1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ , tái định cư tại một số dự án giao thông trên địa bàn thành phố bắc ninh, tỉnh bắc ninh

94 379 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 3,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì những tồn tại trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà Nước thu hồi đất nêu trên, nên tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại

Trang 1

MỤC LỤC

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục iv

Danh mục các chữ viết tắt vii

Danh mục bảng viii

Danh mục hình ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích 2

3 Yêu cầu 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Cơ sở lý luận về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 3

1.1.1 Khái niệm bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 3

1.1.2 Vai trò của công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 3

1.1.3 Đặc điểm của công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 5

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 6

1.2 Quy định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của một số nước và tổ chức trên thế giới 8

1.2.1 Quy định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của một số nước trên thế giới 8

1.2.2 Quy định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng phát triển Châu Á 12

1.3 Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Việt Nam và công tác BT, HT, TĐC tại một số địa phương 12

1.3.1 Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Việt Nam 12

1.3.2 Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại một số địa phương 17

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 26

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 26

Trang 2

2.2 Nội dung nghiên cứu 27

2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội tại thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh 27

2.2.2 Thực trạng quản lý, sử dụng đất và công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh 27

2.2.3 Kết quả thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại 02 dự án nghiên cứu 27

2.2.4 Đánh giá chung việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại 02 dự án nghiên cứu 27

2.2.5 Một số giải pháp góp phần hoàn thiện hơn công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh 27

2.3 Phương pháp nghiên cứu 27

2.3.1 Phương pháp điều tra số liệu thứ cấp 27

2.3.2 Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp 28

2.3.3 Phương pháp phân tích và so sánh số liệu 29

2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 29

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Bắc Ninh 30

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 30

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 32

3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Bắc Ninh 38

3.2 Thực trạng quản lý, sử dụng đất và công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn thành phố Bắc Ninh 39

3.2.1 Thực trạng quản lý đất đai của thành phố Bắc Ninh 39

3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất thành phố Bắc Ninh năm 2014 42

3.2.3 Biến động đất đai giai đoạn 2010 - 2014 45

3.2.4 Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 47

3.3 Kết quả thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại 02 dự án nghiên cứu 48

Trang 3

3.3.1 Khái quát về 02 dự án nghiên cứu 48

3.3.2 Căn cứ thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 49

3.3.3 Trình tự các bước thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại 02 dự án nghiên cứu 52

3.3.4 Đối tượng và điều kiện được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại 02 dự án nghiên cứu 62

3.3.5 Bồi thường về đất, tài sản, vật kiến trúc và cây cối hoa màu tại 02 dự án nghiên cứu 65

3.3.6 Việc thực hiện chính sách hỗ trợ tại 02 dự án nghiên cứu 69

3.3.7 Việc thực hiện chính sách tái định cư tại 02 dự án nghiên cứu 70

3.3.8 Ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến người dân 70

3.4 Đánh giá chung việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại 02 dự án nghiên cứu 76

3.4.1 Ưu điểm 76

3.4.2 Tồn tại và nguyên nhân 76

3.5 Một số giải pháp góp phần hoàn thiện hơn công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh 78

3.5.1 Hoàn thiện quy định xác định giá đất, giá tài sản tính bồi thường, hỗ trợ 78

3.5.2 Hoàn thiện chính sách về tạo việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp 78

3.5.3 Tăng cường công tác quản lý đất đai, bồi dưỡng cán bộ 78

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79

Kết luận 79

Kiến nghị 80

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PHỤ LỤC 83

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT Chữ viết tắt Ý nghĩa của chữ viết tắt

2 BT, HT, TĐC Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

3.1 Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế thành phố Bắc Ninh 33

3.2 Dân số, lao động thành phố Bắc Ninh từ năm 2010 – 2014 35

3.3 Hiện trạng sử dụng đất của thành phố Bắc Ninh năm 2014 43

3.4 Biến động đất đai giai đoạn 2010 – 2014 của thành phố Bắc Ninh 45

3.5 Tổng hợp kết quả bồi thường tại dự án xây dựng đường Kinh Dương Vương kéo dài, thành phố Bắc Ninh 67

3.6 Tổng hợp kết quả bồi thường tại dự án xây dựng đường Nguyễn Đăng Đạo kéo dài kéo dài, thành phố Bắc Ninh 68

3.7 Bảng tổng hợp các tiêu chí phỏng vấn đối tượng bị thu hồi đất 72

3.8 Tống hợp ý kiến điều tra cán bộ trực tiếp thực hiện BT, HT, TĐC 75

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

2.1 Sơ đồ vị trí dự án 1 và dự án 2 26

3.1 Vị trí địa lý thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh 30

3.2 Phối cảnh đường Kinh Dương Vương kéo dài 48

3.3 Phối cảnh đường Nguyễn Đăng Đạo kéo dài đi Hòa Long 49

3.4 Trình tự các bước thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 53

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Do nhu cầu của sự phát triển các khu công nghiệp, các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội và hạ tầng cho các đô thị mới Để triển khai được các dự án này buộc phải sử dụng tới quỹ đất đã và đang được sử dụng vào mục đích như đất sản xuất nông, lâm, thủy sản, đất nhà ở của nhân dân, đất sản xuất kinh doanh Việc chuyển đổi mục đích sử dụng của một bộ phận quỹ đất hiện nay vào việc triển khai các dự án mới như nói trên đang diễn ra ngày một nhiều hơn theo yêu cầu của phát triển cơ sở hạ tầng cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa

nền kinh tế (Trần Quang Huy, 2013)

Trong điều kiện quỹ đất ngày càng hạn hẹp, dân số ngày càng đông nhu cầu

sử dụng đất cho các ngành ngày càng cao, công tác giải phóng mặt bằng trở thành một thách thức lớn đối với sự thành công không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà còn

cả trong lĩnh vực chính trị - xã hội trên phạm vi quốc gia Vấn đề này đòi hỏi phải

có sự quan tâm một cách toàn diện, đúng mực và giải quyết một cách triệt để

Thành phố Bắc Ninh là một thành phố trẻ với tốc độ phát triển kinh tế nhanh

và mạnh, việc mở rộng địa giới hành chính thành phố thêm 9 xã, phường và đây là địa bàn thu hút nhiều dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, khu đô thị, thương mại, dịch vụ của tỉnh Bắc Ninh Thành phố Bắc Ninh đang thu hút nhiều dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, khu đô thị, thương mại, dịch vụ, phúc lợi trong vòng 5 năm trở lại đây có khoảng 200 dự án lớn, nhỏ đã đầu tư xây dựng tại thành phố Bắc Ninh Tuy nhiên, công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định

cư trên địa bàn thành phố Bắc Ninh còn nhiều vướng mắc, bất cập cần phải nghiên cứu nguyên nhân và đề xuất giải pháp khắc phục

Việc kiến nghị, khiếu nại liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định

cư khi nhà nước thu hồi đất còn nhiều, nhất là xung quanh giá đất, tài sản bồi thường, chế độ hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp của các hộ phi nông nghiệp, chế

độ tái định cư đối với hộ bị thu hồi đất có diện tích lớn

Trang 8

Chính vì những tồn tại trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà Nước thu hồi đất nêu trên, nên tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá công tác bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư tại một số dự án giao thông trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh ” là cần thiết

- Các giải pháp và kiến nghị phù hợp với thực tế của địa phương và đúng quy định của pháp luật hiện hành

Trang 9

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở lý luận về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

1.1.1 Khái niệm bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

- Bồi thường là trả lại đầy đủ, tương xứng với sự mất mát hoặc sự vất vả (bồi thường thiệt hại, bồi thường công lao) (Hoàng Phê, 2000)

- Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất ổn định cuộc sống mới bằng hoặc tốt hơn khi có dự án thông qua đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2000)

- Tái định cư là những chính sách, biện pháp của Nhà nước nhằm thông qua các hoạt động hỗ trợ để giúp đỡ những người bị thu hồi đất ở nằm trong diện phải di dời khi có dự án đầu tư, đến nơi ở mới được ổn định đời sống, ổn định sản xuất để

phát triển kinh tế-xã hội (Phạm Phương Nam, 2013)

1.1.2 Vai trò của công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

- Đảm bảo lợi ích công cộng: Thông qua việc thu hồi đất Nhà nước tạo được

một quỹ đất sạch cần thiết để phục vụ vào phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đảm bảo an ninh quốc phòng, an sinh xã hội và phát triển kinh tế; phát triển các cơ sở kinh tế, các khu công nghiệp, các cơ sở sản xuất – kinh doanh, khu đô thị, khi vui chơi giải trí, công viên cây xanh Qua đó làm tăng thêm khả năng thu hút đầu tư từ, các nhà đâu tư trong nước và ngoài nước, phục vụ phát triển kinh tế (Trần Quang Huy, 2010)

Việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tốt làm tăng tiến độ thu hồi đất góp phần gián tiếp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm

tỷ trọng sản xuất nông nghiệp, tăng tỉ trọng sản xuất công nghiệp, dịch vụ Khi diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, Nhà nước thực hiện các biện pháp hỗ trợ cho người nông dân bị mất đất sản xuất trong việc đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp, tìm kiếm việc làm mới Qua đó, góp phần rút bớt một lực lượng lao động ở nông thôn chuyển sang làm việc trong khu vực sản xuất phi nông nghiệp và dịch vụ

Trang 10

- Đảm bảo giải quyết hài hòa lợi ích của Nhà nước và của người thu hồi đất:

Việc thu hồi đất của Nhà nước đối với người SDĐ để sử dụng vào các mục đích khác nhau sẽ gây ra những thiệt hại và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của những người bị thu hồi đất Nếu không thực hiện tốt công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định

cư cho người bị thu hồi đất sẽ dẫn đến tình trạng là trong khi các công trình phúc lợi được xây dựng trên những diện tích đất bị thu hồi mang lại lợi ích cho cộng đồng thì trái ngược lại người bị thu hồi đất lại rơi vào tình trang khó khăn về sản xuất và

đời sống do bị mất đất sản xuất hoặc mất nhà ở

Khi thay đổi nơi ở đó là phải chuyển đến khu tái định cư, việc quy hoạch khu tái định cư không quan tâm đến phong tục tập quán sinh hoạt của người dân dẫn đến nhiều khó khăn hơn cho người dân phải tái định cư, chất lượng công trình tái định

cư cũng là một trong những nỗi ám ảnh của người dân phải tái định cư Do đó, vấn

đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải giải quyết hài hòa các mối quan hệ về lợi ích của Nhà nước, của xã hội vừa để đảm bảo nhu cầu sử dụng đất đai phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; vừa bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của người SDĐ, bồi hoàn cho họ những thành quả lao động, kết quả đầu tư bị thiệt hại do việc thu hồi đất gây ra (Nguyễn Thị Kim Ngân, 2002)

- Góp phần vào duy trì ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội: Bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất có vai trò quan trọng trong sự phát triển của đất nước Các công trình phục vụ mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, mục đích phát triển kinh tế đều cần tới mặt bằng Có thể nói công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện nhanh chóng, hiệu quả thì công trình thực hiện đã hoàn thành được một nửa Quá trình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người dân tại thời điểm bị thu hồi đất và sau này Do diện tích đất sản xuất của người dân bị thu hồi dẫn đến tình trạng thiếu việc làm, người dân không có thu nhập làm ảnh hưởng đến kinh tế của mỗi hộ gia đình cá nhân Thiếu việc làm là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng mất tình hình trật tự an ninh Đời sống của nhân dân sau khi bị thu hồi đất có thể được nâng cao một cách nhanh chóng nhưng không bền vững do người dân không biết sử dụng

Trang 11

khoản tiền hỗ trợ để chuyển đổi nghề nghiệp dẫn đến tình trạng ăn tiêu lãng phí dễ dàng mắc phải các tệ nạn xã hội

Việc thu hồi đất không đúng mục đích, các dự án treo dẫn đến mất đất sản xuất, người dân không có việc làm đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng người dân bị kích động bởi các thế lực chống đối gây mất trật tự an ninh quốc phòng, mất niềm tin của Nhân dân vào Đảng và Nhà nước Chính vì vậy, vai trò của công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư rất quan trọng, công tác bồi thường

hỗ trợ, tái định cư với mục tiêu không chỉ là làm thế nào để thực hiện thu hồi đất một cách nhanh chóng mà phải tạo ra được bài toán ổn định và phát triển bền vững cho người dân sau khi bị thu hồi đất (Anh Phương, 2008)

Việc giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện từ việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất cho thấy nếu không giải quyết tốt việc bồi thường tổn thất, hỗ trợ, tái định cư nhằm hỗ trợ họ vượt qua khó khăn trước mắt để nhanh chóng ổn định đời sống và sản xuất thì sẽ phát sinh nhiều tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, vượt cấp với số đông người dân tham gia, đây là một thực trang đang diễn ra Đây cũng là nguyên nhân cơ bản phát sinh những tụ điểm gây mất trật tự ổn định về chính trị, trật tự an toàn xã hội và dễ bị kẻ xấu lợi dụng kích động Do vậy thực hiện tốt công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư góp phần vào ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tránh nguy cơ nảy sinh các xung đột xã hội

1.1.3 Đặc điểm của công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

- Tính phức tạp: Đối với khu vực nông thôn, dân cư chủ yếu sống nhờ vào

hoạt động sản xuất nông nghiệp mà đất đai lại là tư liệu sản xuất quan trọng trong khi trình độ sản xuất của nông dân thấp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp khó khăn

do đó tâm lý dân cư vùng này là giữ được đất để sản xuất, thậm chí họ cho thuê đất còn được lợi nhuận cao hơn là sản xuất nhưng họ vẫn không cho thuê Mặt khác, cây trồng, vật nuôi trên vùng đó cũng đa dạng dẫn đến công tác tuyên truyền, vận động dân cư tham gia di chuyển, định giá bồi thường rất khó khăn và việc hỗ trợ chuyển nghề nghiệp là điều cần thiết để đảm bảo đời sống dân cư sau này (Phạm Phương Nam, 2013)

Trang 12

Đối với đất ở lại càng phức tạp hơn do những nguyên nhân sau: Đất ở là tài sản có giá trị lớn, gắn bó trực tiếp với đời sống và sinh hoạt của người dân mà tâm

lý, tập quán của người dân là ngại di chuyển chỗ ở; nguồn gốc sử dụng đất khác nhau qua nhiều thời kỳ với chế độ quản lý khác nhau, cơ chế chính sách không đồng bộ dẫn đến tình trạng lấn chiếm đất đai xây nhà trái phép diễn ra thường xuyên; thiếu quỹ đất do xây dựng khu tái định cư cũng như chất lượng khu tái định

cư thấp chưa đảm bảo được yêu cầu; dân cư một số vùng sống chủ yếu bằng nghề buôn bán nhỏ và sống bám vào các trục đường giao thông của khu dân cư làm kế sinh nhai nay chuyển đến ở khu vực mới thì điều kiện kiếm sống bị thay đổi nên họ không muốn di chuyển

- Tính đa dạng: Mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác nhau với

điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội, dân cư khác nhau Khu vực nội thành, mật độ dân

cư cao, ngành nghề đa dạng, giá trị đất và tài sản trên đất lớn; khu vực ven đô, mức

độ tập trung dân cư khá cao, ngành nghề dân cư phức tạp, hoạt động sản xuất đa dạng: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, buôn bán nhỏ; khu vực ngoại thành, hoạt động sản xuất chủ yếu của dân cư là sản xuất nông nghiệp Do đó mỗi khu vực bồi thường GPMB có những đặc trưng riêng và được tiến hành với những giải pháp riêng phù hợp với những đặc điểm riêng của mỗi khu vực và từng dự án

cụ thể (Phạm Phương Nam, 2013)

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

1.1.4.1 Chính sách áp dụng

Đây là yếu tố quan trọng nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến công tác bồi thường,

hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất Chính sách áp dụng ở đây chúng ta bàn đến là chính sách về giá đất và chính sách về tái định cư Hầu hết các vụ khiếu kiện liên quan đến giải phóng mặt bằng đều có liên quan đến hai chính sách này Ta biết rằng việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng suy cho cùng là hành vi mang tính cưỡng chế Đối với người dân Á Đông trong đó có Việt Nam, coi nhà và đất là tài sản quan trọng nhất của một gia đình Do đó khi bắt buộc phải di dời khỏi ngôi nhà của mình, cũng tức là gia đình mất đi tài sản quan trọng nhất, người dân luôn yêu cầu một sự đền bù thỏa đáng Khi lập kế hoạch về chính sách giá đất bồi thường, nếu cơ quan

Trang 13

quản lý không đưa ra một phương án chính xác về giá đất thì rất dễ gây ra sự phản đối từ phía người dân Trong thực tế đã có không ít vụ việc gây xôn xao dư luận liên quan đến những người trong diện giải phóng mặt bằng, đã có hành vi biểu tình, chống đối, khiếu kiện cấp cao, tố cáo cơ quan quản lý giải phóng mặt bằng đưa ra giá đền bù không thỏa đáng Quan trọng hơn, việc đưa ra giá đền bù không thỏa đáng sẽ dẫn tới việc người dân cho rằng, cơ quan quản lý giải phóng mặt bằng có hành vi quan liêu, tham nhũng Như vậy, ta thấy rằng, bước quan trọng nhất khi tiến hành giải phóng mặt bằng, đó là xác định được mức bồi thường thỏa đáng cho những người trong diện bị giải tỏa Làm tốt điều này sẽ giúp cho việc giải phóng mặt bằng tránh được những rắc rối phát sinh từ phía người dân, giúp giảm thời gian

và công sức khi tiến hành giải phóng mặt bằng

1.1.4.2 Yếu tố tâm lý người dân

Văn hóa của người Việt Nam dù ở nông thôn hay thành thị, đều mang ít nhiều tính chất của văn hóa làng xã Điểm nổi bật trong văn hóa làng xã, đó là việc tâm lý của người dân bị tác động rất nhiều từ phía những người sống xung quanh mình, hay còn gọi là “hàng xóm láng giềng” Ta có thể thấy trên thực tế đã xảy ra những tình huống như thế này: Một hộ gia đình trong diện giải tỏa không đồng ý với mức bồi thường, đã quyết định khiếu nại để được bồi thường với mức giá cao hơn Hàng xóm của gia đình này, những hộ dân cũng trong diện giải tỏa, thấy hộ gia đình kia có khả năng được đền bù với mức giá cao hơn, cũng đâm đơn khiếu nại Kết quả là tất cả các hộ dân thuộc diện giải tỏa đều có đơn khiếu nại, khiếu kiện về mức giá bồi thường Mặc dù những rắc rối này có thể giải quyết bằng con đường pháp lý và biện pháp cưỡng chế Tuy nhiên, các phương pháp này mất nhiều thời gian và gây mất lòng tin của người dân vào các dự án thu hồi đất của nhà nước sau này Để hạn chế những rắc rối phát sinh từ tâm lý của người dân, chúng ta nên có những biện pháp hạn chế trước khi chúng phát sinh, ví dụ như là việc mở các buổi tuyên truyền, gặp gỡ trực tiếp những người dân trong diện giải tỏa; Nâng cao công tác tuyên truyền đến cơ sở, đặc biệt là tuyên truyền, phổ biến tính đúng đắn của việc thu hồi đất, bàn giao mặt bằng đến những người có uy tín trong khu vực giải tỏa, ví

dụ như trưởng thôn, tổ trưởng dân phố…

Trang 14

1.1.4.3 Mục đích thu hồi đất

Mục đích thu hồi đất được quy định rất rõ trong các văn bản pháp luật về đất đai Tuy đã được quy định trong pháp luật nhưng không phải cứ thu hồi theo đúng pháp luật là được người dân ủng hộ Trong một số trường hợp, người dân tự nguyện bàn giao đất, thậm chí hiến đất nếu mục đích thu hồi để sử dụng cho các mục đích công cộng phục vụ chính những người đã bàn giao lại đất Nhưng cũng có nhiều trường hợp, mặc dù thu hồi đúng theo mục đích mà pháp luật quy định nhưng vẫn vấp phải sự phản đối gay gắt từ phía những người dân, ví dụ như nhiều dự án thu hồi đất ruộng của người nông dân để làm sân gôn Đây rõ ràng là những dự án nhằm phục vụ và phát triển ngành du lịch, nhưng những dự án này đã vấp phải vô số những luồng dư luận chỉ trích Như vậy ta thấy rằng, mục đích khi thu hồi đất đúng pháp luật là chưa đủ Để người dân hiểu và tự nguyện làm theo kế hoạch thu hồi đất cần phải có kế hoạch, giải thích cho người dân hiểu về mục đích đúng đắn của việc thu hồi đất, từ đó việc thu hồi và bàn giao đất mới có thể tiến hành được thuận lợi

1.2 Quy định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của một số nước và tổ chức trên thế giới

1.2.1 Quy định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của một số nước trên thế giới

1.2.1.1 Quy định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Thái Lan

Ở Thái Lan, cũng giống như ở nhiều nước khác trong khu vực châu Á, quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ chế thị trường điều tiết Tuy nhiên, với những dự án do Chính phủ quản lý, việc bồi thường được tiến hành theo trình tự: tổ chức nghe ý kiến người dân; định giá đền bù

Giá bồi thường phụ thuộc vào từng khu vực, từng dự án Nếu một dự án mang tính chiến lược quốc gia thì nhà nước bồi thườngvới giá rất cao so với giá thị trường Nhìn chung, khi tiến hành lấy đất của dân, nhà nước hoặc cá nhân đầu tư

đều bồi thườngvới mức cao hơn giá thị trường (Đào Trung Chính, 2014)

Pháp Luật Đất đai Thái Lan cho phép tồn tại hình thức sở hữu tư nhân về đất đai Do vậy nguyên tắc khi Nhà nước hoặc các tổ chức lấy đất để làm bất kỳ một dự

án nào, công trình nào đều phải có sự thoả thuận về sử dụng đất giữa chủ dự án và chủ sở hữu khu đất trên cơ sở một hợp đồng

Trang 15

Năm 1987, Thái Lan ban hành luật về trưng dụng bất động sản áp dụng cho việc trưng dụng đất phục vụ vào các mục đích xây dựng công cộng, an ninh quốc phòng Luật quy định những nguyên tắc thu hồi đất, nguyên tắc tính giá trị bồi thường các loại tài sản được bồi thường, trình tự lập dự án, duyệt dự án, lên kế hoạch bồi thường trình các cấp phê duyệt Luật còn quy định thủ tục thành lập các

cơ quan, uỷ ban tính toán bồi thường TĐC, trình tự đàm phán, nhận tiền bồi thường, trình tự khiếu nại, giải quyết khiếu nại, trình tự đưa ra tòa án

Ở Thái Lan việc tuyên truyền vận động đối với các đối tượng bị di dời được thực hiện rất tốt, gần như ngay từ đầu, xấp xỉ 100% các hộ dân đã hiểu và chấp hành các chính sách bồi thường, GPMB của Nhà nước (Đào Trung Chính, 2014)

Về giá đất làm căn cứ bồi thường thiệt hại: căn cứ vào giá do một Uỷ ban của Chính phủ xác định trên cơ sở thực tế giá trên thị trường chuyển nhượng bất động sản Việc bồi thường chủ yếu bằng tiền mặt Nếu phải di chuyển nhà đến nơi mới,

Uỷ ban này sẽ chỉ đạo cho người dân biết mình đến đâu, phải trả tiền một lần, được cho thuê hay mua trả góp Tuy nhiên cũng có trường hợp bên bị thu hồi không chấp nhận, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ kiểm tra, xem xét một lần nữa xem

đã hợp lý chưa và dù đúng hay không nếu người bị thu hồi không chuyển đi sẽ bị cưỡng chế thực hiện Việc khiếu nại sẽ tiếp tục do toà án giải quyết

Việc chuẩn bị khu TĐC được chính quyền, Nhà nước quan tâm đúng mức, luôn đáp ứng đầy đủ nhu cầu, luôn ở thế chủ động Sự thống nhất trong chỉ đạo điều hành giải quyết, sự phân công nhiệm vụ rõ ràng, phân cấp rõ về trách nhiệm, sự phối hợp cao trong quá trình giải quyết vấn đề, cũng góp phần đẩy nhanh tiến độ

thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng (Nguyễn Minh, 2005)

1.2.1.2 Quy định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Hàn Quốc

Ở Hàn Quốc, vào những năm 70 của thế kỷ trước, trước tình trạng di dân ồ ạt từ các vùng nông thôn vào đô thị, thủ đô Xơ-un đã phải đối mặt với tình trạng thiếu đất định cư trầm trọng trong thành phố Để giải quyết nhà ở cho dân nhập cư, chính quyền thành phố phải tiến hành thu hồi đất của nông dân vùng phụ cận Việc bồi thường được thực hiện thông qua các công cụ chính sách như hỗ trợ tài chính, cho quyền mua căn hộ

do thành phố quản lý và chính sách TĐC (Nguyễn Thắng Lợi, 2008)

Trang 16

Luật bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất của Hàn Quốc được chia thành hai

thể chế Một là “đặc lệ” liên quan đến bồi thường thiệt hại cho đất công cộng đã đạt

được theo thủ tục thương lượng của pháp luật được lập vào năm 1962 Hai là luật

“sung công đất” theo thủ tục quy định cưỡng chế của công pháp được lập vào năm

1975 Tuy nhiên, dưới hai thể chế luật và trong quá trình thực hiện luật “đặc lệ” thương lượng không đạt được thoả thuận thì luật “sung công đất” được thực hiện

bằng cách cưỡng chế nhưng như thế thì được lặp đi lặp lại và đôi khi bị trùng hợp cho nên thời gian có thể kéo dài và chi phí bồi thường sẽ tăng lên

Đặc trưng của luật bồi thường: Thực hiện luật bồi thường của Hàn Quốc thực hiện theo ba giai đoạn:

Thứ nhất: Định giá theo quy định tức là tiền bồi thường đất đai sẽ được giám

định viên công cộng đánh giá trên tiêu chuẩn giá quy định để thu hồi đất phục vụ cho công trình công cộng Mỗi năm, Hàn Quốc cho thi hành đánh giá đất hơn 27 triệu địa điểm trên toàn quốc và chỉ định 470.000 địa điểm làm tiêu chuẩn và thông qua đánh giá của giám định để dựa theo đó hình thành giá quy định cho việc đền bù Giá quy định không dựa vào những lợi nhuận khai thác, do đó có thể bảo đảm khách quan trong việc bồi thường

Thứ hai: Pháp luật có quy định không gây thiệt hại nhiều cho người có quyền

sở hữu đất trong quá trình thương lượng chấp nhận thu hồi đất Quy trình chấp nhận theo thứ tự là công nhận mục đích, lập biên bản tài sản và đất đai, thương lượng chấp nhận thu hồi

Thứ ba: Đối với trường hợp tái định cư, ngoài khoản bồi thường, người bị di

dời có thể chọn khu vực nhà, nhà ở hoặc khoản trợ cấp di dời Một khu vực tái định

cư phải có đầy đủ dịch vụ do chủ dự án chi trả kể cả chi phí di chuyển Đất cấp cho người tái định cư có mức giá bằng 80% chi phí phát triển ( mức này thấp hơn rất nhiều so với mức giá thị trường Kết quả là phần lớn đất cho người tái định cư được bán lại ngay) (Nguyễn Thị Nga, 2011)

Luật Bồi thường của Hàn Quốc được thực hiện theo ba nguyên tắc trên đối với đất đai, bất động sản và các quyền kinh doanh, nông nghiệp, ngư nghiệp, khoáng sản để cung cấp tiền bồi thường và chi phí di dời

Trang 17

Chế độ và luật khi thu hồi đất GPMB: Theo luật sung công đất đai thì nếu như đã trả hoặc đặt cọc tiền bồi thường xong nhưng không chịu di dời thì được xem như gây hại cho lợi ích công cộng do đó phải thi hành cưỡng chế giải toả thì được thực hiện quyền thi hành theo luật thực hiện thi hành hành chính và quyền thi hành này phải theo thủ tục pháp lệnh cảnh cáo theo quy định Thực chất biện pháp GPMB thường bị các thường dân hoặc các người ở thuê phản đối và chống trả quyết liệt gây ảnh hưởng xấu đến xã hội cho nên tốt nhất là phải có sự nghiên cứu tìm ra biện pháp cho dân tự nguyện di dời là hay hơn cả (Phạm Phương Nam, Nguyễn Thanh Trà, 2012)

1.2.1.3 Quy định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Singapore

Singapore có chế độ sở hữu đất đai đa dạng, trong đó chấp nhận sở hữu tư nhân về đất đai Đất do Nhà nước sở hữu chiếm tỉ trọng lớn nhất (gần 90 %), số còn lại do tư nhân chiếm hữu, nhưng việc sở hữu này phải tuân thủ theo các chế độ quy hoạch sử dụng đất do Nhà nước quy định Người nước ngoài được quyền sở hữu căn hộ hoặc căn nhà (biệt thự) kèm theo với đất ở Chế độ sử dụng đất phổ biến là hợp đồng cho thuê của Nhà nước

Sau khi có quy hoạch chi tiết và có dự án cụ thể, Nhà nước tiến hành thu hồi đất để triển khai thực hiện Nhà nước toàn quyền quyết định trong vấn đề thu hồi đất, người dân có nghĩa vụ phải tuân thủ Không có trường hợp người nông dân tự chuyển nhượng đất cho nhà đầu tư để xây dựng khu dân cư (giống như ở Việt Nam) Lý do là thời gian sử dụng đất khác nhau và Nhà nước không cho phép Mọi việc chuyển nhượng thay đổi mục đích đểu thông qua Nhà nước Nhà nước đóng vai trò trung gian giữa người sử dụng đất và chủ đầu tư, tránh những tiêu cực trong đền bù giải tỏa và không để ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện dự án theo quy hoạch

nói riêng và phát triển kinh tế nói chung (Nguyễn Thị Thu Hương và NNK, 2011)

Mức đền bù thiệt hại căn cứ vào giá trị bất động sản của chủ sở hữu; các chi phí tháo dỡ di chuyển; chi phí mua vật tư thay thế, thuế sử dụng nhà mới … Nếu người dân không tin tưởng Nhà nước thì có thể thuê một tổ chức định giá tư nhân để định giá lại vật tư, chi phí định giá lại do nhà nước chi trả Ở Singapore các yêu tố ảnh hưởng do công trình cắt ngang qua như tiếng ồ, khói bụi… cũng được tính đền bù

Trang 18

Chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng ở Singapore cho thấy tính pháp

lý và tính dân chủ, tính dân chủ thể hiện ở người dân có thể thuê một tổ chức định

giá tư nhân để định giá lại và chi phí định giá do Nhà nước chi trả, các yếu tố ảnh

hưởng khác cũng được tính đền bù và chính sách tái định cư được thực hiện bằng

việc bố trí nhà ở công cộng do Trung tâm Phát triển Nhà thực hiện

1.2.2 Quy định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Ngân hàng Thế giới và Ngân

hàng phát triển Châu Á

Các dự án do Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)

cho vay phải được các Bộ chủ quản dự án thông qua như chương trình TĐC đặc

biệt và khi tổ chức thực hiện cũng thường gặp các khó khăn nhất định, đặc biệt

trong việc gây ra sự bất bình đẳng giữa các cá nhân và hộ gia đinh trong cùng một

địa phương nhưng lại ảnh hưởng các chính sách bồi thường khác nhau của các dự

án khác nhau

Mục tiêu chính sách bồi thường TĐC của Ngân hàng thế giới và Ngân hàng

phát triển Châu Á là việc bồi thường, TĐC sẽ được giảm thiểu càng nhiều càng tốt

và đưa ra những biện pháp khôi phục để giúp người bị ảnh hưởng cải thiện hoặc ít

ra vẫn giữ được mức sống, khả năng thu nhập và mức độ sản xuất như trước khi có

dự án (Đào Trung Chính, 2014)

1.3 Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Việt Nam và công tác BT,

HT, TĐC tại một số địa phương

1.3.1 Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Việt Nam

1.3.1.1 Giai đoạn trước khi có Luật Đất đai năm 1993

Nghị định 151/TTg ngày 15 tháng 04 năm 1959 của Thủ tướng Chính phủ

quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất, là văn bản pháp quy đầu tiên liên

quan đến việc bồi thường và TĐC bắt buộc ở Việt Nam

Tiếp đó, ngày 06 tháng 07 năm 1959 ban hành Thông tư liên bộ số

1424/TTLB hướng dẫn thi hành Nghị định 151/TTg tại thông tư này cũng nêu rõ

“Có hai cách bồi thường: bồi thường bằng ruộng đất, bồi thường bằng tiền Nhưng

bồi thường bằng ruộng đất là tốt nhất và chủ yếu”

Trang 19

Ngày 11 tháng 01 năm 1970, Thủ tướng Chính phủ ban hành Thông tư số 1792/TTg quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai và cây cối lâu năm, hoa màu cho nhân dân xây dựng vùng kinh tế mới, mở rộng thành phố trên

nguyên tắc: "Phải đảm bảo thỏa đáng quyền lợi hợp pháp của Hợp tác xã và của nhân dân"

Hiến pháp năm 1980 quy định về đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước

thống nhất, quản lý Điều 19 Hiến pháp 1980 quy định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa…cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước - đều thuộc sở hữu toàn dân” Ngày 01 tháng 07 năm 1980 Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 201/CP về việc "Không được phát canh, thu tô, cho thuê, cầm cố hoặc bán nhượng đất dưới bất cứ hình thức nào, không được dùng để thu những khoản lợi không do thu nhập

mà có, trừ trường hợp do Nhà nước quy định" Trong thời kỳ này, những quan hệ

đất đai chỉ đơn thuần là quan hệ “Giao - thu” giữa Nhà nước và người sử dụng (Phạm Phương Nam, 2014)

Luật Đất đai năm 1987 không nêu cụ thể việc bồi thường khi Nhà nước thu

hồi đất, mà chỉ nêu tại phần nghĩa vụ của người sử dụng đất (Điều 48): "Bồi thườngthiệt hại cho người sử dụng đất để giao cho mình bồi hoàn thành quả lao động và kết quả đầu tư đã làm tăng giá trị của đất đó theo quy định của pháp luật "

Tại Nghị định số 186/HĐBT ngày 31 tháng 05 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng quy định về việc bồi thường đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang mục đích khác Hiến pháp năm 1992 đã công nhận và bảo vệ quyền sử dụng đất của

các tổ chức, cá nhân và quyền sở hữu cá nhân về tài sản và sản xuất

1.3.1.2 Giai đoạn Luật Đất đai 1993 có hiệu lực

Với nền tảng là Hiến pháp năm 1992, thừa kế có chọn lọc Luật Đất đai năm

1988, Luật Đất đai năm 1993 ra đời với những đổi mới quan trọng, đặc biệt với nội dung thu hồi đất phục vụ cho công cộng và bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Luật Đất đai năm 1993 đã thể chế hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992 về đất đai thông qua việc giao đất, cho thuê đất, chế độ quản lý, sử dụng các loại đất, quản

lý việc sử dụng đất đúng hợp lý, xác định thời hạn giao đất, cho thuê đất, thẩm

Trang 20

quyền thu hồi và giao, cho thuê đất; hạn mức sử dụng các loại đất và quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ tổ chức, cá nhân sử dụng đất Luật quy định rõ hơn về quyền của người được giao đất gồm có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê, thế chấp Đồng thời, Chính phủ quy định khung giá đất cho từng loại đất, từng vùng theo thời gian Chính điều này làm căn cứ cho quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Sau khi Luật Đất đai 1993 được ban hành, Nhà nước đã ban hành rất nhiều các văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư và các văn bản pháp quy khác về quản lý đất đai nhằm cụ thể hoá các điều luật để thực hiện các văn bản đó, cụ thể:

- Nghị định số 87/NĐ-CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ ban hành khung giá các loại đất

- Nghị định số 90/NĐ-CP ngày 17/9/1994 của Chính phủ quy định cụ thể các chính sách và phân biệt chủ thể sử dụng đất, cơ sở pháp lý để xem xét tính hợp pháp của thửa đất để lập kế hoạch bồi thường giải phóng mặt bằng theo quy định khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng

- Thông tư Liên bộ số 94/TTLB ngày 14/11/1994 của Liên bộ Tài chính - Xây dựng - Tổng cục Địa chính - Ban vật giá Chính phủ hướng dẫn thi hành Nghị định 87/NĐ-CP

- Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ, thay thế Nghị định 90/NĐ-CP nói trên và quy định rõ phạm vi áp dụng, đối tượng phải bồi thường, đối tượng được bồi thường, phạm vi bồi thường

- Luật Đất đai sửa đổi năm 1998 ra đời đã bổ sung thêm một số vấn đề cho phù hợp với thực tế quản lý nhà nước về đất đai

- Tháng 10/1999, Cục Quản lý Công sản - Bộ Tài chính đã tiến hành dự thảo lần thứ nhất về việc sửa đổi bổ sung Nghị định 22/NĐ-CP về việc bồi thườngthiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất

- Thông tư 145/1998/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định 22/1998/NĐ-CP bao gồm các phương pháp xác định hệ số K, nội dung và chế

độ quản lý, phương án bồi thườngvà một số nội dung khác

Trang 21

- Văn bản số 4448/TC-QLCS ngày 04/9/1999 của Cục Quản lý Công sản -

Bộ tài chính hướng dẫn xử lý một số vướng mắc trong công tác bồi thường GPMB

1.3.1.3 Giai đoạn từ khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực

Luật Đất đai 2003 bao gồm 7 chương 146 điều trong đó có 7 điều (từ Điều

38 đến Điều 44) quy định về cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi nhà nước thu hồi đất

Sau khi Luật Đất đai 2003 được ban hành, Nhà nước đã ban hành nhiều các văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư cụ thể hoá các điều luật về giá đất, bồi thường, hỗ trợ thu hồi đất, cụ thể:

- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003

- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ

về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất

- Thông tư số 114/2004/TT-BTC ngày 26 tháng 11 năm 2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm

2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất

- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ quy định

về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất, có 7 chương 51 điều

- Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi

bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần

- Nghị định số 17/2006/NĐ-CP có 7 điều: trong đó, điều 4 của Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 197/NĐ-CP có liên quan đến cơ chế chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất

- Thông tư số 116/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất

- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu

Trang 22

hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai, có 68 điều trong đó có 16 điều (điều 33 đến điều 48) sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị đinh 197/2004/NĐ-CP và Nghị định số 17/2006/NĐ-CP liên quan đến cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất

- Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15 tháng 6 năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai

- Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2007 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất

- Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất, có 41 điều trong đó có 14 điều sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP và Nghị định số 17/2006/NĐ-CP; Nghị định số 84/2007/NĐ-CP liên quan đến cơ chế chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi nhà nước thu hồi đất

- Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, TĐC và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất

1.3.1.4 Giai đoạn Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực đến nay

Ngày 29 tháng 11 năm 2013, tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa VIII, Quốc hội

đã biểu quyết thông qua Luật Đất đai năm 2013 Luật Đất đai năm 2013 có 14 chương với 212 điều trong đó có 14 điều ( từ Điều 74 đến Điều 87) quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi nhà nước thu hồi đất

Sau khi Luật Đất đai 2013 được ban hành, Nhà nước đã ban hành nhiều các văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư cụ thể hoá các điều luật về giá đất, bồi thường, hỗ trợ thu hồi đất, cụ thể:

Trang 23

- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai

- Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về giá đất

- Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất

- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

- Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

1.3.2 Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại một số địa phương

1.3.2.1 Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại thành phố Hà Nội

*) Các văn bản quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

- Quyết định số 48/2011/QĐ-UBND ngày 26/12/2011 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 02/2010/QĐ-UBND ngày 18/01/2010 của UBND Thành phố về thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư và làm nhà ở nông thôn tại điểm dân cư nông thôn trên địa bàn thành phố Hà Nội;

- Quyết định số 02/2013/QĐ-UBND ngày 7/01/2013 của UBND Thành phố

Hà Nội về việc sửa đổi một số điều của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 108/2009/QĐ-UBND ngày 29/9/2009 của UBND thành phố Hà Nội ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội;

- Quyết định số 27/2013/QĐ-UBND ngày 18/7/2013 của UBND thành phố

Hà Nội về việc quy định chi tiết việc xác định giá đất ở, giá bán nhà tái định cư làm căn cứ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội;

- Quyết định số 63/2013/QĐ-UBND ngày 25/12/2013 của UBND thành phố

Hà Nội v/v ban hành Quy định về giá các loại đất trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 24

năm 2014;

- Quyết định số 420/QĐ-SXD ngày 17/01/2013 của Sở Xây dựng về việc công bố giá xây dựng mới nhà ở, công trình, vật kiến trúc làm căn cứ bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn Thành phố Hà Nội;

- Quyết định số: 29/QĐ-SXD ngày 22/7/2014 của Sở Xây dựng về việc công

bố giá xây dựng mới nhà ở, công trình, vật kiến trúc làm căn cứ bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn Thành phố Hà Nội;

- Thông báo số 7495/STC-BG ngày 30/12/2013 của Sở tài chính Hà Nội về việc báo giá bồi thường, hỗ trợ các loại cây, hoa màu, vật nuôi trên đất có mặt nước phục vụ công tác GPMB trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2014;

Hà Nội là địa phương đi đầu “Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố” Ngày 20/6/2014, UBND Thành phố ban hành Quyết định số 23/2014/QĐ-UBND về quy định các nội dung thuộc thẩm quyền của UBND Thành phố Hà Nội do Luật Đất đai 2013 và các Nghị định của Chính phủ giao cho về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội Quyết định này có hiệu lực từ ngày 01/7/2014 và thay thế Quyết định số 108/2009/QĐ-UBND ngày 29/9/2009, Quyết định số 02/2013/QĐ-UBND ngày 07/01/2013 và Quyết định số 27/2013/QĐ-UBND ngày 18/7/2013 của UBND Thành phố Theo đó, UBND Thành phố ủy quyền cho UBND cấp huyện phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đối với các trường hợp UBND Thành phố ra quyết định thu hồi đất;

ủy quyền cho sở Xây dựng quyết định phê duyệt giá bán nhà ở chung cư tái định cư cho từng tầng, loại nhà, theo vị trí cụ thể đảm bảo cân đối với chính sách giá bồi thường, hỗ trợ đất tại nơi thu hồi đất

Quy định này nêu rõ các nội dung như: bồi thường đất; bồi thường, hỗ trợ về tài sản; các chính sách hỗ trợ khác; tái định cư; trình tự, thủ tục thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Quy định cũng nêu rõ trách nhiệm của các tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng; trách nhiệm của UBND các huyện và xã

và trách nhiệm của các sở, ngành Thành phố Trong đó, Thanh tra Thành phố được giao tổ chức xác minh, kết luận, giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm

Trang 25

quyền đối với các tổ chức, cá nhân có liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo; đồng thời đôn đốc UBND cấp huyện, các sở, ngành có liên quan trong việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo có liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

*) Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Tính đến năm 2014, số dự án bồi thường, hỗ trợ, TĐC trên toàn thành phố

Hà Nội là 1.125 (gấp 3 lần cùng kỳ năm trước), với quy mô thu hồi đất trên 15.000ha (gấp 4,5 lần cùng kỳ năm trước), phạm vi thu hồi liên quan đến hơn 270.000 tổ chức, hộ gia đinh, cá nhân, với số hộ cần bố trí tái đinh cư trên 25.000

hộ Trong đó, đã hoàn thành xong 300 dự án; hoàn thành và bàn giao một phần diện tích đất cho 82 dự án theo phân kỳ đầu tư, bàn giao trên 1.800 ha đất, chi trả trên 3.200 tỷ đồng cho trên 51.600 hộ dân, bố trí TĐC cho trên 2.700 hộ

Thành phố đã tập trung chỉ đao, đề ra nhiều giải pháp, rà soát, thống nhất ban hành nhiều cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC, đặc biệt sau khi mở rộng địa giới hành chính thành phố; trực tiếp xem xét, khảo sát, kiểm tra xử lý những khó khăn, vướng mắc về chính sách bồi thường, hỗ trợ cho người phải di dời ở một số

dự án trọng điểm Các cấp, các ngành, đặc biệt là các ngành chức năng của thành phố đã có nhiều cố găng, vào cuộc quyết liệt, đồng bộ, thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả cưa thành phố Tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn về công tác bồi thường, hỗ trợ, TĐC Công tác tuyên truyền đối với nhân dân được thực hiện thường xuyên, đặc biệt qua các chuyên mục về cơ chế chính sách bồi thườngbồi thường, hỗ trợ, TĐC, thực hiện TĐC trên các báo, đài của thành phố Hà Nội

Những giải pháp đồng bộ, kịp thời của thành phố về những vấn đề: Quy hoạch, thu hồi đất, quy trình và chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC nêu trên, với phương thức giải quyết, giải đáp tại chỗ, rà soát rút ngắn quy trình bồi thường, hỗ trợ, TĐC đối với những nội dung thuộc thẩm quyền của thành phố đã tạo nên chuyển biến mạnh mẽ và hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ,

TĐC trên địa bàn (UBND thành phố Hà Nội, 2014)

Trang 26

1.3.2.2 Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại thành phố Đà Nẵng

*) Các văn bản quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

- Quyết định số 63/2012/QĐ-UBND ngày 20 tháng 12 năm 2012 của UBND thành phố Đà Nẵng ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng;

- Quyết định số 06/2015/QĐ-UBND ngày 14 tháng 3 năm 2015 của UBND thành phố Đà Nẵng ban hành quy định về trình tự thủ tục thu hồi đất và bồi thường,

hỗ trợ , tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng;

Để công tác giải tỏa bồi thường thực hiện đúng quy định, Thành phố giao cho Sở Tài chính, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng thường xuyên tổ chức tập huấn và triển khai các Quyết định của UBND thành phố và có hướng dẫn

cụ thể cho các đơn vị thực hiện Thành phố cũng đã có những vận dụng cụ thể phù hợp với tình hình sử dụng đất thực tế tại địa phương, tập quán sinh sống của người dân từng vùng để đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân trên cơ sở đảm bảo

sự công bằng, khách quan và có tính chất động viên, khuyến khích người bị thu hồi đất nhanh chóng thực hiện giải tỏa, bàn giao mặt bằng đúng tiến độ

+ Thường hỗ trợ đối với những hộ bàn giao mặt bằng sớm, đúng tiến độ + Đối với người dân sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất, ngoài việc được bồi thường, hỗ trợ về đất, cây cối, hoa màu còn được hỗ trợ tiền chuyển đổi nghành nghề, tạo điều kiện học nghề mới hoặc chuyển sang nghề khác

+Thành phố Đà Nẵng luôn chú trọng công tác TĐC đối với các hộ giải tỏa, lãnh đạo UBND thành phố thường xuyên đôn đốc để đẩy nhanh việc giao đất TĐC cho các hộ giải tỏa

*) Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Hầu hết các dự án trên địa bàn thành phố đều do các Ban giải tỏa bồi thường thực hiện giải phóng mặt bằng theo quy định của UBND thành phố Do đó công tác giải tỏa bồi thường được chuyên môn hóa nên các chính sách giả tỏa bồi thường được quán triệt đầy đủ và nhất quán đối với tất cả các dự án Nhờ vậy, việc thực hiện giải tỏa bồi thườngđược công bằng, nhanh chóng và giảm tình trạng khiếu kiện

Trang 27

Từ sau khi Luật Đất đai năm 2003 đến 31/12/2013, thành phố đã thực hiện việc thu hồi đất để giao đất và cho thuê đất tổng cộng 803 dự án với tổng diện tích 13.827,74 ha Trong đó giao đất 652 dự án với diện tích 9.558,33 ha; cho thuê đất

151 dự án với diện tích 4.269,4 ha Đặc biệt đã chuyển mục đích sử dụng trên 300,0

ha đất quốc phòng để giao cho các dự án phục vụ phát triển kinh tế -xã hội của thành phố để sử dụng có hiệu quả hơn

Một số dự án trong quá trình triển khai thực hiện, do tình hình thực tế về năng lực của chủ đầu tư cũng như sự điều chỉnh quy hoạch chung của thành phố cho phù hợp và sử dụng đất có hiệu quả hơn, UBND thành phố đã điều chỉnh chủ đầu tư hoặc có kế hoạch triển khai theo từng giai đoạn của dự án Thành phố đã đầu tư xây dựng 242 khu, điểm dân cư với tổng diện tích được phê duyệt là 3.658,63 ha (đã đưa vào sử dụng hơn 1000,0 ha)

- Công tác bố trí TĐC: Thành phố đã bố trí 4.690 lô đất TĐC thực tế cho các

hộ giải tỏa đã bàn giao mặt bằng, trong đó: có 548 lô bố trí cho các hộ bàn giao mặt bằng từ năm 2008 trở về trước; 1.531 lô bố trí cho các hộ bàn giao mặt bằng trong năm 2009, như vậy đã hoàn thành công tác bố trí TĐC cho những hộ dân bàn giao mặt bằng năm 2008 - 2009; đã bố trí 1.196 lô cho các hộ bàn giao mặt bằng năm

2010, bố trí 1.405 lô cho các hộ bàn giao mặt bằng từ 01/01/2012 Đã đưa vào sử dụng 17 khu chung cư với 2.125 căn hộ và 1 khu chung cư đang trong giai đoạn hoàn thành Tuy nhiên trong quá trình triển khai vẫn còn một số tồn tại vướng mắc

- Công tác giải quyết việc làm cho con em nông dân con em họ sau khi bị thu hồi hết đất chưa giải quyết được một cách triệt để và cơ bản vì việc đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu cho các cơ sở sản xuất công nghiệp còn hạn chế và đặc biệt là lao động trên 40 tuổi còn gặp nhiều khó khăn

- Công tác giải quyết TĐC (đất, nhà) cho những hộ giải tỏa vẫn còn chưa kịp thời nên nhiều hộ giao mặt bằng mà vẫn chưa có đất TĐC để làm nhà ảnh hưởng đến đời sống và sinh hoạt của người bị giải tỏa thu hồi đất, đồng thời việc giao đất TĐC còn nặng về phong tục, tập quán, sở thích và nhu cầu Do vậy không nên quy định bắt buộc trong luật là phải có đất TĐC mà tùy thuộc vào tình hình địa điểm của từng địa phương mà có quy định cụ thể cho phù hợp

Trang 28

- Việc thỏa thuận giữa chủ đầu tư và người có đất bị thu hồi theo quy định của pháp luật là khó thực hiện vì pháp luật cần quy định cụ thể hơn khi mà giá trị bồi thườngđã sát thị trường mà người sử dụng đất không chấp nhận thì cần có cơ quan Tài phán hoặc Tòa án phán quyết sự việc làm căn cứ thực hiện

- Nhìn chung tại các địa phương thì chất lượng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn thấp, chưa đủ để quản lý chặt việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, cũng như chưa đóng được vai trò điều tiết quỹ đất trong quá trình đầu tư phát triển thị trường bất động sản; là do còn chồng chéo với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chưa gắn kết với quy hoạch xây dựng đô thị (UBND thành phố Đà Nẵng, 2014)

1.3.2.3 Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại thành phố Hồ Chí Minh

*) Các văn bản quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

- Quyết định số 65/2008/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh ban hành kèm theo Quyết định số 17/2008/QĐ-UBND ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Ủy ban nhân dân thành phố;

- Quyết định số 35/2010/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh;

- Quyết định số 51/2011/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng thẩm định bồi thường thành phố Hồ Chí Minh;

- Quyết định số 40/2011/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về điều chỉnh khoản 2 Điều 6 Quy chế (mẫu) tổ chức và hoạt động của Ban Bồi thường, giải phóng mặt bằng quận - huyện (ban hành kèm theo Quyết định số 80/2008/QĐ-UBND ngày 11 tháng 11 năm 2008 của Ủy ban nhân dân thành phố)

- Quyết định số 23/2015/QĐ-UBND ngày 15 tháng 5 năm 2015 của UBND thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh;

Trang 29

*) Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Chính sách về bồi thường giải phóng mặt bằng của thành phố Hồ Chí Minh

đã có sự phân chia rõ ràng, bồi thường, hỗ trợ cho từng loại đối tượng, từng loại đất phù hợp như: Bồi thường đối với đất phi nông nghiệp (trừ đất ở) của hộ gia đình, cá nhân; Bồi thường, hỗ trợ đối với đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp của tổ chức; Bồi thường đối với đất phi nông nghiệp là đất ở; Bồi thường, hỗ trợ đối với trường hợp sử dụng đất có nhà ở nhưng không có giấy tờ hoặc có giấy tờ là đất nông nghiệp; Bồi thường khi diện tích còn lại nhỏ quy chuẩn xây dựng; Bồi thường đất ở đối với những người đang đồng quyền sử dụng đất và nhà chung cư, nhà ở tập thể nhiều hộ, nhiều tầng…

Thực hiện công tác bồi thường giải phóng mặt bằng thành phố đã chỉ đạo các quận, huyện thành lập Ban chỉ đạo công tác quy hoạch, bồi thường, TĐC và các bộ phận thường trực đã đi vào hoạt động có hiệu quả

Hạn mức đất ở để bồi thường: Đối với đất ở trong hạn mức, tùy thời điểm sử dụng đất ở sẽ được miễn trừ nghĩa vụ tài chính hoặc trừ đi 20%, 40%, 100% tiền sử dụng đất phải nộp theo quy định khi hợp thức hóa; Đối với đất ở vùng đô thị mới, hoặc đất ở của hộ gia đình có khuôn viên rộng, trong đó đất nông nghiệp, lâm

nghiệp thì tính bồi thường theo Thông tư số 145/2007/TT-BTC ngày 06/12/2007

của Bộ Tài chính, ngoài ra nếu đất ở có diện tích lớn hơn hạn mức diện tích đất ở để bồi thườngtheo quy định của dự án có thêm một mức giá bồi thườngbằng đơn giá đất ở để tính bồi thường tại thửa đất này trừ đi 100% tiền sự dụng đất phải nộp theo quy định Như vậy, đối với trường hợp này, Thành phố Hồ Chí Minh xác định có 3 mức giá bồi thườngcho thửa đất có nhiều loại đất

- Đối với nhà chung cư, nhà tập thể có nhiều hộ nhiều tầng sử dụng: Chính phủ và Bộ Tài Chính không quy định những thành phố vận dụng để tạo điều kiện cho người bị thu hồi có điều kiện để tạo lập nơi mới Tổng cộng mức bồi thường hỗ trợ lớn hơn 100% đơn giá đất ở được phân bố: hộ tầng trệt phân bố 70% đơn giá đất, hộ ở lầu 1 phân bố 50%, lầu 2 phân bố 40%, từ lầu 3 trở lên phân bố thấp nhất

là 30%, riêng đối với nhà ở thuê của nhà nước thì hỗ trợ bằng 60% đơn giá đất ở để tính bồi thường

Trang 30

- Cách xử lí diện tích sau khi thu hồi còn dưới 40m2/hộ: nguyên chung là bồi thườngvà thu hồi toàn bộ để đảm bảo quy chuẩn quy hoạch xây dựng đô thị Tuy nhiên có xem xét giả quyết các yêu cầu được tiếp tục sự dụng phần diện tích này theo đặc điểm của từng vị trí khu vực đất, khuyến khích việc chuyển nhượng, chuyển đổi hộ lân cận, Nhà nước thu hồi, bồi thườngvà cho người bị thu thuê lại… Trong năm 2012 tổng số dự án trên địa bàn thành phố là 890 với diện tích thu hồi 11.640 ha, số tổ chức và hộ gia đình bị ảnh hưởng là 115.000, số hộ cần bố trí tái đinh cư trên 17.000 hộ Trong đó, đã hoàn thành xong 321 dự án, bàn giao đất cho 45 dự án, bàn giao trên 9.800 ha đất, chi trả trên 1.900 tỷ đồng cho trên 38.100

hộ dân, bố trí TĐC cho trên 1.136 hộ (Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, 2013)

1.3.2.4 Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại tỉnh Bắc Ninh

*) Các văn bản quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Bên cạnh các văn bản Luật, Nghị định của Chính phủ, Thông tư của các bộ hướng dẫn về công tác BT, HT, TĐC UBND tỉnh Bắc Ninh đã ban hành một số văn bản sau:

- Quyết định số 47/2008/QĐ-UBND ngày 08/04/2008 của UBND tỉnh Bắc Ninh về việc ban hành quy định diện tích đất tối thiểu sau khi tách thửa và diện tích được hỗ trợ bằng tiền đối với đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư, đất vườn, ao liền kề với đất ở trong khu dân cư khi Nhà nước hồi đất trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh;

- Quyết định số 171/2009/QĐ-UBND ngày 18/12/2009 của UBND tỉnh Bắc Ninh về việc ban hành quy định một số nội dung thực hiện các Nghị định của chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh;

- Quyết định số 157/2010/QĐ-UBND ngày 17/12/2010 của UBND tỉnh Bắc Ninh về việc quy định đơn giá bồi thường cây trồng, thủy sản khi Nhà nước thu hồi đất

- Quyết định số 155/2011/QĐ-UBND ngày 22/12/2011 của UBND tỉnh Bắc Ninh quy định giá các loại đất trên địa bàn tỉnh năm 2012;

- Quyết định 159/QĐ-UBND ngày 27/12/2011 về việc phê duyệt giá đất ở trung bình và hỗ trợ đất nông nghiệp thuộc địa giới hành các phường trên địa bàn thành phố Bắc Ninh năm 2012;

Trang 31

- Quyết định số 157/2011/QĐ-UBND ngày 27/12/2011 về việc sửa đổi khoản

1, điều 10 của Quy định một số nội dung thực hiện các Nghị định của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh ban hành kèm theo quyết định số 171/2009/QĐ-UBND ngày 18/12/2009 của UBND tỉnh Bắc Ninh;

- Quyết định số 652/2012/QĐ-UBND ngày 28/5/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh về việc ban hành đơn giá nhà cửa, vật kiến trúc áp dụng cho công tác bồi thường giải phóng mặt bằng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh;

Từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực, UBND tỉnh Bắc Ninh đã ra Quyết định số 528/2014/QĐ-UBND ngày 22 tháng 12 năm 2014 quy định về bồi thường,

hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và thực hiện trình tự thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất; bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Quyết định số 02/2015/QĐ-UBND ngày 26/02/2015 của UBND tỉnh Bắc Ninh về việc ban hành quy định trình tự, thủ tục xác định giá đất cụ thể trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

*) Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Trong thời gian qua, công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh thực hiện tương đối tốt, cơ bản đã đáp ứng tiến độ và yêu cầu của dự án Tổng hợp từ năm 2010 đến năm 2014 trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đã thực hiện thu hồi, chuyển mục đích sử dụng được 532 dự án với diện tích đất thu hồi 917,12 ha Trong đó thu hồi diện tích đất nông nghiệp 604,24 ha; Diện tích đất ở 8,56 ha; Diện tích đất chuyên dùng 297,88 ha; Diện tích đất chưa

sử dụng 2,16 ha; Diện tích đất nghĩa trang, nghĩa địa 4,28 ha Toàn bộ quỹ đất thu hồi được chuyển mục đích sử dụng cho việc thực hiện các dự án khác nhau: Diện tích đất thực hiện dự án đất ở đô thị 42,28 ha; Dự án đất ở nông thôn 120,96 ha; Dự

án xây dựng trụ sở cơ quan 43,56 ha; Dự án đất sản xuất kinh doanh 286,88 ha; Dự

án phục vụ các công trình giao thông, thủy lợi 296,44 ha; Dự án xây dựng các công trình công cộng, phúc lợi xã hội như y tế, văn hóa, giáo dục, năng lượng, thể dục thể thao 114,2 Diện tích nông nghiệp khó canh tác 12,84 ha (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh, 2014)

Trang 32

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

- Đối tượng bị ảnh hưởng bởi chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (người có đất bị thu hồi)

- Đối tượng thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (cán bộ thực hiện, đơn vị, tổ chức thực hiện dự án)

Hình 2.1 Sơ đồ vị trí dự án 1 và dự án 2

Dự án 1

Dự án 2

Trang 33

Lý do chọn 02 dự án trên: Cùng với sự phát triển chung của cả nước đồng

thời theo định hướng chung của toàn thành phố là hướng đến sự phát triển toàn diện

và lâu dài thì khi hoàn thành 02 dự án trên sẽ có đóng góp nhất định không chỉ cho cuộc sống của người dân mà còn cho sự phát triển KT - XH của thành phố Ngoài

ra, đây là 2 dự án thực hiện trong thời gian gần đây nhất, phản ánh đầy đủ, rõ ràng thực trạng công tác BT, HT, TĐC trên địa bàn thành phố Bắc Ninh Do vậy sự chênh lệch về đơn giá bồi thường, hỗ trợ trên địa bàn hành chính cấp xã và cấp phường có sự chênh lệch không lớn, nhằm tạo sự cân bằng giữa đơn giá BT, HT khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn cấp phường, cấp xã, tăng sự đồng thuận của người dân đối với dự án Bên cạnh đó, 02 dự án trên còn có sự đa dạng về các loại đất thu hồi, diện tích đất nông nghiệp thu hồi lớn, diện tích đất ở có nguồn gốc sử dụng đất phức tạp Qua đó, khi nghiên cứu và đánh giá 02 dự án này có thể

khái quát và nhận định về công tác BT, HT, TĐC trên toàn thành phố

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội tại thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh 2.2.2 Thực trạng quản lý, sử dụng đất và công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

2.2.3 Kết quả thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại 02 dự án nghiên cứu 2.2.4 Đánh giá chung việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại

02 dự án nghiên cứu

2.2.5 Một số giải pháp góp phần hoàn thiện hơn công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp điều tra số liệu thứ cấp

- Thu thập tài liệu, các văn bản, chính sách có liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giá bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở các dự án như: khung giá đất của UBND tỉnh ban hành, giá quy định của Nhà nước và giá bồi thường được áp dụng cho tỉnh Bắc Ninh

Trang 34

- Thu thập nguồn thông tin, số liệu tại Ban Quản lý dự án công trình công cộng – Sở Xây dựng tỉnh Bắc Ninh, Ban Quản lý dự án xây dựng thành phố Bắc Ninh, UBND thành phố Bắc Ninh, phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Bắc Ninh, UBND phường Kinh Bắc, phường Vũ Ninh, phường Vạn An như Quyết định thu hồi đất; Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, danh sách các hộ có đất bị thu hồi phục vụ cho đề tài nghiên cứu

2.3.2 Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp

- Điều tra, khảo sát thực địa về tình hình thu hồi đất, thực hiện bồi thường,

hỗ trợ tại địa bàn nghiên cứu trên cơ sở phỏng vấn trực tiếp, ngẫu nhiên các hộ gia đình, cá nhân trong diện được bồi thường về đất, tài sản trên đất tại 02 dự án nghiên cứu qua các tiêu chí như: sự minh bạch; mức giá bồi thường, hỗ trợ; tiến độ thực hiện dự án; mục đích sử dụng số tiền được bồi thường, hỗ trợ, những khó khăn sau khi bị thu hồi đất, tinh thần thái độ của cán bộ thực hiện BT, HT, TĐC…

- Tìm hiểu nguyên nhân tạo ra khó khăn trong công tác bồi thường thiệt hại bằng cách phỏng vấn trực tiếp cán bộ thực hiện công tác BT, HT, TĐC đối với Ban Quản lý dự án xây dựng thành phố Bắc Ninh, Ban Quản lý dự án công trình công cộng – Sở Xây dựng tỉnh Bắc Ninh, Chủ tịch UBND và cán bộ Địa chính các phường có liên quan đến công tác BT, HT, TĐC về những yếu tố tác động đến việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại 02 dự án nghiên cứ qua các tiêu chí như: trình tự thực hiện BT, HT; đơn giá bồi thường về đất, tài sản trên đất; áp lực từ cấp trên trong quá trình thực hiện công tác BT, HT, TĐC; sự phản hồi của người dân bị thu hồi đất…

- Số phiếu điều tra được xác định theo công thức 2.1 (theo văn bản số 1159/BNV-CCHC, ngày 10/4/2014 của Bộ Nội vụ)

N

n =

1 + N.(e)2

(2.1)

Trong đó: n - Số phiếu điều tra;

N - Tổng số các hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi tại 2 dự án;

e - Sai số tiêu chuẩn ( e = 10%)

Trang 35

- Đối với dự án Xây dựng đường Kinh Dương Vương kéo dài có 74 hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nông nghiệp nên tổng số phiếu điều tra:

74

n =

1 + 74.(10%)2

≈ 42 (phiếu)

- Đối với dự án Xây dựng đường Nguyễn Đăng Đạo kéo có 116 hộ gia đình,

cá nhân bị thu hồi đất nông nghiệp nên tổng số phiếu điều tra:

116

n =

1 + 116.(10%)2

≈ 53 (phiếu)

Vậy điều tra trực tiếp, ngẫu nhiên hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất với tổng

số phiếu là 110 phiếu, trong đó: có 42 phiếu thuộc Dự án 1 và 53 phiếu thuộc Dự án

2 và 15 phiếu điều tra cán bộ trực tiếp thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

2.3.3 Phương pháp phân tích và so sánh số liệu

Tổng hợp kết quả điều tra của người bị thu hồi đất và cán bộ thực hiện thu hồi đất từ đó phân tích và so sánh, đánh giá kết quả công tác BT,

HT và TĐC

2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Microsoft Office Excel 2010

Trang 36

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Bắc Ninh

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Thành phố Bắc Ninh nằm ở phía Nam sông Cầu, phía Đông Bắc của tỉnh Bắc Ninh, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 30 km về phía Bắc, cách thành phố Bắc Giang 20km về phía Nam theo ranh giới tiếp giáp như: (Hình 3.1)

Hình 3.1 Vị trí địa lý thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

- Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang;

- Phía Nam giáp huyện Tiên Du, huyện Quế Võ;

- Phía Đông giáp huyện Quế Võ;

- Phía Tây giáp huyện Tiên Du, huyện Yên Phong

Thành phố có 19 đơn vị hành chính gồm 13 phường và 6 xã mới sát nhập về theo Nghị định số 60/2007/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính để mở rộng thành phố Bắc Ninh gồm: xã Hoà Long, Khúc Xuyên,

Trang 37

Phong Khê, Nam Sơn, Khắc Niệm và Kim Chân thuộc các huyện Yên Phong, Quế

Võ, Tiên Du

Thành phố Bắc Ninh nằm trong tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, cách Trung tâm Công nghiệp Hải Phòng, Quảng Ninh hơn 100 km về phía Đông Thành phố Bắc Ninh có các tuyến giao thông quan trọng như Quốc lộ 1A, 38, 18, tuyến đường Bắc Ninh - Nội Bài, tuyến đường sắt Bắc Nam, các tuyến đường thuỷ (sông Cầu) rất thuận tiện cho đi lại thông thương và giao lưu văn hoá với những điều kiện đó đã tạo rất nhiều điều kiện thuận lợi cho Bắc Ninh phát triển trên mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội

3.1.1.2 Địa hình, địa mạo

Địa hình: Thành phố Bắc Ninh có địa hình tương đối bằng phẳng, gồm địa hình đồng bằng và địa hình chuyển tiếp giữa đồng bằng và trung du Hướng dốc chính của địa hình theo hướng Đông Bắc - Tây Nam

Địa mạo: gồm các khu vực đồng bằng với độ dốc trung bình < 2,00% xen kẽ với các đồi bát úp có độ dốc sườn đồi từ 8 -15,00% và có độ cao phổ biến 40 - 50

m Diện tích đồi núi chiếm tỷ lệ rất nhỏ (0,25%) so với tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố, phân bố tại: xã Hòa Long (núi Quả Cảm); phường Đáp Cầu, Thị Cầu, Vũ Ninh (núi Ông Tư, Búp Lê, Điêu Sơn); xã Vân Dương, Nam Sơn (núi Cửa Vua, Bàn Cờ); Phường Hạp Lĩnh (núi Và)

3.1.1.3 Khí hậu, thủy văn

Khí hậu: Thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh Nhiệt độ trung bình năm 23,300C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 28,900C (tháng 7), nhiệt

độ trung bình tháng thấp nhất là 15,800C (tháng 1) Sự chênh lệch nhiệt độ giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất là 13,100C

- Lượng mưa trung bình hàng năm dao động trong khoảng từ 1.400 – 1.600

mm nhưng phân bố không đều trong năm Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80,00% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chỉ chiếm 20,00% tổng lượng mưa trong năm

- Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.530 – 1.776 giờ, trong đó tháng

có nhiều giờ nắng trong năm là tháng 7, tháng có ít giờ nắng là tháng 1

Trang 38

Chế độ thủy văn: Thành phố có chế độ thủy văn thuộc hệ thống lưu vực sông Cầu (bắt nguồn từ tỉnh miền núi Bắc Cạn), đoạn chảy qua thành phố dài đến 30 km (chiếm khoảng ¼ tổng chiều dài qua địa bàn tỉnh Bắc Ninh), lòng sông mùa khô rộng (60 – 80 m), mùa mưa rộng (100 – 120 m) Số liệu đo mực nước tại Đáp Cầu: mực nước lớn nhất là 8,09 m (năm 1971), lưu lượng tối đa 1780 m3/s, mực nước nhỏ nhất – 0,17 m (năm 1960), lưu lượng tối thiểu 4,30 m3/s

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

3.1.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế

Trong những năm qua, kinh tế thành phố Bắc Ninh có những bước chuyển biến tích cực, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức độ cao, đặc biệt trong lĩnh vược công nghiệp, xây dựng Từ năm 2010 - 2014 tốc độ tăng trương kinh tế đạt mức khá cao Các chỉ tiêu phát triển kinh tế được thể hiện trong bảng 3.1

Tổng giá trị sản xuất năm 2014, Thành phố đạt 4339 tỷ đồng tăng 1872 tỷ đồng so với năm 2010 Trong ngành công nghiệp – xây dựng đóng góp lớn nhất là

2134 tỷ đồng, chiếm 49,18% Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thành phố đạt ở mức cao trong giai đoạn 2010 - 2012 (đạt trên 17,00%), đến năm 2014 tốc độ tăng trưởng giảm xuống đạt 12,82% Trong các ngành, ngành dịch vụ - thương mại có tốc độ tăng trưởng rất cao, năm 2010 đạt 20,85% đến năm 2014 chỉ đạt 13,64% do

sự khủng hoảng kinh tế

Về cơ cấu kinh tế: Tỷ trọng nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong khi công nghiệp - xây dựng chiếm trên 48,35%, dịch vụ thương mại chiếm 47,95% Đây là đặc trưng của nền kinh tế thành phố Bắc Ninh Trong giai đoạn 2010 - 2014, tỷ trọng nông nghiệp tiếp tục giảm, năm 2010 đạt 5,77% đến năm 2014 giảm còn 3,70% tổng giá trị sản xuất Năm 2010, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng đạt 51,01%

và đến năm 2014 giảm xuống còn 48,35% Trong khi tỷ trọng dịch vụ tăng từ 43,91% năm 2010 lên 47,95% Như vậy có thể thấy nền kinh tế Thành phố đang thực hiện tốt quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa Tuy nhiên sự phát triển này tập trung ở một số phường nằm gần khu trung tâm còn những phường khác cũng đang trong tiến trình chuyển mình

Trang 39

Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế thành phố Bắc Ninh

2 Cơ cấu

2.1 Nông - lâm ngiệp - thủy sản % 5,08 4,73 4,33 4,02 3,70 2.2 Công nghiệp - xây dựng % 51,01 49,08 48,59 48,25 48,35 2.3 Dịch vụ - thương mại % 43,91 46,19 47,08 47,73 47,95

3 Tốc độ tăng trưởng kinh tế

3.1 Nông nghiệp - thủy sản % 0,84 2,50 2,44 0,79 1,61 3.2 Công nghiệp - xây dựng % 15,27 19,94 13,77 13,81 13,79

Trong lĩnh nông nghiệp và thủy sản thì nông nghiệp vẫn đóng vai trò chủ đạo Trong giai đoạn 2010 - 2014, tỷ trọng nông nghiệp tăng từ 97,34% vào năm

2010 lên 98,43% năm 2014 Tỷ trọng thủy sản giảm từ 2,66% vào năm 2010 xuống còn 1,57% vào năm 2014, tuy có sự chuyển dịch nhưng diễn ra rất chậm

Trang 40

b) Thực trạng phát triển công nghiệp xây dựng

Trong giai đoạn 2010 -2014, tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp- xây dựng thành phố Bắc Ninh bình quân đạt 15,70%/năm Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng năm 2014 đạt 2134 tỷ đồng tăng 942 đồng so với năm 2010 Kết quả này cho thấy, ngành công nghiệp ngày càng khẳng định vai trò, vị trí trong công cuộc phát triển kinh tế của Thành phố Mặt khác tỷ trọng ngành trong GDP giảm từ 51,01% (năm 2010) xuống còn 48,35% (năm 2014) Điều này minh chứng cho cơ cấu kinh tế đang có hướng chuyển dịch mạnh mẽ sang lĩnh vực dịch vụ, một lĩnh vực đang cần khuyến khích phát triển

đã và đang phát huy mạnh mẽ khả năng cạnh tranh để đẩy mạnh sản xuất Kinh tế

cá thể và kinh tế hỗn hợp đang nắm vai trò chủ đạo và có đóng góp lớn trong sự phát triển chung của ngành thương nghiệp - dịch vụ - du lịch Minh chứng cụ thể giá trị sản xuất kinh tế hỗn hợp đạt 935 tỷ đồng và kinh tế cá thể đạt 345 tỷ đồng năm 2014

Cùng với đẩy mạnh xuất khẩu, ngành thương mại Thành phố đã có nhiều nỗ lực chỉ đạo nhập khẩu những sản phẩm cần thiết phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường như sắt, thép, máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu may mặc, linh kiện, phụ tùng ô tô, xe máy, thuốc tân dược Hoạt động tài chính, ngân hàng, kho bạc đã có chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng trong việc kiềm chế lạm phát Công tác thu ngân sách nhà nước trên địa bàn có phần giảm từ 109.467 triệu đồng (năm 2010) xuống 89.471 triệu đồng (năm 2014) Nguồn thu trên phần nào đáp ứng được nhu cầu chi, song với sự

Ngày đăng: 17/02/2017, 11:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Nguyễn Thắng Lợi (2008). "Kinh nghiệm của Hàn Quốc trong hoạt động thu hồi đất nông nghiệp". Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 22/11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm của Hàn Quốc trong hoạt động thu hồi đất nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thắng Lợi
Năm: 2008
2. Đào Trung Chính (2014). Nghiên cứu thực trạng và đề xuất đổi mới pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khác
3. Chính phủ (2007). Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất Khác
4. Chính phủ (2009). Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 Quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Khác
5. Trần Quang Huy – Chủ biên (2013). Giáo trình Luật Đất đai, Nhà Xuất bản Công an nhân dân Hà Nội Khác
6. Nguyễn Thị Thu Hương, Nguyễn Thanh Trà, Phạm Phương Nam, Ngô Thị Hà (2011). Ảnh hưởng của chính sách bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp đến việc làm và thu nhập tại phường Vân Dương, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, Tạp chí Khoa học đất số 37 Khác
8. Nguyễn Minh (2005), Những điều cần biết về giá đất, bồi thường, hỗ trợ thu hồi đất, NXB Tư pháp Khác
9. Phạm Phương Nam, Nguyễn Thanh Trà, Phan Thị Thanh Huyền (2013). Thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, Tạp chí Tài nguyên &amp; Môi trường, số 10, tr. 23 - 25 Khác
10. Phạm Phương Nam (2013). Góp ý kiến sửa đổi, bổ sung một số quy định của Nghị định 69/2009/NĐ-CP. Tạp chí Tài nguyên &amp; Môi trường số 7, tr. 20 - 22 Khác
11. Phạm Phương Nam, Nguyễn Thanh Trà (2012). Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng thực hiện một số dự án tại huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, tạp chí Khoa và học phát triển, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, số 2, tập 10, tr 33 - 40 Khác
12. Nguyễn Thị Nga (2011). Những tồn tại, vướng mắc phát sinh trong quá trình áp dụng các phương thức bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, Tạp chí Luật học số 5/2011, tr. 35 – 39 Khác
13. Anh Phương (2008), Một số kiến nghị về công tác thu hồi đất, giải tỏa, giải phóng mặt bằng đạt hiệu quả, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 17/11 Khác
14. Ngân hàng Thế giới (2011), Cơ chế Nhà nước thu hồi đất và chuyển dịch đất đai tự nguyện ở Việt Nam. Hà Nội năm 2011 Khác
17. Hoàng Phê – Chủ biên (2000). Từ điển tiếng Việt, Nhà Xuất bản Đà Nẵng.` Khác
21. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Đất đai năm 2003, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 2003 Khác
22. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Đất đai năm 2013, Nhà xuất bản Tài nguyên – Môi trường và bản đồ Việt Nam , Hà Nội – 2014 Khác
23. UBND tỉnh Bắc Ninh (2011), Quyết định 159/QĐ-UBND ngày 27/12/2011, về việc phê duyệt giá đất ở trung bình và hỗ trợ đất nông nghiệp thuộc địa giới hành các phường trên địa bàn thành phố Bắc Ninh năm 2012 Khác
24. UBND tỉnh Bắc Ninh (2011), Quyết định số 155/2011/QĐ-UBND ngày 22/12/2011, quy định giá các loại đất trên địa bàn tỉnh năm 2012 Khác
25. UBND tỉnh Bắc Ninh (2012), Quyết định số 652/2012/QĐ-UBND ngày 28/5/2012, về việc ban hành đơn giá nhà cửa, vật kiến trúc áp dụng cho công tác bồi thường giải phóng mặt bằng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Khác
26. UBND thành phố Bắc Ninh (2015), Báo cáo kết quả công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng giai đoạn 2010 – 2014 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Sơ đồ vị trí dự án 1 và dự án 2 - đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ , tái định cư tại một số dự án giao thông trên địa bàn thành phố bắc ninh, tỉnh bắc ninh
Hình 2.1. Sơ đồ vị trí dự án 1 và dự án 2 (Trang 32)
Hình 3.1. Vị trí địa lý thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh - đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ , tái định cư tại một số dự án giao thông trên địa bàn thành phố bắc ninh, tỉnh bắc ninh
Hình 3.1. Vị trí địa lý thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (Trang 36)
Bảng 3.1. Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế thành phố Bắc Ninh - đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ , tái định cư tại một số dự án giao thông trên địa bàn thành phố bắc ninh, tỉnh bắc ninh
Bảng 3.1. Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế thành phố Bắc Ninh (Trang 39)
Bảng 3.2. Dân số, lao động thành phố Bắc Ninh từ năm 2010 – 2014 - đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ , tái định cư tại một số dự án giao thông trên địa bàn thành phố bắc ninh, tỉnh bắc ninh
Bảng 3.2. Dân số, lao động thành phố Bắc Ninh từ năm 2010 – 2014 (Trang 41)
Bảng 3.3. Hiện trạng sử dụng đất của thành phố Bắc Ninh năm 2014 - đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ , tái định cư tại một số dự án giao thông trên địa bàn thành phố bắc ninh, tỉnh bắc ninh
Bảng 3.3. Hiện trạng sử dụng đất của thành phố Bắc Ninh năm 2014 (Trang 49)
Bảng 3.4. Biến động đất đai giai đoạn 2010 – 2014 của thành phố Bắc Ninh - đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ , tái định cư tại một số dự án giao thông trên địa bàn thành phố bắc ninh, tỉnh bắc ninh
Bảng 3.4. Biến động đất đai giai đoạn 2010 – 2014 của thành phố Bắc Ninh (Trang 51)
Hình 3.2. Phối cảnh đường Kinh Dương Vương kéo dài - đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ , tái định cư tại một số dự án giao thông trên địa bàn thành phố bắc ninh, tỉnh bắc ninh
Hình 3.2. Phối cảnh đường Kinh Dương Vương kéo dài (Trang 54)
Hình 3.3. Phối cảnh đường Nguyễn Đăng Đạo kéo dài đi Hòa Long - đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ , tái định cư tại một số dự án giao thông trên địa bàn thành phố bắc ninh, tỉnh bắc ninh
Hình 3.3. Phối cảnh đường Nguyễn Đăng Đạo kéo dài đi Hòa Long (Trang 55)
Hình 3.4. Trình tự các bước thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư - đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ , tái định cư tại một số dự án giao thông trên địa bàn thành phố bắc ninh, tỉnh bắc ninh
Hình 3.4. Trình tự các bước thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (Trang 59)
Bảng 3.7. Bảng tổng hợp các tiêu chí phỏng vấn đối tượng bị thu hồi đất - đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ , tái định cư tại một số dự án giao thông trên địa bàn thành phố bắc ninh, tỉnh bắc ninh
Bảng 3.7. Bảng tổng hợp các tiêu chí phỏng vấn đối tượng bị thu hồi đất (Trang 78)
Bảng 3.8. Tống hợp ý kiến điều tra cán bộ trực tiếp thực hiện BT, HT, TĐC - đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ , tái định cư tại một số dự án giao thông trên địa bàn thành phố bắc ninh, tỉnh bắc ninh
Bảng 3.8. Tống hợp ý kiến điều tra cán bộ trực tiếp thực hiện BT, HT, TĐC (Trang 81)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w