Việc nghiên cứu về nội dung và bản chất của mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng để đánh giá sự ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau giữa hai loại quy hoạch này c
Trang 11.1 Khái quát mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây
1.1.3 Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Trung Quốc 9 1.1.4 Một vài nhận xét qua quá trình tìm hiểu quy hoạch của một số nước 12 1.2 Tổng quan về công tác quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng
1.2.1 Lịch sử công tác quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng và mối quan hệ giữa hai loại QH ở nước ta từ năm 1975 đến nay 14 1.2.2 Đánh giá chung về quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và thực trạng mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch 19 1.3 Luận chứng về mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch
1.3.1 Tính tất yếu khách quan của mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng
1.3.2 Nội dung chủ yếu của mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và
Trang 21.3.3 Vấn đề về chất lượng của quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch 23
3.1 Khái quát về điều khiện tự nhiên kinh tế xã hội của huyện Ba Vì 29 3.1.1 Điều kiện tự nhiên, Tài nguyên thiên nhiên 29
3.1.3 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 35 3.1.4 Thực trạng phát triển đô thị và cơ sở hạ tầng 37 3.1.5 Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế xã hội của huyện
3.4.1 So sánh các quy định về nội dung lập quy hoạch sử dụng đất và quy
3.4.2 So sánh một số chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội giữa quy hoạch sử
3.4.3 So sánh phương án sử dụng đất giữa quy hoạch sử dụng đất và
Trang 33.4.4 Tác động qua lại về nội dung giữa hai loại quy hoạch 66 3.4.5 Phân tích, so sánh về quản lý, tổ chức thực hiện quy hoạch sử
3.5 Những bất cập và giải pháp khắc phục những vướng mắc giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng trên địa bàn huyện Ba Vì 73 3.5.1 Những bất cập trong việc áp dụng các văn bản pháp quy 73 3.5.2 Những bất cập về nội dung của hai quy hoạch 74 3.5.3 Những bất cập về quản lý, tổ chức thực hiện của hai quy hoạch 75 3.5.4 Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng quy hoạch sử dụng đất và
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN
Chữ viết tắt Chữ đầy đủ
Trang 5DANH MỤC BẢNG
3.1 Chỉ tiêu kinh tế huyện Ba Vì qua các năm 2010-2014 32 3.2 Một số chỉ tiêu về dân số huyện Ba Vì 2010 - 2014 35
3.4 So sánh một số quy định về thời gian, không gian lập quy hoạch sử
3.5 So sánh quy định về thẩm định và xét duyệt quy hoạch sử dụng đất
3.6 Sosánh sự khác nhau giữa các loại đất cơ bản quy hoạch sử dụng
3.7 So sánh một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội giữa quy hoạch sử dụng đất
3.8 So sánh hai phương án sử dụng đất phi nông nghiệp 63 3.9 So sánh một số diện tích sử dụng đất đai giữa quy hoạch sử dụng
đất và quy hoạch xây dựng trên địa bàn huyện Ba Vì đến năm 2020 64 3.10 Mối quan hệ giữa nội dung trong quy hoạch sử dụng đất và quy
Trang 6DANH MỤC HÌNH
3.1 Sơ đồ vị trí Huyện Ba Vì trong vùng Hà Nội 29
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quy hoạch là sự chuyển hóa ý chí, ý tưởng thành hành động nhằm tạo ra những kết quả để đạt được mục tiêu nhất định Một cách khái quát, quy hoạch được hiểu như là phương án tổ chức không gian các hoạt động kinh tế - xã hội như tổ chức không gian lãnh thổ, hệ thống kết cấu hạ tầng, phân bố các điểm dân
cư đô thị và nông thôn, bố trí các khu công nghiệp và các công trình chủ yếu, phân bổ sử dụng đất, phát triển hệ thống đô thị, phát triển các ngành… của một lãnh thổ nhất định cho một thời kỳ nhất định
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay, công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã và đang góp phần quan trọng về quản lý
và sử dụng đất nhưng cũng còn nhiều vấn đề cần tiếp tục giải quyết Trên một địa bàn, lãnh thổ theo đơn vị hành chính thường có nhiều loại quy hoạch, mà hầu hết các quy hoạch đó đều gắn với việc quản lý và sử dụng đất Do đặc điểm, chức năng và nhiệm vụ phát triển của các ngành, lĩnh vực khác nhau, nên việc lập quy hoạch của các ngành cũng có nội dung khác nhau Việc khai thác, sử dụng đất trong các quy hoạch của mỗi ngành đều tính đến việc bảo vệ môi trường sinh thái
và các điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội để đảm bảo được các mục tiêu phát triển của ngành đề ra Tuy nhiên, quy hoạch của các ngành thường chưa tính toán đầy đủ những ảnh hưởng tiêu cực của việc sử dụng đất thuộc chức năng quản lý, khai thác của mỗi ngành đến các loại đất thuộc chức năng quản lý, khai thác của ngành khác
Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng là các quy hoạch thường được lập trên cùng một địa bàn lãnh thổ nào đó Vì vậy, cần nghiên cứu, xem xét giữa hai loại quy hoạch này có mối quan hệ với nhau như thế nào về mặt
lý luận cũng như thực tiễn Cả hai loại quy hoạch này đều có vai trò, vị trí và tầm quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng, mỗi địa phương Về nguyên tắc, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng phải có sự thống nhất cả về không gian và thời gian, phù hợp với nhau và hỗ
Trang 8trợ lẫn nhau trong việc thực hiện chức năng của mỗi loại quy hoạch Việc nghiên cứu về nội dung và bản chất của mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng để đánh giá sự ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau giữa hai loại quy hoạch này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo đảm
sự thống nhất giữa hai loại quy hoạch
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau mà giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng thường không được lập đồng
bộ với nhau cả về thời gian và không gian, nhiều nội dung còn trùng lặp, mâu thuẫn, chồng chéo lẫn nhau, gây khó khăn cho công tác lập, thực hiện, kiểm tra, đánh giá công tác quy hoạch
Để phát huy được những yếu tố tích cực trong mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch, khắc phục được các mâu thuẫn, bất cập, tạo sự đồng bộ và nâng cao hiệu quả của công tác quy hoạch sử dụng đất cũng như quy hoạch xây dựng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, cần nghiên cứu để làm rõ nội dung và bản chất mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch, làm cơ sở cho việc phối hợp giữa các
cơ quan Nhà nước trong công tác quản lý quy hoạch nói chung, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng nói riêng
Ba Vì là huyện miền núi của Thủ đô Hà Nội, với 7 xã miền núi, chiếm phần lớn dãy núi Ba Vì và Vườn quốc gia Ba Vì; cách Trung tâm thành phố thành phố Hà Nội 53 km theo đường QL32 Ba Vì là huyện có diện tích lớn nhất của thành phố Hà Nội với diện tích là 42.402,7 ha chiếm 12,74% tổng diện tích
tự nhiên của toàn thành phố, dân số năm 2014 là 253 nghìn người, mật độ dân số trung bình là 597 người/km2 thấp so với mật độ dân số của Thành phố Tuy nhiên
Ba Vì được xác định là huyện có vị trí đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh, du lịch và bảo vệ môi trường sinh thái cho Thủ đô Hà Nội
Xuất phát từ tình hình trên, việc thực hiện đề tài: “Đánh giá mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng trên địa bàn huyện Ba Vì -
TP Hà Nội ” là rất cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn
Trang 92 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Làm rõ nội dung mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng, sự tác động qua lại của hai loại quy hoạch này; Làm rõ những điểm còn bất cập, còn chồng chéo, không hợp lý giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng
- Xác định được những nội dung phù hợp, thống nhất cũng như những nội dung chưa phù hợp giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng trong việc lập, thẩm định, phê duyệt, thực hiện quy hoạch Trên cơ sở đó, đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định cần thiết; sửa đổi một số nội dung quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng trong mối quan hệ hữu cơ giữa hai loại quy hoạch
3 Yêu cầu nghiên cứu đề tài
Quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài phải bảo đảm tính khách quan, tính trung thực, tính đầy đủ và tính khoa học Kết quả nghiên cứu đề tài, các kết luận, các nhận xét đưa ra phải bảo đảm đúng đắn, phù hợp với thực tiễn, có đầy đủ căn
cứ khoa học
Việc sử dụng các thông tin, tài liệu trong nghiên cứu phải có xuất xứ, nguồn gốc rõ ràng, cụ thể và hợp lệ Quá trình nghiên cứu phải dựa trên cơ sở lý luận chung về công tác quy hoạch, các điều kiện khách quan của thực tiễn để giải quyết các vấn đề và yêu cầu mà thực tiễn đặt ra
Nghiên cứu mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng trên địa bàn huyện Ba Vì phải đạt được các mục tiêu đã đề ra
Trang 10
Chương 1 NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN
1.1 Khái quát mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng của một số nước trên thuế giới
Trên thế giới, công tác quy hoạch thường gắn với việc quản lý hành chính
và quản lý đất đai Quy hoạch thực sự trở thành một công cụ không thể thiếu và rất đắc lực cho việc quản lý hành chính cũng như quản lý đất đai Tùy theo chế
độ chính trị, chế độ kinh tế, xã hội, tùy theo những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của mỗi nước mà quy hoạch có những hình thức, đặc điểm, mức độ rất khác nhau Mỗi loại quy hoạch có những mục tiêu cụ thể khác nhau nhưng tất cả các quy hoạch đều hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường trên quan điểm phát triển bền vững
Đối với quy hoạch phát triển theo lãnh thổ, đa số các nước trên thế giới không có sự phân biệt rõ ràng về các loại quy hoạch: phát triển kinh tế - xã hội,
sử dụng đất, xây dựng mà đa số các quy hoạch lãnh thổ thường mang tính bao quát, đáp ứng nhu cầu phát triển chung về nhiều mặt
Việc giải quyết mối quan hệ giữa các loại quy hoạch là một vấn đề khá phức tạp và khó khăn, đòi hỏi Chính phủ của mỗi nước phải có những chính sách đúng đắn, phù hợp trên cơ sở kết quả nghiên cứu, thảo luận một cách khoa học và đầy đủ
Và chỉ khi giải quyết tốt các mối quan hệ này thì mới bảo đảm được tính khả thi, tính hiệu quả của các quy hoạch Hầu hết các nước trên thế giới đều rất coi trọng quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng đô thị Các quy hoạch này một mặt đáp ứng nhu cầu phát triển chung, mặt khác đáp ứng yêu cầu khai thác, sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất đai, phát triển các đô thị theo xu hướng phát triển các không gian chức năng đô thị nhằm nâng cao các điều kiện sống của con người
1.1.1 Quy hoạch ở Cộng hoà Liên bang Đức
Quy hoạch không gian hay quy hoạch tổng thể vùng lãnh thổ ở Đức là loại quy hoạch tổng hợp về sự phát triển giữa các vùng và các ngành của toàn bộ lãnh thổ Trong đó, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng là bộ phận của quy hoạch không gian Một trong những chức năng của quy hoạch không gian là điều
Trang 11phối các loại hình quy hoạch, giải quyết những mâu thuẫn phát sinh từ sự tranh chấp sử dụng đất đai của vùng lãnh thổ Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng là một bộ phận của quy hoạch không gian, do chính quyền địa phương thực hiện ở mức độ chi tiết tương ứng với cấp quận
Chính vì vậy, mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Đức thể hiện trong quy hoạch không gian hay quy hoạch tổng thể vùng lãnh thổ Trong đó, mỗi loại quy hoạch có mục tiêu riêng như xây dựng tối ưu các
cơ sở hạ tầng, quy mô đô thị, sử dụng đất nông lâm nghiệp, khu an dưỡng nghỉ ngơi, cảnh quan… nhưng đều nhằm đạt mục tiêu chung: vì ấm no, vì lợi ích dân tộc, vì an toàn lương thực quốc gia, vì sự sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên, bảo
vệ môi sinh, phát triển đồng bộ và bền vững Các mục tiêu riêng của quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng không phải lúc nào cũng đồng bộ, thống nhất với nhau mà nhiều khi còn đối kháng nhau, mâu thuẫn nhau Điều đó đòi hỏi người làm quy hoạch phải nắm vững mối quan hệ giữa các mục tiêu đó, phải suy nghĩ, tìm phương án giải quyết hoặc giảm bớt các mâu thuẫn đối kháng đó
Quy hoạch tổng thể phát triển lãnh thổ ở Cộng hòa Liên bang Đức bao gồm quy hoạch lãnh thổ và quy hoạch vùng Quy hoạch lãnh thổ thực hiện việc sắp xếp (cấu tạo) không gian; cấu trúc định cư của khu vực; các biện pháp hạ tầng không gian lớn; xác định những khu vực dự phòng, những vùng ưu tiên Để thực hiện các nội dung quy hoạch lãnh thổ cần có các hoạt động của quy hoạch lãnh thổ, chương trình phát triển lãnh thổ Nhiệm vụ chính của quy hoạch lãnh thổ là xây dựng những chương trình và kế hoạch phát triển lãnh thổ, gồm:
- Xây dựng bản phúc trình về trật tự không gian lãnh thổ: Xác định ranh giới giữa các vùng đô thị, vùng nông thôn, vùng tụt hậu; phân tích, đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa
- Xây dựng bản đồ địa chính lãnh thổ: Thể hiện được tất cả hiện trạng, kế hoạch và biện pháp cần thiết cho quy hoạch lãnh thổ Đó là các sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến mặt bằng sử dụng đất Tư liệu địa chính như vậy là nguồn thông tin quý giá cho các báo cáo, các chương trình và các
Trang 12kế hoạch Các dữ liệu được thu nạp trong máy vi tính và gắn liền với hệ thống thông tin địa lý (GIS);
- Chương trình phát triển lãnh thổ là quan trọng nhất, do Chính phủ trung ương xây dựng;
- Kế hoạch phát triển lãnh thổ là bước cuối cùng của công việc quy hoạch lãnh thổ
Tại Cộng hòa Liên bang Đức, Chính phủ của mỗi bang chủ quản việc quy hoạch lãnh thổ Trên bình diện bang (cấp quốc gia), việc xây dựng chương trình phát triển lãnh thổ không mang tính cưỡng bức và thường được hội nhập vào “kế hoạch phát triển lãnh thổ” nêu đầy đủ, chính xác và rất chi tiết các số liệu
Quy hoạch vùng ở Đức có nhiệm vụ chính là thực hiện và sắp xếp sự phát triển tích cực của một khu vực Khái niệm vùng được hiểu là những khu vực lớn trung bình, một phần của một bang, thường gồm nhiều huyện gộp lại Quy hoạch vùng quan tâm đến sự phát triển kinh tế và xã hội đồng thời với việc bảo tồn và duy trì môi trường Mối quan hệ này dựa trên lợi ích kinh tế và sinh thái làm cho quy hoạch vùng trở thành công cụ đặc biệt cho quy hoạch tổng thể Hoạt động quan trọng nhất của quy hoạch vùng là việc thiết lập kế hoạch vùng, thường được
gọi là “kế hoạch trật tự không gian của vùng” Các nội dung hoạt động của quy
hoạch vùng quan hệ đến 4 hướng:
- Nhìn nhận các vấn đề quan trọng vượt qua phạm vi vùng Quy hoạch vùng phụ thuộc vào các tiền đề của quy hoạch lãnh thổ về các nội dung: Mục tiêu chung về sắp xếp không gian; sắp xếp khái quát về cấu trúc không gian ở khu vực dân cư và nông thôn; các địa phương trung tâm và các trục hệ thống dân cư;
dự tính dân số cho vùng; định hướng trị giá về trang thiết bị hạ tầng
- Lưu ý đến quy hoạch vùng của vùng lân cận vì cần phải có những vị trí sử dụng không gian liên khu vực tại vùng giáp ranh
- Xem xét các đề nghị của từng vùng, điều này tác động đến định hướng cho quy hoạch thôn xã
- Cuối cùng quy hoạch vùng cần ghi nhận các đề nghị vượt qua phạm vi vùng về quy hoạch chuyên ngành
Trang 13Một điển hình về thành công trong công tác quy hoạch ở Đức là quy hoạch thủ đô Berlin Đó là phương án lớn về xây dựng mới và cải tạo trung tâm Berlin,
là một công trường khổng lồ, cả ở trên mặt đất lẫn dưới đất, vì nó đặt vấn đề không những là phải xây dựng cùng một lúc ở nhiều khu khác nhau, mà còn phải cải tạo lại các hệ thống thiết bị và giao thông trên và dưới mặt đất cho cả vùng Berlin: hệ thống cống rãnh, điện, nước, điện thoại, tàu điện ngầm, xe lửa, xe điện, xe hơi Thành công của quy hoạch tái thiết thủ đô Berlin là đã tạo nên bộ mặt mới của thành phố, trở thành một thủ đô hiện đại, xứng đáng với vị trí của nước Đức ở châu Âu và trên thế giới
Như vậy, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Cộng hòa Liên bang Đức không phải là các quy hoạch riêng rẽ mà là các quy hoạch ngành, quy hoạch bộ phận trong hệ thống quy hoạch lãnh thổ và quy hoạch vùng Vì vậy, mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch này có sự thống nhất về không gian và thời gian quy hoạch; cơ bản phù hợp với nhau và hỗ trợ lẫn nhau về nội dung quy hoạch Những mâu thuẫn, đối kháng lẫn nhau về mục tiêu và nội dung giữa hai loại quy hoạch được điều chỉnh, được hạn chế nhằm đạt mục tiêu chung là phát triển mọi mặt kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường
1.1.2 Một số đặc điểm Quy hoạch vùng ở Mỹ
Việc quản lý hành chính và quản lý đất đai ở Mỹ được thực hiện theo mô hình địa lý – hành chính:
- Liên bang;
- Các bang: 50 bang và một số lãnh thổ đặc biệt;
- Các quận (County): có khoảng 3.500 quận;
- Các thành phố, thị trấn, hoặc các đơn vị đô thị nhỏ (Lê Quốc Khánh 2005)
Mỹ là nước có nền kinh tế đa dạng pha trộn giữa các doanh nghiệp lớn có địa bàn hoạt động xuyên quốc gia và đa quốc gia với các doanh nghiệp nhỏ tại địa phương Các công ty và tập đoàn sản xuất hàng hoá và dịch vụ quy mô lớn đòi hỏi có mô hình tổ chức tập trung nhằm quyết định nhanh việc điều hành và phối hợp hoạt động các văn phòng và nhà máy trên toàn quốc bố trí gần các vùng tiêu thụ, nguyên – nhiên liệu và nhân công Mỹ cũng là nước có nhiều thể chế
Trang 14đảm bảo mức độ phi tập trung hoá cao Nhờ đó mỗi địa phương có toàn quyền đưa ra các quyết định trong nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội khác nhau Trong đó, quy hoạch phát triển về cơ bản chỉ chịu ảnh hưởng trong ranh giới địa phương đó Các yếu tố trên có ảnh hưởng quyết định tới sử dụng đất cũng như quy hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Mỹ là bộ phận của quy hoạch vùng Về mặt lý thuyết, quy hoạch vùng ở Mỹ hiện nay có hai xu hướng chính: Thứ nhất, đặt trọng tâm vào hiệu quả kinh tế thuần tuý, thường dựa trên việc đưa ra các mô hình toán và kinh tế định lượng rất phức tạp để phân tích hoạt
động kinh tế vùng và từ đó đề ra các hướng đầu tư hữu hiệu nhất; thứ hai, nghiên
cứu quy hoạch vùng mang tính chất phát triển kinh tế - xã hội hơn là nhấn mạnh hiệu quả kinh tế thuần tuý; xu hướng quy hoạch này mang tính công bằng xã hội nhiều hơn tính hiệu quả kinh tế, nên chú ý nhiều hơn đến yếu tố môi trường và phát triển bền vững nên hay được áp dụng trong thực tế hơn
Trên thực tế, quy hoạch vùng ở Mỹ gồm quy hoạch vùng nhiều bang, quy hoạch vùng bang hoặc vùng một vài quận trong một bang Trong đó, quy hoạch cấp vùng nhiều bang thực chất là quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở quy mô lớn, còn quy hoạch vùng bang hoặc vùng một vài quận thực chất là quy hoạch phối hợp phát triển giữa đô thị trung tâm với các vùng nông thôn xung quanh (Lê Quốc Khánh 2005)
Mỹ là nước công nghiệp phát triển với nhiều tập đoàn công nghiệp và dịch
vụ lớn hoạt động xuyên quốc gia Với các nguồn lực dồi dào và do cạnh tranh thúc đẩy, các quy hoạch phát triển ngành của các tập đoàn công nghiệp thường rất chi tiết, có cơ sở chắc chắn hơn, và có tính khả thi hơn nhiều so với quy hoạch phát triển của các chính quyền địa phương và do đó có ảnh hưởng mạnh tới quy hoạch phát triển địa phương, trong đó kể cả quy hoạch sử dụng đất Trên thực tế, các địa phương thường phải cạnh tranh nhau để các doanh nghiệp xây dựng văn phòng hay nhà máy trên đất của mình, qua đó tạo công việc cho lao động địa phương và tạo nguồn thu cho ngân sách địa phương Nhưng một điều dễ thấy là
do bị yếu tố lợi nhuận chi phối, các quy hoạch ngành của các doanh nghiệp lớn
Trang 15không nhất thiết đặt lợi ích phát triển của mỗi địa phương lên ưu tiên hàng đầu Ngoài ra, các quy hoạch ngành thường có xuất phát điểm và thời hạn quy hoạch rất khác nhau, nên dễ nảy sinh ra nhiều vấn đề khi phối hợp chúng trên một quy hoạch phát triển chung
Như vậy, mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở
Mỹ thực chất thể hiện chủ yếu ở mối quan hệ giữa quy hoạch xây dựng ngành của các tập đoàn kinh tế với quy hoạch sử dụng đất của chính quyền các địa phương Mặc dù là một nước phát triển, các quy hoạch này được thống nhất trong quy hoạch phát triển chung là quy hoạch vùng nhưng giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Mỹ trong thực tế thường vẫn có những mâu thuẫn nảy sinh cần giải quyết mà nguyên nhân chính là do quyền lợi chính trị, kinh tế của các chủ thể thực hiện quy hoạch rất khác nhau Thực tế ở Mỹ, mỗi địa phương có một hệ thống rất phức tạp các cơ quan quy hoạch, đưa ra nhiều biện pháp quy hoạch chồng chéo trên địa bàn địa phương Chỉ có các dự án ngành như giao thông, thủy lợi - thủy điện, truyền tải điện, hoặc các dự án phát triển tổng hợp (bao gồm cả hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế ) trong đó Chính phủ Liên bang giúp đỡ tài chính cho các chính quyền địa phương nhằm mang lại lợi ích cho tất cả các bên liên quan - mới có sức hấp dẫn và có thể hiện thực hoá tốt
1.1.3 Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Trung Quốc
Bên cạnh Luật đất đai, Trung Quốc đã ban hành Luật Quy hoạch nông thôn
và đô thị (có hiệu lực từ ngày 01/01/2008) Công tác quy hoạch ở Trung Quốc hiện nay chịu sự điều chỉnh chủ yếu của hai Luật này Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Trung Quốc là các quy hoạch độc lập nhưng có mối liên
hệ chặt chẽ với nhau, tương đối thống nhất với nhau
Quy hoạch sử dụng đất đai cả nước của Trung Quốc được lập lần đầu tiên vào năm 1987, lần thứ hai vào năm 1998 và lần thứ ba vào năm 2003; nội dung quy hoạch qua các lần dần dần được hoàn thiện, phù hợp với từng giai đoạn phát triển Quy hoạch sử dụng đất của Trung Quốc được triển khai với các nhiệm vụ: đẩy mạnh việc sử dụng đất hợp lý, bảo đảm các lợi ích; bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và cải thiện chất lượng môi trường; đẩy mạnh việc sử dụng đất bền vững;
Trang 16đẩy mạnh phát triển kinh tế; đẩy mạnh việc quản lý nhà nước Mục tiêu cơ bản trong quy hoạch sử dụng đất của Trung Quốc là:
- Định rõ việc sử dụng đất hợp lý để giảm thiểu mâu thuẫn sử dụng đất cũng như chi phí kinh tế xã hội;
- Bảo vệ đất canh tác, nước và tài nguyên thiên nhiên khác cũng như di sản văn hoá và thiên nhiên;
- Đất sử dụng cho mục đích công được bảo đảm và phân bổ hợp lý;
- Kìm chế sự phát triển lộn xộn khu vực đô thị, cải thiện khu vực sinh sống của con người theo hướng bền vững;
- Khai thác và củng cố đất có hiệu quả khi cần; đẩy mạnh việc sử dụng đất
có hiệu quả hơn;
- Cải tiến việc ra quyết định và quản lý nhà nước
Quy hoạch sử dụng đất ở Trung Quốc bao gồm các loại hình: Quy hoạch tổng thể (bắt buộc theo luật mang tính chiến lược, toàn diện, quy định chính sách); quy hoạch chuyên ngành mang tính chuyên đề, đặc thù; quy hoạch chi tiết, quy hoạch bố trí trên thực địa
Quy hoạch xây dựng ở Trung Quốc được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật Quy hoạch nông thôn và đô thị Chính phủ Trung Quốc đã đề ra chính sách phát triển chăm lo nhà ở cho nhân dân lao động là chính sách trung tâm Trong thời gian qua, Trung Quốc đã đặc biệt chú trọng công tác cải tiến quản lý ngành xây dựng
Trang 17địa phương Khi sửa chữa khu phố cũ, phải bảo vệ di sản văn hóa và phong cách truyền thống
- Nghiêm cấm bất kỳ đơn vị và cá nhân tùy tiện thay đổi quy hoạch Trước khi sửa đổi quy hoạch, cơ quan tổ chức thiết kế quy hoạch phải tổng kết tình hình thực hiện quy hoạch ban đầu đồng thời báo cáo lên cơ quan phê duyệt
Về quản lý quy hoạch, thực hiện theo nguyên tắc:
- Phân cấp cụ thể trong việc xét duyệt quy hoạch
- Khống chế một cách nghiêm ngặt về việc xây dựng các khu chức năng, bảo đảm thống nhất với quy hoạch và quản lý toàn diện của thành phố
- Quy hoạch chung và quy hoạch cụ thể phải quy định rõ ràng những nội dung mang tính bắt buộc Bất cứ đơn vị và cá nhân nào đều không được điều chỉnh những nội dung có tính bắt buộc trong quy hoạch chung và quy hoạch cụ thể mà đã được phê chuẩn
- Quản lý một cách nghiêm ngặt về việc sửa đổi quy hoạch chung sử dụng đất đai, quy hoạch chung thành phố và quy hoạch làng xã cũng như thị trấn
- Quy hoạch xây dựng phải gắn liền với quy hoạch 5 năm phát triển kinh tế
xã hội và quy hoạch thời gian vừa và dài ngành bất động sản
- Quy mô sử dụng đất đai trong quy hoạch chung thành phố, quy hoạch làng
xã và quy hoạch thị trấn không được vượt quá quy mô sử dụng đất đai được xác định trong quy hoạch chung sử dụng đất đai
- Quy hoạch chung thành phố, quy hoạch làng xã và quy hoạch thị trấn phải coi phạm vi bảo hộ đồng ruộng cơ bản trong khu quy hoạch là nội dung mang tính bắt buộc (Lý Phong,2008 )
Như vậy, giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng của Trung Quốc có sự thống nhất cơ bản về mục tiêu, nội dung quy hoạch Quy mô sử dụng đất của quy hoạch xây dựng phải phù hợp với quy mô được xác định trong quy hoạch sử dụng đất đai Việc quản lý thực hiện quy hoạch ở Trung Quốc được quy định tương đối chặt chẽ, thể hiện ở các khía cạnh: các quy hoạch phải xác định những nội dung có tính bắt buộc; quy định chặt chẽ những trường hợp được phép
Trang 18thay đổi, điều chỉnh quy hoạch; nguyên tắc bảo vệ đất nông nghiệp, bảo vệ nguồn tài nguyên, di sản văn hóa, bảo vệ môi trường…
Các quy định về quy hoạch và quản lý quy hoạch ở Trung Quốc là một trong những nhân tố chính bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng
1.1.4 Một vài nhận xét qua quá trình tìm hiểu quy hoạch của một số nước
Qua nghiên cứu tình hình về mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng của các nước trên thế giới, đại diện là quy hoạch của các nước được trình bày ở trên, chúng ta có thể rút ra một số nội dung sau
Hầu hết các nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển (như Đức, Mỹ) và đang phát triển (như Trung Quốc), có quy trình quy hoạch sử dụng đất đai mang tính đặc thù riêng Trước hết họ chú trọng về quy hoạch tổng thể không gian (hay còn gọi là định hướng phát triển tổng thể - Master Plan), trên cơ sở quy hoạch không gian người ta tiến hành phân vùng sử dụng đất, sau đó tiến hành quy hoạch chi tiết cho từng khu vực
Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở các nước, nhất là ở các nước phát triển thường là quy hoạch bộ phận của quy hoạch tổng thể không gian nên về cơ bản có sự thống nhất, đồng bộ với nhau về không gian, thời gian, nội dung quy hoạch; cả hai loại quy hoạch đều hướng tới mục tiêu chung là phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường
Trong quy hoạch lãnh thổ cũng như quy hoạch vùng, quy hoạch sử dụng đất, các nước đều quan tâm giải quyết việc sắp xếp không gian, các biện pháp hạ tầng không gian lớn, xác định những vùng ưu tiên, từ đó thực hiện các hoạt động của quy hoạch lãnh thổ, quy hoạch vùng
Việc lập các quy hoạch thường do các cơ quan công quyền của Nhà nước thực hiện, có sự tham gia của các tập đoàn, tổ chức kinh tế ở mức độ khác nhau và thường có sự tham gia rộng rãi của người dân Ở các nước phát triển,
về cơ bản các cơ quan nhà nước chỉ tham gia sâu vào quá trình duyệt quy hoạch tổng thể không gian và phân vùng sử dụng đất Quy hoạch chi tiết phát
Trang 19triển từng vùng thông thường được đấu thầu cho các cơ quan phát triển bất động sản tư nhân
Tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội ở từng nước mà mức độ chặt chẽ, thống nhất, đồng bộ trong mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng có khác nhau nhưng nhìn chung giữa hai loại quy hoạch này cơ bản có sự thống nhất, hỗ trợ lẫn nhau theo nguyên tắc quy hoạch xây dựng là sự cụ thể hóa, chi tiết hóa của quy hoạch sử dụng đất
1.2 Tổng quan về công tác quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở nước ta
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta, quy hoạch đã và đang trở thành một công cụ không thể thiếu trong việc cụ thể hóa đường lối, chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta, nhất là trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay
Theo phạm vi và tính chất quy hoạch, các loại hình quy hoạch ở nước ta hiện nay có thể phân thành hai loại chính: quy hoạch lãnh thổ và quy hoạch chuyên ngành Các quy hoạch mang tính tổng thể được thực hiện cho cả nước, theo vùng kinh tế và theo đơn vị hành chính các cấp như quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng Các quy hoạch ngành nhằm phát triển các ngành có thể được thực hiện trên phạm vi cả nước hay một khu vực cụ thể phục vụ cho việc phát triển của mỗi ngành như: nông nghiệp, thủy lợi, điện, năng lượng… theo nguyên tắc quy hoạch ngành lấy căn cứ và phải phù hợp với quy hoạch lãnh thổ
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách, quy định pháp luật về công tác quy hoạch nhằm tổ chức lập và thực hiện quy hoạch tốt hơn, nâng cao chất lượng quy hoạch, nâng cao tính hiệu quả và tính khả thi của các loại quy hoạch Tuy nhiên, trong thực tiễn công tác quy hoạch có nhiều vấn đề nảy sinh đòi hỏi phải nghiên cứu, giải quyết Một vấn đề nổi lên là việc xác định đúng đắn mối quan hệ giữa các loại quy hoạch theo quy luật và những đòi hỏi khách quan của thực tiễn là rất quan trọng; trong đó mối quan hệ
Trang 20giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng đang trở nên bức thiết cần sớm được nghiên cứu giải quyết
1.2.1 Lịch sử công tác quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng và mối quan hệ giữa hai loại QH ở nước ta từ năm 1975 đến nay
Thời kỳ từ năm 1975 đến trước khi có luật đất đai 1993
* Đối với quy hoạch sử dụng đất:
- Từ năm 1975 - 1981 là thời kỳ triển khai hàng loạt các nhiệm vụ điều tra
cơ bản trên phạm vi cả nước Vào cuối năm 1978, lần đầu tiên đã xây dựng được các phương án phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp chế biến nông lâm sản của cả nước, của 7 vùng kinh tế và của tất cả 44 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trình Chính phủ xem xét phê duyệt Trong các tài liệu này đều
đã đề cập đến quy hoạch sử dụng đất đai, coi đó như những căn cứ khoa học quan trọng để luận chứng các phương án phát triển ngành
Thực hiện Chỉ thị số 100/TW ngày 13 tháng 01 năm 1981 về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp, thời kỳ này xuất hiện cụm từ “Quy hoạch Hợp tác xã”
mà thực chất công tác này tập trung vào quy hoạch đồng ruộng với nội dung chủ yếu của nó là bố trí sử dụng đất đai
Bước vào thời kỳ 1981 - 1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1982) đã quyết định: “Xúc tiến công tác điều tra cơ bản, dự báo, lập Tổng sơ đồ phát triển
và phân bố lực lượng sản xuất…” Chính phủ ra Nghị quyết số 50 về xây dựng quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của 500 đơn vị hành chính cấp huyện được ví như 500 “pháo đài” Quy hoạch sử dụng đất đai là một nội dung quan trọng trong các quy hoạch hoạch tổng thể kinh tế - xã hội này tuy đã có bước phát triển nhưng vẫn chưa phải là một quy hoạch riêng biệt nên vẫn còn nhiều hạn chế Đây là giai đoạn có tính bước ngoặt về bố trí sắp xếp lại đất đai trong hoạch tổng thể kinh tế - xã hội Điều này được phản ánh ở chỗ nội dung chủ yếu của Tổng sơ đồ tập trung vào quy hoạch vùng chuyên môn hoá và các vùng sản xuất trọng điểm của lĩnh vực nông nghiệp, các vùng trọng điểm của lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, giao thông, thuỷ lợi, cơ sở hạ tầng và đô thị
Trang 21Khi Luật đất đai năm 1987 ra đời (có hiệu lực thi hành từ tháng 01 năm 1988), đánh dấu một bước mới về quy hoạch sử dụng đất đai Luật Đất đai 1988 quy định quy hoạch sử dụng đất đai có tính pháp lý và là một trong những nội dung cơ bản của công tác quản lý nhà nước về đất đai
Trong thời gian từ 1988 đến 1990, Tổng cục Quản lý Ruộng đất đã chỉ đạo một số địa phương lập quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, cấp xã theo quy định của Luật đất đai 1988 Số lượng các quy hoạch này trên phạm vi cả nước chưa nhiều nhưng qua đó Tổng cục Quản lý Ruộng đất và các địa phương đã trao đổi, hội thảo và rút ra những vấn đề cơ bản về nội dung và phương pháp quy hoạch sử dụng đất, làm cho quy hoạch sử dụng đất không chỉ đơn thuần đáp ứng việc sử dụng đất đai mà trở thành một nội dung, đồng thời là công cụ đắc lực cho công tác quản lý nhà nước về đất đai của các địa phương
Tổng cục Quản lý Ruộng đất lần đầu tiên ban hành văn bản hướng dẫn về quy hoạch phân bổ đất đai chủ yếu đối với cấp xã (Thông tư số 106/TT-QHKH ngày 15 tháng 4 năm 1991) với những nội dung chính như sau:
- Xác định ranh giới về quản lý, sử dụng đất;
- Điều chỉnh một số trường hợp về quản lý và sử dụng đất;
- Phân định và xác định ranh giới những khu vực đặc biệt;
- Một số nội dung khác về chu chuyển 5 loại đất, mở rộng diện tích đất sản xuất, chuẩn bị cho việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng các văn bản chính sách đất đai, kế hoạch sử dụng đất đai
* Đối với quy hoạch xây dựng:
Quy hoạch xây dựng nói chung, quy hoạch xây dựng đô thị nói riêng ở nước
ta trong giai đoạn trước đổi mới (1986) vẫn còn khiêm tốn, chưa có hệ thống, chưa định hình được hướng phát triển rõ ràng Mặc dù thành quả quy hoạch xây dựng trong thời kỳ này còn hạn chế nhưng nó cũng đóng góp đắc lực cho công cuộc xây dựng ở miền Bắc cũng như trên phạm vi cả nước sau khi đất nước thống nhất Đồng thời, nó cũng đặt nền móng cho sự phát triển tiến bộ của công tác quy hoạch xây dựng giai đoạn tiếp theo
Trang 22Từ khi Đảng ta đề ra đường lối đổi mới đất nước tại Đại hội toàn quốc lần thứ VI năm 1986, đánh dấu quá trình chuyển mình tích cực nhất của quy hoạch xây dựng đô thị Mặc dù còn nhiều quan điểm, nhận thức khác nhau về quy hoạch, quản lý đô thị, công tác quy hoạch phát triển đô thị bước đầu đã có những đóng góp đáng kể cho những thành công trong giai đoạn tiếp theo Đây là giai đoạn tìm tòi, dần dần thay đổi các phương pháp nghiên cứu của công tác quy hoạch đô thị Chuyển từ những nhận thức sản phẩm của nền kinh tế kế hoạch sang một thời kỳ mới, một giai đoạn nhiều khó khăn của phần lớn đô thị nơi mà mọi nguồn vốn dành cho phát triển và xây dựng đô thị hoàn toàn do Nhà nước cung cấp Hầu như chưa có hình ảnh các khu nhà do dân tự xây, các khách sạn, văn phòng hay các công trình vui chơi giải trí mang dấu ấn của tư nhân
Đây là giai đoạn tìm tòi, dần dần thay đổi các phương pháp nghiên cứu của công tác quy hoạch đô thị Chuyển từ những nhận thức sản phẩm của nền kinh tế
kế hoạch sang một thời kỳ mới, một giai đoạn nhiều khó khăn của phần lớn đô thị nơi mà mọi nguồn vốn dành cho phát triển và xây dựng đô thị hoàn toàn do Nhà nước cung cấp Hầu như chưa có hình ảnh các khu nhà do dân tự xây, các khách sạn, văn phòng hay các công trình vui chơi giải trí mang dấu ấn của tư nhân Giai đoạn này có rất ít văn bản chính thức hướng dẫn lập quy hoạch đô thị của Việt Nam Quyết định 322/BXD của Bộ Xây dựng hướng dẫn về quy trình từ giai đoạn lập đến phê duyệt các đồ án Quy hoạch đô thị này đã phản ánh sự chuyển mình của quy hoạch xây dựng để đáp ứng yêu cầu thực tế, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, những thử nghiệm phương thức khai thác chuyển đổi để tạo nguồn lực tài chính xây dựng đô thị
Hàng loạt các đô thị trên toàn quốc đã dần được lập quy hoạch chung để có những dự báo về quy mô dân số, xác định quy mô đất đai, bố trí trên tổng mặt bằng, xác định những định hướng về phát triển không gian và hệ thống hạ tầng kĩ thuật cho đô thị Nhiều đồ án quy hoạch đô thị sau khi lập và phê duyệt đã được các chính quyền đô thị coi trọng và vận hành tương đối hiệu quả trong quản lý đầu tư cải tạo và xây dựng đô thị
Trang 23Quy hoạch đô thị đã có mối quan hệ chặt chẽ hơn về mặt quản lý nhà nước với vấn đề quản lý quy hoạch và phát triển đô thị, quản lý đầu tư xây dựng, quản
lý đất đai, nhà ở và sử dụng các công trình đô thị Đặc biệt là sự hình thành các loại hình lập quy hoạch khu công nghiệp tập trung và khu đô thị mới, là tiền đề
cơ sở cho sự mở rộng mạng lưới đô thị quốc gia trong giai đoạn tiếp theo (Ngô Trung Hải, 2008)
* Thực trạng mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch:
Mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng trong thời
kỳ này dần hình thành rõ nét, nhất là trong giai đoạn sau đổi mới Mặc dù nội dung và phương pháp của cả hai loại quy hoạch còn những nhược điểm, chưa tính toán đầy đủ các điều kiện khách quan, quy hoạch ít chú trọng đến tổ chức không gian, thiên về lập quy hoạch chia lô nhưng giữa hai loại quy hoạch đã có những tác động qua lại, hỗ trợ lẫn nhau, đồng thời cũng xuất hiện những chồng chéo, mâu thuẫn với nhau Đối tượng nghiên cứu của quy hoạch sử dụng đất thời
kỳ này không chỉ là đất nông lâm nghiệp mà bao gồm tất cả các loại đất (5 loại đất chính theo quy định của Luật Đất đai năm 1987) Quy hoạch xây dựng đã có liên quan nhiều đến quản lý đất đai Bên cạnh những mặt thống nhất, hỗ trợ lẫn nhau thì trong mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch xuất hiện những mâu thuẫn, chồng chéo mà một trong những nguyên nhân, đồng thời là sự biểu hiện của nó là
sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai và về xây dựng
Thời kỳ từ khi có Luật Đất đai năm 1993 đến nay
* Đối với quy hoạch sử dụng đất:
Luật Đất đai năm 1993 ra đời, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ hơn cho công tác quy hoạch sử dụng đất đai đai Tổng cục Địa chính đã tổ chức các Hội nghị tập huấn, triển khai công tác Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai và chỉ đạo thực hiện thí điểm ở 10 tỉnh, 20 huyện; ban hành quy trình, định mức và đơn giá điều tra quy hoạch sử dụng đất đai áp dụng trong phạm vi cả nước
Công tác quy hoạch sử dụng đất đai được triển khai mạnh mẽ và có bài bản hơn ở cả 4 cấp là: cả nước, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã Báo cáo “Quy hoạch, kế
Trang 24hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2000” đã được Chính phủ trình Quốc hội khoá IX tại kỳ họp thứ 10 (15/10 - 12/11/1996) và kỳ họp thứ 11 (02/4 - 10/5/1997) Quốc Hội đã ra Nghị quyết số 01/1997/QH9 ngày 10/5/1997 thông qua kế hoạch sử dụng đất đai đến năm 2000 của cả nước ( Chu Văn Thỉnh, 2004) Tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá XI, Quốc Hội có Nghị quyết số 29/2004/QH11 thông qua quy hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2010 Sau khi Luật Đất đai năm 2003 và các Nghị định của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai được ban hành, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư
số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, đồng thời Bộ đã ban hành Quy trình, Định mức, đơn giá lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai các cấp; Định mức sử dụng một số loại đất phi nông nghiệp
* Đối với quy hoạch xây dựng:
Thời kỳ này được xem như một thời kỳ đô thị hóa mạnh mẽ với nhiều chuyển đổi lớn trong phát triển đô thị Việt Nam Luật Xây dựng được ban hành
đã tạo các cơ sở cho công tác quy hoạch và quản lý đô thị có tính luật hóa ngày càng cao, hướng tới việc tăng cường công tác quản lý đô thị, đổi mới việc lập và xét duyệt quy hoạch, kỷ cương trong quản lý đất đai, tạo nguồn tài chính cho nguồn lực phát triển đô thị và “đổi mới sang hình thức quy hoạch tạo các dự án phát triển đô thị tập trung thay cho xu hướng chia lô nhỏ lẻ của giai đoạn trước” (Ngô Trung Hải, 2008)
Năm 1998, Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhằm xác lập các định hướng lớn cho các vùng
đô thị trên toàn quốc, dự báo sự tăng trưởng của hệ thống đô thị và định hướng phân bố hệ thống đô thị
Từ năm 2003, sau khi Luật Xây dựng và Nghị định về Quy hoạch xây dựng ra đời đã khẳng định các loại hình quy hoạch gồm quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch xây dựng đô thị (bao gồm quy hoạch chung xây dựng đô thị và quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị), quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn
Trang 25và đưa nội dung “Thiết kế đô thị” vào công tác quy hoạch ( Luật xây dựng, 2003
và Nghi định 08, 2005)
Nổi bật trong giai đoạn hiện nay là công tác lập quy hoạch xây dựng vùng Nhiều đồ án quy hoạch xây dựng Vùng đã được Chính phủ và Bộ Xây dựng chỉ đạo thực hiện như Quy hoạch xây dựng Vùng Thủ đô Hà Nội, Quy hoạch xây dựng Vùng Thành phố Hồ Chí Minh, các vùng biên giới, các vùng duyên hải Đối với khu vực nông thôn: Cùng với chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, quy hoạch điểm dân cư nông thôn đã bước đầu phát triển với các điểm đáng chú ý, từng bước tạo ra bộ mặt mới cho nông thôn nước ta thời kỳ đổi mới như: Ngói hoá và kiên cố hoá nhà ở nông thôn; phát triển các công trình dịch vụ công cộng;
bê tông hoá đường làng ngõ xóm…
* Thực trạng mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch:
Mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng trong thời
kỳ này đã thể hiện rõ rệt cả những mặt tích cực lẫn tiêu cực Giữa hai loại quy hoạch đã có sự tác động, hỗ trợ tích cực lẫn nhau trong mỗi phạm vi quy hoạch; loại quy hoạch này được lập đã căn cứ vào loại quy hoạch kia; trong việc lập cũng như tổ chức thực hiện quy hoạch đã có sự phối hợp nhất định giữa các cơ quan chức năng Song giữa hai loại quy hoạch cũng nảy sinh những vấn đề mâu thuẫn, bất cập, đòi hỏi phải được nghiên cứu giải quyết, nhất là về nội dung QH
1.2.2 Đánh giá chung về quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và thực trạng mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch
Về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất : Công tác quy hoạch sử dụng đất đai
đã có những bước tiến quan trọng qua từng thời kỳ phát triển, ngày càng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trong những năm gần đây công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được quan tâm chỉ đạo thực hiện; việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của các cấp từng bước đi vào nề nếp Kết quả đó đã góp phần quan trọng trong việc tăng cường, thống nhất quản
lý Nhà nước về đất đai và sự chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong nông nghiệp, nông thôn; cơ bản đáp ứng được nhu cầu của giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp
Trang 26hoá, hiện đại hoá đất nước Tuy nhiên, công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai các cấp còn một số tồn tại:
- Chất lượng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, nhất là quy hoạch sử dụng đất đai ở cấp tỉnh, cấp huyện còn những hạn chế nhất định, chưa phù hợp với thực tiễn, phải điều chỉnh lại; việc dự báo phát triển kinh tế - xã hội để tính toán trong quy hoạch chưa chính xác Nội dung quy hoạch sử dụng đất đai các cấp chưa hoàn thiện cần được tiếp tục nghiên cứu, bổ sung để đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn Vì vậy, tính hiệu quả và tính khả thi của quy hoạch còn thấp; việc quản lý đất đai theo quy hoạch, kế hoạch chưa trở thành ý thức trong các cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân
- Quy hoạch sử dụng đất đai còn nặng về sắp xếp các loại đất cho mục tiêu quản lý hành chính, chưa tính toán đầy đủ về hiệu quả kinh tế và môi trường trong sử dụng đất, hạn chế khả năng bảo vệ và cải thiện môi trường sống, chưa đảm bảo phát huy cao nhất sức sản xuất của đất đai
- Việc tổ chức và quản lý thực hiện quy hoạch sử dụng đất đai chưa được các địa phương chú trọng, phân cấp trách nhiệm quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai chưa rõ ràng, còn chồng chéo; chưa bảo đảm kinh phí cho thực hiện quy hoạch… nên kết quả thực hiện quy hoạch bị hạn chế
Về quy hoạch xây dựng:
Nội dung và phương pháp quy hoạch xây dựng phát triển và ngày càng hoàn thiện qua các giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội Chất lượng quy hoạch xây dựng không ngừng được nâng lên, số lượng quy hoạch ngày càng nhiều; các loại hình quy hoạch xây dựng ngày càng đầy đủ, không chỉ giới hạn ở quy hoạch xây dựng đô thị Vì vậy, công tác quy hoạch xây dựng đang ngày càng đáp ứng tốt hơn cho quá trình phát triển của cả nước và ở từng địa phương Tuy nhiên, những hạn chế của quy hoạch xây dựng trong những năm qua là không thể tránh khỏi, thể hiện ở một số điểm sau:
- Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị và nông thôn còn thiếu và chưa hoàn chỉnh, đồng bộ, nhất là thiếu nhiều quy hoạch chi tiết các khu dân cư, quy hoạch điểm dân cư nông thôn;
Trang 27- Công tác quản lý hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị còn nhiều vấn đề bất cập, việc đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị chưa đáp ứng yêu cầu, chưa đồng bộ, chất lượng chưa cao gây không ít lãng phí và làm ảnh hưởng đến cảnh quan kiến trúc đô thị;
Thực trạng mối quan hệ giữa QHSDĐ và QHXD ở nước ta:
Trong thời gian trước thời kỳ đổi mới, đối tượng, phạm vi, mục tiêu và nội dung của hai loại quy hoạch này tương đối độc lập Quy hoạch sử dụng đất được thực hiện chủ yếu đối với đất nông nghiệp; quy hoạch xây dựng chủ yếu là quy hoạch phát triển các đô thị Vì vậy, mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch này chưa thể hiện rõ rệt, chưa có sự gắn kết, phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau; giữa hai loại quy hoạch cũng chưa xuất hiện nhiều sự mâu thuẫn, chồng chéo nên hầu như chưa đặt vấn đề phải giải quyết mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch này
Bước vào thời kỳ đổi mới, cả quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng
ở nước ta đều có bước phát triển mới Phương pháp nghiên cứu, nội dung quy hoạch có nhiều thay đổi, phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Các loại hình quy hoạch, nhất là quy hoạch xây dựng ngày càng đa dạng và đầy đủ hơn Mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ngày càng đa dạng, phức tạp; giữa hai loại quy hoạch ngày càng gắn bó hữu cơ, hỗ trợ lẫn nhau, đồng thời cũng xuất hiện ngày càng nhiều những vướng mắc, chồng chéo
Ở giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được thì cả hai loại quy hoạch còn nặng về phương pháp hành chính, thiên về mặt quản lý của Nhà nước; quy hoạch sử dụng đất chủ yếu là sắp xếp các loại đất cho mục tiêu quản lý hành chính, chưa tính toán đầy đủ về hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường, chưa thực sự coi đất đai là nguồn của cải, là loại tư liệu sản xuất đặc biệt; Quy hoạch xây dựng chưa chú trọng đến việc tổ chức không gian, nặng về lập quy hoạch chia lô nên đã để lại những hình ảnh kiến trúc các đô thị chất lượng thấp kém, manh mún, nhỏ lẻ, thiếu đồng bộ về cơ sở hạ tầng (Ngô Trung Hải 2008) Trong giai đoạn này, mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất
và quy hoạch xây dựng đã hình thành những gắn kết, phụ thuộc lẫn nhau; đồng
Trang 28thời cũng xuất hiện những mâu thuẫn, chồng chéo, nhất là trong việc phân bố, bố trí sử dụng đất đai Các mâu thuẫn, chồng chéo này một mặt biểu hiện ở sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai và xây dựng, mặt khác thể hiện cụ thể khi triển khai các phương án, đồ án quy hoạch trên cùng một địa bàn, một lãnh thổ
1.3 Luận chứng về mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng
1.3.1 Tính tất yếu khách quan của mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất
và quy hoạch xây dựng
Về mặt lý luận, các loại quy hoạch, các cấp quy hoạch luôn có quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ lẫn nhau, là cơ sở và tiền đề của nhau, thống nhất với nhau, cùng hướng tới các mục tiêu chung là phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của mỗi vùng, mỗi địa phương Trong đó, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội là quy hoạch có tính định hướng chung, là căn cứ để lập và thực hiện các loại quy hoạch khác Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng đều phải căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội và phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời, có tác dụng hỗ trợ và bổ sung cho quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
Mối quan hệ hữu cơ giữa các loại quy hoạch xuất phát từ yêu cầu khách quan của quá trình phát triển Mục tiêu chung của các quy hoạch đều là mục tiêu phát triển, xét đến cùng đều nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng đều căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, đều nhằm đạt mục tiêu chung của sự phát triển, cùng có đối tượng chính là đất đai và bố trí sử dụng đất Mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch này hình thành một cách khách quan, một nhu cầu tất yếu của quá trình phát triển Việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ này cũng là một yêu cầu khách quan nhằm làm cho các quy hoạch có sự thống nhất, đồng bộ, làm cơ sở cho việc phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong công tác quy hoạch thì mới
có thể đem lại hiệu quả cao
Trang 291.3.2 Nội dung chủ yếu của mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng
Bản chất của mối quan hệ này biểu hiện ở sự phù hợp hay chưa phù hợp giữa hai loại quy hoạch về các mặt:
- Về thời gian, không gian lập quy hoạch: Thể hiện ở thời điểm lập quy hoạch, thời hạn quy hoạch (kỳ quy hoạch), phạm vi lãnh thổ quy hoạch của quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng
- Về nội dung quy hoạch: Thể hiện ở việc xác định mục tiêu, việc dự báo các chỉ tiêu, các phương án sử dụng đất, tổ chức không gian lãnh thổ trong một phạm vi nhất định Nội dung quy hoạch là mặt chủ yếu, có tính bản chất trong mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch
- Về quá trình tổ chức thực hiện hai loại quy hoạch: Thể hiện ở sự thích ứng, phù hợp lẫn nhau về quy trình, nội dung và cách thức tiến hành giám sát
và kiểm tra việc thực hiện quy hoạch; thể hiện ở sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc lập, tổ chức thực hiện, quản lý quy hoạch
1.3.3 Vấn đề về chất lượng của quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng
và mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch
Có thể nói, chất lượng của quy hoạch sử dụng đất cũng như quy hoạch xây dựng luôn gắn liền với việc giải quyết tốt hay không tốt mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch này Khi giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch, làm cho hai loại quy hoạch có sự thống nhất, đồng bộ, hỗ trợ lẫn nhau thì làm tăng tính khả thi, tính hiệu quả của mỗi loại quy hoạch Tất nhiên, chất lượng quy hoạch không phải là yếu tố duy nhất ảnh hưởng đến việc giải quyết mối quan hệ
mà là một trong những yếu tố cơ bản; ngược lại, việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch cũng không phải là yếu tố duy nhất để bảo đảm chất lượng của mỗi loại quy hoạch mà là một trong những nhân tố quan trọng, có tính quyết định
Như vậy, giữa hai yếu tố chất lượng quy hoạch và mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch luôn có quan hệ biện chứng với nhau, là tiền đề và kết quả của nhau
Trang 30Vì vậy, để giải quyết tốt mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng thì trước hết cần đổi mới và nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, bảo đảm được một số yêu cầu sau:
- Công tác quy hoạch phải đảm bảo thể chế hoá đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cụ thể hóa chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của
cả nước, của địa phương
- Bổ sung, hoàn thiện nội dung và phương pháp quy hoạch nhằm nâng cao chất lượng cả quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng Đẩy mạnh công tác quy hoạch, khẩn trương hoàn thành các quy hoạch từ Trung ương đến địa phương, từ tổng thể đến chi tiết; cả quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng phải có sự phát triển tương ứng, hài hòa
- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy về lập, thẩm định, phê duyệt, tổ chức thực hiện và quản lý quy hoạch Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quy hoạch; có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ trong quá trình tổ chức thực hiện
Trang 31Chương 2 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
Các nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm các vấn đề nhằm đạt được các mục tiêu đã xác định; tập trung vào các nội dung có liên quan trực tiếp đến mục đích nghiên cứu, bao gồm bốn vấn đề chính như sau:
(1) Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Ba Vì
Phần này tập trung nêu và phân tích, đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế -
xã hội chủ yếu của huyện Ba Vì có liên quan đến việc lập, thực hiện quy hoạch
sử dụng đất và quy hoạch xây dựng của huyện; liên quan đến mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch này; thể hiện được các mặt thuận lợi cũng như khó khăn đối
với công tác quy hoạch
(2) Đánh giá về tình hình công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng trên địa bàn huyện Ba Vì
Việc nghiên cứu về quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng trên địa bàn huyện Ba Vì nhằm đánh giá được thực trạng công tác triển khai của hai loại quy hoạch và tìm hiểu thực chất về mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch trên địa bàn huyện Ba Vì nhằm chỉ ra những mặt thống nhất giữa hai loại quy hoạch (3) Tiến hành phân tích, đánh giá về sự phù hợp và chưa phù hợp giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở huyện Ba Vì qua việc phân tích, so sánh các nội dung chủ yếu của công tác lập, thẩm định, phê duyệt, thực hiện quy hoạch đối với quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng nhằm chỉ ra những mâu thuẫn giữa hai loại quy hoạch cần kiến nghị sửa đổi, gồm các nội dung sau:
- So sánh các quy định các quy định và thực tế áp dụng các quy định về thời gian, không gian lập quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở huyện
- Phân tích, so sánh các quy định về thẩm định, phê duyệt; thẩm quyền thẩm định, phê duyệt đối với quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng cũng như thực tế áp dụng ở huyện Ba Vì
- So sánh hệ thống phân loại đất trong hai loại quy hoạch nhằm tìm ra tiêu chí phân loại đất của QHSDĐ và QHXD
Trang 32(4) Phân tích, so sánh về nội dung lập quy hoạch của quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng; so sánh một số chỉ tiêu về kinh tế - xã hội, sử dụng đất chủ yếu được xác định trong quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng huyện Ba Vì Đây là một nội dung nghiên cứu rất quan trọng nhằm chỉ ra mối quan hệ chủ yếu, có tính bản chất giữa hai loại quy hoạch; đồng thời nhằm chỉ ra những nội dung chưa thống nhất, chưa phù hợp với nhau, làm hạn chế đến chất lượng và hiệu quả của mỗi loại quy hoạch
- Phân tích, so sánh về các quy định về quản lý, tổ chức thực hiện đối với quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng và thực tế thực hiện ở huyện Hiệu quả của mỗi loại quy hoạch chỉ được thể hiện trong thực tế thông qua quá trình tổ chức thực hiện quy hoạch Vì vậy, việc so sánh về quy trình, nội dung và cách thức tiến hành giám sát và kiểm tra việc thực hiện hai loại quy hoạch cần chỉ ra được cơ chế kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch chặt chẽ, có hiệu quả; đồng thời khắc phục được những nội dung không hợp lý trong quá trình tổ chức thực hiện và quản lý quy hoạch
(5) Xác định những bất cập và giải pháp khắc phục giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng cũng như bất cập giữa hai loại quy hoạch ở Ba Vì Gồm các nội dung:
- Những bất cập qua việc rà soát các quy định hiện hành
- Những bất cập về nội dung giữa quy hoạch sử dụng đất và QHXD
- Những bất cập về quản lý, tổ chức thực hiện QHSDĐ và QHXD
Đề xuất phương hướng khắc phục bất cập để nâng cao chất lượng quy hoạch sử dụng đất trong mối quan hệ với quy hoạch xây dựng những
- Đề xuất những nội dung cụ thể đối với huyện Ba Vì
- Đề xuất phương hướng chung để khắc phục các bất cập nhằm nâng cao chất lượng quy hoạch sử dụng đất trong mối quan hệ với quy hoạch xây dựng gồm các nội dung: sửa đổi, bổ sung một số nội dung quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng; xác định vai trò, nhiệm vụ của quy hoạch sử dụng đất trong mối quan hệ với quy hoạch xây dựng; hướng hoàn thiện các quy định về quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng
Trang 332.2 Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ mục tiêu và nội dung nghiên cứu, các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài bao gồm:
(1) Phương pháp điều tra cơ bản:
Phương pháp điều tra cơ bản được áp dụng trong quá trình điều tra, khảo sát, thu thập các tài liệu, số liệu về quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng; đánh giá thực trạng công tác lập và thực hiện hai loại quy hoạch trên địa bàn nghiên cứu Phương pháp điều tra cơ bản bao gồm:
- Điều tra, thu thập số liệu thứ cấp:
Việc thu thập các tài liệu, số liệu điều tra phục vụ nhu cầu nghiên cứu đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp điều tra, thu thập các số liệu thứ cấp: thu thập và
xử lý các tài liệu, số liệu sẵn có của địa bàn nghiên cứu tại các cơ quan chức năng của huyện Ba Vì như phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Quản lý đô thị, UBND các xã Các tài liệu, số liệu thu thập bao gồm:
+ Tài liệu, số liệu về các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Ba
Vì có liên quan đến công tác quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng; + Tài liệu, số liệu, bản đồ về thực trạng công tác lập, thực hiện quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở huyện Ba Vì;
+ Các quy định của Nhà nước, của thành huyện Ba Vì có liên quan đến công tác quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng
- Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp:
Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp được sử dụng để điều tra các thông tin bổ sung, khảo sát, đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng ở huyện Ba Vì trên cơ sở các tài liệu, số liệu điều tra thứ cấp; nhằm bổ trợ cho phương pháp điều tra, thu thập các số liệu
- Phương pháp xử l ý các tài liệu, số liệu thống kê thu thập được phục vụ cho nghiên cứu đề tài
(2) Phương pháp kế thừa và chọn lọc các tư liệu sẵn có:
Phương pháp kế thừa được sử dụng trong việc nghiên cứu tổng quan về công tác quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở trong nước và ngoài
Trang 34nước; đồng thời trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu, các tài liệu về công tác lập và thực hiện quy hoạch và các lĩnh vực có liên quan để phân tích, đánh giá nhằm làm rõ các nội dung nghiên cứu của đề tài
(3) Phương pháp so sánh:
Là phương pháp được sử dụng chủ yếu trong quá trình phân tích sự thống nhất và chưa thống nhất trong các quy định về quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng; sự phù hợp và chưa phù hợp về nội dung giữa hai loại quy hoạch; sự tác động qua lại giữa hai loại quy hoạch nhằm phát hiện những bất cập, mâu thuẫn, chồng chéo với nhau
(4) Phương pháp phân tích, tổng hợp:
Trên cơ sở phân tích, tổng hợp các tư liệu, tài liệu có liên quan và thực trạng công tác quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng cho phép đưa ra những nhận xét, đánh giá về nội dung và bản chất của mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch; xác định được những vấn đề còn bất cập, mâu thuẫn giữa hai loại quy hoạch để đề ra phương hướng khắc phục Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để nghiên cứu các nội dung: Đánh giá tổng quan công tác quy hoạch trong
và ngoài nước; Đánh giá thực trạng công tác quy hoạch trên địa bàn nghiên cứu; Phân tích tác động qua lại và phát hiện sự bất cập giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng; Xác định vai trò, vị trí và nhiệm vụ của quy hoạch sử dụng đất và đề xuất sửa đổi các quy định hiện hành có liên quan để nâng cao chất lượng quy hoạch sử dụng đất trong mối quan hệ với quy hoạch xây dựng
Trang 35Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Khái quát về điều khiện tự nhiên kinh tế xã hội của huyện Ba Vì
3.1.1 Điều kiện tự nhiên, Tài nguyên thiên nhiên
Huyện Ba Vì nằm ở vị trí phía Tây Bắc thành phố Hà Nội, là một huyện bán sơn địa với diện tích tự nhiên là 42.402,7ha ( là huyện có diện tích lớn nhất TP
Hà Nội)
- Phía Đông giáp thị xã Sơn Tây và tỉnh Vĩnh Phúc
- Phía Nam giáp tỉnh Hoà Bình
- Phía Bắc giáp tỉnh Phú Thọ
- Phía Tây giáp huyện Thạch Thất-Hà Nội
Hình 3.1: Sơ đồ vị trí Huyện Ba Vì trong vùng Hà Nội
a Mối liên hệ vùng
Huyện Ba Vì có 2 đường Quốc lộ 32 và đại lộ Thăng Long chạy thẳng từ trung tâm Hà Nội lên Ba Vì, cũng như việc xây dựng tuyến đường Hồ Chí Minh
Trang 36kéo dài trong tương lai, Huyện Ba Vì có nhiều lợi thế về giao thông để kết nối với trung tâm thủ đô Hà Nội, cũng như liên kế chặt chẽ hơn với các trọng điểm phát triển khác như khu công nghệ cao Hòa Lạc, khu công nghiệp Việt Trì, thủy điện Hòa Bình, trong tương lai còn tiếp cận với nhiều khu văn hóa và đô thị lớn của cả nước như : Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam Trường đại hoạc quốc gia, chuỗi đô thị Miếu Môn… Sơn Tây, khu công nghiệp Phú Cát vv
Ngoài ra Ba Vì có tuyến đường thuỷ qua phía Tây, phía Bắc và Đông Bắc huyện từ Hà Nội đến Hoà Bình qua sông Hồng và sông Đà với chiều dài trên 70 Km
Với vị trí địa lý và giao thông thuỷ bộ thuận tiện huyện Ba Vì rất có điều kiện để phát triển kinh tế xã hội như: Trao đổi hàng hoá, tiếp thu thông tin, khoa học kỹ thuật, công nghệ và vốn đầu tư tạo điều kiện tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế đa dạng, nông - lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, du lịch
b Đặc điểm địa hình và khí hậu:
Địa hình: Ba Vì có núi Ba Vì với đỉnh cao 1.296 m và hai con sông lớn
chảy vòng quanh là sông Đà và sông Hồng, tạo nên một sắc thái riêng về tự nhiên, khả năng đa dạng hoá các loại cây trồng và phát triển kinh tế xã hội
Nhìn chung địa hình của huyện có hướng thấp dần từ Tây Nam xuống Đông Bắc, từ Tây sang Đông có thể phân thành 03 tiểu vùng khác nhau:
1) Vùng miền núi: Có diện tích tự nhiên là 19.932,11 ha (chiếm 46,5%
diện tích tự nhiên của toàn huyện) bao gồm 7 xã: xã Khánh Thượng, xã Minh Quang, xã Ba Vì, xã Ba Trại, xã Tản Lĩnh, xã Vân Hòa và xã Yên Bài
2) Vùng đồi gò: Có diện tích tự nhiên là 14.840,15 ha (chiếm 34,66%
diện tích toàn huyện) bao gồm 10 xã: xã Cẩm Lĩnh, xã Thái Hòa, xã Phú Sơn,
xã Phú Đông, xã Vạn Thắng, xã Đồng Thái, xã Vật Lại, xã Tiên Phong, xã Thụy An và xã Cam Thượng
3) Vùng đồng bằng sông Hồng: Có diện tích tự nhiên của vùng là
8.032,11 ha (chiếm 18,48% diện tích tự nhiên toàn huyện) bao gồm 13 xã và 1 thị trấn
Trang 37Hình 3.2: Phối cảnh mô phỏng địa hình huyện Ba Vì
* Nhận xét:
- Địa hình cả huyện Ba Vì gồm rất nhiều đồi gò Hướng dốc tập trung từ hai phía Tây và Đông đổ vào giữa Toàn bộ khu vực Ba Vì là hình lòng chảo kéo dài từ Bắc vào Nam Hướng dốc từ đỉnh núi Ba Vì đổ xuống sông Hồng
Khí hậu:
Huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, nằm sát phía Tây Bắc vùng châu thổ sông Hồng nên chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh Qua theo dõi nhiều năm, các yếu tố khí hậu trung bình như sau:
- Nhiệt độ trung bình tháng: Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 03 năm sau, nhiệt độ trung bình khoảng 200C, tháng có nhiệt độ thấp nhất khoảng 140C Từ tháng 04 đến tháng 10 nhiệt độ trung bình đều cao, trên 230C, tháng 6 và 7 có nhiệt độ cao nhất là 350C đến 370C Riêng vùng núi Tản Viên, từ độ cao 400m trở lên mùa hè có không khí mát mẻ
3.1.2 Thực trạng kinh tế xã hội
3.1.2.1 Hiện trạng kinh tế xã hội:
Tuy tỷ trọng nông lâm ngư nghiệp trong cơ cấu nền kinh tế chung có xu hướng giảm trong thời gian qua, nhưng đây vẫn là ngành kinh tế giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong nền kinh tế Ba Vì Hiện nay, sản xuất nông – lâm – ngư
Trang 38nghiệp của Ba Vì đã bước đầu thực hiện có hiệu quả, viêc chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa, nổi bật nhất là việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, từng bước hình thành các cánh đồng 50 triệu
Tổng giá trị sản xuất (giá thực tế) khu vực nông – lâm – ngư nghiệp năm
2014 đạt 1662 tỷ đồng Trong cơ cấu ngành nông nghiệp, tỉ trọng ngành trồng trọt đang có xu hướng giảm dần, ngành chăn nuôi tăng lên tương ứng Cơ cấu sản xuất ngành trồng trọt, chăn nuôi cũng đang từng bước có sự chuyển dịch phù hợp với nhu cầu ngày càng cao của thị trường
Bảng 3.1 Chỉ tiêu kinh tế huyện Ba Vì qua các năm 2010-2014
TĂNG TRƯỞNG
BQ
2010-2014 (%)
NĂM
2010 NĂM 2012 NĂM 2014 Tổng sản phẩm
Trang 39a) Trồng trọt
Tổng diện tích trồng trọt trên địa bàn huyện năm 2014 là 27829,60 ha, tăng
615 ha so với năm 2012 nhưng đã giảm 234 ha so với năm 2010, chủ yếu là do giảm diện tích trồng cây lương thực, nhiều nhất là lúa Trong khi diện tích cây công nghiệp, cây trồng làm thức ăn cho gia súc có xu hướng tăng lên Giá trị sản xuất và giá trị tăng thêm bình quân trên 1 ha canh tác đều tăng lên, lần lượt đạt
70 triệu đồng năm 2014, tăng 1,36 lần so với năm 2012, ước đạt 80 triệu đồng đồng năm 2015 Hệ số sử dụng đất khá cao, đạt trên 2,4 lần năm 2010
b) Chăn nuôi
Ngành chăn nuôi trong những năm qua tăng trưởng nhanh (tổng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi năm 2014 đạt 745 tỷ đồng) Tỉ trọng ngành chăn nuôi trong
cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp cũng không ngừng tăng lên
Tổng đàn trâu, bò năm 2014 là 56.600 con, tăng 9.275 con so với năm
2010 Do lợi thế về tự nhiên, Ba Vì có điều kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi
bò sữa và bò thịt theo hướng công nghiệp hóa; nhờ những đầu tư, kỹ thuật về giống, chăm sóc và chế biến, năng suất sữa tăng lên đáng kể, đạt 2,83 kg/con/năm 2014 (so với 2,25 kg/con/năm 2010, 2,6 kg/con/năm 2012) Sản lượng sữa năm 2014 đạt 4.100 tấn, bước đầu đã đáp ứng được nhu cầu về sữa và các sản phẩm từ sữa của nhân dân trong vùng và hình thành được một sản phẩm đặc trưng cung cấp cho thị trường ngoại vùng
Trong các loại vật nuôi lợn và gia cầm có tốc độ tăng trưởng khá nhanh Đàn lợn có 269 nghìn con năm 2014, bình quân tăng 13,8% mỗi năm Đàn gia cầm có 2 triệu con năm 2014, tăng bình quân 9,7%/năm Sản lượng thị năm 2014 của huyện Ba Vì là 37.985 tấn thì thịt lợn hơi xuất chuồng chiếm 75%, 21,2% là sản lượng thịt gia cầm, còn lại là thịt trâu bò
c) Sản xuất lâm nghiệp
Trong vài năm trở lại đây, công tác trồng mới rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất được triển khai thường xuyên và thu được những kết quả khả quan Diện tích rừng trồng tập trung mới năm 2014 là 488,1 ha (năm 2012 là 263,2 ha) Năm 2014, giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp đạt khoảng 15 tỷ đồng
Trang 40Tuy không chiếm tỷ trọng cao trong giá trị sản xuất nganh nông - lâm - ngư nghiệp, nhưng sản xuất lâm nghiệp mang lại ý nghĩa kinh tế to lớn cho huyện Ba
Vì về cả sinh thái, phát triển nông nghiệp và dịch vụ du lịch
d) Thủy sản
Diện tích nuôi trồng thủy sản trên địa bàn huyện năm 2014 là 2.027 ha, tăng 641 ha so với năm 2012, với tổng số 2.432 hộ và 3.231 lao động Sản lượng thủy sản năm 2014 đạt 5.086 tấn, tăng 1.586 tấn so với năm 2010 trong
đó 50% là hình thức nuôi ruộng Giá trị sản xuất ngành thủy sản năm 2014 đạt 64,75 tỷ đồng
3.1.2.2 Khu vực kinh tế công nghiệp
Giá trị sản xuất ngành công nghiệp - xây dựng năm 2014 đạt 906 tỷ đồng, tăng 4 lần so với năm 2010 So với năm 2010 nhiều sản phẩm có mức tăng trưởng khá cao như cát sỏi tăng 59,6%, chế biến lâm sản tăng 61,5%, may mặc tăng 58%, chế biến sữa tăng 82%, chè búp khô tăng 66,9% Tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng trong cơ cấu GDP tăng lên 20% năm 2014 Các ngành nghề truyền thống được duy trì ổn định, tạo điều kiện phát triển kinh tế hộ gia đình (kinh tế hộ gia đình chiếm 99% số cơ sở sản xuất và 70% giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện) Trong cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp, nhóm ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp năm 2014 chiếm 56% cơ cấu giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp – xây dựng Tỷ trọng nhóm công nghiệp khai thác trong thời gian qua ổn định ở mức trung bình 13 – 14%, chủ yếu là các sản phẩm vật liệu xây dựng như cát, sỏi, đá nhằm phục vụ cho nhu cầu xây dựng mạnh mẽ các công trình hạ tầng cơ bản trên địa bàn huyện trong thời gian qua
3.1.2.3 Khu vực kinh tế dịch vụ
Với định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo cơ chế thị trường, các hoạt động sản xuất, kinh doanh được thúc đấy mạnh mẽ và nhu cầu giao lưu trao đổi hàng hóa thương mại, dịch vụ cũng được tăng cường Mạng lưới các hoạt động dịch vụ, thương mại trên địa bàn huyện được giữ vững và phát triển rộng khắp, hoạt động có hiệu quả và phục vụ kịp thời nhu cầu của sản xuất và