghiệp Chính vì vậy, sử dụng đất là một phần hợp thành của chiến lược nông nghiệp sinh thái và phát triển bền vững (Đặng Kim Sơn, Trần Công Thắng, 2005)
Nông nghiệp là hoạt động sản xuất cổ nhất và cơ bản nhất của loài người (Nguyễn Văn Bộ, 2005) Hầu hết các nước trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế xuất phát từ phát triển nông nghiệp, dựa vào khai thác các tiềm năng của đất, lấy đó làm cơ sở phát triển các ngành khác Vì vậy, việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp lý, có hiệu quả theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề toàn cầu Điều mà các nhà khoa học trên thế giới quan tâm là làm thế nào để sản xuất ra nhiều lương thực, thực phẩm đáp ứng cho nhu cầu trong khuôn khổ xã hội và kinh tế có thể thực hiện được Nói cách khác, mục tiêu hiện nay của loài người là phấn đấu xây dựng một nền nông nghiệp toàn diện về kinh tế -
xã hội, môi trường một cách bền vững
Trong điều kiện các nguồn tài nguyên để sản xuất có hạn, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do sức ép của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và
sự gia tăng dân số thì mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là hết sức cần thiết, tạo ra giá trị lớn về kinh tế đồng thời tạo đà cho phát triển nông nghiệp bền vững Chính vì vậy, nông nghiệp hàng hóa là một nội dung trong Nghị
quyết Đại hội X của Đảng: “Xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa mạnh, đa dạng và bền vững dựa trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh, áp dụng khoa học công nghệ, làm ra sản phẩm chất lượng cao đáp ứng nhu cầu đa dạng trong nước và tăng khả năng cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường Quốc tế; nâng cao hiệu quả sử dụng đất, lao động, vốn; tăng thu nhập và đời sống nhân dân” (Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ
10, 2006) Cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu diễn ra gần đây đã gây sức ép rất
Trang 8lớn đến vấn đề sản xuất lương thực hiện nay Nhiều nước trong đó có Việt Nam đang phải nhìn lại vấn đề sử dụng đất để đáp ứng mục tiêu phát triển cân đối giữa công nghiệp và nông nghiệp Ngày 18/04/2008, chính phủ đã ban hành Quyết định 391/QĐ-TTg về rà soát, kiểm tra thực trạng việc quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 5 năm từ 2005 – 2010 trên địa bàn cả nước, trong đó tập trung vào đất nông nghiệp nói chung và đất chuyên trồng lúa nước nói riêng(Nguyễn Tấn Dũng,
2008) Tại khoản 1 điều 3, Quyết định nêu rõ: “Hạn chế tối đa việc chuyển đất trồng lúa nước sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp Không xét quy hoạch chuyển đất trồng lúa nước sang sử dụng vào mục đích sản xuất dịch vụ phi nông nghiệp ở những địa phương có điều kiện sử dụng các loại đất này” (Nguyễn Tấn Dũng,
2008) Điều đó 1 lần nữa khẳng định xu hướng phát triển nông nghiệp hàng hoá bền
vững là hướng đi tất yếu đảm bảo phát triển đất nước lâu dài, ổn định
Duy Tiên nằm trong vùng đồng bằng Sông Hồng Mặc dù định hướng phát triển của huyện tới năm 2020 sẽ phát triển thành đô thị loại 3 nhưng hiện nay sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao (chiếm 19,3% tổng thu nhập GDP của huyện), là nguồn thu chủ yếu của nhân dân trong huyện Hiện nay, áp lực về vấn đề lương thực đã giảm xuống, tình trạng độc canh cây lúa ngày càng thu hẹp Chuyển dịch cơ cấu giống cây trồng diễn ra hầu hết ở các xã trong huyện, điển hình là các xã Trác Văn, xã Chuyên Ngoại, xã Mộc Nam và xã Mộc Bắc Từ đó tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá góp phần hình thành một nền kinh tế mới - kinh tế hàng hoá Từ những vấn đề khoa học và thực tiễn sản xuất đang diễn ra ở huyện Duy Tiên như đã trình bày ở trên, để góp phần thực hiện thành công các mục tiêu phát triển nông nghiệp của huyện đến năm 2020 và mục tiêu lâu dài nhằm khai thác tốt nhất phát triển nền nông nghiệp hàng hoá Chúng tôi đã
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng và định hướng sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá trên địa bàn huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam”
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Duy Tiên
- Đề xuất định hướng sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất
1.1.1 Đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp
Lịch sử của thế giới đã chứng minh bất kỳ nước nào dù là nước phát triển hay đang phát triển thì sản xuất nông nghiệp đều có vị trí quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân, tạo ra sự ổn định xã hội và mức an toàn lương thực quốc gia Đối với các nước đang phát triển, sản phẩm từ nông nghiệp còn là nguồn tạo ra thu nhập ngoại tệ, tạo nguồn thu lớn cho nền kinh tế Tuỳ theo đặc điểm thời tiết, khí hậu, lợi thế về vị trí địa lý của mình mà mỗi nước có thể lựa chọn những sản phẩm nông sản phù hợp để xuất khẩu thu ngoại tệ hay trao đổi lấy sản phẩm công nghiệp để đầu tư lại cho nông nghiệp và các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân
Theo Luật đất đai năm 2013, đất nông nghiệp được chia ra làm các nhóm đất chính sau: đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác (Luật đất đai 2013) Sự phân chia cụ thể này sẽ giúp cho việc khai thác tiềm năng và nâng cao hiệu quả sử dụng của từng loại đất
Cùng với việc phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội, công nghệ, khoa học và
kỹ thuật, công năng của đất được khai thác triệt để và có vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người Nhân loại đã có những bước tiến kỳ diệu làm thay đổi diện mạo cuộc sống và chất lượng sống từng ngày Nhưng vì chạy theo lợi nhuận tối đa, sự phát triển nóng cục bộ, không có một chiến lược ổn định, bền vững nên
đã gây ra những mặt tiêu cực của sự phát triển, hậu quả tiêu cực như: ô nhiễm môi trường, thoái hoá đất… Hàng năm gần 12 triệu ha rừng nhiệt đới bị tán phá
ở Châu Mỹ La Tinh và Châu Á Cân bằng sinh thái bị phá vỡ, hàng triệu ha đất đai bị hoang mạc hoá (Trần An Phong và cs, 2006) Sự thoái hoá đất đai tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển.Theo kết quả điều tra của Liên Hợp Quốc (UNDP ) và trung tâm thông tin nghiên cứu đất quốc tế (ISRIC), thế giới
có khoảng 13,4 tỷ ha đất thì đã có khoảng 2 tỷ ha đất bị hoang hoá ở các mức độ khác nhau trong đó Châu Á và Châu Phi là 1,2 tỷ ha chiếm 62% tổng diện tích bị
Trang 11thoái hoá (Đỗ Nguyên Hải, 2007)
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2014, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.115 nghìn ha, dân số là 90.606,5 nghìn người, mật độ dân số
265 người/km2 Bình quân diện tích đất tự nhiên là 3.889 m2/người đứng thứ 9 trong khu vực Trong đó đất nông nghiệp chỉ có 24.997,2 nghìn ha, bình quân diện tích đất nông nghiệp là 2.899,55 m2/người, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 156.681,9 tỷ đồng, trong đó trồng trọt là 122,37 tỷ đồng, chăn nuôi đạt 30.938,6
tỷ đồng và nuôi trồng thủy sản là 3.367,6 tỷ đồng Trong trồng trọt, cây lương thực đạt giá trị sản xuất là 70.059,8 tỷ đồng; cây rau đậu đạt 10.560,4 tỷ đồng; cây công nghiệp là 31.015,4 tỷ đồng và cây ăn quả đạt 9.083,7 tỷ đồng Trong năm 2013, diện tích cây lương thực có hạt là 8.542 nghìn ha, cây công nghiệp hàng năm là 805,8 nghìn ha, cây công nghiệp lâu năm là 1.886,1 nghìn ha và cây
ăn quả là 775,3 nghìn ha (Tổng cục Thống kê, 2014)
1.1.2 Nông nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới
Nông nghiệp nhiệt đới được tiến hành ở các vùng trong vành đai nhiệt đới Vùng nhiệt đới chiếm khoảng 1/3 diện tích lục địa với khoảng 1,4 tỷ ha đất có khả năng sản xuất nông nghiệp Điều kiện khí hậu, đất đai đặc biệt với hoàn cảnh kinh tế
xã hội tạo cho nông nghiệp nhiệt đới có những nét riêng biểu hiện trên các hệ thống cây trồng, vật nuôi Theo bách khoa toàn thư Việt Nam, khí hậu là yếu tố hạn chế quyết định đến sự phát triển của hệ thống cây trồng Vùng nhiệt đới ẩm, mưa nhiều, tập trung gây dòng chảy và xói mòn nghiêm trọng Đất đai phần lớn là màu mỡ nhưng so với vùng ôn đới thì không tốt bằng vì ít chất mùn, các xác vi sinh vật mau
bị khoáng hoá Khí hậu và đất nhiệt đới phần lớn thích hợp cho việc trồng cây lâu năm, cà phê, chè, ca cao và các loại cây ăn quả nhiệt đới Đối với những vùng đất trũng, đất phù sa, đất giàu chất hữu cơ… rất thích hợp cho việc gieo trồng các giống cây ngắn ngày, cây lương thực Hiện nay, ở các vùng nhiệt đới, việc canh tác sử dụng đất nông nghiệp theo hướng thâm canh cao, tăng năng suất, tăng vụ, áp dụng mạnh
mẽ các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Đây là những nguyên nhân gây tình trạng thoái hoá đất, đất bị mất khả năng sản xuất Điều đó đặt ra vấn đề là phát triển
Trang 12sản xuất nông nghiệp đi đôi với bảo vệ cải tạo đất, xây dựng nền nông nghiệp hiệu quả và bền vững (Bách khoa toàn thư Việt Nam)
1.2 Những vấn đề về hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1 Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất
1.2.1.1.Khái quát về hiệu quả
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả Trước đây, người ta thường quan niệm kết quả chính là hiệu quả Sau này, người ta nhận thấy rõ sự khác nhau giữa hiệu quả và kết quả Nói một cách chung nhất thì hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của công việc mang lại (Từ điển tiếng việt, 1992)
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi hướng tới, nó có những nội dung khác nhau Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động nói chung, hiệu quả là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm
được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian (Bách khoa toàn thư Việt Nam
Kết quả là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà ta phải xem xét kết quả
đó được tạo ra như thế nào? chi phí bỏ ra bao nhiêu? có đưa lại kết quả hữu ích hay không? chính vì vậy khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà phải đánh giá chất lượng hoạt động tạo ra sản phẩm đó Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung của đánh giá hiệu quả (Đỗ Thị Tám, 2001)
1.2.1.2 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Từ những khái niệm chung về hiệu quả, ta xem xét trong lĩnh vực sử dụng đất thì hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong hoạt động kinh tế, thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị thu được bằng tiền Đồng thời về mặt hiệu quả xã hội là thể hiện mức thu hút lao động trong quá
Trang 13trình hoạt động kinh tế để khai thác sử dụng đất Riêng đối với ngành nông nghiệp, cùng với hiệu quả kinh tế về giá trị và hiệu quả về mặt sử dụng lao động trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là sản lượng nông sản thu hoạch được, nhất là các loại nông sản cơ bản có ý nghĩa chiến lược (lương thực, sản phẩm xuất khẩu…) để đảm bảo sự ổn định về kinh tế - xã hội của đất nước (Bách khoa toàn thư Việt Nam)
Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng, vấn đề đánh giá hiệu quả sử dụng đất không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó mà phải xem xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
* Hiệu quả kinh tế
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Theo nhà kinh tế Samuel – Nordhuas thì “Hiệu quả là không lãng phí” Theo các nhà khoa học Đức (Stienier, Hanau, Rusteruyer, Simmerman) hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích cho xã hội (Đỗ Thị Tám, 2001)
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hoá với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác nhau Vì thế, hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:
- Một là mọi hoạt động của con người đều phải quan tâm và tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian”;
- Hai là hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết hệ thống;
- Ba là hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ các lợi ích của con người
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được
Trang 14là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó
* Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau và là một phạm trù thống nhất Theo Nguyễn Duy Tính, hiệu quả về mặt xã hội của sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp
Hiệu quả xã hội được thể hiện thông qua mức thu hút lao động, thu nhập của nhân dân Hiệu quả xã hội cao góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, phát huy được nguồn lực của địa phương, nâng cao mức sống của nhân dân Sử dụng đất phải phù hợp với tập quán, nền văn hoá của địa phương thì việc sử dụng đất bền vững hơn
* Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hoá đất bảo vệ môi trường sinh thái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (Bùi Huy Hiền, Nguyễn Văn Bộ, 2001)
Hiệu quả môi trường được phân ra theo nguyên nhân gây nên, gồm: hiệu quả hoá học, hiệu quả vật lý và hiệu quả sinh học môi trường (Đỗ Nguyên Hải, 1999)
1.2.2 Đặc điểm, phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
+ Trên đất nông nghiệp có thể bố trí các cây trồng, các hệ thống luân canh,
Trang 15do đó cần phải đánh giá hiệu quả từng loại cây trồng, từng công thức luân canh
+ Thâm canh là biện pháp sử dụng đất nông nghiệp theo chiều sâu, tác động đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước mắt và lâu dài Vì thế, cần phải nghiên cứu hậu quả của việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, nghiên cứu ảnh hưởng của việc tăng đầu tư thâm canh đến quá trình sử dụng đất
+ Phát triển nông nghiệp chỉ có thể thích hợp được khi con người biết làm cho môi trường cùng phát triển Do đó, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp đến môi trường xung quanh
+ Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những tác động của sản xuất nông nghiệp đến các vấn đề xã hội khác như: giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí nông thôn…
1.2.2.2 Nguyên tắc lựa chọn chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Việc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần phải dựa trên những nguyên tắc cụ thể:
+ Hệ thống các chỉ tiêu phải có tính thống nhất, toàn diện và tính hệ thống Các chỉ tiêu phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính so sánh có thang bậc (Nguyễn Đình Hợi, 1993)
+ Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu cơ bản biểu hiện hiệu quả một cách khách quan, chân thật và đúng đắn theo quan điểm
và tiêu chuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu cơ bản làm cho nội dung kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn (Vũ Khắc Hòa, 1996)
+ Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp
ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại, nhất là những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu
+ Hệ thống các chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn, tính khoa học và phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển
Trang 161.2.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Bản chất của hiệu quả là mối quan hệ giữa kết quả và chi phí Mối quan hệ này là mối quan hệ hiệu số hoặc là quan hệ thương số Dạng tổng quát của hệ thống chỉ tiêu hiệu quả sẽ là:
H = K - C
H = K/C
H = (K - C)/C
H = (K1 - K0)/(C1 - C0) Trong đó:
+ H: Hiệu quả + K: Kết quả + C: Chi phí + 1, 0 là chỉ số thời gian (năm)
* Hiệu quả kinh tế
+ Hiệu quả kinh tế tính trên 1 ha đất nông nghiệp
- Giá trị sản xuất (GTSX): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra trong 1 kỳ nhất định (thường là một năm)
- Chi phí trung gian (CPTG): là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất
- Giá trị gia tăng (GTGT): là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian, là giá trị sản phẩm xã hội tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó
GTGT = GTSX - CPTG + Hiệu quả kinh tế tính trên 1 đồng chi phí trung gian (GTSX/CPTG, GTGT/CPTG): đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả, nó chỉ ra hiệu quả sử dụng các chi phí biến đổi và thu dịch vụ
+ Hiệu quả kinh tế trên ngày công lao động quy đổi, gồm có (GTSX/LĐ, GTGT/LĐ) Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu
sử dụng đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của
Trang 17người lao động
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội được phân tích bởi các chỉ tiêu sau(Nguyễn Đình Hợi, 1993): + Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân;
+ Đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển của vùng;
+ Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân;
+ Góp phần định canh định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật
* Các chỉ tiêu về hiệu quả môi trường
Theo Đỗ Nguyên Hải (Đỗ Nguyên Hải, 1999), chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong quản lý sử dụng đất bền vững ở vùng nông nghiệp được tưới là:
+ Quản lý đối với đất đai rừng đầu nguồn;
+ Đánh giá các tài nguyên nước bền vững;
+ Đánh giá quản lý đất đai;
+ Đánh giá hệ thống cây trồng;
+ Đánh giá về tính bền vững đối với việc duy trì độ phì nhiêu của đất và bảo
vệ cây trồng;
+ Đánh giá về quản lý và bảo vệ tự nhiên;
+ Sự thích hợp của môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất
Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất nông nghiệp là rất phức tạp, rất khó định lượng, nó đòi hỏi phải được nghiên cứu, phân tích trong thời gian dài Vì vậy, đề tài nghiên cứu của chúng tôi chỉ dừng lại ở việc đánh giá hiệu quả môi trường thông qua kết quả điều tra về việc đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nhận xét của nông dân đối với các loại hình sử dụng đất hiện tại
1.3 Sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá
1.3.1 Những xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới
Theo Đường Hồng Dật, trên con đường phát triển nông nghiệp mỗi nước đều chịu ảnh hưởng của các điều kiện khác nhau, nhưng phải giải quyết vấn đề chung sau:
+ Không ngừng nâng cao chất lượng nông sản, năng suất lao động trong nông nghiệp, nâng cao hiệu quả đầu tư;
Trang 18+ Mức độ và phương thức đầu tư vốn, lao động, khoa học và quá trình phát triển nông nghiệp Chiều hướng chung nhất là phấn đấu giảm lao động chân tay, đầu tư nhiều lao động trí óc, tăng cường hiệu quả của lao động quản lý và tổ chức;
+ Mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp và môi trường
Từ những vấn đề chung trên, mỗi nước lại có chiến lược phát triển nông nghiệp khác nhau và có thể chia làm hai xu hướng:
* Nông nghiệp sinh thái: khái niệm nông nghiệp sinh thái được đưa ra nhằm
khắc phục những nhược điểm của nông nghiệp công nghiệp hoá Nông nghiệp sinh thái nhấn mạnh việc đảm bảo tuân thủ những nguyên tắc về sinh học trong nông nghiệp Mục tiêu của nông nghiệp sinh thái là:
- Tránh những tác hại do sử dụng hoá chất và phương pháp công nghiệp gây ra;
- Cải thiện chất lượng dinh dưỡng thức ăn;
- Nâng cao độ phì nhiêu của đất bằng phân bón hữu cơ, tăng hàm lượng mùn trong đất…
- Giảm thiểu ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí (Bách khoa toàn thư Việt Nam
Gần đây nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu nền nông nghiệp bền vững, đó là một dạng của nông nghiệp sinh thái với mục tiêu sản xuất nông nghiệp đi đôi với giữ gìn bảo vệ môi trường sinh thái đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững, lâu dài Trong thực tế phát triển theo những dạng tổng hợp, đan xen các xu hướng vào nhau ở nhiều mức độ khác nhau
Từ những bài học của lịch sử phát triển nông nghiệp, những thành tựu đạt được của khoa học công nghệ, ở giai đoạn hiện nay muốn đưa nông nghiệp đi lên phải xây dựng và thực hiện một nền nông nghiệp trí tuệ Bởi vì, tính phong phú đa dạng và đầy biến động của nông nghiệp đòi hỏi những hiểu biết và những xử lý đầy trí tuệ và rất biện chứng Nông nghiệp trí tuệ thể hiện ở việc phát hiện, nắm bắt và vận dụng các quy luật tự nhiên và xã hội trong mọi mặt hoạt động của hệ thống nông nghiệp phong phú, biểu hiện ở việc áp dụng các giải pháp phù hợp, khoa học Nông nghiệp trí tuệ là bước phát triển ở mức cao, là sự kết hợp ở đỉnh cao của các
Trang 19thành tựu sinh học, công nghiệp, kinh tế, quản lý được vận dụng phù hợp với điều kiện của mỗi nước, mỗi vùng (Nguyễn Văn Bộ, 2000)
* Nông nghiệp công nghiệp hoá: sử dụng nhiều thành tựu và kết quả của
công nghiệp, sử dụng nhiều vật tư kỹ thuật, dùng trang thiết bị máy móc sản xuất theo quy trình kỹ thuật chặt chẽ gần như công nghiệp, đạt năng suất cây trồng vật nuôi và năng suất lao động cao Khoảng 10% lao động xã hội trực tiếp làm nông nghiệp nhưng vẫn đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu Tuy nhiên, nông nghiệp công nghiệp hoá gây nên nhiều hậu quả sinh thái nghiêm trọng, gây ô nhiễm môi trường làm giảm tính đa dạng sinh học, làm hao hụt nguồn gen thiên nhiên
(Bách khoa toàn thư Việt Nam)
Theo cách hiểu gần đây nhất được đưa ra: nông nghiệp công nghiệp hoá là một nền nông nghiệp được công nghiệp hoá khi áp dụng đầy đủ các thành tựu của một xã hội công nghiệp vào nông nghiệp Các thành tựu đó thể hiện trên nhiều mặt: thông tin, điện tử, sinh học, hoá học, cơ khí… Thực tế cho thấy ở nhiều nước công nghiệp phát triển, nền nông nghiệp công nghiệp hoá thể hiện theo cách này đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Tuy nhiên, nhược điểm của nền nông nghiệp này là không chú ý đầy đủ đến các tác động của hoạt động sản xuất nông nghiệp lên môi trường tự nhiên (Nguyễn Văn Bộ, 2000)
1.3.2 Phương hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam trong những năm tới
Những năm gần đây, nền nông nghiệp nước ta bước đầu đã gắn phương thức truyền thống với phương thức công nghiệp hoá và đang từng bước giảm bớt tính tự cấp, tự túc, chuyển dần sang sản xuất hàng hoá và hướng tới xuất khẩu
Trên cơ sở thành tựu kỹ thuật nông nghiệp của hơn 20 năm đổi mới, dựa trên những dự báo về khoa học kỹ thuật, căn cứ vào điều kiện cụ thể, phương hướng chủ yếu phát triển nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm tới do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đề ra (Bộ NN & PTNT, 2009):
* Mục tiêu phát triển nông nghiệp giai đoạn 2011-2015: phục hồi tăng trưởng, tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp; phát huy dân chủ cơ sở, huy động sức mạnh cộng đồng để phát triển nông thôn; tăng thu nhập và giảm đáng kể tỷ lệ
Trang 20nghèo, bảo vệ môi trường
- Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp ổn định 3,3-3,8% Tạo chuyển biến rõ rệt
về mở rộng quy mô sản xuất bình quân của hộ và ứng dụng khoa học công nghệ
- Tạo bước đột phá trong đào tạo nhân lực Nâng cao cả kiến thức, kỹ năng sản xuất kinh doanh nông lâm ngư nghiệp và phi nông nghiệp cho lao động nông thôn
- Tạo chuyển biến rõ rệt phát triển kinh tế hợp tác, hiệp hội, phát triển liên kết dọc theo ngành hàng, kết nối giữa sản xuất - chế biến - kinh doanh Phát triển doanh nghiệp nông thôn
- Hình thành kết cấu hạ tầng căn bản phục vụ hiệu quả sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn Cải thiện căn bản môi trường và sinh thái nông thôn tập trung vào đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống dịch bệnh cho cây trồng và vật nuôi, phòng chống thiên tai
* Mục tiêu phát triển nông nghiệp giai đoạn 2016-2020: phát triển nông nghiệp theo hướng toàn diện, hiện đại, sản xuất hàng hóa lớn, vững bền; phát triển nông thôn gắn với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đất nước, tăng thu nhập và cải thiện căn bản điều kiện sống của cư dân nông thôn, bảo vệ môi trường
- Đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng nông nghiệp ở mức bình quân
3,5-4%/năm Hình thành một số ngành sản xuất kinh doanh mũi nhọn của Việt Nam
trên thị trường quốc tế
- Cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn chuyển đổi theo nhu cầu thị trường Phát triển chăn nuôi, thủy sản và lâm nghiệp Công nghiệp, dịch vụ và kinh tế đô thị phối hợp hiệu quả với sản xuất và kinh doanh nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn
- Chuyển phần lớn lao động nông thôn ra khỏi nông nghiệp, lao động nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội Hình thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp, có kỹ năng sản xuất và quản lý, gắn kết trong các loại hình kinh tế hợp tác
và kết nối với thị trường
- Phong trào xây dựng nông thôn mới phát triển mạnh với ít nhất 50% số
Trang 21xã đạt tiêu chuẩn Nâng cao thu nhập của cư dân nông thôn lên 2,5 lần so với hiện nay Quy hoạch dân cư, quy hoạch lãnh thổ nông thôn gắn với phát triển đô thị, công nghiệp
- Phát triển lâm nghiệp tăng độ che phủ của rừng lên 43- 45%, bảo vệ đa dạng sinh học, đảm bảo đánh bắt thủy sản nội địa và gần bờ trong khả năng tái tạo
và phát triển, khắc phục tình trạng ô nhiễm trong sản xuất nông nghiệp, khắc phục
và giảm thiểu thiệt hại thiên tai, dịch bệnh và các tác động xấu của biến đổi khí hậu (Bộ NN & PTNT, 2009)
1.3.3 Xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá
1.3.3.1 Sự cần thiết xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá
Nông nghiệp là một hoạt động sản xuất mang tính chất cơ bản của mỗi quốc gia (Nguyễn Đình Hợi, 1993) Nhiều nước trên thế giới có nền kinh tế phát triển, tỉ trọng của sản xuất công nghiệp và dịch vụ trong thu nhập quốc dân chiếm phần lớn, nông nghiệp chỉ chiếm một phần nhỏ Nhưng những khó khăn, trở ngại trong nông nghiệp đã gây ra không ít những xáo động đến đời sống xã hội và ảnh hưởng sâu sắc đến tốc độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế nói chung (Lê Ngọc Dương, Trần Công Tá, 1999) Để nông nghiệp có thể thực hiện vai trò quan trọng của mình đối với nền kinh tế quốc dân đòi hỏi nông nghiệp phát triển toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc
Hai mươi năm qua, hàng nông sản Việt Nam đã được xuất khẩu đi nhiều nước, nhiều mặt hàng nằm trong tốp đứng đầu thế giới Theo thống kê năm 2010, một
số mặt hàng nông sản xuất khẩu với khối lượng lớn như: hạt tiêu đạt 83 nghìn tấn, chè đạt 114 nghìn tấn, cao su là 715 nghìn tấn, gạo đạt 4.568 nghìn tấn, cà phê đạt 1.229 nghìn tấn, hạt điều là 153 nghìn tấn Gia nhập WTO, Việt Nam có một thị trường khổng lồ cho nông nghiệp hàng hoá phát triển Do đó phải tuân thủ ‘‘luật chơi’’ Vào WTO, trong vòng 5 - 7 năm, thuế nhập khẩu bình quân giảm từ 17,4% xuống còn 13,4% ; riêng hàng nông sản trong 5 năm tới thuế nhập khẩu giảm từ 23,5% hiện xuống còn 20,9% Hiện nay, chúng ta trồng cây gì, nuôi con gì cũng nhỏ
lẻ thiếu tập trung Vậy cần phải nhanh chóng đổi mới nền nông nghiệp để đáp ứng
Trang 22được nhu cầu của thị trường, đảm bảo chất lượng Con đường tất yếu phát triển nông nghiệp nước ta là phải chuyển từ sản xuất nhỏ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá
Kim ngạch xuất khẩu nông lâm sản năm 2005 của Việt Nam là 5,7 tỉ USD, năm 2010 đã đạt 19,15 tỉ USD So với Thái Lan, Malaixia, Philipin các nước có tiềm năng tương tự Việt Nam, họ đã đạt và vượt mức này từ lâu Mailaixia đạt kim ngạch xuất khẩu 14 tỉ USD từ năm 1986, Thái Lan đạt 10 tỉ USD năm 1987, Philipin năm 1992 Hiện nay kim ngạch xuất khẩu của Thái Lan, Malaixia, Philipin đều lớn hơn Việt Nam (Vũ Thị Thanh Tâm, 2007)
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, diện tích trồng rau trên đất nông nghiệp
cả năm 2014 của Việt Nam là 644,0 nghìn ha, tăng 29,5% so với năm 2000 Năng suất cao nhất từ trước tới nay (149,9 tạ/ha) Tổng sản lượng rau cả nước đạt 9,65 triệu tấn, đạt 144 nghìn tỷ đồng, chiếm 9% GDP của ngành nông nghiệp, trong khi diện tích chỉ chiếm 6% (Tổng cục Thống kê, 2014)
Tuy có những đóng góp tương đối lớn trong kim ngạch xuất khẩu nhưng năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá Việt Nam còn thấp
so với các nước trong khu vực và trên thế giới Điều đó làm cho nông sản hàng hoá khó tiêu thụ, ảnh hưởng bất lợi đến thu nhập của người sản xuất Mặc dù đạt kết quả khả quan song bước tăng trưởng chưa bền vững Sâu bệnh hại lúa và mạ như rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá lúa, bệnh đạo ôn vẫn có xu hướng tăng nhanh Dịch cúm gia cầm vẫn có nguy cơ tái phát trở lại, việc nâng cao chất lượng nông sản phẩm, vệ sinh
an toàn thực phẩm chưa được đặc biệt chú trọng Diện tích đất canh tác vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ, đặc biệt công tác dồn điền đổi thửa gặp phải nhiều khó khăn đã hạn chế phát triển nông nghiệp hàng hoá Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất gieo trồng chưa được phổ biến rộng rãi Đặc biệt, khả năng đầu tư số vốn lớn để phát triển các mô hình có quy mô lớn còn hạn chế Một trong những nguyên nhân của việc xuất khẩu hàng hoá sụt giảm là “vì chúng ta chưa có tập quán sản xuất nông nghiệp chất lượng cao để cạnh tranh với thị trường thế giới’’ Mặt khác, số đông nông dân còn thiếu những hiểu biết về thị trường, thiếu năng lực, bản lĩnh và trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh nông nghiệp hàng hoá Do đó, sản xuất hàng hoá phần nhiều mang
Trang 23tính tự phát, thiếu ổn định và thiếu định hướng thị trường (Vũ Thị Thanh Tâm, 2007)
Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với phát triển nông nghiệp hiện nay là phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá có định hướng và thị trường ổn định Muốn vậy chúng ta cần phải có hệ thống sản xuất đồng bộ, đạt tiêu chuẩn
Sản xuất hàng hoá phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố kinh tế xã hội, tự
nhiên, môi trường, do đó khả năng rủi ro trong sản xuất là không thể tránh khỏi Mặt khác, chúng ta chưa hình thành một nền nông nghiệp hàng hoá theo đúng nghĩa cũng như chưa có công nghệ để giải quyết vấn đề này Chuyển sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá là sự phát triển hợp quy luật, đó là quá trình chuyển nông nghiệp truyền thống, manh mún, lạc hậu thành nền nông nghiệp hiện đại Sản xuất hàng hoá là quy luật khách quan của mọi hình thái kinh tế xã hội, nó phản ánh trình
độ phát triển sản xuất của xã hội đó (Từ điển tiếng việt, 1992) Theo V.I Lênin thì nguồn gốc của sản xuất hàng hoá là sự phân công lao động xã hội Vì thế phân công lao động xã hội càng sâu sắc thì sản xuất hàng hoá càng phát triển (Vũ Thị Phương Thụy, 2000)
Nền sản xuất hàng hoá có đặc trưng là dựa trên cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, trình độ khoa học kỹ thuật, trình độ văn hoá của người lao động cao Đó là nền sản xuất nông nghiệp có cơ cấu sản xuất hợp lý, được hình thành trên cơ sở khai thác tối đa thế mạnh sản xuất nông nghiệp từng vùng Vì thế nó là nền nông nghiệp
có hiệu quả kinh tế cao, khối lượng hàng hoá nhiều với nhiều chủng loại phong phú
Vậy sản xuất hàng hoá là gì?
+ Đối với hộ nông dân, những sản phẩm được đưa bán ra ngoài thì gọi là sản phẩm hàng hoá (Vũ Thị Thanh Tâm, 2007)
Trang 24+ Đối với hệ thống trồng trọt, nếu mức hàng hoá sản xuất được bán ra thị trường dưới 50% gọi là hệ thống trồng trọt thương mại hoá một phần, nếu trên 50% gọi là hệ thống trồng trọt thương mại hoá (sản xuất theo hướng hàng hoá)( Hà Thị Thanh Bình, 2000)
+ Hàng hoá là sản phẩm của lao động dùng để trao đổi Sản xuất hàng hoá là sản xuất ra sản phẩm đem bán để thu về giá trị của nó trong đó có phần giá trị thặng
dư để tái sản xuất và mở rộng quy mô (Vũ Thị Ngọc Trân, 1996)
Hàng hoá là sản phẩm do lao động tạo ra, dùng để trao đổi, sản xuất hàng hoá ra đời và phát triển dựa trên cơ sở phát triển các phương thức sản xuất và sự phân công lao động xã hội Sự phân công ấy ngày càng cao, càng sâu sắc, trình độ chuyên môn hoá cao thì sản xuất hàng hoá càng phát triển, đời sống người dân ngày một tăng lên Điều đó làm cho quá trình trao đổi diễn ra mạnh hơn, sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển đa dạng hơn (Đỗ Thị Tám, 2001)
Nền kinh tế thị trường ra đời làm nảy sinh mối quan hệ cung cầu trên thị trường Đối với sản xuất nông nghiệp thì khả năng “cung” cho thị trường là các loại nông sản phẩm…, “cầu” cho nông nghiệp là các yếu tố đầu vào như phân bón, thuốc trừ sâu Hiện nay, nếu chủ hộ không chuyên môn hoá cao trong việc sản xuất kinh doanh, không thay đổi cơ cấu giống và thâm canh tăng vụ thì kết quả sản xuất cũng chỉ để thoả mãn nhu cầu của mình mà không có sản phẩm đem ra bán ở thị trường hoặc sản phẩm không đáp ứng được nhu cầu của thị trường và sẽ không có tích luỹ để đề phòng rủi ro Trong sản xuất hàng hoá rủi ro về thị trường luôn là mối lo ngại nhất của người sản xuất
Hiện nay, thị trường và hoạt động tiêu thụ nông sản phẩm ở nước ta nổi lên một số vấn đề sau (Đỗ Thị Tám, 2001):
+ Hầu hết các sản phẩm nông nghiệp thường bị tồn đọng, nhất là vào thời vụ thu hoạch
+ Trong tất cả các kênh phân phối liên quan đến sản xuất nông nghiệp đều có
sự tham gia rất phổ biến của tư thương Phân phối qua nhiều khâu trung gian đã làm chậm quá trình lưu thông sản phẩm, thậm chí gây ách tắc dẫn đến tồn đọng giả tạo
Trang 25+ Hệ thống kinh doanh thương mại Nhà nước đang lâm vào thế lúng túng Thị trường đầu ra không ổn định gây khó khăn thường xuyên cho nông nghiệp trong việc bao tiêu sản phẩm và bao cung vật tư sản xuất
- Đối với nông dân, trong sản xuất nông nghiệp vẫn phổ biến là “bán cái mình
có chứ không phải bán cái thị trường cần”, hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu sử dụng cái sẵn có chứ không chủ động khai thác các yếu tố của nền kinh tế thị trường
Từ những vấn đề trên cho thấy: xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá là hướng đi đúng, là sự vận động phát triển phù hợp quy luật Vì vậy, tìm kiếm thị trường
và những giải pháp sản xuất và đầu tư hợp lý để sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá có hiệu quả cao, ổn định là rất cần thiết
1.3.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển
nông nghiệp sản xuất hàng hoá
* Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết ) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp Bởi vì, các yếu tố của điều kiện tự nhiên là tài nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối Do vậy, cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên để trên cơ sở đó xác định cây trồng, vật nuôi chủ lực phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng
Theo Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch I Theo N.Borlang - người được giải Noben về giải quyết lương thực cho các nước phát triển cho rằng: Yếu tố duy nhất quan trọng hạn chế năng suất cây trồng ở tầm cỡ thế giới của các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông dân thiếu vốn là độ phì của đất Và sản xuất nông nghiệp được coi là ngành kinh doanh năng lượng ánh sáng mặt trời dựa trên các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khác(Vũ Thị Thanh Tâm, 2007)
Điều kiện về đất đai, khí hậu thời tiết có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, các hộ nông dân có thể lợi dụng những yếu tố đầu vào không kinh tế thuận lợi để tạo ra nông sản hàng hoá với giá rẻ
* Nhóm các yếu tố kinh tế tổ chức
+ Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất
Trang 26Phát triển sản xuất hàng hoá phải gắn với công tác quy hoạch và phân vùng sinh thái nông nghiệp Cơ sở để tiến hành quy hoạch dựa vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc trưng cho từng vùng Việc phát triển sản xuất nông nghiệp phải đánh giá, phân tích thị trường tiêu thụ và gắn với quy hoạch công nghiệp chế biến
Đó sẽ là cơ sở để phát triển sản xuất, khai thác các tiềm năng của đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển sản xuất hàng hoá
+ Hình thức tổ chức sản xuất: các hình thức tổ chức sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến việc khai thác, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Vì vậy, cần phải thực hiện đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập một hệ thống
tổ chức sản xuất, kinh doanh phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa sản xuất, dịch
vụ và tiêu thụ nông sản hàng hoá Tổ chức có tác động lớn đến hàng hoá của hộ nông dân là: Tổ chức dịch vụ đầu vào và đầu ra
+ Dịch vụ kỹ thuật: sản xuất hàng hoá của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ kỹ thuật và việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất Vì sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển đòi hỏi phải không ngừng nâng cao chất lượng nông sản và hạ giá thành nông sản phẩm (Vũ Thị Thanh Tâm, 2007)
* Nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội
Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá cũng giống như ngành sản xuất vật chất khác của xã hội, nó chịu sự chi phối của quy luật cung cầu, chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố đầu vào, quy mô các nguồn lực như: đất, lao động, vốn sản xuất, thị trường, kiến thức và kinh nghiệm trong sản xuất và tiêu thụ nông sản (Lê Ngọc Dương, Trần Công Tá, 1999)
+ Thị trường là nhân tố quan trọng, dựa vào nhu cầu của thị trường nông dân lựa chọn hàng hoá để sản xuất Theo Nguyễn Duy Tính (1995), ba yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là năng suất cây trồng,
hệ số quay vòng đất và thị trường cung ứng đầu vào và tiêu thụ đầu ra
Trong cơ chế thị trường, các nông hộ hoàn toàn tự do lựa chọn hàng hoá họ
có khả năng sản xuất, đồng thời họ có xu hướng hợp tác, liên doanh, liên kết để sản xuất ra những nông sản hàng hoá mà nhu cầu thị trường cần với chất lượng cao đáp
Trang 27ứng nhu cầu thị hiếu của khách hàng Muốn mở rộng thị trường phải phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin, dự báo, mở rộng các dịch vụ tư vấn Đồng thời, quy hoạch các vùng trọng điểm sản xuất hàng hoá để người sản xuất biết nên sản xuất cái gì? bán ở đâu? mua tư liệu sản xuất và áp dụng khoa học công nghệ gì? Sản phẩm hàng hoá của Việt Nam đa dạng, phong phú về chủng loại, chất lượng, giá rẻ và đang được lưu thông trên thị trường là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá có hiệu quả (Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung và cộng sự, 1998)
+ Hệ thống chính sách về đất đai, điều chỉnh cơ cấu đầu tư, hỗ trợ có ảnh hưởng lớn đến sản xuất hàng hoá của nông dân Đó là công cụ để nhà nước can thiệp vào sản xuất nhằm khuyến khích hoặc hạn chế sản xuất các loại nông sản hàng hoá
Trong hơn mười năm qua, Việt Nam đã thực hiện chính sách đổi mới trong nông nghiệp, tập trung vào trọng tâm: làm rõ và giao cho nông dân nhiều quyền đối với ruộng đất; tự do hóa thương mại trong nước và xuất nhập khẩu; giao quyền quyết định sản xuất cho nông dân; đổi mới các hợp tác xã, doanh nghiệp nhà nước, khuyến khích kinh tế tư nhân Đồng thời nhà nước tăng đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp tín dụng, chuyển giao khoa học công nghệ Những chính sách mới đã khuyến khích mạnh mẽ nhân dân đầu tư vào phát triển sản xuất Nông nghiệp Việt Nam đã phát triển nhanh, liên tục trong thời kỳ thực hiện chính sách đổi mới Từ chỗ phải nhập khẩu lương thực triền miên trong vài thập kỷ, nay đã xuất khẩu được trên 4 triệu tấn gạo hàng hoá đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo Nền nông nghiệp từng bước chuyển từ sản xuất tự cung, tự cấp sang nền nông nghiệp hàng hóa đa dạng, hướng ra xuất khẩu
+ Sự ổn định chính trị - xã hội và các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển nông nghiệp của Nhà nước Cùng với những kinh nghiệm, tập quán sản xuất nông nghiệp, trình độ năng lực của các chủ thể kinh doanh, là những động lực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp hàng hoá
Trang 28* Nhóm các yếu tố kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi, nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế Đây là những vấn đề thể hiện sự hiểu biết về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện những
dự báo thông minh của người sản xuất Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt được các mục tiêu đề ra là cơ sở để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá Theo Frank Ellis và Douglass C.North, ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt
ra yêu cầu mới đối với tổ chức sử dụng đất Có nghĩa là ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh dựa trên việc chuyển đổi sử dụng đất Cho đến giữa thế kỷ 21, trong nông nghiệp nước
ta, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp (Vũ Thị Thanh Tâm, 2007)
1.3.3.3 Một số định hướng phát triển nền nông nghiệp phát triển sản xuất hàng hoá
Trong thế kỷ 21, nông nghiệp Việt Nam giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, tạo việc làm và thu nhập cho hơn 54,2% lực lượng lao động cả nước, đảm bảo đời sống cho 70% dân số, giữ gìn và bảo vệ các nguồn tài nguyên môi trường sinh thái Đứng trước những cơ hội cũng như thử thách mới, ngành nông nghiệp đã xác định rõ: tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, phấn đấu xây dựng nhiều cánh đồng, trang trại, hộ nông dân đạt 50 triệu đồng/ha/năm Tốc độ tăng trưởng giá trị nông nghiệp tăng 3,5%, sản lượng lương thực có hạt đạt trên 40 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 4,5 tỷ USD Để khuyến khích sự phát triển của nền nông nghiệp hàng hóa, Chính phủ ban hành một số chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Theo đó 10 năm tới những ngành sản
Trang 29xuất hàng hoá quan trọng của nông nghiệp nước ta cần phát triển theo định hướng sau:
* Về sản xuất lương thực: Lúa gạo là ngành sản xuất có thế mạnh Mức sản
lượng lúa ổn định khoảng 33 triệu tấn/năm Cây màu lương thực chủ yếu là ngô, cần phát triển đạt mức 5 - 6 triệu tấn/năm đủ nguyên liệu làm thức ăn chăn nuôi
* Về cây công nghiệp ngắn ngày: Phát triển mạnh cây có dầu (lạc, đậu
tương, vừng, hướng dương…) để cung cấp dầu ăn, các loại cây có sợi (dâu tằm, bông…) gắn với ngành ươm tơ dệt lụa
* Những cây công nghiệp lâu năm truyền thống có giá trị kinh tế cao, tập
trung phát triển cà phê, chè sản lượng cà phê trong tương lai giữ mức khoảng 600.000 tấn/năm Phát triển mạnh cây điều ở miền trung, diện tích cây cao su Bên cạnh đó phát triển mạnh công nghiệp chế biến các sản phẩm mủ từ cao su, gỗ cao su
* Về rau, hoa quả và cây cảnh, ngoài các loại rau truyền thống, phát triển
các loại rau cao cấp mới như: Các loại đậu rau, ngô rau, măng, nấm ăn, nấm dược liệu… là những loại rau có giá trị dinh dưỡng cao, có thị trường tiêu thụ, tiếp tục phát triển các loại cây ăn quả có khả năng xuất khẩu: vải, nhãn, dứa, thanh long… gắn với công nghiệp chế biến
* Về lâm nghiệp: ngoài việc bảo vệ, khoanh nuôi, tái sinh, trồng rừng phòng
hộ, cần phát triển rừng sản xuất Cụ thể là phát triển các loại tre trúc, keo thông, các loại bạch đàn… làm nguyên liệu cho phát triển ngành giấy Tiếp tục phát triển các ngành sản xuất gỗ ván nhân tạo gồm ván ghép thành, ván dăm, ván sợi, công nghiệp chế biến và xuất khẩu gỗ, thủ công mỹ nghệ… Phát triển các loại quế hồi… các loại cây quý hiếm như giáng hương, sao, lim, lat, pơmu, tếch… các loại cây đặc sản, cây lấy gỗ để làm nguyên liệu để chế biến sản phẩm thủ công mỹ nghệ
* Về chăn nuôi: Phát triển đàn lợn phù hợp với nhu cầu của thị trường tiêu
dùng trong nước, một số vùng chăn nuôi lợn chất lượng cao để xuất khẩu Phát triển đàn bò sữa, nâng cao chất lượng và năng suất sữa Phát triển đàn gia cầm chủ yếu là chăn nuôi gà vịt ngan
* Về thuỷ sản: Cùng với việc phát triển đánh bắt xa bờ, tập trung đầu tư phát
triển bền vững ngành nuôi trồng thuỷ sản Tôm là ngành chủ lực trong nuôi trồng thuỷ
Trang 30sản gồm tôm nước lợ và tôm nước ngọt Đồng thời phát triển mạnh nuôi các loại cá nước ngọt, nước lợ, nước mặn và các loại đặc sản khác (Bộ NN & PTNT, 2005)
Theo Đặng Kim Sơn và Trần Công Thắng (2001), khi nghiên cứu sự chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp của một số nước Đông Nam Á cho thấy:
+ Các nước đang chuyển đổi nhanh cơ cấu kinh tế và cơ cấu nông nghiệp theo hướng tập trung phát triển ngành hàng dựa vào lợi thế và cải tổ để đương đầu với những thách thức mới của thế kỷ XXI
- Thái Lan: phát huy thế mạnh sẵn có, phát triển mạnh sản xuất nông nghiệp
và xuất khẩu nông sản theo hướng đa dạng hoá sản phẩm, giảm bớt rủi ro thị trường
và tăng cường đầu tư công nghệ chế biến
- Malaixia: tập trung sản xuất hàng hoá có lợi thế cạnh tranh cao để xuất khẩu, phát triển nông nghiệp thành một lĩnh vực hiện đại và thương mại hoá cao Tăng cường phát triển ngành chế biến gắn với sản xuất nông nghiệp dựa vào tài nguyên của từng địa phương
- Philipin: phát huy thế mạnh sẵn có xây dựng các vùng chuyên canh gắn với công nghiệp chế biến, hệ thống thông tin, ứng dụng và tiếp thị Tăng cường đầu tư cho nghiên cứu chuyển giao, áp dụng công nghệ và khuyến nông Thay đổi chiến lược chính sách nông nghiệp từ bảo trợ sản xuất sang tăng cường cạnh tranh
Ở Việt Nam, chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp đã góp phần làm tăng trưởng kinh tế trong nông nghiệp: năm 1990 - 1992 tăng 4,21%, GTSX nông nghiệp tăng 5,83%, trong đó trồng trọt tăng 5,88%, chăn nuôi tăng 5,98% Năm 1999, cơ cấu GTSX ngành nông nghiệp (tính theo giá hiện hành) cho thấy: ngành trồng trọt chiếm 79,39%, chăn nuôi chiếm 18,22%, dịch vụ chiếm 2,39% Cơ cấu GTSX ngành trồng trọt năm 1999 (tính theo giá cố định 1994) cây lương thực chiếm 63,7%, cây rau đậu chiếm 7,3%, cây công nghiệp chiếm 20,5% và cây ăn quả chiếm 7,5% Mặt khác, cơ cấu mùa vụ nhiều vùng đã có sự chuyển đổi, đã hình thành một số vùng chuyên canh tập trung sản xuất các sản phẩm nông nghiệp có chất lượng đáp ứng yêu cầu xuất khẩu (Vũ Thị Thanh Tâm, 2007)
Văn kiện Đại hội Đảng khoá X đã chỉ rõ “Định hướng phát triển ngành
Trang 31kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và kinh tế nông thôn là: công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn theo hướng đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động, hình thành nền nông nghiệp hàng hoá lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái trên từng vùng” Định hướng phát triển vùng đồng bằng sông Hồng là “Phát triển nền nông nghiệp hàng hoá đa dạng, cùng với lương thực đưa vụ đông thành một thế mạnh, hình thành các vùng chuyên canh rau, cây ăn quả, hoa và phát triển chăn nuôi ”(Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 10, 2006)
Phan Sỹ Mẫn và Nguyễn Việt Anh, đã đưa ra định hướng và tổ chức phát triển nền nông nghiệp hàng hoá như sau:
+ Phát triển mạnh kinh doanh hàng hoá theo chiều sâu trên cơ sở đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, khai thác lợi thế
so sánh của từng vùng gắn với bảo vệ và tái tạo tài nguyên, môi trường sinh thái Đảm bảo an ninh lương thực đáp ứng nhu cầu hàng nông sản và nguyên liệu cho thị trường trong nước đồng thời hướng tới xuất khẩu
+ Tiếp tục đổi mới thể chế chính sách và có các giải pháp đồng bộ về việc tổ chức, quản lý quá trình phát triển Cụ thể là:
- Tăng cường công tác quy hoạch, tổ chức và quản lý phát triển Quy hoạch
và định hướng phát triển nông nghiệp theo từng vùng, từng tiểu vùng kinh tế - sinh thái và theo nhóm sản phẩm hàng hoá Trước hết cần tập trung cho các vùng nông nghiệp trọng điểm, có điều kiện sản xuất hàng hoá với quy mô lớn tạo ra sản phẩm hàng hoá chủ lực có giá trị kinh tế cao, có lợi thế xuất khẩu và phù hợp với điều kiện của vùng
- Tăng cường đầu tư và điều chỉnh cơ cấu đầu tư thích ứng với yêu cầu thực
tế phát triển nông nghiệp Coi trọng hơn nữa đầu tư cho nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, kỹ thuật mới Tăng đầu tư và hỗ trợ đầu tư cho công nghệ sau thu hoạch và phát triển công nghệ chế biến
- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, phát triển hệ thống khuyến nông và các dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp
Trang 32- Hỗ trợ và thúc đẩy phát triển các hình thức kinh tế hợp tác, liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp
- Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện thể chế, chính sách thị trường
1.4 Các nghiên cứu liên quan đến nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
và phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá
1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài là vấn đề quan trọng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới Các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu vào việc đánh giá hiệu quả đối với từng loại cây trồng, từng giống cây trồng trên mỗi loại đất, để từ đó sắp xếp,
bố trí lại cơ cấu cây trồng phù hợp nhằm khai thác tốt hơn lợi thế so sánh của vùng
Hàng năm các Viện nghiên cứu nông nghiệp trên thế giới cũng đã đưa ra nhiều giống cây trồng mới, những kiểu sử dụng đất mới, giúp cho việc tạo thành một số hình thức sử dụng đất mới ngày càng có hiệu quả cao hơn Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) đã có nhiều thành tựu về lĩnh vực giống lúa và hệ thống cây trồng trên đất lúa
Nói chung về việc sử dụng đất đai, các nhà khoa học trên thế giới đều cho rằng: đối các vùng nhiệt đới có thể thực hiện các công thức luân canh cây trồng hàng năm, có thể chuyển từ chế độ canh tác cũ sang chế độ canh tác mới tiến bộ hơn, mang kết quả và hiệu quả cao hơn Tạp chí “Farming Japan” của Nhật Bản ra hàng tháng đã giới thiệu nhiều công trình ở các nước trên thế giới về các hình thức
sử dụng đất đai cho người dân, nhất là ở nông thôn (Hà Thị Thanh Bình, 2000)
Bên cạnh các công trình khoa học nghiên cứu, việc thực hiện hàng loạt các chính sách đáp ứng cho nhu cầu phát triển nông nghiệp hàng hóa và nâng cao hiệu quả sử dụng đất là tiền đề quan trọng Hầu hết các nước trên thế giới đều đưa ra những chính sách phù hợp nhằm đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Đó là:
- Thực hiện chính sách ruộng đất hợp lý, đảm bảo người cày có ruộng Chính sách ruộng đất hợp lý sẽ khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực, nhất là đối với
Trang 33những nước có nền nông nghiệp chiếm vị trí chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân Ở Đài Loan, đầu tiên Chính phủ thực hiện chính sách giảm tô để giảm bớt gánh nặng cho nông dân, sau đó đưa ra chính sách “hạn điền” quy định số lượng ruộng đất được
tư hữu đối với các chủ đất Vì vậy, người sản xuất nông nghiệp gắn bó với ruộng đất, yên tâm đầu tư khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất nông nghiệp Khi nông nghiệp phát triển, Chính phủ Đài Loan đã đưa ra chủ trương khuyến khích nông dân “chung nhau kinh doanh”, “ủy thác kinh doanh”, “thay mặt kinh doanh”… để tập ruộng đất đạt tới quy mô cần thiết của nông nghiệp hàng hóa, khai thác hiệu quả đất đai
- Ứng dụng công nghệ sinh học tạo ra giống cây, con cho năng suất cây trồng, vật nuôi ao và góp phần tăng năng suất lao động nông nghiệp Ở Trung Quốc, nhờ ưu tiên phát triển công nghệ sinh học, nhiều giống lúa lai như Tạp Giao thế hệ
1, thế hệ 2, thế hệ 3 được áp dụng dẫn đến bước nhảy vọt về năng suất lúa, sản lượng lương thực và năng suất lao động nông nghiệp Nhờ vậy, sản lượng lương thực Trung Quốc vượt mức 425 triệu tấn và mức lương thực bình quân đầu người
390 kg/người Chính sách khoa học kỹ thuật của Trung Quốc tập trung vào những vấn đề như giống, đào tạo cán bộ chuyên môn kỹ thuật, tổ chức tốt các mô hình triển khai công nghệ sản xuất nông nghiệp Ước tính trong thập kỷ 90 của thế kỷ 20 tiến bộ khoa học công nghệ đóng góp tới 30% tổng giá trị gia tăng của nông nghiệp Trung Quốc
Bên cạnh Trung Quốc, Thái Lan cũng là nước đầu tư nhiều cho khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ sinh học để tạo ra nhiều giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt mang lại giá trị xuất khẩu lớn Tại cuộc triển lãm nông nghiệp thế giới, Nhật Bản đã làm cho nhiều nước phải kinh ngạc với những giống cây trồng có năng suất cao như cà chua hàng tạ/quả, giống bí đỏ có quả khổng lồ Ngày nay, ở nhiều nước, những lợi thế của điều kiện tự nhiên đã được khai thác gần tối đa, nên muốn có năng suất cao phải tìm cách đầu tư vào khoa học công nghệ, nhất là công nghệ sinh học tiến bộ khoa học công nghệ về sinh học sẽ tạo ra những
bộ giống cây trồng vật nuôi có khả năng thích nghi với thời tiết, khí hậu khắc nghiệt
Trang 34và có năng suất cao, chất lượng tốt
- Thực hiện tốt chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn Thái Lan rất chú trọng đến chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo yêu cầu thị trường Từ chỗ độc canh cây lúa, dẫn tới sản xuất nhiều cây trồng, vật nuôi
có giá trị kinh tế cao như ngũ cốc, cây ăn quả… Mặt hàng nông sản xuất khẩu của Thái Lan đứng đầu thế giới như cao su, sắn, gạo… Kinh nghiệm của Đài Loan cho thấy, công nghiệp hóa bắt đầu đi từ nông thôn Tức là đã theo hướng lấy phát triển nông nghiệp nuôi công nghiệp và lấy công nghiệp để thúc đẩy phát triển nông nghiệp Đó chính là nguyên nhân chính tạo ra sự thành công lớn đối với vùng lãnh thổ đất chật người đông
1.4.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Việt Nam thuộc vùng nhiệt đới ẩm Châu Á có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên nguồn đất có hạn, dân số lại đông, bình quân đất tự nhiên trên người là 0,45 ha, chỉ bằng 1/3 mức bình quân của thế giới, xếp thứ 135 trên thế giới, xếp thứ 9/10 Đông Nam Á Mặt khác, dân số lại tăng nhanh làm cho bình quân diện tích đất trên người sẽ tiếp tục giảm Theo dự kiến nếu tốc độ tăng dân số là 1-1,2% năm thì dân số Việt Nam sẽ là 115 triệu người vào năm 2020 (Vũ Thị Phương Thụy (2005) Trong khi đó diện tích đất nông nghiệp có chiều hướng giảm nhanh do chuyển mục đích sử dụng Vì thế nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là yêu cầu cần thiết đối với Việt Nam trong những năm tới (Đỗ Thị Tám, 2001)
Thực tế những năm qua chúng ta đã quan tâm giải quyết tốt các vấn đề về kỹ thuật và kinh tế, tổ chức trong sử dụng đất nông nghiệp, việc nghiên cứu và ứng dụng được tập trung vào các vấn đề như: lai tạo các giống cây trồng mới ngắn ngày
có năng suất cao, bố trí luân canh cây trồng phù hợp với từng loại đất, thực hiện thâm canh trên cơ sở ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất (Vũ Thị Phương Thụy, 2005) Các công trình có giá trị trên phạm vi cả nước phải kể đến công trình nghiên cứu đánh giá tài nguyên đất đai Việt Nam của Nguyễn Khang và Phạm Dương Ưng , đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển
Trang 35lâu bền của tác giả Trần An Phong- Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp (Trần
An Phong và cs, 2006)
Vùng đồng bằng sông Hồng có tổng diện tích tự nhiên là 1.486,20 nghìn ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 760,30 nghìn ha, chiếm 51,16% diện tích tự nhiên trong vùng (Tổng cục Thống kê, 2014) Đây là trung tâm sản xuất lương thực lớn thứ 2 của cả nước, là nơi thu hút nhiều công trình nghiên cứu khoa học, góp phần định hướng cho việc xây dựng các hệ thống cây trồng và sử dụng đất thích hợp Trong đó phải kể đến các công trình như: Hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên đất phù sa sông Hồng huyện Mỹ Văn - tỉnh Hải Hưng của tác giả Vũ Thị Bình; Nghiên cứu hệ thống nông nghiệp lưu vực sông Hồng của tác giả Đào Thế Tuấn và Pascal Bergret; Quy hoạch sử dụng đất vùng đồng bằng sông Hồng của tác giả Phùng Văn Phúc; Đề tài đánh giá hiệu quả một số mô hình đa dạng hoá cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng của tác giả Vũ Năng Dũng Trong những năm gần đây, chương trình quy hoạch cụ thể vùng đồng bằng sông Hồng đã nghiên cứu đề xuất dự án phát triển đa dạng hoá nông nghiệp đồng bằng sông Hồng, kết quả cho thấy:
Ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ đã xuất hiện nhiều mô hình luân canh cây trồng 3
- 4 vụ một năm đạt hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt ở các vùng sinh thái ven đô, tưới tiêu chủ động Đã có những điển hình về chuyển đổi hệ thống cây trồng, trong việc
bố trí lại và đưa vào những cây trồng có giá trị kinh tế như hoa, cây ăn quả, cây thực phẩm cao cấp
Năm 2009, Hà Học Ngô và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu đánh giá tiềm năng đất đai và đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Châu Giang, Hưng Yên Kết quả nghiên cứu cho thấy, vùng này có thể phát triển các loại hình sử dụng đất cho đạt hiệu quả như lúa - màu, lúa - cá, chuyên rau màu, hoa cây cảnh và cây ăn quả Đồng thời nghiên cứu đã chỉ ra rằng, một trong những nguyên nhân làm cho sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá chưa được khai thác triệt để là do chưa xác định được hướng sử dụng lợi thế đất nông nghiệp, đồng thời chưa xây dựng được các mô hình sản xuất nông nghiệp
Trang 36có hiệu quả kinh tế cao (Hà Học Ngô và các cs, 2009)
Việc quy hoạch tổng thể vùng đồng bằng sông Hồng, nghiên cứu đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp và phân vùng sinh thái nông nghiệp của nhiều tác giả và các nhà khoa học như: Vũ Năng Dũng, Trần An Phong, Nguyễn Văn Phúc Các tác giả đã chỉ ra mỗi vùng sinh thái có đặc điểm khí hậu thời tiết, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khác nhau cần phải quy hoạch cụ thể và nghiên cứu ở từng vùng sinh thái thì hiệu quả các biện pháp kinh tế kỹ thuật trong sản xuất mới phát huy tác dụng và đạt kết quả tốt
Trong giai đoạn qua, các nhà khoa học bắt đầu nghiên cứu vấn đề chuyển đổi
cơ cấu cây trồng, vật nuôi với mục đích nâng cao hiệu quả sử dụng đất Ví dụ như nghiên cứu của Đỗ Văn Viện, Phạm Vân Đình Nhiều các biện pháp quản lý kinh
tế sản xuất, tổ chức sử dụng đất nông nghiệp, thay đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi được áp dụng vào thực tế mang lại lại những kết quả bước đầu
Từ năm 2005 đến năm 2010, Nguyễn Ích Tân đã tiến hành nghiên cứu tiềm năng đất đai, nguồn nước và xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp nhằm khai thác có hiệu quả kinh tế đối với vùng úng trũng xã Phụng Công, huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên Kết quả nghiên cứu cho thấy: Trên đất vùng úng trũng Phụng Công, huyện Châu Giang có thể áp dụng mô hình lúa xuân - cá hè đông, lúa xuân - cá hè đông và CAQ sẽ nâng cao được hiệu quả sử dụng đất
Năm 2001, Đỗ Thị Tám tiến hành nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên Kết quả nghiên cứu cho thấy, một số LUT điển hình không những cho hiệu quả kinh tế cao, dễ áp dụng mà còn có thể tạo được nhiều việc làm có giá trị ngày công lao động cao như: LUT cây ăn quả, LUT lúa – cá, LUT chuyên màu Có thể nhận thấy rằng các nghiên cứu về đất và sử dụng đất là những cơ sở cần thiết và có ý nghĩa quan trọng cho các định hướng sử dụng và bảo vệ môi trường
Đặc thù của nông nghiệp hàng hóa là nông sản hàng hoá là những sản phẩm được sản xuất mang tính phổ biến (nhiều người cùng sản xuất) Như vậy, mọi thông tin trên thị trường nông sản cả người bán, mua đều hiểu rất rõ Vì thế sản xuất nông
Trang 37nghiệp hàng hóa mang tính cạnh tranh gay gắt Điều này đòi hỏi người sản xuất cần hiểu rõ những diễn biến của thị trường nông sản để lựa chọn sản phẩm cần sản xuất Bên cạnh đó, nông sản hàng hoá dễ hỏng, khó bảo quản do đó phát triển nông sản hàng hoá đòi hỏi các ngành chế biến bảo quản cùng phát triển theo Do vậy phát triển nông sản hàng hoá cũng là động lực thúc đẩy các ngành dịch vụ, chế biến phát triển Ngoài ra sản xuất nông nghiệp gắn liền với đặc điểm sinh học và điều kiện tự nhiên Điều này đòi hỏi người sản xuất phải bố trí từng sản phẩm phù hợp với điều kiện sinh thái mỗi vùng, địa phương Đồng thời nó cũng tạo ra thị trường khu vực
Vì thế để nông sản hàng hoá phát triển cần phải tăng khả năng lưu thông hàng hoá nông sản - nghĩa là cần có sự quan tâm của Nhà nước để phát triển hệ thống giao thông, mở rộng thị trường phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Chính sách mới của nước ta hiện nay đã chấp nhận đa dạng hóa trong sản xuất nông nghiệp và chiến lược phát triển nông nghiệp của Việt Nam là đặt trọng tâm vào phát triển nông thôn, nâng cao thu nhập nông hộ và nông thôn, bằng cách sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên tùy theo lợi thế tương đối của từng vùng sinh thái trên cơ sở phát triển bền vững Nông nghiệp phải được đa dạng hóa để vừa thoả mãn nhu cầu trong nước vừa đáp ứng được thị trường xuất khẩu
Trang 38Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của đề tài là quỹ
đất nông nghiệp và một số yếu tố liên quan đến quá trình sử dụng đất nông nghiệp
- Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi không gian: Phạm vi nghiên cứu trên địa bàn huyện Duy Tiên -
tỉnh Hà Nam, trong đó chọn 2 xã đại diện để điều tra, khảo sát là: xã Đọi Sơn và xã Trác Văn
+ Giới hạn về thời gian: Các số liệu thống kê được lấy từ năm 2010 – 2014
về diện tích cây trồng, kinh tế - xã hội của huyện Số liệu giá cả vật tư và nông sản phẩm hàng hoá điều tra năm 2014
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có liên quan đến sử dụng đất đai
- Đánh giá điều kiện tự nhiên về vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, địa hình, thuỷ văn
- Đánh giá điều kiện kinh tế xã hội: cơ cấu kinh tế, tình hình dân số, lao động, trình độ dân trí, tình hình quản lý đất đai, thị trường tiêu thụ nông sản, dịch
vụ, và cơ sở hạ tầng (giao thông, thuỷ lợi, )
- Đánh giá những cơ hội và thách thức đối với phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa
Trang 39- Hiệu quả kinh tế được đánh giá qua một số chỉ tiêu: GTSX, CPTG, GTGT của các kiểu sử dụng đất
- Hiệu quả môi trường của các kiểu sử dụng đất được đánh giá qua một số chỉ tiêu: mức đầu tư phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc kích thích sinh trưởng và ảnh hưởng của nó đến môi trường
- Hiệu quả mặt xã hội của các kiểu sử dụng đất qua một số chỉ tiêu: số lao động được sử dụng trong các loại hình sử dụng đất; giá trị ngày công lao động của các loại hình sử dụng đất
2.2.3 Thực trạng sản xuất nông nghiệp hàng hóa trên địa bàn nghiên cứu:
- Đánh giá thực trạng sản xuất nông nghiêp hàng hoá trên địa bàn huyện
- Loại hình sử dụng đất phổ biến của cây hàng hóa trên địa bàn nghiên cứu
- Hiệu quả cây trồng hàng hóa trên địa bàn nghiên cứu
- Tỷ lệ các loại cây trồng theo đặc trưng từng vùng nghiên cứu
2.2.4 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Duy Tiên theo hướng sản xuất hàng hóa
- Những quan điểm chủ yếu để nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Định hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Dự kiến một số kết quả sau định hướng
- Một số giải pháp chính nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
- Căn cứ sự phân bố địa hình, đặc điểm tài nguyên đất đai và hệ thống cây trồng đặc trưng của các địa phương mà chúng tôi phân thành 2 tiểu vùng để thực hiện đề tài:
* Tiểu vùng 1 (Khu vực trong đê) bao gồm các xã Đọi Sơn, Tiên Ngoại,
Tiên Nội và xã Hoàng Đông nằm ở phía tây Sông Hồng, đất đai chủ yếu là đất xám
có kết von, đất đỏ vàng, đất biến đổi, đất tầng mỏng Hệ thống cây trồng chính của vùng tập trung vào một số nhóm cây trồng: cây lâm nghiệp như keo, bạch đàn; cây
Trang 40ăn quả như nhãn, vải, na; cây hàng năm như lúa, ngô Chúng tôi chọn xã Đọi Sơn đại diện cho tiểu vùng nghiên cứu
* Tiểu vùng 2 (Khu vực ngoài đê) Bao gồm các xã Trác Văn, Chuyên Ngoại,
Mộc Nam và Mộc Bắc, đất đai phần lớn là đất phù sa được bồi và không được bồi, không glây trung tính ít chua Hệ thống cây trồng phong phú đa dạng Diện tích lúa, rau màu chiếm tỷ lệ lớn hơn so với các vùng khác, một số cây trồng điển hình trong vùng như: lúa, rau, màu, các loại cây ăn quả có giá trị hàng hóa như: ổi, cam vinh, cam đường canh, táo, bưởi diễn, nhãn hương chi… Đại diện điều tra cho vùng 2 là
xã Trác Văn
2.3.2 Phương pháp thu thập số thứ cấp
Thu thập tài liệu, số liệu có sẵn từ các cơ quan nhà nước, phòng Tài nguyên
và Môi trường, phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn, phòng Thống kê, phòng
2.3.3 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Nguồn số liệu sơ cấp: nguồn số liệu sơ cấp được thu thập nhằm đánh giá
chi tiết tình hình sản xuất của nông hộ Thu thập bằng phương pháp điều tra nông
hộ thông qua phiếu điều tra Phương pháp này cung cấp số liệu chi tiết về chi phí trong quá trình sản xuất, thu nhập cũng như đặc điểm cơ bản của nông hộ, mức độ thích hợp cây trồng đối với đất đai và ảnh hưởng đến môi trường
- Chọn các hộ điều tra đại diện cho các tiểu vùng theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên Các hộ điều tra là những hộ tham gia trực tiếp sản xuất nông nghiệp thuộc 2 xã