Từ đó tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá góp phần hình thành một nền kinh tế mới - kinh tế hàng hoá.Vì vậy, nghiên cứu để đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
Trang 1MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình ix
MỞ ĐẦU i
1 Tính cấp thiết của đề tài: 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Yêu cầu của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới và Việt Nam 3
1.1.1.Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới 3
1.2.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam 5
1.2 Những nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 6
1.2.1 Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất 6
1.2.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững 10
1.2.3 Phương hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam 18
1.2.4 Những nghiên cứu về đất và sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 20
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 22
2.2 Nội dung nghiên cứu của đề tài 22
2.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên và thực trạng phát triển kinh tế - xã hội liên quan đến sử dụng đất nông nghiệp 22
Trang 2v
2.2.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa
bàn huyện Hàm Yên và lựa chọn loại sử dụng đất bền vững 22
2.2.3 Định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững 23
2.3 Phương pháp nghiên cứu 23
2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp 23
2.3.2 Điều tra số liệu sơ cấp 23
2.3.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả loại sử dụng đất 24
2.3.4.Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 25
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Hàm Yên có liên quan đến sử dụng đất 26
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 26
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 32
3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội 40
3.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Hàm Yên 41
3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 41
3.2.2 Hiện trạng các loại và kiểu sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện 42
3.2.3 Đánh giá hiệu quả các loại sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 46
3.3 Đề xuất định hướng sử dụng Đất sản xuất nông nghiệp và các giải pháp thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Hàm Yên 70
3.3.1 Đề xuất định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp hiệu quả 70
3.3.2 Đề xuất các giải pháp thực hiện 76
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 80
Kết luận 80
Kiến nghị 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 3LĐ
LUT
Lao động Loại sử dụng đất
MN
NTTS
Mầm non Nuôi trồng thủy sản
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Số bảng Tên bảng Trang 3.1: Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp từ năm 2012-2014 35 3.2 Diện tích và cơ cấu sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Hàm Yên năm 2014 42 3.3 Thống kê các loại và kiểu sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Hàm Yên 43 3.4 : Phân cấp mức độ đánh giá các hiệu quả kinh tế các loại sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 47 3.5: Hiệu quả kinh tế các loại sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại tiểu vùng 1 48 3.6: Phân cấp hiệu quả kinh tế các loại sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại tiểu vùng 1 49 3.7: Hiệu quả kinh tế các loại sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại tiểu vùng 2 51 3.8: Phân cấp hiệu quả kinh tế các loại sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại tiểu vùng 2 52 3.9: Phân cấp đánh giá mức độ hiệu quả xã hội các loại sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Hàm Yên 54 3.10 Hiệu quả xã hội các loại sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại tiểu vùng 1 huyện Hàm yên 55 3.11 Hiệu quả xã hội các loại sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại tiểu vùng 2 huyện Hàm yên 56 3.12: Phân cấp đánh giá hiệu quả xã hội các loại sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại tiểu vùng 1 huyện Hàm Yên 57 3.13: Phân cấp đánh giá hiệu quả xã hội các loại sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại tiểu vùng 2 huyện Hàm Yên 58 3.14: Phân cấp đánh giá hiệu quả môi trường sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 61 3.15 Mức sử dụng phân bón đối với một số cây trồng tại huyện Hàm Yên 63
Trang 53.16: Lượng thuốc bảo vệ thực vật thực tế sử dụng sản xuất nông nghiệp tại huyện Hàm Yên 64 3.17: Đánh giá hiệu quả môi trường các loại sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại tiểu vùng 1 66 3.18: Phân cấp đánh giá hiệu quả môi trường các loại sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại tiểu vùng 2 67 3.19: Đánh giá tổng hợp hiệu quả của các loại sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại tiểu vùng 1 68 3.20: Đánh giá tổng hợp hiệu quả của các loại sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại tiểu vùng 2 69 3.21: Để xuất các loại sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững, huyện Hàm Yên đến năm 2020 75
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Số hình Tên hình Trang 3.1: Cơ cấu lao động huyện Hàm Yên năm 2014 33 3.2: Cơ cấu kinh tế huyện Hàm Yên năm 2014 34 3.3: Giá trị các ngành sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp huyện Hàm Yên giai đoạn 2012 - 2014 36
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Đất đai có vai trò rất quan trọng đối với mỗi quốc gia vì nó là nền tảng, là môi trường sống của con người Với sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, không có đất thì không có xản suất nông nghiệp Chính vì vậy, sử dụng đất là một phần hợp thành của chiến lược nông nghiệp sinh thái và phát triển bền vững (Đặng Kim Sơn, Trần Công Thắng, 2001)
Nông nghiệp là hoạt động đang sản xuất cổ nhất và cơ bản nhất của loài người (Nguyễn Văn Bộ, 2000) Hầu hết các nước trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế xuất phát từ phát triển nông nghệp, dựa vào khai thác tiềm năng của đất, lấy nó làm cơ sở phát triển các ngành khác Vì vậy việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp lý, có hiệu quả trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề toàn cầu Điều mà các nhà khoa học trên thế giới quan tâm là làm thế nào để sản xuất ra nhiều lương thực thực thẩm đáp ứng cho nhu cầu trong khuôn khổ xã hội và kinh tế có thể thực hiện được Nói cách khác, mục tiêu hiện nay của loài người là phấn đấu xây dựng một nền nông nghiệp toàn diện về kinh tế - xã hội, môi trường một cách bền vững
Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp việc sản xuất nhỏ lẻ, manh mún thường cho hiệu quả thấp, chỉ thích hợp cho nền sản xuất tự cung tự cấp Ngày nay trong xu hướng sản xuất hàng hóa và hội nhập toàn cầu, việc tổ chức sản xuất này không còn thích hợp Xu thế tất yếu là phải tổ chức lại sản xuất nông nghiệp trên những quy mô lớn hơn Vì vậy việc sử dụng đất có hiệu quả nhằm đem lại ngày càng nhiều hơn những sản phẩm cho xã hội là vấn đề quan tâm trong kinh tế nông nghiệp, cũng như đảm bảo được độ an toàn cho đất đai mà không tổn hại đến môi trường sống là vấn đề hết sức quan trọng
Trong những năm gần đây, hòa cùng với xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, nền kinh tế của Việt Nam ngày càng phát triển Cùng với sự vận động
và phát triển này, con người ngày càng “vắt kiệt” nguồn tài nguyên đấy để phục
vụ cho lợi ích của mình Vì vậy, tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất hợp lý, có
Trang 82
hiệu quả cao theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn
đề mang tính toàn cầu Mục đích của việc sử dụng đất là làm thế nào để khai thác nguồn tài nguyên có hạn này mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả sinh thái, hiệu quả xã hội cao nhất, đảm bảo lợi ích trước mắt và lâu dài Nói cách khác, mục tiêu hiện nay của loài người là phấn đấu xây dựng một nền nông nghiệp toàn diện
về kinh tế, xã hội, môi trường một cách bền vững
Hàm Yên nằm trong vùng miền núi sản xuất nông nghiệp là nguồn thu chủ yếu của nhân dân trong huyện Hiện nay, áp lực vấn đề lương thực đã giảm xuống, tình trạng độc canh cây lúa ngày cành thu hẹp Chuyển dịch cơ cấu giống cây trồng diễn ra hầu hết ở các xã trong huyện Từ đó tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá góp phần hình thành một nền kinh tế mới - kinh tế hàng hoá.Vì vậy, nghiên cứu để đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực và giữ gìn được bản sắc của địa phương là một yêu cầu hết sức quan trọng và cần thiết trong thời gian tới Chúng
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài ''Đánh giá hiệu quả và đề xuất sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang”
3 Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất sản xuất nông nghiệp với những chỉ tiêu phù hợp với điều kiện cụ thể của huyện Hàm Yên
- Các giải pháp đề xuất phải có cơ sở khoa học và phải có tính thực
Trang 93
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới và Việt Nam
1.1.1.Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Trong sản xuất nông lâm nghiệp thì đất đai là nhân tố quyết định, có ý nghĩa vô cùng quan trọng Trên thế giới, mỗi quốc gia có nền sản xuất nông nghiệp phát triển không giống nhau nhưng tầm quan trọng của nó đối với đời sống con người thì quốc gia nào cũng thừa nhận, hầu hết các nước đều coi trọng nông nghiệp là cơ sở, nền tảng của sự phát triển Tuy nhiên khi dân số ngày một gia tăng nhanh thì nhu cầu lương thực thực phẩm là một sức ép rất lớn lên đất, nhất là đất nông nghiệp Trong khi đó đất đai lại có hạn, đặc biệt quỹ đất nông nghiệp lại có xu hướng giảm do chuyển sang các mục đích phi nông nghiệp Để đảm bảo an ninh lương thực loài người phải tăng cường các biện pháp khai thác, khai hoang đất đai phục vụ cho mục đích nông nghiệp Vì vậy đất đai là đối tượng bị khai thác triệt để, trong khi đó các biện pháp bảo vệ và tăng độ phì cho đất không được chú trọng dẫn tới hậu quả môi trường sinh thái bị phá vỡ, hàng loạt diện tích đất bị thoái hóa trên phạm vi toàn thế giới, đất bị mất chất dinh dưỡng, hữu cơ bị sói mòn, nhiễm mặn…gây ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng nông sản
Theo P.Buringh, toàn bộ đất nông nghiệp của thế giới có khoảng 3,3 tỉ ha (chiểm khoảng 22% tổng diện tích đất liền), Phần diện tích còn lại (khoảng 78% tương đương 11,7 tỷ ha) không dùng được vào nông nghiệp Trong tổng số 3,3 tỷ
ha đất nông nghiệp, con người đang sử dụng cho trồng trọt khoản 1,5 tỷ ha (chiếm xấp xĩ 10,8% tổng diện tích đất đai và 46% đất đang có khả năng trồng trọt) Như vậy, còn 54% đất có khả năng trồng trọt chưa được khai thác (Vũ Ngọc Tuyên, 1994)
Hiện nay, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người của thế giới chỉ còn 0,23 ha, ở nhiều quốc gia châu Á Thái Bình Dương là dưới 0,15 ha Theo tính toán của tổ chức Lương thực và nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) 1993 với trình độ sản xuất trung bình như hiện nay trên thế giới để có đủ lương thực,
Trang 104
thực phẩm thì mỗi người cần có 0,4 ha đất canh tác (Lê Thái Bạt, 2009) Tỷ lệ đất có khả năng canh tác ở các nước phát triển là 70%; ở các nước đang phát triển là 36% trong đó những loại đất tốt, thích hợp cho sản xuất nông nghiệp như đất phù sa, đất đen, đất rừng nâu chỉ chiểm khoảng 12,6%; những loại đất quá xấu như vùng băng tuyết, hoang mạc, đất núi chiếm 40,5%;2 còn lại là các loại đất không phù hợp với việc trồng trọt như đất dốc, tầng đất mỏng… Ở các nước khác nhau thì bình quân diện tích đất cũng khác nhau như: ở Mỹ là 0,25 ha /người; Bungari 0,7 ha /người; ở pháp 0,64 ha / người; ở Nhật 0,065ha/người (Nguyễn Đình Bồng, 2002)
Trên thế giới có khoảng 2,0 tỷ ha đất đã và đang bị thoái hóa và hoang mạc hóa, trong đó có 1,26 tỷ ha tập chung ở châu Á, thái Bình Dương Vì vậy đây là một trong những vấn đề về môi trường và tài nguyên thiên nhiên và nhiều quốc gia đang phải đối mặt và giải quyết nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực Thoái hóa đất có nhiều dạng và do nhiều nguyên nhân gây ra, cụ thể; xói mòn nước chiếm 55%; xói mòn gió 28%; chặt phá rừng 29,5% ; chăn thả quá mức 34,5%; quản lý kém 28%; hoạt động công nghiệp 1,2% (Nguyễn Đình Bồng, 2002) Theo tổ chức Lương thực và nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) cho biết, tình trạng thoái hóa đất nhiều vấn đề đe dọa tới an ninh lương thực đối với khoảng 1/4 dân số trên thế giới sống phụ thuộc trực tiếp vào đất Thoái hóa đất là vấn đề đe dọa tới an ninh lương thực còn là mối nguy
cơ phá hoại các nguồn tài nguyên và sinh thái làm mất đa dạng sinh học và các nguy cơ khác
Do con người khai thác và sử dụng đất không khoa học làm cho đất nông nghiệp giảm cả về số lượng và chất lượng, nhiều vùng đất trên thế giới đã trở thành sa mạc không thể canh tác được Mất ổn định trính trị nghèo đói, chặt phá rừng bừa bãi, chăn thả quá mức và các hoạt động tưới tiêu nghèo nàn đều góp phần vào sự thái hóa, hoang mạc hóa của đất Thoái hóa môi trường đất có nguy
cơ làm giảm sản lượng lương thực trên thế giới trong những năm tới, làm ảnh hưởng tới hàng tỷ người của các nước trên thế giới
Trang 115
1.2.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam
Việt Nam là nước có diện tích nhỏ trên thế giới, đứng thứ 4 ở khu vực Đông Nam Á, nhưng dân số lại đứng ở vị trí số 2 nên bình quân diện tích trên
đầu người chỉ xếp vào hạng thứ 9 trong khu vực
Theo số liệu của tổng cục Thống kê tính đến 01/01/2012, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.095,1 nghìn ha, dân số là 88.772,9 nghìn người, mật
độ dân số 268 người /km2 Bình quân diện tích tự nhiên là 3.728m2/người Trong
đó nông nghiệp có 26.208,5 nghìn ha, bình quân diện tích nông nghiệp trên người
là 2.960 m 2 /người; đất sản xuất đất nông nghiệp là 10.151,1 nghìn ha, bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp trên người là 1.143m 2 /người
Những năn gần đây cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta bước đầu đã gắn phương thức truyền thống với phương thức công nghiệp hóa và đang dần từng bước xóa bớt tính tự cung, tự cấp, chuyển dần sang sản xuất hàng hóa và phục vụ xuất khẩu Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thỏa mãn nhu cầu cho xã hội về sản phẩm nông nghiệp đang trở thành vấn đề cấp bách luôn được các nhà quản lý và sử dụng đất quan tâm
Thực tế cho thấy, trong những năm qua do tốc độ công nghiệp hóa cũng như đô thị hóa diễn ra khá mạnh mẽ ở nhiều địa phương trên phạm vi cả nước làm cho diện tích đất nông nghiệp và đất canh tác bình quân đầu người ngày càng giảm, do dân số vẫn tiếp tục tăng nhanh, dẫn đến sự thiếu hụt tư liệu cơ bản để phát triển sản xuất nông nghiệp Diện tích đất đai bị sói mòn, thoái hóa do sự phá rừng gây ra cũng đang ngày càng tăng lên
Ở nước ta hiện nay, thoái hóa đất đang là một trong những xu thế phổ biến đối với nhiều vùng rộng lớn, đặc biệt là vùng rừng núi, nơi tập trung 3/4 quỹ đất Trên 50% diện tích đất ở vùng đồng bằng và trên 60% diện tích đất ở vùng miền núi có những vấn đề liên quan tới suy thoái đất, nguyên nhân suy thoái có nhiều, song chủ yếu do phương thức canh tác nương rẫy còn thô sơ, lạc hậu của đồng bào dân tộc tiểu số, tình trạng chặt phá đốt rừng bừa bãi vẫn còn diễn ra, khai thác tài nguyên khoáng sản chưa hợp lý, việc khai thác công trình giao thông, hạ tầng nhà ở khu đô thị mới… Sự suy thoái môi trường đất kéo theo sự suy giảm
Trang 12Theo (Nguyễn Đình Bồng, 2002 ) diện tích đất sản xuất nông nghiệp của nước ta so với một số nước trên thế giới có tỷ lệ rất thấp trong tổng diện tích đất
tự nhiên Do vậy để phát triển nền nông nghiệp đủ sức cung cấp lương thực thực phẩm cho toàn dân và có một phần cho xuất khẩu cần biết cách khai thác, sử dụng đất đai hợp lý, tiếc kiệm và có hiệu quả Sử dụng đất nông nghiệp phải dựa trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, tận dụng tối đa lợi thế về điều kiện sinh thái nhưng không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường, sinh thái, đó là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác và sử dụng đất đai bền vững
1.2 Những nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1 Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất
1.2.1.1 Khái quát về hiệu quả
Có nhiều quan niệm khác nhau về hiệu quả Trước đây, người ta thường quan niệm kết quả chính là hiệu quả Sau này, người ta nhận thấy rõ sự khác nhau giữa hiệu quả và kết quả Nói một cách chung nhất hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của công việc mang lại (Từ điển tiếng việt,1992).Viện nghiên cứu học Trung tâm khoa học và nhân văn quốc gia (1993) Nxb.TP
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi hướng tới, nó có những nội dung khác nhau Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động nói chung, hiệu quả là năng suất lao động được đánh giá
Trang 137
bằng số lượng thời gian để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian (Bách khao toàn thư Việt Nam) Kết quả là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà ta phải xem xét kết quả
đó được tạo ra như thế nào? chi phí bỏ ra bao nhiêu? có đưa lại kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà phải đánh giá chất lượng hoạt động tạo ra sản phẩm đó Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là một nội dung của đánh giá hiệu quả (Đỗ Thị Tám, 2001)
Việc xác định bản chất và khái niệm hiệu quả cần xuất phát từ những luận điểm triết học của Mác và những lý luận điểm lý thuyết hệ thống sau đây:
-Thứ nhất: Bản chất của hiệu quả là sự thực hiện yêu cầu tiết kiệm thời gian là quy luật có thời gian là quy luật có tầm quan trọng đặc biệt tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất Mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật
đó, nó quyết định động lực phát triển của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện phát triển văn minh xã hội và nâng cao đời sống của con người qua mọi thời đại -Thứ hai: Theo lý thuyết hệ thống thì nền sản xuất xã hội là một hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người với con người trong quá trình sản xuất Hệ thống sản xuất xã hội bao gồm trong nó các quá trình sản xuất các phương tiện bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội, nhu cầu của con người là yếu tố khách quan phản ánh mối quan hệ nhất định của con người đối với môi trường bên ngoài Đó là quá trình trao đổi vật chất, năng lượng giữa sản xuất xã hội và môi trường
- Thứ ba: Hiệu quả kinh tế là mục tiêu nhưng không phải là mục tiêu cuối cùng mà là mục tiêu xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế Trong kế hoạch và quản
lý kinh tế nói chung hiệu quả là quan hệ so sánh tối ưu giữa đầu vào và đầu ra, là lợi ích lớn hơn thu được với một chi phí nhất định, hoặc một kết quả nhất định với chi phí nhỏ hơn
Như vậy bản chất của hiệu quả được xem là:
- Việc đáp ứng nhu cầu của con người trong đời sống xã hội
Trang 148
- Việc bảo tồn tài nguyên, nguồn lực phát triển lâu bền
1.2.1.2 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Từ những khái niệm chung về hiệu quả cho thấy trong lĩnh vực sử dụng đất thì hiệu quả chỉ là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong hoạt động kinh tế, thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị thu được bằng tiền Đồng thời về mặt hiệu quả xã hội là thể hiện mức thu hút lao động trong quá trình thực hiện mức thu hút lao động trong quá trình hoạt động kinh tế để khai thác sử dụng đất Riêng đối với ngành nông nghiệp, cùng với hiệu quả kinh tế về giá trị và hiệu quả về mặt sử dụng lao động trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là sản lượng thu được, nhất là các loại nông sản cơ bản
có ý nghĩa chiến lược (lương thực, sản phẩm xuất khẩu…) để đảm bảo sự ổn định
về kinh tế - xã hội của đất nước (Bách khoa toàn thư Việt Nam)
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là mong muốn của nông dân - những người trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Thị Vòng và cs , 2001), nghiên cứu và xây dựng quy trình công nghệ đánh giá hiệu quả sử dụng đất trồng, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Tổng Cục thông qua chuyển đổi cơ cấu cây
Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng, vấn đề đánh giá hiệu quả sử dụng đất không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt mà cần thiết phải xem xét ở cả
3 khía cạnh bao gồm: hiệu quả kinh tế, kiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
+ Hiệu quả kinh tế
Cho dù theo quan điểm truyền thống hay hiện đại, hiệu quả kinh tế luôn liên quan đến các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh Nội dung xác định hiệu quả kinh tế bao gồm:
Xác định các yếu tố đầu vào: đó là chi phí trung gian, chi phí sản xuất, chi phí lao động và dịch vụ , chi phí vốn đầu tư và đất đai …
Trang 159
Xác định các yếu tố đầu ra (mục tiêu đạt được ) trước hết hiệu quả kinh tế
là các mục tiêu đạt được của từng hộ gia đình, từng cơ sở sản xuất phải phù hợp với mục tiêu chung của nền kinh tế quốc dân, hàng hóa sản xuất phải trao đổi được trên thị trường, các kết quả đạt được là: khối lượng sản phẩm, giá trị sản xuất, giá trị gia tăng lợi nhuận
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của giá trị đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của sản phẩm đầu ra, nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó
+ Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau và là một phạm trù thống nhất Theo (Nguyễn Duy Tính, 1995), hiệu quả về mặt xã hội của sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích nông nghiệp
Hiệu quả xã hội được thể hiện thông qua mức thu hút lao động, thu nhập của nhân dân…Hiệu quả xã hội cao góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, phát huy được nguồn lực của địa phương, nâng cao mức sống của nhân dân, nó phản ánh những khía cạnh về mối quan hệ xã hội giữa con người với con người như vấn đề công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo định canh định cư, công bằng xã hội …
Sử dụng đất phải phù hợp với tập quán, nền văn hóa của địa phương thì việc sử dụng đất bền vững hơn
Hiệu quả xã hội trong sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất sản xuất nông nghiệp
+Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường là một vấn đề mang tính toàn cầu ngày nay đang được chú trọng quan tâm và không thể bỏ ra khi đánh giá hiệu quả Trong sản xuất nông nghiệp hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu dài, vừa đảm bảo lợi
Trang 16ích hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tương lai Nó gắn chặt với quá trình khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái
Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: loại sử dụng đất phải bảo vệ được
độ mầu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hóa đất bảo vệ môi trường sinh thái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái ( > 35%) đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (Bùi Duy Hiền và Nguyến Văn Bộ, 2001) Trong thực tế, tác động của môi trường sinh thái diễn ra rất phức tạp và theo chiều hướng khác nhau Cây trồng phát triển tốt khi phù hợp với đặc tính tính chất của đất Tuy nhiên trong quá trình sản xuất dưới tác động của các hoạt động sản xuất, phương thức quản lý của con người, hệ thống cây trồng sẽ tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường
Hiệu quả môi trường được phân ra theo nguyên nhân gây nên, gồm: hiệu quả hóa học, hiệu quả vật lý và hiệu quả sinh học môi trường (Đỗ Nguyên Hải, 1999) Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả hóa học môi trường được đánh giá thông qua mức độ sử dụng các chất hóa học trong nông nghiệp Đó là việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao và không gây ô nhiễm môi trường
1.2.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững
1.2.2.1 Quan điểm sử dụng đất sản xuất nông nghiệp bền vững
Là một hệ sinh thái, một phần do con người tạo ra nhằm mục đích phục vụ con người, hệ sinh thái nông nghiệp chịu những tác động mạnh mẽ nhất từ chính con người nhiều khi đã làm cho hệ sinh thái biến đổi vượt quá khả năng tự điều chỉnh của đất Con người không chỉ tác động vào đất đai mà còn tác động vào cả khí quyển, nguồn nước, để tạo ra một lượng lương thực, thực phẩm ngày càng nhiều trong khi các hoạt động cải tạo đất chưa được quan tâm đúng mức và hậu qủa là đất đai cũng như các nhân tố tự nhiên khác bị thay đổi theo chiều hướng ngày một xấu đi Để duy trì được sự bền vững của đất đai, (Smith A.J và Julian
Trang 17Dumanski,1993) Đã nghiên cứu và xác định ra 5 nguyên tắc có liên quan đến sự
sử dụng đất bền vững là:
+ Duy trì hoặc nâng cao các hoạt động sản xuất
+ Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất
+ Bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự thoái hóa chất lượng đất và nước
+ Khả thi về mặt kinh tế
+ Được xã hội chấp nhận
Như vậy, theo các tác giả, sử dụng đất bền vững không chỉ thuần tuý về mặt tự nhiên mà còn cả về mặt môi trường, lợi ích kinh tế và xã hội Năm nguyên tắc trên đây là trụ cột của việc sử dụng đất bền vững, nếu trong thực tiễn đạt được cả 5 nguyên tắc trên thì sự bền vững sẽ thành công, ngược lại sẽ chỉ đạt được ở một vài bộ phận hay sự bền vững có điều kiện Tại Việt Nam, theo (Đào Châu Thu và Nguyễn Khang 1998), việc sử dụng đất bền vững cũng dựa trên những nguyên tắc nói trên và được cụ thể như sau :
- Bền vững về mặt kinh tế: cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và được thị trường chấp nhận
- Bền vững về mặt môi trường: loại hình sử dụng đất bảo vệ được đất đai, ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường tự nhiên
- Bền vững về mặt xã hội: thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống người dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển
Tóm lại, hoạt động sản xuất nông nghiệp của con người diễn ra hết sức đa
dạng trên nhiều vùng đất khác nhau, dưới tác động của các điều kiện sản xuất, điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau Do vậy để sản xuất nông nghiệp bền vững cần phải dựa trên cơ sở duy trì các chức năng chính của đất là đảm bảo khả năng sản xuất của cây trồng một cách ổn định, không làm suy giảm về chất lượng tài nguyên đất theo thời gian và việc sử dụng đất không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người và sinh vật
Trang 181.2.2.2 Tiêu chí đánh giá tính bền vững:
Việc tìm kiếm các giải pháp sử dụng đất một cách hiệu quả và bền vững luôn
là mong muốn của con người trong mọi thời đại Nhiều nhà khoa học và các tổ chức quốc tế đã đi sâu nghiên cứu vấn đề sử dụng đất một cách bền vững trên nhiều vùng của thế giới trong đó có Việt Nam Việc sử dụng đất bền vững nhằm đạt được các mục tiêu sau:
+ Duy trì nâng cao sản lượng (hiệu quả sản xuất )
+ Giảm rủi ro sản xuất (an toàn)
+ Bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên tự nhiên, ngăn ngừa thoái hóa đất và nước (bảo vệ)
+ Có hiệu quả lâu dài (lâu bền)
+ Được xã hội chất nhận (tính chấp nhận) (Hội khoa học đất Việt Nam,
2000), đất Việt Nam, Nxb Nông nghiệp Hà Nội)
Như vậy, sử dụng đất bền vững không chỉ thuần túy về mặt tự nhiên mà còn cả
về mặt môi trường, lợi ích kinh tế và xã hội Năm mục tiêu mang tính nguyên tắc trên đây là trụ cột vủa việc sử dụng đất bền vững Trong thực tiễn, việc sử dụng đất đạt được cả năm mục tiêu trên thì sự bền vững sẽ thành công, nếu không sẽ chỉ đạt được sự bền vững có điều kiện Tại Việt Nam, việc sử dụng đất bền vững cũng dựa trên những nguyên tắc trên và được thể hiện trong 3 yêu cầu sau:
-Bền vững về mặt kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và được
thị trường chấp nhận Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình quân vùng có điều kiện đất đai Năng suất sinh hoạt bao gồm các sản phẩm chính và phụ (đối với cây trồng là gỗ, hạt, củ, quả và tàn dư để lại) Một hệ thống sử dụng đất bền vững phải có năng suất trên mức bình quân, nếu không sẽ không cạnh tranh được trong nền cơ chế thị trường
Về chất lượng: sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương trong nước và xuất khẩu tùy mục tiêu của từng vùng
Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất của hiệu quả kinh tế đối với hệ thống sử dụng đất Tổng giá trị một giai đoạn hay
cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng nếu dưới mức đó thì nguy cơ người
Trang 19-Bền vững về mặt môi trường:
Loại sử dụng đất bảo vệ được độ màu mỡ của đất, ngăn chặn sự thoái hóa
đất và bảo vệ môi trường sinh thái
Giữ đất được thể hiện bằng giảm thiểu lượng đất mất hàng năm dưới mức
cho phép
+ Độ phì nhiêu đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với quản lý sử dụng bền
vững
+ Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%)
+ Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (đa canh bền vững hơn độc canh, cây lâu năm có khả năng bảo vệ đất tốt hơn cây hàng năm… )
Ba yêu cầu bền vững trên là để xem xét và đánh giá các loại hình sử dụng đất hiện đại Thông qua việc xem xét và đánh giá các yêu cầu trên để giúp cho việc định hướng và phát triển nông nghiệp ở vùng sinh thái (Hội khoa học đất Việt Nam, 2000)
Tóm lại: Khái niệm sử dụng đất đai bền vững do con người đưa ra được
thể hiện trong nhiều hoạt động sử dụng và quản lý đất đai theo các mục đích mà con người đã lựa chọn cho từng vùng đất xác định Đối với sản xuất nông nghiệp
Trang 20việc sử dụng đất bền vững phải đạt được trên cơ sở đảm bảo khả năng sản xuất
ổn định của cây trồng, chất lượng tài nguyên đất không suy giảm theo thời gian
và việc sử dụng đất không ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người, của các sinh vật
1.2.2.3 Một số kết quả nghiên cứu về sử dụng đất bền vững tại Việt Nam
Những năm 1980 trở lại đây, các nghiên cứu về đánh giá khả năng sử dụng đất đai bắt đầu được tiến hành ở Việt Nam và đã có những công trình nghiên cứu là nền tảng cho việc sử dụng đất đai bền vững
(Tôn Thất Chiểu, 1986), đã nghiên cứu đánh giá, phân hạng đất khái quát toàn
quốc tỷ lệ bản đồ 1/500.000 trên cơ sở dựa vào nguyên tắc phân loại khả năng thích hợp đất đai trên toàn quốc
Trong đó có 04 nhóm cho sử dụng đất nông nghiệp, 2 nhóm có khả năng
sử dụng cho các mục đích khác
Năm 1995 Bùi Quang Toản và đồng nghiệp đã nghiên cứu, đánh giá và quy hoạch và sử dụng đất khai hoang ở Việt Nam, nhóm tác giải đã áp dụng và phân loại khả năng của FAO Tuy nhiên, chỉ đánh giá các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng thủy văn, tưới tiêu khí hậu nông nghiệp) Trong nghiên cứu này, hệ thống phân vị chỉ dụng lại ở lớp (class) thích hợp cho từng loại sử dụng đất
Từ năm 1990, viện Quy hoạch và thiết kế Nông nghiệp đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu, đánh giá đất trên phạm vi toàn quốc với 9 vùng sinh thái
và nhiều vùng chuyên canh theo các dự án đầu tư (Nguyễn Khang, Phạm Dung Ưng, 1994) với “ Kết quả bước đầu đánh giá tài nguyên đất Việt Nam”( Nguyễn Công Pho, 1995) với “ Đánh giá đất vùng Đồng bằng Sông Hồng”; (Nguyễn Văn Nhân, 1995) với đánh giá khả năng và sử dụng đất vùng Đồng bằng Sông Cửu Long” …
Các quy trình ứng dụng quy trình đánh giá đất đai theo FAO được tiến hành ở nhiều cấp, từ vùng sinh thái đến tỉnh, huyện và tổng hợp thành cấp quốc gia, các nhà khoa học trên toàn quốc đã hoàn thành nghiên cứu đánh giá đất Những đóng góp của nhiều nhà nghiên cứu phải nói đến như: Vùng núi Tây Bắc
và trung du phía bắc có (Lê Duy Phước, 1992), (Lê Văn Khoa, 1993) Vùng đồng
Trang 21Những kết quả đánh giá mức độ thích hợp đất đai của các loại hình sử dụng đất từ cấp toàn quốc đến cấp tỉnh, huyện đều cho thấy có sự nhất quán tuân theo phương pháp của PAO làm cơ sở cho phân hạng thích hợp đất đai Trong điều kiện của Việt Nam, phần lớn các tác giả của chương trình đánh giá đất đều lấy yếu tố đơn vị đất đai hoặc tính chất đất làm cơ sở của xếp hạng và phân cấp chỉ tiêu cho đánh giá mức độ thích hợp của các loại hình sử dụng đất
Tháng 12/1995 Hội thảo quốc gia về đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất và qui hoạch sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững do Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông Nghiệp tổ chức với sự tham gia và đóng góp của nhiều nhà khoa học Hội nghị đã tổng kết và khẳng định phương pháp đánh giá đất do FAO đề xuất, phù hợp với Việt Nam và kiến nghị Nhà nước cho triển khai ứng dựng Kết quả là đã xây dựng tài liệu “ Đánh giá đất và đề xuất sử dụng tài nguyên đất phát triển nông nghiệp bền vững ” (thời kỳ 1996 - 2000 và 2010) Trong công trình nghiên cứu “kết quả bước đầu đánh giá tài nguyên đất Việt Nam”, các tác giả (Nguyên Khang và Phạm Dương Ưng, 1995) đã xác định được toàn Việt Nam có 340 đơn vị đất đai trong đó miền Bắc có 144 đơn vị đất đai và miền Nam có 196 đơn vị đất đai Toàn quốc có 90 loại sử dụng đất chính trong đó có 28 loại sử dụng đất được lựa chọn
Những đánh giá đất ở tầm vĩ mô của nhiều tác giả trong thời gian qua, cộng với sự hỗ trợ và giúp đỡ tích cực của các cơ quan nhà nước và quốc tế đã đang góp phần hoàn thiện quy trình đánh giá đất theo FAO của Việt Nam, từ đó
Trang 22làm cơ sở cho những định hướng chiến lược về quy hoạch sử dụng đất toàn quốc
và các vùng sinh thái lớn một cách bền vững
Các công trình nghiên cứu của các tác giả đã góp phần đặt nền móng cho
sự nghiên cứu về sử dụng đất theo quan điểm sinh thái bền vững Tuy nhiên các công trình nghiên cứu phần lớn mới dừng ở mức độ vĩ mô, những nghiên cứu chi tiết còn chưa được thực hiện nhiều Việc đánh giá đất theo quan điểm sinh thái phục vụ mục tiêu phát triển nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa sản phẩm cho cấp huyện mới đề cập ở một số công trình nghiên cứu như: (Đoàn Công Quỳ, 2001), (Đỗ Nguyên Hải, 2001), (Đào Châu Thu và Nguyễn Ích Tân 2004)…
Theo kết quả nghiên cứu của (Phạm Dương Ưng và Nguyễn Khang, 1995), các kiểu sử dụng đất trồng cây lâu năm như cà phê, cao su có độ che phủ cao với hơn 90% nên hạn chế xói mòn đất chỉ dao động từ 0,2-6,9 tấn/ha/năm Đây là những loại sử dụng đất có tính bền vững về môi trường Về khả năng duy trì, bồi dưỡng đất của các kiểu sử dụng đất tác giả cho thấy tất cả các cây trồng lâu năm, các cây trồng luân canh 2 vụ/năm đều duy trì độ phì tốt
Theo (Nguyễn Đình Bồng, 2002) Sử dụng đất nông nghiệp bền vững liên quan trực tiếp đến hệ thống canh tác cụ thể nhằm duy trì và nâng cao thu nhập, đồng thời bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, thúc đẩy phát triển nông nghiệp hiện tại và tương lai
Hiện nay để khuyển cáo sử dụng đất bền vững, nhiều mô hình canh tác có hiệu quả và bền vững đã được tổng kết, khuyến cáo cho người dân áp dụng tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của vùng Sự nhân rộng các mô hình vườn - ao - chuồng (VAC) ở đồng bằng, vườn - ao - chuồng - rừng (VACR) ở vùng đồi núi, mô hình nông lâm kết hợp hoặc lâm nông ở vùng đồi núi và nhiều
mô hình cho hiệu quả khác đã chứng minh sức bền và lan toả của mô hình sử dụng đất bền vững (Nguyễn Văn Toàn, 2010)
Từ những kết quả đã nêu trên cho thấy các công trình nghiên cứu của các tác giả là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng sử dụng đất trong thời gian sắp tới
Trang 231.2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất là hết sức cần thiết, nó giúp cho việc đưa ra những đánh giá phù hợp với từng loại vùng đất
để trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất Các nhân tố ảnh hưởng có thể chia thành 3 nhóm:
- Điều kiện tự nhiên: Bao gồm điều kiện khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý,
địa hình, thổ nhưỡng, môi trường sinh thái, nguồn nước…Chúng có ảnh hưởng một cách rõ nét, thậm chí quyết định đến kết quả và hiệu quả sử dụng đất
+ Đặc điểm lý, hoá tính của đất: trong sản xuất nông lâm nghịêp, thành phần cơ giới, kết cấu đất, hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ trong đất, … quyết định đến chất lượng đất và sử dụng đất Quỹ đất đai nhiều hay ít, tốt hay xấu, có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng đất
+ Nguồn nước và chế độ nước là yếu tố rất cần thiết, nó vừa là điều kiện quan trọng để cây trồng vận chuyển chất dinh dưỡng vừa là vật chất giúp cho sinh vật sinh trưởng và phát triển
+ Địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng: điều kiện địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng là yếu tố quyết định lớn đến hiệu quả sản xuất, độ phì đất có ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển và năng suất cây trồng vật nuôi
+ Vị trí địa lý của từng vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt
độ, nguồn nước, gần đường giao thông, khu công nghiệp,… sẽ quyết định đến khả năng và hiệu quả sử dụng đất Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất nông lâm nghiệp cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế sẵn có nhằm đạt được hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội và môi trường
Theo Mác điều kiện tự nhiên là có cơ sở hình thành địa tô chênh lệch Theo N.Borrlang- người được giải Nobel về hòa bình về giải quyết lương thực cho các nước phát triển cho rằng :yếu tố duy nhất quan trọng hạn chế năng suất cây trồng ở các nước đang phát triển đặc biệt đối với nông dân thiếu vốn là độ phì đất
- Điều kiện kinh tế, xã hội: Bao gồm rất nhiều nhân tố (chế độ xã hội,
dân số, cơ sở hạ tầng, môi trường chính sách,…) các yếu tố này có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với kết quả và hiệu quả sử dụng đất
Trang 24+ Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp: trong các yếu tố cơ sở
hạ tầng phục vụ sản xuất, yếu tố giao thông vận tải là quan trọng nhất, nó góp phần vào việc trao đổi tiêu thụ sản phẩm cũng như dịch vụ những yếu tố đầu vào cho sản xuất Các yếu tố khác như thủy lợi, điện, thông tin liên lạc, dịch vụ, nông nghiệp đều có sự ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng Trong đó, thuỷ lợi
và điện là yếu tố không thể thiếu trong điều kiện sản xuất hiện nay Các yếu tố còn lại cũng có hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất
+ Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông lâm sản là cầu nối giữa người sản xuất và tiêu dùng, ở đó người sản xuất thực hiện việc trao đổi hàng hoá, điều này giúp cho họ thực hiện được tốt quá trình tái sản xuất tiếp theo
+ Trình độ kiến thức, khả năng và tập quán sản xuất của chủ sử dụng đất thể hiện khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất, khả năng về vốn lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh nghiệm truyền thống trong sản xuất và cách xử lý thông tin để ra quyết định trong sản xuất
+ Hệ thống chính sách: chính sách đất đai, chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục
vụ sản xuất, chính sách khuyến nông, chính sách hỗ trợ giá, chính sách định canh định cư, chính sách dân số, lao động việc làm, đào tạo kiến thức, chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách xoá đói giảm nghèo…các chính sách này đã có những tác động rất lớn đến vấn đề sử dụng đất, phát triển và hình thành các loại hình sử dụng đất mới đặc biệt, cho đối tượng là đồng bào dân tộc tại địa phương
- Yếu tố tổ chức, kỹ thuật: đây là yếu tố chủ yếu hết sức quan trọng trong
quy hoạch sử dụng đất, một bộ phận không thể thiếu được của quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội Quy hoạch sử dụng đất phải dựa vào điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của từng vùng mà xác định cơ cấu sản xuất, bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho phù hợp Đây chính là cơ sở cho việc phát triển hệ thống cây trồng, gia súc với cơ cấu hợp lý và đạt hiệu quả kinh tế cao
1.2.3 Phương hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam
Những năm gần đây, nền nông nghiệp nước ta đang chuyển mạnh sang sản xuất nông nghiệp hàng hóa và hướng tới xuất khẩu.Thâm canh trở thành xu
Trang 25hướng chủ đạo trong nền nông nghiệp với việc áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới về giống, quy trình canh tác và chế biến sản phẩm Trên cơ sở thành tựu kỹ thuật nông nghiệp của hơn 20 năm đổi mới, dựa trên những dự báo
về khoa học kỹ thuật, căn cứ vào điều kiện cụ thể, phương hướng chủ yếu phát triển nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm tới do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đề ra (Bộ NN & PTNT (2009) với mục tiêu chính cần đạt cần đạt trong giai đoạn 2016 - 2020 là “Phát triển nông nghiệp theo hướng toàn diện, hiện đại sản xuất hàng hóa theo quy mô lớn, vững bền; phát triển nông thôn gắn với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hoá đất nước, tăng thu nhập và cải thiện cơ bản điều kiện sống của dân cư nông thôn, bảo vệ môi trường Để đạt được mục tiêu chính nói trên nông nghiệp cần phấn đấu đạt được một số mặt sau đây:
+ Đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng nông nghiệp ở mức bình quân 4% năm Hình thành một số ngành sản xuất kinh doanh mũi nhọn của Việt Nam trên thị trường quốc tế
3,5-+ Cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn chuyển đổi theo nhu cầu thị trường Phát triển chăn nuôi, thủy sản và lâm nghiệp Công nghiệp dịch
vụ và kinh tế đô thị phối hợp hiệu quả với sản xuất và kinh doanh nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn
+ Chuyển phần lớn lao động nông thôn ra khỏi nông nghiệp, lao động nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội Hình thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp có kỹ năng sản xuất và quản lý, gắn kết trong các loại hình kinh tế hợp tác và kết nối với thị trường
+ Phong trào xây dựng nông thôn mới phát triển mạnh với ít nhất 50% số
xã đạt tiêu chuẩn Nâng cao thu nhập của cư dân nông thôn lên 2,5 lần so với hiện nay Quy hoạch dân cư, quy hoạch lãnh thổ nông thôn gắn với phát triển đô thị, công nghiệp
+ Phát triển lâm nghiệp tăng độ che phủ của rừng lên 43-45% bảo vệ đa dạng sinh học, đảm bảo đánh bắt thủy hải sản nội địa và gần bờ trong khả năng tái tạo và phát triển, khác phục tình trạng ô nhiễm trong sản xuất nông nghiệp, khắc phục và giảm thiệt hại, thiên tai dịch bệnh và các tác động xấu của biến đổi khí hậu (Bộ NN&PTNT, 2009)
Trang 261.2.4 Những nghiên cứu về đất và sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
Theo (Nguyễn Văn Toàn, 2012) từ những năm 1967-1968, tỉnh Tuyên Quang (thuộc tỉnh Hà Tuyên cũ) đã tiến hành điều tra xây dựng bản đồ đất cho toàn tỉnh Hà Tuyên tỷ lệ 1/100.000 Tiếp theo vào đầu những năm 1970 để phục
vụ cho công tác phân bố lại dân cư trên địa bàn miền Bắc, một số vùng kinh tế và Nông Lâm trường quốc doanh được xây dựng bản đồ đất tỉ lệ 1/10.000-1/25.000 phục vụ cho việc xác định số lượng, chất lượng đất để bố trí cơ cấu cây trồng phù hợp, cũng trên quan điểm phân loại đất phát sinh Hàng ngàn phẫu diện đất đã được đào trên phạm vi toàn tỉnh
Năm 2000 - 2001, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã tiến hành điều tra, xây dựng bản đồ đất 32 xã thuộc 3 huyện Na Hang, Chiêm Hoá, Hàm Yên, tỷ lệ 1/50.000 phục vụ dự án tái định cư công trình thuỷ diện Đài Thị tỉnh Tuyên Quang Kết quả đã xác định được 15 loại đất thuộc 4 nhóm đất gồm: Nhóm đất phù sa ; 2 Nhóm đất đỏ vàng ; 3 Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi ; 4 Nhóm đất thung lũng dốc tụ
Trong thời kỳ từ 1997- 2004, Sở Địa chính tỉnh Tuyên Quang đã tiến hành điều tra xây dựng bản đồ Nông hóa - Thổ nhưỡng cấp xã tỷ lệ 1/1.000 – 1/10.000 trên địa bàn 6 huyện thị theo phân loại đất phát sinh Tuy nhiên chương trình chỉ thực hiện được ở một số xã trên địa bàn toàn tỉnh
Từ năm 2003 - 2005, Bộ NN &PTNT đã giao cho Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp thực hiện chương trình “Điều tra, chỉnh lý, xây dựng bản đồ đất 63 tỉnh thành” làm cơ sở cho việc thống kê số lượng, chất lượng tài nguyên đất cấp tỉnh, vùng và toàn quốc trong đó có tỉnh Tuyên Quang Kết quả đã xác định được 5 nhóm đất với 17 loại đất
Theo (Nguyễn Văn Toàn, 2012) đã tiến hành phân loại lập bản đồ đất theo phân loại định lượng FAO-UNESCO-WRB Kết quả của nghiên cứu này đã được (Nguyễn Văn Toàn, Đặng Minh Tơn và cs…,2015)
Nghiên cứu về đánh giá đất đai trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang không có mấy, ngoại trừ nghiên cứu của (Nguyễn Đình Bồng, 2002) đã tiến hành đánh giá đất đất trống đồi núi trọc theo phương pháp của FAO Kết quả đã xác định và đề xuất sử dụng 153.173 ha cho mục đích nông, lâm nghiệp, góp phần phủ xanh đất
Trang 27trống, đồi núi trọc và cải thiện môi trường Năm 2009, trường đại học nông lâm Thái nguyên đã tiến hành thực hiện “Quy hoạch phát triển vùng cam huyện Hàm Yên đến năm 2015 định hướng đến năm 2020” Để thực hiện quy hoạch này, nghiên cứu đã thực hiện đánh giá thích nghi đất đai nhưng chỉ giới hạn ở 9 xã đang có cam lúc bấy giờ Năm 2014, Nguyễn Văn Toàn và cs đã tiến hành dự
án “ Điều tra đánh giá đất phục vụ phát triển cam bền vững vùng cam Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang” Trong nghiên cứu này chỉ tập trung đánh gia hiệu quả sử dụng đất của một số loại sử dụng đất và kiểu sử dụng đất dự kiến chuyển đổi sang trồng cam Như vậy cho đến nay mặc dù đã có một số nghiên cứu về đất, đánh giá đất trên địa bàn Hàm Yên tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đánh giá về đánh giá thực trạng về hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Hàm Yên và đề xuất định hướng sử dụng đất
Trang 28Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các loại sử dụng đất, kiểu sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và những yếu tố liên quan trên địa bàn huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Phạm vi nghiên cứu là huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang
2.2 Nội dung nghiên cứu của đề tài
2.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên và thực trạng phát triển kinh tế - xã hội liên quan đến sử dụng đất nông nghiệp
- Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu thời tiết, tài nguyên thiên nhiên (tài nguyên đất, nước và rừng);
- Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội: chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tốc độ tăng trưởng, giá trị sản xuất của các ngành, dân số, lao động, việc làm và cơ sở
- Xác định các loại sử dụng gắn với kiểu sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện
và lựa chọn các loại sử dụng đất phục vụ đề xuất sử dụng
+ Hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp được xác định với từng loại
sử dụng đất gắn với kiểu sử dụng đất sản xuất nông nghiệp ở từng tiểu vùng dựa trên 3 tiêu chí gồm : hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường Các chỉ tiêu sử dụng cho đánh giá trình bày trong mục phương pháp nghiên cứu + Đánh giá chung về hiệu quả của các loại sử dụng đất sản xuất nông nghiệp gắn với từng kiểu SDĐ sản xuất nông nghiệp Theo đó lựa chọn các LUT
Trang 29và các kiểu SDĐ phục vụ đề xuất phát triển
2.2.3 Định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững
- Định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững
- Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp
Phương pháp này được áp dụng trong thu thập các thông tin bao gồm cả
số liệu, bản đồ, báo cáo kết quả nghiên cứu, báo cáo tổng kết những vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài luận văn tại các Phòng, Ban trong huyện như Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng nông nghiệp và phát triển Nông thôn, phòng thống kê huyện và tại các xã đã được lựa chọn làm điểm nghiên cứu
2.3.2 Điều tra số liệu sơ cấp
2.3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Do có sự phân hoá lớn về địa hình, địa mạo trên địa bàn nghiên cứu, kéo theo sự phân hoá về điều kiện sinh thái Do vậy nghiên cứu đã phân chia lãnh thổ của huyện thành 2 tiểu vùng, tiêu chí để phân chia 2 tiểu vùng là địa hình, địa mạo Cụ thể như sau:
Tiểu vùng 1 (gò đồi và đồng bằng): Có độ cao trung bình < 300m, đây là vùng gò đồi xen giữa những dải đồng bằng khá rộng, mầu mỡ chạy dọc theo lưu vực của sông Lô gồm các xã: Đức Ninh, Thái Hòa, Hùng Đức, Thành Long, Bình
Xa, Thái Sơn, Minh Dân và thị trấn Tân Yên Cây trồng chủ yếu ở tiểu vùng này
là cây trồng hàng năm phân bố ở đồng bằng, trên đất gò đồi chủ yếu là chè và mía Tại tiểu vùng này, nghiên cứu đã chọn 2 xã là Hùng Đức và Thành Long để điều tra
Tiểu Vùng 2 (đồi núi thấp): Có độ cao từ lớn hơn 300 m gồm các dãy núi kéo dài liên tiếp nhau, xen giữa các dãy núi có các thung lũng nhỏ hẹp dạng lòng
Trang 30máng gồm các xã: Yên Phú, Yên Lâm, Yên Thuận, Bạch Xa, Minh Khương, Phù Lưu, Minh Hương, Tân Thành, Nhân Mục, Bằng Cốc Cây trồng chủ đạo ở tiểu vùng này là cây ăn quả, các loại cây lâu năm và có cả cây hang năm gieo trồng dưới các thung lũng Để thực hiện đề tài đã chọn 02 xã đại diện để nghiên cứu
là Yên Phú và Yên Lâm
2.3.2.2 Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp
Phương pháp này được áp dụng trong điều tra hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của của các loại hình sử dụng đất và các kiểu sử dụng đất trên địa bàn của từng xã đã chọn nghiên cứu Những hộ được chọn là những hộ sản xuất nông nghiệp, có canh tác các loại hình sử dụng đất đai diện cho xã chọn nghiên cứu của từng tiểu vùng Theo đó lập danh sách số hộ đạt tiêu chí lựa chọn và lấy ngẫu nhiên mỗi xã 30 phiếu theo cách bốc thăm Tổng số hộ điều tra 120 hộ, mỗi tiểu vùng 60 hộ Các tiêu chí điều tra bao gồm: thông tin chủ hộ, năng xuất, chi phí, diện tích, năng suất…
2.3.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả loại sử dụng đất
- Đánh giá hiệu quả kinh tế :
Để tính hiệu quả kinh tế sử dụng đất trên 1 ha đất của các loại hình sử dụng đất (LUT), sử dụng hệ thống các chỉ tiêu:
- Giá trị sản xuất (GTSX) là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất, dịch vụ được tạo ra trong một thời kỳ nhất định
- Chi phí trung gian (CPTG) là toàn bộ chi phí vật chất được sử dụng trong quá trình sản xuất
CPTG = VC + DVP + LV
Trong đó: CPTG: Chi phí vật chất và chi phí trung gian (không tính lao động gia đình);
VC: Chi phí vật chất (giống, phân bón, thuốc trừ sâu);
DVP: Dịch vụ phí (làm đất, thủy lợi, bảo vệ thực vật, vận tải, khuyến nông);
LV: Lãi vay ngân hàng, thuê lao động ngoài hoặc các nguồn khác
- Thu nhập hỗn hợp (TNHH) là hiệu số giữa GTSX và CPTG, là giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó
Trang 31TNHH = GTSX – CPTG
- Hiệu quả đồng vốn: HQĐV = TNHH/CPTG
- Giá trị ngày công: GTNC = TNHH /CLĐ
Hiệu quả kinh tế của một loại sử dụng đất hay kiểu sử dụng đất được xác định dựa trên 3 chỉ tiêu gồm: GTSX và thu nhập hỗn hợp (TNHH) và Hiệu quả đồng vốn
- Đánh giá hiệu quả xã hội:
Hiệu quả xã hội thông qua 2 chỉ tiêu gồm: Mức độ thu hút lao động (công/ha); giá trị ngày công
- Đánh giá hiệu quả môi trường:
Xác định cơ sở xác định 3 chỉ tiêu là mức độ phù hợp của kiểu sử dụng đất với điều kiện đất đai dựa trên ý kiến người dân và tổng kết các kết quả nghiên cứu đã có; mức độ sử dụng phân bón và mức độ sử dụng hoá chất, loại hoá chất
so với liều lượng phân bón, liều lượng thuốc BVTV và loại thuốc theo Tiêu chuẩn ngành
2.3.4.Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
Trên cơ sở số liệu, tài liệu thu thập được, nghiên cứu tiến hành tổng hợp
và đánh giá các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp bằng phần mềm Excel, kết quả được trình bày bằng các bảng, biểu đồ
Trang 32Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Hàm Yên có liên quan đến sử dụng đất
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 vị trí địa lý
Hàm Yên là huyện miền núi nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Tuyên Quang
có tổng diện tích tự nhiên là 90.054,60 ha, bao gồm 18 đơn vị hành chính (01 thị trấn và 17 xã) Tân Yên là trung tâm hành chính của huyện, cách thành phố Tuyên Quang 42 km (theo Quốc lộ 2), Hàm Yên nằm trong khoảng tọa độ địa lý:
Từ 210 51' đến 22 023' Vĩ độ Bắc
Từ 104 051' đến 1050 09' Kinh độ Đông
Ranh giới hành chính của huyện được xác định như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Bắc Quang - tỉnh Hà Giang
- Phía Nam giáp huyện Yên Sơn
- Phía Đông giáp huyện Chiêm Hóa
- Phía Tây giáp huyện Yên Bình và huyện Lục Yên - tỉnh Yên Bái
Trên địa bàn huyện có Quốc lộ 2 đi qua (tuyến Quốc lộ có vị trí chiến lược quan trọng của tỉnh Tuyên Quang nói riêng và vùng Trung du miền núi phía Bắc nói chung) với chiều dài 50,2 km theo hướng Bắc Nam, được coi là trục giao thông huyết mạch trong phát triển kinh tế - xã hội của huyện hiện nay và trong thời gian tới
3.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Huyện Hàm Yên có địa hình, địa mạo phức tạp, hầu hết diện tích đất tự nhiên là đồi núi thấp Độ cao trung bình 500 - 600 m, cao nhất là núi Cham Chu (xã Phù Lưu) có độ cao 1.591 m, thấp nhất ở khu vực phía Nam có độ cao 300 m
so với mực nước biển Nhìn tổng thể, địa hình của huyện có hướng cao dần từ Tây Nam sang Đông Bắc được chia làm 2 tiểu vùng chính:
Trang 33- Tiểu vùng gò đồi: Tập trung chủ yếu ở phía Nam huyện và khu vực ven
sông Lô gồm các xã: Thái Hoà, Đức Ninh, Hùng Đức, Thành Long, Bình Xa, Thái Sơn, Minh Dân và thị trấn Tân Yên Đây là khu vực có độ cao trung bình nhỏ hơn 300 m, xen giữa những núi thấp là những dải đồng bằng khá rộng, màu
mỡ chạy dọc theo lưu vực của sông Lô Đây là vùng sản xuất lương thực trọng điểm của huyện
- Tiể vùng đồi núi thấp: phân bố ở khu vực phía Bắc và phía Tây huyện,
bao gồm các xã còn lại có địa hình khá phức tạp gồm các dãy núi kéo dài liên tiếp nhau, có độ cao từ >300 đến trên 1.000 m Hầu hết các dãy núi của vùng được hình thành trên các khối đá mác ma, biến chất, trầm tích, có đỉnh nhọn, độ dốc hai bên sườn núi lớn, bị chia cắt mạnh; xen kẽ giữa các dãy núi chạy dọc theo các sông suối lớn có các thung lũng nhỏ hẹp dạng lòng máng nên thực vật phát triển rất đa dạng và phong phú
Trang 34khoảng 86% lượng mưa của cả năm Mùa khô lượng mưa chỉ chiếm 14% lượng mưa của cả năm
c Nắng: Tổng số giờ nắng trung bình hàng năm khoảng 1.500 giờ Các
tháng mùa Đông có số giờ nắng thấp, khoảng 40 - 60 giờ/tháng Các tháng mùa
Hè có số giờ nắng cao, khoảng từ 140 - 160 giờ
d Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trung bình hàng năm từ 80 - 82%
Biến động về độ ẩm không khí không lớn giữa các tháng trong năm (từ 76 - 82%)
đ Gió: Có 2 hướng gió chính:
- Mùa Đông là hướng gió Đông Bắc hoặc Bắc
- Mùa Hè là hướng Đông Nam hoặc Nam
Tốc độ của các hướng gió thấp, chỉ đạt 1 m/s
e Các hiện tượng khí hậu, thời tiết khác:
- Giông: Trung bình hàng năm trên địa bàn huyện có từ 55 - 60 ngày có giông Thời gian thường xảy ra từ tháng 4 đến tháng 8 Tốc độ gió trong cơn giông có thể đạt 25 - 28 m/s
- Mưa phùn: Hàng năm có khoảng từ 15 - 20 ngày có mưa phùn, thời gian
xuất hiện từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
- Sương mù: Hàng năm trung bình có khoảng 25 - 55 ngày, thường xảy ra
vào các tháng đầu mùa Đông
- Sương muối: Rất hiếm khi xảy ra (khoảng 2 năm mới có 1 ngày) Nếu có
thường xảy ra vào tháng 1 hoặc tháng 11
3.1.1.4 Thuỷ văn
Chế độ thuỷ văn của huyện chịu ảnh hưởng chính của chế độ thủy văn Sông Lô: Đây là sông lớn nhất trên địa bàn huyện Hàm Yên và tỉnh Tuyên Quang Sông Lô bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc) qua Hà Giang đến Tuyên Quang, chia huyện Hàm Yên thành 2 phần Chiều dài của sông là 470 km (diện tích lưu vực sông là 39.000 km2), trong đó đoạn qua địa bàn huyện dài khoảng 62
km Lưu lượng lớn nhất của sông đạt 11.700 m3/s, lưu lượng thấp nhất đạt 128
m3/s Đây là tuyến đường thuỷ quan trọng và duy nhất nối Tuyên Quang với Hà Giang, các tỉnh Trung du, miền núi và Đông Bắc Bộ
Trang 35Ngoài Sông Lô, trên địa bàn huyện Hàm Yên còn có các sông suối như: Suối Bình Xa, suối Là, suối Hễ, suối Sa, ngòi Thụt, ngòi Mục, ngòi Nắc tạo thành mạng lưới thủy văn chính
Đây là nguồn cung cấp nước phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt của người dân trong huyện và chứa đựng tiềm năng để phát triển thuỷ điện Xong do độ dốc lớn, nhiều thác ghềnh nên cũng thường gây ra nguy hiểm bất ngờ cho thuyền bè qua lại, gây lũ lụt, sạt lở đất vào mùa mưa cho những vùng có địa hình cao
3.1.1.5 Tài nguyên thiên nhiên
a Tài nguyên đất
Kết quả điều tra xây dựng bản đồ Thổ nhưỡng tỉnh Tuyên Quang năm
2012 của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp cho thấy, trên địa bàn huyện
có các loại đất chính sau:
- Đất phù sa ngòi suối: Phân bố chủ yếu ở các xã: Minh Hương, Tân
Thành, Đức Ninh, Hùng Đức Đất có thành phần cơ giới cát pha đến thịt nhẹ, độ dày tầng đất trên 120 cm Phần lớn loại đất này được sử dụng trồng 1 vụ lúa hoặc
2 vụ lúa, năng suất trung bình thấp
- Đất phù sa được bồi hàng năm: Phân bố ở các xã: Phù Lưu, Tân Thành
và Bình Xa (dọc theo sông Lô) Đất có thành phần cơ giới cát pha, độ dày tầng
đất trên 120 cm Đất này thường bị ngập vào mùa mưa lũ; mùa khô không được tưới nên hàng năm chỉ gieo trồng các cây màu ngắn ngày như ngô, lạc, đậu, đỗ năng suất đạt ở mức trung bình
- Đất phù sa không được bồi hàng năm: Phân bố trên nền địa hình cao ở
xã Thái Sơn và Đức Ninh Đất có thành phần cơ giới thịt nhẹ, độ dày tầng đất trên 120 cm Phần lớn trên đất này đã được trồng các loại cây ngắn ngày như lúa, hoa màu nhưng năng suất thấp
- Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng: Phân bố ở xã Nhân Mục Đất có
thành phần cát pha Do điều kiện tưới khó khăn nên loại đất này chỉ gieo trồng được 1 vụ lúa mùa
- Đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất: Phân bố ở tất cả các xã, thị trấn
trên địa bàn huyện Đất được hình thành trên đá mẹ philit, gơnai và phiến thạch
Trang 36mica Thành phần cơ giới của đất từ cát pha đến thịt trung bình, độ dày tầng đất
có ở cả 3 mức: Dưới 50 cm, từ 50 - 120 cm và trên 120 cm Loại đất này thích hợp với nhiều loại cây công nghiệp dài ngày (chè) và cây ăn quả, vùng đồi núi có
độ dốc trên 250 cần phải được bảo vệ rừng và trồng rừng là chính
- Đất vàng nhạt trên đá cát: Phân bố chủ yếu ở các xã: Thành Long, Bằng
Cốc, Bình Xa, Phù Lưu, Minh Khương và Bạch Xa Đất được hình thành từ đá
mẹ sa thạch, có độ dày tầng đất từ dưới 50 cm đến trên 120 cm, có thành phần cơ giới cát pha Trên loại đất này phần lớn còn rừng, nơi có độ dốc < 250 có thể khai thác trồng cây ăn quả hoặc cây công nghiệp lâu năm
- Đất vàng đỏ trên đá Granit: Phân bố chủ yếu ở các xã: Yên Lâm, Nhân
Mục, Thành Long và Thái Hoà Đất được hình thành trên đá mẹ Granit, thành phần cơ giới cát pha, độ dày tầng đất có ở cả 3 cấp: Dưới 50 cm, từ 50 - 120 cm
và trên 120 cm Đất có địa hình đồi dốc lớn, chia cắt xen kẽ với các đồi đá cát và phiến sét, khả năng khai thác sử dụng cho sản xuất nông nghiệp bị hạn chế
- Đất nâu vàng trên phù sa cổ: Phân bố chủ yếu ở các xã: Yên Phú, Thái
Sơn, Bình Xa và thị trấn Tân Yên Đất được hình thành trên phù sa cổ, có thành phần cơ giới thịt trung bình, độ dày tầng đất trên 120 cm Loại đất này thường được sử dụng trồng các loại cây như chè, cây ăn quả, mía nhưng do dễ bị mất nước nên đất chặt rắn
- Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ: Phân bố chủ yếu ở các xã: Phù Lưu,
Tân Thành, Thái Sơn và Yên Thuận Đất có thành phần cơ giới thịt trung bình,
độ dày tầng đất trên 120 cm Loại đất này thường được sử dụng trồng lúa và các cây trồng ngắn ngày khác, năng suất trung bình khá
b Tài nguyên nước
- Nguồn nước mặt: Nguồn nước mặt của huyện khá lớn với diện tích mặt
nước, sông suối chiếm 2,55% diện tích tự nhiên, trong đó chủ yếu là nguồn nước mặt từ sông Lô Ngoài các sông, suối hiện có trên địa bàn, lượng mưa hàng năm cũng khá cao (từ 1.600 - 1.800 mm) cùng với nhiều ao, hồ chứa nước đã tạo cho huyện nguồn nước mặt khá phong phú
Trang 37Tuy nhiên nguồn nước mặt phân bố không đồng đều giữa các tháng trong năm và chất lượng nước cũng thay đổi theo mùa Vào những tháng đầu mùa mưa, chất lượng nước mặt không ổn định, độ đục lớn và có nhiều chất hữu cơ do quá trình rửa trôi các chất trên bề mặt lưu vực Về mùa Đông trữ lượng nước mặt hạn chế vì vậy khả năng mở rộng diện tích gieo trồng vụ Đông như trồng rau, ngô, đậu tương gặp nhiều khó khăn
- Nguồn nước ngầm: Nguồn nước ngầm dồi dào, có ở khắp lãnh thổ huyện
với chất lượng tốt đủ tiêu chuẩn dùng cho sinh hoạt Mực nước ngầm không sâu
và tương đối ổn định, thuận lợi cho khai thác, kể cả khai thác đơn giản trong sinh hoạt của người dân
c Tài nguyên rừng
Diện tích đất rừng của huyện Hàm Yên tương đối lớn, theo số liệu thống
kê đất đai năm 2014 diện tích đất lâm nghiệp của huyện là 64.674,28 ha, chiếm 71,82% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Trong đó bao gồm:
- Đất rừng phòng hộ: Diện tích 11.556,98 ha, chiếm 12,83% tổng diện tích, được phân bổ trên địa bàn các xã
- Đất rừng sản xuất: Diện tích 46.947,39 ha, chiếm 52,13% tổng diện tích, được phân bổ trên địa bàn các xã
- Đất rừng đặc dụng: Diện tích 6.169,91 ha, chiếm 6,85% tổng diện tích,
là phần diện tích rừng đặc dụng trên địa bàn xã Yên Thuận và xã Phù Lưu
Rừng là nguồn tài nguyên, là thế mạnh của huyện, diện tích đất lâm nghiệp chiếm diện tích chủ yếu trong cơ cấu sử dụng đất toàn huyện Trong huyện có khu bảo tồn thiên nhiên rừng Cham Chu nằm ở xã Yên Thuận và xã Phù Lưu, đặc biệt là có khu du lịch sinh thái Cao Đường được ví như Đà Lạt của Tuyên Quang, hàng năm thu hút đông đảo du khách đến thăm quan Hệ động vật rừng mang tính đặc thù của vùng sinh thái núi đá Đông Bắc, tuy nhiên số lượng
đã bị suy giảm Các loại thú lớn như hổ, gấu không còn thấy xuất hiện, hiện nay,
tổ thành loài chủ yếu là các loại thú nhỏ như: Cầy hương, cầy bay, khỉ, hươu và một số ít lợn rừng
Trang 38Thảm thực vật và hệ động vật suy giảm mạnh, đòi hỏi phải có sự quan tâm chăm sóc, tu bổ rừng, biện pháp canh tác bền vững, hướng tới phát triển công nghiệp khai thác, chế biến lâm sản và du lịch sinh thái
d.Tài nguyên nhân văn
Trên địa bàn huyện Hàm Yên hiện có 13 dân tộc cùng chung sống, trong
đó phần lớn là dân tộc kinh (chiếm tới 45,02%) dân số toàn huyện, dân tộc Tày chiếm 22,56% dần tộc Dao chiếm 5,7 % dân tộc Hoa chiếm 22,99 %, dân tộc Cao Lan chiếm 5,7 % dân tộc Hoa chiếm 1,08 % dân tộc H’Mông chiếm 1,94% còn lại là dân tộc khác 0,80% Mỗi dân tộc đều có phong tục, tập quán sinh hoạt
và kinh nghiệp sản xuất riêng đã tạo nên đã tạo nên văn hóa đa dạng về bản sắc
Trải qua hàng nghìn năm trinh phục thiên nhiên, với đức tính cần cù và lòng dũng cảm, đã hun đúc lên sự sáng tạo trong lao động của người dân huyện Hàm Yên Các dân tộc huyện Hàm Yên đã sáng tạo, giữ gìn và làm giầu lên kho tàng văn hóa của mình với nhiều lễ hội như: Hội chọi Trâu, hội Cầu Đình (xã Bạch Xa), lễ hội H’Mông ở thôn cao đường xã Yên Thuận với nhiều trò chơi như ném còi, cà kheo, đánh đu…
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Toàn huyện có 69.096 lao động, chiếm 61,80% dân số, trong đó lao động nông nghiệp chiếm 47,70% tống số lao động của huyện, lao động công nghệ - xây dựng chiếm 27,50% lao động thương mại, du lịch và dịch vụ chiếm 24,80% tổng số lao động của huyện, điều đó cho thấy nguồn lao động trong huyện tương đối dồi dào Đây sẽ là một nguồn lực lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội của huyện Cơ cấu lao động của huyện Hàm Yên được thể hiện trong hình 3.1
Trang 39Hình 3.1: Cơ cấu lao động huyện Hàm Yên năm 2014
Chất lượng dân số đang ngày càng được cải thiện do cơ cấu dân số tương đối trẻ đó là kết quả công tác giáo dục đào tạo và chăm sóc sức khỏe Số học sinh đến trường ngày được nâng cao Mức sống dân cư ngày càng được cải thiện, tỷ lệ
hộ nghèo đã giảm xuống còn 20,06%, đó là điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện quy hoạch, phát triển kinh tế - xã hội của huyện đến năm 2020
3.1.2.2 Tình hình kinh tế
Huyện Hàm Yên là một huyện miền núi nên nền kinh tế huyện đặt trọng tâm phát triển vào nông lâm nghiệp, đồng thời cũng từng bước hình thành những nền tảng cho phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các ngành nghề thủ công truyền thống Những năm qua thực hiện đường lối đổi mới cơ chế quản lý Nhà nước, kinh tế tỉnh Tuyên Quang, huyện Hàm Yên nói riêng đã có bước phát triển rõ rệt, tất cả các ngành sản xuất, dịch vụ, xây dựng cơ sở hạ tầng, đều có bước phát triển đáng kể, đời sống được cải thiện Kinh tế phát triển ổn định tốc
độ tăng trưởng bình quân năm 2014 của huyện là 13,2%/ năm
Được sự quan tâm của tỉnh, dưới sự lãnh đạo của huyện ủy, UBND huyện
về phát triển kinh tế - xã hội, cơ cấu kinh tế của huyện bước đầu đã đã có sự chuyển dịch theo xu hướng tích cực, sử dụng ngày càng có hiệu quả tiềm năng sẵn có của địa phương, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp,
Trang 40dịch vụ và giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp Thu nhập bình quân đầu người
là 13,08 triệu đồng năm 2014 Cơ cấu kinh tế huyện Hàm Yên:
- Nông, lâm nghiệp, thủy sản: 36,96%
- Công nghiệp, xây dựng: 31,45%
- Dịch vụ thương mại: 31,59%
Hình 3.2: Cơ cấu kinh tế huyện Hàm Yên năm 2014
3.1.2.3 Thực trạng sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp
Hàm Yên là huyện miền núi nên sản xuất nông nghiệp luôn giữ vai trò quan trọng, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản có sự tăng trưởng rõ rệt qua các năm Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp năm 2012 đạt 489,77 tỷ đồng năm 2014 đạt 555,62 tỷ đồng Sản phẩm nông nghiệp ngày càng đa dạng phong phú đã chú trọng phát triển các vùng sản xuất chuyên canh chè, mía, cam và một số cây, con đặc sản khác, góp phần tăng sản lượng hàng hóa và thu nhập trên một đơn vị diện tích + Trồng trọt:
+ Trong giai đoạn năm 2012 - 2014 huyện đã chỉ đạo đẩy mạnh chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa nông nghiệp nông nghiệp nông thôn Diện tích lúa gieo trồng năm 2014 đạt 7.050,8 ha Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 13.527,2 tấn Bình quân lương thực đầu người đạt 481,0kg/người