Do quá trình công nghiệp hóa được đẩy mạnh, số lượng lao động tập trung trên địa bàn ngày càng cao dẫn đến nhu cầu khai thác và sử dụng nguồn nước ngầm ngày càng lớn.. Tổng quan Nước ngầ
Trang 11.2 Tình hình khai thác, sử dụng và quản lý nước ngầm trên thế giới 5 1.2.1 Tình hình khai thác, sử dụng nước ngầm trên thế giới 5 1.2.2 Hiện trạng chất lượng nước ngầm trên thế giới 8 1.3 Tình hình khai thác, sử dụng và quản lý nước ngầm ở Việt Nam 10 1.3.1 Tình hình nghiên cứu môi trường nước ngầm tại tỉnh Hưng Yên 15
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi chất lượng nước ngầm 19
1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm 21 1.5 Các vấn đề tồn tại trong quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên ngầm 24
2.4.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp thông tin, tài liệu, số liệu 27
Trang 22.4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 28
2.4.5 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm 30
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Văn Lâm – Hưng Yên 32
3.2 Đánh giá chất lượng nước ngầm phục vụ cho sinh hoạt trên địa bàn huyện
3.2.1 Đánh giá kết quả phân tích chỉ tiêu amoni 39 3.2.2 Đánh giá kết quả phân tích chỉ tiêu Fe, Mn 43
3.2.5 Đánh giá kết quả phân tích hàm lượng tổng chất rắn 50 3.2.6 Đánh giá kết quả các kim loại nặng: As, Cd, Pb, Zn, Hg, Cu 53 3.3 Cảnh báo mức độ ô nhiễm nước ngầm tại khu vực huyện Văn Lâm 54 3.3.1 Các nguyên nhân gây ô nhiễm nước ngầm tại khu vực huyện Văn Lâm 57 3.4 Đề xuất một số giải pháp quản lý nguồn nước ngầm 58
Trang 33.4 Kết quả phân tích mẫu nước ngầm trên địa bàn huyện Văn Lâm 56
Trang 4DANH MỤC HÌNH
3.4 Biểu diễn kết quả phân tích Fe và Mn (Đợt 1) 43
3.8 Biểu diễn kết quả hàm lượng độ cứng tổng (Đợt 1) 483.9 Biểu diễn kết quả hàm lượng độ cứng tổng (Đợt 2) 493.10 Biểu diễn kết quả hàm lượng tổng chất rắn (Đợt 1) 513.11 Biểu diễn kết quả hàm lượng tổng chất rắn (Đợt 2) 52
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN Liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các
Quốc gia trong khu vực Đông Nam Á ATSH An toàn sinh học
BĐKH Biến đổi khí hậu
CSDL Cơ sở dữ liệu
ĐDSH Đa dạng sinh học
ĐCTV Địa chất thủy văn
FAO Tổ chức nông lương liên hợp quốc
GIS Hệ thống thông tin địa lý
GPS Hệ thống định vị toàn cầu
KCN Khu công nghiệp
NNPTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NDĐ Nước dưới đất
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
SIWI Viện nước quốc tế Stockholm
TNMT Tài Nguyên và Môi Trường
UBND Ủy ban nhân dân
Trang 6MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Việc sử dụng nước ngầm đã có từ thời cổ xưa Trong kinh Cựu ước người ta đã nói đến nước ngầm, suối, giếng Người ta dùng những quanats, những giếng nằm ngang để lấy nước ngầm Những giếng này còn tồn tại đến ngày nay ở các vùng sa mạc Tây Nam Châu Á và Bắc Phi kéo dài từ Afghanistan đến Morocco Người ta xác định các giếng được các người thợ tài hoa xây dựng cách đây 3000 năm
Do đó nước ngầm có một vị trí quan trọng trong vấn đề cấp nước sạch trên thế giới Tuy nhiên việc theo dõi nước ngầm có tính chất khoa học chỉ mới bắt đầu, do các hoạt động kinh tế làm biến động mạnh mẽ chất lượng và trữ lượng nước ngầm đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới, riêng ngành địa chất thủy văn của nước ta còn rất non trẻ chỉ mới hơn 30 năm
Nền kinh tế Việt Nam đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ Cho đến nay nó không chỉ phát triển ở các thành phố, khu đô thị lớn của nước ta mà đang mở rộng ra các huyện lân cận Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống của người dân được cải thiện đáng kể Mức sống của người dân càng cao thì nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm xã hội càng cao, điều này đồng nghĩa với việc gia tăng các vấn đề về ô nhiễm môi trường
Hiện nay ô nhiễm môi trường nước nói chung và ô nhiễm môi trường nước ngầm nói riêng là một vấn đề thu hút được sự quan tâm của rất nhiều nhà khoa học, các tổ chức môi trường trên thế giới cũng như từng quốc gia
Nghiên cứu của Viện Nước quốc tế Stockholm (SIWI), nước bẩn giết chết nhiều người hơn so với động đất và chiến tranh Ước tính mỗi ngày trên thế giới
có tới 5.000 trẻ em bị chết do các bệnh liên quan đến nước bẩn Trong khi đó, theo một phúc trình của LHQ năm 2006, có tới 5.000 trẻ em bị chết do các bệnh liên quan đến nước bẩn
Văn Lâm là huyện nằm ở phía Bắc tỉnh Hưng Yên Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía Tây giáp thủ đô Hà Nội, phía Nam giáp các huyện Văn
Trang 7Giang, Yên Mỹ và Mỹ Hào, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương, huyện Văn Lâm có
11 đơn vị hành chính gồm 10 xã và 1 thị trấn với tổng diện tích 74,42 km2
Toàn huyện Văn Lâm có 18 làng nghề, trong đó có 06 làng nghề được công nhận là làng nghề cấp tỉnh, một số khu công nghiệp như: Như Quỳnh, Lạc Đạo, Tân Quang, phố Nối A…và một số cụm công nghiệp đang ngày càng phát triển mạnh Do quá trình công nghiệp hóa được đẩy mạnh, số lượng lao động tập trung trên địa bàn ngày càng cao dẫn đến nhu cầu khai thác và sử dụng nguồn nước ngầm ngày càng lớn Chính điều này đã ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng các nguồn nước ngầm trên địa bàn huyện, ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng của nguồn nước cho nhu cầu sinh hoạt
Nhu cầu về nước ngọt sạch phục vụ cho dân sinh cũng như cho sản xuất là rất lớn, trong khi các nguồn cung cấp truyền thống là nước mặt như nước sông, nước hồ đang bị ô nhiễm Vì thế sử dụng nước ngầm để cung cấp nước sạch ngày càng phát triển Việc sử dụng nước ngầm cho sinh hoạt và hoạt động sản xuất tại các vùng miền là rất phổ biến, mỗi hộ gia đình chỉ cần có một giếng khoan là có thể sử dụng cho cả gia đình trong các mục đích sử dụng nước khác nhau Tuy vậy, việc khai thác quá mức nước ngầm sẽ dẫn đến sự suy giảm trữ lượng nước mặt, ngoài ra nếu các giếng khai thác không đạt chuẩn có thể gây ô nhiễm nước ngầm tại nơi khai thác mà còn ở các vùng khác
Công nghiệp hóa đem lại rất nhiều những lợi ích về mặt kinh tế, xã hội, đời sống sinh hoạt của người dân trên địa bàn Tuy nhiên bên cạnh đó thì nó cũng là một nguyên nhân gây ảnh hưởng đến môi trường nước ngầm tại khu vực Việc cảnh báo mức độ ô nhiễm môi trường nước ngầm sẽ giúp cho người dân có được một cái nhìn
rõ ràng hơn về tình hình chất lượng nguồn nước ngầm mình đang sử dụng
Thực tiễn nói trên đã làm nảy sinh vấn đề đánh giá chất lượng nguồn nước, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước ngầm, trên cơ
sở đó đưa ra những cảnh báo và đề xuất một số giải pháp bảo vệ và cải thiện chất lượng nước ngầm nhằm đáp ứng nhu cầu khai thác và sử dụng bền vững nguồn nước trên địa bàn huyện
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Đánh giá chất lượng nước ngầm phục vụ cho
Trang 8sinh hoạt và cảnh báo mức độ ô nhiễm trên địa bàn huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên " là việc làm cần thiết, vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn
Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá được hiện trạng chất lượng nước ngầm phục vụ cho sinh hoạt
trên địa bàn huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
- Đề xuất các biện pháp quản lý nguồn nước ngầm tại huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
Yêu cầu của đề tài
- Các số liệu điều tra, thu thập phải trung thực, chính xác, khoa học
- Nội dung nghiên cứu phải thực hiện được các mục tiêu đã đề ra
- Các giải pháp đề xuất phù hợp với điều kiện của địa phương, có tính thực tiễn và khả năng áp dụng thực tế
Trang 9CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan
Nước ngầm là một dạng nước dưới đất, tích trữ trong các lớp đất đá trầm tích bở rời như cặn, sạn, cát bột kết, trong các khe nứt, hang caxtơ dưới bề mặt trái đất, có thể khai thác cho các hoạt động sống của con người
Loại nước ngầm tầng mặt rất dễ bị ô nhiễm Nước ngầm tầng sâu thường nằm trong lớp đất đá xốp được ngăn cách bên trên và phía dưới bởi các lớp không thấm nước Theo không gian phân bố, một lớp nước ngầm tầng sâu thường có ba vùng chức năng:
- Vùng thu nhận nước
- Vùng chuyển tải nước
- Vùng khai thác nước có áp
Khoảng cách giữa vùng thu nhận và vùng khai thác nước thường khá xa,
từ vài chục đến vài trăm km Các lỗ khoan nước ở vùng khai thác thường có áp lực, đây là loại nước ngầm có chất lượng tốt và lưu lượng ổn định, trong các khu vực phát triển đá cacbonat thường tồn tại loại nước ngầm caxtơ di chuyển theo các khe nứt caxtơ
Có hai loại nước ngầm: nước ngầm không có áp lực và nước ngầm có áp lực Nước ngầm không có áp lực: là dạng nước được giữ lại trong các lớp đá ngậm nước và lớp đá này nằm bên trên lớp đá không thấm như lớp diệp thạch hoặc lớp sét nén chặt Loại nước ngầm này có áp suất rất yếu, nên muốn khai thác nó thì phải đào giếng xuyên qua lớp đá ngậm rồi dùng bơm hút lên Nước ngầm loại này thường ở không sâu dưới mặt đất và có nhiều trong mùa mưa và ít
dần trong mùa khô (Đặng Kim Cơ, 2004)
Nước ngầm có áp lực: là dạng nước được giữ lại trong các lớp đá ngậm nước và lớp đá này bị kẹp giữa hai lớp sét hoặc diệp thạch không thấm Do bị kẹp chặt giữa hai lớp đá không thấm nên nước có một áp lực rất lớn vì thế khi khai thác người ta dùng khoan xuyên qua lớp đá không thấm bên trên và chạm vào lớp nước này nó sẽ tự phun lên mà không cần phải bơm Loại nước ngầm này thường ở sâu dưới mặt đất, có trữ lượng lớn và thời gian hình thành nó phải
mất hàng trăm năm thậm chí hàng nghìn năm (Đặng Kim Cơ, 2004)
Trang 10Bảng 1.1 Một số đặc điểm khác nhau giữa nước ngầm và nước mặt
Nhiệt độ Tương đối ổn định Thay đổi theo mùa
Chất rắn lơ lửng Rất thấp, hầu như
Khí CO2 hòa tan Có nồng độ cao Rất thấp hoặc bằng 0
Khí O2 hòa tan Thường không tồn
Khí NH3 Thường có Có khi nguồn nước bị nhiễm
(Nguồn: Đặng Kim Cơ, 2004)
1.2 Tình hình khai thác, sử dụng và quản lý nước ngầm trên thế giới
1.2.1 Tình hình khai thác, sử dụng nước ngầm trên thế giới
Khi con người bắt đầu trồng trọt và chăn nuôi thì đồng ruộng dần dần phát triển ở miền đồng bằng màu mỡ, kề bên lưu vực các con sông lớn Lúc đầu dân
cư còn ít và nước thì đầy ắp trên các sông hồ, đồng ruộng, cho dù có gặp thời gian khô hạn kéo dài thì cũng chỉ cần chuyển cư không xa lắm là tìm được nơi ở
Trang 11mới tốt đẹp hơn Vì vậy, nước được xem là nguồn tài nguyên vô tận và cứ như thế qua một thời gian dài, vấn đề nước chưa có gì là quan trọng
Tình hình thay đổi nhanh chóng khi cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện và càng ngày càng phát triển như vũ bão Hấp dẫn bởi nền công nghiệp mới
ra đời, từng dòng người từ nông thôn đổ xô vào các thành phố và khuynh hướng này vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay Đô thị trở thành nơi tập trung dân cư quá đông đúc, tình trạng này tác động trực tiếp đến vấn đề về nước càng ngày càng trở nên nan giải
Nhu cầu nước càng ngày càng tăng theo đà phát triển của nền công nghiệp, nông nghiệp và sự nâng cao mức sống của con người Theo sự ước tính, bình quân trên toàn thế giới có chừng khoảng 40% lượng nước cung cấp được sử dụng cho công nghiệp, 50% cho nông nghiệp và 10% cho sinh hoạt Tuy nhiên, nhu cầu nước sử dụng lại thay đổi tùy thuộc vào sự phát triển của mỗi quốc gia
Ví dụ: ở Hoa Kỳ, khoảng 44% nước được sử dụng cho công nghiệp, 47% sử dụng cho nông nghiệp và 9% sử dụng cho sinh hoạt và giải trí Ở Trung Quốc thì 7% nước được dùng cho công nghiệp, 87% nông nghiệp và 6% sử dụng cho sinh hoạt và giải trí
Nhu cầu về nước trong công nghiệp: Sự phát triển càng ngày càng cao của nền công nghiệp trên toàn thế giới càng làm tăng nhu cầu về nước, đặc biệt đối với một số ngành sản xuất như chế biến thực phẩm, dầu mỏ, giấy, luyện kim, hóa chất , chỉ 5 ngành sản xuất này đã tiêu thụ ngót 90% tổng lượng nước sử dụng cho công nghiệp Thí dụ: cần 1.700 lít nước để sản xuất một thùng bia chừng 120 lít, cần 3.000 lít nước để lọc một thùng dầu mỏ chừng 160 lít, cần 300.000 lít nước để sản xuất 1 tấn giấy hoặc 1,5 tấn thép, cần 2.000.000 lít nước để sản xuất
1 tấn nhựa tổng hợp Tài nguyên nước và hiện trạng sử dụng nước phát triển của nền công nghiệp hiện nay trên thế giới có thể dự đoán đến năm 2000 nhu cầu nước sử dụng cho công nghiệp tăng 1.900 km3/năm có nghĩa là tăng hơn 60 lần
so với năm 1900 Phần nước tiêu hao không hoàn lại do sản xuất công nghiệp chiếm khoảng từ 1 - 2% tổng lượng nước tiêu hao không hoàn lại và lượng nước còn lại sau khi đã sử dụng được quay về sông hồ dưới dạng nước thải chứa đầy
Trang 12những chất gây ô nhiễm ( Cao Liêm, Trần đức Viên, 1990 )
Nhu cầu về nước trong nông nghiệp: Sự phát triển trong sản xuất nông nghiệp như sự thâm canh tăng vụ và mở rộng diện tích đất canh tác cũng đòi hỏi một lượng nước ngày càng cao Theo M.I.Lvovits (1974), trong tương lai do thâm canh nông nghiệp mà dòng chảy cả năm của các con sông trên toàn thế giới
có thể giảm đi khoảng 700 km3/năm Phần lớn nhu cầu về nước được thỏa mãn nhờ mưa ở vùng có khí hậu ẩm, nhưng cũng thường được bổ sung bởi nước sông hoặc nước ngầm bằng biện pháp thủy lợi nhất là vào mùa khô Người ta ước tính được mối quan hệ giữa lượng nước sử dụng với lượng sản phẩm thu được trong quá trình canh tác như sau: để sản xuất 1 tấn lúa mì cần đến 1.500 tấn nước, 1 tấn gạo cần đến 4.000 tấn nước và 1 tấn bông vải cần đến 10.000 tấn nước Sở dĩ cần
số lượng lớn nước như vậy chủ yếu là do sự đòi hỏi của quá trình thoát hơi nước của cây, sự bốc hơi nước của lớp nước mặt trên đồng ruộng, sự trực di của nước xuống các lớp đất bên dưới và phần nhỏ tích tụ lại trong các sản phẩm nông nghiệp Dự báo nhu cầu về nước trong nông nghiệp đến năm 2000 sẽ lên tới 3.400 km3/năm, chiếm 58% tổng nhu cầu về nước trên toàn thế giới
Nhu cầu về nước Sinh hoạt và giải trí: Theo sự ước tính thì các cư dân sinh sống kiểu nguyên thủy chỉ cần 5-10 lít nước/ người/ ngày Ngày nay, do sự phát triển của xã hội loài người ngày càng cao nên nhu cầu về nước sinh hoạt và giải trí ngày cũng càng tăng theo nhất là ở các thị trấn và ở các đô thị lớn, nước sinh hoạt tăng gấp hàng chục đến hàng trăm lần nhiều hơn Theo sự ước tính đó thì đến năm
2000, nhu cầu về nước sinh hoạt và giải trí sẽ tăng gần 20 lần so với năm 1900, tức
là chiếm 7% tổng nhu cầu nước trên thế giới (Cao Liêm, Trần đức Viên - 1990)
Ngoài ra, còn rất nhiều nhu cầu khác về nước trong các hoạt động khác của con người như giao thông vận tải, giải trí ở ngoài trời như đua thuyền, trượt ván, bơi lội nhu cầu này cũng ngày càng tăng theo sự phát triển của xã hội Khi con người bắt đầu trồng trọt và chăn nuôi thì đồng ruộng dần dần phát triển ở miền đồng bằng màu mỡ, kề bên lưu vực các con sông lớn Lúc dân cư còn ít và nước thì đầy ắp trên các sông hồ, đồng ruộng, cho dù có gặp thời gian khô hạn kéo dài thì cũng chỉ cần chuyển cư không xa lắm là tìm được nơi ở mới
Trang 13tốt đẹp hơn Vì vậy, nước được xem là nguồn tài nguyên vô tận và cứ như thế qua một thời gian dài, vẫn đề nước chưa có gì là quan trọng
Tình hình thay đổi nhanh chóng khi cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện
và càng ngày càng phát triển như vũ bão Hấp dẫn bởi nền công nghiệp mới ra đời, từng dòng người từ nông thôn đổ xô vào các thành phồ và khuynh hướng này vẫn còn tiếp tục cho đến nay Đô thị trở thành nơi tập trung dân cư quá đông đúc, tình trạng này tác động trực tiếp đến vấn đề về nước ngày càng trở nên nan giải
1.2.2 Hiện trạng chất lượng nước ngầm trên thế giới
Trung bình mỗi ngày trên trái đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh hoạt
đổ ra sông hồ và biển cả, 70% lượng chất thải công nghiệp không qua xử lý bị trực tiếp đổ vào các nguồn nước tại các quốc gia đang phát triển Đây là thống kê của Viện Nước quốc tế (SIWI) được công bố tại Tuần lễ Nước thế giới (World Water Week) khai mạc tại Stockholm, thủ đô Thụy Điển ngày 5/9
Thực tế trên khiến nguồn nước dùng trong sinh hoạt của con người bị ô nhiễm nghiêm trọng Một nửa số bệnh nhân nằm viện ở các nước đang phát triển
là do không được tiếp cận những điều kiện vệ sinh phù hợp (vì thiếu nước) và các bệnh liên quan đến nước Thiếu vệ sinh và thiếu nước sạch là nguyên nhân gây tử vong cho hơn 1,6 triệu trẻ em mỗi năm Tổ chức Nông Lương LHQ (FAO) cảnh báo trong 15 năm tới sẽ có gần 2 tỷ người phải sống tại các khu vực khan hiếm nguồn nước và 2/3 cư dân trên hành tinh có thể bị thiếu nước
Hàng năm, 4.000 trẻ em tử vong vì nước bẩn và vệ sinh kém Đây là con
số được Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc UNICEF công bố
Giám đốc điều hành UNICEF, bà Ann M.Veneman cho biết: "Trên thế giới, cứ 15 giây lại có một trẻ em tử vong bởi các bệnh do nước không sạch gây
ra và nước không sạch là thủ phạm của hầu hết các bệnh và nạn suy dinh dưỡng Một trẻ em lớn lên trong những điều kiện như thế sẽ có ít cơ hội để thoát khỏi cảnh đói nghèo"
Ước tính có khoảng 17 triệu (52%) trẻ em chưa được sử dụng nước sạch
và khoảng 20 triệu (59%) chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh Con số này còn cao hơn
ở vùng các dân tộc ít người và vùng sâu vùng xa
Trang 14Hiện có tới 10% trẻ em ở thành phố không có nhà tiêu Con số này ở nông thôn là 40% Thiếu nước sạch và vệ sinh ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng sức khỏe của trẻ em ở Việt Nam (44% trẻ em bị nhiễm giun và 27% trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng)
Thống kê của UNICEF tại khu vực Nam và Đống Á cho thấy chất lượng nước tại khu vực này ngày càng trở thành mối đe dọa lớn đối với trẻ em Tình trạng ô nhiễm Asen (thạch tín) và flo (fluoride) trong nước ngầm đang đe dọa nghiêm trọng tình trạng sức khỏe của 50 triệu người dân trong khu vực
Các công trình nghiên cứu mới đây đã cho thấy những bệnh do sử dụng nước bẩn gây ra đã ảnh hưởng đến sức khỏe và làm giảm khả năng học hành của các em Hàng ngày có rất nhiều trẻ em ở các nước đang phát triển không được đến trường vì bị các bệnh như tiêu chảy, nhiễm trùng đường ruột Hơn nữa, nhiều học sinh gái không thể đến trường đi học nếu không có công trình nước và vệ sinh riêng biệt cho các em
Tại diễn đàn của trẻ em thế giới về nước tổ chức tại Mexico ngày 21/3, UNICEF cho biết 400 triệu trẻ em trên thế giới đang phải vật lộn với sự sống vì không có nước sạch Theo đó, trẻ em là người phải trẻ giá cao nhất khi không được sử dụng nước sạch Kết quả nghiên cứu cho thấy trẻ em dưới năm tuổi dễ bị mắc tiêu chảy nhất (căn bệnh này gây tử vong cho 4500 trẻ em mỗi ngày)
Nguồn nước ngầm chiếm 95% là nước ngọt cung ứng trên thế giới Sự khai thác nguồn nước ngầm được tiến hành từ lâu ở các quốc gia phát triển Ở Hoa Kỳ, khoảng 50% nước uống cho dân cư (96% ở vùng ven và 20% ở đô thị), 40% lượng nước dùng để tưới tiêu đều được lấy từ nước ngầm
Việc gia tăng sử dụng nước ngầm hiện nay đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm:
- Sự cạn kiệt nguồn nước ngầm: do sự khai thác lấy đi nhanh hơn sự trực
di của nước làm cho nguồn nước ngầm trở nên cạn kiệt Thí dụ sự cạn kiệt nguồn nước ngầm đã xảy ra ở California, ở miền Bắc Trung Quốc, ở Mexico và ở Ấn
Ðộ là do khai thác để tưới tiêu
- Sự lún sụp: Khi lớp nước ngầm ở cạn bị lấy đi nhanh tạo nên khoảng trống trong các lớp ngậm nước là nguyên nhân gây nên sự lún sụp Hiện tượng
Trang 15này đã xảy ra vào năm 1981 ở California đã tàn phá nhà cửa, nhà máy, đường dẫn nước, đường xe điện
- Sự nhiễm mặn: Sự khai thác nước ngầm ở các vùng ven bờ biển tạo nên khoảng trống trong các lớp đá ngậm nước, làm cho nước biển tràn vào chiếm lấy khoảng trống đó gây nên sự nhiễm mặn nguồn nước Sự nhiễm mặn nguồn nước đã xãy ra ở những vùng ven bờ biển của Israel, Syria
- Sự ô nhiễm nguồn nước: Khi khai thác nước ngầm sử dụng cho tưới tiêu, cho sản xuất công nghiệp và cho sinh hoạt, lượng nước thải có thể len lỏi theo các đường ống dẫn làm ô nhiểm nguồn nước ngầm Sự ô nhiễm nước ngầm đã xãy ra ở nhiều nước phát triển và cả Hoa Kỳ, nguồn tài nguyên nước ngầm bị ô nhiễm bởi hoạt động nông nghiệp và kỹ nghệ, nước ngầm bị ô nhiễm muốn phục hồi lại phải mất hàng trăm thậm chí đến hàng ngàn năm
1.3 Tình hình khai thác, sử dụng và quản lý nước ngầm ở Việt Nam
Giống như một số nước trên thế giới, Việt Nam cũng đang đứng trước thách thức hết sức lớn về nạn ô nhiễm môi trường nước, đặc biệt là tại các khu công nghiệp và đô thị
Bảng 1.2: Hiện trạng khai thác và nhu cầu sử dụng nước tại các đô thị
ở Việt Nam đến năm 2020 Loại
Nguồn nước M3/ng/đêm
Trang 16Nguồn nước M3/ng/đêm
II Nha trang Nước mặt + Nước ngầm
II Vũng tàu Nước mặt + Nước ngầm 30000
II Mỹ tho Nước mặt + Nước ngầm 90000
III Sơn la Nước mặt + Nước ngầm 10000
III Hạ long-
C.Phả Nước mặt + Nước ngầm
97000
III Hòa bình Nước mặt + Nước ngầm 13500
Trang 17Nguồn nước M3/ng/đêm
III Hải dương Nước mặt + Nước ngầm 30000
IV Hà giang Nước mặt + Nước ngầm 4800
Trang 18Nguồn nước M3/ng/đêm
(Nguồn: Cục quản lý tài nguyên nước- Bộ Tài nguyên Môi trường năm 2010)
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới ẩm có lượng mưa tương đối lớn trung bình từ 1.800mm - 2.000mm, nhưng lại phân bố không đồng đều mà tập trung chủ yếu vào mùa mưa từ tháng 4-5 đến tháng 10, riêng vùng duyên hải Trung bộ thì mùa mưa bắt đầu và kết thúc chậm hơn vài ba tháng Sự phân bố không đồng đều lượng mưa và dao động phức tạp theo thời gian là nguyên nhân gây nên nạn
lũ lụt và hạn hán thất thường gây nhiều thiệt hại lớn đến mùa màng và tài sản ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc gia, ngoài ra còn gây nhiều trở ngại cho việc trị thủy,
khai thác dòng sông (Đặng Kim Cơ - 2010)
Theo sự ước tính thì lượng nước mưa hằng năm trên toàn lãnh thổ khoảng
640 km2 , tạo ra một lượng dòng chảy của các sông hồ khoảng 313 km2 Nếu tính cả lượng nước từ bên ngoài chảy vào lãnh thổ nước ta qua hai con sông lớn
là sông Cửu long (550 km2) và sông Hồng (50 km2) thì tổng lượng nước mưa nhận được hằng năm khoảng 1.240 km2và lượng nước mà các con sông đổ ra biển hằng năm khoảng 900 km2 Như vậy so với nhiều nước, Việt nam có nguồn nước ngọt khá dồi dào lượng nước bình quân cho mỗi đầu người đạt tới 17.000
Trang 19m3/người/năm Do nền kinh tế nước ta chưa phát triển nên nhu cầu về lượng nước sử dụng chưa cao, hiện nay mới chỉ khai thác được 500 m3/người/năm nghĩa là chỉ khai thác được 3% lượng nước được tự nhiên cung cấp và chủ yếu là chỉ khai thác lớp nước mặt của các dòng sông và phần lớn tập trung cho sản xuất
nông nghiệp (Đặng Kim Cơ - 2010)
Nước tàng trữ trong lòng đất cũng là một bộ phận quan trọng của nguồn tài nguyên nước ở Việt Nam Mặc dù nước ngầm được khai thác để sử dụng cho sinh hoạt đã có từ lâu đời nay; tuy nhiên việc điều tra nghiên cưú nguồn tài nguyên nầy một cách toàn diện và có hệ thống chỉ mới được tiến hành trong chừng chục năm gần đây Tài nguyên nước và hiện trạng sử dụng nước nhất là ở vùng nông thôn bằng các phương tiện thủ công, còn sự khai thác bằng các phương tiện hiện đại cũng đã được tiến hành nhưng còn rất hạn chế chỉ nhằm phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt ở các trung tâm công nghiệp và khu dân cư lớn
mà thôi
Theo kết quả điều tra và nghiên cứu địa chất thủy văn khu vực và tìm kiếm thăm dò có thể phân chia các phân vị địa chất thủy văn nước ta như sau: Các tầng chứa nước lõ hổng trong tạo thành đệ tứ
Các tầng chứa nước khe nứt trong tạo thành bazan pliocen – đệ tứ
Các tầng chứa nước khe nứt trong tạo thành lục nguyên
Các tầng chứa nước khe nứt khác trong tạo thành cacbonate
Các tạo thành địa chất rất nghèo nước hoặc không chứa nước
Hiện nay nguồn nước dưới đất ở Việt Nam cũng đang phải đối mặt với những vấn đề như bị nhiềm mặn, nhiễm thuốc trừ sâu, các chất có hại khác Việc khai thác quá mức và không có quy hoạch đã làm cho mực nước dưới đất bị hạ thấp Hiện tượng này ở các khu vực đồng bằng bắc bộ và đồng bằng sông Cửu Long Khai thác nước quá mức cũng sẽ dẫn đến hiện tượng xâm nhập mặn ở các vùng ven biển Nước dưới đất bị ô nhiễm do việc chôn lấp gia cầm, dịch bệnh không đúng quy cách
Hầu hết sông hồ ở các thành phố lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, nơi có dân cư đông đúc và nhiều khu công nghiệp lớn đều bị ô nhiễm
Trang 20Phần lớn lượng nước thải sinh hoạt (khoảng 600.000 m3 mỗi ngày, với khoảng
250 tấn rác được thải ra các sông ở khu vực Hà Nội) và công nghiệp (khoảng 260.000 m3 nhưng chỉ có 10% được xử lý) đều không được xử lý, mà đổ thẳng vào các ao hồ, sau đó chảy ra các con sông lớn Ngoài ra, nhiều nhà máy và cơ sở sản xuất cũng không được trang bị hệ thống xử lý nước thải
1.3.1 Tình hình nghiên cứu môi trường nước ngầm tại tỉnh Hưng Yên
Công tác điều tra, nghiên cứu ở tỉnh Hưng Yên liên quan đến lĩnh vực tài nguyên nước nói chung, tài nguyên nước ngầm nói riêng còn hạn chế Giai đoạn trước năm 1975, việc nghiên cứu nước ngầm chỉ thực hiện thông qua các lỗ khoan đơn lẻ phục vụ cho nhu cầu khai thác sinh hoạt ở thị xã Hưng Yên (nay là Thành phố Hưng yên) các thông tin và tài liệu các giếng khoan thực hiện trong giai đoạn này độ tin cậy thấp vì tính chuyên môn hóa chưa cao Phần lớn các tài liệu này không còn hoặc được lưu giữ tản mạn ở nhiều nơi khác nhau Nhìn chung thành quả khoa học về nghiên cứu tài nguyên nước ngầm trong giai đoạn này có hiệu quả nhất định được thể hiện qua thực tế trong khai thác Đây là nguồn thông tin cần thiết định hướng cho công trình nghiên cứu cũng như khai thác sau này
Giai đoạn sau năm 1975, nghiên cứu tài nguyên NDĐ ở Hưng Yên có hệ thống mang tính khoa học cao, tiêu biểu là một số các công trình nghiên cứu ĐCTV như sau:
- Trịnh Văn Duệ (1979), Báo cáo tìm kiếm nước dưới đất vùng Hưng yên (lập bản đồ tỷ lệ 1/50.000)
- Phan Xuân Hải (1984), Báo cáo tìm kiếm nước dưới đất vùng Ân Thi - Hưng Yên (lập bản đồ tỷ lệ 1/50.000)
- Chu Thế Tuyển (1990), Tìm kiếm NDĐ với mục đích cấp nước vùng Văn Lâm -Văn Giang (lập bản đồ tỷ lệ 1/50.000)
- Nguyễn Hữu Căn (1999), Báo cáo thăm dò đánh giá trữ lượng nước dưới đất phục vụ yêu cầu cấp nước của khu đô thị Phố Nối - giai đoạn 1
Ngoài ra từ năm 2005 đến nay đã có nhiều đề tài, dự án và phương án thăm dò nước dưới đất khu vực Hưng Yên của nhiều tác giả phục vụ nhiều mục
Trang 21đích khác nhau Trong những năm gần đây, do hoạt động phát triển kinh tế -xã hội, đặc biệt là hoạt động công nghiệp đòi hỏi nhu cầu khai thác nước lớn Nhiều báo cáo thăm dò đánh giá trữ lượng nước ngầm đã nghiên cứu như:
- Phạm Quý Nhân (2007), báo cáo thăm dò đánh giá trữ lượng khai thác nước dưới đất khu công nghiệp Thăng Long II công suất 21.000 m3/ngày
- Phan Hùng (2009), báo cáo thăm dò đánh giá trữ lượng khai thác nước dưới đất khu công nghiệp Kim Động công suất 15.000 m3/ngày
1.3.2 Đặc điểm địa chất tỉnh Hưng Yên
Đặc điểm địa chất:
Theo các tài liệu nghiên cứu trước đây cho thấy ở khu vực nghiên cứu, các thành tạo trầm tích Kainozoi phát triển khá mạnh mẽ Các phân vị địa tầng được mô tả từ cổ đến trẻ như sau:
* Hệ Neogen, Hệ tầng Vĩnh Bảo (N2vb)
Trong khu vực nghiên cứu, các trầm tích của hệ tầng Vĩnh Bảo phân bố rộng rãi Trên mặt cắt địa chất, các lỗ khoan thăm dò bắt gặp hệ tầng này ở
độ sâu từ 86,0m (LK1) đến 112,0m (TD3) trung bình là 101,2m Thành phần thạch học của hệ tầng bao gồm các thành tạo cuội kết, sạn kết, cát kết xen kẽ nhau, gắn kết yếu màu xám xanh hoặc xám xi măng Tại khu vực bãi giếng Khu công nghiệp Thăng Long II hệ tầng này xuất hiện ở độ sâu từ 88,0 m (BH4) và 95,5 m (BH1), các lỗ khoan còn lại đều chưa khoan tới hệ tầng Vĩnh Bảo Bề dày của hệ tầng đạt khoảng 250m Các nghiên cứu trước đây xếp các
trầm tích trên vào hệ tầng Vĩnh Bảo, tuổi Plioxen, nguồn gốc biển (N2vb) * Hệ
Đệ Tứ
Trong khu vực nghiên cứu, các trầm tích tuổi đệ tứ phân bố rộng rãi, trên mặt cắt địa chất có mặt đầy đủ các phân vị địa tầng từ Pleistocen đến Holocen
Thống Pleistocen:
- Phụ thống Pleistocen dưới, hệ tầng Lệ Chi (Q11 lc)
Hệ tầng Lệ Chi không lộ ra trên bề mặt của khu vực nghiên cứu, chúng
bị các thành tạo Đệ tứ phủ lên trên Thành phần thạch học gồm cuội, sỏi, cát,
Trang 22lẫn bột sét màu xám nâu, xám xanh đôi chỗ gặp tàn tích thực vật, thân gỗ chưa phân huỷ hoàn toàn Thành phần cuội, sỏi chủ yếu thạch anh, silic; kích thước cuội trung bìnhm, độ mài tròn tốt và rất tốt Chiều dày của hệ tầng Lệ Chi thay đổi theo 2 phương Tây - Đông và Bắc - Nam, dày 8,0 - 32,5 m
Phần dưới của hệ tầng Lệ Chi phủ trực tiếp nên các thành tạo Neogen
và phần trên bị đất đá hệ tầng Hà Nội phủ Tuổi của hệ tầng Lệ Chi được xếp vào Pleistocen sớm
- Phụ thống Pleistocen giữa- trên, hệ tầng Hà Nội (Q12-3hn)
Các trầm tích của hệ tầng Hà Nội phân bố rất rộng rãi trong khu vực nghiên cứu và hoàn toàn chìm dưới các thành tạo trầm tích có tuổi trẻ hơn, chỉ được phát hiện qua các công trình khoan Theo thành phần thạch học, hệ tầng Hà Nội được chia thành hai phụ hệ tầng: phụ hệ tầng dưới và phụ hệ tầng
trên (Đặng Đình Phúc, 2010)
+ Phụ hệ tầng dưới (aQ12-3hn1):
Các trầm tích này có diện tích phân bố rất rộng rãi, Chiều dày phụ hệ tầng này thay đổi từ 13,5m (DM5-1A) đến 46,0m (LK11), trung bình 27,6m Thành phần thạch học bao gồm cuội to lẫn sỏi, cát Kích thước cuội phổ biến từ 3-6cm, độ mài tròn và độ chọn lọc tốt Thành phần thạch học của cuội chủ yếu
là thạch anh, silic, một số nơi gặp cuội quaczit
Nhìn chung, đây là tầng trầm tích có khả năng chứa nước, thấm nước tốt nhất trong khu vực, có khả năng đáp ứng nhu cầu khai thác nước với quy
mô công nghiệp
Phụ hệ tầng Hà Nội dưới phủ bật chỉnh hợp trên hệ tầng Lệ Chi và trên nó là
phụ hệ tầng Hà Nội trên (Đặng Đình Phúc, 2010)
+ Phụ hệ tầng trên (Q12-3hn2) :
Nằm chuyển tiếp trên phụ tầng Hà Nội dưới, có diện tích phân bố rộng Chiều dày của phụ hệ tầng dưới từ 1,5 - 15,5 m Thành phần trầm tích của phụ hệ tầng này bao gồm: sét, sét bột màu xám đen, xám nâu, nâu đỏ Các trầm tích này đã hình thành lớp cách nước hoặc thấm nước yếu nằm phủ trực tiếp trên tầng chứa nước qp1
Trang 23+ Phụ thống Pleistocen trên, hệ tầng Vĩnh Phúc (Q13vp)
Các trầm tích của hệ tầng Vĩnh Phúc phân bố rộng rãi khắp khu vực nghiên cứu, không lộ ra trên mặt đất mà hoàn toàn chìm dưới các trầm tích Holocen Hệ tầng này gồm một nhịp phân biệt rõ ràng với hệ tầng Hà Nội và hệ tầng Hải Hưng, được cấu tạo bởi hai tập:
- Phụ hệ tầng Vĩnh Phúc dưới (aQ13vp1): Hạt thô, nguồn gốc sông
Chiều dày thay đổi từ 5,5 - 28,1 m Thành phần trầm tích của phụ hệ tầng chủ yếu là cát hạt thô, dưới có lẫn ít sạn sỏi, chuyển lên trên là cát hạt trung, trên cùng là cát hạt nhỏ có lẫn ít bột và ít sét màu xám nâu, xám vàng điển hình
+ Phụ hệ tầng Vĩnh Phúc trên (amQ13vp2): Hạt mịn, có nguồn gốc sông - biển
Chiều dày thay đổi mạnh từ 3,0 - 29,0 m Phụ hệ tầng trên rất dễ nhận biết bởi màu sắc loang lổ đặc trưng đó là tầng đánh dấu phân chia ranh giới với hệ tầng Hải Hưng ở phía trên Thành phần gồm sét, sét bột, sét cát bị phong hoá có màu loang lổ ở phía trên, chuyển xuống dưới có màu xám xanh, nâu vàng, nâu đỏ
* Thống Holocen
- Phụ thống Holocen dưới - giữa, hệ tầng Hải Hưng (Q21-2hh)
Theo đặc điểm trầm tích và nguồn gốc, tuổi, có thể chia hệ tầng thành hai phân hệ tầng: phụ hệ tầng dưới và phụ hệ tầng trên
+ Phụ hệ tầng dưới: Nguồn gốc sông - biển - đầm lầy (ambQ21-2 hh1)
Chiều dày thay đổi từ 3,9 - 22,0 m Trầm tích trong phụ hệ tầng này là
sự đan xen nguồn gốc, kéo theo sự thay đổi khá phức tạp các thành phần vật chất, thể hiện tính không đồng nhất của môi trường trầm tích Thành phần chính gồm cát hạt nhỏ màu xám tro, xám đen có lẫn vảy mica trắng, đôi chỗ có xen kẹp sét bột, sét cát màu xám đen lẫn nhiều tàn tích thực vật
Phân hệ tầng dưới nằm bất chỉnh hợp trên hệ tầng Vĩnh Phúc và chuyển tiếp với phân hệ tầng trên
+ Phụ hệ tầng trên: Nguồn gốc biển (mQ21-2hh2)
Chiều dày của hệ tầng thay đổi từ 2,0 - 8,0 m Lộ nhiều trên mặt và cấu
Trang 24thành chủ yếu bề mặt đồng bằng tỉnh Hưng Yên Thành phần trầm tích đơn giải bao gồm: sét, bột sét màu xám nâu, xám xanh, đôi chỗ bị laterit hoá yếu có màu nâu hồng, nâu trắng, đỏ nhạt Có thể gặp chúng dễ dàng qua các mương tát nước,
hố đào, ven các ao hồ
Hệ tầng Hải Hưng phần dưới phủ trực tiếp lên hệ tầng Vĩnh Phúc và phía
trên bị hệ tầng Thái Bình phủ kín (Đặng Đình Phúc, 2010)
- Phụ thống Holocen trên, hệ tầng Thái Bình (aQ23tb)
Các trầm tích hệ tầng Thái Bình có diện phân bố hạn chế Chỉ bắt gặp ở phía Tây Nam, Nam khu vực nghiên cứu và ven các sông ngòi Thành phần trầm tích chủ yếu là sét, bột sét màu nâu, xuống dưới xám nâu Hệ tầng này phủ mỏng trên hệ tầng Hải Hưng với chiều dày 1 - 2m, cá biệt có chỗ ven
sông, chiều dày lên tới 6,0m (Đặng Đình Phúc, 2010)
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi chất lượng nước ngầm
1.4.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến mực nước ngầm
Các điều kiện tự nhiên:
• Các yếu tố khí tượng
Lượng mưa, độ ẩm, lượng bốc hơi, nhiệt độ không khí đều có ảnh hưởng đến
sự thay đổi mực nước Lượng mưa trên vùng bổ cấp của tầng chứa nước chứa ít nhiều đều làm mực nước trong tầng dâng lên ít hay nhiều, đặc biệt đối với các tầng chứa nước gần mặt đất Vào mùa mưa, mực nước trong các đơn vị chứa nước dâng cao; ngược lại vào mùa khô, do độ ẩm thấp, nước bốc hơi nhanh sẽ làm mực nước trong tầng chứa bị hạ thấp
• Các yếu tố thủy văn
Mật độ sông suối, sự thay đổi mực nước trong chúng có ảnh hưởng trực tiếp đến mực nước ngầm, tác động này khá rõ rệt đối với các tầng chứa nước nông Dọc theo hệ thống sông, kênh hay khi các tầng nước bị hệ thống thủy văn cắt qua, mực nước ngầm dâng lên do được bổ cấp cho nước mặt (hay nói cách khác sông là nguồn tiêu thoát của nước ngầm); ngược lại vào mùa mưa lũ, khi mực nước sông dâng cao, dòng sông trở thành nguồn nuôi dưỡng cho nước ngầm
và làm mực nước ngầm dâng cao
Trang 25• Các yếu tố địa hình, địa mạo
Tùy thuộc vào độ dốc địa hình mà động lực của tầng nước sẽ khác nhau Địa hình dốc làm cho nước ngấm vào đất ít hơn vùng bằng phẳng do mực nước được giũ lại nhiều hơn Nơi có thảm thực vật dày thì có khả năng giữ nước lâu hơn so với nơi không có thảm thực vật Mức độ phân cắt của địa hình có ảnh hưởng lớn đến sự thay đổi nước ngầm Sự phức tạp của địa mạo khu vực, nó quyết định quy luật thay đổi mực nước
• Các yếu tố địa chất
Thành phần đất đá, kiến trúc, cấu tạo, nguồn gốc của các loại đất đá đều
có tác động đến sự thay đổi mực nước Tầng chứa nước có thành phần đất thô với hệ thấm lớn sẽ nhận lượng nước cấp bổ từ trên xuống nhiều hơn so với tầng được cấu tạo bởi lớp đất đá mịn Lớp đất phủ phía trên tầng chứa nước cấu tạo bởi thành phần hạt mịn làm cho nước dễ dàng ngấm xuống tầng chứa nước bên dưới
Các yếu tố nhân tạo:
Bên cạnh đó, các tác động của con người cũng có thể làm thay đổi mực nước ngầm trên phạm vi rộng lớn mà quy luật thay đổi không giống như của điều kiện tự nhiên Bởi vì sự tác động của các yếu tố nhân tạo làm thay đổi sự cân bằng của nước ngầm, dẫn đến nhiều ảnh hưởng xấu cho môi trường
a Khai thác nước dưới đất
Trong hoạt động sống của con người nước là một nhu cầu cần thiết nhất,
do quá trình công nghiệp hóa phát triển mạnh, tỷ lệ dân số tăng cao, mức sống của con người được nâng cao theo đà phát triển của xã hội, nên nhu cầu sử dụng nước đòi hỏi cũng tăng lên nhiều để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp và các ngành sản xuất khác Thế là, nhà nhà khoan giếng để khai thác nguồn nước ngầm; kết quả của quá trình bơm hút là làm cho lượng nước ngầm mất đi dẫn đến sự hạ thấp mực nước Tùy thuộc vào lưu lượng khai thác, khoảng thời gian khai thác, khả năng cung cấp của tầng chứa nước, mà mực nước của tầng đó có sự hạ thấp khác nhau và quy mô sự thay đổi trên một diện rộng hay hẹp, mức độ dao động lớn hay nhỏ
Trang 26b Sử dụng đất
Đối với khu vực thâm canh nông nghiệp, nơi này sẽ nhận được một lượng nước tưới tiêu lớn nên mực nước ngầm cũng sẽ dâng lên Còn đối với vùng có lớp phủ thực vật thì khả năng giữ nước tốt cũng nhờ hệ thống rễ cây do đó mực nước không bị biến đổi lớn Ngược lại vùng không có thảm thực vật, khi mưa nước sẽ nhanh chóng chảy xuống vũng trũng thấp à không được giữ lại Khi các khu dân cư và khu công nghiệp được đầu tư xây dựng làm cho diện tích đất bị xi măng hóa ngày càng tăng nhanh chóng, góp phần làm hạn chế nguồn cấp từ nước mặt, nước mưa làm cho nước ngầm tầng nông
Như đã trình bày trên, sự thay đổi mực nước ngầm có hai nhóm yếu tố tác động chính là: yếu tố tự nhiên và yếu tố con người Trong đó yếu tố tự nhiên là điều kiện khách quan của động thái nước ngầm; còn yếu tố nhân tạo là điều kiện chủ quan của con người Sự thay đổi do con người thường mang tính phá hủy điều kiện cân bằng tự nhiên của nước ngầm trong khu vực đó Do đó, nhất thiết
có sự đánh giá kỹ tác động của con người đến môi trường để có biện pháp sử dụng và quản lý hiệu quả
1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm
Hiện tượng ô nhiễm nước ngầm xảy ra khi các hóa chất độc hại, các loại
vi khuẩn gây bệnh, virut, kí sinh trùng phát sinh từ các nguồn thải khác nhau như chất thải công nghiệp từ các nhà máy sản xuất, các loại rác thải của các bệnh viện, các loại rác thải sinh hoạt bình thường của con người hay hóa chất, thuốc trừ sâu, phân bón hữu cơ…sử dụng trong sản xuất nông nghiệp được đẩy ra các
ao, hồ, sông, suối và ngấm xuống nước dưới đất mà không qua xử lý hoặc với khối lượng quá lớn vượt quá khả năng tự điều chỉnh và tự làm sạch của các loại
ao hồ, sông, suối
a Kim loại nặng
Kim loại nặng có Hg, Cd, Pb, As, Sb, Cr, Cu, Zn, Mn… chúng thường không tham gia hoặc ít tham gia và quá trình sinh hóa của các thể sinh vật và thường tích lũy trong cơ thể Vì vậy, chúng là các nguyên tố độc hại với sinh vật Hiện tượng nước bị nhiễm kim loại nặng thường gặp trong các lưu vực gần các
Trang 27khu công nghiệp, các thành phố lớn và các khu vực khai thác khoáng sản Ô nhiễm kim loaị nặng biểu hiện ở nồng độ cao của các kim loại trong nước Một
số trường hợp xuất hiện hiện tượng chết hàng loạt các loại cá và thủy sinh vật Nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm kim loại nặng là quá trình đổ vào môi trường nước nước thải công nghiệp và nước thải độc hại không qua xử lý hoặc xử
lý không đạt yêu cầu Ô nhiễm nước bởi kim loại nặng có tác động tiêu cực tới môi trường sống của sinh vật và con người Kim loại nặng tích lũy theo chuỗi thức ăn thâm nhập vào cơ thể người Nước mặt bị ô nhiễm sẽ lan truyền các chất
ô nhiễm vào nước ngầm, vào đất và các thành phần môi trường có liên quan khác Để hạn chế ô nhiễm nước, cần phải tăng cường biện pháp xử lý nước thải công nghiệp, quản lý tốt vật nuôi trong môi trường có nguy cơ bị ô nhiễm như nuôi cá, trồng rau bằng nguồn nước thải
Để hạn chế tác động tiêu cực của ô nhiễm sinh vật nguồn nước mặt, cần nghiên cứu các biện pháp xử lý nước thải, cải thiện tình trạng vệ sinh môi trường sống của dân cư, tổ chức tốt hoạt động y tế và dịch vụ công cộng
c Thuốc bảo vệ thực vật
Ô nhiễm nguồn nước bởi thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học là
Trang 28hiện tượng phổ biến trong các vùng nông nghiệp Trong quá trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học, một lượng đáng kể thuốc và phân không được cây trồng tiếp nhận Chúng sẽ lan truyền và tích lũy trong đất, nước và các sản phẩn nông nghiệp dưới dạng dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón Tác động tiêu cực khác của sự ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật và phân bón
là làm suy giảm chất lượng môi trường khu vực canh tác nông nghiệp như phú dưỡng đất, nước, ô nhiễm đất, nước, làm giảm tính đa dạng sinh học của khu vực nông thôn, suy giảm các loại thiên địch, tăng khả năng chống chịu của sâu bệnh đối với thuốc bảo vệ thực vật
Ngày nay, tình trạng ô nhiễm và suy thoái nước ngầm đang phổ biến ở các khu vực đô thị và các thành phố lớn trên thế giới Để hạn chế tác động ô nhiễm
và suy thoái nước ngầm cần phải tiến hành đồng bộ các công tác điều tra, thăm
dò trữ lượng và chất lượng nguồn nước ngầm, xử lý nước thải và chống ô nhiễm
nguồn nước mặt, quan trắc thường xuyên trữ lượng và chất lượng nước ngầm
Giống như một số nước trên thế giới, Việt Nam cũng đang đứng trước thách thức hết sức lớn về nạn ô nhiễm môi trường nước, đặc biệt là tại các khu công nghiệp và đô thị
Thực trạng ô nhiễm nước mặt : Hiện nay chất lượng nước ở vùng thượng lưu các con sông chính còn khá tốt Tuy nhiên ở các vùng hạ lưu đã và đang có nhiều vùng bị ô nhiễm nặng nề Đặc biệt mức độ ô nhiễm tại các con sông tăng cao vào mùa khô khi lượng nước đổ về các con sông giảm Chất lượng nước suy giảm mạnh, nhiều chỉ tiêu như : BOD, COD, NH4, N, P cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần Ô nhiễm nước mặt khu đô thị: các con sông chính ở Việt Nam đều đã bị ô nhiễm Ví dụ như sông Thị Vải, là con song ô nhiễm nặng nhất trong
hệ thống song Đồng Nai, có một đoạn song chết dài trên 10km Giá trị đo thường xuyên dưới 0.5mg/l, giá trị thấp nhất ở khu cảng Vedan ( 0.04 mg/l) Với giá trị
gần bằng 0 như vậy, các loài sinh vật không còn khả năng sinh sống (Nguyễn Thu Hiền, 2007)
Thực trạng ô nhiễm nước dưới ngầm: Hiện nay nguồn nước ngầm ở Việt Nam cũng đang phải đối mặt với những vấn đề như bị nhiễm mặn, nhiễm thuốc
Trang 29trừ sâu, các chất có hại khác… Việc khai thác quá mức và không có quy hoạch
đã làm cho mực nước dưới đất bị hạ thấp Hiện tượng này ở các khu vực đồng bằng bắc bộ và đồng bằng song Cửu Long (Đặng Kim Chi, 2005) Khai thác nước quá mức cũng sẽ dẫn đến hiện tượng xâm nhập mặn ở các vùng ven biển Nước ngầm bị ô nhiễm do việc chon lấp gia cầm bị dịch bệnh không đúng quy cách Thực trạng ô nhiễm nước biển: Nước biển Việt Nam đã bị ô nhiễm bởi chất rắn lơ lửng (đồng bằng song Cửu Long và sông Hồng), nitrat, nitrit, colifom ( chủ yếu là đồng bằng song Cửu Long), dầu và kim loại kẽm… Hầu hết sông hồ ở các thành phố lớn như Hà Nội và TP HCM, nơi có dân cư đông đúc và nhiều khu công nghiệp lớn đều bị ô nhiễm Phần lớn lượng nước thải sinh hoạt (khoảng 600.000 m3 mỗi ngày, với khoảng 250 tấn rác được thải ra các sông ở khu vực
Hà Nội) và công nghiệp (khoảng 260.000 m3 nhưng chỉ có 10% được xử lý) đều không được xử lý, mà đổ thẳng vào các ao hồ, sau đó chảy ra các con sông lớn tại vùng Châu Thổ sông Hồng và sông Mê Kông Ngoài ra, nhiều nhà máy và cơ
sở sản xuất như các lò mổ và ngay bệnh viện (khoảng 7.000 m3 mỗi ngày, chỉ
30% là được xử lý) cũng không được trang bị hệ thống xử lý nước thải (Nguyễn Thu Hiền, 2007)
Nhiều ao hồ và sông ngòi tại khu vực Hà Nội bị ô nhiễm nặng, đáng lưu ý
là hệ thống hồ trong công viên Yên Sở Đây được coi là thùng chứa nước thải của Hà Nội với hơn 50% lượng nước thải của thành phố Người dân trong khu vực này không có đủ nước sạch cho nhu cầu sinh hoạt và tưới tiêu Điều kiện sống của họ cũng bị đe dọa nghiêm trọng vì nhiều khu vực trong công viên là nơi nuôi dưỡng mầm mống của dịch bệnh Mặc dù mở cửa từ năm 2002 nhưng công viên Yên Sở không được sử dụng hiệu quả do sự ô nhiễm và mùi ô uế bốc lên từ
hồ Vì vậy, quá trình phát triển vẫn dậm chân tại chỗ Nhiều sông hồ ở phía Nam thành phố như Tô Lịch và Kim Ngưu cũng đang nằm trong tình trạng ô nhiễm
như vậy (Nguyễn Thu Hiền, 2007)
1.5 Các vấn đề tồn tại trong quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên ngầm Các vấn đề tồn tại trong công tác quản lý tài nguyên nước
Nguồn kinh phí phục vụ cho thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài
Trang 30nguyên nước ở địa phương chưa có, do đó công tác tập huấn, tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn các văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên nước do Trung ương và địa phương ban hành chưa thực hiện được rộng rãi tới các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh
Việc phối kết hợp giữa các Sở, ban, ngành và các cơ quan liên quan trong việc đôn đốc, triển khai thực hiện các văn bản QPPL về tài nguyên nước đã ban hành chưa thực hiện được Hoạt động của các đơn vị đều theo hệ thống ngành dọc, phục vụ theo yêu cầu chức năng riêng của ngành mình, nên sự phối kết hợp, chia sẻ thông tin trong công tác quản lý tài nguyên nước rất hạn chế, cơ chế phối hợp trong hoạt động chưa có
Thông tin, dữ liệu tài nguyên nước còn thiếu và phân tán, sự tham gia của cộng đồng vào việc bảo vệ tài nguyên nước chưa được quan tâm đúng mức Công tác thu thập, quản lý, lưu trữ dữ liệu, thông tin về tài nguyên nước còn phân tán, chưa tập trung
Do đó, những thông tin về tài nguyên nước chưa thống nhất và chưa được chia sẻ ngay trong các cơ quan Nhà nước Các số liệu, thông tin cần thiết về tài nguyên nước, diễn biến tài nguyên nước làm cơ sở để lập quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội cho các địa phương trong tỉnh và không thường xuyên được cập nhật Việc quản lý thông tin vẫn chưa có hiệu quả, đặc biệt là chưa có ngân hàng dữ liệu tài nguyên nước của tỉnh Chế độ báo cáo, cung cấp dữ liệu, thông tin về tài nguyên nước, về khai thác, sử dụng nước của các ngành, các địa phương và các tổ chức, cá nhân chưa được coi trọng
Các vấn đề tồn tại trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước
Các ngành dùng nước trên địa bàn huyện Văn Lâm hiện nay đang khai thác tài nguyên nước một cách riêng rẽ theo yêu cầu của mỗi ngành mà chưa có
sự phối hợp với nhau nên hiệu quả sử dụng nước chưa cao
Trong mùa khô, đặc biệt là những năm thiếu nước hạn hán, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành để điều phối, chia sẻ nguồn nước chống hạn và tăng hiệu quả sử dụng nước Điều này dẫn đến mâu thuẫn sử dụng nước giữa các ngành có khả năng tăng cao trong tương lai khi nhu cầu dùng nước tăng lên mà nguồn nước ngày bị thiếu hụt
Trang 31Các vấn đề tồn tại trong bảo vệ tài nguyên nước
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, lượng rác thải phát sinh từ các hộ gia đình trên địa bàn huyện Văn Lâm ngày càng lớn Bên cạnh
đó, việc hình thành các vùng chăn nuôi tập trung trên địa bàn đã gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường tại một số khu vực, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân
Thực tế đó đòi hỏi các cấp, ngành của thành phố cần tích cực triển khai các giải pháp góp phần cải thiện hiện trạng vệ sinh môi trường nông thôn Thành phố đã thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, đã đẩy mạnh phong trào vệ sinh chuồng trại chăn nuôi, xây dựng hầm Bioga, ngâm ủ tận dụng nguồn phân gia súc cung cấp chất đốt Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn có một số cơ sở ý thức bảo vệ nguồn nước chưa cao, việc xây dựng bể xử lý nước thải chỉ mang tính đối phó, làm cho có, không đảm bảo tích trữ bùn thải, nước thải khi thải ra nguồn nước vẫn chưa đạt quy chuẩn đề ra
Trang 32CHƯƠNG II: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Chất lượng nguồn nước ngầm phục vụ sinh hoạt trên địa bàn huyện Văn Lâm
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Nguồn nước ngầm phục vụ sinh hoạt trên địa bàn huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
- Thời gian: 2014-2015
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của thành phố Hưng Yên
- Tìm hiểu những nguyên nhân và nguồn gây ô nhiễm tới nguồn nước ngầm tại khu vực huyện Văn Lâm
- Khảo sát đánh giá chất lượng nước ngầm thông qua các giếng nước khoan tại các hộ đang sử dụng trên địa bàn
- Đề xuất các biện pháp quản lý và bảo vệ nguồn nước ngầm
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành các nội dung, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tác giả
đã áp dụng các phương pháp sau:
2.4.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp thông tin, tài liệu, số liệu
Là phương pháp luôn được thực hiện trong suốt quá trình thực hiện đề tài Mục tiêu của việc thu thập tài liệu là có được đầy đủ các tài liệu nghiên cứu trước đây về vùng nghiên cứu đã được các tác giả thực hiện từ trước Các tài liệu thu thập chủ yếu về: môi trường nước ngầm, tài liệu về địa chất thủy văn, kinh tế xã hội, kết quả phân tích mẫu
Xây dựng kế hoạch đi thực địa, lấy mẫu nước ngầm tại 11 xã, thị trấn trên địa bàn huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
Sử dụng các phương pháp phân tích các chỉ tiêu về chất lượng nước để phân tích chất lượng các mẫu nước ngầm
Tiến hành lấy mẫu trong khoảng thời gian tháng 4/2014
Thu thập các tài liệu, số liệu và các công trình nghiên cứu có liên quan
Trang 33đến khu vực nghiên cứu như thu thập các thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế
- xã hội của huyện Văn Lâm, bản đồ khu vực nghiên cứu, các báo cáo tổng hợp hàng quý của khu vực nghiên cứu, số liệu phân tích tại cơ sở thực tập, kết quả nghiên cứu có liên quan…
2.4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Hình 2.1: Sơ đồ vị trí lấy mẫu
Trên cơ sở những thông tin về nguồn nước ngầm các hộ gia đình khai thác, sử dụng nước ngầm, đề xuất các tiêu chí lựa chọn điểm lấy mẫu nước ngầm
để phân tích Tiêu chí được lựa chọn là giếng khoan của các hộ gia đình (nước được lấy trực tiếp thông qua máy bơm và chưa qua xử lý), địa điểm tiến hành lấy mẫu được diễn ra tại 10 xã và 1 thị trấn trên địa bàn huyện Văn Lâm Các mẫu được lấy từ các hộ gia đình một cách ngẫu nhiên, mỗi hộ gia đình thì tiến hành lấy 01 mẫu nước từ giếng khoan có độ sâu từ 40 - 45m
Quá trình điều tra khảo sát được chia làm 2 đợt như sau:
Đợt 1: Ngày 7 - 17/4/2014
Tần suất quan trắc: Mỗi vị trí được lấy 01 mẫu
Địa điểm thực hiện: Tại 06 xã và thị trấn: Như Quỳnh, Trưng Trắc, Lạc Hồng, Đình Dù, Lạc Đạo, Tân Quang
Mỗi xã được lấy 10 mẫu tại các hộ gia đình đang sử dụng nước giếng khoan Tổng số xã được lấy mẫu trong đợt quan trắc này là 6
Tổng số mẫu lấy được là 60 mẫu
(Chi tiết được trình bày trong phần phụ lục)
Trang 34Đợt 2
Ngày 16 -26/4/2014
Tần suất quan trắc: Mỗi vị trí được lấy 01 mẫu
Địa điểm thực hiện: 05 xã Việt Hưng, Lương Tài, Minh Hải, Chỉ Đạo, Đại Đồng huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
Mỗi xã được lấy 10 mẫu tại các hộ gia đình đang sử dụng nước giếng khoan Tổng số xã được lấy mẫu trong đợt quan trắc này là 5
Tổng số mẫu lấy được là 50 mẫu
(Chi tiết được trình bày trong phần phụ lục)
2.4.3 Phương pháp lấy mẫu
Phương pháp lấy mẫu được áp dụng theo hướng dẫn của các tiêu chuẩn quốc gia:
- TCVN 6663-1:2011 Lấy mẫu - phần 11: Hướng dẫn lấy mẫu nước ngầm
- TCVN 6663-1:2011 Lấy mẫu - phần 3: Hướng dẫn bảo quản và lưu giữ mẫu nước
Đối với giếng khoan sẵn có (có các thông số kỹ thuật) đã lắp đặt sẵn bơm hút tiến hành các bước như sau:
+ Bước 1: Kẹp bông có tẩm cồn và đốt ngay tại vòi lấy mẫu nước nhằm mục đích khử khuẩn vòi
+ Bước 2: Bơm xả trực tiếp nước ngầm lên trong khoảng 10 phút để loại
bỏ lượng nước tù đọng trong ống dẫn
+ Bước 3: Bơm nước trực tiếp vào bình chứa mẫu đến ngưỡng ngập bình đậy nắp và dán nhãn
2.4.4 Phương pháp bảo quản mẫu
Mẫu được bảo quản dựa vào các tiêu chuẩn sau:
TCVN 5993:1995 (ISO 5667-3:1985) Chất lượng nước – Lấy mẫu –
Hướng dẫn bảo quản và xử lí mẫu;
TCVN 6663 -3: 2008 về chất lượng nước – Lấy mẫu – Phần 3- Hướng
dẫn bảo quản và xử lý mẫu;
Do trong khoảng thời gian từ lúc lấy mẫu đến khi phân tích, hàm lượng
Trang 35các hợp phần có thể bị biến đổi một cách khác nhau Nhiệt độ, pH của nước là những đại lượng bị biến đổi nhanh, sự thay đổi pH còn gây ra những thay đổi hàm lượng của các hợp phần khác Chính vì thế, ngay sau khi lấy mẫu xong phải được chuyển nhanh về phòng thí nghiệm để xử lý và bảo quản Cụ thể là:
+/ Đối với việc xác định các chỉ tiêu pH, độ cứng, độ đục, tổng chất rắn thì ta không cần bảo quản mà nên xác định ngay hoặc lưu giữ mẫu khoảng 1 –
2 ngày
+/ Đối với việc xác định các chỉ tiêu kim loại như As, Pb, Fe thì ta cho thêm vào mẫu khoảng 1 – 3ml HNO3 và có thể lưu giữ mẫu trong 1 tháng Tuy nhiên, đối với chỉ tiêu Fe thì thời gian lưu giữ mẫu chỉ từ 1 – 2 ngày
2.4.5 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm
Các phương pháp phân tích được thực hiện theo bảng sau
Bảng 2.1 Các chỉ số cần phân tích STT phân tích Thông số Đơn vị Phương pháp phân tích QCVN
Trang 362.4.6 Phương pháp xử lý số liệu
Sau khi có các thông tin từ các số liệu thứ cấp, sơ cấp, tiến hành phân tích, tổng hợp, đưa ra các nhận xét, đánh giá về chất lượng nước ngầm, tình hình khai thác, sử dụng nước ngầm, những tồn tại trong khai thác, sử dụng và quản lý nước ngầm, nguyên nhân của các tồn tại đó
Sử dụng các phần mềm văn phòng Word, Excel để xử lý các số liệu, vẽ đồ thị
Sử dụng phần mềm Excel để vẽ đồ thị, các chỉ tiêu phân tích được phân nhóm từng đợt lấy mẫu
Trang 37CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Văn Lâm – Hưng Yên
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý:
Hình 3.1 Sơ đồ hành chính huyện Văn Lâm
Nhìn vào hình 3.1 ta có thể thấy, huyện Văn Lâm nằm ở phía bắc tỉnh Hưng Yên, tiếp giáp với các tỉnh, Thành Phố và các huyện trong tỉnh như sau:
- Phía Bắc giáp thành phố Hà Nội và tỉnh Bắc Ninh
- Phía Tây giáp huyện Văn Giang
- Phía Nam giáp huyện Yên Mỹ và huyện Mỹ Hào
- Phía Đông giáp tỉnh Hải Dương
Toàn huyện có 11 xã, thị trấn với 86 thôn, phố, ấp là một trong 10 huyện thị của Tỉnh có vị trí thuận tiện cho sản xuất kinh doanh
Dân số hiện nay trên 117.046 người (tính đến tháng 12/2013), mật độ phân bố dân số bình quân trên địa bàn huyện là 1.571 người/km2 Huyện có một
Trang 38số tuyến đường chính như Quốc lộ 5A (chiều dài qua huyện khoảng 7km), đường sắt Hà Nội - Hải Phòng, đường 196, đường 206 và tuyến đường 19 (nay là đường 385) chạy dọc theo chiều dài huyện Tính đến 31/8/2013 trên địa bàn huyện đã có 10/11 xã, thị trấn được UBND tỉnh cho phép tiếp nhận đầu tư 254 dự án với diện tích xin thuê khoảng 1087,08 ha (trong đó công ty quản lý khai thác khu công nghiệp Phố Nối A tính là 01 dự án vì các dự án thuê lại đất của công ty quản lý khai thác khu công nghiệp Phố Nối A thuộc quản lý của Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh và không tính các dự án thuê nhà xưởng) và nhiều làng nghề truyền thống sản xuất gây ô nhiễm môi trường như tái chế phế liệu nhựa ở thôn Minh Khai- thị trấn Như Quỳnh; tái chế kim loại màu- xã Chỉ Đạo; làng nghề đậu phụ thôn Xuân Lôi- xã Đình Dù; làng nghề sản xuất đồ gỗ tại thôn Ngọc- xã Lạc Đạo; làng nghề đúc đồng Lộc Thượng- xã Đại Đồng, làng nghề chế biến thuốc nam, thuốc bắc- xã Tân Quang
3.1.1.2 Tài nguyên thiên nhiên:
*Tài nguyên đất
Theo số liệu thống kê đất đai đến 01/01/2013, tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 7.443,25ha, trong đó: Đất nông nghiệp là 3.922,11ha, đất phi nông nghiệp là 3.507,67ha
*Tài nguyên nước
Tài nguyên nước của huyện bao gồm nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm với trữ lượng khá dồi dào và phân bố đều trên địa bàn huyện:
Nguồn nước mặt: nguồn nước mặt của Văn Lâm chủ yếu được lấy từ hệ
thống các sông ngòi, ao hồ và lượng mưa hàng năm Sông lớn nhất trên địa bàn huyện là hệ thống sông Bắc Hưng Hải, ngoài ra huyện còn có một hệ thống dày đặc các ao, hồ, sông ngòi nhỏ như: sông Đình Dù, sông Từ, sông Bún, sông Lương Tài, sông Kiên Thành …phân bố khá đồng đều trên địa bàn huyện Tuy nhiên, nguồn nước mặt của huyện có sự khác biệt rõ rệt theo mùa do ảnh hưởng bởi chế độ thủy văn của các con sông và do sự khác biệt về lượng mưa trong mùa mưa và mùa khô
Nước ngầm: huyện có mỏ nước ngầm với trữ lượng lớn hiện tại UBND
Trang 39tỉnh đang cho phép Công ty liên doanh Lavie khai thác và nguồn nước ngầm phục vụ sinh hoạt cho nhân dân hàng ngày chủ yếu là nước giếng khoan qua bể lọc Còn nhà máy cung cấp nước sạch của Công ty nước và môi trường Việt Nam tại khu trung tâm huyện đã đưa vào sử dụng nhưng việc cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân còn hạn chế
3.1.1.3 Thời tiết khí hậu:
Nằm trong vùng đồng bằng Bắc bộ, huyện Văn Lâm chịu ảnh hưởng chung của khí hậu nhiệt đới, có gió mùa đông bắc, bắt đầu từ tháng 11 năm trước và kết thúc vào tháng 4 năm sau Thời tiết chia làm 4 mùa: Xuân, hạ, thu, đông khá rõ nét Lượng mưa trung bình từ 1.133,3mm (2011) đến 1.217mm (2013) Nhiệt độ không khí trung bình từ 23,4- 24,10C Số giờ nắng trong năm từ 1.258,7h (2011) đến 1.331,3h (2013) Độ ẩm không khí trung bình từ 79- 90%
Bảng 3.1: Lượng mưa trung bình các tháng trong năm trên địa bàn tỉnh
Trang 40Tuy trong năm có 4 mùa nhưng có 2 mùa có thời tiết phân biệt rõ rệt Mùa hạ thường từ đầu tháng 5 đến hết tháng 7, có nhiệt độ trung bình ngày cao từ 27-
350C, cá biệt có một số ngày trên 350C đến 370C Lượng mưa trong năm nhìn chung chủ yếu tập trung vào các tháng này Mùa đông thường từ đầu tháng 11 năm trước đến hết tháng 1 năm sau, nhiệt độ trung bình ngày thấp, thường từ 17-
220C, cá biệt có một số ngày rét đậm, rét hại, nhiệt độ xuống thấp dưới 120C, có khi dưới 100C Vào tháng 2, 3 thường có mưa dầm kéo dài, độ ẩm cao, nếu gặp nhiệt độ cao, trời âm u, sâu bệnh sẽ phát triển nhanh ảnh hưởng đến sản xuất ngành nông nghiệp
3.1.2 Điều kiện Kinh tế - Xã hội
Trước đây Văn Lâm là một huyện thuần nông với việc hầu hết người dân tham gia trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, trong những năm gần đây dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa của đất nước cơ cấu kinh tế của Văn Lâm đã có sự chuyển dịch rõ rệt (bảng 3.1)
Dựa vào bảng 3.1 ta có thể thấy cơ cấu kinh tế của huyện Văn Lâm có
sự chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng ngành Nông nghiệp – Thủy sản và tăng tỷ trọng của các lĩnh vực Công nghiệp – Xây dựng, Thương mại – Dịch
vụ Trong giai đoạn 2005 – 2013 tỷ trọng ngành Nông nghiệp – Thủy sản giảm từ 42,66% (2005) xuống còn 26,00% (2013), tức giảm 2,38%/năm Trong khi đó tỷ trọng ngành Công nghiệp – Xây dựng tăng 7,15% (từ 24,45% năm 2005 lên 31,60% năm 2013) đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 1,02%/năm Tỷ trọng trong lĩnh vực Thương mại - dịch vụ của huyện tăng nhanh với tốc độ 1,36%/năm
Trong giai đoạn, 2010 – 2013 tổng giá trị sản xuất của huyện Văn Lâm tăng từ 1.833,97 tỷ đồng lên 3.817 (tăng 1.983,03 tỷ đồng trong vòng 3 năm) Giá trị sản xuất của tất cả các lĩnh vực đều liên tục tăng nhanh Điều này cho thấy nền kinh tế của huyện trong những năm qua phát triển khá nhanh và tương đối ổn định