1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng của các tổ hợp lai cà chua mới trồng trong vụ đông 2014 và xuân hè 2015

115 419 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 16,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để góp phần làm đa dạng, phong phú thêm những bộ giống tốt, việc tiếp tục nghiên cứu các giống cà chua có chất lượng cao, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, thích hợp trồng trong vụ Thu Đ

Trang 1

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iv

MỤC LỤC

1.3 Tình hình nghiên cứu, chọn tạo và sản xuất cà chua trên thế giới 14

1.3.1 Tình hình nghiên cứu, chọn tạo giống cà chua trên thế giới 14

1.3.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ và chế biến cà chua trên thế giới 23

1.4 Tình hình nghiên cứu, sản xuất và tiêu thụ cà chua ở Việt Nam 27

1.4.1 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống cà chua ở Việt Nam 27

Trang 2

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v

3.1 Kết quả nghiên cứu các thl cà chua trồng vụ đông năm 2014 43

3.1.1 Các giai đoạn sinh trưởng chính của các tổ hợp lai cà chua vụ Đông

3.1.5 Tình hình nhiễm bệnh Virus và một số sâu bệnh hại khác trên đồng

3.2 Kết quả nghiên cứu các thl cà chua trồng vụ xuân hè năm 2015 68

3.2.1 Các giai đoạn sinh trưởng chính của các tổ hợp lai cà chua vụ Xuân

Trang 3

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vi

3.2.5 Tình hình nhiễm bệnh Virus và một số sâu bệnh hại khác trên đồng

Trang 4

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 AVRDC Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau Châu Á

6 FAO Tổ chức nông lương thế giới

10 Khối lượng TB Khối lượng trung bình

Trang 5

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page viii

DANH MỤC BẢNG

1.2 Diện tích năng suất sản lượng cà chua của các châu lục năm 2012 24 1.3 Những nước có diện tích canh tác cà chua lớn nhất thế giới năm 2012 24

1.5 Diện tích, năng suất và sản lượng cà chua giai đoạn 2005-2012 34 3.1 Các giai đoạn phát triển trên đồng ruộng của các tổ hợp lai cà chua vụ

3.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp lai cà chua vụ

3.3 Tôc độ ra lá trên thân chính của các tổ hợp lai cà chua vụ Đông năm 2014 49

3.5 Một số tính trạng hình thái và đặc điểm nở hoa của các THL cà chua

3.11 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp lai cà chua vụ

3.12 Tôc độ ra lá trên thân chính của các tổ hợp lai cà chua vụ Xuân Hè

3.14 Một số tính trạng hình thái và đặc điểm nở hoa của các THL cà chua

Trang 6

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ix

Trang 7

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page x

DANH MỤC HÌNH

3.1 Chiều cao cây của các THL vụ Xuân Hè năm 2015 75 3.2 Số lá cuối cùng của các THL vụ Xuân Hè năm 2015 75 3.3 Tỷ lệ đậu quả của các THL vụ Xuân Hè năm 2015 81

3.5 Năng suất cá thể của các THL vụ Xuân Hè năm 2015 86

Trang 8

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Rau là một nhu cầu thiết yếu của mỗi người Khi đời sống càng được nâng lên thì nhu cầu về rau càng tăng cao và khắt khe hơn Để đáp ứng được yêu cầu tiêu dùng thì cần có những loại rau giàu dinh dưỡng, dễ chế biến, có thể sử dụng lâu dài, liên tục Cà chua là một trong những loại rau đáp ứng được các yêu cầu trên

Cà chua (Lycopersicon esculentum Mill), thuộc họ cà (Solanaceae), là 1

trong những loại rau ăn quả có giá trị dinh dưỡng cao, đứng đầu về giá trị dinh dưỡng cũng như giá trị sử dụng, có nguồn gốc từ Nam Mỹ Trong quả cà chua chín

có chứa nhiều đường, vitamin, khoáng chất quan trọng (Ca, Fe, Mg, P…) và các loại axit hữu cơ Cà chua có thể sử dụng dễ dàng từ ăn tươi, chế biến, làm nguyên liệu cho sản xuất Về mặt y học, cà chua có tính mát, vị ngọt giúp tạo năng lượng, tăng sức sống, cân bằng tế bào, giải nhiệt, điều hoà bài tiết, tăng khả năng tiêu hoá ,… Năng suất, sản lượng và chất lượng cà chua trên thế giới không ngừng được nâng lên qua các năm Mặc dù là cây rau có giá trị kinh tế, giá trị dinh dưỡng cao, nhưng việc mở rộng diện tích cà chua ở nước ta còn gặp nhiều khó

khăn Theo Trần Khắc Thi (2003), sản xuất cà chua ở nước ta chủ yếu tập trung

trong vụ Đông Xuân (70%) từ tháng 12 đến tháng 4 nên thường sẩy ra tình trạng

dư thừa sản phẩm ở thời gian chính vụ, thiếu sản phẩm ở thời gian trái vụ dẫn đến giảm hiệu quả sản xuất Hiện nay, vấn đề đầu tư cho sản xuất cà chua ở các địa phương còn thấp, chưa có quy trình canh tác thích hợp cho mỗi vùng, mỗi vụ trồng cho từng giống cụ thể Việc sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ, chưa có vùng sản xuất tập trung để tạo sản phẩm hàng hoá đủ lớn phục vụ chế biến công nghiệp và xuất khẩu

Việc nghiên cứu, chọn tạo ra các giống cà chua có thể trồng nhiều vụ trong năm đã và đang được quan tâm nghiên cứu, bước đầu đã có những thành tựu đáng kể Trong giai đoạn 1996 - 2000, các đề tài nghiên cứu về chọn tạo giống

cà chua được tiến hành trong chương trình cấp Nhà nước KC08 (1996-2000), các nghiên cứu theo hướng tạo giống thâm canh, giống chịu nhiệt, có thể trồng trái

Trang 9

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 2

vụ Các giống đưa ra ở thời kỳ này là XH2 của Viện nghiên cứu Rau quả, Lai Số

1 của Viện Cây lương thực và cây thực phẩm Từ 2001-2005, các đề tài nghiên cứu về chọn tạo giống rau, cà chua được bố trí trong chương trình cấp nhà nước KC06, KC07 (2001-2005) và chương trình giống cây trồng vật nuôi của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn: Giống cà chua PT18 của Viện Nghiên cứu Rau quả Hà Nội, giống HT7, HT21, HT42, HT160, HT144 và các giống khác

Mặc dù đã thu được những kết quả nhất định trong công tác chọn tạo giống

cà chua nhưng về cơ bản thì có thể thấy: bộ giống cà chua trong nước sản xuất vẫn còn khá khiêm tốn, chưa có bộ giống tốt cho từng vụ trồng ở các điều kiện sinh thái khác nhau, đặc biệt là giống trồng trong vụ Thu Đông và vụ Xuân Hè Theo kết quả điều tra của Phạm Hồng Quảng và cs (2004), cả nước có khoảng 115 giống cà chua đang được trồng trong sản xuất Trong 22 giống chủ lực, có 10 giống được trồng với diện tích đạt 6.259 ha bằng 55% Đó là các giống cà chua như: M368, Pháp, VL2000, VL-2009, TN002, Hồng Lan, Red Crow250, T42, VL2910, PT18 cà chua

Mỹ, Mogas T11 và các giống của Công ty Trang Nông

Thực tế cho thấy, trong một vài năm trở lại đây, các giống thích hợp trồng trong

vụ Đông và Đông Xuân như HT7, HT42, HT160 của PGS.TS Nguyễn Hồng Minh; C155, VT4 của Viện Cây lương thực; PT18 của Viện nghiên cứu Rau quả và một vài giống nhập nội như TN002, TN005, VL2000, VL2004, DV2962, S902, Delta, HP5, Hồng Châu, đang đem lại hiệu quả kinh tế rất cao, bình quân thu nhập 6-10 triệu đồng/sào, lãi thuần 4-8 triệu

Để góp phần làm đa dạng, phong phú thêm những bộ giống tốt, việc tiếp tục nghiên cứu các giống cà chua có chất lượng cao, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, thích hợp trồng trong vụ Thu Đông và vụ Xuân Hè để mở rộng diện tích trồng

cà chua trong năm là hết sức cần thiết; được sự đồng ý của Bộ môn Di truyền -

Chọn giống cây trồng, Khoa Nông học và dưới sự hướng dẫn của PGS.TS

Nguyễn Hồng Minh, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng của các tổ hợp lai cà chua mới trồng trong vụ Đông 2014 và Xuân Hè 2015”

Trang 10

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3

Trang 11

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Nguồn gốc, phân loại và giá trị của cây cà chua

1.1.1 Nguồn gốc, phân bố của cây cà chua

Nhiều nghiên cứu cho rằng, cà chua có nguồn gốc ở Nam Mỹ và là một trong những cây trồng quan trọng của người Anh Điêng (Gould, 1983) Bên cạnh ấy, việc tìm thấy họ hàng của nhiều loại cà chua hoang dại ở khu vực từ Chilê tới Ecuador

và vùng nội địa Thái Bình Dương bao gồm cả quần đảo Galapagos cũng khẳng định

cà chua có xuất xứ từ khu vực này

Về nguồn gốc cũng có nhiều ý kiến khác nhau song tập trung chủ yếu vào hai hướng:

Hướng thứ nhất cho rằng cây cà chua có nguồn gốc từ L.esculentum varpimpine lliforme

Hướng thứ hai cho rằng cà chua Anh Đào (L.esculentum var cerasiforme) là tổ

tiên của cà chua trồng ngày nay (Nguyễn Văn Hiển, 2000)

Cà chua tồn tại ở Pêru hàng nghìn năm nhưng nó chỉ thực sự được biết đến khi người Tây Ban Nha thám hiểm ra khu vực này vào những thập niên đầu của thế

kỷ 16 (Gould, 1983) Nhiều bằng chứng về sự trồng trọt, ngôn ngữ và các phân tích

về di truyền đã chứng minh rằng cà chua đã được thuần hoá ở Trung Mỹ (Nguyễn Hồng Minh, 2000)

Theo tài liệu từ Châu Âu thì người Aztec và người Toltec là những người phát tán cây cà chua đến các châu lục Ở châu Âu, sự tồn tại của cà chua được khẳng định thông qua tác phẩm giới thiệu về những giống cà chua có màu vàng và

đỏ nhạt được mang về từ Mêhicô của nhà nghiên cứu về thực vật Pier Andrea Matthiolus vào năm 1544 (Tạ Thu Cúc, 2006) Đây cũng là thời điểm chứng minh sự tồn tại của cà chua trên thế giới

Cà chua từ Nam Mỹ được đưa đến châu Âu vào thế kỷ 16 và được trồng đầu tiên ở Tây Ban Nha Vào thời gian này, nó chỉ được coi như một loại cây cảnh, cây làm thuốc Đến năm 1750 cà chua được trồng làm thực phẩm tại Anh và được gọi với nhiều tên gọi khác nhau: pomid’oro hay Golden apple (ở Italia) hay pomme d’

Trang 12

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5

amour (ở Pháp) Đến thế kỷ 18 đã có nhiều nghiên giúp cho bộ giống cà chua trở nên đa dạng, phong phú hơn và nó đã trở thành thực phẩm ở nhiều vùng Vào cuối thế kỷ 18, cà chua được dùng làm thực phẩm ở Nga và đến đầu thế kỷ 19, sau chứng minh của George Washing Carver về sự an toàn và tác dụng của cây cà chua thì nó mới chính thức được sử dụng làm thực phẩm và đã trở thành thực phẩm không thể thiếu ở nhiều vùng trên thế giới

Đến thế kỷ 17 các lái buôn người châu Âu đã mang cà chua sang châu Á Khoảng thế kỷ 18, cà chua có mặt ở Trung Quốc, sau đó được phát tán sang khu vực Đông Nam Á và Nam Á Đến thế kỷ 19, cà chua được liệt kê vào cây rau có giá trị , từ đó được phát triển mạnh

Cà chua du nhập vào Việt Nam từ thời thực dân Pháp chiếm đóng, tức là khoảng 100 năm trước đây, và được người dân thuần hóa trở thành cây bản địa Từ

đó cùng với sự phát triển của xã hội, cây cà chua đã và đang trở thành một cây trồng

có giá trị kinh tế và giá trị sử dụng cao ở Việt Nam

Tuy có lịch sử từ rất lâu nhưng đến nửa đầu thế kỷ 20, cà chua mới thực sự trở thành cây trồng phổ biến, dành được sự quan tâm của nhiều người trên toàn thế giới (Morris, 1998)

1.1.2 Phân loại

Cà chua (Lycopersicon esculentum Mill) thuộc họ cà (Solanaceae), chi

Lycopersicon, có bộ nhiễm sắc thể (2n = 24) Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về phân loại của cà chua và lập thành các hệ thống phân loại theo quan điểm riêng của mình như công trình của Muller (1940); Dakalov(1941); Bailey - Dillinger (1956); Brezhnev(1955 - 1964) hay của Libner Non necke (1989) Tuy nhiên hai hệ thống được sử dụng nhiều nhất là hệ thống phân loại của Muller (người Mĩ hay dùng) và

hệ thống phân loại của Brezhnev (1964)

Theo phân loại của Muller thì cà chua trồng hiện nay thuộc chi Eulycopersicon C.H.Muller Trong chi phụ này tác giả phân cà chua thành 7 loại và cà chua trồng hiện nay (Lycopersicon esculentum Miller) thuộc loại thứ nhất

Theo hệ thống phân loại của tác giả Brezhnev (1964), chi Lycopersicon Tourn

được phân làm 3 loài thuộc hai chi phụ:

Trang 13

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 6

Chi phụ 1: Eriopersicon: Dạng cây một năm hoặc nhiều năm, quả không bao

giờ chín đỏ, luôn luôn có màu xanh, có sọc tía, quả có lông, hạt nhỏ Chi phụ này gồm 2 loài và các loài phụ:

1 Lycopersicon peruvianum Mill: Loại này thường mọc ở miền nam Pêru, Bắc

Chi lê, có xu hướng thụ phấn chéo cao hơn so với loài Lycopersicon esculentum Mill Trong điều kiện ngày ngắn cây ra quả tốt hơn ngày dài, nó không có đặc tính của L hirsutum có khả năng chống bệnh cao hơn các loài khác

1a L.peruvianum var.Cheesmanii Riloey và Var Cheesmanii f.minor

C.H.Mill (L.esc.var.miror Hook)

1b L.peruvianum var denta tum pun

2 Lycopersicon hirsutum Humb et Bonpl: Đây là loại cây ngày ngắn, quả

chỉ hình thành trong điều kiện chiếu sáng trong ngày 8-10h/ngày, quả chín xanh, có mùi đặc trưng

2a L hirsutum var galabratum C.H.Mull

2b L hirsutum var glandulosum C.H.Mull

Chi phụ 2: Eulycopersicon: Dạng cây hàng năm, quả không có lông, màu đỏ hoặc đỏ vàng, hạt mỏng, rộng Chi phụ này gồm 1 loài là Lycopersicon esculentum Mill, loài này gồm 3 loài phụ:

a L esculentum Mill Ssp Spontaneum Brezh - cà chua hoang dại, bao gồm

2 dạng sau:

+ L- esculentum var pimpine lliforlium Mill (Brezh)

+ L- esculentum var.race migenum (lange) Brezh

b L esculentum Mill.SSp Subspontaneum - cà chua bán hoang dại, gồm 5

dạng sau:

+ L- esculentum var cersiforme (AGray) Brezh - cà chua Anh Đào

+ L- esculentum var.pyriforme (C.H Mull) Brezh - cà chua dạng lê

+ L- esculentum var.pruniforme Brezh - cà chua dạng mận

+ L- esculentum var.elonggetem Brezh - cà chua dạng quả dài

+ L- esculentum var.succenturiatem Brezh - cà chua dạng nhiều ô hạt

Trang 14

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7

c L.esculentum Mill ssp cultum - cà chua trồng trọt, là loại lớn nhất, có các

biến chủng có khả năng thích ứng rộng, được trồng rộng khắp thế giới: Breznep đã chia loài phụ này thành biến chủng sau:

+ L- esculentum var Vulgare Brezh: (Cà chua thông thường): Biến chủng này chiếm 75% cà chua trồng trên thế giới Bao gồm các giống có thời gian sinh

trưởng khác nhau với trọng lượng quả từ 50 đến trên 100g Hầu hết những giống cà chua đang được trồng ngoài sản xuất đều thuộc nhóm này

+ L- esculentum var Validum (Bailey) Brezh: Cà chua anh đào, thân bụi, cây

thấp, thân có lông tơ, lá trung bình, cuống ngắn, mép cong

+ L- esculentum var.pyriforme (C.H Mull) Brezh - cà chua hình quả lê, sinh

trưởng vô hạn

+ L- esculentum var.grandiflium (bailey) Brezh: Cà chua lá to, cây trung bình,

lá láng bóng, số lá trên cây từ ít đến trung bình (Nguyễn Văn Hiển, 2000)

1.1.3 Giá trị của cây cà chua

1.1.3.1 Giá trị dinh dưỡng

Nhiều nghiên cứu và phân tích thành phần hóa học đã xếp cà chua vào nhóm rau quả dinh dưỡng Trong quả cà chua chín có chứa nhiều đường (glucoza, fructoza, saccaroza), các vitamin (A, B1, B2, C), các axít hữu cơ (xitric, malic, galacturonic ) và các khoáng chất quan trọng: Ca, Fe, Mg

Trong đó gồm các chất chủ yếu: đường (glucoza, fructoza, saccaroza) chiếm 55%; chất không hoà tan trong rượu (prôtein, xenlulo, pectin, polysacarit) chiếm 21%; Axit hữu cơ (xitric, malic, galacturonic, pyrolidoncaboxylic) chiếm 12%; chất vô cơ 7%; các chất khác (carotenoit, ascorbic axit, chất dễ bay hơi, amino axit ) chiếm 5% (Tạ Thu Cúc và cs., 2000)

Theo phân tích của Edward Tigchelaar (1989) thì thành phần hóa học trong quả cà chua chín như sau: nước 94-95%; chất khô 5 - 6%, trong đó bao gồm: Đường 55%, chất không hòa tan trong rượu 21%, Axít 12%, chất vô cơ 7%, chất khác 5%

Trang 15

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 8

Bảng 1.1: Thành phần hoá học của 100 g cà chua Thành phần Quả chín tự nhiên Nước ép tự nhiên

Nguồn: USDA Nutrient Data Base (Tu Jianzhong, 1992)

Kết quả phân tích 100 mẫu giống trồng ở vùng đồng bằng sông Hồng của tác giả Tạ Thu Cúc và cs, trong quả cà chua có thành phần hoá học như sau: chất khô từ 4,3 - 6,4%; đường tổng số từ 2,6-3,5%; hàm lượng các chất tan từ 3,4-6,2%; axit tổng số từ 0,22 - 0,72% và hàm lượng vitamin C từ 17,1-38,8% (Tạ Thu Cúc và

cs, 2000) Ngoài ra, ở quả còn có một số axit amin và các caroten (Tạ Thu Cúc, 2002) Các tài liệu khác đã xác định rằng cứ 100g phần ăn được của quả cà chua có chứa 94g nước; 1g Protein; 0,2g chất béo; 3,6g cacbonhydrat; 10mg Ca; 0,6mg Fe; 10mg Mg; 0,6mg P; 1700 mg vitaminA; 0,02 mg vitaminB; 0,6mg niacin và 21 mg vitaminC, năng lượng đạt 30kJ/100g

Khi so sánh thành phần dinh dưỡng của cà chua với một số loại rau quả khác

như: táo, chanh, anh đào, dâu tây thì Becker - Billing thấy rằng: Nhóm vitamin trong quả cà chua chiếm tỷ lệ cao hơn (Vitamin C, A,B1 B2) đặc biệt là vitamin C và A gấp 10 lần so với dâu tây, gấp 2 lần so với anh đào (Becker – Billing (Nguyễn Xuân

Trang 16

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 9

Hiền và cs., 2003) Ngoài các chất dinh dưỡng ra những giống có độ Brix cao, thịt quả dầy, có sắc tố (lycopen, caroten và xantophyl) cao được dùng nhiều trong công nghiệp chế biến thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao Hạt cà chua chứa 24% dầu và dịch chiết được sử dụng trong công nghiệp đồ hộp, dầu khô được dùng trong dầu giấm để sử dụng cho công nghiệp chế biến bơ (Mai Thị Phương Anh và cs., 1996) Giá trị dinh dưỡng của quả cà chua rất phong phú, vì vậy theo một số tài liệu cho biết hàng ngày mỗi người sử dụng từ 100-200g cà chua sẽ thoả mãn nhu cầu các VTM cần thiết

và các chất khoáng chủ yếu (Võ Văn Chi, 1997) Với giá trị dinh dưỡng cao nên cà chua là loại rau được trồng phổ biến ở khắp các châu lục, là món ăn thông dụng của nhiều nước và là loại rau có giá trị sử dụng cao Quả cà chua được sử dụng ở nhiều phương thức khác nhau: nấu chín, ăn sống, làm salát hoặc chế biến thành nhiều sản phẩm khác như nước quả, tương cà chua, bột nhuyễn, sấy khô, mứt đóng hộp v.v

1.1.3.2 Giá trị sử dụng của cây cà chua

Cà chua là loại rau ăn quả có giá trị dinh dưỡng là loại thực phẩm phổ biến có mặt trong nhiều món ăn ngon nổi tiếng trên khắp lục địa Cà chua còn góp phần làm cho món ăn hay nước uống có vị ngon và chứa nhiều dinh dưỡng

Ngày nay khoa học đã tạo và chọn lọc nhiều giống cà chua mới không chỉ có tác dụng tốt cho dinh dưỡng mà còn bồi bổ cho sức khỏe con người Cà chua có thể dùng ăn tươi thay hoa quả, trộn Salat, nấu canh, xào, nấu sốt vang và cũng có thế chế biến thành các sản phẩm như cà chua cô đặc, tương cà chua, nước sốt nấm, cà chua đóng hộp, mứt hay nước ép Ngoài ra, có thể chiết tách hạt cà chua để lấy dầu

Sản phẩm cà chua chế biến đã trở thành mặt hàng tiêu thụ phong phú Mức tiêu thụ cà chua trong khẩu phần ăn hàng ngày đã tăng mạnh trong 4 thập kỷ qua Mặt khác, sự phát triển nhanh chóng của ngành sản xuất đồ hộp với sự tham gia đáng kể các sản phẩm cà chua chế biến đã làm cho mức tiêu thụ sản phẩm cà chua chế biến tăng mạnh và ổn định Một số sản phẩm chế biến từ cà chua phổ biến hiện nay như sau: Đồ hộp cà chua nguyên quả: Đồ hộp cà chua nguyên quả là dạng gần với quả tự nhiên nhất, có thể dùng để xào nấu như cà chua tươi Đồ hộp cà chua nguyên quả (hay đồ hộp cà chua tự nhiên) được chế biến ở hai dạng: không bóc vỏ

và bóc vỏ Sản phẩm được đóng trong nước muối loãng hoặc nước cà chua Cà chua

Trang 17

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 10

cô đặc ( cà chua paste, puree cà chua): Cà chua cô đặc là một trong những sản phẩm chính của công nghiệp đồ hộp rau quả, được coi như bán chế phẩm dùng để chế biến các loại đồ hộp khác như: đồ hộp xốt các loại, nước xốt của đồ hộp thịt cá, rau, làm nguyên liệu nấu nướng… Mứt cà chua được sản xuất từ quả tươi hoặc quả bán chế phẩm, dạng nguyên quả hay dạng miếng Sản phẩm này được làm bằng cách cho thấm từ từ siro đường, đun lại, ngâm trong siro nhằm tăng lượng đường cho đến khi có thể bảo quản mà không bị hỏng Nước cà chua: Sản phẩm này có hai loại: nước cà chua ép (juice) và nước cà chua nghiền (nertarr) Cà chua được nghiền, lọc

và tinh chế bột nhão ở dạng không đậm đặc, dạng này chứa chất khô không hòa tan

từ thịt quả cà chua, sản phẩm này khi sử dụng thường không pha loãng hay cô đặc Sản phẩm có màu đỏ tươi đặc trưng, trạng thái mịn, không phân lớp, có hương vị tự nhiên Nước xốt cà chua (catsup, ketchup): Làm trực tiếp từ nước cà chua tươi sau khi bỏ hạt, vỏ quả, lõi, có thể được làm từ bột cô đặc, nhưng thường được làm từ cà chua tươi Trong quá trình chế biến có bổ sung thêm đường, giấm, muối, hành và gia vị khác Bột cà chua (tomato powder): Có thể được làm thành nước uống hoặc như gia vị trong món súp Việc sấy khô thường được thực hiện bằng phương pháp sấy trục hoặc sấy phun Bột cà chua lý tưởng phải đảm bảo duy trì được chất lượng

và dễ phân tán trong nước và giữ được hương tự nhiên, màu, vị, tính chất lý hóa của

Họ đã xây dựng một nguồn dữ liệu tính trạng rất chi tiết, bao gồm những kiểu hình mong muốn và không mong muốn ở cà chua, từ kháng sâu rầy cho đến tốc độ chín trái Nguồn dữ liệu này vô cùng giá trị khi bộ gene của cây cà chua đã được công bố

vào cuối tháng 5/2012 trên tạp chí Nature Đây là kết quả của một nhóm nghiên cứu

Trang 18

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 11

bộ gene cà chua (Tomato Genome Consortium) bao gồm rất nhiều các nhà khoa học

và công ty công nghệ sinh học từ nhiều nước (Nhật Bản, Mỹ, Trung Quốc, Ý, Israel,

Bỉ, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Đức, Hà Lan, Ấn Độ, Argentina, Hàn Quốc) Công trình này bao gồm trình tự bộ gene của giống cà chua lai Heinz 1706, là giống cà chua do công ty của Henry Heinz tạo ra và đã làm thay đổi ngành công nghiệp làm

tương cà chua (ketchup), và cả loài cà chua hoang dại tổ tiên của nó là Solanum pimpinellifolium

(Nguồn: http://www.nature.com/nature/journal/v485/n7400/full/485547a.html)

Về mặt y học: Cà chua được coi là dược liệu chữa bệnh sốt, lao phổi, nhuận

tràng Người Tây Ban Nha dùng cà chua, ớt, dầu mỡ để chế biến thuốc chữa mụn nhọt, lở loét Lá cà chua non giã nát cùng muối dùng để trị mụn nhọt, viêm tấy Hợp chất tomatin chiết tách từ cây cà chua có khả năng kháng khuẩn, diệt nấm và một số sâu bệnh hại Nó cũng có tác dụng kích thích sinh trưởng đối với cây trồng ở mức

độ nhất định

Theo Võ Văn Chi (1997), cà chua có vị ngọt, tính mát, có tác dụng tạo năng lượng, tăng sức sống, làm cân bằng tế bào, giải nhiệt, chống hoại huyết, kháng khuẩn, chống độc, kiềm hóa máu có dư axit, hòa tan urê, thải urê, điều hòa bài tiết, giúp tiêu hóa dễ dàng các loại bột và tinh bột Dùng ngoài để chữa bệnh trứng cá, mụn nhọt, viêm tấy và dùng lá để trị vết đốt của sâu bọ Chất tomarin chiết xuất từ lá cà chua khô

có tác dụng kháng khuẩn, chống nấm, diệt một số bệnh hại cây trồng (Nguyễn Thanh Minh, 2003) Cà chua có thể giúp bảo vệ những người nghiện thuốc lá khỏi nguy cơ bị bệnh phổi (các nhà khoa học thuộc Đại học Y khoa Jutendo Nhật Bản) Đặc biệt lycopen trong quả cà chua có tác động mạnh đến việc giảm sự phát triển nhiều loại ung thư như: ung thư tiền liệt tuyến, ung thư ruột kết, ung thư trực tràng và nhồi máu cơ tim,…(Cheema and Surian Singh, 1993) Là một thành phần tạo nên màu đỏ của quả

cà chua, lycopen còn có tác dụng giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch Hàm lượng chất này nhiều hay ít phụ thuộc vào độ chín của quả và chủng loại cà chua Đây là một

số chất oxi hóa tự nhiên mạnh gấp 2 lần so với beta-caroten và gấp 100 lần so với vitamin E

Trang 19

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 12

1.1.3.3 Giá trị kinh tế

Với giá trị dinh dưỡng và giá trị sử dụng cao, cà chua được nhiều người

ưa chuộng nên nó là loại cây được trồng mang lại giá trị kinh tế cao cho người sản xuất

Theo điều tra năm 1999, lượng cà chua trao đổi trên thị trường thế giới là 36,7 triệu tấn với lượng sử dụng tươi chiếm từ 5÷7% Ở Đài Loan hàng năm xuất khẩu cà chua tươi đạt 952.000 USD và 40.800 USD cà chua chế biến Còn ở Mỹ tổng giá trị sản xuất 1 ha cà chua cao gấp 4 lần lúa nước và 20 lần lúa mì (nguồn USD, 1997 dẫn theo Ware and Collum) Theo Manen (1989) người dân phía bắc Thái Lan thu được 5.600 ÷ 10.900 USD/ha từ sản xuất cà chua Theo thống kê của tác giả T.Marikawa (1998): hàng năm Nhật Bản sản xuất được 406.700 tấn nước sốt

cà chua, 87.000 tấn nước ép cà chua; 7.700 tấn cà chua nghiền bột Tuy nhiên, Nhật Bản vẫn còn phải nhập thêm 77.000 tấn cà chua chế biến

Ở Việt Nam, tùy điều kiện sản xuất có thể thu được từ 1÷3 triệu đồng/ 1 sào bắc bộ Theo TS Ngô Quang Vinh-Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Miền Nam: 1 ha cà chua ghép có thể đạt năng suất tới 100 tấn và cho thu nhập khoảng 150-200 triệu đồng Theo Báo Nông nghiệp Việt Nam, số ra ngày 29/5/2007: tại Lâm Đồng, sản xuất 1,7 ha cà chua kim cương đỏ (Red Diamond) cho thu nhập là

100 triệu đồng

Theo Đào Xuân Thảng (2004), trong báo cáo tổng kết khoa học kỹ thuật dự

án KC06.DA10NN “Sản xuất thử nghiệm giống cà chua lai số 1, C95, dưa chuột lai Sao Xanh 1”, C95 được sản xuất thử nghiệm tại huyện Hải Hậu – Nam Định cho thu nhập 35-40 triệu đồng/ha, lãi thuần 15-20 triệu đồng, cao gấp nhiều lần so với trồng lúa Cà chua là cây trồng thu hút nhiều lao động Để sản xuất một hécta cà chua cần 500 - 600 công lao động

1.2 Đặc điểm thực vật học của cây cà chua

Cây cà chua thuộc họ rễ chùm, có khả năng ăn sâu trong đất Rễ phụ cấp 2 phân bố dày đặc trong đất, đặc biệt ở thời kỳ sinh trưởng rễ cây phát triển mạnh Tuỳ giống, đất đai và thời vụ, rễ cà chua có thể phát triển rộng 1,3m và ăn sâu 1,5m, nhưng ở độ sâu dưới 1,0m có số lượng rễ ít Với khối lượng rễ lớn như vậy nên cà

Trang 20

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 13

chua có thể trồng được nhiều vùng sinh thái khác nhau và được xếp vào nhóm cây chịu hạn

Đặc tính của cây cà chua là thân bò lan ra xung quanh hoặc mọc thành bụi, phân nhánh mạnh Thân được phủ một lớp lông tơ và cấu tạo bởi nhiều đốt, các đốt thân có khả năng ra rễ bất định Chiều cao cây, số đốt và chiều dài đốt khác nhau,

nó phụ thuộc vào giống và điều kiện trồng trọt

Lá cà chua thuộc lá kép lông chim lẻ, mỗi lá hoàn chỉnh gồm có 3-4 đôi lá chét tuỳ theo giống, ngọn lá có một phiến lá riêng biệt gọi là lá đỉnh Lá có nhiều dạng khác nhau: dạng chân chim, dạng khoai tây, kích thước, màu sắc tuỳ thuộc vào giống và điều kiện trồng trọt

Hoa cà chua thuộc loại hoa hoàn chỉnh, gồm: lá đài, cánh hoa, nhị và nhụy Cà chua thuộc cây tự thụ là chủ yếu, do đó đặc điểm cấu tạo của hoa cà chua là: Các bao phấn bao quanh vòi nhụy, thông thường vòi nhụy thấp hơn nhị Hoa mọc thành từng chùm, có 3 loại chùm hoa: Chùm đơn giản, chùm trung gian và chùm phức tạp Số lượng hoa/chùm, số lượng chùm hoa/cây rất khác nhau, số chùm hoa dao động khoảng

20 chùm hoặc nhiều hơn, điều đó phụ thuộc chủ yếu vào đặc tính của giống, điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật trồng trọt

Căn cứ vào đặc điểm ra hoa của cà chua có thể phân thành 3 loại:

- Loại hình sinh trưởng hữu hạn;

- Loại hình sinh trưởng bán hữu hạn;

- Loại hình sinh trưởng vô hạn

Quả cà chua thuộc loại quả mọng, bao gồm: vỏ quả, thịt quả, vách ngăn, giá noãn Quả cà chua được cấu tạo từ 2 ngăn hạt trở lên Hình dạng (quả dẹt, quả tròn và quả dài), khối lượng (to, trung bình, nhỏ) có thể dao động rất lớn từ 3 gram đến 200 gram và thậm trí tới 500 gram Màu sắc vỏ quả tuỳ thuộc vào giống Loài cà chua trồng thường có màu đỏ, đỏ thẫm, vàng, vàng da cam Ngoài ra màu sắc quả chín còn phụ thuộc vào nhiệt độ, hàm lượng caroten và lycopen có trong quả Chất lượng quả cà chua được thể hiện qua các chỉ tiêu: độ trắc quả, tỷ lệ thịt quả, tỷ lệ đường, axít và sắc tố quả (Tạ Thu Cúc và cs., 2000)

Trang 21

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 14

1.3 Tình hình nghiên cứu, chọn tạo và sản xuất cà chua trên thế giới

1.3.1 Tình hình nghiên cứu, chọn tạo giống cà chua trên thế giới

Do giá trị dinh dưỡng và hiệu quả kinh tế cao nên cây cà chua trở thành cây trồng chính được nhiều nước trên thế giới quan tâm đầu tư và nghiên cứu nhằm tạo

ra các giống cà chua mới nhằm đáp ứng cho sự đòi hỏi ngày càng khắt khe của con người, phục vụ tốt nhất cho nhu cầu của con người

Các nghiên cứu về nó đều nhằm mục đích tạo ra được các giống mới có đặc tính di truyền phù hợp với nhu cầu của con người Để đạt được mục đích chung ấy, mỗi nhà chọn giống có các phương pháp chọn tạo khác nhau như: chọn lọc cá thể, lai hữu tính, sử dụng ưu thế lai hay ứng dụng công nghệ sinh học và mỗi người lại chọn tạo theo những định hướng khác nhau, nhưng tập trung chủ yếu theo 4 hướng nghiên cứu chính:

+ Tạo giống chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận

+ Tạo giống chống chịu với sâu bệnh hại

+ Tạo giống có chất lượng phục vụ cho ăn tươi, chế biến

+ Tạo giống phù hợp với cơ giới hóa

Đối với cây cà chua, những tiến bộ ban đầu về dòng, giống cà chua đều xuất phát từ châu Âu Năm 1863, 23 giống cà chua được giới thiệu, trong đó giống Trophy được coi là giống có chất lượng tốt Vào những năm 80 của thế kỷ 19 ở trường đại học Michigân (Mỹ) đã tiến hành chọn lọc và phân loại cà chua trồng trọt Cùng thời gian đó Livingston đã chọn lọc và đưa ra 13 giống trồng trọt (Nguyễn Văn Hiển, 2000) Cuối thế kỷ XIX, có trên 200 dòng, giống cà chua được giới thiệu

1.3.1.1 Tình hình nghiên cứu, chọn tạo giống cà chua có khả năng chống chịu với điều kiện bất thuận

Tạo giống cà chua có năng suất cao và chất lượng tốt, khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất thuận là mục tiêu của các nhà chọn giống nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sản xuất Trong những năm qua, các nhà khoa học chọn giống cà chua trên thế giới đã đánh giá cao công tác thu thập, duy trì và khai thác nguồn vật liệu trong chọn giống Trung tâm rau châu Á (AVRDC), ngay từ năm

1990 đã thu thập và duy trì được 48.723 tổ hợp lai cà chua từ 153 nước trên thế

Trang 22

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 15

giới, chủ yếu là các loài Licopesicom esculentum, L cheesmanii, L pimpinellifolium

và các dòng lai L esculentum x L pimpinellifolium và L cheesmanii x L minutum Ở

Viện nghiên cứu tài nguyên cây trồng quốc tế (NBPGR) Ấn Độ đã thu thập 2.659 tổ hợp lai trong đó 2.229 tổ hợp lai từ 43 nước và 430 tổ hợp lai cà chua được thu thập trong nước (Chu Jinping, 1994)

Nhiều nhà khoa học đã sử dụng nguồn gen di truyền của các loài dại, bán hoang dại, vì chúng có khả năng chống chịu tốt với điều kiện bất thuận của môi trường Bằng nhiều con đường khác nhau như lai tạo, chọn lọc, gây đột biến bước đầu đã tạo ra nhiều dòng giống cà chua thích hợp trồng trong điều kiện nhiệt độ cao, có phổ thích ứng rộng có khả năng trồng nhiều vụ trong năm (dẫn liệu theo Kiều Thị Thư, 1998)

Ấn độ sử dụng ưu thế lai giữa các loài L.esculentum x L.pimpinellifolium L hirsutum, L esculentum x L hirsutum Tạo giống cà chua lai (F1) chống chịu bệnh

vius xoăn lá TLCV Bằng phương pháp lai này, tạo 317 dòng/giống chống bệnh vurs ở mức độ khác nhau, trong đó: có 24 giống chống bệnh mức 6-20%, 32 giống đạt mức 21-40%, 71 giống đạt mức 41-60% và 190 giống chống chịu ở mức cao 61-98%

Từ năm 1980, Trung tâm châu Á (AVRDC) đã đi sâu vào cải tiến các tính trạng kháng bệnh, cải tiến kích thước quả, hình dạng quả, năng suất và chất lượng quả Nghiên cứu tính trạng chịu nóng của bộ giống cà chua gồm 4.616 tổ hợp lai đã có 39 giống có khả năng chịu nóng tốt Trong các giống chứa gen chịu nóng chủ yếu được dùng trong lai tạo với các giống trong vùng nhiệt đới: Giống L4841 nguồn gốc Philippin, L3958 nguồn gốc

từ Mỹ, L1488 nguồn gốc Nam Phi (Chu Jinping, 1994)

Từ năm 1977 đến năm 1984, Ai Cập đã nghiên cứu, chọn tạo giống cà chua chịu nhiệt có năng suất cao, chất lượng tốt, thuộc đề án Quốc gia về phát triển cây trồng có năng suất và chất lượng cao Kết quả, tạo ra một số giống cà chua mới như Cal.Ace, Housney, Marmande VF, Pritchard, VFN-Bush đều có tính trạng nhóm quả lớn, năng suất cao, chất lượng tốt, cón một số giống Castlex-1017, Castlrock, GS-30, Peto86, UC-97 có thịt quả chắc Các giống này

có thể trồng tốt trong thời vụ có nhiệt độ cao (Metwally, 1996)

Tại Mỹ công tác nghiên cứu chọn tạo giống cà chua rất được chú trọng, đến nay

Trang 23

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 16

đã thu được những thành tựu đáng kể Trường đại học California đã chọn ra được một

số giống cà chua mới như: UC-105, UC-134, UC-82 có năng suất cao, chất lượng tốt, chống bệnh nứt quả, quả cứng, chịu vận chuyển (Swiader, 1992)

Hiện nay, việc nghiên cứu không chỉ đơn thuần tiến hành nghiên cứu trong nước mà còn mở rộng, trao đổi và hợp tác với nhiều Viện, Trung tâm nghiên cứu của nhiều quốc gia khác nhau Viện nghiên cứu và phát triển nông nghiệp Malixia (MARDI) đã hợp tác với Trung tâm rau châu Á (AVRDC) và Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp nhiệt đới (TARC) Nhật Bản, để cải tiến bộ giống cà chua triển vọng Kết quả, đưa ra 6 giống được đánh giá có khả năng chịu nhiệt và chống bệnh héo

xanh vi khuẩn (Pseudomonas solanacearum) tốt là MT1, MT2, MT3, MT5, MT6 và

MT10 (dẫn liệu của Melor, 1986)

Trung tâm nghiên cứu rau châu Á (AVRDC) hợp tác với trường đại học Khon Khan và Chiang Mai của Thái Lan thử nghiệm và đưa ra 2 giống cà chua SVRDC4 và L22 có khả năng chịu nhiệt cao, thích ứng rộng, cho hiệu quả cao đã trồng nhiều tỉnh phía Bắc của Thái Lan (Kaloo, 1993) Trường đại học Kasetsat- Thái Lan, năm 1982 tạo được 17 giống cà chua, trong đó 2 giống FMTT-33 và FMTT277 nguồn gốc từ AVRDC có khả năng chịu nhiệt, năng suất đạt 81 tấn/ha, nhóm quả lớn 134-166 gam, thích hợp sản xuất vùng nhiệt đới (Tu Jangzheng, 1982) Năm 1994 Trường đại học Kasetsat đưa ra 2 giống cà chua chế biến PT422

và PT3027 cho năng suất 53 tấn/ha, chất lượng tốt, có khả năng chống bệnh nứt quả

và bệnh virus trong điều kiện nhiệt độ cao (Chu Jinping, 1994)

Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu sâu về di truyền học phân tử, miễn dịch học đã cho phép xác định vị trí các locus nào quyết định các tính trạng kinh tế trên 12 NST của cà chua Việc chuyển nạp các gen chống chịu các bệnh nguy hại như: sương mai (Ph-1, Ph-2), bệnh héo xanh vi khuẩn (Hrp) đã giúp cho nhà khoa học tạo giống lai chống chịu đồng thời 3-4 bệnh (Gallardo 1999) Năng suất cà chua nhờ đó tăng từ 18 tấn/ha năm 1980 lên 27 tấn/ha năm 2000 (tính trung bình toàn thế giới) (Trần Khắc Thi, 2003)

Ngoài thành tựu nghiên cứu về công nghệ gen trong công tác tạo giống cà chua thuần (OP), việc ứng dụng hiệu quả ưu thế lai (ƯTL) vào cà chua được phát triển mạnh

Trang 24

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 17

ở thế kỷ 20 Hiện nay, sử dụng giống cà chua lai có năng suất cao hơn hẳn các giống thuần (OP) từ 15-20% trở lên, chất lượng tốt, khả năng chống chịu sâu bệnh hại khá, giảm chi phí, tăng hiệu quả và góp phần đẩy nhanh sản lượng cà chua của thế giới Trung Quốc là nước có nhiều thành công trong trong lĩnh vực này Hiện nay, các giống cà chua lai (F1) đã chiếm tới 80-85% giống trồng trong sản xuất Tạo giống lai mới có năng suất cao, chất lượng tốt, sản phẩm đa dạng phục vụ ăn tươi và chế biến là mục tiêu hàng đầu của các nhà khoa học Trung Quốc Tại Trung tâm rau Bắc Kinh (BVRC), trong thập kỷ 80-90 thế kỷ trước đã tạo được 5 giống cà chua lai (F1): giống Jiafen No1 (1980), Jiafen No2 (1982), Jiafen No10, Jiafen No15 (1990), Shuang Kang No2 (1989) Các giống này đang giữ vai trò chủ lực trồng cho trên 20 tỉnh với quy mô 24.000 ha/năm, năng suất 60-90 tấn/ha, nhóm quả lớn tròn, chín đỏ, đẹp có khả năng chống bệnh virus (TMV, CMV) khá (Kang Gaogiang, 1994)

Trung tâm rau châu Á (AVRDC) tại Đài Loan, trong 2 năm 2002, 2003 đã nghiên cứu đánh giá 8 giống cà chua nhóm quả nhỏ (cherry tomato), như: CLN2545, CLN254DC năng suất 15 tạ/ha, 20 giống cà chua chất lượng cao phục

vụ chế biến (Processing tomato) như: CLN2498-68, CLN2498-78 , năng suất đạt

>55 tấn/ha và 9 giống cà chua phục vụ ăn tươi, nấu chín như: Taoyuan, Changhua, Hsinchu2 năng suất đạt trên 70 tấn/ha Tất cả các giống cà chua triển vọng trên đều là giống lai (hybrid) (AVRDC Learning Center, 1990-2005)

Cùng với với nghiên cứu của các nhà khoa học, các công ty rau quả Technisem của Pháp năm 1992 cũng đưa ra nhiều giống cà chua lai (F1) rất tốt: Smal Fry VFN, Perle Rouge, Carmina, Fanrtasia VFN, Xina Các giống này có đặc điểm: Sinh trưởng phát triển khoẻ, chống chịu sâu bệnh hại khá, năng suất cao, quả chắc, hàm lượng chất khô cao, chịu vận chuyển (Nguồn tài liệu của Technisem, 1992) Công

ty S&G seeds (Hà Lan) mới đưa ra các giống cà chua lai thích hợp trồng ở vùng nhiệt đới như: Rambo (GC775), victoria (GC787), Jackal (EG438), Mickey (S902) chống chịu tốt với sâu bệnh hại, có tỷ lệ đậu quả và tiềm năng năng suất cao (Macua, 2002)

Do nhu cầu ngày càng cao về giống cà chua lai có năng suất cao, chất lượng tốt Vì vậy, công ty giống rau quả của nhiều nước trên thế giới đã nghiên cứu và

Trang 25

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 18

chuyển giao nhiều giống cà chua lai mới Giống cà chua của công ty rau quả Takkii Seed Nhật Bản như: Master No2, Grandeur, Challenger, Tropicboy, T-126 nhóm quả lớn 200-250 gam/quả, quả chắc chịu vận chuyển và bảo quản dài Các giống VL2000, VL 2910 của công ty PS seed (Mỹ) Các giống cà chua như: Grace, Ladyship, King Kong của công ty Known-You seed có năng suất cao chất lượng quả tốt và thích hợp trồng ở nhiều nước (Abdul baki Stommel, 1995; Kallo, 1988), trong đó Việt Nam cũng trồng với diện tích đáng kể trong vụ đông ở đồng bằng Bắc Bộ

Công nghệ sản xuất hạt giống cà chua ở các nước: Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan được hiện đại hoá, công nghiệp hoá hoàn toàn Các công ty lớn: PS seed (Mỹ), Takils (Nhật), Roayl Sluis (Hà Lan), Known you seed (Đài Loan) Hạt giống

đa phần được sản xuất trong nhà lưới, cách ly, được chăm sóc ở điều kiện tối ưu Sử dụng các dòng mẹ bất dục chức năng, nguyên sinh chất, nhân nhằm giảm bớt công khử đực, sử dụng các máy thu gom hạt phấn, bảo quản hạt phấn Năng suất hạt cà chua lai khá cao 120 - 150 kg/ha Hạt giống được xử lý, bảo quản, chế biến sạch sâu bệnh, đóng gói bao bì nhãn mác hấp dẫn (Phạm Hồng Quảng và cs., 2005)

Các nghiên cứu về dinh dưỡng khoáng và sinh lý quang hợp của cà chua đã giúp cho việc xây dựng công nghệ trồng cà chua trong điều kiện che chắn (nhà lưới, nhà kính) nhằm đạt năng suất xấp xỉ với mức tiềm năng (300-600 tấn/ha/vụ) (Trần Khắc Thi, 2004)

Hiện nay, việc hợp tác giữa AVRDC với các công ty tư nhân ngày càng mở rộng và có hiệu quả Qua nghiên cứu 29 công ty giống của Châu Á cho thấy 33% các giống sẽ đưa ra trong tương lai có sử dụng nguồn gen của AVRDC Các nguồn gen có nhu cầu cao là: gen kháng bệnh(33%); chịu nóng(20%); thích ứng rộng (17%); chất lượng cao(15%); năng suất cao(14%)

1.3.1.2 Tình hình nghiên cứu, chọn tạo giống cà chua có khả năng chống chịu với bệnh hại

Song song với hướng chọn tạo giống cà chua chống chịu với điều kiện bất thuận, chọn tạo giống cà chua có khả năng chống chịu với các loại bệnh hại cũng là một hướng đi dành được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học

Trang 26

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 19

Trong chương trình nghiên cứu về mối quan hệ của cà chua trồng và cà chua dại với bệnh virút xoăn lá cà chua, các nhà khoa học đã thử nghiệm, đánh giá khả năng kháng bệnh virút xoăn lá của 1201 dòng, giống cà chua ở cả hai điều kiện: trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng từ năm 1986-1989 Kết quả nghiên

cứu cho thấy có 4 dòng cà chua thuộc 2 loài (L.hirsutum và L.peruvianum) là:

PI390658; PI390659; PI127830; PI127831 có khả năng kháng với bệnh xoăn lá cà chua Ở cả hai điều kiện thử nghiệm, các dòng này đều không có biểu hiện triệu chứng của bệnh xoăn lá cà chua sau khi lâu nhiễm bệnh bằng bọ phấn trắng Ngoài

ra, khi tiến hành theo dõi về mật độ và thời gian sống của bọ phấn giữa các dòng kháng và dòng mẫn cảm trên đồng ruộng cho kết quả: Ở các dòng kháng, mật độ bọ phấn là 0-4 con/m2, thời gian sống của bọ phấn trưởng thành là 3 ngày Còn trên các dòng mẫn cảm thì có kết quả là 5-25con/m2 và 25 ngày (Muniyappa, 1991) Việc nghiên cứu giống chịu nhiệt và chống héo xanh vi khuẩn đã được các nhà chọn giống Indonesia quan tâm nhằm phát triển cà chua ở các vùng đất thấp Nghiên cứu được tiến hành trên các dòng, giống nhập nội và con lai của các dòng, giống đó với các giống địa phương Trong chương trình đó đã có hai giống được công nhận là Berlian và Mutiara (Permadi, 1989)

Ở Philipin, trường Đại học Nông nghiệp Philipin cũng tập trung nghiên cứu, phát triển những giống cà chua có khả năng chống bệnh và đậu quả ở nhiệt độ cao

Họ đã đưa ra được một số giống vừa có khả năng chống bệnh héo xanh vi khuẩn, vừa có khả năng đậu quả trong điều kiện nhiệt độ cao như: Marikit; Maigaya; Marilag (Soriano, 1989)

Trong chương trình đánh giá 15 giống cà chua phục vụ chế biến tại Đại học Kasetsart, đã chọn được hai giống PT4225 và PT3027 của AVRDC cho năng suất quả cao, chất lượng tốt, chống nứt quả, chống virut trong điều kiện nhiệt đới (Chu Jinping, 1994)

Kết quả thử nghiệm so sánh 156 giống nhập nội, Jiulong, Dahong đã đưa ra 4 giống gồm: Flora 544 ;Heise 6035; Ohio 823; FL.7221 Bốn giống này thể hiện tính kháng bệnh Cucumovirus và Tomabovirus (Lin Jinsheng; Wang Longzhi, 1994) Trong chương trình hợp tác cải tiến giống cà chua có triển vọng của Viện

Trang 27

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 20

Nghiên cứu & Phát triển Nông nghiệp Malaisia (MARDI) với Trung tâm nghiên cứu & phát triển rau Châu Á (AVRDC) và Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Nhiệt đới (TARC) đã đưa ra được 6 dòng có khả năng chịu nhiệt, chịu héo xanh vi khuẩn là: TM1; TM2; TM3; TM5; TM6 và TM10 (Melor, 1986)

Nhiễm bệnh viruts xoăn lá (ToLCV) vào giai đoạn ra hoa sẽ làm giảm đáng

kể năng suất cà chua Từ năm 2002-2004, các nhà khoa học của AVRDC đã tiến hành thử nghiệm, đánh giá khả năng kháng bệnh ToLCV của 6 giống cà chua (CHT1312, CHT1313, CHT1372, CHT1374, CHT1358 và Tainan-ASVEG No.6 - đối chứng) ở bốn địa điểm: AVRDC, Annan, Luenbey, Sueishan Kết quả cho thấy, khả năng kháng của các giống CHT là rất tốt, tỷ lệ nhiễm bệnh chỉ từ 5-11% trong khi tỷ lệ nhiễm bệnh của đối chứng luôn ở mức cao 74-100% (2002) và 86,5-100% (2003) (AVRDC report, 2002; 2003; 2004)

Dựa vào những kết quả nghiên cứu của PYTs, Đài Loan đã đưa các giống cà chua lai CHT1200, CHT1201 vào sản xuất với tên gọi chính thức là Hualien-ASVEG No.13 và Hualien-ASVEG No.14 Các giống này có quả dạng oval, chắc, khi chín có màu vàng cam, hàm lượng ß-carotene cao, tỷ lệ nứt quả thấp, có khả năng kháng ToMV và nấm héo rũ Fusarium chủng 1 và 2

Tháng 8/2005, AVRDC giới thiệu 3 giống cà chua mới là CLN2026D; CLN2116B; CLN2123A Cả 3 giống này đều thuộc loại hình sinh trưởng hữu hạn, có khả năng chống chịu với nhiều loại bệnh hại như héo xanh vi khuẩn, héo rũ, xoăn lá, đốm lá, khảm lá, các giống này cũng có khả năng chịu nóng tốt (AVDRC, 2005) Đến tháng 1/2006, AVRDC tiếp tục đưa ra giống cà chua mới CLN2498 Đây là giống sinh trưởng bán hữu hạn, có gen có chứa alen Ty-2 (được lấy từ giống H24 của Ấn Độ) giúp giống này có khả năng chống chịu đặc biệt với virus xoăn lá cà chua (ToLCVs) ở nhiều điều kiện sinh thái khác nhau Ngoài ra, giống này còn có năng suất khá (50 tấn/ha), chất lượng tốt (AVDRC, 2006)

Tháng 01 năm 2007 dòng cà chua quả nhỏ màu vàng CHT1417 đã được công nhận là giống mới và với tên gọi là ‘Hualien Asveg 21’ Đây là giống sinh trưởng

vô hạn, quả dạng oval khi chín có màu vàng cam, quả chắc, hương vị tốt, tỷ lệ nứt quả thấp Đặc biệt, giống này có các gen Ty-2, Tm-2a, I-1 và I-2 giúp tăng khả năng

Trang 28

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 21

kháng với các bệnh ToLCV, khảm lá và vi khuẩn héo rũ chủng 1 và 2 (Su-Szu Yang

et al., 2007)

Việc xác định và chuyển gen kháng bệnh sang các loài cà chua trồng (L

esculentum) bằng biện pháp lai đã giúp tạo ra nhiều giống kháng bệnh, tạo lên sự

phong phú cho bộ giống cà chua kháng bệnh trên thế giới Các nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau Châu Á đã nhận biết được nhiều vật liệu mang gen kháng ToMV Một số vật liệu chứa gen Tm22 đã được dùng trong lai tạo giống như: L127 (ah-Tm22a), Ohio MR-12, MR-13

Hiện nay các nhà khoa học đang tập trung nghiên cứu tạo ra giống cà chua chịu điều kiện nhiệt độ nóng ẩm ở các nước nhiệt đới Vì nhiều công trình nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau Châu Á (AVRDC) cho thấy những giống cà chua chọn tạo trong điều kiện ôn đới không thích hợp với điều kiện nóng

ẩm vì sẽ tạo những quả kém chất lượng như màu đỏ nhạt, nứt quả, vị nhạt hoặc

chua… (Kuo et al., 1998)

1.3.1.3 Tình hình nghiên cứu, chọn tạo giống cà chua chất lượng cao phục vụ ăn tươi, chế biến

Để cải tạo chất lượng giống cà chua thì cà chua hoang dại được coi là nguồn vật liệu khởi đầu quan trọng vì ở những loài này thường có hàm lượng đường, vitamin cao (Tigchelar, 1986) Các nhà khoa học thường tiến hành lai giữa loài

trồng với loài L.peruviamum nhằm nâng cao hàm lượng đường, vitaminB, C Các

nhà khoa học Bungari cho rằng lai giữa dạng trồng với dạng dại L race nige rum thuộc biến chủng var race nige rum sẽ nâng cao được lượng chất khô trong quả Còn khi chọn chủng var Chlolgatum làm vật liệu sẽ có hàm lượng đường cao Để

có giống vừa chống được bệnh mốc sương lại có hàm lượng vitaminC cao, nên cho lai với chủng Pimpine llifolium Chính các nghiên cứu đã mang đến cho người Bungari giống cà chua trắng nổi tiếng

Hương vị của cà chua được quyết định bởi các yếu tố: hàm lượng đường tự

do (Fructoza và Glucoza), hàm lượng axít hữu cơ và tỷ lệ đường/axít Hàm lượng đường tự do trong quả tạo nên trên 50% lượng chất khô tổng số Chính vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm làm tăng hàm lượng chất khô cho các giống đã

Trang 29

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 22

có năng suất cao thông qua việc lai tạo giữa các loài khác nhau của chi Lycopersicon Tuy nhiên, năng suất lại tỷ lệ nghịch với hàm lượng chất khô nên cần dung hoà hai yếu tố này (dẫn theo Nguyễn Thanh Minh, 2004)

Cũng bằng phương pháp lai tạo, mới đây giáo sư Ralph Bock thuộc viện kỹ thuật sinh hóa học cây trồng Munter (Đức) đã tạo ra giống cà chua có khả năng gia tăng sức khỏe Loại cà chua này cà màu đỏ rực rất giàu vitamin, protein, nhất là tiền vitaminA

Ngoài việc tăng cường vitamin, hàm lượng đường các nhà khoa học cũng bắt đầu chú ý đến việc đưa một số chất kháng sinh vào trong quả cà chua nhằm góp phần trị bệnh, tăng cường khả năng miễn dịch cho con người Với mục tiêu này, sau

10 năm nghiên cứu, Trung tâm Nghiên cứu công nghệ sinh học thuộc Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Trung Quốc đã cho ra đời giống cà chua có khả năng chống lại sự xâm nhập của viruts gây bệnh viêm gan B vào cơ thể con người (dẫn theo Nguyễn Thanh Minh, 2004)

Các nhà khoa học Anh và Hà Lan đã thành công khi cấy một gene qui định việc tạo ra chất Flavonol của loài hoa Dạ Yên Thảo vào cây cà chua để tạo ra giống

cà chua có khả năng chữa bệnh ung thư và tim

Theo Bùi Chí Bửu, đến cuối năm 1997, có 48 sản phẩm chuyển gen của 12 loại cây trồng đã được thương mại hoá Trong đó, cà chua biến đổi gen chiếm 13% Với tỷ lệ thương mại hoá khá cao như vậy, các nhà khoa học ở Novosibirsk đang phát triển việc nghiên cứu đưa loại vacxin chống bệnh AIDS vào cà chua thông qua biến đổi gen Nhiều nghiên cứu cho rằng các mầm gây bệnh ở người và động vật (viruts, prion ) không sinh sản trong các tế bào thực vật nên khi sử dụng các protein tổng hợp từ cây biến đổi gen an toàn hơn nhiều so với các sản phẩm có nguồn gốc từ động vật

Năm 2003, AVRDC đã đưa ra giống cà chua quả vàng có hàm lượng caroten cao gấp 3-6 lần so với giống cà chua màu đỏ Giống này còn có hàm lượng axít, độ ngọt tương đương so với các giống cà chua quả đỏ Giống cà chua này sẽ góp phần làm giảm tỷ lệ quáng gà, mù cho trẻ em, đặc biệt là trẻ em ở các nước đang và kém phát triển (Calvert, 1957)

Trang 30

β-Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 23

Chất lượng quả cà chua còn phụ thuộc vào tỷ lệ giữa độ chắc và dịch quả trong ngăn hạt Dịch quả là nguồn axít quan trọng và giúp người sử dụng cảm nhận hương vị của quả cà chua Theo Stevens, việc tăng hàm lượng axít và đường trong thành phần dịch quả là việc làm cần thiết để tạo hương vị tốt cho những giống cà chua mới, đặc biệt là các giống phục vụ cho nhu cầu ăn tươi (Stevens, 1978) Tuy nhiên, lượng dịch quả cao thường gây khó khăn trong công tác vận chuyển, bảo quản và thu hoạch Chính vì vậy, phải chú ý kết hợp hài hoà về tỷ lệ giữa độ chắc quả và dịch quả ( Eskin, 1989)

Theo Jamina Zdravkovse et al (1999), khi gây đột biến gen ALC, quả có thể

bảo quản 100% trong thời gian 140 ngày và 71% trong thời gian 243 ngày Khả năng bảo quản quả giảm dần ở dị hợp tử giữa gen Nor và gen Rin ( khoảng 60%) Dưới điều kiện ẩm độ thấp, nhiệt độ 250C thì quả nhỏ của đột biến gen Nor bị hỏng nhanh hơn đột biến bởi gen Rin

Bên cạnh các hướng chọn giống trên, chọn giống năng suất, có thời gian bảo quản dài hay chọn tạo giống phục vụ cho công nghiệp cũng là những hướng đi được các nhà khoa học quan tâm Ở Philipin, một loạt giống được chọn tạo nhằm phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến như: Peto 93; 94; Proaco; BP1; THD.1

1.3.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ và chế biến cà chua trên thế giới

Với khả năng thích ứng rộng, có tác dụng lớn về mặt dinh dưỡng, y học cũng như kinh tế và sự yêu thích của người tiêu dùng, cây cà chua đã trở thành một trong những cây trồng chính và chiếm vị trí số 1 trong ngành sản xuất rau của nhiều nước trên thế giới

và được trồng rộng rãi ở các châu lục Theo FAO (1999), trên thế giới có 158 nước trồng

cà chua (dẫn theo Tạ Thu Cúc, 2002) Theo số liệu thống kê mới nhất, có khoảng 7.500 giống cà chua được canh tác trên khắp toàn cầu Kết quả phân loại được dựa trên kích thước, màu sắc và loài Màu sắc khởi thủy và tự nhiên của giống cà chua đầu tiên trên thế giới là màu vàng

Diện tích, năng suất, sản lượng cà chua ở các châu lục trên thế giới như sau:

Trang 31

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 24

Bảng 1.2: Diện tích năng suất sản lượng cà chua của các

châu lục năm 2012

Châu lục Diện tích

(nghìn ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

có điều kiện tự nhiên thích hợp, mặt khác do áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong

Trang 32

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 25

đó có tiến bộ về giống Vấn đề đặt ra cho các nước Châu Á cần nghiên cứu chọn lọc những bộ giống tốt có khả năng thích nghi rộng và cho năng suất cao

Bảng 1.4: Sản lượng cà chua của các nước trên thế giới

ĐVT: Tấn

China 31 618 470 32 519 322 36 096 890 39 938 708 45 365 543 41 879 684 U.S.A 11 918 300 12 257 200 14 185 200 12 735 100 14 181 300 12 902 000 Turkey 10 500 000 9 854 000 9 945 000 10 985 400 10 745 600 10 052 000 India 8 825 400 9 820 400 10 055 000 10 303 000 11 148 800 11 979 700 Egypt 7 600 000 8 576 070 8 639 020 9 204 100 10 278 500 8 544 990 Italy 7 187 010 6 361 200 6 530 160 5 976 910 6 878 160 6 024 800 Iran 4 781 020 5 064 570 5 534 270 4 826 400 5 887 710 5 256 110 Spain 4 810 300 3 800 550 4 081 480 4 049 750 4 603 600 4 312 700 Brazil 3 452 970 3 362 660 3 431 230 3 867 660 4 310 480 3 691 320 Mexico 2 800 120 2 899 150 3 150 350 2 936 770 2 591 400 2 997 640 Russia 2 295 900 2 414 860 1 791 010 1 938 710 2 170 390 2 000 000 Greece 1 713 580 1 568 730 1 464 840 1 338 600 1 561 000 1 406 000 Uzbekistan 1 317 160 1 583 570 1 680 000 1 930 000 2 110 000 2 347 000

Ukraine 1 471 800 1 751 000 1 405 400 1 492 100 2 040 800 1 824 700 Morocco 1 205 210 1 245 000 1 237 030 1 312 310 1 230 470 1 277 750 Portugal 1 085 070 983 191 1 236 240 1 476 000 1 346 700 1 406 100 Nigeria 889 500 896 000 1 079 000 1 701 000 1 333 570 1 860 600 Syria 945 500 1 035 790 1 232 500 1 163 300 1 165 610 1 156 000 Tunisia 960 000 855 000 1 000 000 1 200 000 1 135 000 1 100 000 France 790 252 736 298 679 571 714 682 775 202 774 355 Netherlands 660 000 680 000 685 000 730 000 800 000 815 000 Poland 600 664 651 567 689 719 702 546 709 223 677 648 Belgium 229 610 238 200 222 600 226 200 232 100 262 500

( Source : French Minisitry of Agriculture and the Statistical Division (FAOSTAT)

of the Food and Agriculture Organization of the United Nations (FAO))

Trang 33

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 26

Qua bảng 1.4, chúng ta thấy, Cà chua được sản xuất chủ yếu ở các nước ôn đới và á nhiệt đới Qua các năm 2005; 2008; 2009, sản lượng cà chua trên thế giới

và mười nước dẫn đầu luôn tăng Trung Quốc và Mỹ là 2 nước có sản lượng cà chua cao nhất thế giới Trong đó, Trung Quốc đạt sản lượng cà chua cao nhất thế giới vào năm 2009, đạt 45.365.543 tấn, chiếm 24,1% sản lượng cà chua trên toàn thế giới, Mỹ đạt sản lượng 14.181.300 tấn

Châu Âu luôn là khu vực xuất khẩu cà chua lớn nhất thế giới ở tất cả các dạng sản phẩm, năm 1999 xuất khẩu cà chua cô đặc của châu Âu chiếm 56% lượng xuất khẩu của thế giới, trong khi đó châu Á là 24% Mặc dù lượng cà chua được sản xuất

ra ở châu Âu tương đối lớn, nhưng hàng năm các nước như: Anh, Đức, Hà Lan, Italia, Bỉ và Tây Ban Nha vẫn phải nhập khẩu khoảng 21 triệu tấn cà chua tươi, bằng 60% lượng nhập khẩu của toàn thế giới (Trần Khắc Thi, 2003)

Đối với xuất nhập khẩu, ngày nay các nước phát triển có xu hướng tăng nhập khẩu cà chua tươi cũng như các sản phẩm chế biến của nó, đây là điều kiện tốt cho các nước đang phát triển Tuy-ni-di là nước chế biến cà chua lớn nhất châu Phi, nhưng lại

là nước tiêu thụ cà chua cô đặc lớn nhất thế giới với 743 nghìn tấn trên năm từ 2004 trở lại đây Mặc dù vậy, Tuy-ni-di vẫn có khả năng xuất khẩu cà chua chế biến, từ năm

2005 đến nay Tuy-ni-di xuất khẩu sang các nước láng giềng và châu Âu từ 20-25 nghìn tấn (USDA-Agricultural statics, 2008)

Lượng cà chua trao đổi trên thị trường thế giới tăng lên hàng năm Năm 1999

là 36,7 triệu tấn, trong đó cà chua được dùng ở dạng quả tươi từ 5-7%, còn lại chủ yếu là các loại sản phẩm đã qua chế biến (Nguyễn Xuân Hiền, 2003) Năm 2005 tổng lượng nhập khẩu trên thế giới là 46,8 triệu tấn và xuất khẩu 48,9 triệu tấn, trong đó giá trị nhập khẩu cà chua trên thế giới là 4.899.322,99 nghìn USD và giá trị xuất khẩu 4.982.024,16 nghìn USD (FAOSTAT Statistics Division, 2008)

Về cà chua chế biến: Các nước có sản lượng cà chua chế biến đứng đầu thế giới là Trung Quốc và Mỹ Mỹ có gần 85% sản lượng cà chua chế biến được sản xuất tại Clifornia với quy mô lớn từ 50-70 ha, có khi lên tới 240 ha, việc sản xuất và thu hái được cơ giới hoá đồng bộ

Trung Quốc không chỉ xuất khẩu các sản phẩm cà chua đáng kể đến Italy, Nga, mà còn xuất khẩu đến Châu phi, Trung Á và các nước khác Năm 2009, sản

Trang 34

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 27

phẩm từ cà chua của Trung Quốc đã xuất khẩu trên 150 nước, đặc biệt là Italy, Nga

và Nigeria chiếm 13%; 12,1% và 6,8%

Về tình hình tiêu thụ cà chua trên thế giới khá biến động và tùy thuộc vào nhu cầu tiêu thụ đầu người của mỗi quốc gia Theo tài liệu của Thế Mậu, Viện nghiên cứu rau quả cho biết, người Hy Lạp tiêu thụ 187,1kg/người/năm, cao nhất thế giới, sau đó đến Thổ Nhĩ Kỳ 107kg và Ý 95kg/người/năm (Thế Mậu, 2003; Viện nghiên cứu rau quả, 2000)

Nguyên nhân dẫn đến sự phát triển về thị trường mậu dịch cà chua là do sự gia tăng mối quan tâm đến rau quả tươi của người tiêu dùng, nguồn cung cấp dồi dào trên thế giới và đặc biệt đó là chính sách giảm thuế và việc tăng cường xúc tiến thương mại của các nước Về nhập khẩu thì Nga, Canađa được coi là những thị trường và tiềm năng của thế giới (Trần Khắc Thi, 2003)

1.4 Tình hình nghiên cứu, sản xuất và tiêu thụ cà chua ở Việt Nam

1.4.1 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống cà chua ở Việt Nam

Cà chua xuất hiện ở Việt Nam từ hơn 100 năm nay, trong suốt thời gian ấy các nhà khoa học luôn tìm tòi nghiên cứu để làm sao có được những giống cà chua đáp ứng được nhu cầu của con người Tuy nhiên, công tác nghiên cứu giống chính thức được bắt đầu vào thập niên 60 của thế kỷ trước Có thể khái quát thành các giai đoạn chính như sau:

Giai đoạn 1(1968-1985):

Ở giai đoạn này, các công tác nghiên cứu tập trung chủ yếu vào việc nhập nội, khảo nghiệm và tuyển chọn giống từ tập đoàn này Trong giai đoạn này, năng suất được coi là mục tiêu đầu tiên của chọn giống

Theo các tác giả Vũ Tuyên Hoàng, Trần Khắc Thi và Mai Phương Anh thì để

có năng suất cao cần phải chọn được giống có số quả/cây lớn hơn 10 và trọng lượng trung bình quả đạt 70÷80g Trong giai đoạn này, bằng nhiều phương pháp khác nhau, các nhà khoa học của các đơn vị nghiên cứu đã chọn tạo được nhiều giống cà chua có năng suất cao như: giống cà chua số 7 (khối lượng trung bình quả từ 80÷100g), giống cà chua 214 (năng suất: 40÷45 tấn/ ha), giống cà chua "03", giống HP5 (trọng lượng quả cao 80÷100g, có khả năng chịu nóng, nhanh cho thu hoạch) Bên cạnh hướng chọn tạo chính là năng suất, các nghiên cứu về khả năng kháng

Trang 35

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 28

bệnh của cà chua cũng được quan tâm Bằng phương pháp đánh giá tập đoàn gồm 100 mẫu giống cà chua trồng trong điều kiện vụ xuân hè với các mục tiêu: khả năng kháng bệnh, năng suất, chất lượng Tạ Thu Cúc (1985) kết luận rằng: khả năng chống bệnh giảm dần theo thứ tự: cà chua dại L.racemigerum, Pháp số 7, BCA-5, Cuba; Cho năng suất cao gồm các giống:BCA-5, Nhật số 2, BCA-1, Ruko 3, BCA 3 và một số giống cho chất lượng tốt như: Pháp số 7, Rutgers, Saintpierre, Nhật số 2, Ogort, Triumph Cũng bằng việc nghiên cứu trên nguồn giống cà chua nhập nội, Trung tâm nghiên cứu cây trồng Việt Xô đã chọn tạo được một số mẫu giống chín sớm, năng suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu bệnh như: Raketa, Salut, Bogdannovskii (Trần Đình Long và cs., 1992)

Giai đoạn 2 (1986-1996):

Các chương trình nghiên cứu đã được tập trung vào các chương trình khoa học cấp nhà nước với nhiều mục tiêu: tạo giống chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận, giống kháng bệnh, giống chất lượng

Bằng phương pháp chọn lọc, từ 17 mẫu giống nhập nội, trong thời gian 3 năm (1991÷1994), Viện nghiên cứu rau quả đã tìm ra giống cà chua quả nhỏ chịu nhiệt (Vũ Thị Tình, 1998)

Từ năm 1989, Trung tâm Kỹ thuật rau quả Hà Nội đã chọn lọc được giống CS1 từ quần thể lai của Trung tâm Nghiên cứu và phát triển rau Châu Á Đây là giống có năng suất khá cao, có khả năng chống chịu tốt nhưng phẩm vị ăn tươi kém (Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, 2005)

Từ năm 1991-1995, với chương trình KN.01 “ Phát triển cây lương thực, cây thực phẩm” đã có nhiều giống cà chua chất lượng được giới thiệu: Giống Hồng lan (Giống được GS.VS Vũ Tuyên Hoàng và cộng sự tuyển chọn từ một dạng đột biến

do xử lý lạnh cây con của giống Ba Lan trắng Giống có thời gian sinh trưởng

110-120 ngày, sinh trưởng bán hữu hạn, thích ứng rộng, trồng tốt trong vụ đông xuân ở nhiều vùng sinh thái khác nhau Nhóm quả lớn trung bình 85-100 gam, năng suất cao và ổn định từ 35-40 tấn/ha (Tạ Thu Cúc, 1994) Đây là giống có năng suất cao, khả năng thích ứng rộng, giống được công nhận giống quốc gia năm 1993 (Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, 2005)

Giống SB2 của Viện Khoa học kỹ thuật miền Nam chọn lọc từ tổ hợp lai Star

Trang 36

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 29

x Balan, cây thuộc dạng hình bán hữu hạn, thời gian sinh trưởng 110-120 ngày, năng suất đạt 35-40tấn/ha

Giống CS1 do Trung tâm kỹ thuật rau quả Hà Nội chọn lọc từ quần thể lai cà chua nhập nội từ Trung tâm rau châu Á (AVRDC) Giống có thời gian sinh trưởng

110 -120 ngày Thời gian ra hoa, quả tập trung, nhóm quả nhỏ 40-50gam, chất lượng tốt, năng suất đạt 25- 30 tấn/ha vụ đông, 35-40 tấn/ha vụ xuân hè Tạ Thu Cúc, 1994)

Giống cà chua P375: là giống được chọn lọc cá thể nhiều đời từ giống cà chua của Đài Loan nhập nội do tác giả Viết Thị Tuất và Nguyễn Thị Quang thuộc Trung tâm kỹ thuật Rau- Hoa Quả Hà Nội Giống có chiều cây cao 160-180 cm, dạng hình sinh trưởng vô hạn, thân lá xanh đậm, quả tròn đẹp, khối lượng trung bình quả 100-110gam, năng suất 40-45 tấn/ha, chất lượng quả tốt, chịu vận chuyển

Giống MV1 do tác giả Nguyễn Hồng Minh - Trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam chọn lọc từ giống cà chua nhập nội của Modavi MV1, thời gian sinh trưởng 90-100 ngày, có thể trồng vụ xuân hè, hoa nhỏ ra tập trung, nhóm quả nhỏ, chín màu đỏ thẫm, ăn ngon Năng suất 52-60 tấn/ha vụ đông, 33-46 tấn/ha vụ xuân

hè (Nguyễn Hồng Minh, Kiều Thị Thư, 1999)

Giống cà SB3 của Viện Khoa học kỹ thuật miền Nam, giống Red Crown 250 của công ty giống cây trồng miền Nam và hàng chục giống triển vọng được khảo nghiệm

Giai đoạn 3 (1996 - 2000):

Các nghiên cứu theo hướng tạo giống thâm canh, giống chịu nhiệt trồng trái

vụ, giống có năng suất cao, chống chịu tốt và dễ dàng sử dụng với dưới nhiều hình thức Với các chương trình này nhiều giống cà chua lai cùng quy trình sản xuất hạt lai đã được xây dựng Các phương pháp chọn giống truyền thống kết hợp chọn giống tiên tiến được áp dụng Những thành công đầu tiên trong tạo giống cà chua ưu thế lai (F1) của Việt Nam được công bố

Qua nhiều năm nghiên cứu, thử nghiệm với tập đoàn giống cà chua có nguồn gốc từ Mondavi, các tác giả Nguyễn Hồng Minh, Kiều Thị Thư đã tuyển chọn được giống cà chua MV1, có khả năng chịu nóng trồng được trái vụ, đáp ứng về năng suất

và chất lượng thương phẩm, năng suất đạt từ 26,73÷42,3 tấn/ha và đã được công nhận giống Quốc gia năm 1998 (Nguyễn Hồng Minh và Kiều Thị Thư, 1998) Đây là giống

Trang 37

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 30

cà chua chịu nóng, trồng trái vụ đầu tiên được chọn tạo ở nước ta và được trồng trên diện tích lớn ở vụ sớm và vụ muộn Xuân Hè

Từ năm 1996-1998, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, đã tiến hành thí nghiệm 15 giống cà chua chế biến nhập từ Trung tâm rau Châu Á Kết quả

đã chọn được giống cà chua chế biến có năng suất cao, phẩm chất tốt là: PT5679B; PT4678B; PT4675B Cùng trong giai đoạn này, bằng phương pháp chọn lọc cá thể qua nhiều thế hệ, các tác giả tại Viện nghiên cứu Rau quả đã chọn tạo được giống PT18, là giống có khả năng chống chịu khá với nhiều loại bệnh hại, năng suất và chất lượng phù hợp với chế biến (Trần Văn Lài, 2005)

Năm 1999 Viện nghiên cứu Rau quả cho ra đời giống cà chua chịu nhiệt XH2

và đã được công nhận giống Quốc gia (Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, 2005) Trong chương trình tạo giống cà chua chịu nhiệt, bộ môn Di truyền giống Trường Đại học Nông nghiệp I đã tạo ra giống cà chua lai HT7 Đây là giống có khả năng chịu nhiệt tốt, năng suất và phẩm chất ở mức khá, chịu vận chuyển và bảo quản lâu Giống HT7 đã được công nhận giống Quốc gia năm 2000 (Nguyễn Hồng Minh, Kiều Thị Thư, Trần Đình Long, 2000)

Để phục vụ mục tiêu tạo giống cà chua phục vụ trong công nghiệp chế biến và xuất khẩu, Bằng phương pháp chọn dòng từ tổ hợp lai (NN325 x số 7), Viện cây Lương thực và thực phẩm đã chọn được giống cà chua chế biến C95 Đây là giống có năng suất cao, chất lượng tốt, đạt tiêu chuẩn chế biến công nghiệp và đã được các nhà máy chế biến chấp nhận (Trần Văn Lài, 2005)

Giai đoạn 4 (Từ 2001đến 2006 trở đi):

Các đề tài nghiên cứu về chọn tạo giống rau, cà chua được bố trí trong chương trình cấp nhà nước KC06, KC07 (2001-2005) và chương trình giống cây trồng vật nuôi của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, chương trình này có đề tài “Nghiên cứu chọn tạo, công nghệ nhân giống và kỹ thuật thâm canh một số loại rau chủ yếu" do Viện Nghiên cứu rau quả chủ trì Trong giai đoạn này, công trình nghiên cứu được tập trung có chiều sâu Nhiều giống lai F1, giống cà chua chất lượng được công nhận, quy trình công nghệ sản xuất hạt lai, quy trình kỹ thuật sản xuất cà chua công nghệ cao và quy trình sản xuất cà chua an toàn được phổ biến và

áp dụng rộng rãi

Trang 38

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 31

Từ bộ giống gồm 12 giống cà chua với đặc tính chống chịu bệnh héo xanh vi khuẩn của Trung tâm Nghiên cứu và phát triển rau Châu Á, Viện Nghiên cứu Rau quả đánh giá, so sánh và chọn lọc cá thể nhiều lần ở nhiều thời vụ từ năm 2000-2002

đã xác định được giống cà chua CLN1462A là giống có triển vọng nhất về năng suất cũng như khả năng chống chịu một số đối tượng sâu bệnh hại chính trên cà chua, đặc biệt là héo xanh vi khuẩn và được đặt tên là CHX1 (Trần Văn Lài, 2005)

Bằng phương pháp so sánh, đánh giá một số giống cà chua chế biến nhập nội, các tác giả Nguyễn Thanh Minh, Mai Thị Phương Anh đã đưa ra một số giống cà chua vừa có năng suất cao, vừa đạt tiêu chuẩn chế biến như CB9A, CB7A, CB4A (Nguyễn Thanh Minh, 2004)

Sử dụng ưu thế lai trong chọn tạo giống cà chua là một phương pháp chọn giống có hiệu quả và là hướng đi căn bản nhất mà nhiều nước đang ứng dụng Cũng bằng phương pháp này, từ vụ đông năm 1999, các nhà khoa học thuộc Viện cây lương thực, thực phẩm đã phát hiện ra con lai F1 của tổ hợp lai (15 xVX3) và đặt tên

là VT3 Đây là giống có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, năng suất cao, chín sớm, chống chịu bệnh sương mai, héo xanh khá Giống được công nhận tạm thời năm 2004 (Trần Văn Lài, 2005) Trong đề tài “Chọn tạo, nhân giống và kỹ thuật thâm canh một

số cây rau chủ lực” với hợp phần “Tạo giống cà chua ưu thế lai”, nhóm tác giả Nguyễn Hồng Minh, Kiều Thị Thư đã tạo ra các giống cà chua theo mô hình cấu trúc cây mới là HT42 và HT160 Đây là giống cà chua chất lượng cao, có thời gian sinh trưởng ngắn, khả năng sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện bất thuận( nhiệt độ cao, nhiệt độ thấp, ít ánh sáng), có khả năng chống chịu tốt với bệnh vi khuẩn (Nguyễn Hồng Minh, 2007)

Với mục tiêu phục vụ chế biến và bằng phương pháp chọn giống ưu thế lai, tác giả Nguyễn Hồng Minh, Kiều Thị Thư đã tạo ra giống HT21 Giống này có năng suất cao(50 - 60 tấn/ha), khối lượng quả khá (60-70g/quả), có khả năng chống chịu bệnh virút, sương mai tốt (Nguyễn Hồng Minh, Kiều Thị Thư, 2006)

Trong suốt quá trình phát triển của khoa học chọn giống cà chua thì chọn tạo giống cà chua quả nhỏ phục vụ công nghiệp chế biến (đóng hộp xuất khẩu) luôn là hướng đi dành được nhiều sự quan tâm Tuy nhiên, từ trước năm 2005, hướng đi này còn bị hạn chế về số lượng và chất lượng Đến năm 2004-2005, các nhà khoa

Trang 39

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 32

học của Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, một trong những đơn vị đứng hàng đầu về công tác chọn tạo giống cà chua, đã hoàn thành quy trình công nghệ sản xuất hạt giống cà chua lai quả nhỏ trên quy mô lớn Đến năm 2006-2007 đơn vị này đã đưa

ra thị trường bộ giống cà chua lai phục vụ cho nội tiêu và xuất khẩu với thương hiệu

HT, như các giống: HT7, HT21, HT144 Giống VT3 do Viện cây lương thực thực phẩm lai tạo Giống FM 29, FM 20, HPT9, lai số 9 được Viện nghiên cứu rau quả tạo

ra Chúng có những ưu điểm vượt trội hơn so với thê hệ bố mẹ, trong đó đại diện một

số giống điển hình như:

- Giống cà chua lai HT7: là giống phối hợp được nhiều tính trạng quý như có khả năng chịu nóng cao, trồng được trong điều kiện trái vụ, thuộc dạng thấp cây, ngắn ngày, nở hoa rộ, quả nhanh chín và có màu đỏ đẹp Giống có ưu điểm về hương vị, khẩu vị, chịu vận chuyển xa và có khả năng bảo quản lâu dài ở điều kiện kho tự nhiên (Nguyễn Hồng Minh, Kiều Thị Thư, 2006)

- Giống lai số 9: Do Viện nghiên cứu Rau quả chọn tạo, được tạo ra do kết quả lai đỉnh giữa 20 dòng thuần của 180 mẫu giống có nguồn gốc khác nhau với giống PT-18 Giống có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, có tiềm năng cho năng suất cao và ổn định từ 65 -78 tấn/ha, thích hợp cho ăn tươi và chế biến (Dương Kim Thoa, Trần Khắc Thi, 2007)

Ngoài ra còn có những giống như: P375, cà chua lai TN19, cà chua chế biến C95, CXH1, cà chua lai T43, cà chua lai TM2016, cà chua lai 2017

Theo nguồn tin từ Thông tin Nông nghiệp Việt Nam-Agroviet, (2005), một

số giống cà chua nhót được giới thiệu trồng trong sản xuất như:

- Giống Thúy Hồng 1657 do Công ty Nông Hữu nhập nội và phân phối, thuộc loại hình sinh trưởng bán hữu hạn, cao từ 1,2-1,5m, thời gian sinh trưởng 80-

85 ngày vụ thu đông, 90-92 ngày vụ xuân hè Giống có khả năng chịu ẩm, chịu nhiệt và kháng bệnh héo rũ khá Quả nhỏ, độ đường cao (8,5 độ), quả cứng, dễ vận chuyển và bảo quản được lâu Năng suất khá cao, trung bình từ 32-40 tấn/ha

- Giống Kim Châu thuộc dạng hình sinh trưởng hữu hạn, cao từ 1,2-1,5m, ra nhiều nhánh phụ, thời gian thu hoạch kéo dài tới 5-6 tháng nếu được chăm sóc thâm canh tốt Quả hình tròn bi, trọng lượng đạt 16g/quả, khi chín có màu đỏ tươi, vỏ dày, độ Brix đạt 9 độ, thích hợp ăn tươi và chế biến

Trang 40

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 33

Trong công tác chọn tạo giống cà chua thì nguồn vật liệu khởi đầu là một yếu

tố hết sức quan trọng Có rất nhiều biện pháp để tạo ra nguồn vật liệu khởi đầu Trong

số đó, có hiệu quả và được sử dụng khá phổ biến là phương pháp gây đột biến nhân tạo Từ nguồn vật liệu là các giống cà nhập nội đã được thuần hoá, chọn lọc, trồng phổ biến ở một số địa phương và các giống thuần và giống lai mới được thu nhập, Các tác giả Đinh Văn Luyện, Lê Thanh Nhuận thuộc Viện Di truyền Nông nghiệp đã tiến hành gây đột biến bằng các tác nhân lý, hoá học Kết quả đã chọn tạo ra một số dòng cà chua có triển vọng như: DT18, 32T, T1T, số 28 Trong số các dòng cà chua triển vọng đã chọn được thì DT18 là dòng cà chua có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt nhất, có tiềm năng năng suất cao nhất và có hình dạng quả phù hợp với mục đích chế biến đóng lọ xuất khẩu (Đinh Văn Luyện và Lê Thanh Nhuận, 2005)

Không chỉ quan tâm tới công tác chọn tạo giống mới, các nhà khoa học cũng thường xuyên nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh, sâu bệnh hại của cà chua Ghép cà chua trên gốc cà tím chính là một trong những tiến bộ đó Theo Trần Văn Lài và cs (2003) tỷ lệ sống của cà chua ghép trên gốc cà tím đạt 92%, cao hơn so với ghép trên cây cà pháo (60%) và cà bát (55%) Cây cà chua ghép không bị bệnh héo xanh vi khuẩn, năng suất và phẩm chất tương đương với cà chua bình thường (Trần Văn Lài, 2000) Còn tác giả Trần Kim Cương cho rằng việc ghép giống cà chua lai 601 lên 2 giống cà tím EG195 và EG203 thì cây cà chua sinh trưởng, phát triển tốt, năng suất và chất lượng quả bình thường Đặc biệt còn chống được bệnh héo xanh vi khuẩn trong điều kiện đồng bằng sông Cửu Long (Tạ Thu Cúc, 2006)

Từ khi chuyển sang kinh tế thị trường với nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều Công ty giống tư nhân, Công ty giống nước ngoài được hình thành và cùng tham gia tích cựu vào công tác nhập giống, tạo giống và chuyển giao cho sản xuất, góp phần làm phong phú bộ giống cà chua dùng cho chế biến Trong số các công ty

ấy nổi lên là Trang Nông, Hoa Sen, Đông Tây, Syngenta Bước đầu các công ty đã chọn được một số giống phù hợp với điều kiện của nước ta từ tập đoàn giống nhập nội Đó là các giống TN184, TN002 (Vô hạn), TN52, TN54 (Hữu hạn) của Trang Nông; VL2000, VL2200 (Công ty Hoa Sen); TM 2016, 2017( công ty Syngenta) Tuy có lịch sử phát triển chưa lâu nhưng công tác chọn tạo giống cà chua của

Ngày đăng: 17/02/2017, 11:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
51. Kang Gaogiang (1994). The comparison of table tomato virieties ARC, AVRDC Training Report, pp.95-99 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ARC
Tác giả: Kang Gaogiang
Năm: 1994
65. Stevens et al. (1977,1978). Varietal and posthavest affects on tomato fruit composition and flavor, In proceeding of the second tomato quality Workshop. Vegatable crops No 178, University of California, Davis, pp.108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: et al
43. FAOSTAT Statistics Division (2008), (2010). http://Faostat.Fao.org Link
1. Mai Thị Phương Anh, Trần Văn Lài và Trần Khắc Thi (1996). Rau và trồng rau (giáo trình dành cho cao học nông nghiệp), NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 164-176 Khác
2. Mai Thị Phương Anh (2000). Rau và trồng rau, NXB Nông nghiệp Hà Nội, tr 164- 176 Khác
3. Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn (2005). Khoa học công nghệ nông nghiệp và phát triển nông thôn 20 năm đổi mới, tập 1, trồng trọt - Bảo vệ thực vật, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, tr.40-56 Khác
4. Võ Văn Chi (1997). Từ điển cây thuốc Việt Nam, NXB Y học, tr. 12 Khác
5. Tạ Thu Cúc, Nguyễn Thành Quỳnh (1983). Kỹ thuật trồng cà chua, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội, tr.29, 41-58 Khác
6. Tạ Thu Cúc (1985). Khảo sát một số giống cà chua nhập nội trồng trong vụ xuân hè trên đất Gia Lâm- Hà Nội, Luận văn PTS. Khoa học kỹ thuật nông nghiệp, Trường ĐHNN I, Hà Nội Khác
7. Tạ Thu Cúc, Hoàng Ngọc Châu, Nghiêm Thị Bích Hà (1994). So sánh 1 số dòng, giống cà chua chế biến, Kết quả nghiên cứu khoa học Khoa trồng trọt 1992-1993, Trường ĐHNN I, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Khác
8. Tạ Thu Cúc, Hồ Hữu An, Nghiêm Thị Bích Hà (2000). Giáo trình cây rau, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr 117-145 Khác
9. Tạ Thu Cúc (2002). Kỹ thuật trồng cà chua, NXB Nông nghiệp Hà Nội tr. 12-14 Khác
10. Tạ Thu Cúc (2006). Giáo trình kỹ thuật trồng cà chua. NXB Nông nghiệp Hà Nội, tr. 5-19 Khác
11. Trần Thị Minh Hằng (1999). Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số tổ hợp lai cà chua trồng trong vụ xuân hè vùng Gia Lâm-Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ khoa học nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp I Hà Nội Khác
12. Nguyễn Văn Hiển (2000). Giáo trình giống cây trồng, NXB Giáo dục Khác
13. Nguyễn Xuân Hiền, Chu Doãn Thành và Hoàng Lệ Hằng (2003). Tiềm năng chế biến sản phẩm cà chua, Báo cáo hội thảo nghiên cứu và phát triển giống cà chua, tại Viện nghiên cứu Rau - Quả, ngày 18/01/2003 Khác
14. Trần Văn Lài, Vũ Thị Tình, Đặng Hiệp Hoà (2000). Kết quả tuyển chọn giống cà chua XH2, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số 3/2000 Khác
15. Trần Văn Lài (2005). Kết quả chọn tạo và công nghệ nhân giống một số loại rau chủ yếu, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr.54-58 Khác
16. Trần Văn Lài, Vũ Thị Tình, Lê Thị Thuỷ và Đặng Hiệp Hoà (2005). Kết quả chọn tạo giống cà chua chịu nhiệt XH5, Kết quả chọn tạo và công nghệ nhân giống một số loại rau chủ yếu, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr.30-36 Khác
17. Thế Mậu (2003). Cà chua - Bách khoa về sức khỏe, NXB phụ nữ, Hà Nội, tr. 13-26 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.4: Sản lượng cà chua của các nước trên thế giới - đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng của các tổ hợp lai cà chua mới trồng trong vụ đông 2014 và xuân hè 2015
Bảng 1.4 Sản lượng cà chua của các nước trên thế giới (Trang 32)
Bảng 3.2: Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp lai - đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng của các tổ hợp lai cà chua mới trồng trong vụ đông 2014 và xuân hè 2015
Bảng 3.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp lai (Trang 54)
Bảng 3.4 Một số đặc điểm cấu trúc cây - đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng của các tổ hợp lai cà chua mới trồng trong vụ đông 2014 và xuân hè 2015
Bảng 3.4 Một số đặc điểm cấu trúc cây (Trang 59)
Bảng 3.6: Tỷ lệ đậu quả của các tổ hợp lai ở vụ Đông năm 2014 (%) - đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng của các tổ hợp lai cà chua mới trồng trong vụ đông 2014 và xuân hè 2015
Bảng 3.6 Tỷ lệ đậu quả của các tổ hợp lai ở vụ Đông năm 2014 (%) (Trang 66)
Bảng 3.7: Các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lai cà chua trồng vụ - đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng của các tổ hợp lai cà chua mới trồng trong vụ đông 2014 và xuân hè 2015
Bảng 3.7 Các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lai cà chua trồng vụ (Trang 69)
Bảng 3.8: Một số chỉ tiêu về chất lượng quả của các THL cà chua trồng vụ - đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng của các tổ hợp lai cà chua mới trồng trong vụ đông 2014 và xuân hè 2015
Bảng 3.8 Một số chỉ tiêu về chất lượng quả của các THL cà chua trồng vụ (Trang 73)
Bảng 3.9. Các tổ hợp lai cà chua triển vọng vụ Đông 2014 - đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng của các tổ hợp lai cà chua mới trồng trong vụ đông 2014 và xuân hè 2015
Bảng 3.9. Các tổ hợp lai cà chua triển vọng vụ Đông 2014 (Trang 75)
Bảng 3.11: Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp lai - đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng của các tổ hợp lai cà chua mới trồng trong vụ đông 2014 và xuân hè 2015
Bảng 3.11 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp lai (Trang 78)
Hình 3.1. Chiều cao cây của các THL vụ Xuân Hè năm 2015 - đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng của các tổ hợp lai cà chua mới trồng trong vụ đông 2014 và xuân hè 2015
Hình 3.1. Chiều cao cây của các THL vụ Xuân Hè năm 2015 (Trang 82)
Bảng 3.15: Tỷ lệ đậu quả của các tổ hợp lai ở vụ Xuân Hè năm 2015 (%) - đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng của các tổ hợp lai cà chua mới trồng trong vụ đông 2014 và xuân hè 2015
Bảng 3.15 Tỷ lệ đậu quả của các tổ hợp lai ở vụ Xuân Hè năm 2015 (%) (Trang 87)
Hình 3.3. Tỷ lệ đậu quả của các THL vụ Xuân Hè năm 2015 - đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng của các tổ hợp lai cà chua mới trồng trong vụ đông 2014 và xuân hè 2015
Hình 3.3. Tỷ lệ đậu quả của các THL vụ Xuân Hè năm 2015 (Trang 88)
Bảng 3.16: Các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lai cà chua - đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng của các tổ hợp lai cà chua mới trồng trong vụ đông 2014 và xuân hè 2015
Bảng 3.16 Các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp lai cà chua (Trang 89)
Hình 3.4. Tổng số quả của các THL vụ Xuân Hè năm 2015 - đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng của các tổ hợp lai cà chua mới trồng trong vụ đông 2014 và xuân hè 2015
Hình 3.4. Tổng số quả của các THL vụ Xuân Hè năm 2015 (Trang 90)
Hình 3.6. Năng suất của các THL vụ Xuân Hè năm 2015 - đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng của các tổ hợp lai cà chua mới trồng trong vụ đông 2014 và xuân hè 2015
Hình 3.6. Năng suất của các THL vụ Xuân Hè năm 2015 (Trang 94)
Bảng 3.20: Các tổ hợp lai cà chua có triển vọng vụ Xuân Hè 2015 - đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng của các tổ hợp lai cà chua mới trồng trong vụ đông 2014 và xuân hè 2015
Bảng 3.20 Các tổ hợp lai cà chua có triển vọng vụ Xuân Hè 2015 (Trang 102)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w