1.1 Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài 3 1.3 Cơ sở thực tiễn và ảnh hưởng của việc thu hồi đất xây dựng các công trình thủy điện đến đời sống, sản xuất của người dân tại Việt Nam
Trang 11.1 Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài 3
1.3 Cơ sở thực tiễn và ảnh hưởng của việc thu hồi đất xây dựng các công
trình thủy điện đến đời sống, sản xuất của người dân tại Việt Nam 18 1.3.1 Thực trạng phát triển các công trình thủy điện ở Việt Nam 18 1.3.2 Thực trạng bố trí tái định cư tại các công trình thủy điện 22 1.3.3 Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của việc thu hồi đất xây
dựng các công trình thủy điện đến đời sống của người dân tại
Trang 2Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Tủa
2.2.2 Khái quát về công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư xây dựng thủy điện Sơn La trên địa bàn huyện Tủa
2.2.3 Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến sản xuất, đời
sống của người dân tái định cư huyện Tủa Chùa 33 2.2.4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao đời sống, sản xuất cho
người dân tái định cư huyện Tủa Chùa 33
2.3.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp 34 2.3.3 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp 34 2.3.4 Phương pháp thống kê, tổng hợp và xử lý số liệu 34
3.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Tủa Chùa 36
3.1.3 Hiện trạng sử dụng đất huyện Tủa Chùa 44 3.2 Khái quát về công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư xây
dựng thủy điện Sơn La trên địa bàn huyện Tủa Chùa 44 3.2.1 Khái quát về các đơn vị hành chính bị thu hồi đất để xây dựng
công trình thủy điện Sơn La trên địa bàn huyện Tủa Chùa 44 3.2.2 Công tác thu hồi đất để xây dựng công trình thủy điện Sơn La
Trang 33.2.3 Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất xây dựng công trình thủy điện Sơn La trên địa bàn
3.3 Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến sản xuất và đời sống của
3.3.2 Ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến sản xuất và đời sống của
người dân tái định cư huyện Tủa Chùa 57 3.3.3 Đánh giá chung về ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến đời
sống, sản xuất của người dân tái định cư huyện Tủa Chùa 71 3.4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao đời sống và sản xuất cho người dân
Trang 5DANH MỤC BẢNG
3.1 Tăng trưởng kinh tế huyện Tủa Chùa giai đoạn 2010 - 2014 41 3.2 Hiện trạng dân số và lao động huyện Tủa Chùa năm 2014 42 3.3 Thực trạng thu hồi đất để xây dựng thủy điện Sơn La trên địa
3.4 Tổng hợp kết quả bồi thường xây dựng dự án thủy điện Sơn La
3.5 Kết quả hỗ trợ thu hồi đất xây dựng thủy điện Sơn La trên
3.6 Kết quả bố trí tái định cư dự án xây dựng thủy điện Sơn La
3.7 Hiện trạng sử dụng đất khu TĐC Huổi Lực năm 2014 53 3.8 Hiện trạng sử dụng đất khu TĐC Tả Huổi Tráng - Tà Si Láng 543.9 Hiện trạng sử dụng đất khu TĐC Huổi Lóng năm 2014 55
3.11 Diện tích đất của người dân trước và sau thu hồi đất tại các điểm
3.12 Năng suất và sản lượng cây trồng trước và sau thu hồi đất tại các
3.13 Tình hình chăn nuôi của các hộ dân trước và sau thu hồi đất tại
3.14 Tình hình chi phí cho sản xuất của 1 hộ dân trước và sau thu hồi
đất tại các điểm tái định cư huyện Tủa Chùa 64 3.15 Hiệu quả sản suất của người dân trước và sau thu hồi đất 653.16 Thu nhập bình quân của người dân trước và sau khi thu hồi đất
tại các điểm tái định cư huyện Tủa Chùa 663.17 Chi tiêu hàng năm của người dân trước và sau khi thu hồi đất tại
3.18 Tài sản của 1 hộ dân trước và sau khi thu hồi đất tại các điểm
3.19 Điều kiện sinh hoạt của người dân trước và sau khi thu hồi đất
tại các điểm tái định cư huyện Tủa Chùa 71
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
3.2 Hiện trạng sử dụng đất huyện Tủa Chùa năm 2014 44 3.3 Sơ đồ vị trí vùng ngập, tái định cư huyện Tủa Chùa 473.4 Hình ảnh điểm tái định cư Huổi Lực, xã Mường Báng 533.5 Hình ảnh điểm tái định cư Tả Huổi Tráng - Tả Si Láng 54 3.6 Hình ảnh điểm tái định cư Huổi Lóng, xã Huổi Só 553.7 Hình ảnh chăn nuôi trâu bò điểm tái định cư Huổi Lóng 62 3.8 Hình ảnh chăn nuôi lợn tại các điểm tái định cư 63
Trang 7
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, Việt Nam đã thực hiện khá nhiều dự án thuỷ điện đòi hỏi phải xây dựng các hồ chứa nước, hình thành đập thuỷ điện, có tác động nhiều đến sản xuất và ảnh hưởng đến đời sống của đồng bào Nhiều vùng trong khu vực lòng hồ, người dân phải di dời, thay đổi nơi cư trú và tái định cư trên nhiều địa bàn mới Theo thống kê chưa đầy đủ thì riêng các công trình thuỷ điện trong nước đã có hơn 150 ngàn người dân bị ảnh hưởng trước đây và gần 400 ngàn người bị ảnh hưởng trực tiếp hiện nay (Viện nghiên cứu Quản lý Trung ương, 2014)
Nhà máy thủy điện Sơn La nằm tại xã Ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La Nhà máy được khởi công xây dựng ngày 2 tháng 12 năm 2005 Theo Quy hoạch tổng thể di dân, tái định cư dự án thủy điện Sơn La đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, tổng số dân di chuyển thuộc Dự án di dân, tái định cư thủy điện Sơn
La là 20.340 hộ, 92.301 nhân khẩu Trong đó, tỉnh Sơn La 12.584 hộ, 58.337 khẩu, tỉnh Điện Biên 4.459 hộ, 17.010 khẩu và tỉnh Lai Châu 3.297 hộ, 16.954 khẩu Tổng số khu, điểm tái định cư tập trung của dự án là 78 khu, 285 điểm theo hai hình thức là tái định cư xen ghép vào 38 bản thuộc 17 xã và tái định cư tự nguyện Dự án được thực hiện với quy mô bố trí tái định cư cho 20.477 hộ bao gồm số dân di chuyển thuộc Dự án di dân, tái định cư thủy điện Sơn La và Dự án đường tránh ngập đường Mường Lay-Nậm Nhùn, giai đoạn 1 (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2013)
Sau 7 năm xây dựng, Thủy điện Sơn La được khánh thành vào ngày 23 tháng
12 năm 2012, sớm hơn kế hoạch 3 năm, trở thành nhà máy thủy điện lớn nhất Việt Nam và cả khu vực Đông Nam Á Hiện nay, phần lớn các hộ dân đã được bố trí vào sinh sống tại các khu tái cư và được hưởng các chính sách của Nhà nước Tuy nhiên, một số bộ phận dân cư do phong tục tập quán, tư tưởng chưa quen với cách chuyển đổi nghề nghiệp ở nơi ở mới nên họ gặp nhiều khó khăn trong đời sống và
sản xuất Do vậy, đề tài "Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến sản xuất
và đời sống của người dân tái định cư thủy điện Sơn La trên địa bàn huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên" là rất cần thiết và có ý nghĩa
Trang 82 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá thực trạng sản xuất và đời sống của người dân tái định cư thủy điện Sơn La trên địa bàn huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất và đời sống cho người dân tái định cư huyện Tủa Chùa
3 Yêu cầu nghiên cứu của đề tài
- Các số liệu điều tra, thu thập phục vụ cho nghiên cưu đề tài đảm bảo độ chính xác, tin cậy
- Các giải pháp đề xuất nâng cao hiệu quả sản xuất và đời sống cho người dân tái định cư huyện Tủa Chùa phải phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
1.1.1 Thu hồi đất
Thu hồi là việc lấy lại cái đã đưa ra, đã cấp phát ra hoặc cái bị người khác lấy Đối với đất đai, do quyền sở hữu đất đai thuộc về toàn dân, do Nhà nước là đại diện, vì vậy, khái niệm thu hồi đất gắn liền với sự tồn tại của quyền sở hữu toàn dân
về đất đai
Theo Khoản 11 Điều 3 Luật Đất đai 2013 thì thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2013) Về bản chất, thu hồi đất chính là việc chuyển quyền sử dụng đất theo một cơ chế bắt buộc thông qua biện pháp hành chính Việc thu hồi đất có những đặc điểm sau đây (Đào Trung Chính, 2014):
- Xảy ra theo một yêu cầu cụ thể (thu hồi đất do nhu cầu vì lợi ích chung) hoặc trong một hoàn cảnh cụ thể (do vi phạm pháp luật về đất đai; do không còn nhu cầu sử dụng đất)
- Việc thu hồi đất phải bằng một quyết định hành chính cụ thể, trong đó phải thể hiện rõ vị trí, diện tích, loại đất bị thu hồi; tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân có đất bị thu hồi Quyết định thu hồi đất được ban hành bởi một cơ quan hành chính có thẩm quyền theo luật định (UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện)
- Được thực hiện theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ và được quy định riêng đối với từng trường hợp
Mỗi trường hợp thu hồi đất có sự khác nhau về căn cứ để thu hồi, về trình tự, thủ tục thu hồi, về chính sách bồi thường khi thu hồi đất:
- Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng được căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và dự án đầu tư
đã được chấp thuận, cấp phép đầu tư, quyết định đầu tư; Thu hồi đất trong trường hợp người được trao quyền sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai (để đất hoang hóa, hủy hoại đất, không thực hiện nghĩa vụ tài chính, ) phải trên cơ sở kết luận
Trang 10thanh tra; Thu hồi đất đối với trường hợp không còn nhu cầu sử dụng đất (tổ chức bị giải thể, cá nhân bị chết, tự nguyện trả lại đất) phải trên cơ sở quyết định giải thể của cơ quan có thẩm quyền, giấy chứng tử, đơn trả lại đất,
- Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng được thực hiện theo một trình tự, thủ tục với thời gian tương đối dài, bao gồm các bước thông báo thu hồi đất, đo đạc diện tích, kiểm đếm tài sản, phê duyệt và thực hiện phương án bồi thường, cưỡng chế thu hồi đất và bàn giao đất trên thực địa; thu hồi đất trong trường hợp người được trao quyền sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai gắn liền với thủ tục thanh tra, kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; thu hồi đất đối với trường hợp không còn nhu cầu
sử dụng đất có trình tự thủ tục đơn giản hơn
- Tùy từng trường hợp cụ thể và căn cứ vào nguồn gốc sử dụng đất mà người
bị thu hồi đất được bồi thường hoặc không được bồi thường thiệt hại về đất, về tài sản gắn liền với đất: Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và thu hồi đất đối với trường hợp không còn nhu cầu
sử dụng đất và đất có nguồn gốc được giao có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, thu hồi đất nông nghiệp giao cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được bồi thường, do tự nguyện trả lại đất thì được bồi thường; Thu hồi đất do vi phạm pháp luật đất đai thì không được bồi thường nhưng được xem xét trả lại giá trị đã đầu tư vào đất (tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã trả trước, chi phí san lấp, giải phóng mặt bằng, đầu tư xây dựng cơ bản, )
1.1.2 Di dân
Năm 1958, Liên hợp quốc đưa ra quan niệm về di dân, đó là sự di chuyển dân cư trong không gian giữa một đơn vị địa lý hành chính này vào một đơn vị hành chính khác, kèm theo sự thay đổi về chỗ ở thường xuyên trong khoảng cách di dân xác định Năm 1973, Liên hợp quốc đưa ra quan niệm di dân dài hạn và di dân ngắn hạn Di dân dài hạn là người di cư đến nơi ở mới trên 12 tháng trở lên Di dân ngắn hạn là người di cư đến nơi ở mới dưới 12 tháng (Hoàng Văn Chức, 2004)
Trang 11Đặng Nguyên Anh (2006) quan niệm: di dân theo nghĩa rộng là sự chuyển dịch bất kỳ của con người trong không gian và thời gian nhất định, kèm theo thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn; di dân theo nghĩa hẹp là sự di chuyển dân cư
từ một đơn vị lãnh thổ này đến một lãnh thổ khác, nhằm thiết lập nơi cư trú mới, trong một khoảng thời gian nhất định
Thực tế cho thấy con người di cư vì nhiều lý do khác nhau và những lý do có thể hình thành và gây ảnh hưởng ở nơi đi hay nơi đến Một trong những lý do dẫn đến sự di dân bắt buộc là do nơi ở cũ bị giải tỏa, di dời nhằm mục đích lấy mặt bằng xây dựng đường xá, các công trình công cộng, các dự án phát triển và dân sinh (Đặng Nguyên Anh, 2006)
Di dân sẽ gây ra những tác động lớn đến các vấn đề dân số, kinh tế - xã hội
Di dân có ảnh hưởng lớn trong việc phân bố lại lực lượng sản xuất, nguồn lao động theo lãnh thổ và khu vực kinh tế Mỗi nhóm cư dân, mỗi cộng đồng đều có đời sống văn hóa, phong tục tập quán khác nhau, nên khi chuyển đến địa điểm mới dễ gây ra
sự xáo trộn, xung đột, phân biệt đối xử trong cộng đồng nơi đến
Dựa trên những cơ sở khác nhau, có thể phân chia di cư thành các loại hình khác nhau (Đặng Nguyên Anh, 2006):
- Trên cơ sở thời gian, di dân bao gồm di cư lâu dài, di cư tạm thời và di cư mùa vụ “Di cư lâu dài" chỉ người/nhóm người di cư dịch chuyển nơi cư trú trong một khoảng thời gian tương đối dài và có ý định ở lại nơi đến “Di cư tạm thời” là sự xác lập nơi cư trú của người/nhóm người trong một khoảng thời gian ngắn trước khi quyết định có ở lại định cư tại nơi đó hay không “Di cư mùa vụ” là hình thức di cư đặc biệt của di cư tạm thời, nó không chỉ ám chỉ khoảng thời gian di cư trùng với thời gian thu hoạch mùa vụ, mà còn chỉ khoảng thời gian di cư phục vụ hoạt động kinh tế mùa vụ (mùa xây dựng, mùa du lịch…), có nghĩa là người di cư dịch chuyển nơi cư trú theo mùa vụ để tìm kiếm việc làm, không có ý định ở lại lâu dài tại địa bàn nhập
cư, sẽ quay trở lại nơi xuất cư nếu có nhu cầu lao động hoặc công việc gia đình
- Về hướng di dân, gồm có hai hình thức di dân: Di dân nội địa và di dân quốc tế - sự dịch chuyển nơi cư trú bên trong biên giới quốc gia hoặc vượt ra ngoài
Trang 12biên giới quốc gia tới quốc gia khác
- Về địa bàn đến, di dân có bốn loại hình: Nông thôn - nông thôn; Nông thôn
- thành thị; Thành thị - thành thị; Thành thị - nông thôn
- Về pháp lý, có hai hình thức di dân: Có tổ chức và tự do; trong đó, di dân
có tổ chức là loại hình di cư diễn ra trong khuôn khổ các chương trình của Nhà nước, theo đó, người di cư được nhận sự hỗ trợ ổn định đời sống từ Nhà nước, được Nhà nước định hướng địa bàn cư trú, công ăn, việc làm, còn di cư tự do bao gồm những người di cư không nằm trong chương trình di cư của Chính phủ, do người di
cư tự quyết định từ việc lựa chọn địa bàn nhập cư, đến trang trải mọi phí tổn di chuyển, tìm việc làm…
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, sẽ đề cập đến hình thức di dân có tổ chức, cụ thể là di dân để thực hiện dự án xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La, phục
vụ mục tiêu quốc gia về an ninh năng lượng Di dân có tổ chức gắn liền với quá trình tái định cư không tự nguyện (hay tái định cư bắt buộc)
1.1.3 Tái định cư
Vấn đề thu hồi đất, tái định cư là vấn đề chung của các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển Đây là hậu quả tất yếu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa Ở nước ta, để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội ngày càng có nhiều dự án đầu tư được triển khai cần phải thu hồi đất như xây dựng hệ thống giao thông, bến càng, các khu công nghiệp, khu du lịch, các công trình thủy điện, Điều này kéo theo vấn đề phải bố trí tái định cư cho hàng trăm ngàn người dân và làm thay đổi cuộc sống của họ vốn đã ổn định từ đời này sang đời khác
Tái định cư được hiểu theo nghĩa rộng là mọi ảnh hưởng, tác động tới tài sản
và tới cuộc sống của những người bị mất tài sản hoặc nguồn thu nhập do dự án phát triển gây ra, bất kể họ có phải di chuyển hay không Tái định cư theo nghĩa hẹp chỉ
sự di chuyển của các hộ bị ảnh hưởng tới định cư ở nơi ở mới (Phạm Hồng Hoa và Lâm Mai Lan, 2000)
Tái định cư bao hàm tất cả những thiệt hại trực tiếp về kinh tế và xã hội gây
ra do thu hồi đất và hạn chế sự tiếp cận, cùng với những biện pháp bồi thường và
Trang 13khắc phục Tái định cư không hạn chế sự di dời vật chất thông thường Tái định cư
có thể, tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, bao gồm (a) thu hồi đất và các công trình trên đất, bao gồm cả doanh nghiệp, cửa hàng; (b) sự di dời vật chất; và (c) sự phục hồi kinh tế của những người bị ảnh hưởng
Có nhiều cách phân loại tái định cư Xét về hình thức tái định cư thì có các dạng như sau: Di dời dân cư vào khu đô thị; Chuyển dịch nội thành và ngoài thành
từ các chương trình cải tạo đô thị hóa, chuyển dịch theo cơ sở tự nguyện của người dân; Tái định cư tại chỗ khi chính quyền thực hiện các dự án khu dân cư Xét về cơ
sở tự nguyện của người dân thì có tái định cư tự giác, tái định cư tự phát và tái định
cư cưỡng bức Xét về tính chất thì tái định cư có 2 dạng: Tái định cư bắt buộc và tái định cư tự nguyện
1.1.4 Di dân tái định cư trong các công trình thuỷ điện
Tái định cư là vấn đề lớn bởi nó liên quan đến vấn đề ổn định cuộc sống, tạo sinh kế mới và giữ gìn bản sắc văn hóa của cộng đồng cư dân Vấn đề càng trở nên quan trọng đối với tái định cư thủy điện bởi nó diễn ra trên một địa bàn rộng, số lượng người dân phải di dời - chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số - lớn Việc di chuyển, tái định cư để thực hiện các dự án thuỷ điện ở miền núi trên thực tế rất khác với các dự án giải phóng mặt bằng ở miền xuôi, đòi hỏi những chính sách đặc biệt nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến tài nguyên và con người Thực hiện mục tiêu tái định cư, hoạt động cơ bản là đảm bảo điều kiện sống và sản xuất cho người dân
Có làm tốt hai mắt khâu này thì người dân mới yên tâm ổn định cuộc sống tại nơi ở mới Trong những năm gần đây, nhiều công trình thủy điện đã và đang được xây dựng góp phần quan trọng đáp ứng nhu cầu năng lượng phục vụ cho phát triển kinh
tế xã hội, sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân nhằm mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Di dân tái định cư trong các công trình thuỷ điện thường là di dân bắt buộc
để giải phóng mặt bằng, thi công công trình thuỷ điện Các công trình Thuỷ điện đều mang tính quan trọng quyết định đối với sự phát triển của địa phương, khu vực
và quốc gia Tuy nhiên, chúng cũng làm nảy sinh mâu thuẫn giữa mục đích phát
Trang 14triển quốc gia lâu dài với quyền lợi của các cộng đồng và cá nhân - những người chịu bất lợi trước tiên Các dự án này đều có thể tác động bất lợi tới những người đang sử dụng các nguồn tài nguyên như đất đai, nguồn nước, hay các loại tài nguyên thiên nhiên khác và các phương tiện kinh tế, xã hội, văn hoá và tôn giáo liên quan Điều quan trọng là phải cân nhắc lợi ích đạt được với cái giá phải trả cho các ảnh hưởng này bằng cách xem xét các phương án triển khai hoặc không phải di dân, hoặc chỉ gây gián đoạn nhỏ về kinh tế, xã hội và tìm ra cách để hoà hợp những quyền lợi và mâu thuẫn nói trên Trường hợp không tránh khỏi tái định cư, phải tiến hành các biện pháp cụ thể nhằm đạt được các nội dung như sau: Bảo vệ quyền lợi
và cuộc sống của những người bị di chuyển do dự án; Giảm và đền bù những thiệt hại về tiềm năng kinh tế của người bị ảnh hưởng, của nền kinh tế khu vực và địa phương; Hỗ trợ phát triển tiềm năng kinh tế, xã hội và văn hoá cho các cộng đồng
và người bị ảnh hưởng (Phạm Minh Hạnh, 2009)
Di dân tái định cư trong các dự án thuỷ điện chủ yếu được đầu tư xây dựng ở bên các con sông có địa hình đồi núi cao Mục đích xây dựng nhằm lợi dụng địa thế
tự nhiên để hình thành các hồ chứa nhân tạo Một nhà máy thuỷ điện không chiếm nhiều diện tích nhưng hồ chứa nước để đảm bảo vận hành nhà máy chiếm diện tích rất lớn, từ vài km2 đến hàng trăm km2 (diện tích hồ thuỷ điện Hoà Bình là 208 km2 , Sơn La là 224 km2) Điều đó cũng có nghĩa là có diện tích đất tương ứng bị mất đi, hơn nữa, đó chủ yếu là diện tích canh tác đã ổng định lâu đời (do điều kiện đất ở đây gần nguồn nước, trong thung lũng và được canh tác lâu đời chủ yếu là đất tốt)
Diện tích đất bị thu hồi sử dụng rất lớn tới hàng chục ngàn ha cho việc tạo lòng hồ, xây dựng các công trình nhà máy, khu phụ trợ và mặt bằng thi công Phần lớn đất ngập lại là các thung lũng, vùng đất thấp, đất bằng phẳng màu mỡ, nơi tập trung đông dân cư Đời sống chủ yếu của dân cư ở khu vực này là sản xuất nông nghiệp, làm nương rẫy và khai thác lâm sản phụ Trình độ sản xuất còn rất thô sơ, quảng canh, sống phụ thuộc vào thiên nhiên là chính Bên cạnh đó, trình độ học vấn
và khả năng tiếp thu các yếu tố kỹ thuật, văn hóa bên ngoài rất hạn chế Nhiều tập quán hủ tục vẫn còn tồn tại và duy trình trong đời sống cư dân và các bản làng Do
Trang 15đó, việc phát triển các công trình thủy điện đã kéo theo vấn đề thu hồi đất và di rời dân cư làm ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân trong vùng ngập Điều kiện và môi trường sống thay đổi là một vấn đề lớn của con người và cộng đồng nơi đây vì khả năng thích nghi của họ rất hạn chế Do vậy các công trình thủy điện có tác động ảnh hưởng đến nhiều mặt như môi trường sinh thái, đời sống kinh tế - xã hội của nhân dân vùng bị ảnh hưởng đặc biệt là đối với một số dân phải di dời để giải phóng mặt bằng cho công trình và lòng hồ
Trong quá trình xây dựng các công trình thủy điện trong những năm vừa qua, công tác bố trí tái định cư đã đạt được những kết quả nhất định nhưng vẫn còn bộc
lộ nhiều điểm hạn chế Vấn đề quy hoạch và xây dựng các khu tái định cư cũng gặp những bất cập trong xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà ở, tổ chức sản xuất, vấn đề giải quyết đất đai, tổ chức sản xuất cho người dân tái định cư
1.1.5 Đời sống, sản xuất
1.1.5.1 Đời sống
Đời sống được hiểu là các điều kiện sinh hoạt phục vụ cuộc sống hàng ngày của con người Đời sống ở đây được xem xét trên hai phương diện: đời sống vật chất và đời sống tinh thần (Tống Văn Đường, 2001)
- Đời sống vật chất: Là phương tiện, phương thức thể hiện đời sống của con người với tư cách là một sinh vật xã hội Nói cách khác, đời sống vật chất là phương tiện đo lường trình độ phát triển của con người xã hội trong xã hội loài người trong
đó nó thể hiện mặt bản thể luận của đời sống tinh thần Chẳng hạn, những giá trị tinh thần bao giờ cũng phải được tồn tại, phát triển thông qua một số cơ sở, phương tiện vật chất như nhà in, đài phát thanh, đài truyền hình, thư viện, viện bảo tàng…
và được vật chất hoá dưới nhiều hình thức như sách báo, tranh ảnh, băng hình, băng nhạc, tượng đài, đình chùa… Đời sống vật chất của một nhóm đối tượng cụ thể thường được đo lường bằng rất nhiều tiêu chí như nguồn sinh sống chính, mức sống
so với tiêu chí cụ thể, điều kiện sống được đo lường bằng các tiêu chí phụ như nhà
ở, nước sạch, vệ sinh, môi trường, giao thông vv Chất lượng sống với các tiêu chí như cơ sở giáo dục, chăm sóc y tế, vui chơi giải trí… (Lê Ngọc Hùng, 2009)
Trang 16- Đời sống tinh thần: Đời sống tinh thần được hiểu bao gồm tất cả những gì liên quan đến lĩnh vực tinh thần: từ những giá trị, sản phẩm tinh thần đến những hiện tượng, quá trình tinh thần, từ những hoạt động tinh thần (sản xuất tinh thần, phân phôi, tiêu dùng giá trị tinh thần ) đến những quan hệ tinh thần (trong trao đổi, giao tiếp tinh thần ) Nói đến đời sống tinh thần là nói đến tính liên tục về thời gian, tính rộng lớn về không gian của tất cả những hiện tượng, những quá trình tinh thần
- Sản xuất nông nghiệp: Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của
xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một
số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản
- Khai thác mỏ, công nghiệp chế tạo, xây dựng:
+ Khai thác mỏ là hoạt động khai thác khoáng sản hoặc các vật liệu địa chất
từ lòng đất, thường là các thân quặng, mạch hoặc vỉa than Các vật liệu được khai thác từ mỏ như kim loại cơ bản, kim loại quý, sắt, urani, than, kim cương, đá vôi, đá phiến dầu, đá muối và kali cacbonat Bất kỳ vật liệu nào không phải từ trồng trọt hoặc được tạo ra trong phòng thí nghiệm hoặc nhà máy đều được khai thác từ
mỏ Khai thác mỏ ở nghĩa rộng hơn bao gồm việc khai thác các nguồn tài nguyên không tái tạo (như dầu mỏ, khí thiên nhiên, hoặc thậm chí là nước)
+ Công nghiệp chế tạo: là một bộ phận trong khu vực thứ hai của một nền kinh tế, bao gồm các ngành sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh và có thể sử dụng cũng
Trang 17như sản xuất vật liệu xây dựng Khu vực này thường sử dụng các sản phẩm của khu vực sơ khai (hay khu vực thứ nhất của nền kinh tế) làm đầu vào để sản xuất ra các sản phẩm công nghệ tiêu dùng Khu vực chế tạo có thể phân thành hai tiểu khu vực
là công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ
+ Xây dựng: là một quy trình thiết kế và thi công nên các cơ sở hạ tầng hoặc công trình, nhà ở Hoạt động xây dựng khác với hoạt động sản xuất ở chỗ sản xuất tạo một lượng lớn sản phẩm với những chi tiết giống nhau, còn xây dựng nhắm tới những sản phẩm tại những địa điểm dành cho từng đối tượng khách hàng riêng biệt Hoạt động xây dựng bắt đầu bằng việc lên kế hoạch, thiết kế, lập dự toán
và thi công tới khi dự án hoàn tất và sẵn sàng đưa vào sử dụng
- Dịch vụ: Trong kinh tế học, dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa-dịch vụ
1.2 Kinh nghiệm bố trí tái định cư tại các công trình thủy điện trên thế giới
Thực tiễn thực hiện chính sách đền bù và tái định cư đối với người dân bị ảnh hưởng của các dự án phát triển, nhất là dự án thủy điện ở một số nước Châu Á rất đa dạng Việc giảm thiểu bất lợi, có kế hoạch và phương án hợp lý cho tái định
cư, xây dựng các chính sach hỗ trợ đồng bộ, phát triển kinh tế xã hội, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nhằm cải thiện đời sống của toàn bộ người dân bị ảnh hưởng để từng bước ổn định cuộc sống, đang là mối quan tâm và trách nhiệm của Nhà nước, chính quyền địa phương Do đó, việc tìm hiểu những kinh nghiệm tái định
cư, đặc biệt là tái định cư các công trình thủy điện ở một số nước Châu Á có điều kiện tương đồng với Việt Nam là rất cần thiết để rút ra bài học kinh nghiệm, góp phần tổ chức và thực hiện công tác tái định cư các công trình thủy điện ở nước ta được tốt hơn
1.2.1 Trung Quốc
Trung Quốc là nước có số người bị di chuyển là khá lớn Từ năm 1980 nước này đã đưa ra nhiều luật và quy định ở các cấp khác nhau theo mọi khía cạnh của
Trang 18công tác tái định cư Luật Quản lý đất đai của Trung Quốc năm 1986 và các điều sửa đổi, bổ sung năm 1988 đã làm rõ quyền về đất và đảm bảo quyền sử dụng đất thuộc sở hữu Nhà nước Cá nhân không thể mua hay bán quyền sở hữu đất Luật này hướng dẫn các tỉnh, thành phố, quận, huyện và thị trấn chịu trách nhiệm thực hiện chiếm dụng đất và tái định cư, chính thức hóa các thủ tục, tham khảo ý kiến và giải quyết khiếu nại của những người bị ảnh hưởng (Phạm Mộng Hoa và Lâm Mai Lan, 2000) Những bài học cơ bản của Trung Quốc trong việc triển khai công tác tái định cư là:
- Trong hoạt động tái định cư khu vực xây dựng thủy điện, thủy lợi, các chính sách và thủ tục được quy định chi tiết, rõ ràng, ràng buộc chặt chẽ với các hoạt động khác trong xây dựng, nông nghiệp, giao thông, thương mại, Mục tiêu của chính sách là nhằm bảo đảm tái định cư đi liền với sự phát triển của cộng đồng dân cư Phương thức tiếp cận cơ bản là nhằm tạo ra các nguồn tài nguyên sản xuất cho những người tái định cư, bao gồm sự kết hợp tốt giữa đất trồng trọt với sự thích hợp của cây trồng, vật nuôi mới và các hoạt động tạo thu nhập khác Trên cơ sở các chính sách và thủ tục quy định, các kế hoạch tái định cư chi tiết và các biện pháp phục hồi kinh tế cho từng làng, từng cộng đồng dân cư, hộ gia đình bị ảnh hưởng được chuẩn bị, lên phương án trước khi thông qua dự án Việc triển khai công tác tái định cư và hỗ trợ nó thông qua thiết lập một quỹ phát triển hồ chứa duy trì trong
10 năm, tính từ một phần thu nhập của dự án
- Trung Quốc có hệ thống chính quyền địa phương và thể chế đồng bộ, có năng lực, hoạt động hiệu quả, ăn khớp Cụ thể, chính quyền cấp tỉnh chịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc thực hiện chương trình tái định cư Chính quyền cấp huyện chịu trách nhiệm xây dựng các kế hoạch cụ thể ở địa phương, người tái định
và dân sở tại nắm được trách nhiệm của chính quyền từng cấp Bằng cách này, chính quyền địa phương có thể chủ động, phối hợp và tạo ra các hỗ trợ kỹ thuật và tài chính khác nhau từ các dự án phát triển, từ nguồn chính phủ cũng như các tổ chức hỗ trợ khác Chính sách trợ cấp tài chính, các chính sách ưu đãi, giảm thuế là những chính sách được áp dụng thí điểm trước khi áp dụng tái định cư
Trang 19- Hình thức sở hữu tập thể về đất đai là một điều kiện rất thuận lợi cho việc thực hiện tái định cư do không phải tiến hành đền bù cho từng hộ cá thể Tiền đền
bù đất được sử dụng để tìm kiếm và phát triển các khu vực định cư mới, có thể mua lại của cộng đồng sở tại Chính vì vậy nhiều cộng đồng sở tại đã bố trí, sắp xếp lại đất đai chuyển nhượng cho chính quyền địa phương để đổi lấy khoản tiền đền bù dưới hình thức tiền mặt và cải thiện cơ sở hạ tầng Một số trường hợp, các cộng đồng sở tại đấu thầu để nhận dân tái định cư Hay nói cách khác, quyền sở hữu đất tập thể ở các làng tạo điều kiện rất lớn cho quá trình tái định cư
Tại Trung Quốc, Tam Hiệp là nhà máy thủy điện lớn nhất Trung Quốc và thế giới hiện nay, được xây dựng trên sông Trường Giang thuộc tỉnh Hồ Bắc Diện tích ngập lòng hồ là 632 km2, 24,5 nghìn ha đất canh tác và 17,2 nghìn ha đất ruộng, liên quan đến 20 huyện thị, 237 ấp xã, 1424 thôn, trong đó có 2 thành phố, 8 huyện
lỵ, 116 thị trấn tập trung đông dân Tổng số dân phải di chuyển là 844 nghìn người,
có 362 nghìn nông dân Đến cuối năm 2003, Trung Quốc đã bố trí tái định cư cho khoảng 75,7 vạn người trong đó có 14 vạn người di chuyển khỏi tỉnh Hồ Bắc và 33,09 triệu m2 nhà cửa được xây dựng Cơ sở hạ tầng các khu vực định cư mới đã được hoàn tất Người dân đã được ổn định và cải thiện đời sống đáng kể ở vùng đất mới Kinh nghiệm tái định cư khi xây dựng nhà máy thủy điện Tam Hiệp có nhiều bài học chúng ta cần học tập như sau (Phạm Mộng Hoa và Lâm Mai Lan, 2000):
- Xác định đúng ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác tái định cư và có những nguyên tắc chỉ đạo đúng đắn Công tác tái định cư được Trung Quốc xác định có vị trí quan trọng ngang công việc xây dựng nhà máy Do đó các nguyên tắc nhất quan trong quá trình tái định cư là dân đến nơi ở mới phải sớm ổn định đời sống, có mức sống bằng và hơn nơi ở cũ; bảo đảm tính bền vững và phát triển trên
cơ sở khai thác tiềm năng lao động và tài nguyên vùng dân cư đến; Bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, công bằng, công khai trong di dân
- Huy động sự tham gia, ủng hộ của nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều địa phương Trung Quốc đã huy động cả nước tham gia công tác tái định cư và được thực hiện trên địa bàn 11 tỉnh, ngoài hai tỉnh chủ yếu theo kế hoạch và chính sách
Trang 20chung Về huy động nguồn lực, ngoài ngân sách đầu tư của nhà nước, các địa phương, các tổng công ty cũng đóng góp nguồn lực tài chính, vật chất đáng kể, góp phần san sẻ gánh nặng cho nhà nước
- Tăng cường sự tham gia và trách nhiệm của nhân dân: Đại bộ phận người dân đã xác định trách nhiệm phải đóng góp công sức và tiền của cùng với nhà nước thực hiện công tác tái định cư Ngoài phần được nhà nước đền bù, chi trả, các hộ đều đóng góp thêm công sức, tiền để tự làm nhà, mở mang đồng ruộng, ổn định phát triển sản xuất, tạo thêm công ăn việc làm, tránh được bao cấp, gây tư tưởng ỷ lại trong dân
- Đa dạng hóa các hình thức tái định cư, cụ thể:
+ Tái định cư tại chỗ: ngay trên địa bàn vùng hồ chứa, thực hiện gắn tái định
cư tại chỗ với chủ trương phát triển kinh tế tổng hợp khai thác vùng hồ, trên cơ sở quy hoạch bố trí lại dân cư, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, đầu tư tăng cường hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, nâng cao điều kiện sống cho người dân, tạo môi trường thu hút đầu tư Nhân dân thường ủng hộ tái định cư tại chỗ do không phải di rời khỏi quê hương lâu đời Phương án này có thể ổn đinh tới 48% số dân, tiến hành khá thuận lợi và giảm được rất nhiều chi phí Có 2 điều kiện áp dụng tái định cư tại chỗ: Đối với tái định cư nông nghiệp, địa bàn phải bảo đảm còn đủ đất cho sản xuất, đời sống, đền bù tối thiểu cho người dân Những hộ đền bù nhiều, không đủ đất thì phải di rời Những hộ làm dịch vụ được hỗ trợ để tiếp tục hoạt động dịch vụ tại chỗ; Nhà nước xây dựng các công trình hạ tầng đường giao thông, điện nước dọc hai bên
bờ sông tạo điều kiện tái định cư tại chỗ
+ Tái định cư tập trung: hình thức này có thể áp dụng cho tái định cư nông nghiệp với điều kiện đảm bảo đất sản xuất và tái định cư công nghiệp, dịch vụ áp dụng cho những nơi gần thành phố, thị trấn có điều kiện tạo công ăn việc làm ổn định cho người lao động Kinh nghiệm của Trung Quốc trong tái định cư tập trung là: Phải tập trung hết sức cố gắng để tìm tra các phương thức nhằm ổn định cuộc sống cho người dân, tức là với khả năng cao nhất, tối ưu; Chọn địa điểm phải thật
sự chu đáo, tỉ mỉ, quy hoạch một cách khoa học các vị trí dân cư, khu dân cư; Tổ
Trang 21chức di chuyển phải hết sức chu đáo, cố gắng tạo thuận lợi, tránh phiền hà cho dân; Khi điều phối đất cho dân phải tạo điều kiện để dân tiến hành sản xuất một cách thuận lợi (tiêu chuẩn 1,5 mẫu đất canh tác và đất vườn tương đương 1.000 m2 cho một nhân khẩu)
+ Di dân công nghiệp và đô thị: Đây là chủ trương được Trung Quốc chú trọng đặc biệt, có đến 60% dân cư được sắp xếp tái định cư theo hình thức di dân công nghiệp vào các đô thị trên cơ sở đầu tư các doanh nghiệp mới hiện đại, bố trí, giải thể các cơ sở cũ, lạc hậu, xây dựng các cụm công nghiệp và đô thị mới,
+ Trung Quốc chú trọng và khuyến khích các hình thức tái định cư tự nguyện xen ghép vào các vùng dân cư, tái định cư tại các đô thị
- Xây dựng hệ thống chính sách hoàn chỉnh, đồng bộ, phù hợp Đối với công trình Tam Hiệp, Trung Quốc đã tập trung vào tái định cư công nghiệp, đô thị bên cạnh tái định cư nông nghiệp với chính sách điều lệ về di dân Tam Hiệp; khung chính sách là mức đảm bảo tối thiểu, các địa phương có thể căn cứ vào đó, tùy theo điều kiện của từng địa phương mà bố trí cao nhất tới mức có thể cho dân Chính sách của nhà nước bao gồm: đền bù khi thu hồi đất, di chuyển nhà ở và phần hỗ trợ; phần hỗ trơ chủ yếu chỉ là lương thực một năm/khẩu tương đương 150kg Các chính sách khuyến nông, đào tạo nghề, cũng có nhưng chưa nhiều Nhà nước đảm bảo san ủi mặt bằng xây dựng nhà ở, xây dựng các công trình giao thông, điện nước điểm đến định cư
- Quản lý công tác di dân được phân cấp mạnh mẽ: chủ yếu theo 3 cấp với nguyên tắc Trung ương lãnh đạo thống nhất, các tỉnh chịu trách nhiệm, lấy huyện làm cơ sở, xã có bộ máy nhưng không chính thức Tuy nhiên với các điểm di dân nông thôn lại được thực hiện theo 5 cấp quản lý, lấy thôn, xã làm chính
- Làm tốt công tác tư tưởng, chính trị, tuyên truyền, vận động nhân dân và các tổ chức địa phương trong cả nước tạo nhận thức thống nhất trong toàn thể nhân dân để có chung hành động thực hiện tốt
Sau 10 năm triển khai, Trung Quốc đã di chuyển 75,7 vạn người trên tổng số 84,4 vạn người cần di chuyển, chiếm gần 90%; đảm bảo tiến độ xây dựng công
Trang 22trình; đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể; thu nhập tài chính của địa phương tăng 12%/năm Quá trình tái định cư thủy điện Tam Hiệp của Trung Quốc đã để lại cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm quý báu nhất là trong công tác tái định cư của các công trình thủy điện
2.2.2 Thái Lan
Năm 1963, Thái Lan đã ban hành chính sách quốc gia về tái định cư để xác định việc đền bù và chính sách tái định cư cho các dự án thủy lợi và phát triển điện năng Năm 1978, Chính phủ đã thể chế hóa chính sách: Hướng dẫn chính sách môi trường đối với việc xây dựng các dư án đập và hồ chứa Năm 1990, Cơ quan điện lực Thái Lan (EGAT) xây dựng chính sách riêng về tái định cư và đền bù Chính sách này nhằm để đảm bảo cho những người bị ảnh hưởng một mức sống tốt hơn, thông qua việc bảo đảm cơ sở hạ tầng nhiều hơn, tốt hơn, thu nhập cao hơn và tham gia vào quá trình phát triển Chính sách của EGAT cho phép tái định cư tự quản, nhờ đó các hộ gia đình đảm nhiệm là một phần của chương trình tự quản nhỏ và đã thành công Năm 1997, EGAT đã đưa ra chính sách mới để đảm bảo cải thiện mức sống và khả năng tạo thu nhập cho tất cả những người bị ảnh hưởng
Trong vòng 20 năm từ 1964 - 1984, Thái Lan đã xây dựng nhiều công trình thủy lợi, thủy điện với tổng công suất phát điện khoảng 2,3 triệu KW, tập trung chủ yếu ở 8 công trình chính Việc giải quyết vấn đề tái định cư ở Thái Lan cũng được thực hiện khá tốt Chính sách cho vấn đề này đã được đề cập xây dựng từ những năm đầu của thập kỷ 60 thế kỷ 20 Điều này chứng tỏ sự quan tâm cũng như tầm quan trọng của vấn đề tái định cư ở các công trình thủy lợi, thủy điện đối với chính sách và sự phát triển quốc gia (Phạm Mộng Hoa và Lâm Mai Lan, 2000)
Đối tượng bị ảnh hưởng được xem xét bao gồm: Người có cả đất và nhà bị thu hồi; Người bị thu hồi nhà, không bị mất đất; Người bị thu hồi một phần đất; Người bị thiệt hại hoặc mất nguồn lợi, nguồn sống mặc dù không bị mất đất và nhà
Với mỗi dự án, Ban đền bù được thành lập, bao gồm đại diện của những người bị ảnh hưởng Đền bù dựa trên nguyên tắc các tài sản bị mất phải được định giá ở mức giá trị thay thế đầy đủ Chi phí đất thay thể được xây dựng có tham khảo
Trang 23giá đất thị trường Thay vì đền bù tiền mặt, người dân có quyền yêu cầu đồi đất ở một địa điểm chấp nhận được và chất lượng đất chấp nhận được Chi phí đền bù nhà
ở và các công trình được tính trên tổng; chi phí dỡ bỏ, hư hỏng gắn với việc di chuyển; chi phí vận chuyển đến; chi phí xây dựng nhà với vật liệu mới và lao động
đi thuê Việc phục hồi cuộc sống bao gồm các chi phí đào tạo hướng nghiệp, tạo việc làm, mở rộng dịch vụ, tín dụng và trợ cấp tạm thời cho đến khi hộ gia đình tự
ổn định được cuộc sống
Trên thực tế chính sách của EGAT đã vượt lên các quy định về khuôn khổ chính sách chung hiện hành, mang tính tiến bộ, hướng tới mục tiêu nâng cao mức sống của những người bị ảnh hưởng Đây cũng là những kinh nghiệm của Thái Lan trong công tác tái định cư các công trình thủy điện khiến cho Thái Lan được đánh giá là một trong 4 quốc gia thực hiện tốt nhất trên thế giới hiện nay
2.2.3 Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, từ năm 1970 vấn đề tái định cư ở các công trình thủy điện bắt đầu nảy sinh khi xây dựng công trình thủy điện Nậm Ngừm với 3.200 dân cư bị ảnh hưởng hồ chứa Do nhu cầu của sự phát triển quốc gia, Chính phủ Lào đã ban hành chính sách tái định cư vào năm 1998 Trong đó, có các điểm chính nổi bật như (Phạm Mộng Hoa và Lâm Mai Lan, 2000):
- Coi việc giải quyết tái định cư không tự nguyện là kết quả của dự án phát triển chứ không phải đơn thuần chỉ là thực hiện đền bù Nó là một quá trình từ đền
bù, tái bố trí và khôi phục cuộc sống cho những người bị ảnh hưởng của dự án nhằm đảm bảo cho họ có một cuộc sống tốt hơn, ổn định và bền vững
- Các dự án phát triển là các dự án đầu tư nhằm tạo ra cơ sở hạ tầng và tài sản sản xuất hoặc dự án bảo vệ các tài nguyên quốc gia Tư nhân cũng có thể tham gia vào các dự án phát triển như khách sạn, khu du lịch hoặc là dự án công cộng, đường giao thông hoặc cũng có thể liên doanh công tư như ở trường hợp dự án thủy điện Nậm Theum 2
- Đền bù là việc trả bằng tiền hoặc hiện vật cho các tài sản bị thiệt hại trong trường hợp những nơi không phải tái bố trí Trong trường hợp phải tái bố trí thì thực
Trang 24hiện cả việc đền bù và khôi phục
- Khôi phục là các hoạt động nhằm đảm bảo đem lại một mức sống cao hơn trước đó thông qua việc tạo ra các hoạt động kinh tế lâu bền cho hộ gia đình bị ảnh hưởng
- Tiêu chí dự án: Dự án có từ 100 hộ gia đình bị ảnh hưởng trực tiếp trở lên được xếp vào loại dự án quan trọng và phải có dự án tái định cư hoàn chỉnh theo yêu cầu quy trình Điểm quy định này rất phù hợp với điều kiện của Lào, nơi mà có nhiều nhóm dân tộc, bộ tộc sinh sống mang tính đặc thù
- Đền bù đất bằng giá trị thay thế dựa vào giá thị trường địa phương tại thời điểm thu hồi đất Người bị ảnh hưởng có thể yêu cầu bồi thường đất thay thế (cả về
số lượng và chất lượng đất), trường hợp đặc biệt có thể đền bù bằng tiền mặt
- Đối với nhà ở là thay thế nhà ở cũ bằng nhà ở mới Dự án chịu trách nhiệm cung cấp vật liệu và xây dựng Chủ nhà tham gia làm nhà thì sẽ được thanh toán tiền công lao động
Như vậy, có thể thấy trong chính sách tái định của Lào thể hiện nhiều điểm tiến bộ mà chúng ta nên học tập Chính sách đó đã đảm bảo quyền lợi cho những người phải tái định cư không tự nguyện, đồng bào dân tộc thiểu số bị ảnh hưởng của các dự án phát triển vì lợi ích quốc gia
1.3 Cơ sở thực tiễn và ảnh hưởng của việc thu hồi đất xây dựng các công trình thủy điện đến đời sống, sản xuất của người dân tại Việt Nam
1.3.1 Thực trạng phát triển các công trình thủy điện ở Việt Nam
Chiến lược Phát triển nguồn điện Việt Nam giai đoạn 2004 - 2010, định hướng đến năm 2020 đã xác định: “Ưu tiên phát triển thủy điện, nhất là các công trình có lợi ích tổng hợp (cấp nước, chống lũ, chống hạn ); khuyến khích đầu tư các nguồn thủy điện nhỏ với nhiều hình thức để tận dụng nguồn năng lượng sạch, tái sinh” Theo đó, trong khoảng 20 năm tiếp theo sẽ xây dựng hầu hết các nhà máy thủy điện tại những nơi có khả năng Dự kiến đến năm 2020, Việt Nam sẽ khai thác hầu hết năng lực thủy điện trên các dòng sông chính (Thủ tướng Chính phủ, 2004)
Với hơn 2.372 sông, suối lớn nhỏ có dòng chảy liên tục và dài hơn 10 km,
Trang 25tiềm năng thủy điện lý thuyết khoảng 35.000 MW Tuy nhiên, tiềm năng kinh tế có thể khai thác được khoảng 26.000 MW (tương đương khoảng 100 tỷ KWh/năm) Theo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đến 2012, tổng công suất lắp máy của tất
cả các nhà máy thủy điện đã vận hành khai thác đạt 13.509 MW, chiếm đến 50,17% tổng công suất lắp máy, và sản lượng điện đạt 53,122 tỷ KWh hay 45,18% sản lượng điện của lưới điện quốc gia Hiện Việt Nam đã khai thác trên 80% tiềm năng kinh tế thủy điện toàn quốc Do chiếm một tỷ lệ lớn trong hệ thống điện quốc gia, thủy điện đang có một vai trò rất quan trọng trong mạng lưới điện của Việt Nam
An ninh năng lượng quốc gia hiện tại và trong tương lai gần rõ ràng đang phụ thuộc rất lớn vào nguồn năng lượng được sản sinh từ nguồn tài nguyên nước này Tuy nhiên sự hiện diện rất dày của các công trình thủy điện lớn nhỏ ở khắp các hệ thống sông suối của Việt Nam là thực tế cần nhìn nhận Các công trình thủy điện là những công trình hạ tầng lớn của xã hội, nhưng là công trình đặc biệt có tác động to lớn đến cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội, môi trường sống, sự an toàn của con người trước
và sau công trình thủy điện (Trung tâm Phát triển Sáng tạo xanh, 2014)
Việc xây dựng các công trình thủy điện nhằm tạo nguồn năng lượng để phát triển kinh tế - xã hội là một nhu cầu đặc biệt quan trọng Việt Nam là một trong số
14 quốc gia trên thế giới có tiềm năng lớn về thủy điện (Phạm Khánh Toàn, 2010) Theo báo cáo của Tổng cục Năng lượng - Bộ Công Thương (2013), hiện nay trên cả nước đã vận hành phát điện 268 dự án thủy điện với công suất 14.240,5 MW; đang thi công xây dựng 205 dự án với công suất 6.198,8 MW., dự kiến đưa vào vận hành khai thác từ nay đến năm 2017 Trong đó, khu vực miền Trung Tây Nguyên đã vận hành khai thác 118 dự án (5.978,2 MW); đang thi công xây dựng 75 dự án (1.945,2 MW), dự kiến đưa vào vận hành khai thác từ nay đến năm 2015 Việc đầu tư xây dựng các dự án thủy điện đã và đang góp phần quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của cả nước Riêng trong năm
2012, các nhà máy thủy điện đã đóng góp tới 48,26% công suất và 43,9% điện lượng (khoảng 53 tỷ kWh) cho hệ thống điện Đây là nguồn năng lượng sạch, có khả năng tái tạo, giá thành rẻ hơn các nguồn điện khác Việc đầu tư xây dựng các
Trang 26dự án thủy điện cũng đã đóng góp tích cực trong việc tạo nguồn nước cho sản xuất
và sinh hoạt, các hồ thủy điện chiếm 86% tổng dung tích của các hồ chứa trong cả nước Đồng thời, việc đầu tư xây dựng các dự án thủy điện, một số cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội như điện, đường, trường, trạm y tế, nhà văn hóa…trong các khu vực tái định cư được nâng cấp, xây dựng mới khá đồng bộ và kiên cố, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội và văn hóa cho người dân địa phương
Trên toàn quốc có một số lưu vực sông chính có tiềm năng thuỷ điện rất cao, điển hình như lưu vực sông Đà, sông Lô - Gâm, sông Đồng Nai, Sê San, Serepok, sông Ba, sông Mã, sông Cả, Theo báo cáo quy hoạch thuỷ điện quốc gia, Việt Nam có tiềm năng thuỷ điện dự tính khoảng 17.700 MW Cũng theo tổng kết các nghiên cứu về quy hoạch thuỷ điện ở nước ta cho thấy tổng trữ năng kinh tế của các con sông được đánh giá khoảng 80 tỷ KWh/năm Về lý thuyết, tiềm năng sản xuất điện của thuỷ điện nước ta có thể đạt tới 300 tỷ kWh một năm, trong đó trên sông Hồng có thể sản xuất 122 tỷ kWh hàng năm (41%) Tương tự trên sông Đồng Nai là 27,35 tỷ kWh (9%), và sông Sê San là 16,46 tỷ kWh (6%) (Vũ Hoàng Hoa, 2012)
Việc xây dựng các công trình thủy điện khu vực miền Trung, Tây Nguyên và miền núi phía Bắc nhằm khai thác tiềm năng tài nguyên nước có một ý nghĩa quan trọng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Hàng năm, ngoài việc các công trình thủy điện cung cấp hàng tỷ kWh cho hệ thống điện lưới quốc gia còn đóng góp tích cực trong việc tạo nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt, điều hòa lũ vào mùa mưa, cấp nước vào mùa hạn cho vùng đồng bằng Bình Thuận, Phú Yên, cắt lũ và điều tiết nước cho đồng bằng Bắc bộ; tạo điều kiện phát triển nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, phát triển du lịch, điều hòa khí hậu cho vùng Đồng thời, việc đầu tư xây dựng các dự án thủy điện, một số cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội như điện, đường, trường, trạm y tế, nhà văn hóa… trong các khu vực tái định cư được nâng cấp, xây dựng mới khá đồng bộ và kiên cố, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa cho người dân địa phương
Trang 27Bảng 1.1 Tiềm năng thủy điện ở Việt Nam
Lưu vực sông Diện tích
(km2)
Số công trình
Tổng công suất,
MW
Điện lượng, GWh
(Nguồn: Tổng Công ty điện lực Việt Nam)
Hiện nay, thuỷ điện vẫn là nguồn cung cấp năng lượng chính trong nhu cầu điện quốc gia Theo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020
có xét đến năm 2030, sẽ ưu tiên phát triển thủy điện, nhất là các dự án lợi ích tổng hợp như chống lũ, cấp nước, sản xuất điện; đưa tổng công suất nguồn thủy điện từ
9200 MW hiện nay lên 17400 MW năm 2020 Do luôn được Nhà nước chú trọng đầu tư trong nhiều thập kỷ qua nên thủy điện đã đạt được những thành tựu rất đáng
kể, sản xuất được một số lượng điện năng rất lớn phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tốc độ phát triển của thủy điện và số lượng các công trình thủy điện lớn và nhỏ đã gia tăng rất nhanh trong thập kỷ qua khiến cho đến nay còn rất ít những vị trí có khả năng xây dựng các công trình thủy điện lớn trên nhiều hệ thống sông có tiềm năng thủy điện ở nước ta Việc phát triển nhanh các công trình thủy
Trang 28điện lớn, vừa và nhỏ một mặt mang lại hiệu quả cao về kinh tế cho đất nước, nhưng mặt khác cũng không tránh khỏi có những những hệ lụy xấu trong quá trình phát triển rất cần phải xem xét đánh giá về tất cả các khía cạnh của vấn đề
Thực tiễn ở nước ta trong những năm qua cho thấy quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tất yếu sẽ dẫn đến một bộ phận đất đai được chuyển đổi mục đích sử dụng Nhờ có thu hồi đất, chúng ta đã xây dựng nhiều khu công nghiệp, các cụm công nghiệp, mở rộng xây dựng mới các khu đô thị, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế
xã hội: giao thông, cấp điện, cấp nước, thông tin liên lạc, trường học, bệnh viện… Trong các công trình nói trên thì dự án xây dựng nhà máy thủy điện đòi hỏi phải thu hồi một diện tích đất rất lớn để xây dựng hồ chứa nước và công trình nhà máy Công tác thu hồi đất, giao đất để phục vụ cho việc tái định cư, định canh, ổn định đời sống cho các hộ dân bị ảnh hưởng thuộc dự án xây dựng các công trình thủy điện là một trong những điều kiện quyết định đến sự thành công của dự án
1.3.2 Thực trạng bố trí tái định cư tại các công trình thủy điện
1.3.2.1 Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề tái định cư tại các
công trình thủy điện
* Giai đoạn trước năm 1993
Đây là giai đoạn nước ta còn trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung bao cấp và bắt đầu mới có sự chuyển đổi sau Đổi mới năm 1986 Việc đền bù, tái định cư cho nhân dân khi nhà nước thu hồi đất để xây dựng các công trình thủy điện, thủy lợi cũng như các công trình an ninh quốc phòng khác còn rất đơn giản Việc này dựa trên quan niệm đất đai chủ yếu thuộc sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể nên trong trường hợp cần thiết, Nhà nước chỉ thu hồi lại mà không nhất thiết phải đền bù cho nhân dân Nếu có thì chỉ đền bù cho chính quyền địa phương hay tập thể đang sử dụng đất có các tài sản bị thiệt hại, không quy định mức đền bù mà chủ yếu đền theo thỏa thuận Rất nhiều công trình dự án của Nhà nước đã động viên nhân dân phá dỡ nhà cửa hoặc trả một phần đất đai mà không cần phải đền bù Các hộ bị mất đất, bị ảnh hưởng thì tự khắc phục những thiệt hại, những khó khăn cho cuộc sống
Do đó, đời sống của đồng bào phải di dời khi xây dựng các công trình thủy điện
Trang 29trong giai đoạn này gặp rất nhiều khó khăn, để lại nhiều hậu quả nặng nề
* Giai đoạn 1993 - 2001
Đây là giai đoạn nước ta bước vào công cuộc phát triển mạnh mẽ, nền kinh
tế chuyển dần từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Các công trình thủy điện đã mang lại lợi ích to lớn cho đất nước, làm thay đổi cuộc sống của dân cư nhiều vùng Ở giai đoạn này, thay vì nhấn mạnh lợi ích quốc gia, lợi ích tập thể như trước đây, Nhà nước đã chú trọng một cách hài hòa đến lợi ích của cá nhân và ngày càng được khuyến khích bảo vệ Chính sách của nhà nước đã có sự thay đổi căn bản về cách giải quyết trong vấn đề thực hiện đền
bù, di dân tái định cư
Hiến pháp 1992, Luật Đất đai 1993 ra đời có hiệu lực đã làm cơ sở pháp lý cho chính sách đền bù và tái định cư Nghị định 90/CP ngày 17 tháng 8 năm 1994 của Chính phủ và Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 1998 đã cụ thể hóa các quy định về đền bù thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Tuy vậy, các chính sách này nội dung đền bù còn nhiều hạn chế và thực hiện không đầy đủ, triệt để trên thực tế nên kết quả thực hiện chưa đạt theo mong muốn
* Giai đoạn từ 2001 đến nay
Trong giai đoạn này, nhiều công trình thủy diện lớn đã được xây dựng ở nước ta nhằm đáp ứng nhu cầu năng lượng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đi cùng với nó là việc giải quyết vấn đề đền bù di dân tái định cư với khối lượng ngày càng lớn và tầm quan trọng của nó cũng như nhu cầu thực hiện công bằng xã hội cũng đòi hỏi những quan điểm nhận thức mới, cách làm mới đem lại hiệu quả Quan điểm của Đảng và nhà nước về vấn đề thực hiện di dân, tái định
cư trong giai đoạn này như sau (Ủy ban Dân tộc, 2004):
Trang 30tầng, điều kiện sản xuất nhất là đất đai, yếu tố môi trường sống
+ Đảm bảo tính phù hợp trong bối cảnh văn hóa, đặc điểm vùng và dân tộc, tránh những tác động ảnh hưởng lớn về tâm lý xã hội cộng đồng trong việc xây dựng các điểm tái định cư mới, tổ chức quản lý cộng đồng dân cư
1.3.2.2 Thực trạng bố trí tái định cư tại một số công trình thủy điện tại Việt Nam
a Thủy điện Hòa Bình
Nhà máy thủy điện Hòa Bình đươc xây dựng tại hồ Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình Công trình được khởi công xây dựng ngày 6 tháng 11 năm 1979 Nhà máy thủy điện Hòa Bình là nguồn cung cấp điện chủ lực của toàn bộ hệ thống điện Việt Nam Năm 1994, cùng với việc khánh thành nhà máy và tiến hành xây dựng đường dây
500 KV Bắc - Nam từ Hòa Bình tới trạm Phú Lâm (Thành phố Hồ Chí Minh) hình thành một mạng lưới điện quốc gia Công trình này góp phần đắc lực trong việc cung cấp nguồn điện cho miền nam và miền trung Việt Nam (Viện nghiên cứu Địa chính, 2004)
Dự án Thủy điện Hòa Bình là một dự án thuộc các công trình quan trọng quốc gia và là công trình lớn nhất Đông Nam Á, có dung tích hồ chứa 9 tỷ m3 nước, công suất 1920 MW, cho tổng sản lượng điện hàng năm 8,16 tỷ KW Với các hạng mục chính: đập chính, đập tràn, cửa lấy nước, đường dẫn nước áp lực, nhà máy thủy điện có 8 tổ máy, trạm biến áp, trạm phân phối điện ngoài trời, hệ thống điều khiển, bảo vệ, thông tin liên lạc, hệ thống đường dây tải điện 220 - 500 KV đấu nối với hệ thống điện quốc gia (Viện nghiên cứu Địa chính, 2004)
Trang 31Đây là dự án có số lượng di dân và tái định cư lớn nhất từ trước đến nay Sau khi hoàn thành công tác di chuyển dân giải phóng mặt bằng và lòng hò Thủy điện Hòa Bình đã hình thành vùng chuyển dân sông Đà của 5 huyện và thành phố: Đà Bắc, Tân Lạc, Mai Châu, Cao Phong và thành phố Hòa Bình, gồm 26 xã, phường và
10 điểm ngoài vùng có dân cư tập trung xen ghép các xã với tổng số 9.214 hộ, 55.772 nhân khẩu, gồm các dân tộc Thái, Tày, Giao, Mường, Kinh (Viện nghiên cứu Địa chính, 2004)
Đến năm 2011 có điều tra bổ sung với 16.913 hộ, 69.275 nhân khẩu phải di chuyển đến các khu tái định cư theo quy hoạch Vấn đề chủ yếu là đảm bảo sinh
kế bền vững cho những người tái định cư, và những tác động mà tái định cư sẽ gây
ra đối với tính liên tục về văn hóa và các giá trị cộng đồng của họ Vùng ảnh hưởng chuyển dân sông Đà xây dựng thủy điện Hòa Bình thuộc tỉnh Sơn La gồm
50 xã và 2 thị trấn thuộc 6 huyện: Phù Yên, Mộc Châu, Bắc Yên, Mường La, Mai Sơn, Vân Hồ Tổng số bản là hơn 660, với số dân trong vùng đề án hơn 54.000 hộ Dân cư vùng ngập chủ yếu là dân tộc Thái và Mường, đời sống khó khăn, sản xuất chủ yếu là nương rẫy, chưa định canh, trình độ văn hoá xã hội thấp Các chương trình, dự án hỗ trợ tái định đã tạo mặt bằng để ổn định đời sông nhân dân, làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi, mang lại hiểu quả xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội vùng hồ sông Đà, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 36%, thu nhập bình quân đầu người 18 triệu đồng/người/năm (Viện nghiên cứu Địa chính, 2004)
Tuy nhiên, đời sống người dân vùng tái định cư còn nhiều khó khăn, số hộ nghèo nhiều, nguy cơ tái nghèo cao, thu nhập bình quân của người dân thấp hơn mức thu nhập bình quân của tỉnh Hạ tầng yếu và thiếu, chưa đồng bộ Điều kiện sản xuất hạn chế, thiếu đất canh tác, sinh kế khó bền vững Các tiềm năng lợi thế vùng hồ chưa được khai thác hiệu quả Trình độ dân trí khu vực tái định cư còn rất thấp, số người có trình độ từ phổ thông trung học trở lên rất ít Giáo dục đào tạo tuy
đã có sự quan tâm đầu tư lớn của tỉnh, huyện nhưng cơ sở vật chất phục vụ cho công tác giảng dạy, đào tạo còn thiếu thốn nhiều Tỷ lệ học sinh đến trường còn rất
Trang 32thấp Đời sống văn hoá tinh thần của đa số bà con dân tộc còn lạc hậu, thiếu thốn, tỷ
lệ tăng dân số trong vùng còn cao Nhiều hủ tục, tập tục lạc hậu, mê tín dị đoan không những chưa xoá bỏ mà đang có chiều hướng khôi phục Bên cạnh đó những nét văn hoá truyền thống đặc sắc có chiều hướng mai một, phai nhạt Một số ngành nghề có tính chất truyền thống mang những nét đặc thù riêng bản sắc dân tộc miền núi như: dệt vải, thổ cẩm, mây tre đan, sản xuất công cụ cầm tay (dao, cuốc, cày,…) vẫn duy trì nhưng ở mức độ hạn hẹp nhỏ lẻ, mang tính chất tự cấp, tự túc, chưa được quan tâm mở rộng quy mô sản xuất
Tóm lại, di dân tái định cư công trình thủy điện Hòa Bình trong điều kiện nền kinh tế đất nước khi đó còn khó khăn song được người dân vùng ảnh hưởng ủng
hộ, quỹ đất bố trí tái định cư thời kỳ này còn lớn, chủ yếu là di vén tại chỗ Tuy nhiên, khó khăn cũng rất nhiều đó là trình độ dân trí của người dân tái định cư thấp, việc chuyển đổi hình thức từ trồng lúa ven sông, suối sang canh tác nương rẫy không đảm bảo đời sống của người dân
b Thủy điện Trị An
Công trình thủy điện Trị An được xây dựng trên sông Đồng Nai, cách thành phố Hồ Chí Minh 65 km về phía Đông Bắc, được khởi công xây dựng năm 1984 và hoàn thành năm 1989 với 4 tổ máy, công suất 400 MW, với 2 nhiệm vụ là cung cấp sản lượng điện và phục vụ công tác thủy nông cho thành phố Hồ Chí Minh (phục vụ đẩy mặn, tưới tiêu, cắt lũ) Đất đai ở các huyện tiếp giáp với Hồ Trị An cũng được đặc biệt quan tâm vì có điều kiện thuận lợi cho việc canh nông trong khi quy mô diện tích liền khoảnh liền thửa còn khá lớn và bỏ hoang Khi xây dựng đập Thuỷ điện Trị An sẽ làm tăng diện tích mặt nước hồ nhất là về mùa mưa phải tích nước, làm cho đại bộ phận các hộ đến định cư và sản xuất ở đây phải di dời - tái định cư (Viện nghiên cứu Địa chính, 2004)
Việc di dời tái định cư hầu hết được tiến hành trong phạm vi 4 huyện là Thống Nhất, Vĩnh Cửu, Định Quán và Tân Phú Do quỹ đất dồi dào nên không gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện di vén và xen ghép tại chỗ Hơn nữa, đại bộ phân các hộ dân phải di dời đều là thành phần cán bộ, bộ đội, thanh niên xung
Trang 33phong, dân mới tái cư nên việc tổ chức thực hiện khá dễ dàng, nhanh chóng và ít tranh chấp Tuy nhiên, sau khi nhà máy vận hành và nhất là khi các điều kiện kinh
tế xã hội ở Đồng Nai phát triển thì việc sử dụng đất ở vùng bán ngập và các trung tâm, điểm dân cư ở các khu vực phụ cận Hồ Trị An trở nên hết sức phức tạp Tình trạng tái chiếm, lấn chiếm đất đai để xây dựng nhà ở và sản xuất theo kiểu vừa trồng trọt, chăn nuôi trên bờ vừa sinh sống trên bè nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản là phổ biến và gia tăng với khoảng 1.200 hộ Do cuộc sống không an cư khó lạc nghiệp nên tình trạng giáo dục, chăm sóc y tế và các tệ nạn xã hội khác không kiểm soát được Hiện nay, những vấn đề chung về sử dụng mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, đất bán ngập để sản xuất và làm nhà ở, đất cho bố trí tái định cư trên bờ đang gặp nhiều khó khăn ở cả 4 huyện do không còn đất công để thực hiện các dự án di dân lên bờ tái định cư, định canh ổn định Tình trạng kinh tế kém phát triển, thiếu sự ổn định
và dân trí không có điều kiện để nâng cao dần lên đối với các hộ này đang là một thách thức lớn (Viện nghiên cứu Địa chính, 2004)
Tóm lại, do có nhiều điều kiện thuận lợi trong đó phải kể đến vấn đề về đất đai nên việc bố trí tái định cư ở công trình thủy điện Trị Am khá thuận lợi, tuy nhiên do đặc điểm cuộc sống du canh du cư, trình độ dân trí thấp nên cuộc sống người dân tái định cư vẫn khó khăn, những phát sinh sau khi tái định cư không kiểm soát được
c Thủy điện Yaly
Thuỷ điện Yaly được xây dựng từ tháng 11/1993 với cao trình 513 m, được thiết kế xây dựng với công suất 1030 MW trên địa bàn tỉnh Kon Tum và Gia Lai Hàng năm, đóng góp cho đất nước 3,7 tỉ kWh điện/năm Tuy nhiên, việc xây dựng công trình thuỷ điện Yaly tạo ra một hồ chứa rộng 6.450 ha, làm ngập 1.847 ha đất nông nghiệp, ảnh hưởng tới sản xuất và đời sống của 4.610 hộ gia đình, với 24.791 người thuộc 67 buôn làng, nằm trên địa bàn 10 xã thuộc 3 huyện, thị của hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum (Nguyễn Văn Quân, 2013), trong đó tỉnh Kon Tum bị ảnh hưởng với số dân là 3.818 hộ, 21.468 nhân khẩu và tỉnh Gia Lai bị ảnh hưởng 792
hộ với 3.323 khẩu (Viện nghiên cứu Địa chính, 2004)
Trang 34Phương án đền bù di dân, tái định cư chung cho cả 2 tỉnh Gia Lai và Kon Tum do Tổng Công ty điện lực Việt Nam thực hiện phê duyệt năm 1995 với tổng kinh phí 270 tỷ động và được điều chỉnh dự toán vào năm 2002 là 372 tỷ đồng (Nguyễn Lâm Thành, 2004) Đến nay, về cơ bản việc tổ chức thực hiện tái định cư cho nhân dân đã giải quyết tốt về mặt nhà ở, giao thông đi lại, trạm xá, nước sinh hoạt, điện thắp sáng, điều kiện sống của người dân đã được cải thiện một bước, người dân đã phần nào yên tâm tại nơi ở mới Tuy nhiên, đời sống còn gặp khó khăn, lương thực không đủ, thu nhập thấp do thiếu đất canh tác và chất lượng đất kém Bên cạnh đó, việc sử dụng vùng đất bán ngập như thế nào để đúng pháp luật,
có hiệu quả và tránh được tranh chấp là một vấn đề cần quan tâm trong việc bố trí tái định cư ở công trình thủy điện Yaly Việc tổ chức khuyến nông cho đồng bào dân tộc tại chỗ chưa phù hợp, tập trung nhiều cho đầu tư vườn cây trong lúc nhân dân chưa am hiểu nhiều về cây trồng Kinh phí đầu tư tập trung chủ yếu vào cơ sở
hạ tầng, mất cân đối với kinh phí ổn định sản xuất, hỗ trợ đời sống (Viện nghiên cứu Địa chính, 2004)
Tóm lại, ở công trình thủy điện Yaly với quỹ đất nông nghiệp tương đối lớn nên thuận lợi cho công tác bố trí tái định cư, đời sống người dân tại điểm tái định cư khá hơn trước, song tình trạng tranh chấp đất đai giữa nơi ở cũ và mới, đất đai vùng bán ngập và trình độ dân trí còn thấp (rất nhiều chủ hộ không biết chữ thậm chí không biết tiếng Kinh) vẫn đang là vấn đề phải tiếp tục được giải quyết tại các điểm tái định cư
d Công trình thủy điện Hàm Thuận - Đa Mi
Thủy điện Hàm Thuận - Đa Mi được khởi công xây dựng vào năm 2001 và hoàn thành vào năm 2003, có công suất 475 MW thuộc địa bàn tỉnh Bình Thuận và Lâm Đồng Việc xây dựng thủy điện đã tạo ra hồ nước có diện tích 799,51 km2 và làm ảnh hưởng đến 4.673 nhân khẩu (Ủy ban Dân tộc, 2004)
Công tác tái định cư đã có bước khảo sát, nghiên cứu chuẩn bị trước khi triển khai thực hiện để đảm bảo quyền lợi của người dân trên các mặt kinh tế, văn hóa -
xã hội Do vậy ngoại việc tạo lập hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ thì đời sống của
Trang 35người dân tái định cơ bản đã được cải thiện và nâng cao sơ với nơi ở trước đây Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được còn có những hạn chế cần rút kinh nghiệm:
- Quá trình khảo sát ban đầu chưa được kỹ lưỡng, nhất là việc thống kê các
hộ dân trong vùng dự án được hưởng chế độ đền bù, giải tỏa dẫn đến mất thời gian
để làm đi làm lại nhiều lần
- Chưa giải quyết vấn đề nhà ở, đất ở, đất sản xuất, các biện pháp hỗ trợ ổn định đời sống cho người dân trong phương án tái định cư Chủ đầu tư còn năng về tính hiệu quả kinh tế trước mắt của dự án mà chưa chú trọng đến hiệu quả lâu dài về mặt xã hội mang tính đặc thù của đồng bào dân tộc
- Đơn giá đền bù thấp trong khi khung giá của nhà nước chưa kịp thời điều chỉnh và sửa đổi dẫn đến làm chậm tiến độ giải phóng mặt bằng và chưa đảm bảo quyền lợi của người dân
- Sự phối kết hợp giữa chủ đầu tư và chính quyền địa phương chưa thật sự tốt Chủ yếu do bên chủ đầu tư tự tiến hành từ khâu khảo sát, quy hoạch đến khâu tổ chức thực hiện nên đã phát sinh nhiều vướng mắc
1.3.3 Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của việc thu hồi đất xây dựng các công trình thủy điện đến đời sống của người dân tại Việt Nam
Trong những năm qua, Việt Nam đã thực hiện khá nhiều dự án thuỷ điện đòi hỏi phải xây dựng các hồ chứa nước, hình thành đập thuỷ điện, có tác động nhiều đến sản xuất và ảnh hưởng đến đời sống của đồng bào Việc xây dựng các công trình thủy điện nhằm khai thác tiềm năng tài nguyên nước có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, cuộc sống của hầu hết các hộ dân tái định cư vùng thủy điện chưa thoát khỏi những khó khăn, thậm chí họ bỏ các khu tái định cư để quay về nơi ở cũ Bởi khi chuyển đến khu tái định cư, rất nhiều hộ dân không nhận được đất sản xuất hoặc có đất nhưng diện tích
ít, chất lượng thấp, thậm chí khô cằn, xa nguồn nước làm họ mất sinh kế, trong khi tiền đền bù không còn Cuộc sống mới với những bất cập, khuyết thiếu trong thực thi chính sách di dân khiến không ít hộ phải đối mặt với vô vàn khó khăn nơi ở mới,
tỉ lệ hộ nghèo ở vùng này tăng cao
Trang 36Nghiên cứu về chính sách di dân tái định cư tại các dự án thủy điện trên địa bàn Nghệ An của Nguyễn Thị Minh Phượng (2014) cho thấy tại dự án thủy điện Bản Vẽ (nằm trên địa bàn huyện Tương Dương) là công trình thủy điện lớn nhất hiện nay ở Nghệ An Tuy công trình đã được đưa vào sử dụng nhưng công tác tái định cư, ổn định cuộc sống cho hơn 2.000 hộ dân từ nơi ở cũ là huyện Tương Dương đến nơi ở mới là huyện Thanh Chương tồn tại nhiều bất cập Nổi lên, đó là một số chi phí bồi thường, tái định cư cho các hộ dân chưa được chi trả, việc giao đất sản xuất cho các hộ tái định cư chưa kịp thời hoặc không đúng tiến độ, không đủ diện tích được phê duyệt Cơ sở hạ tầng tại các khu tái định cư thiếu đầu tư, không đồng bộ, đang trong tình trạng hư hỏng, xuống cấp… Do thiếu đất sản xuất và những khó khăn khác nên nhiều hộ dân tái định cư đã bỏ nơi ở cũ tại huyện Thanh Chương để trở về nơi ở mới tại huyện Tương Dương, trong đó có nhiều hộ đã xuống lòng hồ thủy điện để mưu sinh, kéo theo nhiều hệ quả, tác hại xấu, gây bất ổn
về an ninh trật tự, an toàn cho người dân Trong bản, người vào rừng kiếm rau, măng, săn thú bán , người đi làm thuê, kiếm tiền Người dân ở khu tái định cư xã Hướng Linh (thuộc công trình Rào Quán); Lộc Bổn (công trình Tả Trạch) được giao đất 1ha/hộ nhưng không sản xuất được, dẫn đến có 30% số người trở về sản xuất ở vùng lòng hồ; 30% số người đi lao động ở nơi khác, số còn lại đi làm thuê để kiếm sống Tình trạng tương tự cũng xẩy ra với các dự án thuỷ điện khác như A Vương (Quảng Nam), Tuyên Quang, và Pleikrông (Kon Tum)
Thủy điện Pa Ôi (huyện Nam Giang, trên suối Tạp Rông và Laê, một nhánh sông Bung, Quảng Nam) đã thực hiện thu hồi đất sản xuất của dân tộc Katu với 16 ha,100% dân tộc Katu nơi đây không có đất để làm nương rẫy Sau khi được bố trí tái khi được Nhà nước bố trí tái định cư, dù nơi ở mới đầy đủ hơn về điện, đường, trường, trạm nhưng việc làm thì rất bấp bênh nên đời sống người dân gặp nhiều khó khăn (Lê Thị Nguyên, 2012)
Tại thủy điện Sơn La đã có một số tác giả nghiên cứu về vấn đề sinh kế của người dân sau khi phải di dân tái định cư Theo Viện nghiên cứu Quản lý Trung Ương (2014), người dân ở bản Hoa 2, xã Tân Lập, huyện Mộc Châu người dân đã
Trang 37chuyển đổi sinh kế hoàn toàn Trước đây, bà con canh tác ruộng nước thì bây giờ chuyển đổi sang chăn nuôi bò sữa và trồng chè Do không có kinh nghiệm, cộng với điều kiện khí hậu lạnh, nhiều sương mù nên bò chết hoặc không cho sữa Hiện nay, người dân trồng chè là chủ yếu với cuộc song tạm được đảm bảo Mặc dù vậy, hình thức chuyển đổi sinh kế ở bản Hoa 2 vẫn còn nhiều bất cập bởi thu nhập chính của gia đình phụ thuộc hoàn toàn vào năng suất của chè và lượng thu mua, giá cả của nhà máy Lương thực, thực phẩm và tất cả nhu yếu phẩm cần thiết đều phải mua, dẫn đến tình trạng nhiều gia đình chi tiêu không có kế hoạch nên thiếu ăn, nhà nước phải hỗ trợ gạo Xuất hiện tình trạng tư thương bán chịu với giá cao và tính lãi Rút kinh nghiệm từ bản Hoa 2, xã Tân Lập, đối với Mường Bó, sinh kế của đồng bào được giữ nguyên so với trước đây Người dân Mường Bó được xem xét, kiểm tra điều kiện sống ở nơi tái định cư trước Sau khi kiểm tra điều kiện khí hậu, nguồn nước, chất đất, thấy phù hợp với hoạt động canh tác lúa nước, bà con yên tâm chuyển đến, nhận đất, nhận rừng để sản xuất Nhờ đó, cuộc sống của bà con được đảm bảo Do ở tập trung thành một khu vực riêng nên người dân có điều kiện mở rộng diện tích canh tác ngoài diện tích mà nhà nước đảm bảo cấp đủ, cấp đúng Ông Cầm Văn Nguyễn, Bí thư chi bộ bản Mường Bó cho hay gia đình ông mới mở rộng thêm 5.000 m2 đất ruộng để canh tác Không chỉ có gia đình ông mà nhiều gia đình khác trong bản cũng đã mở rộng diện tích canh tác Nhờ thế, cuộc sống của người dân không những đã ổn định mà còn có bước phát triển Khác với Mường Bó, điểm tái định cư xen ghép Hua Tát, xã Cò Nòi gồm 7 hộ gia đình, ngoài diện tích đất canh tác do nhà nước cấp, họ không có điều kiện mở rộng diện tích do quỹ đất có hạn, cũng không thể mở rộng bởi đất đai đã được người dân sở tại khai phá hết Cũng cần phải nói thêm rằng, diện tích đất nương rẫy do người dân sở tại nhường lại cho bà con tái định cư cũng là đất xấu, lẫn nhiều sỏi đá, ở xa nơi cư trú nên ngoài trồng ngô, chặt mía thuê việc chuyển đổi sinh kế cho người dân tái định cư ở Hua Tát chưa thực hiện được Bên cạnh đó, trong quá trình tái định cư đã có nhiều vấn
đề phát sinh trong quá trình ổn định cuộc sống và sản xuất Ở Hoa 2, do điều kiện sống không phù hợp với tập quán sinh hoạt và sản xuất nên đã có 13 hộ dân bỏ về
Trang 38quê cũ, dẫn đến tình trạng ở Hoa 2 quản lý nhân khẩu trên giấy tờ (đăng ký nhân khẩu), còn ở Ít Ong quản lý con người nhưng không có giấy tờ Hoặc như ở Hua Tát (xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn), với 7 hộ dân được trang bị 01 máy bơm nước, không
đủ nước sinh hoạt Cá biệt, có hộ gia đình từ năm 2008 đến năm 2013 chưa được cấp đất canh tác, và cũng chỉ mới được cấp vào cuối năm 2013 dẫn đến những bức xúc của gia đình trong thời gian qua Đơn cử như ở Mường Bó, xã Loóng Sập, huyện Mộc Châu, mặc dù cuộc sống và sản xuất được chính người dân ở đây thừa nhận là tốt hơn ở trên quê cũ nhưng cơ sở hạ tầng vẫn còn bất cập như không có sóng điện thoại, cách xa trung tâm xã (21 km)…
Theo kết quả điều tra của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Nam, tại các công trình thủy điện trên địa bàn tỉnh có 99,5% người dân được hỏi cho rằng đất sản xuất hiện nay ít và 92,3% đánh giá là chất lượng đất sản xuất xấu hơn nơi ở cũ; 98,5% cho rằng đất sản xuất hiện nay không đáp ứng được nhu cầu sản xuát; 93,4% người dân thiếu lương thực vào mùa giáp hạt Về đánh giá đời sống của mình, có đến 43,9% người dân cho rằng thiếu ổn định, 42,9% đánh giá tạm thời ổn định và 12,2% là thực sự ổn định (Nho Tuấn, 2013)
Các công trình thủy điện, thủy lợi hầu như đều có liên quan đến việc di dân
ra khỏi các khu vực xây dựng và số dân này sẽ được đưa đến định cư ở một khu vực mới Nghị quyết số 26 được Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VII, khóa IX thông qua là: “Nơi tái định cư phải có điều kiện sống, sinh hoạt phát triển tốt hơn hoặc bằng so với nơi ở cũ” Mặc dù hầu hết trong các dự án về tái định cư thủy điện đều tạo điều kiện cho người dân khi đến các khu tái định cư sẽ được hưởng các chính sách về hạ tầng, nhà cửa, đất sản xuất, đất canh tác,… bằng hoặc cao hơn nơi ở cũ Nhưng thực tế có một khó khăn chung là người dân hầu như bất lực trong việc kiếm kế sinh nhai Các dự án hỗ trợ từ chính quyền đều không có hiệu quả Tình trạng phổ biến nhất ở các khu tái định cư là nông dân không có đất canh tác, nếu có thì đất cằn cỗi, trơ sỏi đá cũng không canh tác được Nghĩa là định
cư nhưng thiếu định canh
Trang 39Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đời sống, sản xuất của người dân tái định cư phục vụ xây dựng thủy điện Sơn
La trên địa bàn huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Tủa Chùa
- Điều kiện tự nhiên
- Điều kiện kinh tế - xã hội
2.2.2 Khái quát về công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư xây dựng thủy điện Sơn La trên địa bàn huyện Tủa Chùa
- Khái quát về các đơn vị hành chính bị ảnh hưởng bởi công trình thủy điện Sơn La trên địa bàn huyện Tủa Chùa
- Công tác thu hồi đất để xây dựng công trình thủy điện Sơn La trên địa bàn huyện Tủa Chùa
- Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất xây dựng công trình thủy điện Sơn La trên địa bàn huyện Tủa Chùa
2.2.3 Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến sản xuất, đời sống của người dân tái định cư huyện Tủa Chùa
- Khái quát về hộ điều tra
- Ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến sản xuất, đời sống của người dân tái định cư
2.2.4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao sản xuất, đời sống cho người dân tái định cư huyện Tủa Chùa
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Theo quy hoạch tổng thể di dân tái định cư dự án thủy điện Sơn La được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2009/QĐ-TTg ngày 04/11/2013 trên địa huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên có 3 điểm tái định cư, đó là:
- Điểm tái định cư Huổi Lực xã Mường Báng;
Trang 40- Điểm tái định cư Tả Huổi Tráng - Tà Si Láng xã Tủa Thàng;
- Điểm tái định cư Huổi Lóng xã Huổi Só
Để nghiên cứu ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến đời sống, sản xuất của người dân tái định cư, đề tài lựa chọn 3 điểm tái định cư nêu trên để nghiên cứu
2.3.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp
- Điều tra, thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Tủa Chùa tại Ủy ban nhân dân huyện Tủa Chùa
- Điều tra, thu thập các số liệu về thực trạng thu hồi đất và bố trí tái định cư, tình hình sử dụng đất của các điểm tái định cư tại Phòng Tài nguyên và Môi trường, Ban quản lý dự án, Chi cục Thống kê huyện Tủa Chùa và UBND các xã: Mường Báng, Huổi Só, Tủa Thàng, Sín Chải
2.3.3 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp
- Nguồn số liệu sơ cấp được thu thập bằng phương pháp sử dụng phiếu điều tra có sẵn để thu thập các thông tin phản ánh về đời sống và sản xuất của người dân tái định cư huyện Tủa Chùa Tổng số phiếu điều tra là 248 phiếu tương ứng với tổng
số hộ gia đình tái định cư tại 3 điểm tái định cư Các thông tin điều tra bao gồm: thông tin cơ bản của hộ được điều tra; diện tích đất trước và sau thực hiện tái định cư; kết quả bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; tình hình đời sống và sản xuất của hộ tái định cư; những kiến nghị, đề xuất của người dân đối với việc ổn định đời sống
và sản xuất
- Phỏng vấn trực tiếp một số cán bộ ngành Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp, Ban quản lý dự án và cán bộ các xã: Mường Báng, Tủa Thàng, Huổi Só để tìm hiểu về những khó khăn, bất cập trong công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư và việc bố trí sản xuất cho người dân Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao đời sống và phát triển sản xuất cho người dân tái định cư dự án thủy điện Sơn La trên địa bàn huyện Tủa Chùa
2.3.4 Phương pháp thống kê, tổng hợp và xử lý số liệu
Sau khi thu thập được các số liệu về: số hộ dân bị ảnh hưởng, diện tích đất
bị thu hồi, kết quả bồi thường và hỗ trợ tái định cư; hiện trạng sử dụng đất tại các