Quản lý Nhà nước * Khái niệm Theo Giáo trình quản lý hành chính Nhà nước: “Quản lý Nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội
Trang 1MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục sơ đồ ix
Danh mục hộp x
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Khái niệm, vai trò, mục đích của quản lý Nhà nước về lao động trong Khu công nghiệp 5
2.1.2 Nội dung quản lý Nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp KCN 11
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước đối với lao động trong Khu công nghiệp 20
2.2 Cơ sở thực tiễn 25
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý Nhà nước về lao động trong các khu công nghiệp ở một số nước trên thế giới 25
2.2.2 Kinh nghiệm quản lý Nhà nước về lao động trong các khu công nghiệp ở một số tỉnh 26
2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho KCN Yên Phong 33
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 35
3.1.1 Đặc điểm chung về huyện Yên Phong 35
3.1.2 Đặc điểm chung về KCN Yên Phong 36
3.2 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 41
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 41
3.2.2 Phương pháp xử lý thông tin và phân tích số liệu 43
3.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 44
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46
4.1 Khái quát quản lý Nhà nước về lao động tại khu công nghiệp Yên Phong 46
Trang 2v
4.1.1 Khái quát thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp tại Khu
công nghiệp Yên Phong 46
4.1.2 Khái quát tình hình lao động tại khu công nghiệp Yên Phong 48
4.1.3 Khái quát các đơn vị chủ chốt tham gia quản lý Nhà nước về lao động tại khu công nghiệp Yên Phong 53
4.2 Đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà nước về lao động tại Khu công nghiệp Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh 56
4.2.1 Đánh giá công tác tuyên truyền phổ biến văn bản pháp luật về lao động cho người lao động, người sử dụng lao động trong khu công nghiệp 56
4.2.2 Đánh giá công tác dự báo cung cầu nguồn lao động cho các doanh nghiệp trong KCN 61
4.2.3 Đánh giá công tác quản lý thông tin về lao động, thị trường lao động, môi trường sống của người lao động trong doanh nghiệp 65
4.2.4 Đánh giá công tác hỗ trợ xây dựng cơ chế, thiết chế hỗ trợ phát triển quan hệ lao động và tổ chức công đoàn cơ sở của từng doanh nghiệp 81
4.2.5 Đánh giá công tác thanh tra, kiểm tra về quản lý lao động, giải quyết các tranh chấp lao động 86
4.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước về lao động ở khu công nghiệp Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh 94
4.3.1 Các chính sách của Nhà nước và địa phương 94
4.3.2 Năng lực của cơ quan quản lý Nhà nước về lao động, doanh nghiệp, tổ chức công đoàn, người lao động 95
4.3.3 Đặc điểm, quy mô của khu công nghiệp, doanh nghiệp 98
4.3.4 Cơ chế phối hợp giữa BQL các KCN và các cơ quan quản lý tỉnh Bắc Ninh 99
4.4 Định hướng và giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý Nhà nước về lao động đối với các doanh nghiệp trong KCN Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh 101
4.4.1 Quan điểm phát triển KCN của tỉnh Bắc Ninh 101
4.4.2 Giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý Nhà nước về lao động đối với doanh nghiệp trong KCN Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh 102
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 117
5.1 Kết luận 117
5.2 Kiến nghị 118
5.2.1 Đối với cấp chính quyền 118
5.2.2 Đối với người lao động 119
TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
PHỤ LỤC 123
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ
ATLĐ- PCCN An toàn lao động – Phòng chống cháy nổ ATVSLĐ An toàn vệ sinh lao động
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNVCLĐ Công nhân viên chức lao động
CNLĐ Công nhân lao động
TƯLĐTT Thỏa ước lao động tập thể
Trang 4DANH MỤC BẢNG
3.1 Số lượng DN trong KCN Yên Phong phân theo quốc gia 38
3.2 Số lượng mẫu điều tra 42
4.1 Số lượng DN trên địa bàn KCN Yên Phong qua các năm 46
4.2 Số lượng DN phân theo quốc gia đầu tư ở KCN Yên Phong năm 2012 – 2014 47
4.3 Tình hình lao động trong các doanh nghiệp giai đoạn 2012 – 2014 48
4.4 Chất lượng lao động trong KCN Yên Phong 50
4.5 Mức lương bình quân của NLĐ tại KCN Yên Phong 51
4.6 Tỷ lệ NLĐ ký hợp đồng với DN giai đoạn 2012 – 2014 (%) 53
4.7 Công tác tuyên truyền phổ biến văn hản pháp luật tại KCN Yên Phong 58
4.8 Kết quả tham gia tuyên truyền, hội thi của các DN và NLĐ tại KCN Yên Phong giai đoạn 2012 – 2014 59
4.9 Ý kiến đánh giá về công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật 60
4.10 Dự báo cầu tuyển dụng nhân lực ở KCN Yên Phong giai đoạn 2012 – 2014 (lao động) 62
4.11 Ý kiến đánh giá về công tác dự báo cung - cầu lao động ở KCN Yên Phong 64
4.12 Công tác hỗ trợ DN quản lý thông tin lao động, thị trường LĐ 66
4.13 Tình hình cung cấp thông tin về LĐ ở các DN năm 2014 68
4.14 Ý kiến đánh giá công tác quản lý thông tin tại các DN 69
4.15 Hỗ trợ công tác quản lý lao động là người nước ngoài làm việc tại KCN 71
4.16 Đánh giá công tác quản lý người nước ngoài làm việc tại DN 73
4.17 Các hình thức hỗ trợ tuyển dụng LĐ ở KCN Yên Phong giai đoạn 2012 – 2014 75
4.18 Công tác thông tin tuyển dụng của các DN ở KCN Yên Phong 78
4.19 Ý kiến đánh giá của người lao động về công tác tuyển dụng 80
4.20 Công tác hỗ trợ DN xây dựng cơ chế, tổ chức công đoàn cơ sở 82
4.21 Kết quả công tác xây dựng cơ chế, tổ chức công đoàn cơ sở của các DN 83
4.22 Ý kiến đánh giá công tác xây dựng cơ chế, pháp luật LĐ của các DN 85
Trang 54.23 Công tác thanh tra, kiểm tra của BQL các KCN 87 4.24 Kết quả thanh tra, kiểm tra tình hình đóng BHXH tại các DN đến tháng
11/2014 88 4.25 Công tác quản lý môi trường làm việc tại KCN Yên Phong 89 4.26 Các hoạt động hỗ trợ DN chăm lo đời sống NLĐ ở KCN Yên Phong 91 4.27 Kết quả công tác hỗ trợ đời sống, sinh hoạt của DN đối với NLĐ ở
KCN Yên Phong 93 4.28 Trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý lao động 96 4.29 Trình độ chuyên môn của cán bộ công đoàn, NLĐ 97
Trang 6DANH MỤC SƠ ĐỒ
4.1 Các đơn vị tham gia QLNN về lao động ở KCN Yên Phong 53 4.1 Kết quả công tác thanh tra, kiểm tra tại các DN 72 4.2 Quy mô LĐ các DN trong KCN Yên Phong năm 2014 98
Trang 81
PHẦN I
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng và phát triển các Khu công nghiệp, Khu chế xuất đã và đang là chiến lược của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước Chiến lược này được thực hiện ở Đài Loan và Ấn Độ từ những năm 1960 (Huang, 2001; Aggarwal, 2004), ở Trung Quốc từ những năm 1970 (Wu, 1989) Ở Việt Nam các Khu công nghiệp, Khu chế xuất được hình thành và phát triển gắn liền với công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế và được khởi xướng từ Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI năm
1986 với quan điểm khẳng định Khu công nghiệp, Khu chế xuất là một trong những nền tảng quan trọng để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Số lượng các KCN - KCX ở Việt nam tăng lên nhanh chóng, từ 1 KCN vào năm 1991 lên 33 KCN vào năm
2000, 233 KCN vào năm 2008, 293 KCN vào năm 2013 và hơn 150 KCN khác đang trong giai đoạn quy hoạch (Nguyen Mau Dung, 2010; Hà Phương, 2014) Các khu công nghiệp được phân bố ở 63 tỉnh thành đã thu hút được trên 3.600 dự
án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký 46,9 tỷ USD và 3.200 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký 254.000 tỷ đồng, tạo công ăn việc làm cho 1,3 triệu lao động, đã và đang có những đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của các địa phương trong cả nước
Khu công nghiệp Yên Phong với tổng diện tích 665,2ha là một trong 4 KCN lớn của tỉnh Bắc Ninh Cho đến nay KCN Yên Phong đã thu hút được trên
50 dự án đầu tư trong và ngoài nước với tổng số vốn đầu tư đạt 4,7 tỷ USD Chỉ trong 8 tháng đầu năm 2014, các doanh nghiệp trong KCN đã tạo giá trị hơn 230 nghìn tỷ đồng, xuất khẩu hơn 13 tỷ USD, nộp ngân sách Nhà nước 3.091 tỷ đồng (Thái Uyên, 2014) KCN Yên Phong đã góp phần giải quyết việc làm cho đông đảo lực lượng lao động trong và ngoài tỉnh Theo số liệu của Ban quản lý các KCN tỉnh Bắc Ninh (2014) thì số lượng lao động đang làm việc trong các doanh
Trang 92
nghiệp tại KCN Yên Phong hết năm 2014 là 60.198 người, trong đó: lao động trong tỉnh là 10.580 người (17,58%), lao động ngoài tỉnh là 49.618 người (82,42%), lao động nữ là 45.527 người (75,63%) Lao động đang làm việc trong KCN Yên Phong chiếm số lượng lớn nhất so với các KCN khác trong tỉnh (chiếm 34,9% so với tổng số lao động đang làm việc tại các KCN) đã và đang đặt
ra những thách thức không nhỏ trong quản lý Nhà nước về lao động trong KCN này Không ít doanh nghiệp trong các KCN của Việt Nam nói chung, ở KCN Yên Phong nói riêng đã và đang vi phạm các quy định về đăng ký nội quy lao động, xây dựng thỏa ước lao động tập thể, về ký kết hợp đồng lao động, vi phạm quy định trả công, trả lương và công tác đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động, mất an toàn về lao động, vệ sinh lao động đã ngày càng gia tăng; tình trạng tranh chấp lao động, số vụ đình công, ngừng việc tập thể của người lao động trong các khu công nghiệp của Việt Nam nói chung, ở KCN Yên Phong nói riêng không ngừng tăng lên trong những năm gần đây Bên cạnh đó, số lượng lao động trong các khu công nghiệp đã làm tăng đáng kể dân số của địa phương và gây ra không ít khó khăn đối với địa phương trong công tác quản lý hộ khẩu, an ninh trật tự, giải quyết nhu cầu thuê nhà, và phát sinh nhiều vấn đề xã hội – môi trường khác Nhiều câu hỏi đã và đang được đặt ra đối với công tác quản lý Nhà nước về lao động trong các KCN của Việt Nam nói chung, KCN Yên Phong nói riêng như thực trạng công tác quản lý Nhà nước về lao động trong KCN hiện nay ra sao và làm thế nào để tăng cường công tác quản lý Nhà nước về lao động trong KCN, qua đó giải quyết có hiệu quả các vấn đề về quản lý lao động đang phát sinh trong KCN Đây cũng là những vấn đề được chính quyền các cấp của nhiều tỉnh thành trong cả nước nói chung và của tỉnh Bắc Ninh hết
sức quan tâm Chính vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Đánh giá công tác quản lý Nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp ở Khu công nghiệp Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh"
Trang 103
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá công tác quản lý Nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp
ở khu công nghiệp Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và tăng cường quản lý Nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp tại Khu công nghiệp Yên Phong trong thời gian tới
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Quản lý Nhà nước về lao động trong các DN tại KCN dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn nào?
- Thực trạng công tác quản lý Nhà nước về lao động trong các DN ở KCN Yên Phong như thế nào?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến công tác quản lý Nhà nước về lao động trong các DN ở KCN Yên Phong?
- Giải pháp nào để nâng cao công tác quản lý Nhà nước về lao động trong các DN ở KCN Yên Phong?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn quản
lý Nhà nước về lao động trong các DN tại Khu công nghiệp (bao gồm cơ quan quản lý Nhà nước về lao động, các DN và người lao động)
Trang 114
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Phản ánh thực trạng công tác quản lý Nhà nước về lao động tại Khu công nghiệp, các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về lao động
- Về không gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu phạm vi trong KCN Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
- Về thời gian: Số liệu được thu thập từ năm 2012 đến 2014 Đề tài được thực hiện từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 8 năm 2015
Trang 12a Khu công nghiệp
KCN đã hình thành và phát triển ở các nước tư bản phát triển vào những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một định nghĩa được thừa nhận chung về KCN Các tổ chức quốc tế, các quốc gia trên thế giới đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về KCN
Theo Hiệp hội khu chế xuất thế giới (Wepza) đã định nghĩa Khu chế xuất (KCX) (một dạng đặc biệt của KCN) là “Khu tự do do chính phủ xây dựng để xúc tiến các mục tiêu chính sách được áp dụng thí điểm, đột phá Các chính sách này khác với chính sách áp dụng cho khu nội địa và phần lớn các chính sách áp dụng cho khu là cởi mở hơn” (Wepza, 1997) Như vậy, “khu tự do” có nghĩa là khu vực được vây kín bằng hàng rào, với các “chốt” ra vào được kiểm soát và tại địa phận đó một số ưu đãi về kinh tế được áp dụng Khái niệm này về cơ bản gần với khái niệm “khu vực miễn thuế”
Ở nước ta, KCN được đề cập đến từ khi miền Bắc xây dựng khu Gang thép Thái Nguyên, khi chính quyền Việt Nam Cộng hoà xây dựng KCN Biên Hoà Nhưng chỉ đến khi có Luật Đầu tư nước ngoài (1986), khái niệm về KCN mới được chính thức nêu ra tại Khoản 14&15, Điều 2 Theo văn bản này, “KCN
là khu chuyên sản xuất hàng CN và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng CN”
Theo Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005 thì KCN là khu chuyên sản xuất hàng CN và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất CN, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ
Theo Nghị định số 29/2008/NĐ – CP ngày 14/3/2008, tại điều 2 thì: Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định
Trang 136
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về KCN, nhưng khái quát lại, có thể hiểu KCN theo 2 cách:
Thứ nhất, KCN là một lãnh thổ xác định được xây dựng cơ sở hạ tầng và
pháp lý phù hợp với sản xuất CN Trong KCN có thể xây dựng thêm các DN dịch
vụ, nhất là dịch vụ sản xuất CN, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí phục vụ người lao động, khu thương mại, văn phòng, nhà ở cho công nhân Về thực chất, đây
là khu hành chính kinh tế đặc biệt như KCN Batam (Indonesia), công viên CN ở Đài Loan, Thái Lan và một số nước Tây Âu, khu kinh tế mở Chu Lai, Dung Quất
ở Việt Nam
Thứ hai, KCN là lãnh thổ có giới hạn nhất định, tập trung các DN CN, DN
dịch vụ sản xuất CN, không có dân cư sinh sống Mô hình này được xây dựng ở một
số nước như Malaisia, Indonesia, Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam
Dù theo hình thức nào, KCN đều là một lãnh thổ có ranh giới địa lý xác định, có những điều kiện tương xứng với phát triển CN về tự nhiên, cơ sở hạ tầng, quản lý Nhà nước, tập trung các DN sản xuất CN, các DN dịch vụ có liên quan đến hoạt động CN
b Lao động, đặc điểm lao động trong khu công nghiệp
Quá trình sản xuất muốn tiến hành được cần phải có ba yếu tố: Sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động Thực tế ngày nay cho thấy ở nhiều quốc gia, sự giàu có của xã hội không những chỉ phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên, phụ thuộc vào mức độ trang bị tài sản cố định cho nền kinh tế mà còn phụ thuộc chủ yếu vào nhân tố con người Đặc biệt trong thời đại ngày nay “nền kinh tế tri thức” và tri thức của con người là một trong những nhân tố quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và của toàn xã hội nói chung
Quá trình sản xuất gồm ba yếu tố, trong đó yếu tố lao động là quan trọng nhất, vì không có lao động của con người thì tư liệu lao động và đối tượng lao động chỉ là những vật vô dụng, vì con người là chủ thể của quá trình sản xuất kinh doanh Trong quá trình lao động con người luôn sáng tạo, cải tiến công cụ, hợp tác cùng nhau để không ngừng nâng cao năng suất lao động, qua đó trình độ
kỹ thuật của người lao động, kinh nghiệm sản xuất, chuyên môn hóa lao động
Trang 147
ngày càng nâng cao
Trong kinh tế học, lao động được hiểu là một yếu tố sản xuất do con người tạo ra và là một dịch vụ hay hàng hóa Người có nhu cầu về hàng hóa này
là người sản xuất Còn người cung cấp hàng hóa này là người lao động Cũng như mọi hàng hóa và dịch vụ khác, lao động được trao đổi trên thị trường, gọi là thị trường lao động Giá cả của lao động là tiền công thực tế mà người sản xuất trả cho người lao động Mức tiền công chính là mức giá của lao động (Bách khoa toàn thư mở, 2014)
Lao động trong khu công nghiệp: Là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động (Luật lao động, 2012) Về trình độ nhìn chung là thấp vì phần lớn là lao động phổ thông, lao động từ địa phương; độ tuổi và giới tính phụ thuộc vào ngành nghề sản xuất của DN nhưng phần lớn người lao động trong Khu công nghiệp có độ tuổi trung bình trẻ
* Phân loại lao động trong doanh nghiệp
Số lượng lao động của doanh nghiệp có thể phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau phục vụ cho các mục đích nghiên cứu, làm việc khác nhau Sau đây là một số phương pháp phân loại lao động theo một số tiêu thức chủ yếu sau:
- Căn cứ vào việc quản lí lao động và trả lương: chia ra 2 loại
+ Lao động trong danh sách: Là lực lượng chủ yếu trong doanh nghiệp, bao gồm những người do doanh nghiệp trực tiếp sử dụng và trả lương và được ghi vào sổ lao động của doanh nghiệp
+ Lao động ngoài danh sách: Là những người không thuộc quyền quản lý
sử dụng và trả lương của doanh nghiệp
- Căn cứ vào mục đích tuyển dụng và thời gian sử dụng: chia ra 2 loại + Lao động thường xuyên: Là lực lượng lao động chủ yếu trong doanh nghiệp bao gồm những người được tuyển dụng chính thức và làm những công việc lâu dài thuộc chức năng và nhiệm vụ của doanh nghiệp
+ Lao động tạm thời: Là những người làm việc theo các hợp đồng tạm tuyển ngắn hạn để thực hiện các công việc tạm thời, theo thời vụ
- Căn cứ vào phạm vi hoạt động: chia ra 2 loại
Trang 158
+ Công nhân viên sản xuất kinh doanh chính: Là số lượng lao động tham gia vào các hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp, mà kết quả của hoạt động này chiếm tỷ trọng lớn trong kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ví dụ như trong công nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh chính là hoạt động sản xuất ra sản phẩm công nghiệp
+ Công nhân viên sản xuất kinh doanh khác: Là những người làm việc trong các lĩnh vực sản xuất khác.Ví dụ như trong doanh nghiệp công nghiệp những người làm ở các bộ phận như sản xuất xây lắp, sản xuất vật liệu xây dựng, thương mại, dịch vụ
- Căn cứ vào chức năng của người lao động trong quá trình sản xuất lao động thuộc sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp được phân thành các loại sau:
+ Công nhân: Là người trực tiếp tác động vào đối tượng lao động để làm
ra sản phẩm hay là những người phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuất
+ Thợ học nghề: Là những người học tập kỹ thuật sản xuất sản phẩm dưới
sự hướng dẫn của công nhân lành nghề
+ Nhân viên kỹ thuật: Là những người đã tốt nghiệp ở các trường lớp kỹ thuật từ trung cấp trở lên, đang làm công tác kỹ thuật và hưởng theo thang lương
kỹ thuật
+ Nhân viên quản lý kinh tế: Là những người đã tốt nghiệp ở các trường lớp kinh tế, đang làm các công việc điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: Giám đốc, phó Giám đốc, nhân viên các phòng ban kinh tế
+ Nhân viên quản lý hành chính: Là những người đang làm công tác tổ chức quản lý hành chính của doanh nghiệp như nhân viên tổ chức, văn thư, lái
xe, bảo vệ
Ngoài ra, người ta còn tiến hành phân loại lao động theo một số tiêu thức khác như: nghề nghiệp, giới tính, tuổi đời, thâm niên nghề, trình độ văn hóa, bậc thợ…Nghiên cứu phân loại lao động của doanh nghiệp trước hết phục vụ cho việc đánh giá, phân tích thực trạng đội ngũ lao động hiện có cuối kỳ báo cáo, tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà vận dụng theo các tiêu thức khác nhau (Lê Văn Tâm, 2010)
Trang 169
c Quản lý Nhà nước
* Khái niệm
Theo Giáo trình quản lý hành chính Nhà nước: “Quản lý Nhà nước là
sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng
và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ
quốc XHCN” (Nguyễn Hữu Hải, 2010)
Như vậy, quản lý Nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực Nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội Quản
lý Nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của Nhà nước trong quản lý
xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt quản lý Nhà nước được hiểu theo hai nghĩa
Theo nghĩa rộng, quản lý Nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy Nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước chỉ bao gồm hoạt động hành pháp
Quản lý Nhà nước được đề cập trong đề tài này là khái niệm quản lý Nhà nước theo nghĩa rộng; quản lý Nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước Hoạt động quản lý Nhà nước chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan Nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị -
xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được Nhà nước
uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của Nhà nước theo quy định của pháp luật (Đỗ Hoàng Toàn, 2008)
d Quản lý Nhà nước về lao động trong khu công nghiệp
Hiện có nhiều quan niệm về “quản lý Nhà nước” cũng như về “quản lý Nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp”: là “quản”, là sử dụng quyền lực Nhà nước, là “cầm chèo”, hỗ trợ Vì vậy, tác giả cho rằng: Trong nền kinh tế thị trường, quản lý Nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp là hoạt động
Trang 17quyền lực Nhà nước, thông qua bộ máy Nhà nước và chủ yếu sử dụng pháp luật, tác động định hướng lên người lao động, doanh nghiệp và các chủ thể liên quan nhằm điều chỉnh và hướng hành vi của các chủ thể này diễn ra phù hợp với lợi ích chung trên cơ sở bảo đảm quyền, lợi ích của người lao động, người sử dụng
lao động (Vũ Minh Tiến, 2011)
Quản lý Nhà nước về lao động dưới góc độ pháp luật là những chế định của luật lao động, các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ quản lý lao động giữa Nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội, các hành vi quản lý lao động, các hoạt động
sử dụng lao động, vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động…
Quản lý Nhà nước về lao động là hình thức quản lý lao động đặc biệt và
có hiệu quả to lớn trong thực tiễn Quyền lực, tính bắt buộc chính là những yếu tố không thể thiếu được và có tính đặc dụng trong trong quản lý Nhà nước
về lao động Đặc điểm về chủ thể quản lý, tính chất quản lý, mục tiêu quản lý chính là lý do căn bản tạo nên sự khác biệt giữa quản lý Nhà nước về lao động
so với các dạng quản lý khác được sử dụng trong các doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp Nhà nước (Vũ Minh Tiến, 2011)
2.1.1.2 Vai trò của quản lý Nhà nước về lao động trong khu công nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, mặc dù sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước ngày càng giảm và không thể thay thế thị trường nhưng Nhà nước có thể hoàn thiện các hoạt động thị trường và vai trò ngày càng tăng lên, trong đó có quản lý Nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp và thị trường lao động Trước tiên, Nhà nước là người thiết lập pháp luật để quản lý Nhà nước, trong đó đặc biệt là các tiêu chuẩn lao động Ngoài ra, Nhà nước cũng đóng vai trò là một chủ thể sử dụng lao động lớn và là một trọng tài quyền lực, là người hỗ trợ người lao động
và doanh nghiệp Đặc biệt, Nhà nước có tư cách quan trọng là một chủ thể của cơ chế ba bên (Vũ Minh Tiến, 2011)
2.1.1.3 Mục đích của việc quản lý lao động trong khu công nghiệp
Nhà nước thực hiện việc QLLĐ trong nền kinh tế thị trường trước hết là
để bảo vệ các bên tham gia quan hệ lao động (QHLĐ), bảo đảm quyền tự do của các bên tham gia QHLĐ, phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật các
Trang 18bên tham gia QHLĐ Mục đích việc QLLĐ của Nhà nước thể hiện sự điều hành
cả ở tầm vĩ mô và vi mô đối với quá trình QLLĐ, tổ chức thanh tra, kiểm tra việc thi hành chính sách, pháp luật lao động và giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình lao động QLNN về lao động có tác động trực tiếp đến mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là các chính sách của Nhà nước đối với xã hội Trong các giai đoạn phát triển khác nhau, Nhà nước buộc phải giải quyết hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, do vậy, phải coi trọng chính sách xã hội là động lực để phát triển kinh tế, nhưng đồng thời lại phải coi phát triển kinh tế là cơ sở và tiền đề để thực hiện các chính sách xã hội Việc đưa
ra các bảo đảm cho người lao động, nhất là về chính sách xã hội là điều hết sức cần thiết, nhưng phải cân nhắc mức độ phù hợp theo từng thời kỳ để nâng dần từng bước, có tính đến các khả năng kinh tế chung của đất nước và khả năng chi trả của NSDLĐ, cần xét tới phạm vi, biện pháp và bước đi nếu không sẽ có thể gây thiệt hại cho chính bản thân người lao động, trước hết là về việc làm, sau là không đạt được mục tiêu của chính sách, không bảo vệ được người lao động
trong thực tế (Đỗ Thanh Quang, 2011)
2.1.2 Nội dung quản lý Nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp KCN
Theo điều 235, Bộ Luật Lao động năm 2012 thì quản lý Nhà nước về lao động trong một KCN cụ thể bao gồm 5 nội dung cơ bản như sau:
a Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về lao động
Việc ban hành kịp thời, phù hợp và thường xuyên tuyên truyền pháp luật lao động sẽ làm thay đổi cơ bản nhận thức của người lao động và người sử dụng lao động trong việc tuyển dụng và thiết lập quan hệ lao động, thỏa ước lao động tập thể, từng bước mở rộng và đảm bảo cho các bên thực hiện quyền thỏa thuận của mình trên cơ sở pháp luật lao động Việc đổi mới cơ chế hợp đồng lao động, chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội đã tạo thành một hệ thống các cơ chế, chính sách tương đối đồng bộ, tạo môi trường pháp lý lành mạnh, hỗ trợ mạnh mẽ cho việc chuyển dịch nghề lao động giữa các đơn vị, các địa phương và khu vực Bộ luật lao động đã đổi mới căn bản chế độ quản lý lao động của Nhà nước ta: Nhà nước quản lý lao động ở tầm vĩ mô thông qua một cơ chế chính sách, pháp luật,
Trang 19kiểm tra, thanh tra nhưng không trực tiếp can thiệp vào quá trình quản lý sử dụng lao động của doanh nghiệp Chuyển từ cơ chế Nhà nước quy định mọi chế độ, chính sách của người lao động sang cơ chế chỉ ban hành khung pháp luật tối đa, hoặc tối thiểu làm căn cứ, chuẩn mực để các bên tự thỏa thuận, quyết định phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh của từng đơn vị (Viên Thế Giang, 2014)
Về cơ bản, Nhà nước cần hỗ trợ người sử dụng lao động và NLĐ nắm
rõ các quy định chủ yếu, liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động và sử dụng lao động, thể hiện qua các quy định về chế độ đối với NLĐ Việc nắm rõ các quy định về chế độ đối với NLĐ sẽ giúp NLĐ hiểu rõ quyền lợi của mình, thực hiện giám sát việc áp dụng các chính sách, quy định của pháp luật của doanh nghiệp đối với mình Về phía doanh nghiệp, việc thực hiện tốt các quy định về chế độ đối với NLĐ sẽ giúp doanh nghiệp tạo nên mối quan hệ tốt với NLĐ trong quá trình sử dụng lao động, NLĐ sẽ gắn bó lâu dài với doanh nghiệp (Viên Thế Giang, 2014)
Các quy định của pháp luật về chế độ đối với NLĐ gồm có: quy định về tiền lương, tiền thưởng, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, chế độ BHYT, BHXH Công tác tuyên truyền, tổ chức được thực hiện qua:
- Tổ chức lớp tập huấn cho các KCN; bố trí đội ngũ giảng viên, báo cáo viên tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật của Nhà nước đến DN và NLĐ
Hỗ trợ về chuyên môn để DN tự tổ chức phổ biến, tuyên truyền các chế độ, chính sách pháp luật lao động đến NLĐ trong DN
- Hỗ trợ bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ DN làm việc trong lĩnh vực quản trị nhân lực
- Thường xuyên giám sát chặt chẽ quá trình thực hiện của DN, kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc phát sinh (Viên Thế Giang, 2014)
b Nắm cung cầu và xây dựng quy hoạch nguồn lao động cho các doanh nghiệp trong KCN
Dự báo nhu cầu nhân lực là dự báo về cung – cầu lao động, độ chênh lệch giữa cung – cầu lao động với các ngành kinh tế, các nghề làm việc và các nhóm ngành đào tạo với các trình độ chuyên môn khác nhau như: Sơ cấp nghề, công nhân
Trang 20và trung cấp nghề, cao đẳng, đại học và trên đại học và dự báo chuyển dịch cơ cấu nghề nghiệp, chuyển dịch cơ cấu ngành đào tạo theo các trình độ chuyên môn Việc cung cấp thông tin đầu vào cho ngành, doanh nghiệp và người dân là rất quan trọng trong việc chuẩn bị nguồn lực và định hướng đầu tư Thông tin dự báo nhu cầu nhân lực được sử dụng như là cơ sở để doanh nghiệp tham khảo và lập chiến lược, kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh, người dân tham vấn và quyết định lựa chọn nghề nghiệp và sự nghiệp của mình nhất là trong việc lựa chọn ngành nghề đào tạo cho phù hợp, các cơ sở đào tạo (đại học, cao đẳng, nghề…) xây dựng kế hoạch đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội Thông qua việc tham khảo thông tin dự báo nhu cầu nhân lực, những người tham gia thị trường lao động sẽ có điều kiện để đưa ra các quyết định hợp lý nhờ vậy tránh được nhiều lãng phí xã hội không cần thiết, nâng cao năng suất lao động xã hội, phát triển thị trường lao động – việc làm Dự báo nhu cầu nhân lực nhằm góp phần giảm thiểu sự mất cân bằng giữa cung và cầu lao động trong các ngành kinh
tế nói chung, hạn chế việc đào tạo dư thừa hoặc mất cân đối giữa đào tạo và việc làm do thông tin sai lệch về việc làm, về nhân lực theo ngành nghề đào tạo…giữa người cung ứng và người tuyển dụng, góp phần phát triển và phân bổ, sử dụng nguồn nhân lực một cách hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững (Nguyễn Thị Hương, 2011)
Để có được thông tin và dự báo nhu cầu nhân lực, cần vận dụng một số phương pháp để tiếp cận nguồn nhân lực như sau:
Phương pháp thứ nhất: Dự báo nhu cầu nhân lực theo cách tiếp cận vĩ mô: Đây là phương pháp dựa trên số liệu của Cục Thống kê để dự báo cung cầu - lao động trung và dài hạn: Dựa trên số liệu về dân số sản xuất, dân số hoạt động kinh tế phân theo tuổi/giới tính/học vấn (dân số từ 15 tuổi trở lên trừ những người tham gia vào lực lượng vũ trang như công an, quân đội, những người bị tù tội…); dựa vào số liệu lao động theo ngành, nghề (Nguyễn Thị Hương, 2011)
Phương pháp thứ hai: Dự báo nhu cầu nhân lực theo cách tiếp cận từ doanh nghiệp: Cách tiếp cận này để dự báo cầu lao động phải xuất phát từ dự
báo việc sử dụng lao động như thế nào từ phía các doanh nghiệp (ngành, nghề,
Trang 21trình độ học vấn) qua đó sẽ dự báo được lao động cho từng ngành kinh tế, khu vực kinh tế trên địa bàn Để có được những thông tin dữ liệu này cơ bản phải được thu thập và tổng hợp từ các cuộc điều tra doanh nghiệp được tiến hành hàng năm (Nguyễn Thị Hương, 2011)
Phương pháp thứ ba: Dự báo nhu cầu nhân lực theo cách tiếp cận từ địa phương: Phương pháp này giúp cho việc dự báo nhu cầu lao động và nguồn lao
động ở các ngành nghề trong các làng, xã cần được sắp xếp cho phù hợp với từng ngành nghề của các địa phương để làm tăng sự gia tăng phát triển kinh tế (Nguyễn Thị Hương, 2011)
c Thống kê thông tin về lao động và thị trường lao động, về môi trường sống của người lao động trong doanh nghiệp
* Thống kê thông tin về lao động và thị trường lao động
Thông tin trong thời đại ngày nay được coi là nhân tố quyết định mọi sự
thắng lợi trong hoạt động của mỗi cơ quan tổ chức Khái niệm "thông tin" là một
khái niệm được hiểu từ nhiều góc độ khác nhau Ở mỗi góc độ thông tin có một nội hàm riêng, đặc trưng riêng
Thông tin về nhu cầu tuyển dụng lao động của doanh nghiệp được hiểu là những thông tin do doanh nghiệp cung cấp về nhu cầu tuyển dụng lao động đáp ứng
cả về số lượng và chất lượng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
Việc hỗ trợ cung cấp thông tin tuyển dụng lao động của doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp thông tin rộng rãi đến các đối tượng lao động một cách chính xác về số lượng và yêu cầu tuyển dụng; NLĐ nắm bắt chính xác, kịp thời thông tin tuyển dụng để lựa chọn và tham gia tuyển dụng
Để thực hiện tốt công tác hỗ trợ cung cấp thông tin tuyển dụng thì doanh nghiệp, KCN cần đảm bảo các yêu cầu khi cung cấp thông tin:
+ Thông tin phải chính xác, toàn diện, đầy đủ, thống nhất, kịp thời;
+ Đảm bảo yêu cầu về đường lối, định hướng, tư tưởng, kế hoạch và sự đồng thuận trong xã hội;
Trang 22+ Thông tin dễ nhận biết, dễ tiếp cận, đơn giản nhưng hiệu quả, đảm bảo cho việc tiếp nhận thông tin của các đối tượng tiếp nhận được dễ dàng, thuận lợi
Việc hỗ trợ cung cấp thông tin tuyển dụng thường được thực hiện qua các hình thức sau:
+ Văn bản thông báo, tài liệu của các doanh nghiệp, tổ chức có nhu cầu thông tin cung cấp;
+ Thông qua trao đổi, làm việc, tiếp cận trực tiếp đến các đối tượng cần cung cấp thông tin;
+ Thông qua các cuộc hội nghị, hội thảo, hội chợ;
+ Thông qua đội ngũ cung cấp thông tin tiếp nhận, chọn lọc, xử lý thông tin từ cơ sở, đối tượng tiếp nhận thông tin (Lê Văn Tâm, 2010)
* Môi trường làm việc của người lao động trong doanh nghiệp
Môi trường sống nói chung và môi trường làm việc của người lao động nói riêng ngày càng được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, được khẳng định là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Dựa trên nhiều quan niệm về môi trường thì tựu chung lại, môi trường làm
việc của người lao động có thể hiểu: “Môi trường làm việc của người lao động là tập hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh người lao động, ảnh hưởng tới người lao động và tác động đến các hoạt động sống của người lao động như: Điều kiện làm việc (không khí, ánh sáng, độ ồn, trang bị lao động…); quan hệ lao động (quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động, quan hệ giữa những người lao động với nhau); điều kiện sống của người lao động (thu nhập, nhà ở…) và các thể chế liên quan đến quá trình lao động của người lao động (các quy định của pháp luật, của đơn vị, doanh nghiệp sử dụng lao động đối với người lao động)”
Dựa trên quan niệm trên thì có thể đưa ra các nội dung về môi trường làm việc của người lao động như:
- Điều kiện làm việc: Đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật về không khí, ánh sáng, độ ồn, trang thiết bị lao động…
Trang 23- Các thể chế liên quan đến quá trình lao động của người lao động bao gồm các quy định của pháp luật, của đơn vị, doanh nghiệp sử dụng lao động đối với người sử dụng lao động và người lao động như: Quy định về thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi, các chế độ về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, nội quy làm việc…(Lê Văn Tâm, 2010)
Môi trường làm việc tốt, hiệu quả là môi trường làm việc tạo điều kiện cho người lao động phát huy thể lực, trí lực của bản thân thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, công việc được phân công đảm nhiệm Xây dựng môi trường làm việc tốt với việc hoàn thiện đầy đủ các yếu tố về điều kiện làm việc; mối quan hệ giữa doanh nghiệp (người sử dụng lao động) với người lao động, giữa những người lao động với nhau; đáp ứng đầy đủ nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần của người lao động; đảm bảo thực thi nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về lao động sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; tạo điểm nhấn để thu hút nhân lực đến làm việc tại các doanh nghiệp Khu công nghiệp; thúc đẩy sự phát triển nhanh, bền vững của các Khu công nghiệp (Lê Văn Tâm, 2010)
Hỗ trợ việc xây dựng một môi trường làm việc tốt trong các KCN chính là
hỗ trợ các KCN, doanh nghiệp KCN thực hiện tốt các nội dung trên, đảm bảo thu hút lao động đến làm việc và gắn bó lâu dài với doanh nghiệp, đây cũng là yếu tố quan trọng nhằm thu hút lao động ngoại tỉnh đến làm việc
d Xây dựng các cơ chế, thiết chế hỗ trợ phát triển quan hệ lao động, hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp khu công nghiệp
Phần lớn người lao động xuất thân từ nông thôn, chưa qua đào tạo chính quy về cách thức làm việc tập trung tại các nhà máy, lối sống và làm việc tự do,
Trang 24chưa định hình về tác phong công nghiệp, ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành luật pháp và tác phong công nghiệp còn kém Khi gặp một số vướng mắc với doanh nghiệp, một số lao động thường tỏ thái độ bằng những hành động tự phát, tuỳ tiện, không hợp tác như: bỏ làm, khiếu kiện, đình công Bên cạnh đó về phía người sử dụng lao động - doanh nghiệp còn chưa quan tâm đúng mức đến đời sống của người lao động, đôi khi còn có sự hiểu sai về các nội dung văn bản pháp luật đã quy định (Hoàng Thị Thu Hải, 2010) Việc tuyên truyền phổ biến các văn bản pháp luật về lao động cho người lao động sẽ góp phần nâng cao nhận thức của người lao động, trang bị cho họ những kiến thức cần thiết để hạn chế những xung đột với người sử dụng lao động, đồng thời cũng làm cho người sử dụng lao động hiểu rõ hơn và thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về lao động đã đề ra
Do đó, ban hành các văn bản pháp luật để quản lý người lao động nói chung, người lao động đang làm việc trong các Khu công nghiệp nói riêng
là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước Tuy nhiên để các doanh nghiệp cũng như người lao động trong các Khu công nghiệp áp dụng đúng các quy định của pháp luật về xây dựng nội quy lao động, thỏa ước lao động tập thể, ký kết hợp đồng lao động, quy định trả công, trả lương, trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp thì bên cạnh công tác tuyên truyền vận động, các cơ quan quản lý Nhà nước cần hướng dẫn người lao động và người sử dụng lao động quy trình, cách thức tổ chức thực hiện Việc tổ chức hướng dẫn các doanh nghiệp, người lao động áp dụng đúng các quy định của pháp luật có thể được thực hiện thông qua tổ chức các lớp tập huấn cho cán bộ quản lý lao động trong các doanh nghiệp, thông qua các cuộc gặp gỡ tư vấn của cán bộ Liên đoàn lao động hay cán bộ Ban quản
lý các KCN với doanh nghiệp và với những cá nhân đại diện cho những người lao động trong các doanh nghiệp (Hoàng Thị Thu Hải, 2010)
Trong quá trình hoạt động sản xuất không thể tránh khỏi những xung đột giữa người lao động và người sử dụng lao động Mục tiêu của quản lý Nhà nước về lao động là bảo vệ tốt nhất cho các chủ thể tham gia quan hệ lao động Do vậy hướng dẫn xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong các doanh nghiệp là vấn đề cần được quan tâm thực
Trang 25hiện Mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động là yếu tố quan trọng quyết định đến hiệu và trong quá trình sản xuất Tạo dựng được mối quan hệ gắn bó giữa doanh nghiệp và người lao động sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển sản xuất, tăng năng suất, người lao động sẽ yên tâm
hơn và gắn bó với doanh nghiệp (Viên Thế Giang, 2010)
Việc nắm chắc thông tin về người sử dụng lao động và tổ chức công đoàn cơ sở của từng doanh nghiệp rất quan trọng, bởi lẽ: Trong quá trình hoạt động sản xuất, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động và người sử dụng lao động tạo nên quan hệ lao động Người sử dụng lao động thực hiện quyền quản lý lao động của mình thông qua các hoạt động cơ bản như: tuyển chọn, sắp xếp, bố trí lao động; ban hành nội quy, quy chế, mệnh lệnh, quyết định nhằm bảo đảm việc sắp xếp, bố trí lao động; tổ chức, điều hành các hoạt động của người lao động; kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ đã giao cho người lao động; xử lý vi phạm của người lao động…Thông qua các hình thức này, hoạt động quản lý lao động của người
sử dụng lao động có liên quan trực tiếp đến việc tạo lập môi trường lao động cho người lao động Các hình thức thực hiện quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động phải thực hiện trên cơ sở quy định của pháp luật Trong quá trình quản lý lao động nếu người sử dụng lao động có hành
vi vi phạm pháp luật sẽ bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý Vì vậy người sử dụng lao động có ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của người lao động (Viên Thế Giang, 2010)
Tổ chức công đoàn cơ sở là tổ chức được người lao động bầu lên với nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người lao động trước người sử dụng lao động, đại diện cho người lao động trước pháp luật Vì vậy cần phải thành lập tổ chức công đoàn cơ sở ngay sau khi doanh nghiệp đi vào hoạt động, có đủ số lượng đoàn viên theo quy định vì tổ chức công đoàn cơ
sở trong các doanh nghiệp là tổ chức quan trọng nhất để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng cho người lao động và người sử dụng lao động, tạo cầu nối giữa ba bên để xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ
Trang 26e Thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật lao động, pháp luật bảo hiểm xã hội và xử lý các vi phạm pháp luật lao động, giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật
* Thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật lao động, pháp luật bảo hiểm xã hội
và xử lý các vi phạm pháp luật lao động
Hoạt động thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật lao động, pháp luật bảo hiểm xã hội và xử lý các vi phạm pháp luật lao động của các cơ quan Nhà nước là một trong những công cụ không thể thiếu đối với quản lý hành chính Nhà nước Ở đâu có quản lý Nhà nước thì ở đó cần có thanh tra, kiểm tra (Hoàng Quốc Hùng, 2012) Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra để đảm bảo quyền lợi của người lao động, xử lý nghiêm các doanh nghiệp xâm phạm quyền lợi hợp pháp của người lao động Xây dựng và thực hiện tốt các chính sách BHXH,
BHYT, BHTN đối với người lao động (Nguyễn Chí Đào, 2010) Những hoạt
động này tạo nên hiệu quả to lớn cho hoạt động quản lý Nhà nước về lao động trong các doanh nghiệp KCN Chỉ khi có một đội ngũ và bộ máy thanh tra lao động chuyên trách, được đầu tư thỏa đáng về nguồn lực và được bảo đảm bởi các điều kiện pháp lý chặt chẽ, mới đủ khả năng giám sát, kiểm tra, phát hiện và xử
lý vi phạm pháp luật lao động, pháp luật bảo hiểm xã hội trong các doanh nghiệp
Hệ thống này phải có chức năng là: Bảo đảm việc thi hành quy định pháp luật về điều kiện lao động và bảo vệ người lao động trong khi làm việc; cung cấp thông tin và góp ý kiến về kỹ thuật, cách thức hữu hiệu nhất để tuân thủ quy định pháp luật; lưu ý cơ quan có thẩm quyền về những khiếm khuyết của các quy định pháp luật Ngoài ra, tổ chức công đoàn và tổ chức đại diện người sử dụng lao động cũng là những chủ thể tham gia vào các hoạt động này
* Giải quyết các tranh chấp lao động theo quy định pháp luật
Trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động, quan hệ giữa người lao động với người sử dụng lao động không phải lúc nào cũng diễn biến một cách
ổn định bình thường theo đúng những thỏa thuận Giữa họ có thể sẽ xuất hiện những bất đồng về quyền và lợi ích trong lao động Có những bất đồng được các bên thỏa thuận và giải quyết được song cũng có thể có những bất đồng mà sự
Trang 27thương lượng của hai bên không thể giải quyết được Những bất đồng, xung đột nếu được giải quyết tốt thì sẽ không trở thành mâu thuẫn, ngược lại, nếu không được giải quyết thì dễ trở thành những mâu thuẫn gay gắt Lúc này, họ phải cần đến một trung gian đó là cơ quan quản lý Nhà nước về lao động để giải quyết theo đúng chức năng quyền hạn
Những năm qua, cùng với sự phát triển của quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường, tranh chấp lao động phát sinh và ngày càng gia tăng Quy mô
và những ảnh hưởng của nó đối với nền kinh tế xã hội ngày càng lớn Một số cuộc tranh chấp do không được giải quyết thỏa đáng đã dẫn đến những cuộc đình công, kéo dài ngày và thu hút đông đảo người lao động tham gia
Những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tranh chấp lao động dưới góc độ pháp lý có thể chia thành hai loại nguyên nhân: chủ quan và khách quan Nguyên nhân chủ quan đó là sự hiểu biết về pháp luật lao động của người lao động, người
sử dụng lao động còn hạn chế Nguyên nhân khách quan, một trong những nguyên nhân làm phát sinh tranh chấp lao động là hệ thống pháp luật về lao động chưa được đầy đủ, đồng bộ và kịp thời (Thư viện Học liệu mở Việt Nam, 2014)
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước đối với lao động trong Khu công nghiệp
2.1.3.1 Các chính sách của Nhà nước và của địa phương
Chế độ, chính sách chung của Nhà nước ảnh hưởng sâu sắc đến quản lý Nhà nước về lao động trong KCN, nên để thực hiện mục tiêu phát triển KCN nói chung, duy trì và phát triển lực lượng lao động nói riêng thì Nhà nước phải chú ý đến khía cạnh xây dựng và phát triển chính sách về quản lý lao động, lao động, người sử dụng lao động sao cho chúng không trái chiều với các quy định khác Quản lý Nhà nước về lao dộng trong chính sách chung được hiểu là các nội dung
về quản lý con người, quản lý chủ thể sử dụng lao động…, phục vụ mục tiêu chung là tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế nhằm thực hiện chủ trương phát triển công nghiệp Điều quan trọng là chính sách quản lý Nhà nước
về lao động phải đảm bảo đạt mục tiêu đề ra của Nhà nước nhưng cũng phải đảm bảo tính hấp dẫn với nhà đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiêp
Trang 28- Bộ luật lao động: Bộ luật lao động quy định quyền và nghĩa vụ của
người lao động và của người sử dụng lao động, các tiêu chuẩn lao động, các nguyên tắc sử dụng và quản lý lao động, góp phần thúc đẩy sản xuất, bảo vệ quyền làm việc, lợi ích và các quyền khác của người lao động, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động được hài hòa và ổn định, góp phần phát huy trí sáng tạo và tài năng của người lao động, của người quản lý lao động, nhằm đạt năng suất, chất lượng và tiến bộ xã hội trong lao động, sản xuất, dịch vụ, hiệu quả trong sử dụng
và quản lý lao động, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Tuy nhiên trong thực tế các cơ quản lý Nhà nước về lao động vẫn gặp không ít những khó khăn trong quá trình áp dụng luật lao động để giải quyết các vụ việc tranh chấp, xung đột giữa cá nhân, tập thể người lao động trong doanh nghiệp KCN Vì vậy, cần nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện pháp luật về lao động, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới và kịp thời giải quyết những phát sinh, đảm bảo quyền lợi của người lao động và tránh tình trạng “lách luật” của doanh nghiệp
- Luật BHXH: Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một
phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội giữ vai trò trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội và tạo nền tảng bền vững cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Mục tiêu cơ bản của bảo hiểm xã hội là:(i) Ổn định cuộc sống người lao động, trợ giúp người lao động khi gặp rủi ro về sức khỏe, tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp, mất việc làm… sớm phục hồi sức khỏe, việc làm, góp phần duy trì và phát triển nguồn lao động cho nền sản xuất xã hội; (ii) Tạo sự an tâm, tin tưởng của người lao động khi về già có thu nhập ổn định sau
cả cuộc đời lao động
- Các Nghị định, Thông tư, văn bản quy phạm pháp luật quy định về KCN, lao động: Nghị định số 29/2008/NĐ – CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ; Nghị
định số 164/2013/NĐ – CP ngày /11/2013 của Chính phủ; Nghị định số
Trang 29* Cơ quan quản lý Nhà nước về lao động
Cơ quan quản lý Nhà nước về lao động cấp địa phương bao gồm UBND tỉnh, Sở Lao động - Thương binh và XH, Ban quản lý các KCN và các đơn vị khác có liên quan, thực hiện nhiệm vụ theo sự phân cấp, ủy quyền của UBND cấp tỉnh Năng lực của các cơ quan này có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả quản
lý thông qua việc ra quyết định hay thực hiện quyết định quản lý
Ủy ban nhân dân tỉnh có ảnh hưởng lớn trong việc ban hành và giám sát thực hiện quy chế phối hợp giữa Ban quản lý các KCN với các sở ban ngành liên quan quyết định chất lượng quản lý Nhà nước về lao động đối với doanh nghiệp KCN Tỉnh chính là cấp tổ chức và phối hợp các cơ sở đào tạo nghề tại địa phương để đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng lao động cho KCN Tỉnh cũng tiến hành kiểm tra giám sát việc giải quyết các vấn đề phát sinh trong thẩm quyền và thực hiện các nghĩa vụ của Nhà nước đối với các chủ đầu tư và người lao động trong KCN… Nếu việc phối hợp không tốt thì dù quyết tâm đến đâu quản lý Nhà nước cũng sẽ không hiệu quả Ngược lại quy chế phối hợp rõ ràng, hiệu lực phối hợp cao, tiến độ phối hợp nhịp nhàng sẽ làm cho công tác quản lý Nhà nước thích ứng nhanh và hiệu quả cao hơn Chính vì thế, sự quan tâm và năng lực giải quyết các vấn đề này của cấp tỉnh ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng và kết quả quản lý Nhà nước đối với KCN (Vũ Minh Tiến, 2011)
Sở Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan chuyên môn tham mưu, giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về các lĩnh vực: việc làm; dạy nghề; lao động; tiền lương, tiền công; bảo hiểm xã hội (bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp); an toàn lao động về các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Sở và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn khác theo phân cấp, uỷ quyền của UBND tỉnh và theo quy định của pháp luật Hiện nay, theo phân cấp quản lý, UBND tỉnh, Sở Lao động - Thương
Trang 30binh và Xã hội, UBND cấp huyện ủy quyền trực tiếp cho Ban quản lý các KCN trong việc ra quyết định và quản lý trực tiếp lao động trong KCN Chính vì vậy, cần nâng cao năng lực và trình độ của cán bộ quản lý, đào tạo cán bộ có chuyên môn sâu, thường xuyên theo dõi và kiểm tra quá trình thực hiện pháp luật, chính sách về lao động của các doanh nghiệp
Trình độ, năng lực của cán bộ quản lý Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả trong công tác quản lý Nhà nước về lao động đối với các doanh nghiệp KCN Đây là cơ quan trực tiếp hay gián tiếp ban hành các chính sách, chế
độ, đồng thời thực hiện các hoạt động thanh tra, kiểm tra các hoạt động về quản
lý lao động tại các doanh nghiệp Bởi vậy, sự am hiểu của cán bộ quản lý về ngành nghề lĩnh vực mình quản lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng nắm bắt tình hình của họ với lĩnh vực đó, do đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới việc cán bộ quản lý đó có phân tích và đưa ra được những kết luận đúng đắn hay không, có
dự thảo ra được những chính sách quản lý đúng đắn hay không? Thêm vào đó, phẩm chất đạo đức của cán bộ quản lý sẽ quyết định việc họ có thực hiện quản lý đúng theo lương tâm trách nhiệm hay không?
* Doanh nghiệp Khu công nghiệp
Doanh nghiệp KCN là đơn vị, tổ chức được cấp giấy chứng nhận đầu tư vào các KCN tập trung của tỉnh theo quy định của pháp luật; trực tiếp quản lý và
sử dụng người lao động, đồng thời thực hiện các quy định và hướng dẫn của pháp luật về lao động Các loại hình doanh nghiệp khác nhau có cách thức tổ chức quản lý, sử dụng lao động khác nhau Vì vậy, bộ máy làm công tác hành chính, nhân sự đòi hỏi phải có năng lực chuyên môn và ý thức trách nhiệm cũng như sự am hiểu các quy định của pháp luật về lao động, sử dụng lao động, xây dựng các thức tổ chức và sử dụng lao động phù hợp, hiệu quả
* Công đoàn cơ sở trong KCN
Được thành lập theo quy định của Luật Công đoàn và pháp luật có liên quan, tổ chức và hoạt động trong các KCN Năng lực quản lý của các cán bộ công đoàn cơ sở trong KCN có ảnh hưởng đặc biệt lớn đến công tác quản lý Nhà nước về lao động trong doanh nghiệp Công đoàn cơ sở thực hiện vai trò đại
Trang 31diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên công đoàn, người lao động; tham gia, thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thỏa ước lao động tập thể, thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động, quy chế dân chủ ở doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức; tham gia, hỗ trợ giải quyết tranh chấp lao động; đối thoại, hợp tác với người sử dụng lao động xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến bộ tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức
Tổ chức công đoàn các cấp tham gia với cơ quan quản lý Nhà nước cùng cấp và tổ chức đại diện người sử dụng lao động để trao đổi, giải quyết các vấn đề
về lao động (Luật công đoàn, 2012)
Trong doanh nghiệp tại KCN, phần lớn người lao động đều xuất thân từ những vùng nông thôn sản xuất nông nghiệp, trình độ thấp, thiếu hiểu biết các quy định của pháp luật nên lối làm việc tự do, tác phong thiếu chuyên nghiệp đã
ăn sâu vào mỗi người Vì vậy công tác quản lý lao động của các cơ quan Nhà nước và doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc hướng dẫn, tuyên truyền, chỉ đạo người lao động tuân thủ, chấp hành những quy định của luật pháp và DN
Có thể nói, người lao động, chất lượng lao động là yếu tố sống còn của doanh nghiệp Lao động có tay nghề nhưng thiếu ý thức trách nhiệm, tinh thần kỷ luật thì hiệu quả công việc cũng không cao Chính vì vậy, xây dựng doanh nghiệp luôn gắn với hệ thống quy chế, quy định cụ thể về kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất an toàn lao động và vệ sinh lao động
Trang 322.1.3.3 Quy mô của khu công nghiệp và của doanh nghiệp
* Khu công nghiệp
Quy mô KCN càng lớn, số lượng doanh nghiệp càng nhiều thì cần càng nhiều lao động nên công tác quản lý về lao động sẽ phức tạp hơn Nhìn chung, mỗi KCN đều có quy mô và cách quản lý lao động khác nhau Các doanh nghiệp đang hoạt động tại các KCN gồm cả trong nước và ngoài nước với nhiều ngành nghề, lĩnh vực sản xuất khác nhau
* Doanh nghiệp
Doanh nghiệp có quy mô lớn hay nhỏ đều ảnh hưởng đến công tác quản lý Nhà nước về lao động trong KCN, doanh nghiệp càng lớn, số lượng lao động càng nhiều thì công tác quản lý càng phức tạp Bên cạnh đó, trình độ lao động, quê quán, giới tính, quốc tịch của người lao động là những yếu tố ảnh hưởng không nhỏ trong công tác quản lý của cán bộ quản lý Nhà nước về lao động
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý Nhà nước về lao động trong các khu công nghiệp ở một số nước trên thế giới
2.2.1.1 Kinh nghiệm của Thái Lan
Cơ quan quản lý KCN Thái Lan (IEAT) là cơ quan trực thuộc Bộ Công nghiệp, Thái Lan, được thành lập năm 1972 Chức năng của cơ quan này là thành lập và tổ chức hoạt động các KCN, đảm bảo sự phối hợp giữa các KCN Bên cạnh đó, IEAT còn thực hiện một số chức năng theo phân cấp, ủy quyền từ chính quyền trung ương cho các cơ quan địa phương IEAT đảm nhiệm một số lĩnh vực trong KCN như: bảo vệ môi trường, an toàn lao động, sử dụng đất, quản lý và xúc tiến xuất nhập khẩu, phát triển hạ tầng (điện, nước, điện thoại, mua bán hàng hóa, nhà ở và đường giao thông)
Cơ quan quản lý Nhà nước về KCN của Thái Lan thực hiện tốt việc tổ chức cung cấp các dịch vụ hỗ trợ hành chính công cho nhà đầu tư thông qua cơ chế hành chính “một cửa” và xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm Ngoài các yếu
tố về nhân lực, cơ sở vật chất thiết bị, yếu tố quan trọng để đảm bảo cung cấp dịch
vụ công là các cơ quan này được phân quyền, giao chức năng nhiệm vụ đầy đủ trong
Trang 33quản lý Nhà nước về KCN, đầu tư Cụ thể, trong lĩnh vực quản lý lao động nước ngoài, IEAT còn được quyết định cho phép chuyên gia nước ngoài được lưu trú vượt quá thời hạn cho phép tại Luật cư trú Thái Lan (Khánh Linh, 2015)
2.2.1.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Các DN Hàn Quốc có cung cách quản trị hà khắc, thiên về quyền lực, mệnh lệnh và những hình thức kỷ luật nghiêm ngặt, phù hợp với một xã hội công nghiệp hiện đại Ý thức kỷ luật đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong mọi mặt của đời sống và lãng phí thời gian là có tội Cũng giống như người Nhật, NLĐ Hàn Quốc luôn mong có việc làm lâu dài và ổn định nên thường coi xí nghiệp như nhà mình và gắn bó hết lòng Tính tôn ty trật tự trong cộng đồng là một yếu tố rất quan trọng Chính vì vậy, trong các DN Hàn Quốc ít có tranh chấp lao động Đình công thường chỉ xảy ra ở diện rộng, do công đoàn ngành hay Liên đoàn lao động toàn quốc lãnh đạo và thường để phản đối một chủ trương, chính sách nào đó của Nhà nước có ảnh hưởng đến quyền lợi người lao động (Vũ Việt Hằng, 2004)
2.2.2 Kinh nghiệm quản lý Nhà nước về lao động trong các khu công nghiệp ở một số tỉnh
2.2.2.1 Kinh nghiệm của Bắc Giang
Sáu tháng đầu năm 2014, tại các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Giang có 14
dự án đầu tư nước ngòai (FDI) được cấp giấy chứng nhận đầu tư, tổng diện tích đất cho thuê 21 ha, 06 dự án điều chỉnh tăng vốn Tổng số lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp KCN Bắc Giang khoảng 38.562 người, tăng 7.413 người so với cùng kỳ Trong đó, lao động địa phương là 29.576 người, chiếm 76,7%, tăng 4.779 người so với cùng kỳ Số lao động đã ký hợp đồng lao động đạt 36.536 người, đạt 94,7%, tăng 7.797 người so với cùng kỳ Số lao động đã tham gia BHXH đạt 32.452 người, đạt 84%
Thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, trong thời gian qua, Ban Quản
lý các KCN tỉnh Bắc Giang luôn hướng dẫn, giám sát việc thực hiện pháp luật có liên quan đối với các doanh nghiệp KCN, từng bước tạo được kỷ cương, nề nếp trong KCN Ban đã tổng hợp, trình Chủ tịch UBND tỉnh ra thông báo chấp thuận
Trang 34sử dụng lao động người nước ngoài cho 28 doanh nghiệp; thực hiện cấp mới 96 giấy phép lao động, cấp lại 100 giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc trong các doanh nghiệp KCN; ra thông báo Nội quy lao động cho 06 doanh nghiệp; phối hợp với Công đoàn các KCN vận động thành lập thêm 04 tổ chức Công đoàn cơ sở với 415 đoàn viên; xây dựng kế hoạch triển khai đến các doanh nghiệp, đồng thời phối hợp tổ chức Tuần lễ Quốc gia về an toàn vệ sinh lao động
- phòng chống cháy nổ lần thứ 16 năm 2014; phối hợp liên ngành kiểm tra 09 doanh nghiệp, thanh tra 02 doanh nghiệp về việc chấp hành pháp luật lao động
Để nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với các KCN trên địa bàn, BQL các KCN đã thực hiện một số giải pháp như sau:
Một là, nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước, phối hợp với các
ngành liên quan trong việc theo dõi, nắm bắt tình hình, kiểm tra, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động để làm chuyển biến nhận thức của người sử dụng lao động và người lao động, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra và áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm đủ mạnh, đủ răn đe đối với người sử dụng lao động và người lao động
Hai là, thận trọng trong quá trình xem xét, thẩm tra dự án đầu tư vào KCN trên các phương diện: suất đầu tư, công nghệ, năng lực thực hiện, nguy cơ ô nhiễm môi trường, hạn chế những dự án có suất đầu tư thấp, ít mang lại hiệu quả
cho tỉnh, đặc biệt là trong vấn đề đóng góp cho ngân sách tỉnh
Ba là, giám sát chặt chẽ quá trình triển khai dự án, rà soát tình hình sử dụng đất, tiến độ đầu tư của các doanh nghiệp; xử lý và đề xuất kịp thời với cấp
có thẩm quyền các biện pháp xử lý các doanh nghiệp không thực hiện đúng các quy định về đầu tư, xây dựng, môi trường, lao động, trong KCN
Bốn là, thực hiện cải cách hành chính, đơn giản hoá thủ tục hành chính,
triển khai thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, cung cấp công khai, đầy đủ các quy định của pháp luật về các vấn đề có liên quan cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện chức năng quản lý Nhà nước của Ban
Năm là, nắm bắt tình hình an ninh trật tự trong các KCN, nhất là tình hình,
tư tưởng của người lao động làm việc trong các doanh nghiệp của Trung Quốc, Đài
Trang 35Loan, Hồng Kông Kịp thời phát hiện và xử lý triệt để, không để xảy ra mít tinh, biểu tình trái pháp luật gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự và môi trường đầu tư (Nguyễn Anh Quyền, 2014)
2.2.2.2 Kinh nghiệm của Bắc Kạn
Công tác quản lý về lao động, việc làm đã được các cấp, các ngành, các địa phương, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Cạn quan tâm thực hiện, việc tuân thủ pháp luật lao động đã từng bước đi vào nề nếp theo đúng quy định Tuy nhiên, vẫn còn một số địa phương, doanh nghiệp trên địa bàn chưa thực hiện tốt các quy định của pháp luật lao động, không thực hiện việc thống kê, tổng hợp báo cáo về chỉ tiêu tạo việc làm tăng thêm, việc khai trình sử dụng lao động, tình hình thay đổi về lao động trong các doanh nghiệp tại địa phương, tình hình mất việc làm, nợ đọng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp…gây khó khăn cho công tác quản lý của cơ quan quản lý lao động các cấp Để kịp thời chấn chỉnh và khắc phục những hành vi vi phạm pháp luật lao động nêu trên, nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về lao động, việc làm trên địa bàn, ngày 10/4/2015, UBND tỉnh có công văn số 1248/UBND – VX yêu cầu UBND các huyện, thị xã:
Chỉ đạo UBND các xã, phường, thị trấn nghiêm túc thực hiện việc tổng hợp chỉ tiêu tạo việc làm tăng thêm hàng năm tại địa phương; thực hiện công tác báo cáo định kỳ theo hướng dẫn tại Điều 3, Điều 4 Thông tư số 23/2014/TT-BLĐTBXH ngày 29/8/2014 của Bộ Lao động – Thương binh và
xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 03/2014/NĐ-CP ngày 16/01/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của
Bộ Luật Lao động về việc làm
Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về lao động, việc làm tại địa phương Hướng dẫn các đơn vị, tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp có sử dụng lao động trên địa bàn thực hiện đầy đủ các quy định về việc ký kết hợp đồng lao động theo Thông tư số 30/2013/TT-BLĐTBXH ngày 25/10/2013 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 44/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều
Trang 36của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động; thủ tục tuyển, quản lý và sử dụng lao động, báo cáo tình hình sử dụng lao động, lập, quản lý và sử dụng sổ quản lý lao động theo quy định tại Điều 5, Điều 6, Điều 7 Thông tư số 23/2014/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Chỉ đạo các cơ quan chức năng tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi các quy định của Bộ luật Lao động trên địa bàn nhằm phát hiện và
xử lý kịp thời các sai phạm trong lĩnh vực quản lý lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, an toàn vệ sinh lao động đối với các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có sử dụng lao động theo Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động Cân đối bố trí đủ kinh phí hàng năm để triển khai công tác thu thập, cập nhật thông tin thị trường lao động theo quy định tại Thông tư số 25/2009/TT-BLĐTB&XH ngày 14/7/2009 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về việc hướng dẫn thu thập và xử lý thông tin về cung, cầu lao động (Bích Huệ, 2015)
2.2.2.3 Kinh nghiệm của tỉnh Quảng Nam
Năm 2009, Sở LĐ Thương binh &Xã hội tỉnh Quảng Nam đã ủy quyền thực hiện một số nhiệm vụ quản lý Nhà nước về lao động trong các KCN cho BQL các KCN tỉnh Quảng Nam và BQL Khu kinh tế mở Chu Lai Theo đó các
cơ quan được ủy quyền sẽ thực hiện một số nhiệm vụ như: cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi giấy phép lao động, đăng ky nội quy lao động của DN, đăng ký thỏa ước lao động tập thể của DN…
Kết quả thực hiện 5 năm (2009 – 2014), toàn tỉnh có 8 KCN với 142 DN hoạt động, thu hút hơn 36,5 nghìn lao động, BQL các KCN, KKT đã cấp mới và gia hạn 263 giấy phép lao động, cấp lại 56 giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài làm việc cho các DN, quyết định thừa nhận Nội quy lao động của 52 DN, tiếp nhận thỏa ước lao động tập thể của 23 DN, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho NLĐ và sử dụng NLĐ; hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các DN thực hiện chế độ, chính
Trang 37sách đối với NLĐ như: tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp thôi việc, BHXH, BHYT, thời giờ làm việc, bồi thường tai nạn lao động, an toàn, vệ sinh lao động, phối hợp với các ngành liên quan giải quyết kịp thời, dứt điểm các vụ tranh chấp lao động tập thể tại các DN…
Ông Lê Sáu – Phó Giám đốc Sở LĐ Thương binh & Xã hội cho biết, ngoài những kết quả đạt được, trong quá trình thực hiện vẫn còn những vướng mắc, tồn tại như: Số DN đăng ký nội quy lao động, thỏa ước lao động tập thể còn thấp, chỉ có 53/142 DN; nội dung nội quy lao động, thỏa ước lao động còn chưa
cụ thể, có những nội dung không phù hợp với quy định của pháp luật lao động, hồ
sơ cấp giấy phép, gia hạn giấy phép cho lao động nước ngoài còn thiếu những thủ tục theo quy định….Để thực hiện tốt công tác QLNN về LĐ trong các KCN cần có
sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan được ủy quyền và cơ quan ủy quyền, tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện những quy định của pháp luật lao động của các DN, xử lý nghiêm những hành vi vi phạm (Thúy Hằng, 2015)
2.2.2.4 Kinh nghiệm của tỉnh Nam Định
Toàn tỉnh Nam Định hiện có 3 KCN được thành lập và đi vào hoạt động, gồm: KCN Hòa Xá (TP Nam Định), KCN Mỹ Trung (Mỹ Lộc) và KCN Bảo Minh (Vụ Bản), với tổng diện tích 601,85ha, thu hút 157 dự án đầu tư, trong đó
có 138 dự án đã đi vào sản xuất, kinh doanh Hiện các doanh nghiệp ở các KCN đang sử dụng khoảng 30 nghìn lao động, trong đó lao động nữ chiếm 63,25%
Để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về lao động, Ban Quản lý các KCN tỉnh chủ động phối hợp với Sở LĐ-TB và XH, BHXH tỉnh, LĐLĐ tỉnh tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức và ý thức thực hiện pháp luật về lao động của người lao động cũng như người sử dụng lao động, giúp người lao động bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp Đồng thời tổ chức phổ biến, hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện tốt các quy định của pháp luật về lao động, tiền lương, BHXH, BHYT và các vấn đề liên quan đến quyền lợi người lao động Ban Quản lý các KCN tỉnh yêu cầu các doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc các quy định về ký kết hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, chế độ tiền lương, tiền công, thời gian làm việc, nghỉ ngơi, xây dựng và thực hiện nội quy
Trang 38lao động, công tác ATLĐ-PCCN, việc thực hiện Luật BHXH, thành lập tổ chức công đoàn… Ban Quản lý các KCN cử cán bộ thường xuyên đến các doanh nghiệp kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về pháp luật lao động; tiếp xúc với người lao động và người sử dụng lao động, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của họ và tư vấn để các bên trong quan hệ lao động thực hiện đúng luật, bảo đảm hài hòa quyền lợi Mặt khác, qua các cuộc tiếp xúc, Ban Quản lý các KCN tỉnh cũng nắm bắt được những mâu thuẫn có thể phát sinh, từ đó đề ra các giải pháp tháo gỡ kịp thời Với việc triển khai đồng bộ, hiệu quả các biện pháp từ tuyên truyền, vận động, hướng dẫn đến công tác giám sát việc thực thi pháp luật
về lao động tại doanh nghiệp trong các KCN của tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực Hầu hết các doanh nghiệp đã nghiêm túc thực hiện các quy định của pháp luật về lao động, tiền lương, BHXH đối với người lao động Theo thống kê của Ban Quản lý các KCN tỉnh, trong tổng số 30 nghìn lao động, tỷ lệ người lao động đã được ký kết hợp đồng lao động chiếm 97,8%, chủ yếu hợp đồng từ 12 tháng đến 36 tháng; 81% số lao động được tham gia BHXH Hầu hết các doanh nghiệp trả lương cho người lao động cao hơn mức tối thiểu vùng theo quy định của Nhà nước và thực hiện chế độ bồi dưỡng cho người lao động làm tăng ca, thêm giờ đầy đủ, kịp thời Có 58 doanh nghiệp (chiếm 49% tổng số doanh nghiệp) đã xây dựng hệ thống thang lương, bảng lương, xây dựng định mức lao động, đơn giá tiền lương, quy chế trả lương, tiền thưởng và đăng ký với cơ quan chức năng; 70 doanh nghiệp đăng ký nội quy lao động, (chiếm 59,3%) Đã có 72 doanh nghiệp thành lập tổ chức công đoàn, bảo vệ các quyền lợi chính đáng của người lao động, 100% doanh nghiệp đảm bảo thời gian làm việc tiêu chuẩn 8 giờ/ngày, 48 giờ/tuần; bố trí đủ ngày nghỉ hàng tuần cho người lao động Thu nhập bình quân của người lao động đạt 3,5-3,8 triệu đồng/tháng Phần lớn các doanh nghiệp thực hiện tương đối tốt về công tác ATVSLĐ như: Có cán bộ được phân công thực hiện công tác ATVSLĐ, thành lập mạng lưới an toàn vệ sinh viên, ban hành kế hoạch bảo hộ lao động, lập sổ theo dõi cấp phương tiện bảo hộ
cá nhân, đầu tư, lắp đặt hệ thống chống nóng cho xưởng sản xuất, huấn luyện công tác ATVSLĐ cho người lao động, niêm yết nội quy vận hành ATLĐ, định
Trang 39kỳ kiểm định máy móc, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ, thực hiện đo kiểm môi trường lao động, che chắn thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ, thực hiện tốt việc khám sức khoẻ định kỳ đối với người lao động, có chế độ phụ cấp cho lao động làm việc trong điều kiện có yếu tố nguy hiểm, độc hại
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý Nhà nước về lao động
ở các KCN vẫn còn một số khó khăn: Một số doanh nghiệp chưa thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về lao động như chưa thành lập tổ chức công đoàn cơ sở, chưa xây dựng và đăng ký nội quy lao động… Hiện nay mức thu nhập bình quân của người lao động còn thấp, đời sống nhiều người lao động khó khăn; đời sống tinh thần của người lao động ở trọ còn nghèo nàn; một bộ phận người lao động thường xuyên “nhảy việc”; nguy cơ tranh chấp lao động về lợi ích vẫn còn xảy ra Nhằm đẩy mạnh việc thực hiện các quy định của pháp luật
về lao động, ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ do UBND tỉnh ủy quyền như: Nhận các báo cáo về việc cho thôi việc nhiều lao động của các doanh nghiệp; việc cho thuê lại lao động của doanh nghiệp trong KCN; kết quả đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho lao động hằng năm của doanh nghiệp; tiếp nhận thỏa ước lao động tập thể, đăng ký nội quy lao động của doanh nghiệp; tiếp nhận báo cáo giải trình của doanh nghiệp về nhu cầu sử dụng người nước ngoài đối với từng vị trí công việc mà người lao động Việt Nam chưa đáp ứng được để trình Chủ tịch UBND tỉnh quyết định, đầu tháng 6-2015, Sở LĐ-TB và
XH, UBND Thành phố Nam Định và các huyện Mỹ Lộc, Vụ Bản đã tổ chức ký văn bản ủy quyền cho Ban Quản lý các KCN tỉnh thực hiện một số nhiệm vụ quản lý Nhà nước về lao động trong các KCN Theo đó, Sở LĐ-TB và XH ủy quyền cho Ban Quản lý các KCN tỉnh thực hiện các nhiệm vụ: Tiếp nhận và xử
lý hồ sơ đăng ký thực hiện hợp đồng lao động thực tập của doanh nghiệp trong KCN hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề có thời gian dưới 90 ngày Tiếp nhận khai trình việc sử dụng lao động, báo cáo tình hình thay đổi về lao động của các doanh nghiệp trong KCN Nhận thông báo về địa điểm, địa bàn, thời gian bắt đầu hoạt động và người quản lý, người giữ chức danh chủ chốt của doanh nghiệp cho thuê lại lao động Cấp, cấp lại, thu hồi giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc
Trang 40cho doanh nghiệp trong KCN Xác nhận người lao động nước ngoài làm việc cho các doanh nghiệp trong KCN không thuộc diện cấp giấy phép lao động Nhận thông báo doanh nghiệp trong các KCN về việc tổ chức làm thêm giờ từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm UBND Thành phố Nam Định và các huyện Mỹ Lộc, Vụ Bản ủy quyền cho Ban Quản lý các KCN tỉnh thực hiện tiếp nhận hệ thống thang lương, bảng lương, định mức lao động của doanh nghiệp trong các KCN Để thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao, Ban Quản lý các KCN tỉnh đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn các chủ thể tham gia lao động trong các KCN thực hiện các quy định của pháp luật về lao động; tổ chức tuyên truyền, phổ biến, tập huấn cho cán bộ công đoàn cơ sở về chính sách pháp luật, kỹ năng tham gia xây dựng thoả ước lao động tập thể, nội quy, định mức lao động, thang lương, bảng lương; triển khai thực hiện dân chủ tại nơi làm việc theo quy định và thực hiện giám sát, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về lao động tại đơn vị để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động Tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng giám sát, kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật, chính sách về lao động của các chủ thể tham gia quan hệ lao động, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, xử lý nghiêm các trường hợp cố tình vi phạm theo quy định.Thông tin kịp thời, phối hợp chặt chẽ, tích cực giải quyết khi
có trường hợp tranh chấp lao động, đặc biệt là tranh chấp về lợi ích xảy ra tại doanh nghiệp thuộc các KCN (Minh Tân, 2015)
2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho KCN Yên Phong
KCN Yên Phong ra đời khá muộn so với các nước và các địa phương khác Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn, KCN này đã xuất hiện những vấn đề
mà các KCN ở nơi khác từng vấp phải Vì vậy, học tập kinh nghiệm của nơi khác
là cần thiết Qua phân tích kinh nghiệm của một số nước và KCN ở các tỉnh, có thể rút ra cho KCN Yên Phong một số bài học sau đây:
Thứ nhất, tỉnh Bắc Ninh, chính quyền, cơ quan các cấp tạo điều kiện thu
hút vốn đầu tư nước ngoài, nhanh chóng, kịp thời phổ biến các chủ trương, chính sách, hướng dẫn, kiểm tra thanh tra việc thực hiện những quy định của pháp luật lao động của các DN