1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đánh giá năng suất, giá trị dinh dưỡng và một số biện pháp kỹ thuật trong sản xuất hạt giống cỏ stylosanthes guianensis (ciat 184 và plus)

69 431 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 5,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Nghiên cứu này được tiến hành tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam và Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì từ 01/2012-4/2014 nhằm đánh giá năng suất, chất lượng thức

Trang 1

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt v

Danh mục các bảng vi

Danh mục các hình vii

Trích yếu luận văn viii

Thesis abstract ix

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu và nghiên cứu 3

2.1 Đặc điểm sinh trưởng của cây thức ăn chăn nuôi 3

2.1.1 Khái niệm về sinh trưởng và phát triển 3

2.1.2 Đặc điểm sinh trưởng của thân, lá 4

2.1.3 Đặc điểm tái sinh trưởng của thân, lá 13

2.2 Đặc điểm của cây đậu nghiên cứu 15

2.3 Tình hình nghiên cứu về cây thức ăn chăn nuôi trên thế giới và ở việt nam 19

2.3.1 Trên thế giới 19

2.3.2 Ở Việt Nam 21

Phần 3 Vật liệu nội dung và phương pháp nghiên cứu 26

3.1 Vật liệu, thời gian và địa điểm nghiên cứu 26

3.2 Nội dung nghiên cứu 26

3.3 Phương pháp nghiên cứu 26

3.4 Phương pháp xử lý số liệu 32

Phần 4 Kết quả và thảo luận 33

4.1 Điều kiện khí hậu khu vực nghiên cứu 33

4.2 Xác định năng suất và chất lượng thức ăn của giống cỏ stylosanthes guianensis ciat 184 và stylosanthes guianensis plus 34

4.2.1 Tỷ lệ nảy mầm của hạt cỏ 34

Trang 2

4.2.2 Chiều cao khi thu cắt và tốc độ sinh trưởng của cây đậu 36

4.2.3 Năng suất chất xanh, chất khô và protein của cây đậu 38

4.2.4 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cây đậu 44

4.3 Xác định mật độ phù hợp trong sản xuất hạt của giống cỏ stylosanthes guianensis ciat 184 và stylosanthes guianensis plus 46

4.3.1 Mật độ và năng suất hạt của cây đậu 46

4.3.2 Chất lượng hạt và chi phí cho sản suất hạt giống 48

4.4 Ảnh hưởng của số lứa cắt chất xanh đến năng suất, chất lượng hạt của giống cỏ stylosanthes guianensis ciat 184 và stylosanthes guianensis plus 49

4.5 Xác định phương pháp thu hoạch hạt thích hợp của giống cỏ stylosanthes guianensis ciat 184 và stylosanthes guianensis plus 52

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 56

5.1 Kết luận 56

5.2 Kiến nghị 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CIAT Center of International Tropical

Agriculture

Trung tâm Nông nghiệp nhiệt đới quốc tế

NDF Neutral Detergent Fibre Xơ không tan trong chất tẩy

ADF Acid Detergent Fibre Xơ không tan trong chất tẩy

ADL Acid Detergent Lignin Lignin

ME Metabolizable Energy Năng lượng trao đổi

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Ảnh hưởng của phân bón đến thành phần hoá học của thảm cỏ 12

Bảng 2.2 Ảnh hưởng của cách bón phân nitơ đến năng suất cỏ trồng 13

Bảng 4.1 Điều kiện khí hậu tại vùng thí nghiệm 34

Bảng 4.2 Tỷ lệ nảy mầm của hạt cỏ 35

Bảng 4.3 Chiều cao khi thu cắt và tốc độ sinh trưởng của cây đậu 36

Bảng 4.4 Năng suất chất xanh, chất khô và protein của cây đậu (tấn/ha/lứa cắt) 38

Bảng 4.5 Khối lượng chất khô tích lũy của cây đậu (kg/ha/ngày) 42

Bảng 4.6 Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của cây đậu (trung bình chung 6 lứa cắt) 44

Bảng 4.7 Mật độ cây và năng suất hạt của cây đậu 46

Bảng 4.8 Chất lượng hạt và chi phí cho sản suất hạt giống 48

Bảng 4.9 Năng suất, chất lượng hạt và chi phí cho sản suất hạt giống 50

Bảng 4.10 Năng suất, chất lượng hạt và chi phí cho sản suất hạt giống 53

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Ảnh cây đậu Stylosanthes guianensis CIAT 184 17

Hình 2.2 Ảnh cây đậu Stylosanthes guianensis Plus 18

Hình 4.1 Năng suất chất xanh của cây đậu (tấn/ha) 41

Hình 4.2 Năng suất chất khô của cây đậu (tấn/ha) 41

Hình 4.3 Năng suất protein của cây đậu (tấn/ha) 42

Hình 4.4 Đồ thị khối lượng chất khô tích lũy của cây đậu (kg/ha/ngày) 43

Hình 4.5 Ảnh hưởng của khoảng cách hàng trồng đến năng suất hạt (kg/ha) 47

Hình 4.6 Ảnh hưởng của số lứa cắt chất xanh đến năng suất hạt (kg/ha) 52

Hình 4.7 Ảnh hưởng của phương pháp thu hạt đến năng suất hạt (kg/ha) 54

Hình 4.8 Một số hình ảnh về thu hoạch hạt cỏ 55

Trang 6

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Nghiên cứu này được tiến hành tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam và Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì từ 01/2012-4/2014 nhằm đánh giá năng suất, chất lượng thức ăn cũng như nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trong sản xuất hạt giống cỏ

Stylosanthes guinensis CIAT 184 và Stylosanthes guianensis Plus Tại Học viện Nông

nghiệp Việt Nam mỗi giống cỏ được trồng trên 3 ô đất có diện tích mỗi ô 20m2, còn tại Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì mỗi công thức thí nghiệm được trồng lặp lại 3 lần trên các ô cỏ có diện tích 100m2.Kết quả thí nghiệm cho thấy năng suất và chất lượng thức ăn của 2 cây đậu thí nghiệm sai khác nhau không đáng kể Cây đậu Stylo CIAT 184

và Stylo Plus cho 4-5 lứa cắt/năm với năng suất chất xanh trung bình tương ứng đạt 20,41

và 20,02 tấn/ha/lứa cắt Khối lượng chất khô tích lũy của 2 cây đậu trong mùa đông-xuân chỉ bằng khoảng 40% so với mùa hè-thu Chất lượng thức ăn của 2 cây đậu tốt với tỷ lệ protein thô cao (16,8 và 16,4%), xơ thô thấp (24,2 và 25,5%)

Đối với giống cỏ Stylo CIAT 184 và Stylo Plus thu cắt 1 lứa chất xanh sau đó để thu hạt giống vừa thu được một lượng chất xanh đáng kể mà năng suất hạt đạt được cao hơn so với công thức không thu chất xanh hoặc thu 2 lần chất xanh Năng suất hạt ở công thức thu 1 lần chất xanh rồi để thu hạt đạt 181,4kg/ha đối với cây đậu Stylo CIAT 184 và 170,1 đối với cây đậu Stylo Plus, chi phí cho sản xuất 1kg hạt giống tương ứng là 303.015

và 321.742 đồng/kg hạt.Mặc dù phương pháp thu hoạch hạt bằng rung bông lấy hạt chín cho năng suất không cao bằng phương pháp trải nylon xuống rãnh nhưng phương pháp thu hoạch hạt bằng rung bông lấy hạt chín phù hợp hơn so với phương pháp trải nylon xuống rãnh và phương pháp thu hoạch hạt bằng cắt cả cây vào thời điểm 45 ngày sau khi hoa nở

rộ vì chi phí cho sản xuất 1kg hạt thấp nhất (68.986 và 76.910 đồng tương ứng cho 1kg hạt

cỏ Stylo CIAT 184 và Stylo Plus)

Từ khóa: Stylosanthes guinensis CIAT 184, Stylosanthes guianensis Plus, sản xuất hạt cỏ

Trang 7

THESIS ABSTRACT

This study was conducted at the Vietnam National University of Agriculture and Bavi Cattle and Pasture Research Center from 01/2012 to 04/2014 in order to evaluate yield, forage quality as well as research on some methods in seed production of

Stylosanthes guianensis CIAT 184 and Stylosanthes guianensis Plus At the Vietnam

National University of Agriculture legumes grown on 3 plots with 20m2 area of each, also

at the Bavi Cattle and Pasture Research Center legumes grown on 3 plots with 100m2 area

of each Experimental results showed none significantly differences in yield and forage quality between 2 legumes Stylo CIAT 184 and Stylo Plus gave 4-5 harvest/year with average green matter yield reached 20.41 and 20.02 tonnes/ha/harvest, respectively The quantity of dry matter accumulation of 2 legumes in winter-spring was about 40% compared with the summer-autumn Two legumes had good forage quality with high crude protein percentage (16.8 and 16.4%), low crude fiber (24.2 and 25.5%)

For Stylo CIAT 184 and Stylo Plus one cut of green biomass and later to harvest seed gained a considerable amount of forage and seed yield was higher compared with treatment not cut or 2 cuts of green biomass Seed yield in treatment with one cut of green biomass and later to harvest seed reached 181.4kg/ha for Stylo CIAT 184 and 170.1kg/ha for Stylo Plus, the cost of producing 1kg seed respectively 303,015 and 321,742 VND Although the method with vibrating blossom to harvest ripe seed was not as high-yield method as nylon cover bottom groove but harvesting method using blossom vibrating was suitable than method using nylon cover bottom groove and method cutting all the tree at the time of 45 days after bloom because the cost of producing 1kg seed lowest (68,986 and 76,910 VND, respectively for Stylo CIAT 184 and Stylo Plus)

Keywords: Stylosanthes guinensis CIAT 184, Stylosanthes guianensis Plus, grass

seed production

Key words: Stylosanthes guinensis CIAT 184, Stylosanthes guianensis Plus, forage

seed production

Trang 8

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây, số lượng đàn gia súc nhai lại tăng nhanh nên nhu cầu thức ăn thô xanh cũng tăng theo Theo số liệu thống kê của Cục Chăn nuôi (2014) thì cả nước hiện có khoảng 12 triệu con gia súc nhai lại, lượng thức ăn thô xanh cần để đáp ứng cho đàn gia súc nhai lại là 150 triệu tấn/năm nhưng diện tích trồng cỏ thâm canh chỉ có khoảng 200.000ha, nếu tính sản lượng trên diện tích trồng cỏ này mới chỉ đáp ứng được 10% so với nhu cầu của đàn gia súc nhai lại Nhằm đảm bảo nguồn cung cho chăn nuôi, Việt Nam đang cố gắng nâng diện tích trồng cỏ từ 200.000ha hiện nay lên 500.000ha vào năm 2020 Tương ứng đưa tỷ lệ đất trồng cỏ từ 0,8% hiện nay so với tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp lên 5% Chính vì vậy, nhu cầu giống cỏ để đáp ứng cho sản xuất thức ăn thô xanh là rất cần thiết

Sản xuất thức ăn thô xanh hiện nay tại các cơ sở chăn nuôi tập trung và hộ nông dân chủ yếu trồng các giống cỏ hoà thảo Cỏ hòa thảo có hàm lượng dinh dưỡng và khả năng tiêu hoá thấp nên không đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng để chăn nuôi gia súc chất lượng cao, đặc biệt là trong chăn nuôi bò sữa, bò thịt cao sản Bên cạnh đó, các giống cỏ này chỉ sinh trưởng và phát triển tốt vào các tháng mùa mưa, trong mùa đông/khô các giống cỏ đều sinh trưởng và phát triển kém dẫn đến tình trạng thiếu thức ăn cho đàn vật nuôi Một số cơ sở chăn nuôi bò sữa vừa qua đã phải

khắc phục tình trạng này bằng cách nhập khẩu cỏ khô Alfalfa Theo thống kê của Cục Chăn nuôi (2010) lượng nhập khẩu cỏ khô Alfalfa tăng từ 50,5 tấn năm 2004

lên 500 tấn năm 2007, 1000 tấn năm 2008, 2800 tấn năm 2009 và khoảng 7000 tấn

năm 2010 Như vậy, việc nhập cỏ khô Alfalfa ngày càng có xu hướng gia tăng

Hai giống cỏ họ đậu Stylosanthes guianensis CIAT 184 và Stylosanthes

guianensis Plus là cây đậu giàu protein, thích ứng rộng với nhiều vùng sinh thái, có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau và là nguồn thức ăn thô xanh giàu protein có

thể phát triển để hạn chế việc nhập cỏ khô Alfalfa trong những năm tới Chính vì

vây, diện tích trồng cũng như số hộ trồng hai giống cỏ này phục vụ chăn nuôi tăng lên dẫn đến nhu cầu hạt giống cũng tăng lên nhanh chóng

Tại Việt Nam, vấn đề sản xuất và quản lý chất lượng hạt giống cỏ từ trước đến nay chưa được quan tâm Các loại hạt giống cỏ hiện nay cung cấp cho sản xuất đều

Trang 9

nhập khẩu thông qua một số công ty, chưa có một cơ sở nào sản xuất hạt giống cỏ mà chủ yếu là tự phát, sản xuất nhỏ lẻ, manh mún không thể đáp ứng được cho nhu cầu sản xuất hiện nay

Để góp phần xây dựng các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất

lượng hạt giống và hoàn thiện quy trình sản xuất hạt giống cỏ Stylosanthes guianensis CIAT 184 và Stylosanthes guianensis Plus phục vụ chăn nuôi, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài “Đánh giá năng suất, chất lượng thức ăn và nghiên cứu một số

biện pháp kỹ thuật trong sản xuất hạt của giống cỏ Stylosanthes guianensis CIAT

184 và Stylosanthes guianensis Plus”

1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

- Xác định được năng suất, chất lượng của 2 giống cỏ Stylosanthes

guianensis CIAT 184 và Stylosanthes guianensis Plus;

- Đưa ra những biện pháp kỹ thuật thích hợp áp dụng vào sản xuất hạt giống

của 2 giống cỏ Stylothanthes guianensis CIAT 184, Stylothanthes guianensis Plus

đạt năng suất cao, chất lượng tốt và mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất

Trang 10

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG CỦA CÂY THỨC ĂN CHĂN NUÔI

2.1.1 Khái niệm về sinh trưởng và phát triển

Sự sinh trưởng và phát triển của cây là kết quả hoạt động tổng hợp của các chức năng sinh lý trong cây Do đó việc điều khiển sinh trưởng, phát triển của cây trồng sao cho thu được năng suất cây trồng cao nhất là một việc rất khó khăn nhưng cũng rất quan trọng Muốn điều khiển được sinh trưởng, phát triển của cây trồng thì phải hiểu biết sâu sắc về bản chất của quá trình này, trên cơ sở đó có những biện pháp tác động thích hợp nhất

Cho đến nay, sinh trưởng và phát triển của thực vật nói chung, cây thức ăn chăn nuôi nói riêng được hiểu dưới các định nghĩa khác nhau Nhưng phần lớn các nhà khoa học đều thống nhất định nghĩa về sinh trưởng và phát triển như sau:

Sinh trưởng là sự tạo mới các yếu tố cấu trúc một cách không thuận nghịch của tế bào, mô và toàn cây, kết quả dẫn đến sự tăng về số lượng, kích thước, thể tích, sinh khối của chúng

Phát triển là quá trình biến đổi về chất bên trong tế bào, mô và toàn cây để dẫn đến sự thay đổi về hình thái và chức năng của chúng

Ví dụ về sự sinh trưởng có thể xem sự phân chia và sự già của tế bào, sự tăng kích thước của quả, lá, hoa, sự nảy lộc đâm chồi, đẻ nhánh,… Các biểu hiện đó không thể đảo ngược được Còn tất cả những biểu hiện có liên quan đến biến đổi chất để làm thay đổi hình thái và chức năng của tế bào, của cơ quan,… thì được xem là sự phát triển Ví dụ như sự nảy mầm của hạt có thể xem đó là một bước nhảy vọt từ một hạt có hình thái và chức năng xác định, nhưng khi nảy mầm thì lập tức biến thành một cây con có hình thái và chức năng hoàn toàn khác so với hạt, một cây con hoàn chỉnh, có khả năng thực hiện các chức năng của một cơ thể thực vật bình thường Sự ra hoa cũng vậy, là một bước ngoặt chuyển từ giai đoạn sinh trưởng các cơ quan dinh dưỡng sang giai đoạn mới tức hình thành cơ quan sinh sản Đây là kết quả của một quá trình biến đổi về chất liên tục và lâu dài để có được những cơ quan sinh sản có chức năng hoàn toàn thay đổi,… Trên mức độ tế bào thì phân hoá tế bào thành các mô chức năng riêng biệt cũng được xem là quá trình phát triển của tế bào

Trang 11

2.1.2 Đặc điểm sinh trưởng của thân, lá

- Động thái sinh trưởng của thân, lá:

Trong lĩnh vực cây thức ăn chăn nuôi thì phần thân lá được các nhà chăn nuôi đặc biệt quan tâm vì đây là phần chính sử dụng làm thức ăn cho gia súc Quá trình sinh trưởng của thân lá có thể được chia thành 3 giai đoạn:

+ Giai đoạn sinh trưởng chậm;

+ Giai đoạn sinh trưởng nhanh;

+ Giai đoạn sinh trưởng chậm;

Sau khi nảy mầm trọng lượng vật chất khô của cây sẽ giảm do chất dự trữ ở hạt được sử dụng trong quá trình nảy mầm Cây sinh trưởng chỉ dựa vào dinh dưỡng

dự trữ trong hạt nên sinh trưởng của cây lúc này chậm Cho tới khi những lá xanh đầu tiên xuất hiện, cây non bắt đầu hoạt động quang hợp, sự sinh trưởng tăng dần đến khi bộ rễ và bộ lá của cây phát triển tương đối hoàn thiện, khả năng hút dinh dưỡng trong đất và khả năng quang hợp của cây mạnh thì cây sinh trưởng rất nhanh Đến gần giai đoạn trưởng thành thì sinh trưởng giảm dần và ngừng hẳn, cũng có khi

ở giai đoạn này trọng lượng vật chất khô của cây bị giảm đi

Mặc dù đồ thị sinh trưởng của thân lá cây thức ăn chăn nuôi có dạng hình chữ S, tuy nhiên độ dài của các giai đoạn sinh trưởng chậm, nhanh, chậm sẽ khác nhau Dựa vào sự nghiên cứu đồ thị sinh trưởng để người chăn nuôi quyết định:

+ Thời điểm bón thúc cho cây thức ăn

+ Thời điểm thu hoạch thích hợp sao cho thu được năng suất và chất lượng thức ăn cao

+ Chọn cỏ để trồng kết hợp, hạn chế được sự che bóng của nhau

- Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của thân, lá:

+ Sức nẩy mầm của giống

Sự sinh trưởng của cây thức ăn phụ thuộc trực tiếp vào sức nảy mầm của hạt, nếu hạt có sức nảy mầm cao sẽ tạo điều kiện cho sinh trưởng mạnh sau này Nhiều loài cỏ có sức nảy mầm cao như cỏ Mộc Châu, nhưng một số khác sức nảy mầm kém và cần được xử lý bằng các phương pháp như xát vỏ, xử lý quang học, xử lý

hoá học… như cỏ Ghi nê (Panicum maximum), đậu Stylo (Stylosanthes guianensis) Cũng có loài mà hạt hoàn toàn mất sức nảy mầm như hạt cỏ Pangola (Digitaria

decumbens), phải tìm cách nhân giống khác Phẩm chất của hạt thể hiện qua độ

Trang 12

Sức nảy mầm của giống không những phụ thuộc vào bản thân hạt mà còn

vào sự chuẩn bị giống, điều kiện đất và khí hậu Cỏ Gà (Cynodon dactylon) có thể

để sau 1 tuần kể từ khi cắt mà vẫn giữ được tỷ lệ nảy mầm cao còn cỏ Pangola

(Digitaria decumbens) chỉ sang ngày thứ 2 sau khi cắt tỷ lệ này đã giảm rõ rệt

Những đoạn hom đầu có tỷ lệ nảy mầm cao nhất và khi tăng số đốt của hom sẽ tăng

tỷ lệ nảy mầm, tuy từ đốt thứ 3 trở đi độ tăng giảm xuống đột ngột

+ Nhiệt độ

Nhiệt độ là một nhân tố sinh thái có ảnh hưởng rất lớn đối với sinh vật nói chung và thực vật nói riêng Nhiệt độ có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng của cây, nhiệt độ tăng thì sinh trưởng cũng tăng và nhiệt độ giảm sinh trưởng chậm lại Nói chung trong khoảng từ 0 đến 30 - 350C ảnh hưởng của nhiệt độ tới cây trồng tuân theo quy luật Vant-Hoff Mặt khác tăng nhiệt độ tới giới hạn nhất định có tác dụng thúc đẩy quá trình hấp thu chất khoáng của rễ Nhiệt độ thấp nhất để cỏ nhiệt đới nảy mầm là 15 - 200C và tối ưu là 25 - 350C Nhiệt độ tối ưu cho quang hợp ở

cỏ ôn đới là 15 - 200C và ở cỏ nhiệt đới là 25 - 300C

Nếu như đối với phần lớn các loài cỏ ôn đới nhiệt độ thích hợp nhất để sinh trưởng (tính bằng sự tăng chất khô hoặc tốc độ sinh trưởng tương đối) nằm trong khoảng 20 - 250C thì những hoà thảo nhiệt đới và cận nhiệt đới có nhiệt độ sinh

trưởng thích hợp cao hơn Những loài cỏ như cỏ Cynodon dactylon, Sorghum

sudanense, Paspalum dilatatum… sinh trưởng rất chậm hoặc không sinh trưởng

% G × % P

VA =  (%)

100

Trang 13

trong khoảng nhiệt độ 10 - 150C và ở nhiệt độ 30 - 350C thì tốc độ sinh trưởng đạt tới mức cao nhất Ở nhiệt độ thấp dưới 100C cây cỏ nhiệt đới có hiện tượng úa vàng, sau đó chết do chất diệp lục bị phá huỷ

Sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm có ảnh hưởng rất lớn tới sinh trưởng của cây, ban ngày nhiệt độ cao thuận lợi cho cây quang hợp và tích luỹ, ban đêm nhiệt độ thấp sẽ hạn chế sự tiêu phí hữu cơ nên sinh trưởng của cây nhanh hơn

Do biên độ nhiệt của cây thức ăn nhiệt đới nhỏ hơn biên độ nhiệt của cây thức ăn ôn đới nên vùng ôn đới khó có thể nhập, trồng cây thức ăn nhiệt đới Trong khi đó mặc dù mùa đông nhưng nhiệt độ trung bình ngày ở các nước nhiệt đới, trong đó có Việt Nam, cũng chỉ tương đương nhiệt độ mùa hè ở vùng ôn đới Để giải quyết nhu cầu thức ăn xanh cho đàn gia súc ăn cỏ ở nước ta trong mùa đông, đã tiến hành nhập và trồng thử nghiệm một số giống cây thức ăn có nguồn gốc từ vùng

ôn đới ở vùng núi cao, có khí hậu mát mẻ, kết quả thu được tương đối tốt Còn ở vùng đồng bằng các cây thức ăn này sinh trưởng chậm, tỷ lệ chết cao, rất nhạy cảm với thời vụ gieo trồng Một lần trồng chỉ cho thu cắt 3 lứa, đến khoảng tháng 3, tháng 4 nhiệt độ ấm lên thì các cây thức ăn này tàn lụi

Một hạn chế nữa của các giống cây thức ăn có nguồn gốc ôn đới là khả năng sản xuất hạt giống khó khăn, chủ yếu phụ thuộc vào nguồn nhập nội nên khó phát triển mở rộng diện tích gieo trồng khi cần thiết

+ Ẩm độ

Ẩm độ là một nhân tố cần thiết cho sự sinh trưởng của cây Cây sinh trưởng mạnh nhất khi tế bào bão hoà nước Giảm mức độ bão hòa thì sinh trưởng chậm lại Đối với các tế bào đầu rễ vì không có mô che chở như các bộ phận trên mặt đất nên phải đủ ẩm rễ mới sinh trưởng được Về mùa xuân nước trong đất nhiều, độ ẩm không khí cao, cây ít mất nước và chất nguyên sinh được bão hòa nên sinh trưởng mạnh, còn mùa đông do độ ẩm không khí thấp, cây mất nước nhiều, chất nguyên sinh không bão hòa nên cây sinh trưởng chậm lại

Ẩm độ là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới sản lượng cỏ Lượng mưa tổng số cũng như phân bố của nó quyết định sự thích nghi của một số giống cây thức ăn gia súc đối với môi trường nhất định nào đó Sự thay đổi theo mùa của sinh trưởng do nhiều yếu tố gây ra, nhưng hạn chế nhất cho sinh trưởng trong mùa đông vẫn là nhiệt độ và ẩm độ mà trong đó nhiều nhà nghiên cứu nhận định rằng ẩm độ là nhân tố hạn chế nhất Cho nên tưới nước cho đồng bãi cỏ là một hình thức cân bằng

Trang 14

trạng mùa nhằm tăng năng suất cỏ và đáp ứng được nhu cầu cho chăn nuôi thâm canh ở nhiều nước chăn nuôi phát triển, lý do là vì nhờ nước mà cây có thể hút được chất dinh dưỡng

Ẩm độ không khí có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng của cỏ vì ẩm độ giảm thì cường độ thoát hơi nước tăng và ngược lại Nước trong đất cần thiết cho cây trong toàn bộ thời kỳ dinh dưỡng vì nhờ nước mà cây có thể hút chất dinh dưỡng, đất thiếu nước cây không thể hoạt động mạnh mẽ được, và nếu thừa nước thì cây có thể bị úng thối vì thiếu ôxy Vì vậy các chế độ tưới và tiêu nước cũng là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới sinh trưởng của cỏ

Cây thức ăn cần nước để sinh trưởng, giữ thân nhiệt và vận chuyển dinh dưỡng từ đất lên Không có cây thức ăn nào có thể sinh trưởng tốt trong khi mùa khô kéo dài, chỉ có một vài loài có thể chịu được môi trường khô hạn hơn những loài

khác mà thôi Một số loài đậu thân gỗ, như Leucaena leucocephala, có hệ thống rễ ăn

sâu có thể giúp cây lấy nước từ tầng đất sâu hơn Điều này cho phép cây sinh trưởng được và giữ được màu xanh của lá trong mùa khô hơn những cây thức ăn khác Một

vài cây hoà thảo và đậu thân bụi như Andropogon gayanus và Stylosanthes hamata…

cũng có khả năng duy trì được màu xanh của lá trong mùa khô

Nhu cầu nước cho tạo chất khô của cây thức ăn lâu năm gấp 1,5 - 2 lần so với cây lúa Do vậy việc tưới nước cho đồng bãi trồng cỏ thâm canh sẽ nâng cao năng suất cây thức ăn lên 2 - 4 lần Nhiệm vụ của việc tưới nước là bù đắp lại phần nước thiếu so với nhu cầu của cây Trong lĩnh vực đồng cỏ hiện nay tồn tại 3 hình thức tưới: tưới tràn bề mặt, tưới ngầm và tưới phun mưa Mỗi biện pháp tưới đều có những mặt ưu và nhược điểm riêng, việc lựa chọn phương pháp tưới sẽ phụ thuộc vào điều kiện địa hình, thủy văn, điều kiện kinh tế,…

Phương pháp tưới tràn bề mặt là phương pháp cổ điển nhất, đơn giản nhưng hiệu quả kém, tốn nhiều nước Phương pháp tưới ngầm dưới mặt đất (30 - 60cm) bằng hệ thống ống dẫn nước đặc biệt sẽ tiết kiệm nước và cho hiệu quả kinh tế cao hơn Nhưng phương pháp này đòi hỏi đầu tư ban đầu cao Phương pháp tưới nước cho hiệu quả cao nhất là phương pháp tưới phun mưa Phương pháp tưới phun mưa cho phép tiết kiệm nước, điều hòa được lượng nước tưới, điều hòa được độ ẩm và nhiệt không những của đất mà còn của lớp không khí gần mặt đất Phương pháp tưới này càng có hiệu quả cao khi kết hợp tưới nước với bón phân vi lượng

Hầu hết các cây thức ăn đều tồn tại khi bị ngập úng một vài ngày, nhưng rất

Trang 15

ít cây có thể sinh trưởng ở vùng đất bị ngập úng trong thời gian dài Một số loài cây

thức ăn có thể chịu đựng được ngập úng tốt hơn những loài khác như Brachiaria

mutica, Brachiaria humidicola, Macroptilium gracile…Có hai hệ thống tiêu nước cho đồng cỏ: Hệ thống hở và hệ thống kín Hệ thống tiêu nước hở là mạng lưới rãnh thoát nước, kênh, hồ chứa nước Mức độ tiêu nước được điều chỉnh thông qua mật

độ của các rãnh thoát nước Hệ thống tiêu nước kín cũng bao gồm mạng lưới các rãnh thoát nước, kênh gom nước và hồ chứa nước Các hệ thống rãnh và kênh được làm bằng các vật liệu khác nhau, đặt ngầm dưới đất Trên thực tế thường kết hợp cả hai hệ thống tiêu nước trên đồng cỏ

+ Ánh sáng

Ánh sáng là nhân tố quan trọng, mối quan hệ giữa ánh sáng và sinh trưởng của cây rất phức tạp Ánh sáng là nguồn cung cấp năng lượng cho cây tiến hành quang hợp, thoát hơi nước, hình thành chất diệp lục mà lục lạp chứa diệp lục là phòng thí nghiệm duy nhất tích lũy năng lượng mặt trời dưới dạng các chất hữu cơ

Có ánh sáng cây mới sinh thân, cành lá và ra hoa kết quả bình thường

Ánh sáng ảnh hưởng tới sinh trưởng dưới hai hình thức khác nhau là cường

độ sáng và quang chu kỳ, nhưng khó có thể dùng thực nghiệm để tách riêng những ảnh hưởng khác nhau giữa chúng Ở những cường độ sáng yếu (500 - 1000 lux) thì cường độ quang hợp tăng nhanh cùng cường độ sáng, nhưng những cường độ sáng mạnh thì mức tăng giảm bất ngờ Đối với nhiều loài cỏ nhiệt đới cường độ quang hợp tiếp tục tăng, tuy không theo đường thẳng, cho đến khi năng lượng nhận được bằng 60.000 lux hay cao hơn Cường độ sáng thích hợp cho quá trình quang hợp ở

cỏ nhiệt đới là 50.000 - 60.000 lux, ở cỏ ôn đới là 15.000 - 25.000 lux

Tăng quang chu kỳ kìm hãm tốc độ đẻ nhánh tuy không ảnh hướng tới việc

ra lá của cỏ Chiều dài và đôi khi cả chiều rộng đều tăng nếu kéo dài quang chu kỳ bằng cường độ ánh sáng yếu Trong những ngày hè dài lá và thân sinh trưởng thẳng hơn, giảm sự hình thành của mầm nách Còn trong những ngày ngắn và mát của cuối mùa hè và mùa thu sinh trưởng rộng hơn và chồi hình thành nhiều

Hầu hết các loài cây thức ăn đều có thể sinh trưởng tốt dưới những vùng đất

bị che bóng nhẹ như Brachiaria humidicola, Arachis pintoi… Không có giống cây

thức ăn gia súc nào sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện bị che bóng nặng, chỉ

có một số loài có thể thích hợp tồn tại dưới mật độ tán cây che phủ trung bình như

Centrosema macrocarpum, Paspalum atratum, Panicum maximum, Brachiaria

Trang 16

brizantha, Brachiaria decumbens, Setaria sphacelata Những loài này có thể trồng che phủ mặt đất và hạn chế cỏ dại ở dưới các tán cây, nhưng trong những trường hợp này năng suất chất khô thu được không cao

Tùy thuộc vào con đường đồng hóa CO2 trong quang hợp khác nhau mà người ta chia thế giới thực vật thành 3 nhóm:

Nhóm thực vật C3 bao gồm các thực vật mà con đường quang hợp của chúng chỉ thực hiện duy nhất một chu trình quang hợp là C3 (chu trình Calvin) Hầu hết cây trồng của chúng ta thuộc thực vật C3 như lúa, đậu dỗ, khoai, sắn…

Nhóm thực vật C4 gồm các thực vật mà con đường quang hợp của chúng là

sự liên hợp giữa 2 chu trình quang hợp là chu trình C3 và chu trình C4 Một số cây trồng thuộc nhóm này như mía, ngô, kê, cao lương Đặc điểm của nhóm thực vật này là ở chúng đã có sự phân công trách nhiệm rõ ràng trong việc thực hiện chức năng quang hợp Một loại lục lạp chuyên trách cố định CO2 một cách hiệu quả nhất còn một loại lục lạp chuyên khử CO2 thành các chất hữu cơ cho cây Do vậy mà hoạt động quang hợp của cây C4 mạnh hơn và có hiệu quả hơn các thực vật khác Kết quả là năng suất sinh vật học (tổng lượng chất khô mà cây trồng tích lũy được trên một đơn vị diện tích đất trồng trọt trong một thời gian nhất định) của các cây C4

thường rất cao

Xét về mặt tiến hóa thì các cây C4 có con đường quang hợp hoàn thiện hơn, tiến hóa hơn thực vật C3 và thực vật CAM

Nhóm thực vật CAM (Crassulacean Acid Metabolism) bao gồm các thực vật

mọng nước như các loại xương rồng, dứa, hành, tỏi… Chúng thực hiện con đường quang hợp thích nghi với điều kiện khô hạn, bắt buộc phải đóng khí khổng vào ban ngày và chỉ mở khí khổng vào ban đêm

+ Dinh dưỡng trong đất

Điều kiện thổ nhưỡng có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng của cây thức ăn trong đó các chất dinh dưỡng trong đất đóng vai trò quan trọng kể cả các nguyên tố đại và vi lượng Phân bón và cách bón phân có ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất chất khô và thành phần hóa học của thức ăn Các loài có năng suất cao như cỏ Voi

(Pennisetum purpureum), cỏ Ghi nê (Panicum maximum), cỏ Lông para

(Brachiaria mutica)… phản ứng rất mạnh với phân chuồng và phân đạm Phân bón lót P - K rải một lần trong năm có tác dụng trong cả năm, làm tăng năng suất cỏ so với không bón phân Ngược lại sự tăng năng suất do tác dụng của N chỉ xảy ra ngay

Trang 17

khi trước đó người ta bón phân, cũng chính vì vậy mà người ta có thể sử dụng đạm một cách hợp lý nhằm cân bằng năng suất cỏ trong cả năm để khắc phục trạng mùa

do điều kiện thời tiết gây nên

Độ pH trong đất quyết định trạng thái dễ tiêu hay không tiêu của các nguyên

tố Nói chung, hòa thảo ưa đất trung tính còn các cây đậu ưa đất hơi kiềm vì chúng cần nhiều Ca hơn Đó cũng là nguyên nhân vì sao ở đồng cỏ nhiệt đới ít cây đậu

Tất cả cây thức ăn đều sinh trưởng tốt trên đất có độ màu mỡ cao đến trung

bình Một vài cây có tiềm năng năng suất cao như cỏ Pennisetum purpureum,

Panicum maximum… chỉ sinh trưởng tốt trên đất màu mỡ Nhiều cây thức ăn có thể

sinh trưởng trên đất nghèo dinh dưỡng và một số như Brachiaria humidicola,

Stylosanthes guianensis còn sinh trưởng tốt trên đất chua, nghèo dinh dưỡng Mặc dù vậy, không có loài nào cho năng suất cao trên đất nghèo dinh dưỡng nếu không được bón phân đầy đủ Trên đất nghèo dinh dưỡng cây thức ăn có thể không chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho nhu cầu sinh trưởng và sản xuất của gia súc

Hầu hết cây thức ăn đều có thể sinh trưởng trên đất kiềm Đặc biệt có một

vài loài thích hợp với loại đất có độ pH cao Những loài đó là Leucaena

leucocephala, Desmanthus virgatus và Brachiaria humidicola Loài không sinh

trưởng tốt trên đất kiềm là Stylosanthes guianensis

Cùng với việc thu hoạch (cắt hay chăn thả gia súc) đất đồng cỏ bị lấy đi lượng lớn các chất dinh dưỡng Một phần các chất dinh dưỡng được trả lại đồng cỏ

do phân và nước tiểu gia súc bài tiết ra khi chăn thả Ngoài ra các chất dinh dưỡng trong đất đồng cỏ còn bị mất đi do rửa trôi, bay hơi, thấm xuống tầng đất sâu… Đồng cỏ càng bị khai thác triệt để bao nhiêu thì các chất dinh dưỡng trong đất càng

bị cạn kiệt bấy nhiêu Do vậy để giữ được năng suất đồng cỏ cao và ổn định cần thiết phải bón phân cho đồng cỏ

Khi bón phân cho đồng cỏ cần chú ý rằng nhu cầu các chất dinh dưỡng của đồng cỏ cao hơn nhiều lượng các chất dinh dưỡng đã hoặc sẽ thu hoạch Nhiều chất dinh dưỡng bị vi sinh vật trong đất sử dụng, bị chuyển thành mùn, giữ lại trong các phần còn lại của thực vật… Ngoài ra cũng còn phải tính đến hiệu quả sử dụng các chất dinh dưỡng của phân Hiệu quả sử dụng các chất dinh dưỡng của phân phụ thuộc vào độ phì nhiêu của đất, điều kiện tưới tiêu, chế độ nhiệt, dạng đồng cỏ, thành phần thực vật của đồng cỏ, phương thức sử dụng đồng cỏ, thành phần của phân bón, mức bón, thời gian và cách bón phân

Trang 18

Theo nghiên cứu của Viện nghiên cứu thức ăn Liên bang Nga (Liên Xô cũ) thì hiệu quả sử dụng phân nitơ trung bình của đồng cỏ tự nhiên ở Liên Xô đạt từ 34

- 92%, phân phot pho từ 17 - 20% và phân kali từ 33 - 97% Trong điều kiện nhiệt đới và cận nhiệt đới, các chỉ tiêu này tương ứng là 9,5 - 100% đối với phân nitơ, 20% đối với phân photpho và 75% đối với phân kali

Chất khoáng trong đất ở dạng khó sử dụng càng nhiều thì phân khoáng bón cho đồng cỏ càng có hiệu quả cao và ảnh hưởng của phân bón đến năng suất càng mạnh Thực tế cũng chứng minh rằng phân bón có hiệu quả cao hơn ở đồng cỏ trồng thu cắt so với đồng cỏ tự nhiên chăn thả Bởi vậy ở các nước nhiệt đới bón phân thường được áp dụng cho đồng cỏ trồng và là biện pháp quan trọng duy trì năng suất cao của đồng cỏ

Bùi Quang Tuấn (2005b) đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của các mức bón phân urê khác nhau đến năng suất, thành phần hoá học cũng như hiệu quả của đầu tư phân bón đối với cỏ Voi, cỏ Ghi nê Kết quả cho thấy mức bón phân urê thích hợp đối với cỏ Voi là 100kg, cỏ Ghi nê là 50kg N/ha/lứa cắt

Điểm rất nổi bật là bón phân urê đã cải thiện được tỷ lệ protein thô trong cây thức ăn Tuy nhiên ảnh hưởng của mức bón phân urê đến chất lượng của thức ăn không rõ như ảnh hưởng đến năng suất của cây thức ăn

Bón nhiều phân nitơ dẫn đến thực vật sinh trưởng nhanh (nhiều thân cành, lá ít) sẽ dẫn đến xơ thô trong thức ăn tăng

Nguyễn Văn Bình (2004) cho biết phân đạm đã có ảnh hưởng rõ rệt đến hàm lượng các axit béo trong cỏ Timothy Tăng lượng nitơ bón cho đồng cỏ Timothy từ

0 kg lên 120 kg/ha đã làm tăng rõ rệt axit béo tổng số trong thức ăn, đặc biệt C 18:3 Giai đoạn sinh trưởng phát triển chiều cao ở mức nitơ là 0 kg/ha hàm lượng axit béo của cỏ Timothy là 8,71 (mg/kg chất khô) khi tăng lên mức 120 kg/ha hàm lượng axit béo của cỏ là 11,43 (mg/kg chất khô); Giai đoạn sinh trưởng đầu kết hoa ở mức nitơ là 0 kg/ha hàm lượng axit béo của cỏ Timothy là 6,86 (mg/kg chất khô) khi tăng lên mức 120 kg/ha hàm lượng axit béo của cỏ là 10,32 (mg/kg chất khô); tương

tự như vậy đối với 2 giai đoạn cuối kết hoa và đầu nở hoa cũng có hàm lượng axit béo cao hơn khi bổ sung thêm hàm lượng nitơ cho đồng cỏ

Ảnh hưởng của phân bón đến thành phần hoá học của thảm cỏ được Bobưlep (1984) tổng kết trong bảng 2.1 dưới đây

Trang 19

Bảng 2.1 Ảnh hưởng của phân bón đến thành phần hoá học của thảm cỏ Thành

- Bón vôi cho đồng cỏ có đất chua

- Bón Molypden, Lưu huỳnh cho cây đậu

- Bón phân nitơ cho cây hoà thảo

- Bón phân nitơ đơn thuần cho cây đậu

- Đất bị mặn hoá

Xơ thô - Bón nhiều phân nitơ (nhiều thân cành) - Bón phân cân đối (lá nhiều)

DXKN - Bón phân tổng hợp ở mức trung bình - Bón nhiều phân nitơ

KTS - Bón phân phốt pho và kali - Bón nhiều phân nitơ

P - Phân kích thích cây đậu phát triển

- Bón phân phôtpho

- Bón nhiều phân nitơ

- Có nhiều clo trong đất trồng cây đậu

K - Bón phân kali - Bón nhiều phân nitơ cho cỏ hoà thảo

Ca - Bón vôi cho đồng cỏ

- Bón phân phôtpho

- Bón nhiều phân nitơ và kali

- Nhôm trong đất tăng và đất bị chua

Co - Tăng cây đậu trong đồng cỏ

Cu - Giảm sắt và mangan trong đất

- Bón phân nitơ và phôtpho

- Molypden trong đất cao

Trang 20

Bảng 2.2 Ảnh hưởng của cách bón phân nitơ đến năng suất cỏ trồng

Giống cỏ Cách bón

phân urê

NSCX (tấn/ha)

NSCK (tấn/ha)

Sản lượng protein (tấn/ha)

(Nguồn: Bùi Quang Tuấn, 2005d)

2.1.3 Đặc điểm tái sinh trưởng của thân, lá

Cỏ mọc lại sau thu cắt gọi là cỏ tái sinh Quá trình tái sinh trưởng của thân lá cũng được chia thành 3 giai đoạn:

- Giai đoạn sinh trưởng chậm;

- Giai đoạn sinh trưởng nhanh;

- Giai đoạn sinh trưởng chậm;

Giai đoạn sinh trưởng chậm của cỏ tái sinh thường ngắn vì sau khi thu hoạch cây cỏ vẫn còn nguyên bộ rễ đã phát triển hoàn thiện và cùng với nó là các chất dinh dưỡng dự trữ Thu hoạch cách mặt đất 5 - 7 cm (đối với cây hòa thảo) và 7 - 10

cm (đối với đại đa số cây đậu) nên cây cỏ vẫn còn khả năng quang hợp nhất định

Do vậy, việc cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây nhanh chóng được hồi phục, đảm bảo cho quá trình tái sinh trưởng nhanh sau đó

Các nhân tố ảnh hưởng tới sinh trưởng như trên đã xét cũng có ảnh hưởng rất sâu sắc tới tái sinh trưởng Cây cỏ đã được thu hoạch bằng dạng này hay dạng khác chỉ có khả năng tái sinh khi trong rễ và phần thân còn lại có chứa đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình tái sinh và vì vậy ngoài các nhân tố trên, các nhân tố sau đây: tuổi thiết lập, tuổi thu hoạch và độ cao thu hoạch cũng rất quan trọng ảnh hưởng tới tái sinh trưởng, vì nó quyết định lượng dinh dưỡng dự trữ để tái sinh

- Tuổi thiết lập:

Là tuổi kể từ khi gieo trồng cho đến khi thu hoạch lứa đầu Lứa tuổi này rất

Trang 21

quan trọng vì nó tạo điều kiện cho các bộ phận dưới đất (rễ, thân ngầm…) phát triển làm cơ sở cho việc dự trữ dinh dưỡng sau này Chỉ khi các bộ phận này đã phát triển

và dự trữ dinh dưỡng đầy đủ mới cho phép quá trình tái sinh mạnh Nếu cây thức ăn vừa mới mọc mà ta đã chăn thả gia súc hoặc thu cắt thì chúng bị tàn phá ngay Hay thu hoạch khi cây thức ăn đã quá già phần còn lại có khả năng tái sinh rất kém Nhưng ở giữa hai thời điểm này có một giai đoạn mà ở đó người ta có thể chăn thả gia súc hoặc thu cắt, và sau đó cây vẫn cho tái sinh mạnh Do vậy trong quá trình sinh trưởng của cây có một thời điểm mà chất dự trữ là nhiều nhất và vì vậy điều kiện tái sinh là tối ưu

- Tuổi thu hoạch:

Kể từ lứa cắt thứ nhất trở đi, thời gian giữa các lần thu hoạch gọi là tuổi thu hoạch Dĩ nhiên lứa tuổi này sẽ nhỏ hơn tuổi thiết lập vì lúc này các bộ phận ngầm dưới đất đã được phát triển, chỉ chờ cho chúng dự trữ đủ dinh dưỡng là có thể thu hoạch Nếu một cây cỏ bị cắt trước khi rễ và những phần còn lại của lứa cắt trước

dự trữ đủ dinh dưỡng thì sự tái sinh sẽ gặp khó khăn và có thể không xảy ra

Tuổi thu hoạch biến động phụ thuộc vào mùa, giống, điều kiện chăm sóc… Tuổi thu hoạch của các cây hòa thảo khoảng 30 - 40 ngày, của cây đậu khoảng 40 -

50 ngày trong mùa mưa, còn trong mùa khô tuổi thu hoạch sẽ dài hơn, có những vùng quá khô hạn thì trong suốt mùa khô không cho thu cắt lứa nào Trong điều kiện thâm canh cao (bón phân đầy đủ, có nước tưới) cây thức ăn sinh trưởng nhanh thì tuổi thu hoạch cũng ngắn hơn Bởi vậy cần phải tiến hành xác định cụ thể thời điểm thu hoạch để cỏ có năng suất và giá trị dinh dưỡng cao nhất Cũng cần nói thêm rằng giá trị dinh dưỡng của cây thức ăn giảm dần theo giai đoạn sinh trưởng,

có nghĩa là cây thức ăn càng già thì giá trị dinh dưỡng càng kém

Tuổi thu hoạch biến động nên việc so sánh năng suất chất xanh hay chất khô/lứa cắt đôi khi không có ý nghĩa, khi này phải tính năng suất tích luỹ/ngày đêm

Nghiên cứu của Bùi Quang Tuấn (2005b) chỉ ra rằng trong mùa mưa tuổi thu hoạch của cỏ Voi thích hợp là 40 ngày, của cỏ Ghi nê là 30 ngày Thu hoạch vào thời điểm này cây cỏ vừa cho năng suất chất khô cao vừa cho giá trị dinh dưỡng cao

- Độ cao thu hoạch:

Độ cao thu hoạch là khoảng cách từ mặt đất đến điểm thu cắt, tức là phần chừa lại không thu cắt của cây thức ăn Độ cao thu hoạch quyết định lượng chất dinh dưỡng còn lại và khả năng quang hợp của cây sau thu cắt Nếu độ cao thu

Trang 22

hoạch cao quá sẽ mất năng suất, nhưng nếu độ cao thu hoạch thấp quá sẽ ảnh hưởng đến tái sinh của lứa sau Mỗi loại cây thức ăn sẽ có độ cao thu hoạch thích hợp khác nhau Riêng đối với cây cỏ Voi thì cần cắt sát gốc vì cỏ Voi có thân ngầm và nhánh

cỏ đẻ ra từ gốc sẽ to hơn, phát triển tốt hơn các nhánh đẻ ra từ mắt than Đối với cây đậu thì các lứa cắt sau phải cắt cao dần lên thì cây mới tái sinh tốt

2.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA CÂY ĐẬU NGHIÊN CỨU

Chi Stylosanthes thuộc họ đậu (Fabaceae) bao gồm 48 loài được phát hiện ở

vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của Châu Mỹ, Châu Phi và Đông Nam Á (Costa and Ferreira, 1984; Costa, 2006) Chỉ có hai trung tâm đa dạng, một trong số đó là miền Trung Brazil (Ferreira and Costa,1979; Stace and Cameron, 1984)

Stylosanthes guianensis (Aubi) Sw., có 2n=20 là loài phổ biến và có sự đa

dạng về kiểu hình (Williams et al., 1984; Vieira et al.,1993) Stylosanthes guianensis

có nguồn gốc ở Nam và Trung Mỹ, nơi nó được trồng rộng rãi (Williams et al 1984)

Stylosanthes guianensis được coi là một loại cây thức ăn gia súc đầy hứa hẹn trong các thảo nguyên của Brazil và nó được sản xuất một số lượng lớn thức ăn cung cấp cho mùa khô

Stylosanthes guianensis cv CIAT 184 (tên thông thường Stylo CIAT 184) được đưa vào Việt Nam năm 1995 trong chương trình Forage and Livestock

Systems Project (FLSP) Stylosanthes guianensis CIAT 184 có nguồn gốc ở Trung

và Nam Mỹ, hiện nay trồng ở nhiều nước trên thế giới Stylosanthes guianensis

CIAT 184 là cỏ lâu năm, thân đứng, trong điều kiện khí hậu ẩm có thể cao tới 1,5m,

có khả năng ra rễ ở thân Thân có lông, lá chẽ 3

Stylosanthes guianensis CIAT 184 là cây có khả năng thích nghi lớn với lượng mưa hàng năm từ 1500 - 2500mm/năm Có khả năng chịu hạn tốt trong mùa khô kéo dài, chịu được sương muối nhẹ và nhiệt độ thấp <15oC

Stylosanthes guianensis CIAT 184 là cây họ đậu sống lâu năm, phát triển thành bụi, thân gỗ nhỏ với một số thân cây/bụi Cây thích nghi với nhiều loại đất và khí hậu,

là một trong những cây họ đậu thân bụi phát triển được trên đất acid Nó sẽ không phát

triển trên các loại đất rất kiềm (pH> 8) Không giống như các giống Stylosanthes

guianensis trước đây như Schofield Cook và Graham, Stylosanthes guianensis CIAT

184 đã cho thấy sức đề kháng cao với bệnh thán thư do nấm gây ra ở Đông Nam Á Nó thường được trồng làm cây che phủ, có hiệu quả ngăn chặn cỏ dại và là nguồn thức ăn

bổ sung rất tốt cho hầu hết động vật, bao gồm gà, lợn và cá Stylosanthes guianensis

Trang 23

CIAT 184 có thể cho gia súc ăn tươi hoặc khô Cây không chịu được thu cắt thấp vì các đỉnh sinh trưởng nằm trên các nách lá, do vậy khi thu cắt cần thực hiện cao hơn 25 cm

để đảm bảo tái sinh tốt cho các lứa cắt sau (Horne and Stür, 1999) Hàm lượng đạm của

Stylosanthes guianensis CIAT 184 từ 1,5 - 3% trong vật chất khô Tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô của gia súc từ 60 - 70%, nhưng với tuổi của cỏ ngày càng tăng thì có thể giảm xuống dưới 40% (Mannetje và Jones, 1992)

Năng suất của cỏ Stylosanthes guianensis CIAT 184 đạt từ 40 - 60 tấn/ha/năm

Hàm lượng protein thô trong thức ăn từ 16 - 17%; VCK từ 22 - 24%; xơ thô từ 20 - 22% (Nguyễn Ngọc Hà và cs., 1985) Có thể cho gia súc ăn tươi hoặc phơi khô đóng bánh, làm bột cỏ

Stylosanthes guianensis CIAT 184 là giống đã chứng minh được là có thể trồng và cho năng suất cao trên đất có độ phì kém và hơi chua tại M’Drăk (Trương Tấn Khanh, 2003), tại 4 vùng chăn nuôi bò sữa trong điểm: Ba Vì, Hà Tây cũ; Thái Nguyên; Đức Trọng, Lâm Đông và Lam Sơn, Thanh Hóa (Nguyễn Thị Mùi và cs., 2005) và trồng thích hợp trên các loại đất thuộc 5 vùng sinh thái Việt Nam: đồng bằng Bắc Bộ, núi Tây Bắc, duyên hải miền Trung, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ

(Nguyễn Thị Mùi, 2011) Năng suất Stylosanthes guianensis CIAT 184 đạt 21,56

tấn VCK/ha/năm tại Hòa Bình (Lê Hoa và Bùi Quang Tuấn, 2009) Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Quang và cs., (2011), với mức phân bón hữu cơ 20 tấn

và phân đạm 75kg N/ha/năm thì cây đậu Stylosanthes guianensis CIAT 184 đã cho

năng suất xanh 77,83 tấn/ha/năm Nguyễn Thị Mùi và cs., (2008) cho thấy kết quả

nghiên cứu về năng suất chất xanh của cây đậu Stylosanthes guianensis CIAT 184 tại

Ba Vì (Hà Tây cũ) biến động từ 53-65 tấn/ha/năm, tại Đức Trọng, Lâm Đồng từ

71,66-92,17 tấn/ha/năm Như vậy, giống đậu Stylosanthes guianensis CIAT 184 trồng

tại Ba Vì cho năng suất chất xanh thấp hơn vùng Lâm Đồng Nguyên nhân của sự khác nhau có thể giải thích là do sự khác nhau rất rõ rệt về tổng số giờ nắng trong năm lớn hơn và sự chênh lệch nhiệt độ giữa hai mùa hè và mùa đông thấp hơn tại Lâm Đồng, dẫn đến các lứa cắt trong năm nhiều hơn và năng suất cao hơn

Trang 24

Hình 2.1 Ảnh cây đậu Stylosanthes guianensis CIAT 184

Đậu Stylosanthes guianensis Plus có nguồn gốc từ Châu Mĩ La Tinh Đậu

được trồng phổ biến ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới như Congo, Kenya, Uganda, Nigieria, Malaysia, Ấn Độ, Trung Quốc và Việt Nam,… Ở Việt Nam đậu stylo được nhập lần đầu vào năm 1967, sau này được nhập tiếp từ các nước trong khu vực Hiện nay đậu stylo được trồng ở nhiều tỉnh thành trong cả nước và được

coi là một trong những cây đậu thức ăn chăn nuôi tốt nhất ở Việt Nam

Stylosanthes guianensis Plus là loại cây bộ đậu, lưu niên, thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới Stylo là cây thân bò, cao 30 – 60 cm, trong điều kiện khí hậu ẩm

70 - 80% có thể cao tới 1m Đậu có khả năng ra rễ ở thân Thân nhiều lông, lúc non màu xanh, khi già thành màu tím Lá kép ba, có nhiều hoặc ít lông mềm, lá dài 2 - 3cm, rộng 5 - 10mm Hoa hình bông không cuống và mọc sát nhau Mỗi cây có rất nhiều chùm hoa, trên mỗi chùm hoa có 5 - 9 hoa Quả đậu không có cuống, mỗi quả khoảng 7 - 8 hạt, hạt có vỏ cứng màu xám đen, khối lượng 1000 hạt khoảng 3 - 4g Tốc độ sinh trưởng của đậu stylo tương đối nhanh, đạt 0,81 cm/ngày đêm trong mùa

mưa và 0,41 cm/ngày đêm trong mùa khô (Bùi Quang Tuấn, 2005a; 2006a)

Stylosanthes guianensis Plus khả năng thích nghi lớn, có thể thích nghi với nhiều loại đất, kể cả đất xấu và đất axit Đậu có khả năng chịu úng tương đối tốt, có thể chịu được ngập tạm thời, tuy nhiên ở nơi quá ẩm năng suất sẽ bị giảm

Stylosanthes guianensis Plus là cây ưa sáng, năng suất giảm rõ rệt khi cây bị che bóng Cây có khả năng chịu giẫm đạp nên có thể dùng để chăn thả, tuy nhiên chỉ ở mức chăn thả vừa phải

Trang 25

Năng suất chất xanh của đậu Stylosanthes guianensis Plus đạt khoảng 40 - 60

tấn chất xanh/ha/năm (5 - 14,5 tấn chất khô/ha/năm) tùy điều kiện đất đai và chế độ

chăm sóc Tại Gia Lâm - Hà Nội năng suất chất xanh của đậu Stylosanthes guianensis

Plus đạt 66 tấn/ha/năm (Bùi Quang Tuấn, 2005c) Năng suất chất khô của đậu

Stylosanthes guianensis Plus trồng tại Lương Sơn - Hòa Bình đạt 13,13 tấn/ha/năm (Bùi Quang Tuấn, 2006a) Khi khảo sát đánh giá tập đoàn cây thức ăn gia súc cho các vùng sinh thái khác nhau ở Việt Nam, Nguyễn Thị Mùi và Nguyễn Văn Quang

(2011) cho biết cây đậu Stylosanthes guianensis CIAT 184 và cây đậu Stylosanthes

guianensis Plus có thể cho 4-5 lứa cắt/năm Năng suất của cây đậu Stylosanthes

guianensis Plus biến động trong khoảng từ 63,30-69,20 tấn/ha/năm

Hàm lượng các chất dinh dưỡng của đậu Stylosanthes guianensis Plus như

sau: vật chất khô 20,89 % ;protein thô 15,46 %; xơ thô 28 %; NDF 65,70 %: ADF

33, 19%; ADL 2,75%; khoáng tổng số 10,62% (Bùi Quang Tuấn, 2006b) Với thành phần dinh dưỡng như vậy đậu stylo là nguồn thức ăn bổ sung protein tốt cho gia súc

ăn cỏ, đặc biệt là có khả năng chế biến thành bột cỏ

Hình 2.2 Ảnh cây đậu Stylosanthes guianensis Plus

Thu hoạch Stylosanthes guianensis Plus lứa đầu vào khoảng 3 - 4 tháng sau

gieo, khi thảm cỏ đã phủ kín đất và đạt độ cao của thảm cỏ 50 - 70 cm Thu hoạch thường từ tháng 6 đến tháng 12 Khi thu hoạch cắt cách mặt đất 15 - 20cm Thu hoạch các lứa tiếp theo sau 2 - 2,5 tháng Chu kỳ kinh tế 4 - 5 năm Ngoài tác dụng làm nguồn thức ăn cho gia súc chất lượng cao do giàu protein (cho ăn xanh, ủ với các loại cỏ hoặc chăn thả), nó còn được trồng xen với các cây ăn quả khác để chống xói mòn và sử dụng triệt để lượng đạm mà hằng năm nó cung cấp cho đất

Trang 26

2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÂY THỨC ĂN CHĂN NUÔI TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

2.3.1 Trên thế giới

Hiện nay trên thế giới có tới hơn 11.000 giống cỏ tức là tính đa dạng sinh học của các loài cỏ rất cao và có ý nghĩa rất lớn trong sự sống vì rất nhiều loài sinh vật phụ thuộc vào nguồn thức ăn này Trên thế giới nói chung và vùng Đông Nam Châu Á nói riêng, một tập đoàn giống cỏ và cây thức ăn gia súc chất lượng cao đã được chọn lọc và khẳng định tiềm năng của chúng trong sản xuất ở nhiều nước

Ở miền Nam Thái Lan những hộ nông dân chỉ có 2 - 2,5ha đã phát triển

mạnh một số giống cỏ hoà thảo là Brachiaria ruziziensis, B humidicola, B mutica

và Paspalum plicatulum, Echinochloa polystachya, Panicum maximum và giống cỏ

chất lượng cao Stylosanthes hamata cv Verano Tuy nhiên giống Stylo Verano

không chịu được úng ngập lâu ngày so với các giống trên Ở các vùng trung du (bán sơn địa), một số giống cỏ chất lượng cao có khả năng thích ứng cao trong điều kiện

đất cát nghèo dinh dưỡng bao gồm các giống cỏ trồng Stylosanthes humilis, S

hamata và Macroptilium atropurpureum Cũng tại Thái Lan việc cỏ trồng phục vụ

chăn nuôi bò sữa và các cơ sở vỗ béo bò thịt được xem xét như một ngành sản xuất

thương mại Các giống cỏ như Paspalum, Ruzi, Ghi nê, Stylo và Leucaena đã được

tuyển chọn, phát triển và hiện tại đã xuất khẩu sang các nước xung quanh khu vực

Các giống cỏ này cho năng suất khá cao đặc biệt là P.M TD 58 cho năng xuất VCK

42 tấn/ha/năm (Sajtipanon et al., 1995)

Giống cỏ Stylosanthes guianensis CIAT 184 đã được trồng rộng rãi làm

thức ăn cho gia súc và đặc biêt là sản xuất hạt giống dễ dàng hơn nhiều giống cây

họ đậu khác (Satjipanon et al., 1995) Tại các nước như Pakistan, Nepal nhiều

giống cỏ cho năng suất VCK khá cao và là nguồn thức ăn xanh có giá trị cho gia

súc nhai lại như P purpureum, P maximum sp., Pangola, Bermuda, Saccharum,

Paspalum dilatatum, Stylosanthes sp và Avena sativa (Laquihon and Pagbilao,

1994) Hiện nay việc chọn lọc và sản xuất hạt giống cỏ năng suất, chất lượng cao tương đối phổ biến tại vùng phía Tây và phía Đông Java Indonesia, 17 giống cỏ hòa thảo và 13 giống cây họ đậu đang được sản xuất hạt giống cung cấp cho các vùng

địa lý, khí hậu khác nhau trong cả nước (Nitis et al., 1996) và giống cỏ Stylosanthes

guianensis được trồng xen trong cây sắn, khối lượng sản phẩm thức ăn xanh tăng 132% so với chỉ trồng sắn hoặc Stylo thuần và hàm lượng nitơ trong đất đã tăng

Trang 27

20kg/ha khi có sự đóng góp của cỏ Stylo, trong thâm canh tăng năng suất (Nitis, 1976) Các giống cỏ Stylo cũng được bắt đầu chọn lọc và phát triển tại Trung Quốc

từ những năm 1982 và đến 1993 giống CIAT 184 đã phát triển tới 5200 ha và giống Stylo cv Graham là 24.000 ha (Liu and Kerridge, 1997) Hàng năm diện tích trồng

cỏ Stylo tăng 15-20% riêng tỉnh Quảng Đông đã có hơn 100.000 hộ nông dân trồng

cỏ Stylo cho chăn nuôi đặc biệt là chế biến bột cỏ Stylo cho chăn nuôi gia cầm Tại

2 tỉnh Quảng Đông và Hải Nam, diện tích trồng ước tính 5000 ha với năng suất bột

cỏ là 15 tấn/ha và người dân hàng năm đã thu được 140 $/1 tấn bột Nước Ấn Độ

bắt đầu quan tâm chọn lọc và phát triển giống cỏ họ đậu Stylosanthes vào năm 1974

với số lượng hạt giống ban đầu chỉ có 5 kg do Tổ chức Ngân hàng thế giới giúp đỡ

Từ năm 1985 đến nay Ấn Độ đã tập trung vào các nghiên cứu tuyển chọn giống thích hợp với các vùng sinh thái khác nhau, đặc biệt là các giống Stylo kháng được

bệnh lở cổ rễ (Ramesh et al., 2004; Rai and Pathak, 1985) và các giống chịu được những vùng khô hạn (Rai and Pathak,1985) Giống Stylo Hamata và giống Stylo

Seabrana cho năng suất hạt cao và có khả năng chống chịu sương muối Giống

Stylo Scabra đã được sử dụng làm nguyên liệu trong nghiên cứu để lai tạo ra các giống lai có năng suất cao chịu được điều kiện khô hạn kéo dài Đến năm 2000

huyện Reddipalli đã trở thành vùng phát triển hạt giống cỏ Stylo chính của Ấn Độ

và đã mở rộng ra 25 thôn với diện tích 15000 ha tại huyện Anantpur Các hộ nông dân tập trung sản xuất hạt 2 giống Stylo Hamata và Stylo Scabra và đã thu được 30 triệu Rs Vào giai đoạn đó Viện Nghiên cứu Đồng cỏ (IGFRI) ở tỉnh Dharwad đã hoàn thiện quy trình phân loại và làm sạch hạt giống theo hướng công nghiệp phục

vụ sản xuất hạt Stylo thương mại (Ramesh and Nagaratna, 2000)

Việc sản xuất hạt giống cỏ của một số nước trên thế giới rất phát triển Thái Lan một nước nằm trong khu vực Đông Nam Á là một ví dụ Lượng hạt giống cỏ của Thái Lan sản xuất ra hàng năm là >1000 tấn xuất khẩu cho tất cả các nước trên thế giới, trong số này có tới 70-80% là lượng hạt giống do nông dân sản xuất thông qua hợp đồng của Cục phát triển Chăn nuôi Thái Lan (DLD), số còn lại 20-30%

lượng hạt giống được sản xuất từ các Trung tâm, Trạm, Trại nghiên cứu (Chaisang

Phaikaew , 2006) Một giống cỏ mới trước khi được giới thiệu cho người dân tiến

hành sản xuất giống đều được tiến hành nghiên cứu và đánh giá tiềm năng của nó đối với sản xuất giống thương mại tại các trạm nghiên cứu bao gồm: Sinh trưởng và phát triển của giống, đặc điểm ra hoa, kết hạt, phân bón, kỹ thuật thu hoạch, chế

biến hạt giống và chất lượng hạt giống (Hare et al., 2007) qua đó làm cơ sở để xây

Trang 28

dựng quy trình kỹ thuật, chuyển giao cho người sản xuất Các câu lạc bộ sản xuất hạt giống cỏ của người nông dân được hình thành, họ sẽ tổ chức kế hoạch sản xuất giống, bao gồm chủng loại, số lượng, diện tích trồng và tiếp thị hạt giống dưới sự bảo trợ của nhà nước Các Trung tâm, Trạm, Trại hướng dẫn kỹ thuật, kiểm soát chất lượng giống, thu mua, đóng gói, lưu trữ và bảo quản, tiếp thị hạt giống trong và ngoài nước

cỏ hoà thảo phong phú đã được tìm ra và rất nhiều giống đã và đang được phát triển rộng trong sản xuất như những kết quả nghiên cứu của (Nguyễn Ngọc Hà và

cs.,1985) về các giống cỏ được tuyển chọn là Setaria Splenda đạt 28-80,4 tấn;

Brachiaria mutica : 28-86,6 tấn/ha/năm, Brachiaria decumbens đạt 44,1-73,8

tấn/ha/năm trồng tại Sơn Thành, Long Mỹ thuộc vùng Duyên hải miền Trung và Từ Liêm, Thanh Trì vùng đồng bằng Bắc Bộ Theo một số tác giả nghiên cứu đã báo

cáo rằng các giống cỏ hoà thảo cho năng suất VCK khá cao 18-61tấn/ha/năm (P

pupurseum King grass) , 17,8-40 tấn/ha/năm (Panicum maximumi), 13,8-36 tấn/ha/năm Brachiaria sp và 14,8- tấn cho các giống Pangola, Bermuda Trên vùng đất phù sa sông Hồng, vùng đất đồi Hà Tây giống cỏ P.M TD58 cho năng suất VCK từ 17-18 tấn/ha/năm Các giống cỏ P.M Hamill, P.M Common, P.M Ciat

673 cũng cho năng suất xanh khá cao (60-66 tấn/ha/năm) trên vùng đất xám Bình

Dương Đặc biệt với giống cỏ B ruzisinensis trồng quảng canh ở nhiều vùng Hà

tây, Bắc Giang, Lạng Sơn, Khánh Hoà, Hoà Bình, Hà Tĩnh, Gia Lai cho năng suất

xanh từ 50-65 tấn/ha/năm Tại vùng đất Đăk Lăk giống B ruziziensis đạt năng suất

VCK khoảng 14,5 tấn/ha/năm (Khổng Văn Đĩnh và cs., 1997; Nguyễn Ngọc Hà và cs., 1995; Dương Quốc Dũng và cs.,1998; Phan Thị Phần và cs.,1999; Nguyễn Thị Mùi và cs., 2010) Nguyễn Văn Quang và cs., (2006), cũng đã chỉ ra trong nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm về các giống cỏ hoà thảo trên các loại đất có độ dốc

Trang 29

khác nhau tại khu vực trung du miền núi phía Bắc kết quả chỉ ra rằng các giống cỏ

đã cho 6 lứa cắt/năm và năng suất xanh của các giống P.M.TD 58: 75-87 tấn/ha/năm; Setaria splenda: 93-117,5 tấn/ha/năm ; B Decumbens 80-90,3 tấn/ha/năm, P.M hamill 61-75,6 tấn/ha/năm và Paspalum atratum đạt NS xanh từ

60-108,6 tấn/ha/năm Nguyễn Văn Lợi và cs., (2006) đã xác định được bộ giống

bao gồm 7 giống cỏ hòa thảo P.maximum TD58, B Decumbens, B Brizantha,

B.Hybrid, B ruziziensis, Paspalum atratum, Penisetum purpureum madagasa đạt

NSX từ 103 đến 131 tấn/ha/năm và 4 giống họ đậu Stylosanthes CIAT 184,

Flemingia macrophylla , Stylosanthes plus và Leucaena Leucocephala K636 đạt

năng suất xanh từ 15,2-34,6 tấn/ha/năm trên các vùng núi phía Bắc Trong điều kiện đất đai khí hậu vùng Duyên Hải miền Trung, Tây Nam Bộ và đồng bằng Bắc Bộ,

một bộ giống cỏ bao gồm: Pennisetum purpureum Kingrass, Pennisetum hybrid VA06 Panicum maximumTD58, Brachiaria Mulato (Hybrid), Brichiaria

Ruzisinensis, Brichiaria Decumbens, Brachiaria Mutica (Para), Paspalum Atratum, Stylosanthes guianensis CIAT 184, Stylosanthes guianensis Plus và

Flemingia Macrophylla phát triển phù hợp cho thu cắt chất xanh trong điều kiện đất thoát nước, ngập nước, giống chịu hạn, sử dụng làm thức ăn xanh, làm cỏ khô trong

cả điều kiện trang trại và nông hộ chăn nuôi và cho năng suất chất lượng cao (Nguyễn Thị Mùi và cs., 2010; Nguyễn Thị Hồng Nhân và cs., 2008; Lê Xuân Đông

và cs., 2009)

Đối với việc tuyển chọn các giống cỏ, cây họ đậu cho thấy: giai đoạn 1967 -

1984 nghiên cứu tuyển chọn giống cây thức ăn xanh họ đậu nhập nội trồng tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ, Đinh Văn Bình và cs., (1998), đã báo cáo rằng các giống cỏ

họ đậu nổi trội là Stylosanthes gracilis cho năng suất xanh là 70 - 114 tấn/ha/năm và giống Pueraria phaseoloides cho 57 - 60 tấn/ha/năm Các giống cỏ họ đậu khác như:

Medicago sativa L cho NS 27 - 34 tấn/ha/năm và cỏ ba lá (Triforlium) cho năng suất

xanh rất thấp Trên đất đồi vùng trung du miền núi chỉ có giống đậu hồng đáo và đậu cao bằng cho năng suất xanh từ 20 - 21 tấn/ha/năm cũng đã báo cáo về năng suất xanh của giống cỏ họ đậu trồng tại các vùng sinh thái Duyên hải miền Trung và đồng

bằng Bắc Bộ Stylo Hamata verano đạt năng suất xanh 22 - 26 tấn và 23 - 36

tấn/ha/năm, Stylo scabra đạt năng suất xanh 10 - 25 tấn và 34 - 35 tấn/ha/năm; Stylo

Cook đạt năng suất xanh 11 - 14 tấn và 19 - 25 tấn/ha/năm; Macroptilium A Siatro đạt năng suất xanh 13 - 30 tấn và 23 - 23,3 tấn/ha/năm; Neonotonia.W.Cooper đạt NS xanh 22 - 26 tấn và 23 - 36 tấn/ha/năm và Pueraria p Radou đạt năng suất xanh 22 -

Trang 30

26 tấn và 23 - 36 tấn/ha/năm (Lê Hoà Bình và cs.,1994) Nguyễn Ngọc Hà và cs.,

(1985) đã báo cáo giống cỏ Stylosanthes gracilis, Stylosanthes humilis, Stylosanthes

hamata cho năng suất xanh biến động 44 - 53,1 tấn/ha/năm Trong khi đó trên đất

xám Bình Dương năng suất xanh các giống này chỉ đạt từ 18,5 - 29,7 tấn, L

Leucocephala Hawai 40,0 tấn/ha/năm, Cajanus cajan (Đậu triều) đạt 50,0 tấn/ha/năm, Puearia phaseoloides Kudzu đạt 40,1 tấn/ha/năm Giống Flemingia

Macrophylla đã được trồng thâm canh và có tưới nước đã cho năng xuất cao và góp phần tăng sản phẩm chăn nuôi trong mùa khô (Đinh Văn Bình và cs.,1998) Giai

đoạn từ 1998 - 1999 giống Stylsanthes guianensis Cook được trồng trên nền đất xám

Bình Dương đã cho năng suất xanh 21 tấn/lứa cắt/ha (4 lứa/năm) và bón phân urê (60kg/ha/lứa) cùng tưới nước 3 - 5 ngày một lần trong mùa khô đã tăng năng suất lên

44% so với không tưới (Lê Hà Châu, 1999) Tại Đăk Lăk, giống Stylo FM05-2, Stylo

Cook đã cho năng suất 12,5 tấn VCK/ha/năm và Stylosanthes guianensis CIAT 184

đã cho năng suất vật chất khô 11,4 đến 12,2 tấn/ha/năm (Trương Tấn Khanh và cs., 1999) Tại một số tỉnh miền núi phía Đông Bắc và đồng bằng Bắc bộ, một số giống

keo dậu L L K636, L P K748 và Leucaena KX2, L L Cuningham, L L Ipil ipil,

L.L K8 và Calliandra calothyrsus (Nguyễn Thị Mùi và cs., 2002) đã nghiên cứu thử

nghiệm tập đoàn cây thức ăn mùa đông kết quả ban đầu chỉ ra cho thấy giống cỏ

Alfalfa (Medicago sativa) có thể gieo trồng được trong điều kiện có tưới nước trong

mùa khô tại vùng Ba Vì và Đức Trọng, Lâm Đồng Trong kết quả nghiên cứu phát triển mở rộng một số giống cây họ đậu chủ đạo phù hợp với một số vùng sinh thái khác nhau trong nước của Nguyễn Thị Mùi và cs., (2005) cũng đã có kết luận rằng: 2

giống cây họ đậu chủ đạo là Stylosanthes guianensis CIAT 184 và Leucaena

leucocephala K636 đã phát triển tốt trên cả vùng sinh thái thuộc 4 tỉnh Lâm Đồng, Thanh Hoá, Thái Nguyên và Hà Tây (cũ), số vùng sinh thái khác nhau nước ta đưa vào cơ cấu cây thức ăn xanh và cung cấp 15-20% tỷ lệ họ đậu trong khẩu phần thức

ăn xanh cho bò sữa

Giữa các vùng sinh thái khác nhau năng suất chất xanh sử dụng cho chăn nuôi cũng khá biến động Vùng núi phía Tây Bắc và vùng đồng bằng sông Hồng thường cho các lứa cắt và năng suất thấp hơn so với các vùng duyên hải miền Trung (Nguyễn Ngọc Hà và cs., 1995) Nguyễn Văn Lợi và cs., (2006), cũng báo cáo rằng sau 3 lứa cắt năm thứ nhất năng suất chất xanh cỏ Stylo trồng thuần ở vùng đất dốc Thái Nguyên đã đạt 49,9 đến 59,4 tấn/ha/năm Tại khu vực sinh thái Tây Nguyên,

đã tuyển chọn và đưa vào sản xuất 9 giống cây họ đậu theo phương thức thu cắt

Trang 31

Nhìn chung năng suất chất xanh, NSVCK biến động rất rõ theo từng giống khi trồng trong cùng một điều kiện giống nhau nhưng chế độ đầu tư chăm sóc và khả năng phân bố theo mùa vụ cũng khác nhau Đặc tính này sẽ giúp cho việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất cho mùa đông/khô (Trương Tấn Khanh và cs., 1999)

Từ những tư liệu về việc tuyển chọn và phát triển tập đoàn cây cỏ hoà thảo

rất phong phú, trong đó nổi trội là các nhóm giống thuộc họ hòa thảo: Penisetum

purpureum sp., Panicum maximum sp, Brachiaria sp và nhóm họ đậu chủ yếu là

Stylosanthes sp và Leucaena leucocephala sp đã được phát triển ở hầu hết các

nước vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới trong đó có Việt Nam Việc tuyển chọn các giống cây thức ăn gia súc mới thích nghi và phù hợp với điều kiện sản xuất hiện tại

là rất cần thiết cho mỗi vùng sinh thái Thông thường những giống địa phương thường cho năng suất và thành phần dinh dưỡng thấp nhưng có khả năng thích nghi

và sức sống cao hơn, các giống mới cho NS cao nhưng đòi hỏi nguồn dinh dưỡng

và chế độ chăm sóc quản lý cao hơn (Blairet al., 1986)

Rất nhiều giống cỏ địa phương và các giống mới nhập nội có triển vọng thường có những nhu cầu dinh dưỡng và đặc tính khác nhau nên cần được đánh giá

rõ ràng trước khi lựa chọn Việc tuyển chọn các giống cây thức ăn xanh để giới thiệu cho sản xuất cần phải cân nhắc các đặc tính riêng biệt, khác nhau trong hệ thống sản xuất Các giống cây họ đậu và cỏ hòa thảo có thể phù hợp trong phương thức trồng xen lẫn trên đồng cỏ hay trồng riêng biệt Các giống cây họ đậu thân gỗ có thể thích hợp với việc trồng hàng rào và thu hoạch ngọn lá để cải thiện hàm lượng đạm trong thức ăn cho gia súc Có những giống thích hợp với đồng cỏ thu cắt như cỏ Voi, cỏ ghine, có những giống thích hợp với đồng cỏ trong điều kiện chăn thả như cỏ mật, cỏ

chỉ, cỏ Brachiaria huminicola… có thể chịu hạn tốt hơn các giống khác hoặc chịu

được tán che của cây nông, công nghiệp… Việc tiến hành các thí nghiệm nhằm đánh giá và nhận biết các đặc tính đa dạng của từng giống để tuyển chọn và giới thiệu đúng với các hệ thống sản xuất là hết sức quan trọng Những thí nghiệm như vậy giúp chúng ta hiểu rõ được những kỹ thuật phù hợp với điều kiện thực tế và hiệu quả áp dụng các biện pháp kỹ thuật tuyển chọn, và chuyển giao các kết quả vào sản xuất với các mục phát triển nguồn thức ăn xanh cho chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi bò sữa (Wilaibon and Pongskul, 1984; Trương Tấn Khanh và Vũ Thị Hải Yến, 2001; Lê Hòa Bình và cs., 2002)

Trang 32

Tại Việt Nam, vấn đề sản xuất và quản lý chất lượng hạt giống cỏ từ trước đến nay chưa được quan tâm Các loại hạt giống cỏ hiện nay cung cấp cho sản xuất

đều nhập khẩu thông qua một số công ty như : Công ty Giống cây trồng Miền Nam,

Công ty TNHH phát triển Nông nghiệp Nông Phát, Công ty TNHH Khuyến nông, Công ty Á Châu với số lượng hàng trăm tấn/năm, tiêu tốn một lượng ngoại tệ hàng triệu USD Trong nước chưa có một cơ sở nào sản xuất hạt giống cỏ mà chủ yếu là tự phát, sản xuất nhỏ lẻ, manh mún không thể đáp ứng được cho nhu cầu sản xuất hiện nay Do đó cần thiết phải hoàn thiện và xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất hạt giống cỏ, quy hoạch và hình thành những vùng chuyên canh sản xuất hạt cỏ phù hợp với từng giống, ứng dụng một số các loai máy móc vào sản xuất để nâng cao hiệu quả và chất lượng sản phẩm, tổ chức quản lý theo hướng khép kín các công đoạn từ khâu sản xuất – chế biến và bảo quản hạt giống – kiểm tra đánh giá chất lượng hạt giống – tiêu thụ sản phẩm

Trang 33

PHẦN 3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 VẬT LIỆU, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

- Vật liệu nghiên cứu:

Vật liệu nghiên cứu gồm 2 giống cỏ đậu: Stylosathes guianensis CIAT 184

và Stylosathes guianensis Plus

- Thời gian và địa điểm nghiên cứu:

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 4/2014-9/2015

Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì, Hà Nội

và vườn cỏ khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Đề tài tiến hành nghiên cứu 4 nội dung sau:

- Xác định năng suất và chất lượng thức ăn của giống cỏ Stylosanthes

guianensis CIAT 184 và Stylosanthes guianensis Plus;

- Xác định mật độ phù hợp trong sản xuất hạt của giống cỏ Stylosanthes

guianensis CIAT 184 và Stylosanthes guianensis Plus;

- Ảnh hưởng của số lứa cắt chất xanh đến năng suất, chất lượng hạt của

giống cỏ Stylosanthes guianensis CIAT 184 và Stylosanthes guianensis Plus;

- Xác định phương pháp thu hoạch hạt thích hợp của giống cỏ Stylosanthes

guianensis CIAT 184 và Stylosanthes guianensis Plus

3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nội dung 1: Xác định năng suất và chất lượng thức ăn của giống cỏ Stylosanthes guianensis CIAT 184 và Stylosanthes guianensis Plus

Thời gian gieo hạt: trung tuần tháng 4 năm 2015

Gieo hạt trên đĩa cát ẩm, mỗi đĩa gieo 100 hạt, mỗi giống đậu gieo trên 3 đĩa Theo dõi tỷ lệ nảy mầm của hạt sau 10 ngày

Số hạt nảy mầm

Tỷ lệ nảy mầm (%) = X 100

Số hạt được gieo

Trang 34

Sơ đồ trồng cỏ như sau:

Stylo CIAT 184 Stylo Plus Stylo Plus

Stylo Plus Stylo CIAT 184 Stylo CIAT 184

Mỗi giống cỏ được trồng trên 3 ô, mỗi ô có diện tích 20m2 Cỏ được trồng bằng hạt, khoảng cách các hàng trồng là 40cm, lượng hạt sử dụng là 8kg/ha Lượng phân bón sử dụng: 20 tấn phân hữu cơ, phân vô cơ: urê 100kg, phân lân 200, phân kali 200kg/ha

Đất trồng được làm tơi xốp, sạch cỏ dại, lên luống sau đó rạch hàng với khoảng cách hàng x hàng = 40cm

Phân chuồng, phân lân và phân kali dùng để bón lót xuống đáy rãnh trồng, phân đạm urê bón thúc sau trồng 1,5 tháng

Sau khi bón lót phân xuống đáy rãnh, lấp một lớp đất mỏng lên phân rồi tiến hành gieo hạt Hạt đậu trồng cách nhau 30cm

Sau khi gieo tiến hành tưới nước cách nhật để giữ độ ẩm cho đất trong 20 ngày đầu Từ khi gieo đến khi thu cắt lứa đầu làm cỏ dại 3 đợt cho đến khi thảm cỏ thiết lập tốt, che phủ kín mặt đất

Chiều cao của khóm cỏ được đo từ mặt đất đến điểm cao nhất của ngọn cỏ (không vuốt lá) Mỗi ô đo 5 cây (mỗi góc ô một cây và một cây ở điểm giao nhau của hai đường chéo ô cỏ) rồi tính trung bình cho ô

Lứa đầu thu cắt vào thời điểm 90 ngày sau gieo (75 ngày sau khi cỏ mọc đều), các lứa tiếp theo tùy thuộc vào mùa vụ (mùa hè sau 60 ngày tái sinh, mùa đông sau 75-105 ngày tái sinh) Năng suất chất xanh được xác định bằng cách cắt toàn bộ ô cỏ rồi tính năng suất cho 1ha Lứa đầu cắt cách mặt đất 10cm, các lứa sau cắt cao dần lên khoảng 2cm so với lứa cắt trước Năng suất chất khô và năng suất protein được tính dựa vào năng suất chất xanh, tỷ lệ chất khô và tỷ lệ protein của cỏ

Khối lượng chất khô tích lũy được xác định dựa vào năng suất chất khô/lứa

và tuổi thu hoạch của lứa

Các mẫu thức ăn của mỗi lứa cắt được trộn đều, nghiền nhỏ để gửi phân tích chất khô, protein thô, xơ thô, lipit, NDF, ADF, ADL, khoáng tổng số tại phòng phân tích của bộ môn Dinh dưỡng thức ăn, Phòng thí nghiệm trung tâm của khoa Chăn

Ngày đăng: 17/02/2017, 11:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Lê Hoà Bình, Nguyễn Ngọc Hà, Hoàng Mạnh Khải và Ngô Đình Giang (1994). Khảo sát năng suất cây thức ăn mới nhập ở một số vùng và ứng dụng trong hộ chăn nuôi, Công trình nghiên cứu KHKT chăn nuôi 1991-1992, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 152-159 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát năng suất cây thức ăn mới nhập ở một số vùng và ứng dụng trong hộ chăn nuôi
Tác giả: Lê Hoà Bình, Nguyễn Ngọc Hà, Hoàng Mạnh Khải, Ngô Đình Giang
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1994
6. Cục Chăn nuôi (2014). Dương Quốc Dũng, Nguyễn Ngọc Hà, Bùi Văn Chính, Lê Văn Ngọc, Hoàng Thị Lãng, và Lê Văn Chúng (1998). Nghiên cứu đánh giá năng suất và giá trị dinh dưỡng của cỏ Ruzi ở vùng đồi Ba Vì, Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật chăn nuôi 1996 – 1997. XNB Nông nghiệp, tr. 186 – 191 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đánh giá năng suất và giá trị dinh dưỡng của cỏ Ruzi ở vùng đồi Ba Vì, Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật chăn nuôi 1996 – 1997
Tác giả: Dương Quốc Dũng, Nguyễn Ngọc Hà, Bùi Văn Chính, Lê Văn Ngọc, Hoàng Thị Lãng, Lê Văn Chúng
Nhà XB: XNB Nông nghiệp
Năm: 1998
7. Khổng Văn Đĩnh, Trương Quốc Hiệu, Vũ Kim Thoa, Nguyễn Thị Mận và Phạm Văn Quyến (1997). Nghiên cứu xác định giá trị dinh dưỡng của cỏ Ruzi trên vùng đất xám Sông Bé. Báo cáo khoa học tại hội đồng Bộ NN&amp;PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xác định giá trị dinh dưỡng của cỏ Ruzi trên vùng đất xám Sông Bé
Tác giả: Khổng Văn Đĩnh, Trương Quốc Hiệu, Vũ Kim Thoa, Nguyễn Thị Mận, Phạm Văn Quyến
Nhà XB: Báo cáo khoa học tại hội đồng Bộ NN&amp;PTNT
Năm: 1997
9. Nguyễn Ngọc Hà, Lê Hoà Bình, Bùi Xuân An và Ngô Văn Mận (1985). Kết quả nghiên cứu tuyển chọn tập đoàn cỏ nhập nội. Tạp chí Khoa học và kỹ thuật Nông nghiệp số 8, tr. 26-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu tuyển chọn tập đoàn cỏ nhập nội
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hà, Lê Hoà Bình, Bùi Xuân An, Ngô Văn Mận
Nhà XB: Tạp chí Khoa học và kỹ thuật Nông nghiệp
Năm: 1985
10. Nguyễn Ngọc Hà, Lê Hoà Bình, Nguyễn Thị Mùi, Phan Thị Phần và Đoàn Thị Khang (1995). Đánh giá khả năng sản xuất của một số giống cỏ trồng tại các vùng sinh thái khác nhau của Việt Nam. Tuyển tập các công trình khoa học chọn lọc, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 234-248 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng sản xuất của một số giống cỏ trồng tại các vùng sinh thái khác nhau của Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hà, Lê Hoà Bình, Nguyễn Thị Mùi, Phan Thị Phần, Đoàn Thị Khang
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1995
13. Trương Tấn Khanh (2003). Đánh giá hiện trạng đồn cỏ tự nhiên và nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm cải thiện nguồn thức ăn xanh cho gia súc tại Mđrăk. Luận án tiến sỹ Nông Nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng đồn cỏ tự nhiên và nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm cải thiện nguồn thức ăn xanh cho gia súc tại Mđrăk
Tác giả: Trương Tấn Khanh
Nhà XB: Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2003
14. Nguyễn Văn Lợi, Đặng Đình Hanh, Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Văn Quang và Vũ Chí Cương (2006). Năng suất chất xanh của cây Stylo (Stylosanthes guiasinensis CIAT 184) trồng xen với sắn (Manihotesculanta) ở vùng đất dốc Thái Nguyên và giá trị sử dụng làm thức ăn cho nghé. Tuyển tập Báo cáo Khoa học năm 2006 - Phần Dinh dưỡng và Thức ăn, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 95-109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất chất xanh của cây Stylo (Stylosanthes guiasinensis CIAT 184) trồng xen với sắn (Manihotesculanta) ở vùng đất dốc Thái Nguyên và giá trị sử dụng làm thức ăn cho nghé
Tác giả: Nguyễn Văn Lợi, Đặng Đình Hanh, Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Văn Quang, Vũ Chí Cương
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2006
15. Nguyễn Thị Mùi, Ngô Tiến Dũng, Đinh Văn Bình, Đỗ Thanh Vân, Mullen, B., và Gutterdge, R.C. (2002). Khả năng sản xuất của giống keo dậu (Leucaena KX2) trên vùng đất đồi núi phía Bắc và sử dụng như nguồn thức ăn bổ sung cho gia súc nhai lại, Báo cáo khoa học - Viện Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và PTNN, tr. 62-74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng sản xuất của giống keo dậu (Leucaena KX2) trên vùng đất đồi núi phía Bắc và sử dụng như nguồn thức ăn bổ sung cho gia súc nhai lại
Tác giả: Nguyễn Thị Mùi, Ngô Tiến Dũng, Đinh Văn Bình, Đỗ Thanh Vân, Mullen, B., Gutterdge, R.C
Nhà XB: Báo cáo khoa học - Viện Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và PTNN
Năm: 2002
16. Nguyễn Thị Mùi, Phan Thị Phần, Nguyễn Văn Thưởng và Đào Văn Huyên (2005). Trồng thử nghiệm một số giống cỏ nhập từ Australia. Tạp chí Khoa học chăn nuôi.số 3/2005, tr. 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trồng thử nghiệm một số giống cỏ nhập từ Australia
Tác giả: Nguyễn Thị Mùi, Phan Thị Phần, Nguyễn Văn Thưởng, Đào Văn Huyên
Nhà XB: Tạp chí Khoa học chăn nuôi
Năm: 2005
17. Nguyễn Thị Mùi, Lương Tất Nhợ, Hoàng Thị Hấn, Mai Thị Hướng và Phùng Thị Vân (2005). Nghiên cứu tạo nguồn thức ăn thô xanh chất lượng cao phục vụ phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ ở huyện Đồng Văn, Báo cáo khoa học Chăn Nuôi- Thú Y- Bộ Nông Nghiệp và PTNT, Dinh Dưỡng và Thức ăn Vật Nuôi, Viện Chăn Nuôi, 2005. tr. 220- 229 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tạo nguồn thức ăn thô xanh chất lượng cao phục vụ phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ ở huyện Đồng Văn
Tác giả: Nguyễn Thị Mùi, Lương Tất Nhợ, Hoàng Thị Hấn, Mai Thị Hướng, Phùng Thị Vân
Nhà XB: Báo cáo khoa học Chăn Nuôi- Thú Y- Bộ Nông Nghiệp và PTNT
Năm: 2005
18. Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Văn Quang và Lê Xuân Đồng (2008). Nghiên cứu xác định tỷ lệ thích hợp và phương thức trồng cây cỏ họ đậu trong cơ cấu sản xuất cây thức ăn xanh cho chăn nuôi bò sữa ở một số vùng sinh thái khác nhau. Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi, số 10/2008, tr. 59-66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xác định tỷ lệ thích hợp và phương thức trồng cây cỏ họ đậu trong cơ cấu sản xuất cây thức ăn xanh cho chăn nuôi bò sữa ở một số vùng sinh thái khác nhau
Tác giả: Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Văn Quang, Lê Xuân Đồng
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi
Năm: 2008
19. Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Văn Quang, Hoàng Đình Hiếu, Lê Xuân Đông, Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Thanh Nghị, Lương Thị Thu Hồng, Nguyễn Thị Hồng Nhân (2010). Nghiên cứu xác định bộ giống cỏ, cây thức ăn gia súc chất lượng cao phù hợp với các vùng sinh thái của Việt Nam. Báo cáo khoa học Viện Chăn nuôi 2010, phần Dinh dưỡng và Thức ăn chăn nuôi. tr. 104-119 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xác định bộ giống cỏ, cây thức ăn gia súc chất lượng cao phù hợp với các vùng sinh thái của Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Văn Quang, Hoàng Đình Hiếu, Lê Xuân Đông, Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Thanh Nghị, Lương Thị Thu Hồng, Nguyễn Thị Hồng Nhân
Nhà XB: Báo cáo khoa học Viện Chăn nuôi
Năm: 2010
20. Nguyễn Thị Mùi và Nguyễn Văn Quang (2011). Nghiên cứu phát triển nguồn thức ăn chăn nuôi (thô xanh, phụ phẩm nông nghiệp) có năng suất chất lượng cao phù hợp với các vùng sinh thái Việt Nam. Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ Bộ NN &amp; PTNT năm 2006-2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phát triển nguồn thức ăn chăn nuôi (thô xanh, phụ phẩm nông nghiệp) có năng suất chất lượng cao phù hợp với các vùng sinh thái Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ Bộ NN & PTNT
Năm: 2011
21. Phan Thị Phần, Lê Hoà Bình, Lê Văn Chung, Dương Quốc Dũng, Nguyễn Ngọc Hà, Hoàng Thị Lảng, Lê Văn Ngọc và Nguyễn Văn Quang (1999). Tính năng sản xuất và một số biện pháp kỹ thuật tăng năng suất chất xanh và hạt cỏ ghine TD58, Báo cáo khoa học Viện Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và PTNN, tr. 143-158 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính năng sản xuất và một số biện pháp kỹ thuật tăng năng suất chất xanh và hạt cỏ ghine TD58
Tác giả: Phan Thị Phần, Lê Hoà Bình, Lê Văn Chung, Dương Quốc Dũng, Nguyễn Ngọc Hà, Hoàng Thị Lảng, Lê Văn Ngọc, Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: Báo cáo khoa học Viện Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và PTNN
Năm: 1999
22. Nguyễn Thị Hồng Nhân và Nguyễn Thị Mùi (2008). Ảnh hưởng của phân bón hóa học và chiều cao thu cắt đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của cây Keo củi Calliandra Calothyrsus tại Thành phố Cần Thơ. Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi số 12, tháng 6/2008, tr. 48-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của phân bón hóa học và chiều cao thu cắt đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của cây Keo củi Calliandra Calothyrsus tại Thành phố Cần Thơ
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Nhân, Nguyễn Thị Mùi
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi
Năm: 2008
1. Đinh Văn Bình, Nguyễn Phúc Tiến và Nguyễn Thị Mùi (1998). Nghiên cứu khả năng sản xuất chất xanh và giá trị dinh dưỡng của cây đậu Flemingia microphylla trên đất axit. Tuyển tập nghiên cứu chăn nuôi, phân dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi, Viện Chăn nuôi Khác
2. Nguyễn Văn Bình (2004). Ảnh hưởng của giai đoạn sinh trưởng và lượng bón phân đạm và lân tới hàm lượng axit béo trong cỏ Thimothy. Tạp chí Chăn nuôi, số 11 (69), tr. 19-21 Khác
4. Đinh Văn Cải (2015). Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn, khẩu phần và chế độ ăn phù hợp cho các nhóm bò sữa lai (&gt;75% HF) và bò thuần năng suất cao. Báo cáo khoa học đề tài cấp bộ Bộ NN&amp;PTNT năm 2015 Khác
5. Lê Hà Châu (1999). Ảnh hưởng của việc bón phân, tưới nước đến năng suất, phẩm chất cỏ họ đậu Stylosanthes guianensis trồng trên đất hộ gia đình chăn nuôi bò sữa tại thành phố Hồ Chí Minh. Báo cáo khoa học-Viện Chăn nuôi, 1999, tr. 156-174 Khác
11. Lê Hoa và Bùi Quang Tuấn (2009). Năng suất, chất lượng một số giống cây thức ăn gia súc (Penesetum purpureum, Panicum maximum, Brachiaria ruzizinensis, Stylothanses guiasinensis) trồng tại Đăk Lăk, Tạp chí Khoa học và Phát triển số 3, tr.276-281 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Ảnh hưởng của cách bón phân nitơ đến năng suất cỏ trồng - đánh giá năng suất, giá trị dinh dưỡng và một số biện pháp kỹ thuật trong sản xuất hạt giống cỏ stylosanthes guianensis (ciat 184 và plus)
Bảng 2.2. Ảnh hưởng của cách bón phân nitơ đến năng suất cỏ trồng (Trang 20)
Hình 2.1. Ảnh cây đậu Stylosanthes guianensis CIAT 184 - đánh giá năng suất, giá trị dinh dưỡng và một số biện pháp kỹ thuật trong sản xuất hạt giống cỏ stylosanthes guianensis (ciat 184 và plus)
Hình 2.1. Ảnh cây đậu Stylosanthes guianensis CIAT 184 (Trang 24)
Hình 2.2. Ảnh cây đậu Stylosanthes guianensis Plus - đánh giá năng suất, giá trị dinh dưỡng và một số biện pháp kỹ thuật trong sản xuất hạt giống cỏ stylosanthes guianensis (ciat 184 và plus)
Hình 2.2. Ảnh cây đậu Stylosanthes guianensis Plus (Trang 25)
Sơ đồ trồng cỏ như sau: - đánh giá năng suất, giá trị dinh dưỡng và một số biện pháp kỹ thuật trong sản xuất hạt giống cỏ stylosanthes guianensis (ciat 184 và plus)
Sơ đồ tr ồng cỏ như sau: (Trang 34)
Sơ đồ trồng cỏ như sau: - đánh giá năng suất, giá trị dinh dưỡng và một số biện pháp kỹ thuật trong sản xuất hạt giống cỏ stylosanthes guianensis (ciat 184 và plus)
Sơ đồ tr ồng cỏ như sau: (Trang 36)
Bảng 4.1. Điều kiện khí hậu tại vùng thí nghiệm - đánh giá năng suất, giá trị dinh dưỡng và một số biện pháp kỹ thuật trong sản xuất hạt giống cỏ stylosanthes guianensis (ciat 184 và plus)
Bảng 4.1. Điều kiện khí hậu tại vùng thí nghiệm (Trang 41)
Bảng 4.4. Năng suất chất xanh, chất khô và protein của cây đậu (tấn/ha/lứa cắt) - đánh giá năng suất, giá trị dinh dưỡng và một số biện pháp kỹ thuật trong sản xuất hạt giống cỏ stylosanthes guianensis (ciat 184 và plus)
Bảng 4.4. Năng suất chất xanh, chất khô và protein của cây đậu (tấn/ha/lứa cắt) (Trang 45)
Hình 4.1. Năng suất chất xanh của cây đậu (tấn/ha) - đánh giá năng suất, giá trị dinh dưỡng và một số biện pháp kỹ thuật trong sản xuất hạt giống cỏ stylosanthes guianensis (ciat 184 và plus)
Hình 4.1. Năng suất chất xanh của cây đậu (tấn/ha) (Trang 48)
Hình 4.3. Năng suất protein của cây đậu (tấn/ha) - đánh giá năng suất, giá trị dinh dưỡng và một số biện pháp kỹ thuật trong sản xuất hạt giống cỏ stylosanthes guianensis (ciat 184 và plus)
Hình 4.3. Năng suất protein của cây đậu (tấn/ha) (Trang 49)
Hình 4.4. Đồ thị khối lượng chất khô tích lũy của cây đậu (kg/ha/ngày) - đánh giá năng suất, giá trị dinh dưỡng và một số biện pháp kỹ thuật trong sản xuất hạt giống cỏ stylosanthes guianensis (ciat 184 và plus)
Hình 4.4. Đồ thị khối lượng chất khô tích lũy của cây đậu (kg/ha/ngày) (Trang 50)
Hình 4.5. Ảnh hưởng của khoảng cách hàng trồng đến năng suất hạt (kg/ha) - đánh giá năng suất, giá trị dinh dưỡng và một số biện pháp kỹ thuật trong sản xuất hạt giống cỏ stylosanthes guianensis (ciat 184 và plus)
Hình 4.5. Ảnh hưởng của khoảng cách hàng trồng đến năng suất hạt (kg/ha) (Trang 54)
Bảng 4.9. Năng suất, chất lượng hạt và chi phí cho sản suất hạt giống - đánh giá năng suất, giá trị dinh dưỡng và một số biện pháp kỹ thuật trong sản xuất hạt giống cỏ stylosanthes guianensis (ciat 184 và plus)
Bảng 4.9. Năng suất, chất lượng hạt và chi phí cho sản suất hạt giống (Trang 57)
Hình 4.6. Ảnh hưởng của số lứa cắt chất xanh đến năng suất hạt (kg/ha) - đánh giá năng suất, giá trị dinh dưỡng và một số biện pháp kỹ thuật trong sản xuất hạt giống cỏ stylosanthes guianensis (ciat 184 và plus)
Hình 4.6. Ảnh hưởng của số lứa cắt chất xanh đến năng suất hạt (kg/ha) (Trang 59)
Bảng 4.10. Năng suất, chất lượng hạt và chi phí cho sản suất hạt giống - đánh giá năng suất, giá trị dinh dưỡng và một số biện pháp kỹ thuật trong sản xuất hạt giống cỏ stylosanthes guianensis (ciat 184 và plus)
Bảng 4.10. Năng suất, chất lượng hạt và chi phí cho sản suất hạt giống (Trang 60)
Hình 4.7. Ảnh hưởng của phương pháp thu hạt đến năng suất hạt (kg/ha) - đánh giá năng suất, giá trị dinh dưỡng và một số biện pháp kỹ thuật trong sản xuất hạt giống cỏ stylosanthes guianensis (ciat 184 và plus)
Hình 4.7. Ảnh hưởng của phương pháp thu hạt đến năng suất hạt (kg/ha) (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w