Do vậy, việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp từ đó lựa chọn các loại hình sử dụng đất hiệu quả, định hướng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở
Trang 11.1 Vai trò và đặc điểm của ngành sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế 3 1.1.1 Vai trò của ngành sản xuất nông nghiệp 3 1.1.2 Đặc điểm của ngành sản xuất nông nghiệp 5 1.2 Đất và vai trò của đất trong sản xuất nông nghiệp 7 1.2.1 Khái niệm và phân loại đất nông nghiệp 7 1.2.2 Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất nông nghiệp 8 1.3 Các quan điểm về hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất 8
1.3.2 Ý nghĩa của đánh giá hiệu quả sử dụng đất đối với sản xuất nông nghiệp 10 1.3.3 Một số quan điểm về đánh giá hiệu quả sử dụng đất 10 1.3.4 Quan điểm đánh giá hiệu quả sử dụng đất của FAO 12 1.4 Sử dụng đất nông nghiệp theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững 14 1.5 Những nghiên cứu đánh giá sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và tại
Trang 21.5.2 Tại Việt Nam 18
2.3.1 Điều tra, đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có ảnh hưởng tới sử dụng đất nông nghiệp của huyện Nho Quan 22 2.3.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Nho Quan 22 2.3.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện Nho Quan 22 2.3.4 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình 23
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 24
2.4.4 Phương pháp tính hiệu quả sử dụng đất 24
3.2 Hiện trạng sử dụng đất và thực trạng phát triển nông nghiệp huyện
3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Nho Quan 37 3.2.2 Hiện trạng sản xuất nông nghiệp huyện Nho Quan 39 3.2.3 Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp huyện Nho Quan 41 3.3 Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện 50 3.3.1 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất 50
Trang 33.4.1 Những căn cứ lựa chọn các loại hình và kiểu sử dụng đất 71 3.4.2 Kết quả lựa chọn các loại hình và kiểu sử dụng đất 71 3.5 Một số giải pháp mở rộng diện tích các loại hình sử dụng đất triển vọng 73
Trang 5DANH MỤC BẢNG
2.1 Phân cấp hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất 25 2.2 Phân cấp hiệu quả xã hội của các loại hình và kiểu sử dụng đất 26 3.1 Cơ cấu kinh tế của huyện Nho Quan giai đoạn 2010 – 2014 36 3.2 Diện tích, cơ cấu đất đai phân theo mục đích sử dụng 38 3.3 Sản xuất nông nghiệp huyện Nho Quan giai đoạn 2010 - 2014 40 3.4 Hiện trạng các loại hình sử dụng đất nông nghiệp huyện Nho Quan 43 3.5 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 1 51 3.6 Đánh giá hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất tiểu vùng 1 52 3.7 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 2 54 3.8 Đánh giá hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất tiểu vùng 2 55 3.9 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 3 57
3.17 Mức sử dụng phân bón của các cây trồng huyện Nho Quan 65 3.18 Hiện trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật huyện Nho Quan 66 3.19 Đánh giá hiệu quả môi trường tiểu vùng 1 67 3.20 Đánh giá hiệu quả môi trường tiểu vùng 2 68 3.21 Đánh giá hiệu quả môi trường tiểu vùng 3 68 3.22 Đánh giá tổng hợp các loại hình và kiểu sử dụng đất huyện Nho Quan 70
Trang 6DANH MỤC HÌNH
3.1 Cơ cấu đất đai theo mục đích sử dụng huyện Nho Quan 39 3.2 Cánh đồng trồng lạc xã Xích Thổ - Nho Quan 45 3.3 Cánh đồng chuyên rau xã Thạch Bình - Nho Quan 46
3.5 Cánh đồng chuyên trồng lúa xã Văn Phong - Nho Quan 48 3.6 Cánh đồng trồng lúa kết hợp nuôi cá tiểu vùng 3 49 3.7 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất của tiểu vùng 1 52 3.8 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất của tiểu vùng 2 55 3.9 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất của tiểu vùng 3 57
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại, phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất Các Mác viết: “Đất đai là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện để sinh tồn, là điều
kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản” Bởi vậy, nếu
không có đất đai thì không có bất kỳ một ngành sản xuất nào có thể hoạt động, con người không thể sản xuất ra của cải vật chất để tồn tại và duy trì nòi giống Theo Luật Đất đai năm 2013 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam : “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng Trải qua nhiều thế hệ nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay!”
Đối với sản xuất nông nghiệp, đất đai không chỉ là đối tượng lao động mà còn là tư liệu sản xuất đặc biệt, không thể thay thế được Quá trình sản xuất nông nghiệp luôn liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu và các quá trình hóa, sinh, lý học tự nhiên của đất (Lê Văn Khoa, 2007)
Tuy nhiên, đất đai có tính cố định vị trí, không thể di chuyển được và luôn phải chịu sự chi phối của các yếu tố môi trường cũng như sự tác động của con người trong quá trình sản xuất Mặt khác, đất đai không giống các hàng hóa khác có thể sản sinh qua quá trình sản xuất Do đó, đất đai là có hạn Bảo vệ đất đai là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để phát triển bền vững (Lê Thái Bạt, 1995)
Việt Nam là nước đang phát triển Sản xuất nông nghiệp luôn đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế của đất nước Từ một nền kinh tế nông nghiệp tập trung mang nặng tính bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường, nước ta đang phải đối mặt với hàng loạt các vấn đề kinh tế, xã hội cũng như môi trường Mặt khác, sức ép của gia tăng dân số, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và sự thiếu ý thức của
Trang 8con người trong quá trình sản xuất khiến đất nông nghiệp đang bị suy giảm về diện tích cũng như chất lượng Để đạt được mục tiêu phát triển bền vững, Việt Nam cần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở đó nâng cao thu nhập cho người nông dân, cải thiện cảnh quan, bảo vệ môi trường và hệ sinh thái Do vậy, việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp từ đó lựa chọn các loại hình sử dụng đất hiệu quả, định hướng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề quan trọng, cần được quan tâm nghiên cứu
Nho Quan là huyện miền núi phía Tây Bắc của tỉnh Ninh Bình, có diện tích
tự nhiên là 44.528,00 ha, chiếm 1/3 tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Nho Quan có địa hình phức tạp, có tính chất bán sơn địa, vừa có đồi núi vừa có đồng bằng Đây là huyện nông nghiệp trọng điểm của tỉnh Ninh Bình Huyện có quỹ đất nông nghiệp dồi dào và lực lượng lao động trong ngành nông nghiệp lớn, chiếm gần 60% tổng số lao động của huyện Sản xuất nông nghiệp cũng là nguồn thu nhập chủ yếu của người dân địa phương Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp nhằm định hướng sử dụng đất phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội là vô cùng cần thiết trong phát triển kinh tế của huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn trên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS Phan
Quốc Hưng, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả và định hướng sử
dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Nho Quan – tỉnh Ninh Bình”
2 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện Nho Quan
Đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả phù hợp với điều kiện
tự nhiên kinh tế xã hội của huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm góp phần bổ sung phương pháp luận trong đánh giá đất, nghiên cứu sâu về các loại hình sử dụng đất, giúp cho các cơ quan quản lý đất đai có những chính sách về sử dụng và bảo vệ đất đai theo quan điểm sử dụng đất bền vững
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Vai trò và đặc điểm của ngành sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế
1.1.1 Vai trò của ngành sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất xuất hiện đầu tiên trong lịch sử phát triển của xã hội loài người Cuộc cách mạng công nghiệp mở ra vào cuối thế kỷ XVIII, rồi cách mạng khoa học kỹ thuật giữa thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI có nhiều ngành
ra đời và phát triển lớn mạnh: công nghiệp, xây dựng, thương mại dịch vụ, viễn thông, công nghệ tin học…Mặc dù vậy, nông nghiệp vẫn là một trong hai ngành sản xuất vật chất rất quan trọng, bởi những đóng góp sau đây:
Thứ nhất, nông nghiệp sản xuất và cung cấp lương thực, thực phẩm cho nhu cầu thiết yếu của cuộc sống Nhiều sản phẩm của nông nghiệp: lương thực, thực phẩm đều là những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của cuộc sống Ăng Ghen đã từng khẳng định: "Trước hết con người cần phải có ăn, uống, ở và mặc, trước khi lo đến chuyện làm chính trị, khoa học, nghệ thuật và tôn giáo" Việt Nam
ta có câu "Có thực mới vực được đạo" Xã hội càng phát triển, với dân số ngày càng tăng, chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao thì nhu cầu về số lượng, chủng loại đa dạng hơn và chất lượng cao hơn Điều quan trọng là, dù trình độ khoa học - công nghệ có hiện đại đến mấy cũng chưa có ngành nào thay thế ngành nông nghiệp
để tạo ra lương thực thực phẩm cho xã hội Với trình độ phát triển của khoa học ngày nay, vẫn chưa có một ngành sản xuất nào có thể thay thế được ngành nông nghiệp Nếu thiếu những sản phẩm thiết yếu của nông nghiệp, con người không thể tồn tại và phát triển được
Thứ hai, nông nghiệp cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến Các ngành công nghiệp giấy, công nghiệp dệt, công nghiệp rượu, bia, công nghiệp giầy da, công nghiệp dầu ăn, công nghiệp đồ hộp… sử dụng chủ yếu nguyên liệu đầu vào được sản xuất từ những sản phẩm của nông nghiệp Bởi vậy, sự phát triển của ngành nông nghiệp có tác động thúc đẩy cho công nghiệp nhẹ, đặc biệt là công nghiệp chế biến cùng phát triển theo
Trang 10Thứ ba, nông nghiệp cung cấp hàng hoá xuất khẩu Do đặc thù của sản xuất nông nghiệp, mỗi quốc gia có lợi thế phát triển cây trồng, vật nuôi khác nhau, hình thành lợi thế so sánh giữa các quốc gia về phát triển thương mại quốc tế Vì thế, các quốc gia có lợi thế về phát triển nông nghiệp sẽ xuất khẩu nông sản, tạo nguồn ngoại tệ cho đất nước, thúc đẩy kinh tế phát triển Ở những nước đang trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nông nghiệp còn là nguồn tạo
ra thu nhập về ngoại tệ hoặc có thể trao đổi lấy máy móc, trang thiết bị
Thứ tư, nông nghiệp nông thôn là thị trường tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá
và dịch vụ của công nghiệp và các ngành kinh tế khác Nông nghiệp là một trong những nhân tố bảo đảm cho các ngành công nghiệp khác phát triển như công nghiệp hoá học, cơ khí, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, dịch vụ sản xuất và đời sống
Sự phát triển ổn định của nông nghiệp đòi hỏi phải cung cấp một lượng hàng ổn định về vật tư, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, máy móc nông cụ cũng như các mặt hàng tiêu dùng công nghiệp như, xà phòng, giấy vở, dệt may… Vì thế, nông nghiệp, nông thôn là thị trường tiêu thụ các sản phẩm của các ngành công nghiệp và dịch
vụ Việt Nam là quốc gia có nền kinh tế đang phát triển, dân số nông thôn còn chiếm tỷ lệ rất cao Do đó, phát triển nông nghiệp nông thôn sẽ làm tăng thu nhập cho người dân nông thôn, là điều kiện để họ tăng khả năng tiêu dùng các hàng hoá, dịch vụ của công nghiệp và các ngành kinh tế khác, là cơ sở thúc đẩy cho nền kinh
tế phát triển
Thứ năm, nông nghiệp còn có tác dụng giữ gìn và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, củng cố và bảo vệ an ninh quốc phòng Phát triển nông nghiệp ở bất cứ nước nào, cũng gắn liền với việc sử dụng và quản lý các tài nguyên thiên nhiên như đất đai, nguồn nước, rừng, thực vật và động vật Một nền nông nghiệp phát triển, ngoài việc đảm bảo các vai trò nói trên, còn phải góp phần giữ gìn và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường, chống suy giảm các nguồn lực, mất đa dạng sinh học, chống ô nhiễm môi trường Đó là điều kiện cần thiết cho sự phát triển một nền nông nghiệp ổn định và bền vững Hơn nữa, do đặc thù của sản xuất nông nghiệp gắn liền với cuộc sống của người nông dân Vì thế, ở đâu có sản xuất nông nghiệp thì ở đó có nông dân, lực lượng nòng cốt giữ gìn an ninh quốc phòng, bảo vệ tổ quốc (Đỗ Quang Quý, 2007)
Trang 111.1.2 Đặc điểm của ngành sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp là một ngành kinh tế đặc biệt, khác với công nghiệp và các ngành kinh tế khác ở lĩnh vực sản xuất, đầu tư và lưu thông hàng hoá Để phát triển đúng đắn nền nông nghiệp, việc xem xét và phân tích các đặc điểm của ngành là rất cần thiết
Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là sinh vật Sinh vật bao gồm các cây trồng, vật nuôi và các sinh vật khác Chúng có các quy luật tự nhiên riêng (sinh trưởng, phát triển, phát dục, diệt vong) và đồng thời lại chịu tác động rất nhiều từ ngoại cảnh tồn tại độc lập với ý muốn chủ quan của con người Vì thế, trong công nghiệp con người có thể tác động vào đối tượng sản xuất ở bất cứ phạm vi và mức
độ nào theo ý muốn, thì trong nông nghiệp con người phải nhận thức cho được quy luật sinh học và quy luật tự nhiên để cho sinh vật phát triển theo chiều hướng có lợi cho con người Mọi sự can thiệp phù hợp với quy luật sinh học và quy luật tự nhiên
là một yêu cầu quan trọng nhất của bất cứ một quá trình sản xuất nông nghiệp nào Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế Trong công nghiệp, đất đai là nơi làm nền móng nhà xưởng, thì địa hình, chất lượng đất không ảnh hưởng nhiều đến năng suất và hiệu quả của ngành Còn trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế Thường thì không có sản xuất nông nghiệp nếu không có đất đai Đất đai được gọi là tư liệu sản xuất đặc biệt là vì nó vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động Đất đai chịu sự tác động của con người như cày, xới để có môi trường tốt cho sinh vật phát triển Đất đai là tư liệu lao động, vì đất được như một công cụ lao động Con người dùng đất đai để trồng cây và chăn nuôi Không có đất đai thì không có sản xuất nông nghiệp Vì thế số lượng và chất lượng đất đai quy định lợi thế so sánh của mỗi vùng, cũng như cơ cấu sản xuất của từng nông trại và cả vùng Hướng sử dụng đất quy định hướng sử dụng các tư liệu sản xuất khác Chỉ có thông qua đất đai, các tư liệu sản xuất mới tác động đến cây trồng, việc sử dụng đất đai đúng hướng còn quyết định đến hiệu quả sản xuất Từ đây, cần sử dụng đầy đủ và hợp lý để vừa làm tăng năng suất đất đai, vừa giữ gìn và bảo vệ đất đai
Trang 12Nông nghiệp được phân bố trên phạm vi không gian rộng lớn, phức tạp và mang tính khu vực rõ rệt Tích tụ và tập trung cao là đặc điểm cơ bản của sản xuất công nghiệp Trái lại, nông nghiệp được phân bố trên phạm vi không gian rộng lớn,
ở đâu có đất, có người là ở đó có sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, đất đai là sản phẩm của tự nhiên, mỗi vùng rất khác nhau về địa hình, về khí hậu thời tiết, dẫn tới những khác nhau về quy hoạch và bố trí sản xuất trên mỗi vùng, lãnh thổ Đặc điểm này do tính chất của đất đai quy định Hơn nữa, đất đai với tư cách là tư liệu sản xuất chủ yếu có địa bàn trải rộng Tính chất này kéo theo sự đa dạng về địa hình, chất đất, nguồn nước, sinh vật sống ở đó và thời tiết khí hậu
Sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ cao Các cây trồng, vật nuôi ngoài sự tác động trực tiếp của con người cần phải có thời gian tác động của tự nhiên nữa, quá trình kết hợp đó không ăn khớp nhịp nhàng, mà xen kẽ nhau, do vậy trong nông nghiệp có lúc thời vụ nhàn rỗi và có lúc rất căng thẳng (gieo trồng, thu hoạch) Để giảm bớt tính thời vụ, chúng ta cần giải quyết tốt các vấn đề kinh tế - kỹ thuật như
bố trí sản xuất kết hợp với phát triển tổng hợp, mở rộng thêm các ngành nghề, đa dạng hoá trong kỹ năng lao động và đa dạng hoá trong trang bị công cụ lao động có tính vạn năng Về kỹ thuật cần tìm cây trồng, vật nuôi có thời gian sinh trưởng ngắn
để có thể sản xuất nhiều vụ trong năm
Trên đây là những đặc điểm chung của sản xuất nông nghiệp của mọi quốc gia Nông nghiệp Việt Nam ngoài những đặc điểm trên, còn một số đặc điểm riêng Nông nghiệp Việt Nam phát triển từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá trong nền kinh tế thị trường Người sản xuất nông nghiệp chủ yếu là nông dân, còn nhiều hạn chế trong việc tiếp cận các quy luật cung cầu và cạnh tranh Năng suất lao động thấp, ruộng đất manh mún đã cản trở rất nhiều trong quá trình tập trung hoá sản xuất và cơ giới hoá nông nghiệp Nông nghiệp Việt Nam là nền nông nghiệp nhiệt đới
Do đó, giống cây trồng, vật nuôi phong phú, cây trồng phát triển bốn mùa và có lượng mưa lớn cùng với hệ thống sông, suối nhiều đáp ứng nước tưới cho cây trồng và phát triển ngành chăn nuôi thuỷ sản thuận lợi Tuy nhiên, khi lượng mưa ẩm quá lớn vừa gây ra lũ lụt, bão, vừa gây ra hạn hán Hơn nữa, khí hậu nóng ẩm đã tạo điều kiện cho
Trang 13sâu bệnh phát sinh nhanh và phá hoại các thành quả lao động của nông dân Địa hình đất không bằng phẳng, có độ dốc cao, nhất là vùng trung du và miền núi, mưa to gây ra xói mòn, lũ quét, sạt lở đất Bởi thế, trong quá trình phát triền nền nông nghiệp của đất nước, chúng ta cần tìm mọi cách để phát huy hết những mặt thuận lợi và hạn chế đến mức tối đa những mặt khó khăn, bảo đảm cho sản xuất kinh doanh nông nghiệp có sự phát triển bền vững (Đỗ Quang Quý, 2007)
1.2 Đất và vai trò của đất trong sản xuất nông nghiệp
1.2.1 Khái niệm và phân loại đất nông nghiệp
Theo Luật đất đai (2013),đất nông nghiệp (ký hiệu là NNP) là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác
+ Đất sản xuất nông nghiệp: Là đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm
+ Đất lâm nghiệp: Là đất có rừng tự nhiên hoặc có rừng trồng đạt tiêu chuẩn rừng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, đất khoanh nuôi phục hồi rừng, đất để trồng rừng mới.Đất lâm nghiệp bao gồm đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng
+ Đất nuôi trồng thuỷ sản: Là đất được sử dụng chuyên cho mục đích nuôi, trồng
thuỷ sản, bao gồm đất nuôi trồng nước lợ, mặn và đất chuyên nuôi trồng nước ngọt
+ Đất làm muối: Là đất các ruộng muối để sử dụng vào mục đích sản xuất muối + Đất nông nghiệp khác: Là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà kính hoặc các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống; xây dựng kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp
Trang 141.2.2 Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất nông nghiệp
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là điều kiện cho sự sống của động vật, thực vật và con người trên trái đất Đất đai là điều kiện cần thiết để con người tồn tại và tái xuất các thế hệ kế tiếp nhau của loài người cũng là khoảng không gian lãnh thổ cần thiết đối với mọi quá trình sản xuất trong ngành kinh tế quốc dân và mọi hoạt động của xã hội Tuy vậy, đối với từng ngành cụ thể, đất đai
có vị trí khác nhau Trong công nghiệp, thương mại, giao thông đất đai là cơ sở, nền móng để trên đó xây dựng nhà cửa, cửa hàng, mạng lưới giao thông, thì ngược lại trong nông nghiệp ruộng đất tham gia với tư cách là yếu tố tích cực của sản xuất, là
tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được
Trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, không thể thay thế được Ngoài vai trò là không gian để sản xuất nông nghiệp, đất còn có 2 chức năng đặc biệt quan trọng Thứ nhất, đất là đối tượng chịu tác động trực tiếp của con người trong quá trình sản xuất Thứ hai, đất tham gia tích cực vào quá trình sản xuất, cung cấp cho cây trồng nước, muối khoáng, không khí và các chất cần thiết cho cây trồng sinh trưởng và phát triển (Lê Văn Khoa, 2007)
1.3 Các quan điểm về hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất
1.3.1 Khái quát hiệu quả sử dụng đất
Hiệu quả kinh tế
Theo Các Mác, bản chất của hiệu quả kinh tế là sự thực hiện yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian biểu hiện trình độ sử dụng nguồn lực của xã hội Trong đó quy luật tiết kiệm thời gian là quy luật có tầm quan trọng đặc biệt, mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật đó, đồng thời nó quyết định động lực phát triển của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện phát triển văn minh xã hội và nâng cao đời sống của con người qua mọi thời đại
Theo các nhà khoa học Đức (Stenien, Hanau, Rusteruyer, Simmerman), hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời
kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội
Trang 15Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được
là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào Vậy, bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là: với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội
Hiệu quả kinh tế là khâu trung tâm của tất cả các loại hiệu quả và nó có vai trò quyết định đối với các loại hiệu quả khác Hiệu quả kinh tế là loại hiệu quả có khả năng lượng hoá, được tính toán tương đối chính xác và biểu hiện bằng các hệ thống các chỉ tiêu (Nguyễn Văn Hảo, 2007)
Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra Theo Nguyễn Duy Tính (1995), hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp
Từ những quan điểm trên cho thấy hiệu quả xã hội có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế, chúng là tiền đề của nhau và là một phạm trù thống nhất, phản ánh mối quan
hệ giữa kết quả sản xuất và các lợi ích xã hội mang lại Việc lượng hoá các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội gặp nhiều khó khăn và chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mang tính định tính như tạo công ăn việc làm, định canh định cư, lành mạnh xã hội
Hiệu quả môi trường
Đây là loại hiệu quả được các nhà môi trường học rất quan tâm trong điều kiện hiện nay Một hoạt động sản xuất được coi là có hiệu quả khi các hoạt động của nó không có những ảnh hưởng tác động xấu đến môi sinh và đa dạng sinh học Hiệu quả môi trường được phân theo nguyên nhân gây nên gồm: hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh vật môi trường Hiệu quả sinh vật môi trường là hiệu quả khác nhau của hệ thống sinh thái do sự phát sinh biến hoá của các loại yếu tố môi trường dẫn đến Hiệu quả hoá học môi trường là hiệu quả môi trường do các phản ứng hoá học giữa các vật chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường dẫn đến Hiệu quả vật lý môi trường là hiệu quả môi trường do tác
Trang 16động vật lý dẫn đến
Hiệu quả môi trường vừa đảm bảo lợi ích trước mắt vì phải gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng đất vừa đảm bảo lợi ích lâu dài tức là bảo vệ tài nguyên đất
và môi trường sinh thái Khi hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của một loại hình
sử dụng đất nào đó được đảm bảo thì hiệu quả môi trường càng được quan tâm (Đoàn Công Quỳ, 2006)
1.3.2 Ý nghĩa của đánh giá hiệu quả sử dụng đất đối với sản xuất nông nghiệp
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, tính đến 01/01/2012 tổng diện tích đất tự nhiên của Việt Nam là 33.095,1 nghìn ha, trong đó đất Nông nghiệp
là 26.280,5 nghìn ha, nhưng đất sản xuất chỉ có10151,1 nghìn ha chiếm 30,67% Dân số tăng nhanh khiến diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp song nhu cầu
sử dụng lương thực, thực phẩm của con người ngày càng tăng Trong nền kinh tế hiện nay, khi sản xuất nông nghiệp cần phải đáp ứng nhu cầu của thị trường và mục tiêu phát triển của xã hội, đồng thời phải đảm bảo sự bền vững trong sản xuất và sử dụng tài nguyên, việc đánh giá đất đai một cách tổng hợp có tính đến các yếu tố kinh tế - xã hội là hết sức cần thiết để định hướng phát triển, là cơ sở chủ yếu cho các phương án quy hoạch và quản lý sử dụng đất
Việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất mang lại nhiều ý nghĩa:
- Nâng cao hiệu quả kinh tế: Cây trồng cho năng suất tốt hơn, chất lượng cao hơn, được thị trường chấp nhận
- Đảm bảo sự bền vững về môi trường: Thông qua đánh giá hiệu quả sử dụng đất xác định được loại hình sử dụng đất và biện pháp canh tác phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng Từ đó, bảo vệ được độ màu mỡ của đất, ngăn chặn thoái hoá đất và bảo vệ môi trường sinh thái đất
- Đảm bảo sự bền vững về mặt xã hội: Thu hút được lao động, đảm bảo được đời sống xã hội
1.3.3 Một số quan điểm về đánh giá hiệu quả sử dụng đất
1.3.3.1 Quan điểm đánh giá hiệu quả sử dụng đất của Liên Xô
Phương pháp đánh giá đất của Liên Xô được thực hiện từ năm 1950 và sau
đó hoàn thiện vào năm 1986.Công tác đánh giá đất đai được tiến hành trên toàn Liên bang và do Bộ nông nghiệp chủ trì nhằm tạo cơ sở cho việc xác định hiệu quả
Trang 17kinh tế sử dụng đất đai, đánh giá và so sánh hoạt động kinh doanh của các xí nghiệp, dự kiến số lượng và giá thành sản phẩm và làm cơ sở trong thu mua và giao nộp nông sản phẩm
Việc đánh giá đất đai được thực hiện theo hai hướng: đánh giá chung và đánh giá riêng (theo hiệu quả từng loại cây trồng) theo năng suất - giá thành sản phẩm, mức hoàn vốn và địa tô cấp sai (phần lãi thuần tuý)
Cây trồng lấy làm gốc để đánh giá là cây ngũ cốc và cây họ đậu Đơn vị đánh giá là các chủng đất đối với các loại sử dụng đất có tưới, đất được tiêu úng, đất trồng cây lâu năm, đất đồng cỏ cắt và đồng cỏ chăn thả
1.3.3.2 Quan điểm đánh giá hiệu quả sử dụng đất của Hoa Kỳ
Dựa trên mục tiêu hoặc tính chất sử dụng đất được phân thành các nhóm dạng sử dụng: nhóm không thể chuyển hoá và nhóm có thể chuyển hoá; nhóm đô thị và nhóm phi đô thị
Đất nông nghiệp và lâm nghiệp thuộc nhóm phi đô thị và cũng thuộc nhóm
có thể chuyển hoá Việc phân hạng trong nhóm này sẽ áp dụng một trong ba cách phân hạng:
- Phân hạng chỉ dựa trên các yếu tố tự nhiên của đất (địa chất - đá mẹ, dạng đất - địa mạo, thời tiết - khí hậu và thổ những )
- Phân hạng dựa trên kiểu sinh thái thảm thực vật
- Phân hạng theo mục tiêu sử dụng đất (Classification based on land use) gồm đất nông nghiệp, đất xây dựng các công trình (engineering) đất rừng (dựa vào kiểu rừng hoặc năng suất lập địa), đồng cỏ, khu bảo tồn động vật hoang dã, khu giải trí…
Với đất nông nghiệp, phân hạng đất đai được ứng dụng rộng rãi theo hai phương pháp sau:
- Phương pháp tổng hợp: Lấy năng suất cây trồng trong nhiều năm là tiêu chuẩn
- Phương pháp yếu tố: Bằng cách thống kê các yếu tố tự nhiên và kinh tế để so sánh, lấy lợi nhuận tối đa là 100 hoặc 100% để làm mốc so sánh với các đất khác
1.3.3.3 Quan điểm đánh giá hiệu quả sử dụng đất theo FAO
Theo FAO, đánh giá đất đai là kết quả của việc cân nhắc đánh giá các tiềm năng đất đai cho một hay nhiều loại hình sử dụng đất Đánh giá hiệu quả sử dụng
Trang 18đất toàn diện trên cả 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường Chính vì vậy, đánh giá đất yêu cầu thu thập thông tin từ nhiều phương diện bao gồm thổ nhưỡng, địa hình, địa mạo, các điều kiện địa chất, khí hậu, thuỷ văn, lớp phủ thực vật và cả các điều kiện kinh tế xã hội có liên quan đến sử dụng đất
1.3.4 Quan điểm đánh giá hiệu quả sử dụng đất của FAO
1.3.4.1 Những khái niệm cơ bản dùng trong đánh giá đất đai của FAO
Theo FAO, đánh giá đất là kết quả của việc cân nhắc đánh giá các tiềm năng đất đai cho một hay nhiều loại hình sử dụng đất (LUT) Mỗi LUT phải được đánh giá, lựa chọn trong mối quan hệ của 3 điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội trên cơ sở thích hợp, hiệu quả và bền vững FAO đã chỉ ra rằng, một quốc gia hay một dân tộc
sử dụng đất đai của họ như thế nào là tuỳ thuộc vào những nhân tố tổng hợp có quan hệ mật thiết với nhau, bao gồm các đặc tính của đất, các yếu tố tự nhiên, kinh
tế, xã hội, hành chính và những hạn chế về chính trị cũng như các nhu cầu mục tiêu của con người
Đất đai (Land): Đất đai được xem xét bao gồm nhiều yếu tố của môi trường tự
nhiên ở một khu vực địa lý có ảnh hưởng đến việc sử dụng đất như lớp phủ thổ nhưỡng, địa mạo, thuỷ văn nước mặt, khí hậu, Đất đai được mô tả theo chất lượng hiện tại của nó, bao gồm những tính chất có thể quan sát hay đo lường được Đất đai thường được mô tả dưới khái niệm “Đơn vị bản đồ đất đai” (Land Mapping Unit- LMU), đây là một vùng đất đai với các tính chất riêng được khoanh định trên bản đồ
Đánh giá đất đai: TheoFAO “Đánh giá đất đai là quá trình so sánh, đối
chiếu những tính chất vốn có của vạt đất cần đánh giá với những tính chất đất đai
mà loại sử dụng đất yêu cầu phải có” Như vậy, đánh giá đất đai (Land Evaluation - LE) là quá trình thu thập thông tin, xem xét toàn diện trên phạm vi rất rộng, bao gồm cả không gian, thời gian, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường
Loại hình sử dụng đất (Land Use Type - LUT): LUT là bức tranh mô tả thực
trạng sử dụng đất của một vùng đất với những phương thức quản lý sản xuất trong các điều kiện kinh tế - xã hội và kỹ thuật được xác định Những loại hình của sử dụng đất này có thể hiểu nghĩa rộng là các loại sử dụng đất chính, hoặc có thể được
mô tả chi tiết hơn với khái niệm là các loại hình sử dụng đất
Trang 19Loại hình sử dụng đất là sự phân chia chi tiết của loại hình sử dụng đất
chính và được mô tả theo các thuộc tính nhất định Các thuộc tính đó bao gồm: quy trình sản xuất, các đặc tính về quản lý đất đai như sức kéo trong làm đất, đầu tư vật
tư kỹ thuật… và các đặc tính về kinh tế kỹ thuật như định hướng thị trường, vốn thâm canh, lao động, vấn đề sở hữu đất đai
Yêu cầu sử dụng đất (Land Use Requirement) là những điều kiện tự nhiên có
ảnh hưởng đến năng suất và sự ổn định của loại hình sử dụng đất, hay đến tình trạng quản lý và thực hiện loại hình sử dụng đất đó Những yêu cầu sử dụng đất thường được xem xét từ chất lượng đất đai của vùng nghiên cứu Yêu cầu sử dụng đất được coi như là những điều kiện tự nhiên cần thiết để thực hiện thành công và bền vững một loại hình sử dụng đất (Đoàn Công Quỳ, 2006)
1.3.4.2 Nguyên tắc đánh giá đánh đai theo FAO
FAO đề ra 6 nguyên tắc cơ bản trong việc đánh giá đất đai là:
- Các LUT được lựa chọn phải phù hợp với mục tiêu phát triển của vùng hay quốc gia cũng như phải phù hợp với bối cảnh và đặc điểm về tự nhiên/ kinh tế của khu vực nghiên cứu
- Các LUT cần được mô tả và định rõ các thuộc tính về kỹ thuật và kinh tế -
xã hội
- Việc đánh giá đất đai bao gồm sự so sánh của hai hay nhiều LUT
- Khả năng thích nghi đất đai cần đặt trên cơ sở sử dụng đất bền vững
- Đánh giá khả năng thích nghi đất đai bao gồm cả sự so sánh về năng suất (lợi ích) thu được và đầu tư (chi phí) cần thiết của các LUT
- Đánh giá đất đai đòi hỏi một phương pháp tổng hợp đa ngành
Với 6 nguyên tắc cơ bản nêu trên, đánh giá đất đai sẽ cung cấp cho việc quy hoạch sử dụng đất những phương án về sử dụng tài nguyên đất đai, và trong mỗi phương án là những thông tin về năng suất, mức đầu tư (chi phí, lợi nhuận) cách quản trị đất đai - nhu cầu về cải thiện cơ sở hạ tầng và ảnh hưởng của sử dụng đất đối với môi trường Nguyên tắc đánh giá đất theo FAO là đánh giá đất phải gắn với LUT xác định, có sự so sánh giữa lợi nhuận thu được và đầu tư cần thiết Đánh giá đất liên quan chặt chẽ với các yếu tố môi trường tự nhiên của đất với các điều kiện kinh tế - xã hội (Đoàn Công Quỳ, 2006)
Trang 201.3.4.3 Trình tự đánh giá đất đai theo FAO
- Bước 1: Xác định mục tiêu
- Bước 2: Thu thập tài liệu
- Bước 3: Xác định các loại hình sử dụng đất
- Bước 4: Xác định đơn vị đất đai
- Bước 5: Đánh giá khả năng thích hợp
- Bước 6: Xác định hiện trạng kinh tế, xã hội và môi trường
- Bước 7: Xác định loại hình sử dụng đất thích hợp nhất
- Bước 8: Quy hoạch sử dụng đất
- Bước 9: Áp dụng việc đánh giá đất
Như vậy, phương pháp đánh giá đất thích hợp của FAO đã đề cập đến các chỉ tiêu các chỉ tiêu kinh tế, xã hội và môi trường có liên quan đến khả năng sử dụng đất và khả năng sinh lợi nhuận của chúng (Đoàn Công Quỳ, 2006) Đây là những thông tin rất có ý nghĩa đối với việc xác định và lập kế hoạch sử dụng đất Trong khuôn khổ của đề tài, phương pháp đánh giá đất theo FAO được vận dụng nhằm nghiên cứu khả năng sử dụng tài nguyên đất ở huyện Nho Quan
1.4 Sử dụng đất nông nghiệp theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Theo FAO, sử dụng đất bền vững trong sản xuất nông nghiệp là sử dụng, quản lý có hiệu quả nguồn tài nguyên cho nông nghiệp, nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống của con người, đồng thời gìn giữ, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường Năm 1991 tại Nairobi, FAO đã tổ chức hội thảo về quản lý sử dụng đất bền vững đã nêu ra 5 nguyên tắc cơ bản trong sử dụng đất bền vững đó là:
- Duy trì và nâng cao sản xuất và các dịch vụ
- Giảm thiểu rủi ro cho sản xuất
- Bảo vệ tiềm năng của các nguồn lợi tự nhiên và ngăn chặn sự thoái hoá chất lượng đất và chất lượng nước
- Có khả năng thực thi được về mặt kinh tế
- Có thể chấp nhận được về mặt xã hội
Với các nguyên tắc này, người sử dụng đất, các nhà lập kế hoạch, quy hoạch
sử dụng đất phải đạt được sản lượng hoặc lãi suất tối đa, giảm thiểu đầu tư và sức
Trang 21lao động ngoài ra phải bảo vệ môi trường và tài nguyên cho sản xuất lâu dài và cho các thế hệ mai sau
Cùng với các nguyên tắc sử dụng đất bền vững, Dumanski (1993) cũng đã đề xuất các chỉ tiêu chung để đánh giá và giám sát việc sử dụng đất bền vững, bao gồm: Năng suất cây trồng, cân bằng chất dinh dưỡng, sự bảo toàn của độ che phủ đất, chất lượng và diện tích đất, chất lượng nước, lợi nhuận của nông trại, sự áp dụng các biện pháp bảo vệ đất Các chỉ tiêu này là cơ sở quan trọng để phân tích đánh giá hệ thống sử dụng đất về tính bền vững và thiết lập nền móng cho các chiến lược sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên đất
Ngoài ra còn một số định nghĩa về quan điểm sử dụng đất bền vững trong sản xuất nông nghiệp như sau:
Theo Baier (1990): Hệ thống nông nghiệp bền vững là hệ thống sản xuất có hiệu quả kinh tế, đáp ứng nhu cầu xã hội về an ninh lương thực đồng thời giữ gìn và cải thiện tài nguyên thiên nhiên và chất lượng của môi trường
Theo Mollison B (1994) nông nghiệp bền vững là một hệ thống thiết kế để cho môi trường bền vững cho con người liên quan tới cây trồng, vật nuôi, cơ sở hạ tầng và các công trình xây dựng do con người tạo ra
Trong tất cả các định nghĩa, điều quan trọng nhất là biết sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, giữ vững và cải thiện chất lượng môi trường, có hiệu quả kinh tế, năng suất cao và ổn định, tăng cường chất lượng cuộc sống và hạn chế rủi ro
Từ những nguyên tắc đánh giá sử dụng đất bền vững của FAO, một loại hình sử dụng đất được xem là bền vững phải đạt được 3 yêu cầu sau:
- Bền vững về kinh tế: cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị trường chấp nhận
- Bền vững về môi trường: loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ mùa
mỡ của đất, ngăn chặn thoái hoá đất và bảo vệ môi trường sinh thái đất
- Bền vững về mặt xã hội: thu hút được lao động, đảm bảo được đời sống xã hội Phát triển bền vững đòi hỏi các nguồn tài nguyên phải được phát triển và sử dụng một cách tổng hợp Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển lâu bền đã khuyến khích về sử dụng đất trong lĩnh vực nông nghiệp như sau:
Trang 22- Khuyến khích tăng năng suất nông nghiệp thông qua việc thực hiện đúng đắn cơ chế thị trường và các cải cách khác như làm tăng tối đa lợi ích đa vụ, khuyến khích nông dân và giảm thiểu tổn thất sau thu hoạch
- Phát triển và đẩy mạnh các hệ thống canh tác lâu bền ở các vùng sườn đồi, các hoạt động nhằm vào vấn đề nông - lâm kết hợp, trồng theo vành đai, trồng cây
và làm ruộng bậc thang và phải thích ứng với các điều kiện thực tế cụ thể với tập quán của người dân về mùa vụ, với các kỹ thuật khả thi về bảo vệ đất và nước
- Canh tác nông nghiệp phải nhằm vào thâm canh tăng năng suất, quay vòng mùa vụ, kiểm soát hoá chất nông nghiệp, phổ biến rộng rãi canh tác hữu cơ và các phương pháp thủy lợi nhằm tránh gây ngập úng và nhiễm mặn đất
- Ưu tiên cho các công trình nghiên cứu và triển khai liên quan đến các hệ thống nông - lâm kết hợp, có tính đến việc bố trí định cư những người du canh ở vùng núi cao
- Cần có chương trình mạnh mẽ về trồng cây rừng, bao gồm cả việc hình thành các khu rừng trồng nhằm mục đích lấy gỗ và củi đốt Những nỗ lực trồng rừng phải nhằm vào mục đích phát triển khu rừng hỗn giao, các loài cây bản xứ hơn
là các khu rừng thuần chủng và các loại cây ngoại nhập
Như vậy, đối với sản xuất nông nghiệp việc sử dụng đất bền vững phải đạt được trên cơ sở đảm bảo khả năng sản xuất ổn định của cây trồng, chất lượng tài nguyên đất không suy giảm theo thời gian và việc sử dụng đất không ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người và các sinh vật (Lê Quang Trí, 2005)
1.5 Những nghiên cứu đánh giá sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và tại Việt Nam
1.5.1 Trên thế giới
Từ những thập niên 50 của thế kỷ XX, việc đánh giá khả năng dụng đất được xem như là bước nghiên cứu kế tiếp của công tác nghiên cứu đặc điểm đất Xuất phát từ những nỗ lực riêng lẻ của từng quốc gia, về sau phương pháp đánh giá đất đai được nhiều nhà khoa học hàng đầu trên thế giới và các tổ chức quốc tế quan tâm, do vậy trở thành một trong những chuyên ngành nghiên cứu quan trọng và đặc biệt gần gũi với những nhà quy hoạch, người hoạch định chính sách đất đai và
Trang 23người sử dụng Tuỳ theo mục đích và điều kiện cụ thể, mỗi quốc gia đã đề ra nội dung, phương pháp đánh giá đất phù hợp với các loại sử dụng đất của mình
Cho tới nay, trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu, đề ra nhiều phương pháp đánh giá để tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Nhưng tuỳ thuộc vào điều kiện, trình độ và phương thức sử dụng đất ở mỗi nước mà có sự đánh giá khác nhau Các nhà khoa học trên thế giới đều cho rằng: đối với các vùng nhiệt đới có thể thực hiện các công thức luân canh cây trồng hàng năm, có thể chuyển từ chế độ canh tác cũ sang chế độ canh tác mới tiến bộ hơn mang lại hiệu quả cao hơn Nghiên cứu bố trí luân canh các cây trồng hợp lý hơn bằng cách đưa các giống cây trồng mới vào hệ thống canh tác nhằm tăng sản lượng lương thực, thực phẩm/1đơn vị diện tích đất canh tác trong một năm Ở Châu Á có nhiều nước cũng tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác luân canh cây lúa với cây trồng cạn đã thu được hiệu quả cao hơn
Trong những năm gần đây, cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các nước đã gắn phương thức sử dụng đất truyền thống với phương thức hiện đại và chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá nông nghiệp Các nước Châu Á trong quá trình sử dụng đất canh tác đã rất chú trọng đẩy mạnh công tác thuỷ lợi, ứng dụng các tiến bộ
kỹ thuật về giống, phân bón, các công thức luân canh tiến bộ để ngày càng nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Nhưng để đạt được hiệu quả thì một phần phải nhờ vào công nghiệp chế biến, gắn sự phát triển công nghiệp với bảo vệ môi sinh - môi trường
Xuất phát từ những vấn đề này, nhiều nước trong khu vực đã có sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng kết hợp hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội với việc bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái, tiến tới xây dựng nền nông nghiệp sinh thái bền vững
Tại Liên Xô (cũ)
Kết quả đánh giá đất của Liên Xô đã giúp cho việc thống kê tài nguyên đất
và hoạch định chiến lược sử dụng, quản lý nguồn tài nguyên đất trong phạm vi toàn Liên bang Xô Viết Tuy nhiên, đối với đất nông nghiệp thì phương pháp đánh giá này chưa đi sâu một cách cụ thể vào từng loại sử dụng đất, mới chỉ tập trung chủ
Trang 24yếu vào đánh giá các yếu tố tự nhiên của đất đai và chưa đánh giá tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội đến sử dụng đất (Đỗ Đình Sâm, Nguyễn Ngọc Bình, 2000)
Tại Hoa Kỳ
Bộ Nông nghiệp Hoa kỳ đã phân chia đất đai thành 8 cấp, trong đó 4 cấp đầu thích hợp trồng cây nông nghiệp (từ mức thích hợp cao đến thấp), 2 cấp theo ở mức thích hợp có điều kiện nhưng có thể sử dụng cho lâm nghiệp, 2 cấp còn lại không thích hợp ngay cả đối với lâm nghiệp Trong hệ thống này hiện tượng xói mòn được xét đến trước cả độ phì của đất Trong 4 cấp đầu dựa vào các hạn chế trong sử dụng người ta chia thêm các cấp phụ như bị xói mòn, thừa hoặc thiếu ẩm, bị nhiễm mặn…
Phương pháp đánh giá đất của Hoa Kỳ tuy không đi sâu vào từng loại sử dụng đất cụ thể đối với sản xuất nông nghiệp và hiệu quả kinh tế - xã hội , song rất quan tâm đến những yếu tố hạn chế bất lợi của đất và việc xác định các biện pháp bảo vệ đất
Phương pháp đánh giá đất của Hoa Kỳ tuy không đi sâu vào từng loại sử dụng đất cụ thể đối với sản xuất nông nghiệp và hiệu quả kinh tế - xã hội , song rất quan tâm đến những yếu tố hạn chế bất lợi của đất và việc xác định các biện pháp bảo vệ đất (Đỗ Đình Sâm, Nguyễn Ngọc Bình, 2000)
Tại Anh
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất dựa trên 2 phương pháp là:
- Đánh giá đất dựa hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên (độ phì tiềm tàng hay độ phì tự nhiên) Phương pháp này không chú ý đến sự tham gia của con người mà thực chất dựa vào độ phì tự nhiên
- Đánh giá đất hoàn toàn dựa vào năng suất thực tế bằng việc thống kê nhiều năm ở trên đất tốt nhất hoặc trung bình so sánh với năng suất trên đất tiêu chuẩn Phương pháp này gặp nhiều khó khăn và không khách quan vì năng suất cây trồng phụ thuộc vào cây trồng được chọn và phụ thuộc vào khả năng người sử dụng đất (Đoàn Công Quỳ, 2000)
1.5.2 Tại Việt Nam
Từ đầu thập kỷ 20, chương trình quy hoạch tổng thể được tiến hành nghiên cứu đề xuất dự án phát triển đa dạng hoá nông nghiệp, nội dung quan trọng nhất là
Trang 25phát triển hệ thống cây trồng để nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Những công trình nghiên cứu mô phỏng chiến lược phát triển nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng của Đào Thế Tuấn (1992) cũng đề cập việc phát triển hệ thống cây trồng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong điều kiện Việt Nam Công trình nghiên cứu phân vùng sinh thái, hệ thống giống lúa, hệ thống cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng do Đào Thế Tuấn (1998) chủ trì và hệ thống cây trồng vùng đồng bằng sông Cửu Long do Nguyễn Văn Luật chủ trì cũng đưa ra kết luận về phân vùng sinh thái và hướng áp dụng những giống cây trồng trên các vùng sinh thái khác nhau nhằm khai thác sử dụng đất mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn
Các đề tài nghiên cứu do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì đã tiến hành nghiên cứu hệ thống cây trồng trên các vùng sinh thái khác nhau như vùng miền núi, vùng trung du và vùng đồng bằng nhằm đánh giá hiệu quả cây trồng trên từng vùng đất đó Từ đó định hướng cho việc khai thác tiềm năng đất đai của từng vùng sao cho phù hợp với quy hoạch chung của nền nông nghiệp cả nước, phát huy tối đa lợi thế so sánh của từng vùng
Trong những năm gần đây, chương trình quy hoạch tổng thể vùng đồng bằng sông Hồng (1994); phân bón cho lúa ngắn ngày trên đất phù sa sông Hồng (Nguyễn Như Hà, 2000); đánh giá hiệu quả một số mô hình đa dạng hoá cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng của Vũ Năng Dũng (1997) cho thấy đã xuất hiện nhiều mô hình luân canh 3- 4 vụ trong một năm đạt hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt ở các vùng sinh thái ven đô, vùng có điều kiện tưới tiêu chủ động đã có những điển hình về sử dụng đất đai đạt hiệu quả kinh tế cao Nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế cao đã được
bố trí trong các phương thức luân canh như cây ăn quả, hoa, cây thực phẩm cao cấp
Trong 3 năm (1992 - 1994) thực hiện Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KT 02 “Bảo vệ môi trường”, Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp
đã tiến hành đánh giá hiện trạng sử dụng đất ở nước ta theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền Kết quả đã xác định được 4 loại hình sử dụng đất bền vững về kinh tế - xã hội và môi trường (loại sử dụng đất trồng lúa 2-3 vụ, lúa - màu, đất trồng cây lâu năm và đất rừng), 1 loại sử dụng đất không bền vững về kinh tế (trồng lúa một vụ: lúa chiêm hoặc lúa mùa), loại cây trồng cạn ngắn ngày không bền vững
Trang 26về môi trường và loại hình sử dụng đất trống đồi núi trọc không bền vững về kinh tế
Để đem lại hiệu quả cao nhất khi sử dụng đất nông nghiệp thì công việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng và thực sự cần thiết Từ việc đánh giá ta sẽ xác định được các loại hình sử dụng đất phù hợp với điều kiện của địa phương cũng như thu được hiệu quả cao nhất giúp cải thiện đời sống của nhân dân trong vùng từng bước xóa đói, giảm nghèo trên chính mảnh đất của người nông dân
* Những nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất tại Ninh Bình
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất đã được thực hiện tại một số huyện thuộc tỉnh Ninh Bình như huyện Nho Quan, huyện Hoa Lư, huyện Kim Sơn
Theo kết quả nghiên cứu của đề tài "Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình" của tác giả Vũ Anh Hùng năm 2008, huyện Hoa Lư hiện có 5 loại hình sử dụng đất chính với 28 kiểusửdụngđất.CácloạihìnhsửdụngđấtchohiệuquảkinhtếcaolàLUTrau-
màucógiátrịsảnxuấttrungbìnhlà153823triệu
Trang 27đồngđồng/ha,LUTlúa-màulà120.793triệuđồng/havàLUTlúa-cálà127.056triệuđồng/ha.Về hiệu quả xã hội,LUTrau-màuthuhútđượcnhiềucônglaođộng,trungbìnhlà1174công/ha,LUTlúa-màulà966công/ha.GiátrịngàycônglaođộngcủaLUTraumàulà97,78nghìnđồng/ha,LUTlúa-màulà85,71nghìnđồng/ha,LUTlúa-
Như vậy, tại Việt Nam nhiều chương trình đánh giá đất cho những vùng sinh thái khác nhau, từ tỉnh đến các huyện trọng điểm đã được thực hiện Một số nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất vùng đồng bằng Bắc Bộ đã được thực hiện Tại tỉnh Ninh Bình, cũng có một số đề tài nghiên cứu được thực hiện ở các huyện Hoa Lư, Gia Viễn, Kim Sơn, Yên Mô nhưng chưa có nghiên cứu, đánh giá cụ thể về hiệu quả sử dụng đất của huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình Vì vậy, cần thiết phải đánh giá được hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện và đề xuất hướng sử dụng đất có hiệu quả cao phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình
Trang 28Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đất nông nghiệp, các kiểu và loại hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn
huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Điều tra, đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có ảnh hưởng tới
sử dụng đất nông nghiệp của huyện Nho Quan
- Đánh giá về điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, thủy văn,…
- Đánh giá điều kiện kinh tế xã hội: Dân số và lao động, trình độ dân trí, cơ
sở hạ tầng, cơ cấu kinh tế, thực trạng sản xuất nông nghiệp của huyện,… Từ đó rút
ra những yếu tố thuận lợi và khó khăn đối với sản xuất nông nghiệp của địa phương
2.3.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Nho Quan
- Hiện trạng và cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp của huyện
- Hiện trạng các loại hình sử dụng đất và hệ thống cây trồng trong sản xuất nông nghiệp
2.3.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện Nho Quan
+ Đánh giá hiệu quả kinh tế
+ Đánh giá hiệu quả xã hội
+ Đánh giá hiệu quả môi trường
+ Đề xuất những loại hình SDĐ nông nghiệp có hiệu quả trên địa bàn huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình
Trang 292.3.4 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
- Đề xuất định hướng các loại hình sử dụng đất nông nghiệp trong tương lai
- Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp phân vùng nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình Dựa vào
sự khác biệt về địa hình, điều kiện sản xuất nông nghiệp và hệ thống cây trồng để phân chia huyện Nho Quan thành 3 tiểu vùng theo địa hình và ở mỗi tiểu vùng, chọn đại diện 1 xã để tiến hành điều tra bằng các phiếu điều tra nông hộ
- Tiểu vùng 1 là vùng núi đá vôi, gồm các xã nằm ở phía Tây và Tây Bắc của huyện, dọc theo ranh giới giữa Ninh Bình và Hòa Bình Tiểu vùng 1 bao gồm các xã: Xích Thổ, Gia Tường, Gia Sơn, Gia Lâm, Gia thủy, Thạch Bình, Cúc Phương, Phú Sơn, Yên Quang, Kỳ Phú Tổng diện tích tự nhiên của tiểu vùng là 27758,28
ha Diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 6205,52 ha, chiếm 39,7% tổng diện tích đất nông nghiệp của huyện Tiểu vùng có địa hình cao, vàn cao, thường canh tác rau, màu và các cây công nghiệp ngắn ngày (chủ yếu là mía)
- Tiểu vùng 2 là vùng đồng chiêm trũng, gồm thị trấn Nho Quan và các xã Lạc Vân, Văn Phương, Văn Phong, Văn Phú, Thượng Hòa, Đức Long, Lạng Phong, Đông Phong, Thanh Lạc, Sơn Thành Tổng diện tích của tiểu vùng 2 là 7305,63 ha Diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 4372,08 ha, chiếm 28% tổng diện tích đất nông nghiệp của huyện
Vùng này có địa hình lòng chảo, độ cao trung bình từ 0,7 đến 0,9 m so với mực nước biển, vào mùa mưa thường bị ngập nước Đất đai và địa hình phù hợp canh tác lúa nước và nuôi trồng thủy sản
-Tiểu vùng 3 là vùng bán sơn địa, bao gồm các xã nằm ở phía Đông và Đông Nam của huyện: xã Sơn Hà, Quảng Lạc, Quỳnh Lưu, Sơn Lai, Sơn Thành, Thanh Lạc, Phú Long.Tổng diện tích tự nhiên của tiểu vùng 9464,09 ha Diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 5047,16 ha, chiếm 32,3% tổng diện tích đất nông nghiệp huyện Nho Quan
Trang 30Địa hình bán sơn địa, có đồi núi với độ dốc thấp, có dạng địa hình chuyển tiếp nên tiểu vùng này có thể canh tác đa dạng nhiều loại cây như chuyên canh mía, rau ở địa hình vàn, vàn cao và trồng kết hợp lúa – màu, lúa - cá ở nơi có địa hình vàn thấp
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu
Thu thập số liệu, tài liệu thứ cấp: Thu thập các số liệu tài liệu liên quan đến
sử dụng đất, sản xuất nông nghiệp tại các phòng, ban chuyên môn của huyện Nho Quan, chi cục thống kê huyện Nho Quan và cục thống kê tỉnh Ninh Bình
Thu thập số liệu sơ cấp: Phỏng vấn trực tiếp 120 nông hộ thuộc 3 xã đại diện cho 3 tiểu vùng của huyện Nho Quan Đây là những xã thuần nông, có vị trí địa lý mang tính chất đại diện về vùng, miền, địa hình và có tính đa dạng trong sử dụng đất Việc lựa chọn hộ điều tra là ngẫu nhiên
- Tiểu vùng 1 (vùng núi đá vôi): Chọn xã Xích Thổ
- Tiểu vùng 2 (vùng đồng trũng): Chọn xã Văn Phú
- Tiểu vùng 3 (vùng bán sơn địa): Chọn xã Sơn Hà
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu, tài liệu
Trên cơ sở số liệu, tài liệu thu thập được tiến hành tổng hợp theo hệ thống sử dụng đất, loại hình sử dụng đất và các kiểu sử dụng đất (LUT) Các số liệu thống kê được xử lý bằng chương trình Excel Kết quả được trình bày bằng các bảng số liệu
và biểu đồ
2.4.4 Phương pháp tính hiệu quả sử dụng đất
2.4.4.1 Phương pháp tính hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế của LUT được tính trên 1 ha đất nông nghiệp trong 1 năm (đ/ha/năm) Tính hiệu quả sử dụng đất thông qua 5 chỉ tiêu: Giá trị sản xuất (GTSX), Chi phí trung gian (CPTG), Thu nhập hỗn hợp(TNHH), Thu nhập thuần (TNT), Tỷ suất lợi nhuận (TSLN) Cụ thể là:
+ GTSX được quy ra bằng tiền mặt, tính theo sản lượng thu được của LUT, so với giá sản phẩm tại thời điểm điều tra
GTSX = NS*GB
Trong đó: GTSX: Giá trị sản xuất
NS: năng suất cây/ha
GB: Giá bán sản phẩm
Trang 31+ CPTG là tổng chi phí vật chất đầu vào như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, phí thủy lợi và chi phí thuê lao động phục vụ cho hệ thống sản xuất
+ Tổng chi phí (TCP): Bao gồm tổng các loại chi phí phục vụ cho một LUT hay một hệ thống sản xuất
TCP= CPTG +LĐGĐ
Trong đó: TCP : Tổng chi phí (tính cả lao động gia đình)
CPTG: Chi phí trung gian (không tính lao động gia đình)
Bảng 2.1 Phân cấp hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất
T
T Phân cấp
Ký hiệu
GTSX (triệu đ/ha)
TNHH (triệu đ/ha)
TNT (triệu đ/ha)
TSLN (lần) Điểm
1 Cao H > 150 >120 >55 >0.5 3
2 Trung bình M 120 -150 90-120 20-55 0.2-0.5 2
3 Thấp L < 120 <90 <20 <0.2 1
Trang 32Với 4 chỉ tiêu đánh giá, tổng điểm cao nhất của LUT (hoặc kiểu sử dụng đất)
là 12 điểm, thấp nhất là 4 điểm;
Quy ước đánh giá chung cho hiệu quả kinh tế:
- Kiểu sử dụng đất có hiệu quả kinh tế cao: tổng điểm đạt >=75% tổng số điểm cao nhất (Từ 10 đến 12 điểm);
- Kiểu sử dụng đất có hiệu quả kinh tế trung bình: tổng điểm đạt từ 50-<75% tổng số điểm cao nhất (Từ 7-9 điểm);
- Kiểu sử dụng đất có hiệu quả kinh tế thấp: tổng điểm đạt <50% tổng số
điểm cao nhất ( Từ 4-6 điểm)
2.4.4.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả xã hội
Đánh giá hiệu quả về mặt xã hội của các loại hình và kiểu sử dụng đất thông qua 3 tiêu chí:
+ Khả năng giải quyết việc làm, thu hút lao động (được đánh giá thông qua tổng số công lao động)
+ Giá trị ngày công lao động (được tính bằng TNHH/ SCLĐ)
+ Mức độ chấp nhận của người dân (được đánh giá thông qua tỷ lệ người dân đồng ý tiếp tục phát triển loại hình sử dụng đất đó trong tương lai)
Dựa trên kết quả tổng hợp phiếu điều tra nông hộ và trên cơ sở tham khảo ý kiến của cơ quan khuyến nông huyện Nho Quan để phân cấp hiệu quả xã hội của các kiểu sử dụng đất thành 3 mức như bảng 2.2
Bảng 2.2 Phân cấp hiệu quả xã hội của các loại hình và kiểu sử dụng đất
TT Phân cấp Số công LĐ
(Công/ha)
Giá trị ngày công LĐ (1000đ/công)
Mức độ chấp nhận của người dân (%)
Trang 33Quy ước đánh giá chung cho hiệu quả xã hội:
- Kiểu sử dụng đất có hiệu quả xã hội cao: tổng điểm đạt >=75% tổng số điểm cao nhất (Từ 7 - 9 điểm);
- Kiểu sử dụng đất có hiệu quả xã hội trung bình: tổng điểm đạt từ 50-<75% tổng số điểm cao nhất (Từ 5-<7 điểm);
- Kiểu sử dụng đất có hiệu quả xã hội thấp: tổng điểm đạt <50% tổng số điểm cao nhất (<5 điểm)
2.4.4.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả môi trường
Đánh giá hiệu quả về mặt về môi trường của các loại hình và kiểu sử dụng đất thông qua các tiêu chí
+ Mức độ cải tạo đất của các loại cây trồng trong LUT
Quy ước đánh giá chung cho hiệu quả môi trường:
+ Về mức độ cải tạo đất: Có bố trí cây bộ đậu trong kiểu sử dụng đất đánh giá mức cao (3 điểm); Không có cây bộ đậu nhưng có luân canh các cây trồng khác nhau đánh giá mức trung bình (2 điểm); Trồng thuần 1 loài cây trong năm, cây không có khả năng cải tạo đất đánh giá mức thấp (1 điểm)
+ Về mức độ sử dụng phân bón hoá học hoặc sử dụng thức ăn công nghiệp trong nuôi cá: Sử dụng đúng liều lượng khuyến cáo đánh giá mức cao (3 điểm); sử dụng cao hơn khuyến cáo đánh giá mức trung bình (2 điểm); sử dụng thấp hơn mức khuyến cáo đánh giá mức thấp (1 điểm);
+ Về mức độ sử dụng thuốc BVTV hoặc hóa chất trong nuôi cá: Sử dụng đúng liều lượng khuyến cáo, không sử dụng thuốc cấm đánh giá mức cao (3 điểm);
Trang 34sử dụng liều lượng thấp hơn khuyến cáo, không sử dụng thuốc cấm đánh giá mức trung bình (2 điểm); sử dụng liều lượng cao hơn khuyền cáo, sử dụng thuốc cấm đánh giá mức thấp (1 điểm)
Quy ước đánh giá chung về hiệu quả môi trường:
- Kiểu sử dụng đất có hiệu quả môi trường cao: tổng điểm đạt >=75% tổng
số điểm cao nhất (Từ 7 - 9 điểm);
- Kiểu sử dụng đất có hiệu quả môi trường trung bình: tổng điểm đạt từ
50-<75% tổng số điểm cao nhất (Từ 5-<7 điểm);
- Kiểu sử dụng đất có hiệu quả môi trường thấp: tổng điểm đạt <50% tổng số điểm cao nhất (<5 điểm)
2.4.4.4 Đánh giá tổng hợp hiệu quả kinh tế - xã hội – môi trường các kiểu sử dụng đất
Tổng hợp điểm đánh giá của 3 tiêu chí kinh tế, xã hội và môi trường trên địa bàn nghiên cứu, quy ước phân cấp đánh giá chung các LUT (hoặc kiểu sử dụng đất) làm cơ sở lựa chọn, đề xuất trong định hướng sử dụng đất như sau:
TT
Phân cấp hiệu quả chung của LUT (hoặc kiểu sử dụng đất)
Ký hiệu Phân cấp
2.4.5 Phương pháp so sánh
So sánh các kết quả tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường để tìm
ra loại hình (kiểu) sử dụng đất có hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu của địa phương
Trang 35Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Nho Quan nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Ninh Bình có tọa độ địa lý từ 22°10'00'' đến 22°27'30'' vĩ độ Bắc và từ 105°32'30'' đến 105°51'20'' kinh độ Đông
- Phía Bắc giáp tỉnh Hòa Bình;
- Phía Đông và Đông Nam giáp huyện Gia Viễn và huyện Hoa Lư;
- Phía Nam giáp thị xã Tam Điệp;
- Phía Tây giáp tỉnh Thanh Hóa
Nho Quan là cửa ngõ quan trọng của tỉnh trong việc giao lưu phát triển kinh tế - xã hội với các tỉnh vùng Tây Bắc, vùng đồng bằng Bắc bộ Trên địa bàn huyện có nhiều tuyến giao thông quan trọng: Quốc lộ 12B chạy theo hướng Bắc
÷ Nam dài khoảng 24,0 km từ cầu Lập Cập đến cầu Vĩnh Khương, quốc lộ 45 dài
9 km từ ngã ba Rịa tới dốc Giang đi Thanh Hóa Đường tỉnh lộ 477, 477C, 479,
Trang 36479B, 479C, 491 chạy qua địa bàn nhiều xã trong huyện, ngoài ra trên địa bàn huyện còn có mạng lưới sông ngòi khá dày như: Sông Đập (Sông Na), sông Bôi, sông Lạng, sông Rịa, sông Bến Đang, giúp cho Nho Quan có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội
3.1.1.2 Địa hình
Nho Quan nằm trên địa bàn trung chuyển của các hệ thống tự nhiên ở phía Tây Nam đồng bằng sông Hồng, giáp với đồng bằng sông Mã qua vùng núi Cúc Phương, là vùng cuối cùng của vùng núi Tây Bắc trong khu đệm Hòa Bình – Thanh Hóa Địa hình nhìn chung không bằng phẳng được phân thành 03 vùng cụ thể:
* Vùng núi đá vôi
Tập chung chủ yếu ở phía Tây và Tây Bắc của huyện, dọc theo ranh giới giữa Ninh Bình và Hòa Bình, vườn Quốc gia Cúc Phương Ở đây có nhiều núi cao trùng điệp và thung lũng hiểm trở, là vùng rừng nguyên sinh có nhiều giá trị về kinh tế và khoa học Ngoài ra còn một số núi đá vôi độc lập phân bố rải rác xen kẽ với đất canh tác ở hầu hết các xã trong huyện Vùng này có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế đồi rừng, chăn nuôi đại gia súc đặc sản (hươu, dê, ), phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng và du lịch
* Vùng bán sơn địa
Bắt đầu từ cửa rừng Cúc Phương đi ra theo hướng Đông Nam là giải núi đồi xen lẫn chạy qua nông trường Đồng Giao xuống đến xã Yên Lâm, huyện Nho Quan Hình dạng đồi rất đa dạng: Đồi dài, cao, độ dốc đến 450 ở vùng Kỳ Phú, Quảng Lạc, Sơn Hà, Rịa, đồi lượn sóng thấp ở Quỳnh Lưu Hình dạng kiểu đồi dài, bát úp, đỉnh tròn xen kẽ, độ dốc thường lớn hơn 300
* Vùng đồng chiêm trũng
Nằm giữa vùng đồi núi của huyện Nho Quan và các huyện Gia Viễn, Hoa
Lư, thị xã Tam Điệp, vùng này có địa hình lòng chảo, độ cao trung bình từ 0,7 đến 0,9 m so với mực nước biển, vào mùa mưa thường bị ngập nước Vùng này thuận lợi cho việc canh tác lúa nước, nuôi trồng thủy sản
3.1.1.3 Khí hậu thời tiết
Nho Quan mang những đặc điểm của tiểu vùng khí hậu đồng bằng bắc bộ, đó
là khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm và mưa nhiều
Trang 37Nhiệt độ trung bình năm là 23,9oC Tháng lạnh nhất là tháng 1 và tháng 2, nhiệt độ trung bình có thể dưới 10oC Tháng nóng nhất là tháng 7 và tháng 8, nhiệt độ trung bình trên 30oC Tổng nhiệt độ của Nho Quan khá lớn, nhưng sự phân bố không đều giữa 2 mùa Tổng nhiệt độ vụ chiêm xuân chỉ bằng 70% tổng nhiệt độ vụ mùa Với tổng nhiệt độ này vẫn đảm bảo đủ nhiệt độ cho cây trồng
vụ đông xuân phát triển, nếu bố trí giống và thời vụ thích hợp (Niên giám thống
kê tỉnh Ninh Bình, 2013)
Lượng mưa: Tổng lượng mưa trung bình năm từ 1.850 – 1.970 mm, trung bình năm có 129 ÷ 161 ngày mưa Lượng mưa tập trung chủ yếu vào 6 tháng mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10), chiếm 80 ÷ 85% tổng lượng mưa cả năm Lũ lụt cũng thường xuyên xảy ra trong thời gian này Vào mùa đông lượng mưa thấp khoảng 15 ÷ 20% tổng lượng mưa cả năm, chủ yếu là dạng mưa nhỏ, mưa phùn
Độ ẩm: Do chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa nên huyện Nho Quan có độ ẩm không khí tương đối cao, bình quân độ ẩm cả năm từ 84 ÷ 86% Chênh lệch về độ ẩm giữa các tháng không nhiều, tháng có độ ẩm cao nhất là 90% (tháng 02), thấp nhất là 81% (tháng 10)
Lượng bốc hơi: Trung bình năm từ 850 ÷ 870 mm, trong đó mùa hạ chiếm 60% lượng bốc hơi cả năm, tháng 7 có lượng bốc hơi lớn nhất là 105 mm, tháng 2
có lượng bốc hơi nhỏ nhất là 45 mm
Gió: Hướng gió thịnh hành thay đổi theo mùa, mùa đông hướng gió thịnh hành là hướng Đông Bắc, những tháng giữa và cuối mùa đông gió có xu hướng lệch đần về hướng Đông Mùa hè hướng gió thịnh hành từ Đông hoặc Đông Nam Huyện Nho Quan còn chịu ảnh hưởng sâu sắc của gió lục địa, hướng Tây hoặc Tây Nam và gió biển, hướng Đông Nam Vào các tháng 7, 8 ,9 thường có bão làm ảnh hưởng đến sản xuất, sinh hoạt trên địa bàn
Trang 38cung cấp cho các xã phía Đông và Đông Bắc của huyện
- Sông Hoàng Long: Bắt nguồn từ Hòa Bình chảy vào Nho Quan (tại xã Thạch Bình) và đổ ra sông Bôi tại xã Đức Long, dài 12,5km Đây là con sông khá lớn, chảy cắt ngang huyện, là nguồn cung cấp nước ngọt chủ yếu cho khu vực trung tâm huyện và các xã lân cận
- Sông Rịa: Bắt nguồn từ khu vực xã Phú Long, đi qua một số xã của Nho Quan như Sơn Thành, Quỳnh Lưu, Sơn Lai
- Sông Bến Đang: Được bắt nguồn từ sông Rịa (khu vực xã Quỳnh Lưu) chảy qua xã Quỳnh Lưu , Sơn Hà dài 8 km Đây là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho xã Sơn Hà và một phần xã Quỳnh Lưu
- Sông Đập (Sông Na): Được bắt nguồn từ tỉnh Hòa Bình và đổ vào sông Bôi, cung cấp nước tưới cho xã Gia Tường và xã Gia Lâm
Bên cạnh 05 con sông lớn có nhiệm vụ cung cấp nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong huyện Ngoài ra còn có một hệ thống các hồ nước tự nhiên phân bố nhiều nơi trong huyện Đây là nguồn tài nguyên quý giá của huyện, không những đảm bảo cung cấp nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong khu vực mà còn là tiềm năng để khai thác phát triển du lịch, nuôi trồng thủy sản
3.1.1.5 Các nguồn tài nguyên
+ Đât phù sa trung tính ít chua
+ Đất phù sa chua
+ Đất phù sa có đốm gỉ
Trang 39+ Đất phù sa Glây
+ Đất phù sa kết von nhiều glây nông (Flfe – gl)
Nhóm đất glây chua đọng nước tự nhiên (GLd – st): Diện tích 270,24 ha, tập trung chủ yếu ở xã Sơn Hà Đất có thành phần cơ giới thịt nhẹ, Khả năng hấp phụ của đất ở mức trung bình, đất có độ bazơ thấp Hàm lượng cácbon và nitơ tổng số ở mức trung bình Tỷ lệ lân và kali nghèo cả về tổng số và dễ tiêu Diện tích này sử dụng trồng 02 vụ lúa
Nhóm đất than bùn điển hình (HSf – h): Diện tích 65,92 ha, loại đất này có thành phần cơ giới thịt nhẹ, tầng đất dầy, địa hình tương đối bằng phẳng Đất có phản ứng trung tính, hàm lượng NPK tổng số từ mức trung bình đến giàu Diện tích này phân bố chủ yếu ở xã Sơn Lai
Nhóm đất đen kết von nông (LV – fel): Diện tích 3.345,28 ka Phân bổ tập trung ở các xã Thạch Bình, Cúc Phương, Kỳ Phú, Sơn Lai Đất có thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình, tầng đất dầy mỏng tùy thuộc vào từng khu vực cụ thể
Độ dầy tầng đất dao động mạnh, độ dốc thay đổi từ 0 ÷ 25° Đất có phản ứng trung tính Hàm lượng các chất dinh dưỡng đạm, lân, kali tổng số và dễ tiêu ở mức nghèo
và rất nghèo Diện tích này hiện đang trồng 01 hoặc 02 vụ lúa
Nhóm đất xám: Được chia thành các loại đất sau:
+ Đất xám feralit điển hình (Acfa – h): Diện tích 8.661,92 ha Đất có thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt trung bình, tầng đất dày mỏng khác nhau, đất có phản ứng chua Lân tổng số và dễ tiêu ở mức nghèo và rất nghèo Kali tổng số và trao đổi ở mức trung bình và nghèo Diện tích này hiện đang trồng 02 vụ lúa – 1 màu, tập trung ở các xã: Xích Thổ, Lạc Vân, Đức Long, Cúc Phương, Kỳ Phú, Phú Long, Phú Lộc, Quảng Lạc
+ Đất xám kết von
* Đất xám kết von nông:
Diện tích 88,15 ha, chủ yếu ở xã Xích Thổ Đất có thành phần cơ giới thịt nhẹ, tầng đất dày, độ dốc tương đối lớn từ 15 ÷ 25° Hàm lượng các chất dinh dưỡng, lân tổng số, lân dễ tiêu ở mức từ nghèo đến trung bình, kali tổng số và trao đổi đều ở mức trung bình và khá Đất có phản ứng chua Diện tích này đang trồng
Trang 40màu là chủ yếu
* Đất xám kết von điển hình (Acfe – h):
Diện tích 1.742,97 ha Đất có thành phần cơ giới thịt nhẹ đến thịt trung bình Tầng đất dầy, độ dốc dao động lớn từ 8 ÷ 15° Lân dễ tiêu nghèo, lân tổng số ở mức trung bình, kali tổng số và trao đổi đều ở mức trung bình và khá Diện tích này hiện đang trồng 01 vụ lúa
* Đất xám kết von đá lẫn nông (Acfe – 11):
Diện tích 6.629,35 ha, tập trung ở xã Xích Thổ, Gia Sơn, Thạch Bình, Phú Sơn, Yên Quang, Cúc Phương, Kỳ Phú, Phú Long, Quỳnh Lưu, Quảng Lạc, Sơn
Hà, Sơn Lai Đất có thành phần cơ giới biến động mạnh từ cát pha đến thịt nặng và sét nhẹ, tầng đất dày mỏng khác nhau, độ dốc dao động từ 0 ÷ 25° Lân, Kali tổng
số và dễ tiêu đều ở mức trung bình đến khá Diện tích này hiện đang trồng 02 vụ lúa, lúa màu
Nhóm đất tầng mỏng trung tính ít chua điểm hình (Lpe – h): Diện tích 335,38 ha Đất có thành phần cơ giới thịt nhẹ, tầng đất mỏng, độ dốc cấp I, II Hàm lượng các chất hữu cơ dao động mạnh, lân tổng số và dễ tiêu ở mức nghèo và rất nghèo, kali tổng số và kali trao đổi ở mức nghèo và trung bình, khả năng hấp phụ của đất biến động mạnh, đất có phản ứng trung tính ít chua Diện tích này hiện đang trồng màu và cây công nghiệp hàng năm Tập trung chủ yếu ở các xã Thạch Bình,
Kỳ Phú, Phú Long, Sơn Hà
Tài nguyên nước
- Tài nguyên nước mặt: Ngoài hệ thống sông, huyện Nho Quan còn có 30 hồ chứa nước với diện tích 586,51 ha Hiện nay đang được cải tạo, nâng cấp để phục
vụ tốt hơn yêu cầu sản xuất và đời sống nhân dân trong huyện
- Tài nguyên nước ngầm: Theo kết quả nghiên cứu của liên đoàn II – Cục địa chất Việt Nam cho thấy, tại vùng Rịa (Phú Lộc) có tổng lượng nước ngầm đạt 361,391 m³/ngày Qúa trình tìm kiếm và thăm dò tại đây cũng chỉ rõ nguồn nước ngầm dưới đất bị nhiễm mặn Bên cạnh trữ lượng nước ngầm để cung cấp cho sinh hoạt thì huyện Nho Quan còn một số nguồn nước khoáng có chất lượng tốt, có thành phần Mg(HCO3)2 cao, có thể khai thác sử dụng làm nước giải khát, chữa bệnh
và phục vụ sinh hoạt trong vùng