Vịt là loài dễ nuôi, quay vòng vốn nhanh, tiêu tốn thức ăn cho một đơn vị sản phẩm thấp, phát triển được ở mọi vùng sinh thái khác nhau và đặc biệt là có thị trường rộng lớn và sản phẩm
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM TUYẾT BĂNG
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG
VÀ SINH SẢN CỦA HAI NHÓM VỊT TS131, TS142
VÀ CON LAI CỦA CHÚNG NUÔI TẠI TRUNG TÂM
NGHIÊN CỨU VỊT ĐẠI XUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2015
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM TUYẾT BĂNG
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG
VÀ SINH SẢN CỦA HAI NHÓM VỊT TS131, TS142
VÀ CON LAI CỦA CHÚNG NUÔI TẠI TRUNG TÂM
NGHIÊN CỨU VỊT ĐẠI XUYÊN
Chuyên ngành : CHĂN NUÔI
Mã số : 60.62.01.05
Người hướng dẫn khoa học:
1.PGS TS NGUYỄN BÁ MÙI 2.TS NGUYỄN VĂN DUY
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Phạm Tuyết Băng
Trang 4Tôi xin bày tỏ long biết ơn Ban Giám Đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Sinh
lý, Khoa Chăn nuôi – Học viện Nông nghiệp Việt đãn tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Trung Tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên – Viện Chăn nuôi đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khích lệ tôi hoàn thành luận văn./
Hà nội, ngày tháng năm 2015
Học viên
Phạm Tuyết Băng
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình và đồ thị vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis Abstract ix
PHẦN 1 MỞ ĐẦU .1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI .1
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI .2
1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI .2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học .2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU .3
2.1 ĐẶC ĐIỂM DI TRUYỀN CỦA CÁC TÍNH TRẠNG SỐ LƯỢNG 3
2.2 KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA THỦY CẦM .5
2.2.1 Tỷ lệ nuôi sống .5
2.2.2 Khả năng sinh trưởng và cho thịt của thủy cầm .6
2.2.3 Khả năng sinh sản của thủy cầm 14
2.2.4 Tiêu tốn thức ăn/đơn vị sản phẩm 22
2.3 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA LAI KINH TẾ VÀ ƯU THẾ LAI 23
2.3.1 Cơ sở khoa học của lai kinh tế 23
2.3.2 Cơ sở di truyền của ưu thế lai 27
2.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 34
2.4.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước 34
2.4.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 35
PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 38
3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 38
Trang 63.3 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU 38
3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 38
3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
3.5.1 Phương pháp chăm sóc, nuôi dưỡng 38
3.5.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 39
3.5.3 Đánh giá các chỉ tiêu trên đàn vịt sinh sản TS 40
3.5.4 Đánh giá các chỉ tiêu trên vịt lai nuôi thịt 43
3.5.5 Phương pháp xử lý số liệu 46
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 47
4.1 TRÊN VỊT TS131 VÀ TS142 47
4.1.1 Đặc điểm ngoại hình 47
4.1.2 Tỷ lệ nuôi sống 48
4.1.3 Khối lượng cơ thể vịt TS131 và TS142 qua các giai đoạn 51
4.1.4 Tuổi đẻ và khối lượng vào đẻ của vịt TS131 và TS142 53
4.1.5 Tỷ lệ đẻ, năng suất trứng và TTTĂ/10 quả trứng của vịt TS131 và TS142 55
4.1.6 Một số chỉ tiêu chất lượng trứng 58
4.1.7 Tỷ lệ trứng giống 60
4.1.8 Một số chỉ tiêu ấp nở 61
4.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRÊN ĐÀN VỊT THƯƠNG PHẨM (TS34) 63
4.2.1 Tỷ lệ nuôi sống 63
4.2.2 Khối lượng cơ thể, sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối 64
4.2.3 Tiêu tốn thức ăn và chỉ số sản xuất 68
4.3.4 Khả năng cho thịt 69
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 71
5.1 KẾT LUẬN 71
5.2 ĐỀ NGHỊ 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Chế độ dinh dưỡng cho vịt TS131, TS142 38
Bảng 3.2: Chế độ dinh dưỡng cho vịt TS34 39
Bảng 3.3: Số lượng vịt TS131 và TS142 nuôi sinh sản 39
Bảng 4.1 Tỷ lệ nuôi sống hai nhóm vịt TS giai đoạn 0 - 24 tuần 49
Bảng 4.2 Khối lượng cơ thể hai nhóm vịt TS từ 1 – 24 tuần tuổi (gam/con) 51
Bảng 4.3 Tuổi đẻ và khối lượng của vịt TS131 và TS142 khi vào đẻ 54
Bảng 4.4 Tỷ lệ đẻ, năng suất trứng và TTTĂ/10 quả trứng của vịt TS131 và TS142 55
Bảng 4.5 Một số chỉ tiêu chất lượng trứng vịt TS131 và TS142 58
Bảng 4.6 Tỷ lệ trứng giống 61
Bảng 4.7 Kết quả ấp nở trứng vịt TS131 và TS142 62
Bảng 4.8 Tỷ lệ nuôi sống vịt TS34 thương phẩm 64
Bảng 4.9 Khối lượng cơ thể, sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối của vịt TS34 thương phẩm (n=30) 65
Bảng 4.10 Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng và chỉ số sản xuất của vịt TS34 thương phẩm 68
Bảng 4.11 Năng suất thịt của vịt TS34 thương phẩm (n=6) 69
Trang 9DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ
Hình 4.1 Vịt con 01 ngày tuổi 47
Hình 4.2: Vịt trưởng thành 48
Đồ thị 4.1 Tỷ lệ đẻ của vịt TS131 và TS142 58
Đồ thị 4.2 Khối lượng cơ thể vịt TS34 thương phẩm đến 7 tuần tuổi 66
Đô thị 4.3 Sinh trưởng tuyệt đối vịt TS34 thương hẩm 66
Đồ thị 4.4 Sinh trưởng tương đối vịt TS34 thương phẩm 66
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Chăn nuôi thủy cầm là một nghề truyền thống có từ lâu đời của người dân Việt Nam Tuy nhiên hiện nay các giống vịt có khối lượng cơ thể cao và năng suất trứng cao nhưng một số chỉ tiêu như chất lượng quầy thịt xẻ (tỷ lệ cơ ức ) còn thấp Việc tập trung chọn lọc tạo vịt trống có khả năng tăng khối lượng cơ thể nhanh và tỷ lệ thịt ức cao, vịt mái có khả năng đẻ trứng sai và tỷ lệ cơ ức cao cần được tiến hành thực hiện Thí nghiệm tiến hành với vịt TS131 và TS142 từ giai đoạn 1 ngày tuổi đến hậu bị là 40 trống và 160 mái, giai đoạn hậu bị là 30 trống và 120 mái, giai đoạn vào đẻ là 20 trống và 120 mái, với vịt TS34 là 120 con Thí nghiệm được tiến hành theo dõi và lặp lại 3 lần Kết quả cho thấy vịt TS131 và TS142 có tỷ lệ nuôi sống tương đối cao trống đạt 95,00%, mái đạt trên 97% khối lượng cơ thể mái TS131 đạt 3174,60g, mái TS142 đạt 3087,4g; trống TS131 đạt 3514,30g, trống TS142 đạt 3405,90g Vịt TS34Tỷ lệ nuôi sống đến 49 ngày tuổi là 97,50%, khối lượng cơ thể ở 6 tuần tuổi là 2768,30g; đến 7 tuần tuổi là 3108,00g Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng đến 7 tuần tuổi là 4,70 kg, chỉ số sản xuất là 131,55
Trang 11THESIS ABSTRACT
Breeding waterfowl is a profession longstanding tradition of the people of Vietnam However the duck varieties have a high body mass and high egg production, but some indicators as a carcass quality (ratio of muscle memory .) is low The selective focus to create duck drum capable of rapidly increasing body weight and height ratio breast meat, duck likely spawn wrong and breast muscle higher rate should
be carried out Experiments conducted TS131 and TS142 ducks from phase 1 day old to
40 males and 160 females, the Phase gilts 30 males and 120 females, stages at birth is
20 males and 120 females, with duck TS34 120 duck Experiments were conducted to track and repeat 3 times Results TS131 and TS142 shows duck with relative survival rate reached 95.00% high availability, ease of over 97% body weight gain 3174,60g roof TS131, TS142 reach 3087,4g roof; TS131 reach 3514,30g empty, empty reaches 3405,90g TS142 Ducks TS34Ty survival to 49 days of age was 97.50% body weight at
6 weeks of age is 2768,30g; to 7 weeks of age is 3108,00g Feed consumption for 1 kg weight gain to 7 weeks of age was 4.70 kg, the production index was 131.55
Trang 12PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Chăn nuôi thủy cầm là một nghề truyền thống có từ lâu đời của người dân Việt Nam Trong những năm gần đây Việt Nam luôn là nước đứng thứ 2 trên Thế giới về chăn nuôi thủy cầm Chăn nuôi thủy cầm luôn đóng góp một phần quan trọng vào sự phát triển chung của nền nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung Trong chăn nuôi thủy cầm của nước ta thì chăn nuôi vịt là chủ yếu và quan trọng nhất Vịt là loài dễ nuôi, quay vòng vốn nhanh, tiêu tốn thức
ăn cho một đơn vị sản phẩm thấp, phát triển được ở mọi vùng sinh thái khác nhau
và đặc biệt là có thị trường rộng lớn và sản phẩm của nó như thịt, trứng, lông luôn được người dân ưa chuộng vì có chất lượng cao với giá thành rẻ
Để đạt được mục tiêu phát triển nhanh đàn gia cầm cả về số lượng và chất lượng ngoài việc phát triển các giống vịt hiện có cần tăng cường để tạo ra các dòng vịt mới Trước tình hình đó trong những năm qua chúng ta đã chọn tạo từ nguồn nguyên liệu vịt SM (nguồn gốc Cherry Valley nước Anh) trước đây như T5, T6, V2, V5, V7, V12 cũng có một số ưu điểm như khối lượng cơ thể cao, năng suất trứng khá, tỷ lệ thịt xẻ và tỷ lệ thịt đùi cao, chân cao phù hợp với các phương thức nuôi bán thâm canh, chạy đồng, các hệ sinh thái (vịt - lúa, vịt - cá, vịt - cá - lúa, vịt - vườn cây ) Tuy nhiên do công tác chọn lọc chỉ mới tập trung vào khối lượng cơ thể cao và năng suất trứng cao, chưa tập trung chọn lọc về một số chỉ tiêu chất lượng quầy thịt xẻ (tỷ lệ cơ ức ), cho nên còn một số hạn chế:
- Mặc dù khối lượng xuất chuồng cao, vịt thương phẩm có thể đạt 3,3 – 3,4kg/con, nhưng thời gian nuôi phải mất từ 8 - 10 tuần tùy theo phương thức nuôi, cho nên tiêu tốn thức ăn còn cao (nuôi nhốt 8 tuần mất 2,75 - 2,8kg/kg tăng khối lượng) Do đó phải chọn lọc tạo ra các dòng chuyên thịt có khả năng tăng trưởng nhanh trong những tuần đầu để có thể rút ngắn thời gian nuôi xuống còn 7 tuần tuổi hoặc thấp hơm (tiêu tốn thức ăn 7 tuần tuổi chỉ còn khoảng 2,5kg/kg tăng khối lượng), quay vòng sản xuất nhanh hơn, phù hợp với nuôi nhốt thâm canh
- Tỷ lệ cơ ức, là phần thân thịt xẻ có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao nhất
mà thế giới rất chú trọng còn thấp
Trang 13Một số giống vịt chuyên thịt có tốc độ sinh trưởng nhanh, tỷ lệ cơ ức cao cũng đã được một số cơ sở giống nhập nội, nhưng giá thành vịt nhập nội rất cao (cao gấp từ 5 đến 10 lần so với trong nước), hơn nữa vịt nhập chỉ là các dòng ông,
bà nếu không được chọn lọc tạo dòng thì sẽ phân ly, năng suất giảm
Về mặt di truyền giống: nếu chúng ta nhập khẩu con giống bố mẹ hoặc thương phẩm về để phục vụ sản xuất trực tiếp, chúng không thích nghi ngay nên ảnh hưởng đến năng suất, mặt khác giá nhập rất đắt Còn nếu nhập giống ông bà,
vì là ghép đơn tính của các dòng A, B, C và D, nên chúng ta phải có chương trình tách nhóm đồng dạng kiểu hình, theo dõi cá thể, chọn lọc, nhân thuần hợp lý thì mới tạo ra và giữ được dòng thuần ổn định lâu dài về mặt di truyền
Do đó, Phân Viện Chăn Nuôi Nam Bộ đã thực hiện đề tài là tập trung chọn lọc tạo vịt hai nhóm vịt trống và mái có bộ xương vững chắc, khả năng tăng khối lượng cơ thể nhanh, tỷ lệ thịt ức cao
Tuy nhiên để có cơ sở khoa học đánh giá khả năng sinh trưởng và năng suất của
2 dòng trên chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh giá khả năng sinh trưởng và sinh sản của hai nhóm vịt TS131, TS142 và con lai của chúng nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại xuyên”
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Cung cấp cho cán bộ quản lý và người chăn nuôi các thông tin về khả năng sản xuất của hai nhóm vịt TS131, TS142 và con lai của chúng giúp người chăn nuôi định hướng sử dụng tổ hợp vịt lai này trong tương lai
1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Nghiên cứu một cách có hệ thống về một số đặc điểm sinh trưởng, sinh sản
và cho thịt của vịt TS131, TS142 và con lai của chúng để cung cấp nguồn thông tin cho các nghiên cứu tiếp theo
- Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và sản xuất sau này
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sử xác định được một số đặc điểm, các chỉ tiêu kihn tế kỹ thuật cơ bản của giống vịt TS131, TS142 và con lai của chúng sẽ định hướng phát triển giống vịt này cho sản xuất
Trang 14PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 ĐẶC ĐIỂM DI TRUYỀN CỦA CÁC TÍNH TRẠNG SỐ LƯỢNG
Hầu hết các tính trạng về năng suất của gia súc, gia cầm như sinh trưởng, sinh sản, sản xuất thịt, sản xuất lông, sản xuất trứng đều là các tính trạng số lượng Cơ sở di truyền của các tính trạng số lượng là do các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy định Các tính trạng sản xuất là các tính trạng số lượng (thường gọi là các tính trạng đo lường) như khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo, sản lượng trứng, khối lượng trứng…
Tính trạng số lượng là những tính trạng mà ở đó sự sai khác nhau về mức
độ giữa các cá thể rõ nét hơn là sự sai khác về chủng loại Sự sai khác nhau này chính là nguồn vật liệu cho chọn lọc tự nhiên cũng như chọn lọc nhân tạo Các tính trạng số lượng được qui định bởi nhiều gen, các gen điều khiển tính trạng số lượng phải có môi trường phù hợp mới được biểu hiện hoàn toàn
Theo Nguyễn Văn Thiện (1995), các tính trạng số lượng do giá trị kiểu gen và sai lệch môi trường quy định Giá trị di truyền (Genotypic value) do các gen có hiệu ứng riêng biệt nhỏ, nhưng khi tập hợp nhiều gen thì có ảnh hưởng rõ rệt đến tính trạng, chúng gây ra các hiệu ứng cộng gộp, trội và át gen Tính trạng
số lượng chịu tác động lớn của các tác động của ngoại cảnh
Theo Đặng Vũ Bình (1999), để hiển thị đặc tính của những tính trạng số lượng người ta sử dụng khái niệm giá trị, đó là các số đo dùng để đánh giá các tính trạng số lượng Các giá trị thu được khi đánh giá một tính trạng ở con vật gọi
là giá trị kiểu hình (giá trị Phenotype) của cá thể đó
Để phân tích các đặc tính di truyền của quần thể, ta phân chia giá trị kiểu hình thành 2 phần:
- Giá trị di truyền: do toàn bộ các gen mà cá thể có gây nên
- Sai lệch ngoại cảnh: do tất cả các yếu tố không phải di truyền gây nên sự sai khác giữa giá trị di truyền và giá trị kiểu hình
P = G + E
Trong đó:
P: Giá trị kiểu hình (phenotypic value)
G: Giá trị di truyền (genotypic value)
E: Sai lệch ngoại cảnh (environmental deviation)
Trang 15Giá trị di truyền (G) hoạt động theo 3 phương thức: Cộng gộp - trội - át gen, nên:
G = A + D + I
Trong đó:
G: Giá trị di truyền
A: Giá trị di truyền cộng gộp (additive value)
D: Giá trị sai lệch trội (dominance deviation value)
I: Giá trị sai lệch tương tác ( Interaction deviation value) Trong đó giá trị cộng gộp (A) là do giá trị giống quy định, là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác định được và di truyền lại cho thế hệ sau, có ý nghĩa trong chọn dòng thuần, là cơ sở cho việc chọn giống
Hai thành phần sai lệch trội (D) và tương tác gen (I) cũng có vai trò quan trọng, là giá trị giống đặc biệt chỉ có thể xác định được thông qua con đường thực nghiệm D và I không di truyền được và phụ thuộc vào vị trí và sự tương tác giữa các gen Chúng là cơ sở của việc lai giống
Ngoài ra các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường, có 2 loại môi trường chính
- Sai lệch môi trường chung (Genneral Environmental deviation - Eg) là
sai lệch do các yếu tố môi trường tác động lên toàn bộ các cá thể trong nhóm vật nuôi Loại yếu tố này có tính chất thường xuyên và không cục bộ như; thức ăn, khí hậu… Do vậy, đó là sai lệch giữa các nhóm, giữa các cá thể và giữa các phần khác nhau trên một cơ thể
- Sai lệch môi trường riêng (Special Environmental deviation - Es) là sai
lệch do các yếu tố môi trường tác động riêng rẽ lên từng cá thể trong nhóm vật nuôi, hoặc trong một giai đoạn nào đó trong cuộc đời con vật Loại yếu tố này có tính chất không thường xuyên và cục bộ như các thay đổi về thức ăn, khí hậu, trạng thái sinh lý… gây ra Do đó, nếu bỏ qua mối tương tác giữa di truyền và ngoại cảnh thì quan hệ của kiểu hình (P), kiểu gen (G) và môi trường (E) của một
cá thể có biểu thị như sau:
P = A + D + I + Eg + Es
Trang 16Trong đó:
- P; là giá trị kiểu hình (Phenotypic value)
- A; là giá cộng gộp (Additive value)
- D; là sai lệch trội (Dominance deviation)
- I; là giá trị sai lệch tương tác hay sai lệch át gen (Interaction deviation)
- Eg; là sai lệch môi trường chung (General enviromental deviation)
- Es; là sai lệch môi trường riêng (Special enviromental deviation)
Như vậy, năng suất giống vật nuôi phụ thuộc vào yếu tố di truyền và ngoại cảnh Vật nuôi nhận được khả năng di truyền từ bố mẹ, nhưng sự thể hiện khả năng đó ở kiểu hình lại phụ thuộc vào ngoại cảnh môi trường sống như chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý Đây là cơ sở để tạo lập điều kiện ngoại cảnh thích hợp nhằm củng cố và phát huy khả năng di truyền của các giống vật nuôi, đặc biệt là gia cầm
Khi quan sát các tính trạng số lượng (cân, đo, đếm…) người ta thường xác định các tham số sau;
+ Số trung bình của các tính trạng (X)
+ Hệ số biến dị (Cv%)
+ Hệ số di truyền của các tính trạng (h2)
+ Hệ số lặp lại của các tính trạng (Rs)
+ Hệ số tương quan giữa các tính trạng (r)
2.2 KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA THỦY CẦM
Theo A.Brandsch and Biilchel.H (1978), sự giảm sức sống sau khi gia cầm con nở chủ yếu do tác động của môi trường Do đó có thể nâng cao tỷ lệ nuôi sống bằng các biện pháp vệ sinh chăm sóc nuôi dưỡng tốt, tiêm phòng kịp
Trang 17thời, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho gia cầm phát triển
Theo Đặng Thị Vui và cs (2011) cho biết thì tỷ lệ nuôi sống của vịt T13
và T14 nuôi tại Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên giai đoạn 1 ngày tuổi đến 8 tuần tuổi trung bình là 96,36 - 98,80%, trung bình giai đoạn 1 ngày tuổi đến 26 tuần tuổi tỷ lệ nuôi sống là 95,73 - 97,20%
Theo Nguyễn Đức Trọng và cs (2008) thì tỷ lệ nuôi sống của vịt SM3SM nhập nội từ Vương quốc Anh nuôi tại Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên giai đoạn 0- 8 tuần tuổi đạt từ 96,01% - 97,37% tương đương với tỷ lệ nuôi sống khi vịt được nuôi tại bản địa
Cũng theo Nguyễn Đức Trọng và cs (2009) thì tỷ lệ nuôi sống của vịt M14 nhập nội từ Pháp giai đoạn 0 - 8 tuần tuổi ở thế hệ xuất phát đạt từ 98,14% - 98,62% tương đương với vịt M14 khi được nuôi tại Pháp
Theo Phùng Đức Tiến và cs (2008) khi theo dõi vịt SM3SH nuôi tại trại Cẩm Bình- Hải Dương cho biết tỷ lệ nuôi sống giai đoạn 0-8 tuần tuổi đạt từ 96,34%-99% tương đương với tỷ lệ nuôi sống của vịt này khi nuôi tại Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên, và tương đương với tỷ lệ nuôi sống tại Anh
Điều kiện sống cũng ảnh hưởng một phần và trực tiếp đến sức sống và khả năng kháng bệnh của vật nuôi
Theo Phạm Văn Trượng và cs (1993) cho biết đối với vịt CV-Super M nuôi theo các phương thức nuôi khác nhau cho thấy: với phương thức chăn thả cổ truyền thì tỷ lệ nuôi sống đến 56 ngày tuổi đạt 91,97% còn đối với phương thức nuôi chăn thả có bổ sung thức ăn hỗn hợp thì tỷ lệ nuôi sống đến 56 ngày tuổi đạt trung bình 97,2%, cao hơn hẳn phương thức chăn thả truyền thống, điều này cho thấy, đối với vịt CV-Super M khi bổ sung thức ăn cho đàn thủy cầm đầy đủ thì sức sống của chúng cũng tăng lên
2.2.2 Khả năng sinh trưởng và cho thịt của thủy cầm
2.2.2.1 Khả năng sinh trưởng
Xét theo quan điểm sinh học, sinh trưởng là quá trình sinh tổng hợp protein của động vật, đó chính là quá trình tích lũy hữu cơ do đồng hóa và dị hóa,
là quá trình tăng về chiều cao, kích thước, cân nặng dựa trên cơ sở di truyền từ thế hệ trước Khối lượng cơ thể là tính trạng số lượng, chịu ảnh hưởng của yếu tố
di truyền và các yếu tố ngoại cảnh khác
Trang 18Khối lượng cơ thể gia cầm có hệ số di truyền cao, ở 6 tuần tuổi là 0,45 và dao động trong khoảng từ 0,4 - 0,5 Đến 12 tuần tuổi là 0,4 và dao động trong khoảng 0,3 - 0,55 Khối lượng cơ thể trưởng thành có hệ số di truyền là 0,6 và dao động trong khoảng 0,55- 0,65
a Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng
* Ảnh hưởng của giống, dòng đến khối lượng cơ thể của vịt
Giống, dòng là yếu tố về mặt di truyền quan trọng nhất ảnh hưởng đến tốc
độ tăng khối lượng cơ thể của vịt Các giống thủy cầm khác nhau có tốc độ tăng khối lượng cơ thể khác nhau Các giống gia cầm hướng thịt có tốc độ tăng khối lượng cơ thể nhanh hơn các giống gia cầm kiêm dụng và hướng trứng Trong cùng một giống, các dòng khác nhau có tốc độ tăng khối lượng cơ thể cũng khác nhau, dòng ông có tốc độ tăng trọng nhanh hơn dòng bà
Theo tài liệu của Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) thì sự khác nhau giữa các giống gia cầm là rất lớn, thủy cầm có tốc độ tăng trọng nhanh trong những tuần lễ đầu tiên, đối với vịt giết thịt ở 7 - 8 tuần tuổi; ngỗng là 9 tuần tuổi; ngan
là 10 - 11 tuần và chúng có thể đạt 70 - 80% khối lượng trưởng thành trong khi
đó ở gà chỉ đạt có 40% khối lượng trưởng thành Nhưng nhìn chung các giống vịt nội của nước ta có khả năng tăng trọng thấp, tầm vóc nhỏ, khối lượng cơ thể không lớn, khả năng cho thịt không cao
Theo Nguyễn Thiện và cs (1993) khối lượng vịt cỏ là vịt chuyên trứng ở
75 ngày tuổi khi nuôi vỗ béo công nghiệp đạt 911,85 - 1216,65g
Theo Nguyễn Đức Trọng và cs (2009) khối lượng vịt kiêm dụng Đốm PL2 nuôi thương phẩm đến 10 tuần tuổi đạt 1790 g
Nghiên cứu của Phùng Đức Tiến và cs (2008) trên vịt chuyên thịt SM3SH ông bà nhập nội, nuôi tại trại gia cầm Cẩm Bình, vịt nuôi thương phẩm đến 56 ngày tuổi đạt 3206,3 g/con
* Ảnh hưởng của tính biệt đến tốc độ tăng trọng của cơ thể vịt
Trong cùng một giống, dòng thì tốc độ tăng trọng của con trống nhanh hơn con mái Sự khác nhau của khối lượng cơ thể còn thể hiện qua sự phân biệt giới tính Theo Jull (1976) cho biết gà trống nặng cân hơn gà mái từ 24%-32%
Sự khác nhau này đối với gia cầm càng rõ ràng hơn trong quá trình sinh trưởng
và trưởng thành North (1990) đã rút ra kết luận: lúc mới nở, gà trống nặng hơn
Trang 19gà mái 1%, tuổi càng tăng thì sự khác biệt này càng lớn, đến 2 tuần tuổi là hơn 5%, 3 tuần tuổi hơn 11%, 5 tuần tuổi hơn 17%, 6 tuần tuổi hơn 20%, 7 tuần tuổi hơn 23 % và 8 tuần tuổi hơn 27%
* Ảnh hưởng của tốc độ mọc lông đến tốc độ tăng trọng của vịt
Nhiều công trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa học đã xác định được rằng trong cùng một giống, dòng, cùng tính biệt, ở gia cầm có tốc độ mọc lông nhanh hơn thì cũng có tốc độ sinh trưởng và phát triển tốt hơn Theo Brandsch and Bilchel (1978) tốc độ mọc lông là một tính trạng di truyền có liên quan đến đặc điểm trao đổi chất, sinh trưởng và phát triển của gia cầm Gia cầm có tốc độ mọc lông nhanh hơn thì sự thành thục thể trọng cũng như đạt được khối lượng cơ thể trưởng thành nhanh hơn do đó có chất lượng thịt tốt hơn gia cầm có tốc độ mọc lông chậm
* Các yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến tốc độ tăng trọng của vịt
- Chế độ dinh dưỡng là yếu tố ngoại cảnh quan trọng nhất ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của thủy cầm nói riêng và chăn nuôi nói chung Dinh dưỡng có liên quan chặt chẽ với sự duy trì sự sống, khả năng sản xuất của gia súc, gia cầm Cơ thể không những cần phải được cung cấp thức ăn đầy đủ để sinh trưởng và phát triển mà còn cần cung cấp thức ăn để tạo ra sản phẩm Do đó, việc xác định nhu cầu các chất dinh dưỡng hay chế độ dinh dưỡng hợp lý cho vật nuôi là hết sức cần thiết và có ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng cũng như hiệu quả kinh tế Theo Chambers (1990) thì chế độ dinh dưỡng không chỉ ảnh hưởng tới các bộ phận khác nhau của cơ thể mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển của từng mô này đối với mô khác, hơn thế nữa dinh dưỡng không những ảnh hưởng tới sinh trưởng mà còn ảnh hưởng tới biến động di truyền sinh trưởng
Bùi Đức Lũng và cs (1995) chỉ ra rằng để phát huy được tốc độ sinh trưởng tối đa cần cung cấp thức ăn tối ưu với đầy đủ dinh dưỡng được cân bằng nghiêm ngặt giữa protein, các axit amin và năng lượng Ngoài ra trong thức ăn hỗn hợp còn được bổ sung hàng loạt các chế phẩm hóa sinh học không mang ý nghĩa dinh dưỡng nhưng nó có tác dụng kích thích quá trình tiêu hóa thức ăn cũng như tăng độ hấp dẫn của thức ăn từ đó kích thích quá trình sinh trưởng làm tăng năng suất và chất lượng thịt
Kết quả nghiên cứu của Abdelsamie and Farrell (1985) cho biết về ảnh hưởng của các mức protein trong khẩu phần tới khả năng tăng khối lượng tuyệt
Trang 20đối của vịt Bắc Kinh: ở tuần tuổi thứ 2 với khẩu phần ăn có 24% protein thô thì tăng khối lượng cơ thể tuyệt đối của vịt đạt 320 g, còn ở lô nuôi với khẩu phần 18% protein thô thì tăng khối lượng cơ thể tuyệt đối của vịt chỉ đạt 309 g
Tuy vậy, không chỉ khẩu phần thức ăn có mức protein cao là vật nuôi có khả năng tăng khối lượng cơ thể tuyệt đối hơn khẩu phần có mức protein thấp hơn Điều này còn phụ thuộc vào sự cân bằng các axit amin và mức năng lượng trong khẩu phần Trần Quốc Việt và cs (2010) cho biết về ảnh hưởng của các mức năng lượng, protein và axit amin khẩu phần đến hiệu quả sử dụng thức ăn của vịt CV Super M: Sức ăn của vịt CV Super M tăng khi mức năng lượng và protein của khẩu phần tăng Lượng ăn vào hàng ngày của vịt ở các lô có mức năng lượng và protein cao thấp hơn rất rõ rệt so vơi nhóm vịt được ăn khẩu phần
có mức năng lượng và protein thấp
thoáng, mật độ nuôi cũng ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng tăng trọng của thủy cầm Nhiệt độ, ẩm độ của từng mùa vụ có ảnh hưởng đến khả năng thu nhận thức ăn của thủy cầm Gia cầm và thủy cầm không có tuyến mồ hôi do
đó sự điều hòa thân nhiệt của chúng chủ yếu thông qua quá trình thở, bốc hơi nước, bức xạ nhiệt, dãn nhiệt, đẻ trứng và bài tiết cho nên mọi yếu tố tác động đến quá trình điều hòa thân nhiệt đều ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và sản xuất của chúng
Nghiên cứu của Knust et al (1996) cho biết khi nhiệt độ cao ảnh hưởng
đến sinh trưởng của vịt, làm giảm lượng thức ăn ăn vào, làm khối lượng sống giảm và tỷ lệ mỡ của thịt thấp Nhiệt độ cao có tác dụng âm tính đến chất lượng thịt (tỷ lệ ăn được giảm, chất lượng cơ thịt kém)
Nhiệt độ cao còn gây nên hiện tượng stress nhiệt đối với gia cầm, thủy cầm không những ảnh hưởng đến khả năng tăng trọng của chúng mà còn ảnh
hưởng đến khả năng đẻ trứng và chất lượng trứng Lewis et al (1992) cho biết
các giống khác nhau thì bị tác động của thời gian chiếu sáng cũng khác nhau, đặc biệt ở các tuần tuổi 9, 12, 15, từ 9 tuần tuổi nếu tăng thời gian chiếu sáng sẽ làm tăng khả năng phát dục sớm
Theo Bùi Hữu Đoàn và cs (2009) cho biết khi chiếu tia cực tím từ 5 – 8 phút/ngày làm tăng khối lượng cở thể từ 115 g/con- 172 g/con, còn chiếu tia cực tím trên 11 phút/ngày thì có tác dụng ngược lại làm giảm tốc độ sinh trưởng,
Trang 21giảm chỉ số sản xuất
Khi ẩm độ quá thấp hoặc quá cao cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của vịt Ẩm độ quá thấp làm tăng lượng bụi trong chuồng nuôi làm cho gia cầm dễ mắc một số bệnh về hô hấp và mắt ảnh hưởng đến khả năng thu nhận thức ăn, không những thế gây da khô, khó chịu làm con vật gầy yếu
Ngoài ra thì phương thức nuôi cũng ảnh hưởng hưởng đến tốc độ tăng khối lượng của vịt Nguyễn Đức Trọng và cs (1997) nghiên cứu hai phương thức nuôi khô và nuôi nước trên đàn vịt CV-Super M cho biết với phương thức nuôi khô, khối lượng bình quân lúc vào đẻ của đàn vịt dòng ông là 3,3 kg; dòng bà là 2,9 kg còn với phương thức nuôi có nước bơi lội thì khối lượng bình quân lúc vào đẻ của dòng ông là 2,9 kg; vịt dòng bà là 2,7 kg
Như vậy trong chăn nuôi vịt thương phẩm, đặc biệt là các giống vịt chuyên thịt, ngoài việc phải lựa chọn giống tốt, điều kiện dinh dưỡng hợp lý để khai thác tối
đa tiềm năng sinh học về khả năng tăng khối lượng cơ thể của vịt và qua đó xác định được thời điểm giết thịt hợp lý thu được hiệu quả kinh tế cao nhất
b Cách đánh giá sức sinh trưởng
Sinh trưởng là một quá trình sinh học phức tạp, từ khi sinh ra đến khi thành thục về thể vóc được chia làm 2 thời kỳ: thời kỳ gia cầm non và thời kỳ gia cầm trưởng thành
Khi còn non quá trình sinh trưởng của gia cầm rất mạnh, trong thời kỳ này chúng rất nhạy cảm với các kích thích bên ngoài, nhất là nhiệt độ và ẩm độ, những ngày đầu tiên thân nhiệt chưa ổn định nên phụ thuộc phần lớn vào nhiệt
độ môi trường bên ngoài Do đó giai đoạn này cần phải tạo cho gia cầm một môi trường có nhiệt độ và ẩm độ thích hợp để chúng sinh trưởng và phát triển tốt Khi trưởng thành chúng dần đã thích nghi tốt với các thay đổi của môi trường bên ngoài nhưng quá trình sinh trưởng lại chậm lại Quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng và năng lượng một phần để duy trì cơ thể, một phần để tích lũy mỡ do đó tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn kém hơn Đây cũng chính là sơ
sở khoa học để xác định thời điểm giết thịt hợp lý để thu được hiệu quả kinh tế cao nhất
Theo Chambers (1990) cho biết: để xác định chính xác về sinh trưởng ở từng thời kỳ không phải dễ dàng Và người ta thường dùng các chỉ tiêu chính như: sinh trưởng tích lũy (khối lượng cơ thể), sinh trưởng tuyệt đối, sinh trưởng
Trang 22tương đối và đường cong sinh trưởng
Sinh trưởng tích lũy (khối lượng cơ thể): khối lượng cơ thể ở một thời điểm nào đó là chỉ số quen thuộc nhất để đánh giá khả năng sinh trưởng của con vật Tuy vậy chỉ số này không nói lên được mức độ khác nhau về tốc độ sinh trưởng trong một thời gian nhưng nó phản ánh được khả năng sinh trưởng tối đa của con vật Khi xác định được khối lượng ở từng thời điểm thì chúng ta có thể biểu diễn khối lượng này ở từng thời điểm đó trên đồ thị và gọi là đồ thị sinh trưởng tích lũy Đối với gia cầm nuôi thịt thì chỉ tiêu này là quan trọng nhất, từ chỉ tiêu này chúng ta có thể so sánh và chọn lựa những tổ hợp lai nào là tốt nhất Sinh trưởng tuyệt đối: là sự tăng lên về khối lượng, kích thước, thể tích của cơ thể qua các lần khảo sát Xác định được các giá trị của sinh trưởng tuyệt đối chúng ta có thể biểu diễn chúng trên đồ thị và gọi là đồ thị sinh trưởng tuyệt đối Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối của vật nuôi là một đồ thị hình parapol, đỉnh của parapol của từng giống khác nhau Giá trị của sinh trưởng tuyệt đối thường được tính bằng gam/con/ngày
Sinh trưởng tương đối: là tỷ lệ phần trăm (%) tăng lên của khối lượng, thể tích, kích thước của cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc đầu khảo sát Sinh trưởng tương đối của con vật được biểu diễn bằng đồ thị có dạng Hypepol
Lương Tất Nhợ (1994) nghiên cứu về sinh trưởng của vịt CV-Super M trong các điều kiện chăn nuôi ở đồng bằng sông Hồng cho biết: tốc độ tăng khối lượng của vịt CV-Super M bố mẹ ở giai đoạn vịt 4 tuần tuổi có tốc độ tăng khối lượng tuyệt đối là 45 g/con/ngày, tăng trọng tương đối là 35,65%; ở 8 tuần tuổi là 25,57 g/con/ngày và 8,19% Vịt CV-Super M dòng ông ở 4 tuần tuổi tương ứng
là 51,14 g/con/ngày và 40,86% đến 8 tuần tuổi tương ứng là 22,57 g/con/ngày và 7,12%; dòng bà ở 4 tuần tuổi là 37 g/con/ngày và 34,97% đến 8 tuần tuổi là 22 g/con/ngày và 8,01%
Theo Lê Viết Ly và cs (1998) công bố kết quả nghiên cứu sinh trưởng của nhóm vịt Cỏ màu cánh sẻ cho biết: tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của con đực ở 3 tuần tuổi là 8,31 g/con/ngày và ở 8 tuần tuổi là 18,05 g/con/ngày; của con mái ở
3 tuần tuổi là 6,9 g/con/ngày, ở 8 tuần tuổi là 16,55 g/con/ngày
Đường cong sinh trưởng: để biểu thị tốc độ sinh trưởng của gia súc và gia cầm Đường cong sinh trưởng có 4 đặc điểm chính:
- Pha sinh trưởng tích lũy tăng nhanh sau khi nở
Trang 23- Điểm uốn của đường cong tại điểm có tốc độ sinh trưởng cao nhất
- Pha sinh trưởng có tốc độ giảm dần sau điểm uốn
- Pha sinh trưởng tiệm cận với giá trị khi gia cẩm trưởng thành
Thông thường người ta sử dụng sinh trưởng tích lũy (khối lượng cơ thể)
để biểu thị quá trình sinh trưởng và đồ thị của sinh trưởng tích lũy cũng cho biết đơn giản nhất về đường cong sinh trưởng
2.2.2.2 Khả năng cho thịt của thủy cầm
Sức sản xuất thịt của thủy cầm là chỉ tiêu và yếu tố quan trọng nhất đối với thủy cầm nuôi thịt Khả năng cho thịt của thủy cầm là khả năng tạo nên khối lượng cơ thể đến tuổi giết thịt Khả năng này của từng giống, dòng là khác nhau
Và phụ thuộc vào nhiều yếu tố đó là đặc điểm ngoại hình, khối lượng cơ thể, tốc
độ tăng khối lượng, chế độ dinh dưỡng, khả năng hấp thụ thức ăn, Khả năng sản xuất thịt được biểu hiện thông qua 2 chỉ tiêu đó là năng suất thịt và chất lượng thân thịt
* Năng suất thịt: năng suất thịt được biểu thị thông qua các chỉ tiêu như khối lượng sống, khối lượng và tỷ lệ phần ăn được, khối lượng và tỷ lệ thân thịt, khối lượng và tỷ lệ thịt đùi, khối lượng và tỷ lệ thịt ngực Theo Nguyễn Thị Thúy Mỵ (1977) cho biết mối tương quan giữa khối lượng sống với khối lượng thịt xẻ là khá cao (0,9), còn giữa khối lượng sống với khối lượng mỡ bụng thấp hơn (0,2 - 0,5)
Năng suất thịt phụ thuộc vào nhiều yếu tố mà trước hết đó là giống, dòng, tính biệt, chế độ dinh dưỡng, chăm sóc nuôi dưỡng,
Theo Chambers (1990) các giống, các dòng khác nhau thì năng suất thịt cũng khác nhau Giữa các dòng luôn có sự khác nhau di truyền về năng suất thịt xẻ hay năng suất các phần thịt như thịt ngực, thịt đùi và từng phần thịt còn lại
Peter (1959), Ristic and Shon (1977) (dẫn theo Trần Thị Mai Phương, 2004) đã tổng hợp trên nhiều loại gia cầm và đưa ra tỷ lệ các phần của thân thịt như sau: khối lượng sống là 100%, trong đó khối lượng thân thịt chiếm khoảng 64% (52% là thịt, 12% là xương), phủ tạng chiếm khoảng 6%; máu, lông, đầu, chân, ruột chiếm khoảng 17% và tỷ lệ hao hụt sau giết mổ chiếm khoảng 13%
Nguyễn Đức Trọng và cs (2009) khảo sát vịt Đốm-Pất lài (là vịt kiêm
Trang 24dụng) ở 10 tuần tuổi (70 ngày) cho thấy tỷ lệ thân thịt của vịt Đốm-Pất lài là 65,9%, tỷ lệ thịt đùi là 12,4% và tỷ lệ thịt ức là 12,9%
Dương Xuân Tuyển và cs (2009) khảo sát vịt chuyên thịt V1, V2, V5, V7
ở 7 tuần tuổi cho biết khối lượng thịt xẻ của các dòng vịt tương ứng là 1991,9g, 2181,5g, 2120,1g và 1987,2g ( chiếm 67,22%, 70,07%, 70,09% và 67,43%), tỷ lệ thịt đùi lần lượt là 14,72% ,16,32% ,15,72% và 14,66%, tỷ lệ thịt ức là 18,17% ,19,04% ,18,22% và 18,09%
Vịt SM3SH thương phẩm nuôi đến 7 tuần tuổi có tỷ lệ thân thịt là 70,3%, tỷ
lệ thịt ức là 15,21% và tỷ lệ thịt đùi là 13,89%; nuôi đến 8 tuần tuổi tương ứng là 72,04%, 17,32% và 12,18% (Nguyễn Đức Trọng và cs (2009))
Sự khác nhau về mặt di truyền đối với mỗi giống, dòng ở khối lượng sống và khối lượng thịt xẻ cũng được nhiều tác giả nghiên cứu Theo Vereijken (1992) (dẫn theo Vũ Đức Cảnh, 2009) cho biết mối quan hệ di truyền giữa cấu trúc của cơ thể với khối lượng cơ thể là 0,5, với tổng số móc hàm là 0,45, tỷ lệ thịt ngực là 0,6 Khả năng di truyền được ước tính cho cấu trúc cơ thể dao động
từ 0,3-0,45
Kosba et al (1995) cho biết hệ số di truyền tuyệt đối của thịt xẻ như sau:
hệ số di truyền theo bố là 0,19 - 0,22; theo mẹ là 1,02 - 1,09 và theo cả bố và mẹ
là 0,6 - 0,66
Knust and Pingel (1996) cho biết thành phần của thịt xẻ bị ảnh hưởng của môi trường khá lớn, khi nhiệt độ môi trường cao thì tỷ lệ mỡ của thịt xẻ thấp, tỷ
lệ phần thịt ăn được giảm, chất lượng cơ kém
Theo Decraville et al (1985) tỷ lệ thịt xẻ của vịt phụ thuộc vào tính biệt,
vịt đực Bắc Kinh có tỷ lệ thịt xẻ là 61% còn vịt mái có tỷ lệ thịt xẻ là 60,3%
Theo Lewcsuk et al (1984) khối lượng thịt xẻ vịt trống Cherry Valley cao
hơn khối lượng thịt xẻ của vịt mái là 72g
Như vậy, năng suất thịt của thủy cầm nói chung và gia cầm nói riêng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và chúng ta có thể cải thiện năng suất thịt của chúng bằng cách chọn lọc và lai tạo tạo ra con lai có năng suất chất lượng tốt hơn
* Chất lượng thịt: Thịt gia cầm nói chung và thủy cầm nói riêng được mọi người ưa thích vì chúng có giá trị dinh dưỡng cao Tuy vậy không chỉ đánh giá chất lượng thịt thông qua cảm quan mà chất lượng thịt phải được phản ánh thông
Trang 25qua các thành phần hóa học, sinh học và một số chỉ tiêu sinh hóa, hóa học của thịt Các chỉ tiêu đánh giá thường là hàm lượng vật chất khô, hàm lượng protein,
tỷ lệ mỡ, tỷ lệ chất khoáng, Tổng hợp các chỉ tiêu đó tạo nên chất lượng của thịt: Vật chất khô thể hiện độ chắc của thịt, protein phản ánh giá trị dinh dưỡng,
mỡ thể hiện độ béo của thịt, khoáng tạo nên sự cân bằng các yếu tố trong thịt Ngoài các yêu tố trên thì chúng ta có thể nhận biết chất lượng thịt thông qua cảm quan như mùi vị, màu sắc, độ đàn hồi, độ mịn, độ dai chắc của sợi cơ Chúng ta
có thể cải thiện chất lượng thịt bằng nhiều biện pháp khác nhau từ việc chọn lọc, lai tạo đến việc áp dụng các phương thức chăn nuôi khác nhau, chế độ dinh dưỡng, chăm sóc và kể cả việc phương pháp giết mổ, bảo quản thịt
2.2.3 Khả năng sinh sản của thủy cầm
Khả năng sinh sản của gia cầm được thể hiện thông qua các chỉ tiêu như tuổi thành thục sinh dục, năng suất trứng, khối lượng trứng, hình dáng, chất lượng trứng, khả năng thụ tinh, khả năng ấp nở
Khả năng sinh sản của gia cầm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: yếu tố
di truyền, giống, dòng, thức ăn, chăm sóc nuôi dưỡng, chế độ chiếu sáng, phương thức nuôi,
2.2.3.1 Tuổi đẻ quả trứng đầu
Là một chỉ tiêu đánh giá sự thành thục sinh dục, cũng được coi là yếu tố cấu thành năng suất trứng (Khavecman, 1972) Tuổi đẻ quả trứng đầu được xác định bằng số ngày tuổi kể từ khi nở đến khi đẻ quả trứng đầu
Gudeil, Lerner và một số tác giả khác cho rằng: có các gen trên nhiễm sắc thể giới tính cùng tham gia hình thành tính trạng này (dẫn theo Khavecman, 1972) Theo Trần Đình Miên và cs (1992) có ít nhất hai cặp gen cùng quy định, cặp thứ nhất gen E và e liên kết với giới tính, cặp thứ hai gen E' và e' Có mối tương quan nghịch giữa tuổi đẻ và năng suất trứng, tương quan thuận giữa tuổi đẻ và khối lượng trứng Tuổi đẻ quả trứng đầu phụ thuộc vào bản chất di truyền, chế độ nuôi đưỡng, các yếu tố môi trường đặc biệt là thời gian chiếu sáng, thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm `đẻ sớm (Khavecman, 1972)
Theo Trần Long, (1994) đã tính toán hệ số tương quan di truyền giữa khối lượng có thể gà chưa trưởng thành với sản lượng trứng thường có giá trị âm (- 0,21 đến - 0,16)
Trang 262.2.3.2 Năng suất trứng
Năng suất trứng là chỉ tiêu quan trọng nhất đối với gia cầm hướng trứng,
và cũng là chỉ tiêu quan trọng đối với gia cầm kiêm dụng và hướng thịt Đồng thời đây cũng là đặc điểm sinh vật học quan trọng nhất đối với con mái và là chỉ tiêu kinh tế quan trọng để đánh giá hiệu quả kinh tế của chăn nuôi
Năng suất trứng là số trứng gia cầm mái đẻ ra trong một đơn vị thời gian Thông thường người ta tính năng suất trứng cho một năm, cũng có khi tính năng suất trứng trong một năm sinh học (365 ngày hoặc 500 ngày kể từ khi gia cầm nở ra)
Năng suất trứng là một tính trạng di truyền số lượng, có hệ số di truyền không cao, có biên độ dao động lớn Theo Hutt (1978) cho biết hệ số di truyền năng suất trứng của gà Lergohrn dao động trong khoảng 0,09-0,22; của gà Plymouth là 0,25-0,41 (trích tài liệu về hệ số di truyền năng suất trứng của vịt) Theo Nguyễn Thiện (1995) hệ số di truyền năng suất trứng gia cầm là 12-30% Theo Hoàng Thị Lan và cs (2005) hệ số di truyền năng suất trứng của dòng trống T5 là 0,46; T1 là 0,43 và của dòng mái T6 là 0,55; T4 là 0,52 Như vậy thì năng suất trứng không chỉ phụ thuộc vào yếu tố di truyền-giống mà còn phụ thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh khác
Các yêu tố ảnh hưởng đến năng suất trứng
* Các yêu tố di truyền cá thể
Có 5 yêu tố di truyền ảnh hưởng đến năng suất trứng của gia cầm đó là tuổi thành thục sinh dục, cường độ đẻ trứng, tính nghỉ đẻ mùa vụ, thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng và tính ấp bóng
+ Tuổi thành thục sinh dục
Như đã nói ở trên, tuổi thành thục có liên quan chặt chẽ tới năng suất trứng Thành thục sớm là một tính trạng mong muốn Song phải chú ý đến khối lượng cơ thể Tùy vào từng giống để nuôi gia cầm giai đoạn hậu bị sao cho tuổi
đẻ và khối lượng vào đẻ phù hợp
+ Cường độ đẻ trứng
Cường độ đẻ trứng có tương quan chặt chẽ với năng suất trứng trong một năm, nhất là cường độ đẻ trứng trong 3-4 tháng đầu tiên Vì vậy để đánh giá năng suất trứng của gia cầm người ta thường kiểm tra cường độ đẻ trứng của 3-4 tháng
Trang 27đầu để có những phán đoán sớm, kịp thời trong công tác chọn giống
+ Thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng
Chu kỳ đẻ trứng của gia cầm được tính từ khi gia cầm đẻ quả trứng đầu tiên đến khi gia cầm nghỉ để thay lông (đây là một bản năng của gia cầm và do yếu tố di truyền) Sau đó gia cầm lại tiếp tục đẻ chu kỳ thứ hai Năng suất trứng của gia cầm phụ thuộc vào thời gian này kéo dài chu kỳ đẻ thứ nhât, thời gian này càng dài thì sản lượng trứng gia cầm càng cao Tùy thuộc vào giống gia cầm
mà thời gian này là khác nhau
+ Tính nghỉ đẻ mùa đông
Vào mùa đông nhiệt độ xuống thấp cơ thể gia cầm sử dụng thức ăn ăn vào
để chống rét, do đó nhiều giống gia cầm giảm tỷ lệ đẻ dẫn đến ảnh hưởng năng suất trứng Tuy nhiên, ngày nay nhiều giống gia cầm được tạo ra thì tính nghỉ đẻ rất ngắn hoặc là không có Tính nghỉ đẻ có tương quan nghịch với năng suất trứng Tính nghỉ đẻ càng dài thì năng suất trứng càng thấp
+ Tính ấp bóng
Gia cầm nói chung đều có tính ấp bóng, đây là bản năng tự nhiên của gia cầm nhằm duy trì nòi giống Đây là phản xạ không điều kiện có liên quan đến năng suất trứng của gia cầm Đây là một tính trạng di truyền Những giống nhẹ cân thì bản năng ấp bóng kém hơn các giống nặng cân Có thể loại bỏ được tính
ấp bóng của gia cầm thông qua quá trình chọn lọc nhằm nâng cao năng suất của gia cầm
* Yếu tố giống, dòng ảnh hưởng đến năng suất trứng gia cầm
Các giống, dòng gia cầm khác nhau thì năng suất trứng khác nhau Những giống, dòng được chọn lọc một cách nghiêm ngặt cho năng suất trứng cao hơn các giống, dòng không được chọn lọc Những giống gia cầm hướng trứng có năng suất cao hơn các giống gia cầm chuyên thịt và kiêm dụng
Theo Nguyễn Đức Trọng và cs (2008) vịt Triết Giang là vịt chuyên trứng
có năng suất trứng/mái/52 tuần đẻ ở thế hệ xuất phát là 251,3 quả, thế hệ 1 là 251,89 quả, thế hệ 2 là 259,71 quả; tương ứng tỷ lệ đẻ trung bình là 68,85%, 69,20%, 71,35%
Theo Nguyễn Thị Minh và cs (2006) năng suất trứng của vịt Cỏ màu cánh
sẻ là 235,2 quả/mái/52 tuần đẻ
Trang 28Theo Lê Thị Phiên và cs (2006) cho biết năng suất trứng của vịt Khaki Campell đạt 253,8 quả/mái/52 tuần đẻ
Nguyễn Đức Trọng và cs (2009) cho biết năng suất trứng của vịt kiêm dụng Đốm-Pấtlài thế hệ 1 là 164,63 quả/mái/ 52 tuần đẻ; thế hệ 2 là 167,7 quả/mái/52 tuần đẻ và tỷ lệ đẻ bình quân tương ứng là 45,16% và 46,58%
Phùng Đức Tiến và cs (2008) năng suất trứng của vịt Super Heavy nuôi tại Trại Cẩm Bình vịt dòng ông là 199,9 quả/mái/48 tuần đẻ với tỷ lệ đẻ trung bình là 59,48%; dòng bà là 223,2 quả/mái/48 tuần đẻ với tỷ lệ đẻ bình quân là 66,44%
Theo Hoàng Thị Lan và cs (2005) cho biết năng suất trứng của vịt Super
M thế hệ 1 dòng trống T5 là 232,2 quả/mái/68 tuần tuổi, dòng trống T1 là 232 quả/mái/68 tuần tuổi với tỷ lệ đẻ trung bình tương ứng là 75,5% và 75,9%; thế hệ
2 lần lượt là 231,4 quả/mái/68 tuần tuổi và 226,7 quả/mái/68 tuần tuổi với tỷ lệ tương ứng là 72,12% và 70,67%
* Tuổi gia cầm
Tuổi gia cầm càng già thì năng suất trứng càng thấp Thường năm thứ 2 giảm 15%-20% so với năm thứ nhất
* Mùa vụ
Mùa vụ có ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất trứng của gia cầm Ở nước ta, mùa
hè sức đẻ trứng của gia cầm giảm xuống nhiều so với mùa xuân và mùa thu Theo tác giả Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (2001): vào mùa đông nhiệt độ môi trường xuống thấp (dưới 15oC) và nhiệt độ cao mùa hè (trên 300C) sẽ ảnh hưởng lớn đến sức đẻ trứng, khối lượng trứng và làm tăng tỷ lệ hao hụt
Theo Nguyễn Đức Trọng và cs (1996) khi nuôi vịt thay thế CV-Super M trong vụ xuân hè cho năng suất trứng dòng ông là 165 quả/mái/40 tuần đẻ, tỷ lệ
đẻ cao nhất là 85%; dòng bà đạt 178,5 quả/mái/40 tuần đẻ tỷ lệ đẻ cao nhất là 90% Còn khi nuôi thay thế đàn vịt vào vụ đông xuân năng suất trứng của vịt dòng ông là 158 quả/mái/40 tuần đẻ, tỷ lệ đẻ cao nhất là 76,8%; dòng bà là 170 quả/mái/40 tuần đẻ, tỷ lệ đẻ cao nhất là 82%
* Phương thức nuôi
Phương thức nuôi đối với gia cầm không có ảnh hưởng nhiều, song đối với thủy cầm thì phương thức nuôi lại có ảnh hưởng lớn đến năng suất và hiệu
Trang 29quả kinh tế
Dutin et al (1999) (dẫn theo Lê Sỹ Cương, 2001) nghiên cứu khả năng đẻ
trứng của vịt Mallard trong 2 hệ thống nuôi quảng canh và nuôi thâm canh, cho biết ở hệ thống nuôi thâm canh năng suất trứng của vịt là 233 quả/mái/năm, trong khi đó nuôi ở hệ thống nuôi quảng canh là 210 quả/mái/năm
Nguyễn Đức Trọng và cs (1997) cho biết vịt CV-Super M trong điều kiện nuôi khô, dòng ông đạt năng suất trứng là 154 quả/mái/40 tuần đẻ, tỷ lệ đẻ cao nhất đạt 82%; dòng bà đạt 171 quả/mái/40 tuần đẻ, tỷ lệ đẻ cao nhất đạt 91% trong khi đó khi nuôi trong điều kiện nuôi có nước bơi lội thì năng suất trứng của dòng ông là 164 quả/mái/40 tuần đẻ, tỷ lệ đẻ cao nhất đạt 79%; và dòng bà là 176 quả/mái/40 tuần đẻ, tỷ lệ đẻ cao nhất là 87%
* Thức ăn và dinh dưỡng
Thức ăn và dinh dưỡng là yêu tố quan trọng có liên quan chặt chẽ đến năng suất trứng của gia cầm Để đạt được năng suất và chất lượng trứng tốt nhất không những phải cung cấp cho gia cầm những khẩu phần ăn đầy đủ mà còn phải chú ý đến tỷ lệ các chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn
Theo Trần Quốc Việt và cs (2009) cho biết nhu cầu năng lượng, protein, lysine và methionine của ngan Pháp và vịt CV-Super M trong giai đoạn đẻ trứng như sau: năng lượng trao đổi 2700 kcal/kg TĂ, protein thô là 18,0%, lysine tổng
số là 1,1%, methionine tổng số là 0,48% thì cho năng suất trứng cao nhất
Theo Hoàng Văn Tiệu và Lương Tất Nhợ (1996) nghiên cứu trên vịt Khaki Campell cho biết giai đoạn vịt hậu bị trong 1 kg thức ăn cần đạt 13% protein thô, 2400 kcal/kg TĂ, đến giai đoạn vịt đẻ protein thô là 17% và năng lượng là 2800 kcal/kg TĂ
* Điều kiện ngoại cảnh
Ngoài những yếu tố trên, sức đẻ trứng của gia cầm còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố ngoại cảnh khác như: nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, chăm sóc nuôi dưỡng,
Nhiệt độ thích hợp để gia cầm đẻ trứng từ 14oC-22oC Khi nhiệt độ môi trường thấp hơn nhiệt độ giới hạn thấp gia cầm phải huy động năng lượng để chống rét, khi nhiệt độ môi trường cao hơn nhiệt độ giới hạn trên gia cầm thải nhiệt nhiều do đó ảnh hưởng đến sức đẻ trứng
Trang 30Thời gian chiếu sáng và cường độ chiếu sáng tối ưu cho vịt đẻ là 16-18 giờ/ngày với cường độ chiếu sáng là 3-3,5 w/m2
Ngày nay cùng với sự phát triển về khoa học kỹ thuật, dù là cơ sở chăn nuôi nhỏ hay lớn với sự hoàn thiện về con giống cũng như thức ăn và quy trình chăn nuôi thì yếu tố con người đóng vai trò quan trọng đến năng suất và chất lượng các đàn giống gia cầm
2.2.3.3 Khối lượng và cấu tạo trứng vịt
* Khối lượng trứng
Theo Nguyễn Đức Trọng và cs (2008) cho biết tỷ lệ nuôi sống của vịt SM3SM nhập nội từ Vương quốc Anh nuôi tại Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên giai đoạn 0 - 8 tuần tuổi đạt từ 96,01 - 97,37% tương đương với tỷ lệ nuôi sống khi vịt được nuôi tại bản địa
Cũng theo Nguyễn Đức Trọng và cs (2009) thì tỷ lệ nuôi sống của vịt M14 nhập nội từ Pháp giai đoạn 0 - 8 tuần tuổi ở thế hệ xuất phát đạt từ 98,14 - 98,62% tương đương với vịt M14 khi được nuôi tại Pháp
Theo Phùng Đức Tiến và cs (2008) khi theo dõi vịt SM3SH nuôi tại trại Cẩm Bình- Hải Dương cho biết tỷ lệ nuôi sống giai đoạn 0-8 tuần tuổi đạt từ 96,34
- 99,0% tương đương với tỷ lệ nuôi sống của vịt này khi nuôi tại Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên, và tương đương với tỷ lệ nuôi sống tại Anh
Điều kiện sống cũng ảnh hưởng một phần và trực tiếp đến sức sống và khả năng kháng bệnh của vật nuôi
Theo Phạm Văn Trượng và cs (1993) cho biết đối với vịt CV-Super M nuôi theo các phương thức nuôi khác nhau cho thấy: với phương thức chăn thả cổ truyền thì tỷ lệ nuôi sống đến 56 ngày tuổi đạt 91,97% còn đối với phương thức nuôi chăn thả có bổ sung thức ăn hỗn hợp thì tỷ lệ nuôi sống đến 56 ngày tuổi đạt trung bình 97,2%, cao hơn hẳn phương thức chăn thả truyền thống, điều này cho thấy, đối với vịt CV-Super M khi bổ sung thức ăn cho đàn thủy cầm đầy đủ thì sức sống của chúng cũng tăng lên
* Cấu tạo trứng vịt
Trứng gia cầm hay trứng vịt cấu tạo gồm ba phần: vỏ trứng, lòng đỏ và lòng trắng
Trang 31- Vỏ trứng
Vỏ trứng làm nhiệm vụ bảo vệ các phần chứa bên trong trứng, nó bao gồm nhiều lớp khác nhau Vỏ trứng được bao bên ngoài bởi lớp màng keo mỏng do tử cung và âm đạo tiết ra Lớp keo dính này có tác dụng làm giảm độ ma sát giữa thành âm đạo và trứng để thuận lợi cho việc đẻ trứng Lớp màng keo còn có tác dụng hạn chế sự bốc hơi nước của trứng và ngăn cản sự xâm nhập của vi khuẩn
từ bên ngoài vào bên trong trứng
Tiếp lớp màng keo là lớp vỏ cứng, đây là phần chủ yếu trong cấu tạo vỏ trứng gia cầm, có độ dày từ 0,2 - 0,6mm Độ dày vỏ cứng không đồng đều mà tăng dần từ đầu lớn đến đầu nhỏ của quả trứng Vỏ cứng được cấu tạo từ hai lớp; lớp bên ngoài là lớp bền chắc chiếm 2/3 độ dày vỏ cứng, lớp này được hình thành
từ cốt hữu cơ và chất trung gian Lớp bên trong là lớp nhú vỏ trứng hay còn gọi
là lớp thể nhú hoặc lớp hình bán cầu; lớp này chiếm 1/3 độ dày vỏ cứng Trên bề mặt vỏ cứng có các lỗ thông khí, những lỗ khí này tham gia vào sự trao đổi khí
và truyền nhiệt trong thời gian ấp Trên một vỏ quả trứng gà có khoảng 7.800 - 10.000 lỗ khí, mật độ trung bình tính trên 1cm2 khoảng 130 lỗ khí, đường kính lỗ khí dao động trong khoảng 4 - 40µ Mật độ lỗ khí phân bố không đều mà có chiểu hướng giảm dần từ đầu lớn đến đầu nhỏ của quả trứng Mật độ lỗ khí quá nhiều hay quá ít, đường kính lỗ khí quá lớn hay quá nhỏ đến ảnh hưởng không tốt đến kết quả ấp nở của trứng gia cầm Màu sắc của vỏ được quyết định bởi sự
có mặt của các sắc tố màu do tử cung tiết ra
Dưới lớp vỏ cứng là hai lớp màng dưới vỏ, chúng được tạo thành từ những bó protein bện lại với nhau Lớp bên trong do những bó mảnh hơn còn lớp bên ngoài do các bó dày hơn tạo thành Hai lớp này gắn chặt với nhau, chỉ tách ra
ở phần to của quả trứng tạo thành buồng khí Màng dưới vỏ trứng là một chướng ngại vật chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn và nấm Nó được cấu trúc từ những
tổ chức đàn hồi và bền chắc, nước không khí và các chất khoáng hòa tan có thể thấm qua Màng vỏ trứng bao bọc lòng trắng, lòng trắng lại bao bọc lòng đỏ Như vậy vỏ trứng có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ các phần bên trong trứng cũng như quá trình trao đổi khí và truyền nhiệt trong thời gian ấp
- Lòng trắng
Lòng trắng được cấu tạo từ nhiều lớp có độ quánh khác nhau Lớp ngoài cùng loãng gọi là lớp lòng trắng loãng ngoài chiếm tỷ lệ 23,2%; sau đó là lớp quánh
Trang 32gọi là lớp lòng trắng đặc giữa chiếm tỷ lệ cao nhất 57,3%; tiếp theo là lớp loãng gọi
là lớp trắng loãng trong (16,8%) và lớp cuối cùng rất mỏng nằm sát với lòng đỏ được gọi là lớp lòng trắng đặc trong (2,7%) Tỷ lệ này dao động phụ thuộc nhiều yếu tố như: khối lượng trứng, độ tươi của trứng (tuổi trứng), giống, loài, cá thể và chế độ nuôi dưỡng, bảo quản trứng
Lòng trắng ngăn cản không cho lòng đỏ dính sát vào vỏ trứng nhờ dây chắng nối hai đầu của lòng đỏ được cấu tạo từ lòng trắng đặc và các lớp lòng trắng bao quanh Vì vậy, lòng đỏ luôn nằm ở vị trí trung tâm quả trứng và ít bị chấn động bởi các tác nhân cơ học từ bên ngoài
- Lòng đỏ
Lòng đỏ trứng gia cầm là một loại tế bào trứng khổng lồ nằm ở trung tâm quả trứng; màu sắc đỏ tươi hay vàng nhạt phụ thuộc vào hàm lượng sắc tố có trong thức ăn (xantophill)
Lòng đỏ được bao bọc bên ngoài bằng một lớp màng mỏng đàn hồi và bền chắc với độ dày từ 16 - 20µ Màng còn có tính thẩm thấu chọn lọc để thực hiện trao đổi chất giữa lòng trắng và lòng đỏ
Lòng đỏ bao gồm nhiều lớp lòng đỏ là những vòng tròn đồng tâm có màu sắc đậm nhạt khác nhau, còn gọi là đĩa tối và đĩa sáng hay lớp lòng đỏ sẫm và lòng đỏ sáng Các lớp lòng đỏ sẫm được hình thành trong cả ngày cho đến nửa đêm, các lớp lòng đỏ sáng được hình thành trong nửa đêm còn lại, thể hiện tính chu kỳ trong việc hình thành lòng đỏ Ở giữa lòng đỏ tập trung một lớp lòng đỏ trắng, lớp này kéo dài tới tận đĩa phôi gọi là hốc lòng đỏ Hốc lòng đỏ có nhiệm
vụ thu hút tập trung các chất dinh dưỡng để cung cấp cho phôi phát triển ở giai đoạn đầu
Trên bề mặt lòng đỏ có một điểm tròn, đường kính từ 1 - 2mm, màu nhạt hơn màu lòng đỏ, đo chính là nhân tế bào hay đĩa phôi, đĩa phôi dễ dàng nhìn thấy bằng mắt thường Do tỷ trọng của đĩa phôi nhỏ hơn tỷ trọng của lòng đỏ nên
dù đặt trứng ở vị trí nào thì đĩa phôi vẫn nổi lên phía trên lòng đỏ
2.2.3.4 Khả năng ấp nở của trứng vịt
Khả năng ấp nở của trứng vịt chính là chỉ tiêu tỷ lệ ấp nở Tỷ lệ ấp nở không những đánh giá khả năng tái sản xuất của đàn giống mà còn là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sức sản suất của gia cầm Tỷ lệ nở biểu hiện sức sống của phôi trong quá trình ấp nở Tỷ lệ nở được xác định bằng nhiều công thức khác
Trang 33nhau tùy theo mục đích của người nghiên cứu Trong sản xuất tỷ lệ ấp nở được xác định bằng tỷ lệ % giữa số con nở ra với số trứng đem ấp Trong thí nghiệm,
để so sánh giữa các nhân tố ảnh hưởng đến ấp nở hoặc xác định chất lượng của máy ấp người ta tính bắng tỷ lệ % giữa số con nở ra với số trứng có phôi Còn ở các trạm nghiên cứu về Di truyền - Giống, người ta tính bằng tỷ lệ % giữa số con
nở ra với số trứng đẻ ra
Tỷ lệ nở là chỉ tiêu đánh giá đầu tiên cho sức sống của gia cầm ở đời con
Tỷ lệ nở không những đặc trưng cho đặc tính di truyền về sức sống mà còn đặc trưng cho cấu tạo trứng và sự phát triển của phôi
Tỷ lệ nở phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, đó là các yếu tố về môi trường bên trong của trứng và yếu tố bên ngoài
+ Ảnh hưởng của môi trường bên trong: đó chính là tất cả các yếu tố liên quan đến chất lượng trứng ấp Nó bao gồm tất cả các chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng ấp như chất lượng bên ngoài trứng ấp (khối lượng trứng, chỉ số hình thái, chất lượng vỏ), chất lượng bên trong trứng ấp (chỉ số lòng trắng, chỉ số lòng đỏ, đơn vị Haugh) Mỗi một yếu tố lại ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả ấp nở và sức sống của gia cầm con mới nở
+ Ảnh hưởng của môi trường bên ngoài: đó chính là các yếu tố trong quá trình bảo quản, vận chuyển, nhiệt độ, ẩm độ, sự thông thoáng, quá trình làm mát, trình độ ấp, chất lượng đàn giống bố mẹ
2.2.4 Tiêu tốn thức ăn/đơn vị sản phẩm
Tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng trọng là chỉ tiêu thể hiện tỷ lệ chuyển hoá thức ăn để đạt được tốc độ tăng trọng, vì tăng trọng là một chức năng chính của quá trình chuyển hoá thức ăn, hay nói cách khác tiêu tốn thức ăn là hiệu suất giữa thức ăn trên một kg tăng trọng
Chi phí thức ăn chiếm tới 70% giá thành sản phẩm, tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại Khi hai cơ thể có cùng một khối lượng xuất phát, để đạt được một khối lượng nhất định nào đó thì
cơ thể sinh trưởng chậm mất nhiều thời gian hơn, trong thời gian dài hơn đó ngan tăng trọng nhanh, điều đó dẫn tới tiêu tốn thức ăn cao hơn Mặt khác tăng trọng nhanh thì cơ thể đồng hoá và dị hoá tốt hơn, khả năng trao đổi chất tăng cường hơn, làm cho hiệu quả sử dụng thức ăn cao, dẫn đến tiêu tốn thức ăn thấp
Chambers et al (1984), đã xác định được hệ số tương quan di truyền giữa khối
Trang 34lượng cơ thể và tăng trọng với tiêu tốn thức ăn thường là rất cao (0,5 - 0,9), còn tương quan di truyền giữa sinh trưởng và chuyển hoá thức ăn là âm và thấp (-0,2 đến -0,8) Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng còn phụ thuộc vào độ tuổi, khi con vật còn non chỉ tiêu này thấp, càng về sau lượng tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng trọng càng cao
Tiêu tốn thức ăn là một chỉ tiêu có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi Do vậy, có rất nhiều công trình nghiên cứu nhằm chọn tạo ra các dòng, giống mới có sức sinh trưởng nhanh và tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng thấp Và cũng nhiều công trình đi sâu nghiên cứu về chế độ dinh dưỡng nhằm xác định chế
độ dinh dưỡng thích hợp cho các dòng và giống mới, từ đó phát huy được các tiềm năng sinh trưởng và đem lại hiệu quả kinh tế cao
2.3 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA LAI KINH TẾ VÀ ƯU THẾ LAI
2.3.1 Cơ sở khoa học của lai kinh tế
Lai kinh tế là lai giữa hai cơ thể thuộc hai dòng khác nhau cùng giống, khác giống hoặc thuộc hai giống khác loài (chủng),… để sử dụng con lai F1 làm sản phẩm Con lai này không để làm giống mà chỉ để lấy sản phẩm thịt, sữa, trứng… thường chủ yếu lấy thịt hay tăng sinh trưởng Lai kinh tế được gọi là lai công nghiệp vì chỉ dùng F1 làm sản phẩm nên sản phẩm có thể sản xuất nhanh, hàng loạt, có chất lượng trong một đơn vị thời gian tương đối ngắn (Trần Ðình Miên
và Nguyễn Văn Thiện, 1995)
Tiến hành lai kinh tế để sử dụng ưu thế lai vì ưu thế lai làm tăng mức trung bình tính trạng giữa hai giống gốc, hai dòng thuần, nhất là đối với các tính trạng khối lượng, tăng trọng, tăng chiều dài, chiều ngang Con lai có thể mang những đặc tính trội của giống gốc bố, hoặc có thể phối hợp được những đặc tính của hai giống gốc hoặc vẫn giữ nguyên tính bảo thủ của một trong hai giống gốc
Năng suất vật nuôi phụ thuộc hai yếu tố, đó là bản chất di truyền và ngoại cảnh Do vậy, trong chăn nuôi có hai hướng chủ yếu để nâng cao năng suất vật nuôi đó là:
Cải tiến bản chất di truyền của vật nuôi
Cải tiến phương pháp chăn nuôi
Trong công tác giống kể từ những giống vật nuôi đầu tiên được tạo ra từ cuối thế kỷ 18, các giống mới thường được hình thành bằng con đường lai tạo và những
Trang 35giống gốc ban đầu ít nhiều có pha máu giữa nhiều giống khác nhau Cho đến nay việc tạo ra sản phẩm các loại như: thịt, sữa, trứng, lông… phần lớn cũng đều được thông qua lai tạo và việc lai tạo cũng đã có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng của sản phẩm (Trần Đình Miên và Nguyễn văn Thiện, 1995)
Trong lịch sử nghiên cứu về lai tạo, Darwin là người đầu tiên đã nêu lên lợi ích của lai tạo và đi đến kết luận là lai có lợi, tự giao là có hại đối với động vật Lai tạo còn nhằm sử dụng hiện tượng sinh học quan trọng đó là ưu thế lai (Hetorosis) làm cho sức sống của con vật, sức đề kháng đối với bệnh tật và các tính trạng kinh tế được nâng cao, đồng thời thông qua các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của tổ hợp lai, ưu thế lai làm căn cứ cho việc chọn lọc giống gia súc (Lê Đình Lương và Phan Cự Nhân, 1994)
Trong quá trình nghiên cứu di truyền, nguyên tắc hoàn toàn mới được Mendel đưa vào để nghiên cứu đó là phương pháp lai, liên quan đến việc nghiên cứu đặc điểm di truyền của từng tính trạng và đặc tính riêng rẽ Phương pháp này
do ông phát hiện và hình thành nên những quy luật cơ bản của di truyền Theo Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường (1992), thì căn cứ vào mục đích của lai tạo người ta thường áp dụng những phương pháp lai khác nhau như: lai kinh tế, lai luân chuyển, lai cải tiến (lai pha máu), lai cải tạo, lai phối hợp (lai tạo thành) Lai kinh tế là phương pháp lai phổ biến nhất
Lai kinh tế có lai đơn giản và lai phức tạp Quá trình nghiên cứu lai kinh tế người ta quan tâm tới khả năng phối hợp (Nicking) Đó là cách chọn những con giống gốc lai với nhau nhằm tạo nên những tổ hợp gen mới, các tính trạng vốn có
ở giống gốc nhưng ở mức cao hơn theo mục đích thể hiện ở con lai Theo Lê Thanh Hải (1978), và các tác giả khác đã trình bày các cơ sở di truyền của việc chọn giống gia cầm về khả năng phối hợp, cũng như xem xét một loạt vấn đề có liên quan tới việc đánh giá hệ số di truyền các tính trạng khác nhau trong khi lai gia cầm
Để lai kinh tế có hiệu quả phải chọn lọc tốt các dòng thuần, trong quần thể các cá thể dị hợp sẽ giảm đi và các cá thể đồng hợp tử sẽ tăng lên (Nguyễn Ân và
cs, 1983) Trong giống bao gồm các dòng, mỗi dòng có đặc điểm chung của giống nhưng lại có đặc điểm di truyền riêng biệt Sự khác biệt mỗi dòng về kiểu gen chính là yếu tố quyết định sẽ xuất hiện ưu thế lai, nhưng nếu sự khác biệt quá
xa thì khi cho lai không có sự kết hợp Theo tài liệu của Abtopute (1968) thì
Trang 36muốn đạt được ưu thế lai siêu trội thì phải cho giao phối giữa các dòng xuất phát khác nhau về kiểu gen nhưng phải có khả năng kết hợp tốt với nhau
Gia cầm lai do sự giao phối giữa hai hay nhiều dòng trong cùng một giống hay nhiều giống phối hợp được nhiều đặc trưng kinh tế có lợi, vì vậy mỗi chức năng sinh lý sinh hoá của chúng được tăng cường và do đó năng suất càng được tăng lên
Trong việc lai giữa dòng người ta dùng nhiều phương pháp chọn giống khác nhau làm cho sự phối hợp giữa các dòng mang lại được hiệu quả của ưu thế lai Không phải bất cứ dòng nào đem lai cũng đạt được hiệu quả của ưu thế lai theo ý muốn, người ta chỉ cho lai những dòng có khả năng phối hợp tốt Để xác định được khả năng phối hợp đó người ta dùng phương pháp cho phối giống giữa các dòng rồi kiểm tra đánh giá chất lượng thế hệ sau
Muốn đạt được sự phối hợp cao giữa các dòng, công tác chọn giống phải đi theo một hướng nhất định nếu không sự phối hợp giữa các dòng sẽ kém, năng suất, chất lượng con lai sẽ bị giảm sút Bởi vậy người ta không thể tạo ra được những gia cầm lai tốt bằng cách cho giao phối một cách tình cờ và tuỳ tiện giữa các dòng Muốn gia cầm có năng suất cao, phải cho giao phối giữa các dòng đã quy định, những dòng này đã được phối hợp về năng suất, chất lượng theo một phương pháp chọn giống nhất định và được thực hiện trong cơ sở giống
Theo Phan Cự Nhân (1971), gia cầm lai cũng là một phương pháp phổ biến
ở nhiều nước vì người ta đã xác định rõ về mặt di truyền là gia cầm dị hợp tử có năng suất cao hơn gia cầm đồng hợp tử
Trong tất cả những khía cạnh phân tích trên thì vấn đề ở chỗ lựa chọn những con giống có giá trị di truyền cộng gộp mạnh nhất Nhưng chúng ta cũng thấy rằng đối với một số tính trạng nhất là tính trạng về sinh sản phần phương sai cộng gộp trong tổng cộng phương sai là rất nhỏ, như vậy có rất ít sai khác về giá trị cộng gộp giữa những cá thể cấu thành quần thể Trong những điều kiện đó, điều lôgic là tìm cách sử dụng những thành phần không cộng gộp của giá trị tức
là những mối tác động qua lại (tính trội và những mối tác động qua lại giữa các lôcut) Những mối tác động qua lại này chủ yếu thể hiện qua hiện tượng ưu thế lai được quan sát thấy ở những cơ thể lai Những phương pháp chọn giống tìm cách sử dụng nguồn biến dị đó chủ yếu dựa vào sự lai giống Người ta có thể dùng lai giữa các dòng hay tạo ra những dòng đồng huyết và cho chúng lai với
Trang 37nhau (Giang Misengu, 1982)
Hiện nay nhiều Hãng gia cầm lớn với trang thiết bị kỹ thuật hiện đại đã đi vào sản xuất, thích ứng với trang thiết bị đó và để tăng năng suất trứng và năng suất thịt, hầu hết các nước có ngành chăn nuôi gia cầm phát triển đều không chỉ
sử dụng gia cầm lai giữa giống vì chúng không còn đáp ứng được những đòi hỏi
về năng suất của ngành chăn nuôi gia cầm theo quy mô công nghiệp chuyên môn hoá Vì vậy, hiện nay người ta chú ý rất nhiều đến phương pháp lai giữa dòng Trong chăn nuôi gia cầm, tuỳ theo điều kiện và mục đích khác nhau mà người ta sử dụng lai đơn hay lai kép
* Lai đơn
Là phương pháp lai kinh tế đơn giản nhưng vẫn phát huy tốt ưu thế lai Lai đơn thường được áp dụng để lai một số giống cao sản có năng suất thịt hoặc trứng cao với một số giống có tầm vóc nhỏ, năng suất thấp hơn nhưng có khả năng tận dụng thức ăn cao, khả năng chống chịu bệnh và ngoại cảnh cao
Ở Indonesia, người ta cho lai giống vịt Alabio với vịt Bắc Kinh để tạo con lai phát huy được những đặc điểm tốt của cả hai giống
Ở Việt nam, nhiều tác giả đã cho lai vịt Bắc king với vịt cỏ (Lê Xuân Đồng
và ctv, 1989), vịt Anh Đào với vịt Cỏ hoặc vịt Bầu (Đào Đức Long, 1973); Vũ Tuyên Hoàng và cs (1990) để tạo con lai thương phẩm có năng suất thịt cao hơn các giống vịt nội Phạm Văn Trượng (1995) đã cho lai vịt CV Super với vịt Anh Đào Hung và vịt Anh Đào Tiệp đã cho năng suất siêu trội vượt so với trung bình
Trong chăn nuôi gà người ta áp dụng lai giữa ba, bốn dòng để tạo tổ hợp lai thương phẩm có năng suất cao Theo trích dẫn của Đoàn Xuân Trúc (1994), và một số tác giả như Frei (1967), Vladimirov (1969), Sonkov và cộng sự (1979) thì
Trang 382.3.2 Cơ sở di truyền của ưu thế lai
2.3.2.1 Khái niệm về ưu thế lai
Ưu thế lai là hiện tượng sinh học biểu hiện ở sự phát triển mạnh mẽ có thể của những cá thể do lai tạo những con gốc không cùng huyết thống Cũng có thể hiểu ưu thế lai theo nghĩa toàn bộ tức là sự phát triển toàn khối của cơ thể con vật, sự gia tăng cường độ trong quá trình trao đổi chất, sự tăng thêm các tính trạng sản xuất…Mặt khác có thể ưu thế lai theo từng mặt tính trạng một, có khi chỉ là một vài tính trạng phát triển còn các tính trạng khác giữ nguyên, có tính trạng giảm đi (Trần Đình Miên và Nguyễn Văn Thiện, 1995)
Nói chung, người ta có thể biểu thị ưu thế lai là sự tăng sức sống và tăng cường thể trọng, trong đó các cá thể lai khác loài, khác giống và khác dòng thường vượt cả hai bố mẹ chúng Ưu thế lai có thể biểu hiện qua hiện tượng sinh trưởng nhanh hơn, kích thước cơ thể tăng lên, sức sản xuất, sức sống tăng (Hutt, 1978) Theo Lasley (1974), ưu thế lai là hiện tượng sinh học chỉ sự tăng sức sống của đời con so với bố mẹ khi có sự giao phối giữa cá thể không thân thuộc Ưu thế lai không chỉ bao gồm sức chịu đựng, nó bao hàm cả sự giảm độ tử vong, tăng tốc độ sinh trưởng, tăng sức sản xuất và độ mắn đẻ, vì vậy người ta xem hiện tượng đó như một sinh lực
Theo Lê Đình Lương và Phan Cự Nhân (1984), khi lai các loài, chủng, giống hoặc các dòng nội khác nhau phối với nhau thì dạng lai F1 thường vượt các dạng bố mẹ ban đầu về tốc độ sinh trưởng, về khả năng sử dụng chất dinh dưỡng, tính chống chịu bệnh tật Ưu thế lai làm tăng sức sống, sức chịu đựng về năng suất của đời con do giao phối không cận huyết và nuôi trong điều kiện khác nhau Nhìn chung ưu thế lai có nghĩa là sự tăng trưởng và phát triển mạnh
mẽ ở đời con, tính chịu đựng và năng suất của nó cao hơn so với các dạng bố mẹ
Trang 39Nhìn chung ưu thế lai là một hiện tượng sinh học thể hiện trên nhiều mặt, thế hệ lai hơn hẳn bố mẹ về tốc độ sinh trưởng , khả năng sinh sản, khả năng sống, chất lượng thịt, khối lượng trứng, thời gian của chu kỳ đẻ trứng, sự chuyển hoá thức ăn và những đặc tính kinh tế có lợi khác từ đó năng suất của con lai được nâng lên
Theo Nguyễn Ân và cs (1983) thì trong chăn nuôi việc lai các cá thể khác dòng, khác giống, khác chủng nói chung đã có xuất hiện ưu thế lai ở các tính trạng sản xuất Ưu thế lai trong chăn nuôi thể hiện đa dạng khó xếp loại thật rành mạch, nhưng một điều thể hiện rõ nhất là: con lai F1 có ưu thế lai cao hơn so với bất kỳ con lai nào ở các thế hệ tiếp theo là F2, F3, …Fn, song dựa vào sự biểu hiện của tính trạng mà người ta thấy ưu thế lai ở động vật có thể phân thành các loại sau:
Con lai F1 vượt bố mẹ về khối lượng và sức sống
Con lai F1 có khối lượng cơ thể ở mức độ trung gian giữa hai giống song khả năng sinh sản và sức sống có thể hơn hẳn bố mẹ
Con lai F1 trội hơn bố mẹ về thể chất, vững chắc tuổi thọ, sức làm việc, song nó mất một phần hoặc hoàn toàn khả năng sinh sản
Theo Lasley (1974), Trần Đình Miên và Nguyễn Văn Thiện (1995), ưu thế lai là sự khác biệt (hiệu) giữa giá trị tính trạng của con lai so với bố mẹ thường là vượt trên trung bình của bố mẹ:
(Bố + Mẹ)/2
Trong lịch sử chăn nuôi ưu thế lai được biểu hiện trong việc lai lừa với ngựa tạo con la Kết quả của con lai được tạo ra hơn hẳn gốc bố mẹ về nhiều mặt: tầm vóc, sức thồ, sức dẻo dai, sức chịu đựng (Trần Đình Miên và Nguyễn Văn Thiện, 1995)
Trang 402.3.2.2 Bản chất di truyền của ưu thế lai
Ưu thế lai càng cao khi bố mẹ càng xa nhau, vì vậy bản chất của ưu thế lai được giải thích tập trung vào hai thuyết chính (Trần Đình Miên và Nguyễn Văn Thiện, 1995)
Theo thuyết gen trội những tính trạng như sức sống, khả năng sinh sản nói chung là những tính trạng số lượng do nhiều gen điều khiển, nên rất hiếm có tỷ lệ đồng hợp Thế hệ con được tạo ra do lai giữa hai cá thể sẽ được biểu hiện tất cả các gen trội trong đó một nửa thuộc gen trội đồng hợp của cha mẹ và một nửa thuộc gen trội dị hợp Khi cha mẹ xa nhau trong quan hệ huyết thống (khác dòng, khác giống, khác loài) thì xác suất để mỗi cặp cha mẹ truyền lại cho con những gen trội khác nhau càng tăng lên, từ đó dẫn đến mức độ ưu thế lai
Đời cha mẹ AabbccDDee x aaBBCCddEE
Số lôcut mang gen trội 2 2
Trong trường hợp này tất cả các gen lặn (trừ c) đều bị át gen bởi gen trội Giả thuyết này được phổ biến rộng rãi trong di truyền, song cũng không phải là giả thuyết duy nhất để giải thích thoả đáng cơ chế về bản chất của ưu thế lai Theo thuyết siêu trội: hiệu quả của một alen ở trạng thái dị hợp thường khác với hiệu quả của từng alen này biểu hiện ở trạng thái đồng hợp Cho nên có thể
có tính trạng ở trạng thái dị hợp (trạng thái trội) sẽ vượt lên bất kỳ dạng nào Trạng thái siêu trội có thể là do ở thể dị hợp sự tương tác giữa hai alen sẽ có tác động lớn lên kiểu hình Trong phần lớn các trường hợp alen trội là thắng thế (Trần Đình Miên và Nguyễn Văn Thiện, 1995)
Theo tài liệu của Nguyễn Huy Đạt (1991), từ năm 1907 có một số quan niệm cho rằng: cơ sở của ưu thể lai ở ngay tính dị hợp tử theo nhiều nhân tố di truyền Các tác giả cho rằng ở cùng một cứ điểm nếu nhiều alen khác nhau thì sẽ tăng nhiều khả năng phụ trách các quá trình tổng hợp sinh hoá khác nhau, đảm bảo tốt hơn sự tiến triển các chức năng sinh lý cần thiết cho cơ thể, giúp cho cơ thể dị hợp phát triển hơn cơ thể thuần hợp tử Kết quả nghiên cứu của Hull (1973), cho thấy cơ thể ở dạng Aa phát triển mạnh mẽ hơn cơ thể ở dạng AA và
aa Ưu thế lai của Aa là ở chỗ mỗi alen trong quá trình tổng hợp sinh hoá đảm