2.3.3 Đánh giá hiện trạng quản lý và chất lượng môi trường tại các cụm 2.3.4 Đề xuất các giải pháp ngăn ngừa ô nhiễm môi trường tại các cụm 2.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu,
Trang 11.2.1 Hệ thống quản lý môi trường cấp trung ương 9
2.3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Bắc
2.3.2 Đánh giá tình hình hoạt động sản xuất tại các cụm công nghiệp trên
Trang 22.3.3 Đánh giá hiện trạng quản lý và chất lượng môi trường tại các cụm
2.3.4 Đề xuất các giải pháp ngăn ngừa ô nhiễm môi trường tại các cụm
2.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu, thông tin thứ cấp 21
2.4.5 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm 26
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Bắc Giang 29
3.1.3 Hiện trạng sử dụng đất Thành phố Bắc Giang 35 3.2 Đánh giá tình hình hoạt động sản xuất tại các CCN trên địa bàn Thành
3.3 Đánh giá hiện trạng công tác quản lý và chất lượng môi trường tại các
3.3.2 Hiện trạng chất lượng môi trường tại các CCN trên địa bàn thành
3.4 Đề xuất các giải pháp quản lý môi trường tại các cụm công nghiệp của
3.4.1 Xác định các điểm thuận lợi và nguồn lực cho ngăn ngừa ô nhiễm
môi trường tại các cụm công nghiệp trên địa bàn thành phố 66 3.4.2 Đề xuất quy hoạch sử dụng, bố trí đất công nghiệp 67
3.4.4 Cải thiện hệ thống quản lý môi trường tại các cụm công nghiệp 68
Trang 33.4.5 Giải pháp về nâng cao năng lực quản lý 74 3.4.6 Tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao ý thức và trách nhiệm bảo
Trang 4DANH MỤC BẢNG
1.1 Tổng lượng nước thải và thải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải từ
các khu công nghiệp của 4 vùng kinh tế trọng điểm 4 1.2 Thải lượng các chất ô nhiễm không khí từ các KCN của 4 vùng Kinh tế
2.2 Các chỉ tiêu quan trắc và phương pháp phân tích 26 3.1 Nhiệt độ không khí trung bình các tháng trong năm (0C) 30
3.3 Độ ẩm không khí trung bình các tháng trong năm (%) 30 3.4 Diện tích, dân số và đơn vị hành chính Thành phố Bắc Giang 32 3.5 Hiện trạng sử dụng đất thành phố Bắc Giang năm 2014 36 3.6 Ngành nghề sản xuất kinh doanh và đặc trưng chất thải của các doanh
3.7 Ngành nghề sản xuất kinh doanh và đặc trưng chất thải của các doanh
3.8 Ngành nghề sản xuất kinh doanh và đặc trưng chất thải của các doanh
3.9 Ngành nghề sản xuất kinh doanh và đặc trưng chất thải của các doanh
3.10 Ngành nghề sản xuất kinh doanh và đặc trưng chất thải của các doanh
3.11 Ngành nghề sản xuất kinh doanh và đặc trưng chất thải của các doanh
nghiệp trong cụm công nghiệp Tân Mỹ - Song Khê 47 3.12 Tổng hợp hiện trạng thực hiện thủ tục môi trường tại các cụm công
Trang 53.13 Tổng hợp hiện trạng thực hiện thủ tục môi trường của các doanh nghiệp
tại các cụm công nghiệp trên địa bàn TP Bắc Giang 51 3.14 Kết quả phân tích khí thải tại các cơ sở sản xuất công nghiệp 53 3.15 Kết quả phân tích chất lượng nước thải tại các cơ sở sản xuất 56 3.16 Tổng hợp hiện trạng thực hiện thủ tục đăng ký chủ nguồn thải chất thải
nguy hại của các doanh nghiệp tại các cụm công nghiệp trên địa bàn
3.17 Chất lượng không khí tại một số CCN tại Thành phố Bắc Giang 62
Trang 6DANH MỤC HÌNH
3.1 Tình hình thực hiện các thủ tục môi trường trong các CCN 52
Trang 7
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCL : Bãi chôn lấp
BTNMT : Bộ tài nguyên môi trường
BVM : Bảo vệ môi trường
BYT : Bộ y tế
CCN : Cụm công nghiệp
CN : Công nghiệp
ĐTM : Đánh giá tác động môi trường
CK : Cam kết bảo vệ môi trường
CNH - HDH : Công ngiệp hóa – hiện đại hóa
QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
QLMT : Quản lý môi trường
QLTN : Quản lý tài nguyên
QTMT : Quan trắc môi trường
TCCP : Tiêu chuẩn cho phép
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Phát triển kinh tế nói chung và phát triển công nghiệp nói riêng gắn liền với bảo vệ môi trường theo hướng phát triển bền vững là lĩnh vực được nghiên cứu một cách có hệ thống và được áp dụng rộng rãi tại các quốc gia phát triển trên thế giới Kinh nghiệm từ các nước công nghiệp cho thấy quá trình xây dựng chiến lược phát triển và quy hoạch phát triển kinh tế khu vực luôn phải kết hợp chặt chẽ với quy hoạch môi trường Ngăn ngừa ô nhiễm công nghiệp luôn là mối quan tâm hàng đầu
và trở thành vấn đề có tính pháp lý trong chiến lược bảo vệ môi trường hoặc trong các bộ luật bảo vệ môi trường của nhiều quốc gia
Ở Việt Nam nói chung và Thành phố Bắc Giang nói riêng, quá trình công nghiệp hóa đang diễn ra một cách mạnh mẽ trong một vài thập niên gần đây Tuy nhiên việc quy hoạch và thực hiện quy hoạch phát triển công nghiệp chỉ mới chú trọng đến khía cạnh tăng trưởng kinh tế và còn xem nhẹ vấn đề ô nhiễm công nghiệp Hậu quả của ô nhiễm công nghiệp đã xuất hiện ngày càng rõ rệt, gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường và sức khỏe của người dân, tác động trực tiếp đến
sự tăng trưởng kinh tế do chi phí thời gian, tiền của và công sức để giải quyết xử lý những sự cố môi trường do ô nhiễm công nghiệp gây ra Những năm gần đây, rút kinh nghiệm từ nhiều bài học trước và nhận thấy tầm quan trọng của công tác quy hoạch môi trường, địa phương đã đầu tư xây dựng quy hoạch môi trường, lồng ghép với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương và bước đầu mang lại kết quả khả quan Công tác dự báo và ngăn ngừa ô nhiễm ngày càng được các nhà quản
lý quan tâm nhiều hơn, hứa hẹn một lộ trình “phát triển bền vững” trong tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa của nước ta
Trên thực tết, tại các Cụm công nghiệp trên địa bàn thành phố có nhiều dự án được triển khai phù hợp với quy hoạch phát triển Nhưng khi các nhà quản lý môi trường tiến hành thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường mới thấy rằng các dự
án này hoàn toàn không có lợi về mặt môi trường, thậm chí còn gây ra nhiều tác động
Trang 9xấu Mâu thuẫn giữa quy hoạch phát triển với các vấn đề môi trường của địa phương được thể hiện rõ Hay nói cách khác, trong bản quy hoạch phát triển dường như chưa
có sự cân nhắc tới các yếu tố môi trường Điều đó cũng cho thấy chúng ta chỉ có một cái nhìn cục bộ về tác động tới môi trường của một bản quy hoạch phát triển, chưa giải quyết triệt để mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển trong tương lai
Trên cơ sở những phân tích trên, đề tài “Đánh giá hiện trạng quản lý môi trường và đề xuất biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm tại các cụm công nghiệp của thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang” được chọn để thực hiện
3 Yêu cầu của đề tài
- Chỉ rõ các đặc điểm và tình hình sản xuất của các cụm công nghiệp trên địa bàn thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- Chỉ rõ hiện trạng công tác quản lý và chất lượng môi trường tại các cụm công nghiệp
- Đề xuất giải pháp quản lý môi trường và kiểm soát ô nhiễm
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Thực trạng môi trường khu, cụm công nghiệp
Tính đến tháng 9 năm 2013, theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cả nước đã có 283 khu công nghiệp (bao gồm cả khu chế xuất) được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 80.000 ha trên phạm vi 58 tỉnh, thành phố, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt gần 52.000 ha, chiếm khoảng 65% tổng diện tích đất tự nhiên Kế hoạch 5 năm 1991-1995 là giai đoạn đầu và thí điểm phát triển khu công nghiệp, số lượng các khu công nghiệp được thành lập trong giai đoạn này là 12 khu công nghiệp với tổng diện tích tự nhiên 2.360 ha Sau giai đoạn này, việc thành lập các khu công nghiệp được đẩy nhanh Bên cạnh đó, còn có khoảng 878 Cụm công nhiệp do địa phương thành lập, trong
đó 614 Cụm công nghiệp đang hoạt động Cùng với quá trình phát triển kinh tế -
xã hội, trong thời gian qua, việc phát triển các khu công nghiệp cũng diễn ra mạnh mẽ
Tuy nhiên, công tác quy hoạch phát triển các khu công nghiệp hiện tại không tuân theo một quy hoạch thống nhất, một số nơi thiếu cơ sở khoa học chưa được giải quyết đồng bộ với việc đầu tư cơ sở hạ tầng về môi trường Nhiều khu, cụm công nghiệp vừa thu hút đầu tư, vừa xây dựng cơ sở hạ tầng, không tuân thủ thiết kế dự án đầu tư, dẫn đến không xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung, việc đầu tư cho hệ thống thoát nước còn manh mún, chắp vá, không hiệu quả Hầu hết các địa phương đều có khu công nghiệp riêng với các chức năng giống nhau, tạo ra sự cạnh tranh không cần thiết Nhiều khu công nghiệp đã giảm mức đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp bao gồm cả hệ thống thu gom
và xử lý nước thải tập trung Việc lựa chọn địa điểm cho khu công nghiệp thường không tuân thủ theo những quy định liên quan Quá trình thiết kế và thực hiện các quy hoạch phát triển công nghiệp có nhiều đơn vị cùng tham gia, nhưng còn thiếu
sự điều phối chung và chịu trách nhiệm đến cuối cùng
Trang 11Trong giai đoạn phát triển hiện nay, sự phát triển của khu công nghiệp đã tạo sức ép không nhỏ đối với môi trường, đặc biệt gây ra ô nhiễm môi trường nước, môi trường không khí, ô nhiễm môi trường từ chất thải rắn
Ô nhiễm môi trường nước do nước thải Khu công nghiệp: Theo số liệu
thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tỷ lệ các khu công nghiệp có trạm xử
lý nước thải tập trung chỉ chiếm khoảng 66%, nhiều khu công nghiệp đã đi vào hoạt động mà hoàn toàn chưa triển khai xây dựng hạng mục này Nhiều khu công nghiệp đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng tỷ lệ đấu nối của các cơ sở còn thấp Nhiều nơi doanh nghiệp xây dựng hệ thống xử lý nước thải cục bộ nhưng không vận hành, vận hành không hiệu quả hoặc xuống cấp Ước tính, có khoảng 70% trong tổng số hơn 1 triệu m3 nước thải/ngày đêm phát sinh từ các khu công nghiệp xả thẳng ra nguồn tiếp nhận không qua xử lý Thực trạng trên dẫn đến một khối lượng lớn nước thải của các khu công nghiệp khi xả thải ra môi trường đều có các thông số ô nhiễm cao hơn nhiều lần QCVN, cụ thể: hàm lượng cặn lơ lửng trong nước thải khu công nghiệp thường xuyên vượt ngưỡng cho phép, hàm lượng các chất dinh dưỡng trong nước thải khu công nghiệp thường không đạt yêu cầu QCVN, đặc biệt hàm lượng coliform trong nước thải khu công nghiệp rất cao, có nơi vượt QCVN từ 4.500 đến 210.000 lần
Bảng 1.1 Tổng lượng nước thải và thải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải
từ các khu công nghiệp của 4 vùng kinh tế trọng điểm
Lượng nước thải (m 3 /ngày)
Tổng lượng các chất ô nhiễm (kg/ngày)
Trang 12Tổng lượng nước thải từ các khu nghiệp của 4 vùng kinh tế trọng điểm nói trên là 640.963 m3/ngày, trong đó, các chất ô nhiễm trong nước thải là: các chất lơ lửng (SS) - 141.012 kg/ngày, chất hữu cơ (BOD) - 87.812kg/ngày, chất hữu cơ (COD) - 204.467 kg/ngày, chất dinh dưỡng (tổng Nitơ) - 37.176 kg/ngày, chất dinh dưỡng (tổng Phốt pho) - 51.277 kg/ngày
Bảng trên cho thấy, lượng nước thải từ các khu công nghiệp rất lớn, tập trung chủ yếu ở các khu công nghiệp thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (4113,400m3/ngày, gần gấp đôi lượng nước thải của các khu công nghiệp thuộc 3 vùng kinh tế trọng điểm còn lại, 227.563 m3/ngày) Hơn nữa, tổng lượng các chất ô nhiễm trong nước thải ở các khu công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm phía Nam cũng là lớn nhất Chất lượng nước thải ở các khu công nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào việc nước thải có được xử lý không và xử lý như thế nào Hiện nay, các khu công nghiệp đã đi vào hoạt động có trạm xử lý nước thải chỉ chiếm 43%, còn hơn 57% chưa có cơ sở xử lý Nước thải đã qua xử lý chỉ đạt khoảng 30%, còn 70% của hơn 1 triệu m3 nước thải/ngày từ các khu công nghiệp được xả thẳng ra các nguồn tiếp nhận (không qua xử lý), chỉ có 4,26% nước thải được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường, còn hơn 25% xử lý qua loa không bảo đảm tiêu chuẩn môi trường Tình hình trên dẫn đến ô nhiễm nặng không chỉ môi trường nước mặt, mà cả môi trường nước ngầm Kết quả phân tích mẫu nước thải từ các khu công nghiệp cho thấy: nước thải có hàm lượng các chất lơ lửng (SS) cao hơn QCVN từ 2 đến hàng chục lần, thậm chí có nơi cao hơn đến hàng trăm lần Giá trị các thông số BOD, COD, tổng N và tổng P cũng cao hơn nhiều lần QCVN
Ô nhiễm môi trường không khí: Không khí ở các khu công nghiệp, đặc biệt
là các khu công nghiệp cũ, đang bị ô nhiễm, do các nhà máy trong khu công nghiệp sử dụng công nghệ sản xuất lạc hậu hoặc chưa đầu tư hệ thống xử lý khí thải trước khi thải ra môi trường Ô nhiễm không khí tại khu công nghiệp chủ yếu bởi bụi, một số khu công nghiệp có biểu hiện ô nhiễm CO, SO2 và tiếng ồn Các khu công nghiệp mới với các cơ sở có đầu tư công nghệ hiện đại và hệ thống quản lý tốt thường có hệ thống xử lý khí thải trước khi xả ra môi trường nên thường ít gặp các vấn đề về ô nhiễm không khí hơn
Trang 13Tải lượng các chất ô nhiễm không khí từ các khu công nghiệp thuộc 4 vùng kinh tế trọng điểm là: 91.659kg bụi/ngày, 172.034kg NO2/ngày, 26.536kg CO/ngày
và 1.644.711kg SO2/ngày
Bảng 1.2 Thải lượng các chất ô nhiễm không khí từ các KCN
của 4 vùng Kinh tế trọng điểm
1 Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ 22.173 41.617 6.419 397.872
2 Vùng kinh tế trọng điểm miền trung 8.409 15.784 2.435 150.900
3 Vùng kinh tế trọng điểm phía nam 59.116 110.957 17.115 1.060.785
4 Vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL 1.959 3.677 567 35.154
(Nguồn: Báo cáo Môi trường quốc gia năm 2009)
Chất lượng môi trường không khí, nhất là ở các khu công nghiệp cũ, công nghệ sản xuất lạc hậu và các khu công nghiệp chưa có hệ thống xử lý khí thải đã và đang suy giảm nghiêm trọng Hàm lượng bụi lơ lửng trong không khí ở các khu công nghiệp đều vượt QCVN Đặc biệt là ở khu công nghiệp Hòa Khánh (Đà Nẵng): nồng độ khí CO vượt từ 67 đến 100 lần QCVN; nồng độ khí NO2 vượt từ 2 đến 6 lần QCVN và nồng độ chì (Pb) vượt từ 40 đến 65,5 lần QCVN
Theo đánh giá của Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc, ở hầu hết các khu công nghiệp và đô thị Việt Nam, môi trường không khí đều bị ô nhiễm, nồng
độ bụi vượt trên chuẩn cho phép từ 1, 3 đến 3 lần; thậm chí ở một số khu công nghiệp và đô thị nồng độ bụi vượt tiêu chuẩn cho phép từ 10 lần đến 20 lần Trong
đó, các cơ sở sản xuất xi măng, cơ khí, luyện kim, hóa chất, phân bón, nhiệt điện, vật liệu xây dựng… có mức độ gây ô nhiễm nặng nề Kết quả điều tra của Viện Nghiên Cứu quản lý kinh tế trung ương năm 2008 trên 275 doanh nghiệp (các ngành vật liệu xây dựng, hóa chất, luyện kim, cơ khí) cho thấy: 23% cơ sở sản xuất này có nồng độ khí thải độc hại vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 đến 50 lần Như vậy, mức độ ô nhiễm không khí ở hầu hết các khu công nghiệp trong nước (nhất là nồng độ bụi, khí NO2, CO và SO2) đều vượt mức tiêu chuẩn cho phép; thậm chí một
Trang 14số khu công nghiệp vượt rất nhiều lần Điều này gây hậu quả nghiêm trọng tới sức khỏe của người lao động tại các khu công nghiệp và người dân sống trong vùng; đồng thời làm suy giảm môi trường
Ô nhiễm môi trường do chất thải rắn của khu công nghiệp: Hoạt động
sản xuất tại các khu công nghiệp đã phát sinh một lượng không nhỏ chất thải rắn và chất thải nguy hại Thành phần, khối lượng chất thải rắn phát sinh tại mỗi khu công nghiệp tùy thuộc vào loại hình công nghiệp đầu tư, quy mô đầu
tư và công suất của của các cơ sở công nghiệp trong khu công nghiệp Theo số liệu tính toán, chất thải rắn phát sinh từ các khu công nghiệp phía Nam chiếm
tỷ trọng lớn nhất so với các vùng khác trong toàn quốc, lên tới gần 3.000 tấn/ngày Lượng chất thải nguy hại phát sinh ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nhiều gấp 3 lần lượng chất thải nguy hại phát sinh ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và nhiều gấp khoảng 20 lần lượng chất thải nguy hại phát sinh ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
Do hầu hết các khu công nghiệp chưa có điểm tập trung thu gom chất thải rắn nên các doanh nghiệp trong khu công nghiệp thường ký hợp đồng với các Công ty môi trường đô thị tại địa phương hoặc một số doanh nghiệp có giấy phép hành nghề để thu gom và xử lý Việc đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại cũng do các doanh nghiệp chủ động đăng ký với các Sở Tài nguyên và Môi trường
Tổng lượng chất thải rắn trung bình của cả nước đã tăng từ 25 nghìn tấn/ngày (năm 1999) lên tới 30 nghìn tấn/ngày (năm 2005) Trong những năm gần đây, lượng chất thải rắn công nghiệp tăng nhanh (từ 1 triệu tấn/năm vào năm
2005 lên gần 2.500.000 tấn/năm vào năm 2008) Trong đó, lượng chất thải rắn độc hại cũng tăng khá cao (từ 200.000 tấn/năm vào năm 2005 tăng lên 500.000 tấn/năm 2008)
Lượng chất thải rắn từ hoạt động công nghiệp tăng nhanh phần lớn tập trung
ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, đặc biệt là ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Chất thải rắn từ các khu công nghiệp ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chiếm tỉ trọng lớn nhất so với các vùng khác (3.000 tấn/ngày) Đồng thời, lượng chất thải rắn
Trang 15độc hại ở đây cũng chiếm tỉ trọng lớn nhất: nhiều gấp 3 lần lượng chất thải rắn độc hại ở vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và gấp 20 lần lượng chất thải rắn độc hại ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
Bảng 1.3 Khối lượng chất thải rắn từ các KCN phía Nam
Khối lượng chất thải rắn công
nghiệp (tấn) Không nguy hại Nguy hại
(Nguồn: Báo cáo Môi trường quốc gia năm 2009)
Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam có thể phải chịu tổn thất
do ô nhiễm môi trường lên tới 5,5% GDP hàng năm Như vậy, nền kinh tế mất khoảng 3,9 tỉ USD trong 71 tỉ USD của GDP trong năm 2007 và khoảng 4,2 tỉ USD trong ước tính 76 tỉ USD của GDP trong năm 2008 Cũng theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, mỗi năm ở Việt Nam thiệt hại 780 triệu USD trong các lĩnh
vực sức khỏe cộng đồng vì ô nhiễm môi trường (Nguồn: Bộ Công Thương - Ô
nhiễm môi trường ở Việt Nam: Tổn thất chiếm tới 5,5% GDP -Trang thông tin điện tử Thương mại & Môi trường, 2012)
Theo Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ cùng với đà phát triển của các khu công nghiệp, tổng lượng nước thải phát sinh từ các khu công nghiệp sẽ tăng tương ứng Nếu công tác xử lý nước thải của các khu công nghiệp trong nước chú trọng thì các chất ô nhiễm được thải ra môi trường sẽ rất cao
Trang 161.2 Công tác quản lý môi trường ở Việt Nam
Hệ thống quản lý Nhà nước về môi trường được tổ chức theo chiều dọc và chiều ngang Theo chiều dọc, được tổ chức theo 3 cấp: (1) cấp Trung ương (Bộ TN&MT); (2) cấp tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương (các Sở TN&MT); và (3) cấp quận/huyện (Phòng TN&MT) Theo chiều ngang, tại cấp trung ương hệ thống quản lý được thực hiện thông qua các đơn vị quản lý chuyên trách và kiêm nhiệm
về môi trường tại các bộ/ngành
Năm 2008, tại Nghị định 25 /2008/NĐ-CP đã hợp nhất các đơn vị chuyên trách về môi trường ở cấp Trung ương thành Tổng Cục Môi trường
Theo ngành dọc, tại các địa phương Tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương cũng đang thành lập Chi cục Bảo vệ Môi trường
Theo ngành/lĩnh vực, Quyết định 81/2007/NĐ-CP đã cho phép 6 Bộ: Công nghiệp, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Y tế, Xây dựng, Giao thông Vận tải, Thuỷ Sản thành lập vụ môi trường Tuy nhiên, đa phần các Bộ thành lập Cục Môi trường thay vì thành lập vụ Một số Bộ cùng lúc duy trì Vụ Khoa học, công nghệ và Môi trường và Cục Môi trường chuyên ngành
1.2.1 Hệ thống quản lý môi trường cấp trung ương
- Bộ TN&MT, tổng cục môi trường
Bộ TN&MT được thành lập năm 2002 Theo Nghị định số 91/2002/NĐ-CP
ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ TN&MT: Bộ TN&MT là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thuỷ văn, đo đạc và bản đồ trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước trong lĩnh vực tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thuỷ văn, đo đạc và bản đồ theo quy định của pháp luật
Theo Quyết định số 132/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định Tổng cục Môi trường thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý nhà nước về môi trường và thực hiện các dịch vụ
Trang 17công theo quy định của pháp luật Tổng cục Môi trường được thành lập dựa trên 3 đầu mối: Vụ Môi trường, Vụ Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường, Cục Bảo
vệ môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Tổng cục Môi trường được giao 18 nhiệm vụ và quyền hạn, trong đó có những nhiệm vụ chuyên môn đặc thù như: Kiểm soát ô nhiễm; quản lý chất thải và cải thiện môi trường; bảo tồn đa dạng sinh học; bảo vệ môi trường lưu vực sông, vùng ven biển; thẩm định và đánh giá tác động môi trường; quan trắc và thông tin môi trường
- Các đơn vị quản lý môi trường tại các bộ, ngành và tổ chức khác
Đến nay, tại các Bộ, ngành cũng đã hình thành tổ chức cấp vụ/cục hoặc bộ phận chịu trách nhiệm về quản lý môi trường thuộc ngành, lĩnh vực quản lý Hầu hết công tác quản lý môi trường ở các Bộ do Vụ Khoa học và Công nghệ đảm nhận, như: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Giao thông - Vận tải, Bộ Xây dựng, Bộ Thuỷ sản, Bộ Bưu chính - Viễn thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, v.v Một số Bộ khác, đơn vị này có tên gọi khác do tính chất quản lý ngành, như
Vụ Quản lý Công nghệ và Chất lượng sản phẩm (Bộ Công nghiệp), Vụ Khoa học, Giáo dục, TN&MT (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Vụ Khoa học Xã hội – Tự nhiên (Bộ Khoa học và Công nghệ) Riêng Bộ Quốc phòng có Cục Khoa học, Công nghệ và Môi trường thực hiện chức năng quản lý môi trường trong lĩnh vực quốc phòng Như vậy, có thể thấy rõ ở các Bộ chuyên ngành hiện nay tên cơ quan, đơn vị thực hiện chức năng quản lý môi trường đều không có tên gắn với môi trường Ban quản lý các khu công nghiệp/Khu chế xuất, cơ sở sản xuất, kinh doanh lớn cũng đã thành lập phòng, ban, bộ phận hoặc cử các cán bộ chuyên trách quản lý môi trường
Qua thực tế cho thấy, công tác phối hợp quản lý môi trường giữa Bộ TN&MT với các Bộ, ngành hiện nay còn thiếu sự gắn kết, phối hợp trong quản lý Kể từ khi Bộ TN&MT được thành lập cho đến nay, các Bộ, ngành hầu như chưa tiến hành rà soát, xem xét chức năng về quản lý môi trường của Bộ, ngành mình Vì thế mà các cơ quan, đơn vị thực hiện chức năng quản lý môi trường ở các Bộ chuyên ngành đều không có tên gắn với Hệ thống quản lý môi trường cấp địa phương
Trang 181.2.2 Cấp tỉnh
Sở TN&MT ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Các Sở TN&MT thuộc UBND tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương, được thành lập trên cơ sở hợp nhất tổ chức của Sở Địa chính (hoặc Sở Địa chính - Nhà đất) và các tổ chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Công nghiệp, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường
Thực hiện sắp xếp lại cơ cấu tổ chức theo Nghị định số 81/2007/NĐ-CP, các Tỉnh/Thành phố đã triển khai lập Chi cục BVMT Đến nay, các tỉnh/thành đã có Chi cục BVMT
Nhiệm vụ và quyền hạn trong lĩnh vực quản lý môi trường của Sở như sau:
− Trình UBND cấp tỉnh cấp, gia hạn, thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ trên địa bàn theo phân cấp
− Tổ chức lập báo cáo hiện trạng môi trường, xây dựng và tăng cường tiềm lực trạm quan trắc và phân tích môi trường, theo dõi diễn biến chất lượng môi trường tại địa phương theo hướng dẫn của Bộ TN&MT
− Thẩm định báo cáo ĐTMcủa các dự án cơ sở theo phân cấp
− Tổ chức thu phí BVMT theo quy định của pháp luật
1.2.3 Cấp huyện
Ở cấp quận/huyện có phòng TN&MT Phòng TN&MT là cơ quan chuyên môn, được thành lập ở tất cả các quận/huyện, là cơ quan tham mưu giúp UBND cấp quận/huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: tài nguyên đất; tài nguyên
nước; tài nguyên khoáng sản; môi trường
1.2.4 Cấp xã
Hiện nay, trong công tác quản lý TN&MT ở cấp xã/phường (cấp cơ sở) mới
chỉ có cán bộ địa chính xã Chính phủ đã ban hành Nghị định số 114/2003/NĐ-CP
ngày 10/10/2003 về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn, trong đó quy định cán
bộ địa chính - xây dựng là công chức cấp xã Họ là những người được giao nhiệm
Trang 19vụ giúp UBND xã/phường thực hiện quản lý nhà nước về BVMT, song chưa nêu rõ nội dung, nhiệm vụ và hầu như chưa qua đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ quản lý BVMT
1.2.5 Đánh giá chung về bộ máy quản lý môi trường
Tổ chức và bộ máy quản lý nhà nước về môi trường tại các địa phương trong những năm qua đang dần được tăng cường Trong đó nhiều tỉnh/thành phố hoạt động quản lý môi trường đã được sự quan tâm về nhiều mặt của các cấp lãnh đạo Cùng với sự hình thành Bộ TN&MT, ở các tỉnh/thành phố đã hình thành Sở TN&MT, Chi cục BVMT Trên cơ sở cơ cấu mới, Sở đã chỉ đạo hình thành đơn vị quản lý môi trường cấp quận/huyện và công tác môi trường ở cấp phường/xã
Tuy nhiên, đến nay bộ máy quản lý nhà nước về môi trường tuy còn thiếu về
số lượng và năng lực còn hạn chế; sự phối hợp liên ngành, liên vùng còn kém hiệu quả dẫn đến chồng chéo chức năng trong khi lại bỏ trống nhiệm vụ quản lý Tổ chức và năng lực của hệ thống quản lý, quan trắc, thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử
lý môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu
Một thực tế dễ nhận thấy là các địa phương thay vì đưa ra quy chế chặt chẽ về quản lý môi trường thì mới chỉ chú tâm vào việc thu hút đầu tư công nghiệp, các chính sách ưu đãi của các địa phương hiện nay chủ yếu tập trung cho vấn đề kêu gọi đầu tư Các điều kiện môi trường tạm thời chưa được đặt ra hoặc đặt ra chỉ là hình thức, không mang tính chất bắt buộc (trừ một số thành phố trực thuộc Trung ương quản lý)
Hệ thống phân cấp quản lý môi trường của Việt Nam vẫn còn bị phân tán, chồng chéo Trên thực tế, các bộ, các ngành cũng mới chỉ quản lý khu vực công nghiệp quốc doanh, khu vực ngoài quốc doanh bị buông lỏng phó mặc cho các địa phương quản lý Theo Luật doanh nghiệp mới ban hành, các doanh nghiệp thành lập mới đều ký lập cam kết BVMT, nhưng do quy mô đa phần là vừa và nhỏ, sản xuất phân tán lẫn với dân cư nên rất khó khăn trong quản lý và kiểm soát ô nhiễm
Năng lực quản lý môi trường tại các doanh nghiệp còn hạn chế Đa phần các doanh nghiệp chưa có bộ phận quản lý môi trường chuyên trách, cán bộ thiếu và không được đào tạo chuyên môn, mà chủ yếu là cán bộ kiêm nhiệm
Trang 201.3 Khung pháp lý và thể chế kiểm soát ô nhiễm công nghiệp
Pháp luật và các quy định liên quan đến lĩnh vực công nghiệp do Chính phủ Việt Nam ban hành đã được phân tích chi tiết trong báo cáo riêng, được thực hiện bởi các chuyên gia phân tích pháp chế Trong nội dung của chương này, báo cáo cung cấp một cái nhìn tổng quan về khung pháp lý áp dụng tại Việt Nam, tập trung vào pháp luật, chỉ thị, quy định, cho kiểm soát ô nhiễm công nghiệp
* Cấp Trung ương
Chỉ thị số 36 CT/TW đã xây dựng một nền tảng cho việc kiểm soát ô nhiễm công nghiệp cũng như góp phần xem xét và đánh giá tiềm năng, các vấn đề và thách thức của sản xuất sạch hơn tại Việt Nam, áp dụng cho cơ sở tư nhân và các KCN Luật về bảo vệ môi trường ban hành năm 2005 là công cụ chính sách môi trường trong quản lý ngành công nghiệp, ban hành tiêu chuẩn, hệ thống quản lý môi trường,
hệ thống các quy định toàn diện cho kiểm toán các ngành công nghiệp hiện có
Trong giai đoạn phát triển công nghiệp bền vững tại Việt Nam, các hoạt động bảo vệ môi trường và các hệ thống quan trắc chất lượng môi trường mở rộng,
đã tạo điều kiện thuận lợi cho các đề án cung cấp và phân tích dữ liệu cho việc lập
kế hoạch, quản lý cũng như bảo vệ môi trường công nghiệp Chính phủ Việt Nam
đã phê duyệt Kế hoạch quốc gia về kiểm soát ô nhiễm đến năm 2010 cho KCN và
đô thị, như là một định hướng chính trong chính sách môi trường được áp dụng trong ngành công nghiệp Trong đó, Luật cũng phân loại các ngành công nghiệp gây
ô nhiễm nghiêm trọng như hóa chất, dệt may, thuộc da, giấy, chế biến thực phẩm, khai thác mỏ, y tế, giao thông vận tải; và các khu vực có nồng độ các chất độc hoá học cao, là hậu quả của chiến tranh và sử dụng thuốc trừ sâu (Điều 1) Theo nội dung đề ra trong Kế hoạch quốc gia, nguyên tắc quan trọng trong kiểm soát ô nhiễm công nghiệp là phòng ngừa ô nhiễm (Điều 2)
Ngày 15 tháng 07 năm 2009, Bộ TN& MT đã ban hành Thông tư 08/2009/BTNMT và năm 2011 ban hành Thông tư 48/2011 về Quy chế quản lý và bảo vệ môi trường trong khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu công nghiệp, cụm công nghiệp Đối với các cụm công nghiệp, và khu công nghiệp, thẩm quyền trực tiếp chịu trách nhiệm quản lý về bảo vệ môi trường ủy quyền cho Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ban Quản lý KCN
Trang 21Theo khung pháp lý này, nhiều văn bản pháp luật và kỹ thuật được xây dựng bởi các tổ chức Chính phủ và quốc tế, đặc biệt các nội dung về hỗ trợ tài chính
Các văn bản lập pháp chính để kiểm soát ô nhiễm công nghiệp được liệt kê như sau:
- Nghị định 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định chi tiết thi hành một
số điều của luật bảo vệ môi trường;
- Luật Bảo vệ môi trường 2014 đã được Quốc hội phê duyệt vào ngày 23 tháng 06 năm 2014;
- Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
- Quyết định số 18/2013/QĐ-TTg ngày 29/03/2013 về cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản;
- Nghị định số 74/2011/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2011 về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản;
- Quyết định số 16/2007/QĐ - TTg ngày 29 tháng 1 năm 2007 của Chính phủ phê duyệt "Quy hoạch tổng thể quốc gia về mạng lưới quan trắc môi trường đến năm 2020”
- Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21 tháng 8 năm 2006 phê duyệt kế hoạch phát triển các KCN tại Việt Nam vào năm 2015 và định hướng cho năm 2020
- Luật Tiêu Chuẩn và Quy Chuẩn Kỹ Thuật số 68/2006/QH11 ban hành vào ngày 29/06/2006 và Nghị định 127/2007/ NĐ-CP thực thi luật trên
Trang 22- Thông tư số 36/2005/TT-BNV ngày ngày 4 tháng 6 năm 2005 về về xếp hạng Ban quản lý Khu Công nghiệp, Ban quản lý Khu Kinh tế, Ban quản lý Khu Kinh tế mở, Ban quản lý Khu kinh tế cửa khẩu, Ban quản lý Khu Kinh tế - Thương mại, Ban quản lý Khu Công nghệ cao và các Ban quản lý có tên gọi khác
- Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 12 tháng 2 năm 2003 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướn năm 2020
* Quản lý tài nguyên nước
Quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam được quy định bởi Luật Tài nguyên nước (luật số 17/2012/QH13 ngày 21/06/2012) và Nghị định số 201/2013/NĐ – CP ngày 27/11/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của luật tài nguyên nước Đặc biệt, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 120/2008/NĐ-CP ngày 01/12/2008 về quản lý lưu vực sông nhằm mục đích bảo vệ môi trường nước, đối phó với sự cố môi trường nước, điều tiết và phân phối nước, v.v Sau đó, Thủ tướng Chính phủ đã thành lập chính Ủy ban lưu vực sông để quan trắc và điều phối việc thực hiện các chương trình bảo vệ tài nguyên nước (Điều 30)
Ngoài ra, khung pháp lý đã được bổ sung thêm với thông tư BTNMT ngày 30/05/2014 quy định việc đăng ký khai thác nước dưới đất, mẫu hồ
27/2014/TT-sơ cấp, gia hạn, điều chỉnh, cấp lại giấy phép tài nguyên nước, và các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) liên quan tới quản lý chất lượng nước và nguồn cấp nước
* Chất lượng không khí
Điều 07 của Luật Bảo vệ môi trường nghiêm cấm các hành vi phát thải khói bụi hay khí có chất độc hoặc có mùi vào không khí, phát tán bức xạ, phóng xạ và các chất bị ion hóa ở nồng độ vượt quá tiêu chuẩn môi trường cho phép Các tiêu chuẩn khí thải quy định các ngưỡng chất gây ô nhiễm cũng như các thông số chất lượng không khí chính là QCVN 19: 2009/BTNMT, QCVN 20: 2009/BTNMT, QCVN 21: 2009/BTNMT, QCVN 22: 2009/BTNMT, QCVN 23: 2009/ BTNMT
* Chất thải rắn thông thường
Theo nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 quy định về quản lý chất thải và phế liệu chất thải sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát
Trang 23sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người, chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chiến lược quản
lý tổng hợp chất thải rắn quốc gia đến năm 2025 định hướng đến năm 2050 Mục tiêu của chiến lược này là định hướng đến năm 2025 tất cả các loại chất thải rắn phát sinh được thu gom, tái sử dụng, tái chế và xử lý thông qua các công nghệ tiên tiến thân thiện với môi trường, phù hợp với điều kiện thực tế của mỗi tỉnh cũng như hối lượng chất thải rắn chôn lấp tại bãi rác sẽ được giảm thiểu Hơn nữa, chính sách khuyến khích và trợ cấp đầu tư về quản lý chất thải rắn đã được phê duyệt bởi Bộ trưởng Bộ Tài chính thông qua Thông tư số 121/2008/TT-BTC, trong đó khuyến khích các doanh nghiệp nhằm thay đổi hành vi về sản xuất đối với công nghệ hiên
* Chất thải nguy hại
Bộ TN&MT đã ban hành một danh mục các chất thải nguy hại được quy định trong Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 về quản lý chất thải nguy hại Ở một số tỉnh, chính quyền địa phương cũng đã ban hành hướng dẫn chi tiết về quản lý chất thải nguy hại và không nguy hại Theo quy định của Việt Nam, ngành công nghiệp phát sinh chất thải nguy hại phải đăng ý quản lý chất thải nguy hại
- Nghị định số 104/2009/NĐ-C ngày 09 tháng 11 năm 2009 quy định danh mục hàng nguy hiểm và vận chuyển hàng nguy hiểm bằng phương tiện giao thông
cơ giới đường bộ;
- Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất nguy hại
1.4 Các giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ môi trường khu, cụm công nghiệp hiện được áp dụng
a Phát triển cụm CN phải tuân thủ theo quy hoạch đã được phê duyệt
Quy hoạch phát triển các cụm công nghiệp sau khi được phê duyệt sẽ là căn cứ
để xem xét, quyết định thành lập cụm công nghiệp, kêu gọi đầu tư xây dựng hạ tầng, lập kế hoạch di dời các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đang gây ô nhiểm hoặc
Trang 24có nguy cơ gây ô nhiểm ra khỏi làng nghề, khu dân cư và vận động, thu hút đầu tư sản xuất, kinh doanh tại các cụm công nghiệp trên địa bàn
Đối với các cụm công nghiệp đã hình thành
Thực hiện việc chuyển đổi theo đúng quy định của Quy chế quản lý cụm công nghiệp và các quy định hiện hành của Nhà nước
Tập trung thu hút đầu tư để lấp đầy các cụm công nghiệp đã được hình thành Thường xuyên theo dõi, đánh giá tình hình triển khai thực tế, đề xuất phương án xử
lý đối với các cụm công nghiệp:
- Trường hợp cụm công nghiệp triển khai thuận lợi: thu hút đầu tư tốt, triển khai xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật theo đúng tiến độ và tại khu vực còn quỹ đất
để phát triển, ngoài việc hoàn thiện kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động có thể xem xét mở rộng cụm công nghiệp
- Đối với cụm công nghiệp gặp khó khăn trong quá trình triển khai, cần tập trung giải quyết các vướng mắc để tiếp tục triển khai Nếu cụm công nghiệp không
có triển vọng, cần kiên quyết xem xét việc rút giấy phép đầu tư, quyết định phê duyệt dự án hoặc đổi mục đích sử dụng, tránh tình trạng dự án được phê duyệt nhưng không triển khai gây dư luận không tốt trong xã hội
Đối với các cụm công nghiệp dự kiến thành lập mới
Ngoài đáp ứng các điều kiện theo quy định, phải lập Báo cáo đầu tư thành lập cụm với các nội dung chủ yếu:
- Sự cần thiết phải thành lập cụm công nghiệp;
- Nhu cầu thực tế và sự phù hợp với các quy hoạch liên quan đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt (quy hoạch phát triển các cụm công nghiệp, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựngv.v );
- Hiện trạng sử dụng đất và định hướng bố trí các ngành nghề, cơ cấu sử dụng đất và dự kiến thu hút đầu tư vào cụm công nghiệp;
- Dự kiến ranh giới, diện tích đất, khả năng đấu nối công trình hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài hàng rào; báo cáo đánh giá tác động môi trường của cụm công nghiệp; định hướng sơ bộ, phân tích và lựa chọn giải pháp đầu tư các công trình hạ tầng cụm công nghiệp;
Trang 25- Dự kiến phương án giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư;
- Dự kiến hiệu quả kinh tế - xã hội của cụm công nghiệp;
- Xác định sơ bộ nguồn vốn đầu tư, chủ đầu tư và phương thức thực hiện, phương thức quản lý đầu tư xây dựng và khai thác hạ tầng cụm công nghiệp;
- Dự kiến khả năng cho thuê đất sau khi thành lập;
- Các giải pháp và tiến độ thực hiện
Đối với cụm công nghiệp dự kiến mở rộng
Cụm công nghiệp dự kiến mở rộng, ngoài đáp ứng các điều kiện theo quy định, phải lập Báo cáo đầu tư mở rộng cụm với các nội dung chủ yếu:
- Sự cần thiết mở rộng cụm công nghiệp;
- Đánh giá hiện trạng phát triển cụm công nghiệp hiện có;
- Định hướng mở rộng cụm công nghiệp: ranh giới, diện tích, hiện trạng sử dụng đất, việc đấu nối công trình hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài hàng rào; phương
án giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư;
- Xác định sơ bộ nguồn vốn đầu tư và phương thức thực hiện;
- Các giải pháp và tiến độ thực hiện;
- Dự kiến khả năng cho thuê đất và hiệu quả về kinh tế, xã hội của cụm công nghiệp sau khi mở rộng
b Xây dựng cụm công nghiệp phải gắn với đầu tư phát triển đồng bộ hạ tầng kỹ thuật khu vực
Quy hoạch xây dựng cụm công nghiệp phải gắn liền và phải tính đến khả năng cung ứng cơ sở hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào như hệ thống giao thông, cấp điện, cấp nước, thông tin liên lạc ở hiện tại cũng như trong tương lai Ngoài việc dùng ngân sách nhà nước để hỗ trợ đầu tư các công trình này, cần có cơ chế, chính sách thu hút các nguồn vốn khác nhau tham gia đầu tư xây dựng
- Lồng ghép có hiệu quả với các chương trình mục tiêu quốc gia và địa phương với các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ngoài hàng rào cụm công nghiệp, các dự án phát triển vùng nguyên liệu tập trung ở các địa bàn khó khăn
về kinh tế - xã hội nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành và hoạt động hiệu quả các cụm công nghiệp của tỉnh
Trang 26c Xây dựng và triển khai chính sách hạ tầng xã hội đối với khu vực xây dựng cụm công nghiệp
- Trong quá trình xây dựng phát triển cụm công nghiệp cần phải xây dựng và triển khai chính sách phát triển hạ tầng xã hội như nhà ở, các công trình công cộng đối với khu vực xây dựng cụm công nghiệp
- Việc xây dựng các công trình hạ tầng xã hội là trách nhiệm của nhà nước và các doanh nghiệp Ngoài việc sử dụng một phần vốn từ ngân sách nhà nước, cần huy động các nguồn lực khác của xã hội bằng những cơ chế thích hợp, ưu đãi
d Giải pháp về bồi thường, giải phóng mặt bằng cho xây dựng cụm CN
- Thực hiện đồng bộ và nhất quán cơ chế Nhà nước đứng ra thu hồi đất theo đúng các quy định của pháp luật để thành lập các cụm công nghiệp, sau đó giao lại đất sạch cho đơn vị đầu tư kinh doanh hạ tầng đầu tư, quản lý, khai thác
- Tăng cường hiệu lực của các quy định pháp luật về chính sách đất đai, kết hợp giữa biện pháp thuyết phục, tuyên truyền ý thức pháp luật với các biện pháp cưỡng chế thu hồi đất, đặc biệt là những khu vực và các địa bàn nhạy cảm dự kiến sẽ có những khó khăn khi thu hồi đất để xây dựng các cụm công nghiệp theo quy hoạch
- Công khai hóa dự án, phương án tổng thể xây dựng cụm công nghiệp và phương án bồi thường, hỗ trợ, giải quyết hài hòa quyền lợi của người bị thu hồi đất Đảm bảo được sự đồng bộ về cơ chế, chính sách sát với thực tiễn
- Xây dựng hoàn thiện và áp dụng ổn định trong một thời gian dài bộ đơn giá quyền sử dụng đất và cơ chế chính sách về miễn, giảm tiền thuê đất, thuế sử dụng đất trong cụm công nghiệp, để nhà đầu tư yên tâm đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng
có điều kiện hạ giá thành cho thuê lại đất và hạ tầng trong cụm công nghiệp
e Giải pháp về bảo vệ và xử lý môi trường, phát triển bền vững cụm CN
- Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, đào tạo và nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường trong các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và người lao động trong việc phòng ngừa và bảo vệ môi trường Tăng cường năng lực và trách nhiệm quản
lý môi trường cho các cụm công nghiệp và các địa phương
- Khuyến khích triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học về bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất của cụm công nghiệp Đối với cụm công nghiệp
Trang 27thành lập mới, việc quy hoạch tổng thể bảo vệ môi trường phải được thực hiện ngay
từ khi lập dự án Trong quy hoạch chi tiết, ngoài việc bố trí mặt bằng cho các nhà máy, nhất thiết phải đề cập đến phương án bảo vệ môi trường
- Thực hiện việc lựa chọn, chấp thuận các dự án có đủ điều kiện về sản xuất,
về đảm bảo điều kiện môi trường nhằm phát triển bền vững các cụm công nghiệp
- Tuân thủ tuyệt đối các nguyên tắc thiết kế kỹ thuật, đảm bảo hợp lý về kiến trúc không gian, các nguyên tắc phòng cháy, chữa cháy và bố trí các công trình theo yếu tố đặc trưng về khả năng ô nhiễm môi trường nhằm tránh những tác động tiêu cực giữa các đối tượng công trình trong cụm công nghiệp với nhau và của cụm công nghiệp đối với khu dân cư; diện tích đất trồng cây xanh phải hợp lý và đảm bảo đạt
ít nhất 10% diện tích mặt bằng cụm công nghiệp
- Thiết kế và xây dựng hệ thống cấp thoát nước và xử lý nước thải hợp lý đảm bảo sử dụng tiết kiệm và tăng cường khả năng tái sử dụng nước; thu gom và xử lý toàn bộ nước thải sản xuất, nước thải sinh hoạt và nước mưa chảy tràn trong quá trình thi công xây dựng cơ sở hạ tầng và giai đoạn hoạt động của cụm công nghiệp đảm bảo các Tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường
- Trong quá trình thi công xây dựng cơ sở hạ tầng và vận hành cụm công nghiệp phải đảm bảo các Tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường liên quan đến chất lượng không khí
- Thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn công nghiệp và rác thải sinh hoạt trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng cũng như trong quá trình vận hành cụm công nghiệp, đảm bảo các yêu cầu vệ sinh môi trường, lưu giữ và xử lý các chất thải nguy hại theo quy định
f Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp
Để thực hiện tốt công tác quản lý phát triển các cụm công nghiệp, cần tiếp tục nghiên cứu, đề xuất mô hình quản lý cụm công nghiệp hiệu quả theo các quy mô, các loại sở hữu đối với cụm công nghiệp Công tác quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh thời gian tới cần tập trung thực hiện tốt theo Quyết định 105/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ và các quy định hiện hành
Trang 28Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Cụm công nghiệp trên địa bàn thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
2.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm nghiên cứu: Đề tài tiến hành nghiên cứu trên địa bàn thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- Thời gian tiến hành: từ tháng 05/2014 đến tháng 05/2015
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
2.3.2 Đánh giá tình hình hoạt động sản xuất tại các cụm công nghiệp trên địa bàn Thành phố Bắc Giang
2.3.3 Đánh giá hiện trạng quản lý và chất lượng môi trường tại các cụm công nghiệp của thành phố Bắc Giang
2.3.4 Đề xuất các giải pháp ngăn ngừa ô nhiễm môi trường tại các cụm công nghiệp của Thành phố Bắc Giang
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu, thông tin thứ cấp
- Tài liệu về điều kiện tự nhiên (vị trí địa lý, điều kiện khí hậu, chế độ thủy văn ), điều kiện kinh tế xã hội (dân số, việc làm, cơ sở hạ tầng…) của Thành phố Bắc Giang theo Niên giám thống kê tỉnh Bắc Giang năm 2014
Trang 29- Tài liệu về các báo cáo hiện trạng môi trường của địa phương và kết quả quan trắc môi trường hàng năm tại địa bàn nghiên cứu
- Tài liệu về công tác quản lý chất lượng môi trường tại địa bàn nghiên cứu
- Các văn bản pháp quy về bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên nước, các tiêu chuẩn, quy chuẩn Việt Nam… và các tài liệu có liên quan
2.4.3 Phương pháp khảo sát
Để phục vụ cho việc đánh giá hiện trạng công tác quản lý môi trường tại các cụm công nghiệp trên địa bàn thành phố Bắc Giang, chúng tôi đã tiến hành khảo sát
02 đối tượng bao gồm:
- Đơn vị khai thác hạ tầng cụm công nghiệp Số lượng khảo sát 06 đối tượng
- Các cơ sở sản xuất thuộc cụm công nghiệp (được lựa chọn ngẫu nhiên theo các nhóm ngành nghề sản xuất) tại 06 cụm công nghiệp thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài Số lượng khảo sát 60 cơ sở
2.4.4 Phương pháp lấy mẫu
Để tiến hành nghiên cứu để tài đã thực hiện lấy các mẫu:
- Mẫu không khí xung quanh
- Đối với mẫu khí thải: lấy mẫu theo TCVN 5939:2005
- Đối với mẫu nước thải lấy mẫu theo TCVN 5599:1995 (Chất lượng nước –lấy mẫu hướng dẫn lấy mẫu nước thải)
- Đối với mẫu đất lấy mẫu theo TCVN:4046:1995 – Đất trồng trọt – phương pháp lấy mẫu TCNV 529:1995 (Chất lượng đất – lấy mẫu – yêu cầu chung.)
- Đối với mẫu nước mặt lấy mẫu theo TCVN 5992:1995 (ISO 5667 -2: 1991)
Trang 30- Chất lượng nước- Lấy mẫu Hướng dẫn kỹ thuật lấy mẫu
Chi tiết các vị trí lấy mẫu được trình bầy cụ thể trong bảng 2.1 như sau:
Bảng 2.1 Các vị trí lấy mẫu phân tích
Nước thải công nghiệp
1 HTX cơ khí Bắc Giang CCN Xương
9 Xưởng nghiên cứu Tài
nguyên – Công nghệ mới CCN Thọ Xương 1
Tại vị trí xả thải của Xưởng nghiên cứu Tài nguyên – Công nghệ mới
10 Công ty TNHH MTV Đài
Loan
CCN Xương Giang II 1
Tại vị trí xả thải của Công ty TNHH MTV Đài Loan
11 Công ty TNHH SXTM
Ngọc Quỳnh
CCN Xương Giang II 1
Tại vị trí xả thải của Công ty TNHH SXTM Ngọc Quỳnh
12 Công ty TNHH Việt Dũng CCN Xương
Giang II 1
Tại vị trí xả thải của Công ty TNHH Việt Dũng
13 Công ty CP vật tư kỹ thuật
nông nghiệp Bắc Giang
CCN Xương Giang II 1
Tại vị trí xả thải của Công ty
CP vật tư kỹ thuật nông
Trang 31TT Tên đơn vị Địa điểm Số mẫu Vị trí lấy mẫu
Tại vị trí xả thải của Công ty TNHH may Khai Phong
16 Công ty CP gạch Tân Hưng CCN Tân Mỹ -
Song Khê 1
Tại vị trí xả thải của Công ty
CP gạch Tân Hưng Khí thải
1 Công ty TNHH Bình Minh CCN Dĩnh Kế 1 Tại ống thoát khí Công ty
Không khí xung quanh
1 CCN Xương Giang I CCN Xương
Trang 32TT Tên đơn vị Địa điểm Số mẫu Vị trí lấy mẫu
1 CCN Xương Giang I CCN Xương
1 CCN Xương Giang I CCN Xương
Trang 332.4.5 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm
Các mẫu lấy tại hiện trường được bảo quản đúng quy cách và vận chuyển về phòng thí nghiệm của Trung tâm nghiên cứu quan trắc và mô hình hoá môi trường
để phân tích
- Đối với Nước thải phân tích các chỉ tiêu: Nhiệt độ, pH, BOD, COD, TSS,
As, Pb, Cr(VI), Cu, Fe, Tổng xianua, Tổng dầu mỡ khoáng, Sunfua, Amoni, Tổng
Bảng 2.2 Các chỉ tiêu quan trắc và phương pháp phân tích
Mẫu nước thải
Trang 3417 Coliform TCVN 8775:2011
Không khí xung quanh
1 Hướng gió Máy LM 8000
Trang 35- Các chỉ tiêu: nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn trong khu vực sản xuất được so sánh với Quyết định số 3733/2002/BYT - Về việc quy định giới hạn cho phép trong không khí vùng làm việc của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
- Các chỉ tiêu chất lượng không khí xung quanh: bụi, tiếng ồn, NO2, SO2, CO được so sánh với quy chuẩn QCVN 05:2013/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh
- Các chỉ tiêu về nước thải công nghiệp được so sánh với QCVN 40:2011/BTNMT (B) - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp
- Các chỉ tiêu về kim loại nặng trong đất: As, Cd, Cu, Zn, Pb được so sánh với QCVN 03:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn cho phép của kim loại nặng trong đất
- Các chỉ tiêu về nước mặt được so sánh với QCVN 08:2008/BTNMT (B1) - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt
2.4.7 Phương pháp xử lý số liệu
Những thông tin, dữ liệu thu thập trong quá trình điều tra phỏng vấn được đưa vào xử lý bằng phần mềm Excel để tìm ra những thông tin cần thiết và đúng đắn nhất
Trang 36Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Bắc Giang
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Bắc Giang là trung tâm kinh tế - văn hóa - chính trị của tỉnh Bắc Giang, nằm ở tọa độ 21009’ – 21015’ vĩ độ bắc và 106007’ – 106020’ kinh độ đông
- Phía Đông giáp huyện Lạng Giang
- Phía Tây giáp huyện Việt Yên
- Phía Nam-Tây Nam giáp huyện Yên Dũng
- Phía Bắc giáp huyện Tân Yên
3.1.1.2 Điều kiện khí hậu
Thành phố Bắc Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng Đông Bắc Đặc điểm chung của khí hậu là phân hoá theo mùa và lãnh thổ phụ thuộc vào chế độ hoàn lưu gió mùa và điều kiện địa hình địa phương
Hướng gió thổi theo mùa: Mùa đông (từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau) các hướng gió thịnh hành là Đông Bắc và Bắc; Mùa hè (từ tháng 3 đến tháng 8), có hướng gió chính là Đông Nam với tần suất dao động trong khoảng 20- 40%
Biên độ nhiệt năm lớn (12-130C) phù hợp với quy luật phân hoá của khí hậu
có mùa đông Số giờ nắng trung bình hàng năm từ 1.189- 1.496 giờ, tháng 7 là tháng
có số giờ nắng nhiều nhất, đây là yếu tố thuận lợi cho phát triển các cây trồng nhiệt đới, cận nhiệt đới
Chế độ nhiệt của Bắc Giang thay đổi từ nóng ở vùng thấp dưới 200m đến hơi lạnh ở vùng núi trên 600m Nhiệt độ trung bình năm từ 23- 24,10C; giảm xuống
190C ở vùng núi cao 500-600m
Trong mùa đông, nhiệt độ thấp nhất có thể xuống dưới 100C, thậm chí dưới
00C vào tháng 12 và tháng 1 trong các thung lũng vùng cao Tháng lạnh nhất là tháng 1 có nhiệt độ trung bình: 12- 150C Mùa nóng dài 5 tháng (từ tháng 3 đến tháng 8), tháng 7 là tháng nóng nhất, với nhiệt độ trung bình từ 28,8-29,90C Biên
Trang 37lạnh Biên độ nhiệt độ ngày đêm trung bình năm dao động trong khoảng 6-80C, đặc trưng của khí hậu đồi núi trung du của Bắc Giang
Bảng 3.1 Nhiệt độ không khí trung bình các tháng trong năm ( 0 C)
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bắc Giang, 2014)
Mùa mưa chung với mùa hè, thời kỳ hoạt động của gió mùa Tây Nam, thường từ tháng 5 đến tháng 10, mưa tập trung chủ yếu vào các tháng 5, 6, 7, 8, 9 Lượng mưa mùa mưa chiếm tới 80 -90% lượng mưa năm Lượng mưa trung bình năm từ 96,8- 130,9mm Lượng mưa này đáp ứng đủ nhu cầu nước cho sản xuất và đời sống của nhân dân
Bảng 3.2 Lượng mưa các tháng trong năm (mm) Tháng
2012 1,4 13,3 42,3 116,8 224,8 174,9 225,2 93,6 112,2 123,9 0,2 3,1
2013 10,4 5,2 11,7 106,1 170,3 302,2 220,5 454,6 116,7 12,1 0,2 12,7
2014 5,2 11,4 145,2 34,2 277,9 353,3 146,7 186,5 183,4 123,5 2,0 6,4
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bắc Giang, 2014)
Độ ẩm không khí trung bình năm đạt 80,8 - 82%, các tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 1 và tháng 12 (<80%) Độ ẩm không khí trung bình các tháng được thống kê trong bảng sau:
Bảng 3.3 Độ ẩm không khí trung bình các tháng trong năm (%)
Trang 38Nằm trong vùng Đông Bắc Việt Nam là một trong những nơi có nhiều giông lốc nhất nước ta, nên Bắc Giang có khá nhiều giông, giông có thể kèm theo lốc với tốc độ gió mạnh nhất tới 30- 40m/s, đôi khi có thể kèm theo mưa đá Bão thường xảy ra vào đầu mùa hè Các trận bão đổ bộ vào Bắc Bộ thường ảnh hưởng trực tiếp đến đây, trung bình mỗi năm có khoảng 2- 3 trận, tuy cường độ đã giảm đi nhiều
nhưng vẫn có khả năng xảy ra lũ quét do mưa lớn
3.1.1.3 Đặc điểm địa chất công trình
Các công trình trọng điểm chủ yếu nằm quanh khu trung tâm Thành phố vì tại trung tâm địa hình bằng phẳng, nền đất cứng Khu vực vành đai ngoài do cấu tạo địa chất chủ yếu là đất sét và đất bùn ao nên cường độ chịu lực kém Đồng thời mực nước ngầm nông nên thường xuyên bị ngập úng nên chỉ thuận tiên cho xây dựng các công trình vừa và nhỏ
3.1.1.4 Chế độ thủy văn
Thành phố Bắc Giang chịu ảnh hưởng toàn bộ của chế độ thủy văn của tỉnh Bắc Giang có 3 con sông lớn: Sông Cầu, Sông Thương, sông Lục Nam chảy qua với chiều dài qua tỉnh là 347km Các sông này đều chảy về phía Phả Lại
Chế độ thủy văn của sông ngòi Bắc Giang có 2 mùa là mùa lũ và mùa cạn Mùa lũ từ tháng 5 đến tháng 9 chiếm trên 70% lượng nước cả năm nhưng yêu cầu dùng nước tưới không lớn Ngược lại mùa cạn từ tháng 10 đến tháng 4 chiếm có 30% lượng nước cả năm thì yêu cầu dùng nước tưới lại nhiều
Hệ thống ao hồ, đầm lầy của tỉnh có diện tích 16,3 nghìn ha, chưa kể gần 1 vạn ha ruộng trũng Hệ thống này là những bể chứa nước quan trọng cung cấp nước cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân Bắc Giang có 2 hồ nổi tiếng là hồ Cấm Sơn và hồ Khuôn Thần Hồ Cấm Sơn có diện tích 2.600ha, chứa 18 triệu m3nước Cả hai hồ này đều thuộc huyện Lục Ngạn
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Dân số và tổ chức hành chính
Dân số Thành phố Bắc Gang đang trên đà tăng nhanh trong những năm qua
cụ thể, năm 2005 là 104.830 người, năm 2010 là 103.335 người, năm 2011 là 148.172 người và năm 2012 là 149.127 người Việc gia tăng dân số trên địa bàn
Trang 39Thành phố chủ yếu là tăng cơ học Từ năm 2011, dân số Thành phố tăng lên một cách đột biến đó là do sự sáp nhập của một số thôn xã như: Đồng Sơn, Song Khê, Tân Tiến, Tân Mỹ, Dĩnh Trì
Bảng 3.4 Diện tích, dân số và đơn vị hành chính Thành phố Bắc Giang
(km 2 )
Dân số (người)
Mật độ dân số (người/km 2 )
Trang 40- Quốc lộ và tỉnh lộ: dài 37km
- Đường chính dài 73km gồm: đường đặt tên và đường liên huyện, liên phường, xã
- Đường giao thông ngõ xóm dài 307km (trong đó đã cứng hóa 274km)
- Đường sắt: tuyến đường sắt Hà Nội – Lạng Sơn qua địa bàn thành phố có chiều dài 9,8km (điểm đầu tiếp giáp huyện Việt Yên tại lý trình K44+407 đến vị trí giáp ranh giữa thành phố và huyện Lạng Giang tại lý trình K53+620)
- Đường thủy: Sông Thương chạy qua thành phố có chiều dài 10km và có 03 cảng hàng hóa với năng lực bốc xếp là 700.000 tấn/năm
Nhìn chung, về mạng lưới đường bộ trong thành phố phân bố khá đều với mật độ bình quân cao Hệ thống này đã tạo thuận lợi trong việc giao lưu với các tỉnh bạn, nối liền trung tâm của thành phố với trung tâm các huyện, thành phố khác và các xã Về chất lượng nhìn chung còn thấp, còn nhiều tuyến chưa được nâng cấp trải nhựa, đặc biệt là những tuyến đường phường, xã
3.1.2.3 Hoạt động kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân (tính theo GDP) giai đoạn 2006-2010 đạt 15,7% năm (cao hơn 2,3% so giai đoạn 2001-2005); cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, trong đó: Thương mại dịch vụ 57,49%, Công nghiệp - TTCN và xây dựng 40,72%, Nông nghiệp - Thủy sản 1,79%; giá trị sản xuất tăng thêm bình quân đầu người năm 2010 đạt 30 triệu đồng (tăng 12 triệu đồng so với năm 2005); giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích đạt 51 triệu đồng/ha/năm
* Lĩnh vực Thương mại dịch vụ
- Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 16,2%/năm; giá trị sản xuất TMDV năm
2010 đạt 1.685 tỷ đồng tăng 23,9% so với năm 2005; tổng kim ngạch XNK năm
2010 ước đạt 201 triệu USD, tăng 44% so năm 2005
- Hạ tầng thương mại được quan tâm đầu tư, cơ bản hoàn thành xây dựng 9 chợ, 02 trung tâm thương mại và 01 siêu thị với tổng vốn đầu tư gần 291 tỷ đồng; đang triển khai xây dựng 02 trung tâm thương mại với vốn đầu tư trên 100 tỷ đồng; xây dựng và duy trì hoạt động có hiệu quả phố chuyên doanh và các tuyến phố văn