1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất một số cây trồng chủ lực tại tỉnh thái bình

98 580 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 4,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề xuất các giải pháp giảm nhẹ tác động và thích ứng với biến đổi khí hâu trong sản xuất cây trồng chủ lực ở tỉnh Thái Bình 71... MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Sản xuất nông nghiệp

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

1.1 Đánh giá diễn biến của biến đổi khí hậu trên thế giới: 4 1.2 Biến đổi khí hậu ở Việt Nam và ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp 9

1.2.2 Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến nông nghiệp ở Việt Nam 13 1.2.3 Một số nghiên cứu trong thời gian gần đây về tác động của BĐKH đến

1.3 Tổng quan một số phương pháp nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi

1.4 Một số chương trình, chính sách của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 2

3.1.1 Vị trí địa lý 26

3.2 Tình hình sản xuất trồng trọt tại tỉnh Thái Bình 34 3.2.1 Hiện trạng sản xuất một số cây trồng chính 34 3.2.2 Hiện trạng sản xuất hai cây trồng chủ lực (lúa và ngô) tại tỉnh Thái

3.2.2.1 Hiện trạng sản xuất lúa tại tỉnh Thái Bình 37 3.2.2.2 Hiện trạng sản xuất ngô tại tỉnh Thái Bình 40 3.2.3 Diễn biến khí hậu, thời tiết tại tỉnh Thái Bình 42 3.2.4 Thiệt hại đến sản xuất lúa, ngô tại Thái Bình do ảnh hưởng của biến

3.2.5 Hiện trạng sản xuất nông nghiệp huyện Tiền Hải 56 3.2.6 Những nhận biết về tác động biến đổi khí hậu đến sản xuất cây trồng

3.3 Đánh giá kết quả điều tra, nhận biết của cán bộ và nông dân về tác

3.3.1 Kết quả điều tra nhận thức của cán bộ về tác động của BĐKH 58 3.3.2 Kết quả điều tra đánh giá nhận thức của người dân về BĐKH và

3.4 Dự báo thay đổi năng suất, sản lượng và hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa

3.5 Các biện pháp thích ứng, ứng phó với BĐKH và Đề xuất các giải pháp giảm

nhẹ tác động và thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất cây trồng

3.5.1 Các biện pháp thích ứng, ứng phó với BĐKH trong sản xuất

Trang 3

3.5.2 Đề xuất các giải pháp giảm nhẹ tác động và thích ứng với biến đổi khí

hâu trong sản xuất cây trồng chủ lực ở tỉnh Thái Bình 71

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

1.1 Mức tăng nhiệt độ và mức thay đổi lượng mưa trong 50 năm qua ở

1.2 Mực nước biển dâng theo kịch bản phát thải trung bình (cm) 13

3.4 Thông tin cây trồng chủ lực lúa và ngô tại điểm điều tra tỉnh Thái Bình 36 3.5 Diễn biến diện tích canh tác lúa tại tỉnh Thái Bình (1000 ha) 38

3.7 Sản lượng trồng lúa tỉnh Thái Bình giai đoạn 2009-2013 (1000 tấn) 40

3.10 Sản lượng trồng ngô tỉnh Thái Bình giai đoạn 2009-2013 (1000 tấn) 42 3.11 Một số thiệt hại về lúa do lũ lụt tại tỉnh Thái Bình 49 3.12 Ảnh hưởng của BĐKH đến sản xuất trồng trọt và các biện pháp ứng

3.14 Sự hiểu biết của người dân về các yếu tố thời tiết khí hậu tác động

3.15 Tác động của BĐKH đến vùng nông nghiệp điều tra 62 3.16 Thiệt hại trong sản xuất cây trồng chủ lực do tác động của các yếu

3.17 Một số biện pháp thích ứng của nông dân trong nông nghiệp do tác

3.18 Tác động của nhiệt độ đối với cây lúa theo các giai đoạn dựa trên kết

Trang 5

3.19 Tác động của các yếu tố khí hậu đối với cây ngô theo các giai đoạn

3.20 So sánh sự thay đổi năng suất lúa Xuân – tỉnh Thái Bình trong kịch

bản B2 BĐKH với năng suất năm tham chiếu (2013) 68 3.21 So sánh sự thay đổi năng suất lúa Mùa – tỉnh Thái Bình trong kịch

bản B2 BĐKH với năng suất năm tham chiếu (2013) 69 3.22 So sánh sự thay đổi năng suất ngô xuân – tỉnh Thái Bình trong kịch

bản BĐKH B2 với năng suất năm tham chiếu (2013) 70

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

1.1 Ảnh hưởng và phản ứng với biến đổi khí hậu (IPCC, 2007) 6 1.2 Diễn biến về sự thay đổi nhiệt độ toàn cầu giai đoạn 1800s-2000s 7 1.3.Diễn biến nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng và băng tan 1850-2000 8 1.4 Diễn biến thiệt hại do thiên tai trên thế giới 1960-2000 (Tỷ US$, 9

3.5 Số giờ nắng trung bình tháng tại tỉnh Thái Bình 30 3.6 Diễn biến năng suất lúa tỉnh Thái Bình (tạ/ha) 39 3.7 Diễn biến nhiệt độ tháng I và tháng VII ở tỉnh Thái Bình giai đoạn

3.8 Diễn biến tổng lượng mưa năm ở tỉnh Thái Bình giai đoạn 1960 – 2010 43 3.9 Các hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiện tại tỉnh Thái Bình 46

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ATNĐ Áp thấp nhiệt đới

BĐKH Biến đổi khí hậu

DSSAT Mô hình tính toán hỗ trợ ra quyết định trong

chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghịêp PTNT Phát triển nông thôn

NN & PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

MARD Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn MONRE Bộ Tài nguyên và Môi trường

IPCC Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu

TN&MT Tài nguyên và Môi trường

UNEP Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc KTTV Khí tượng thủy văn

WHO Tổ chức Y tế Thế giới

Trang 8

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Sản xuất nông nghiệp ở nước ta nói chung và sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Thái Bình nói riêng đang đứng trước nhiều thách thức do tác động của biến đổi khí hậu ( BĐKH) Những thay đổi bất thường về thời tiết và các hiện tượng thời tiết cực đoan đang tác động mạnh mẽ đến các hoạt động sản xuất nông nghiệp trong khi khả năng ứng phó của cộng đồng và người dân còn nhiều hạn chế

Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một nội dung mới, mặc dù trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về BĐKH nhưng ở Việt Nam thì mới chú trọng trong những năm gần đây Diễn biến của BĐKH ngày càng thể hiện phức tạp, nó tác động đến hầu hết các lĩnh vực trong sản xuất đời sống, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp Hiện nay các nghiên cứu đánh giá tác động ở Việt Nam đa phần trên quy mô vùng, toàn quốc Các số liệu hiện chủ yếu mang tính chất định hướng

Với bờ biển dài, địa hình phức tạp, đa dạng về điều kiện khí hậu, Việt Nam được đánh giá là một trong những nước chịu tác động nặng nề nhất do tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu (BĐKH) Trong đó, nông nghiệp sẽ là ngành chịu tác động nặng nề hơn bất cứ ngành nào khác bởi lẽ đối tượng sản xuất là cây trồng, vật nuôi rất nhạy cảm với điều kiện thời tiết, khí hậu

Thái Bình là tỉnh sản xuất nông nghiệp trọng điểm của vùng ĐBSH, trong

đó Lúa và Ngô là 2 cây lương thực có hạt chính và được trồng trên tất cả các loại đất dùng cho mục đích sản xuất nông nghiệp của tỉnh Theo số liệu thống kê của tỉnh Thái Bình, trong những năm gần đây diện tích lúa có xu hướng giảm dần (diện tích Lúa 2 vụ trong toàn tỉnh năm 2009 là 167.100 ha đã giảm xuống còn 161.800ha năm 2013) Ngược lại với Lúa, diện tích Ngô trên địa bàn tỉnh lại có

xu hướng tăng dần (diện tích Ngô tăng từ 8.500 ha năm 2009 lên 9.300 ha năm 2013) Diện tích đất lúa giảm chủ yếu do 2 nguyên nhân chính là: (i) phát triển

đô thị và sản xuất công nghiệp; (ii) do nguyên nhân tác động của BĐKH như xói mòn, sạt lở đất tại các vùng bãi bồi ven các con sông, xâm lấn mặn ở các vùng

Trang 9

sản xuất lúa tại các huyện ven biển Theo quy hoạch tổng thể phát triển bền vững kinh tế xã hội tỉnh Thái Bình đến năm 2020 tầm nhìn 2030 thì nông nghiệp vẫn là ngành giữ vai trò then chốt trong chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang diễn ra hết sức phức tạp trên toàn thế giới, Thái Bình đã và đang bị tác động mạnh bởi biến đổi khí hậu và nước biển dâng Thực tế những năm qua, trên địa bàn tỉnh Thái Bình do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu nên các hiện tượng thời tiết như: bão, lụt, áp thấp nhiệt đới xảy

ra thất thường đã trực tiếp ảnh hưởng, gây thiệt hại nghiêm trọng đến nhiều ngành sản xuất và đời sống của người dân Những cơn bão với cường độ ngày càng mạnh đã tàn phá nhiều cánh rừng ngập mặn cũng như rừng phòng hộ, làm suy thoái hệ sinh thái ven biển, ảnh hưởng lớn tới kinh tế thủy hải sản của địa phương Năm 2012 cơn bão số 8 đổ bộ trực tiếp vào Thái Bình đã gây thiệt hại lớn về người và tài sản, trong đó thiệt hại nặng nề nhất là ngành nông nghiệp với 6.000 ha lúa mùa đã chín bị đổ, ngập sâu trong nước, gần 30.000 ha hoa màu, cây

vụ đông bị hư hỏng nặng, hàng vạn cây lấy gỗ, cây ăn quả bị đổ Các đợt rét đậm, rét hại bất thường kéo dài vào cuối năm 2011 và đầu năm 2012 tại Thái Bình cho thấy sự gia tăng của thiên tai và các hiện tượng cực đoan của khí hậu, thời tiết làm ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp Sâu bệnh phát sinh trên diện rộng, dịch bệnh gia súc, gia cầm bùng phát ở nhiều nơi gây tâm lý lo ngại, người nông dân không yên tâm đầu tư phát triển sản xuất, cây trồng sinh trưởng chậm, ảnh hưởng thời vụ Nắng nóng kéo dài do tác động của biến đổi khí hậu trong những năm gần đây, dẫn đến nước biển xâm nhập sâu vào đất liền làm cho đất canh tác tại các địa phương ven biển trong tỉnh bị mặn hóa

Hiện nay, nghiên cứu cụ thể về tác động của biến đổi khí hậu ở tỉnh Thái Bình còn rất ít, chưa có những nghiên cứu cụ thể về tác động của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt của tỉnh Thái Bình nói riêng

Từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá

Trang 10

- Bước đầu xác định được một số tác động và mức độ thiệt hại do hậu quả của biến đổi khí hậu, thiên tai, thời tiết đến sản xuất một số cây trồng chủ lực (lúa, ngô)

- Góp phần cung cấp cơ sở khoa học đề xuất các giải pháp giảm thiệt hại

do tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất các cây trồng chủ lực (lúa, ngô) của Thái Bình

Yêu cầu của đề tài

- Nêu được đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội liên quan đến hiện trạng sản xuất cây trồng chủ lực chính của tỉnh Thái Bình

- Nêu được tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất các cây trồng chủ lực nói chung và cây trồng (lúa, ngô)

- Tập hợp được các kinh nghiệm của cán bộ địa phương và nông dân về các ứng phó bất thuận của thời tiết, khí hậu đến sản xuất các cây trồng (lúa, ngô)

- Dự báo năng suất, sản lượng của các cây trồng lúa, ngô theo kịch bản biến đổi khí hậu B2 ( kịch bản trung bình, MONRE 2011)

- Đề xuất các giải pháp đảm bảo sản xuất các loại cây trồng chủ lực (lúa, ngô) tại tỉnh Thái Bình ứng phó với BĐKH

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

BĐKH là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên

và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định từ tính bằng thập kỷ hay hàng triệu năm Sự biển đổi có thế là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình Sự biến đổi khí hậu có thể giới hạn trong một vùng nhất định hay có thế xuất hiện trên toàn địa cầu Trong những năm gần đây, đặc biệt trong ngữ cảnh chính sách môi trường, biến đổi khí hậu thường đề cập tới sự thay đổi khí hậu hiện nay, được gọi chung bằng hiện tượng nóng lên toàn cầu Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái Đất là do

sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ

sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác

Biến đổi khí hậu diễn ra trên phạm vi toàn cầu, tác động đến tất cả các châu lục, ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực của sự sống (động vật thực vật, đa dạng sinh học, cảnh quan, môi trường sống …) với cường độ ngày một tăng và hậu quả ngày càng nặng nề khó lường trước

1.1 Đánh giá diễn biến của biến đổi khí hậu trên thế giới:

Nghiên cứu dự báo của IPCC, WB và nhiều tổ chức khác cho thấy rằng biến đổi khí hậu (BĐKH) có thể gây ra những thảm họa toàn cầu về thiên nhiên - môi trường, đe dọa mạng sống hàng triệu người, làm bùng nổ các làn sóng di cư, thậm chí đe dọa sự tồn tại của nhiều quốc gia ở vị trí thấp so với mực nước biển

Có dự báo cho rằng, đến năm 2050, khoảng 150 triệu người có thể phải rời khỏi những khu vực duyên hải do nước biển dâng, bão lụt hoặc nước ngọt bị nhiễm mặn Nếu những điều này xảy ra, cơ cấu địa - chính trị cũng như không gian chiến lược ở một số khu vực trên thế giới có thể có sự thay đổi lớn; sự bố trí quốc phòng - an ninh cũng có thể có những sự xáo trộn không nhỏ

Trang 12

thống khác đang nóng bỏng hiện nay như an ninh lương thực, an ninh năng lượng, khoảng cách giàu-nghèo , từ đó làm gia tăng nguy cơ bất ổn định, xung đột, khủng bố, làm sâu sắc thêm các mâu thuẫn chính trị-xã hội ở nhiều nơi trên thế giới Dự báo đến năm 2025, khoảng 5 tỷ người có thể sẽ sống trong những khu vực có nguy cơ căng thẳng, xung đột liên quan đến sự khan hiếm nước và lương thực Cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước về chi phối, kiểm soát các nguồn tài nguyên thiết yếu của thế giới có chiều hướng gay gắt hơn có thể dẫn tới đối đầu về quân sự liên quan đến việc phân bố lại các nguồn lực của thế giới Trước những diễn biến và ảnh hưởng tiêu cực mang tính toàn cầu của biến đổi khí hậu, các nước trên thế giới đã có nhiều động thái tích cực nhằm ngăn chặn những hiểm họa khôn lường mà biến đổi khí hậu có thể gây ra cho loài người Năm 1979, Hội nghị Khí hậu quốc tế lần thứ nhất đã ra tuyên bố kêu gọi chính phủ các nước nhận thức về mức độ nghiêm trọng và tiến hành các hành động nhằm giảm thiểu các tác động làm biến đổi khí hậu do con người gây ra Một loạt các hội nghị liên chính phủ thảo luận về vấn đề biến đổi khí hậu đã được tổ chức từ những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 như: Hội nghị Villach (10/1985), Hội nghị Toronto (6/1988), Hội nghị Ottawa (2/1989), Hội nghị Tata (2/1989), Hội nghị và tuyên bố Hague (3/1989), Hội nghị bộ trưởng Noordwijk (11/1989), Hội nghị Cairo (12/1989), Hội nghị Bergen (5/1990), và Hội nghị Khí hậu thế giới lần thứ 2 (11/1990)

Cùng với các bằng chứng khoa học được đưa ra ngày càng nhiều, các hội nghị liên quan đến biến đổi khí hậu và các tác động của nó ngày càng nhận được

sự quan tâm của các nhà khoa học cũng như cộng đồng quốc tế Năm 1988, Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) được UNEP và WHO thành lập IPCC có nhiệm vụ đánh giá một cách tổng hợp, khách quan, minh bạch các thông tin khoa học – kỹ thuật và kinh tế - xã hội liên quan đến các rủi ro xuất phát từ hiện tượng biến đổi khí hậu do các hoạt động của con người gây ra

Biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng nhanh và nhanh hơn dự đoán của con người Biến đổi khí hậu diễn ra theo một chu trình mà ở đó khí hậu chịu tác động mạnh mẽ bởi các hoạt động của trái đất, mối quan hệ giữa trái đất với hệ vũ trụ và đặc biệt là tác động do các hoạt động của con người Khi dân số và nhu

Trang 13

thác nguồn tài nguyên thiên nhiên để sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa Hậu quả là làm tăng phát thải chất thải và khí nhà kính Quá trình này làm cho sự biến đổi khí hậu theo hướng bất lợi cho sản xuất, tài nguyên và con người ngày càng gia tăng (IPCC, 2007)

Trong 200 năm qua nồng độ khí CO2 trong khí quyển đã tăng thêm một phần

ba so với thời kỳ tiền công nghiệp, vào khoảng 372 ppm Nồng độ các khí gây hiệu ứng nhà kính khác cũng tăng do hoạt động của con người, cách đây 200 năm nồng độ khí CH4 là 800 ppb, còn bây giờ là 1.750 ppb NOx cũng tăng lên từ 270 ppb lên 310ppb Các khí gây hiệu ứng nhà kính trong đó có khí CO2 là nguyên nhân chính gây nên hiện tượng nóng lên toàn cầu (IPCC, 2007)

HOẠT ĐỘNG TRÁI ĐẤT, CON NGƯỜI

Tác động và tồn thương

Hệ sinh thái Nguồn nước

An ninh lương thực Định cư và trật tự xã hội Sức khỏe cộng đồng

Điều khiển khí hậu

- Hoạt động văn hóa xã hội

Biến đổi khí hậu

Nhiệt độ thay đổi Lượng mưa thay đổi Nước biển dâng

Trang 14

- Về nhiệt độ:

Theo các kết quả đánh giá của IPCC trong các báo cáo kỹ thuật 3 và 4 cho thấy nhiệt độ trái đất tăng mạnh ở hầu hết các khu vực trên thế giới Theo ước tính nhiệt độ toàn cầu tăng 0.740C trong giai đoạn 1906-2005; 1.280C giai đoạn 1956-

2005 và được dự báo quá trính này còn tăng mạnh hơn nữa trong các thập niên tiếp theo Tuy nhiên, điều đáng chú ý là nhiệt độ lại tăng mạnh vào mùa nóng và giảm mạnh vào mùa đông là cho khí hậu toàn cầu ngày càng trở nên khắc nghiệt hơn đặc biệt đối với các vùng khó khăn, dễ bị tổn thương trên thế giới Như vậy, chắc chắn những vùng dễ bị tổn thương và khắc nghiệt, biến đổi khí hậu sẽ diễn ra nghiêm trọng và gây thiệt hại ngày trầm trọng hơn

Hình 1.2 Diễn biến về sự thay đổi nhiệt độ toàn cầu giai đoạn 1800s-2000s

Nguồn: Báo cáo kỹ thuật của IPCC, 2007

Kết quả so sánh sự khác biệt về nhiệt độ trong thời gian dài từ thế kỷ 19 (1800) đến thế kỷ 21 (2008) cho thấy nhiệt độ toàn cầu bắt đầu có sự tăng lên từ những năm 1960 Giai đoạn này cũng là giai đoạn bắt đầu bùng nổ về sản xuất công nghiệp, tài nguyên thiên nhiên bị khai tác tối đa phục vụ cho sản xuất các

Trang 15

khí hậu có liên quan mật thiết và nguyên nhân chính là do hoạt động sản xuất của con người Con người khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên để sản xuất sản phẩm, từ đó phát thải ra quá nhiểu chất thải, làm thay đổi và phá vỡ bầu khí quyển dẫn đến thay đổi về khí hậu, đặc biệt là sự ấm lên của trái đất

- Băng tan và nước biển dâng:

Nhiệt độ toàn cầu tăng lên làm cho băng ở vùng Bắc Cực tan nhanh Kết quả nghiên cứu IPCC cho thấy lượng băng che phủ Bắc cực giảm mạnh, trung bình trên 2,7%/thập kỷ Nhiều vùng trước đây được che phủ bằng lớp băng dầy, nay

đã bị tan rã và trở nên trơ trọi Nhiều tảng băng lớn, thậm chí tương đương với diện tích nước Bỉ đang trôi trên đại dương và đang hướng về nước Úc (IPCC, 2007) Băng tại Bắc Cực – khu vực tích trữ nguồn nước lớn nhất cả nước bị tan

rã làm cho mực nước biển dâng cao Kết quả thống kê của IPCC và các cơ quan nghiên cứu của Mỹ, Úc cho thấy nước biển toàn cầu dâng trung bình 1.8mm/năm giai đoạn 1961-2003 và 3,1 mm/năm giai đoạn 1993-2003 Nước biển toàn cầu

đã dâng 0,31 m trong một thế kỷ gần đây IPCC và các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam đều dự báo rằng mực nước biển tiếp tục tăng trong những thập kỷ tiếp theo và có thể đạt 100cm vào năm 2100

Trang 16

- Thiên tai và các sự cố thời tiết bất thường:

Có thể nói rằng tính bất thường và mức độ thiên tai ngày càng trở nên trầm trọng hơn trên khắp thế giới nhất là những giai đoạn gần đây

Hình 1.4 Diễn biến thiệt hại do thiên tai trên thế giới 1960-2000 (Tỷ US$,

GREEN, 2004)

Do tác động biến đổi khí hậu, thời tiết ngày càng diễn biến bất thường, thiên tai có xu hướng ngày càng gia tăng Kết quả thống kê của GREEN, 2004 cho thấy thiệt hại do thiên tai tăng mạnh và ngày càng trở nên trầm trọng hơn Hơn nữa, các thiệt hại gián tiếp cao hơn nhiều so với rủi ro trực tiếp và thể hiện

hệ lụy tất yếu của điều kiện thời tiết khí hậu bất thường

1.2 Biến đổi khí hậu ở Việt Nam và ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp

1.2.1 Diễn biến biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Ở Việt Nam trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,50C trên phạm vi cả nước và lượng mưa có xu hướng giảm ở phía Bắc, tăng ở phía Nam lãnh thổ Nhiệt độ tháng I (tháng đặc trưng cho mùa đông), nhiệt độ tháng VII (tháng đặc trưng cho mùa hè) và nhiệt độ trung bình năm tăng trên phạm vi cả nước trong 50 năm qua Nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn so với mùa hè và nhiệt

độ vùng sâu trong đất liền tăng nhanh hơn nhiệt độ vùng ven biển và hải đảo Vào mùa đông, nhiệt độ tăng nhanh hơn cả là ở Tây Bắc Bộ, Đông Bắc

Bộ, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ (khoảng từ 1,3 tới 1,50C trong 50 năm)

Trang 17

với các vùng khí hậu phía Bắc (khoảng từ 0,6 tới 0,90C trong 50 năm) Tính trung bình cho cả nước, nhiệt độ mùa đông ở nước ta đã tăng lên 1,20 C trong 50 năm qua Nhiệt độ tháng VII tăng khoảng từ 0,3 đến 0,50C trong 50 năm qua trên tất cả các vùng khí hậu của nước ta Nhiệt độ trung bình năm tăng từ 0,5 đến 0,60

C trong 50 năm ở Tây Bắc, Đông Bắc Bộ, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ còn mức tăng nhiệt độ trung bình năm ở Nam Trung Bộ thấp hơn, chỉ vào khoảng 0,30C trong 50 năm

Xu thế chung của nhiệt độ là tăng ở hầu hết các khu vực trên cả nước, tuy nhiên có những khu vực nhỏ thuộc vùng ven biển Trung Bộ và Nam Bộ như các tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi, Tiền Giang có xu hướng giảm của nhiệt độ Đáng lưu

ý là ở những nơi này, lượng mưa tăng trong cả hai mùa: mùa khô và mùa mưa

Mức thay đổi nhiệt độ cực đại trên toàn Việt Nam nhìn chung dao động trong khoảng từ -30 C đến 30C Mức thay đổi nhiệt độ cực tiểu chủ yếu dao động trong khoảng từ -50 C đến 50C Xu thế chung của nhiệt độ cực đại và cực tiểu là tăng, tốc độ tăng của nhiệt độ cực tiểu nhanh hơn so với nhiệt độ cực đại, phù

hợp với xu thế chung của biến đổi khí hậu toàn cầu

Lượng mưa mùa khô (tháng XI-IV) tăng ít hoặc không thay đổi đáng kể

ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng mạnh mẽ ở các vùng khí hậu phía Nam trong 50 năm qua Lượng mưa mùa mưa (tháng V-X) giảm từ 5 đến hơn 10% trên đa phần diện tích phía Bắc nước ta và tăng khoảng từ 5 đến 20% ở các vùng khí hậu phía Nam trong 50 năm qua Xu thế diễn biến của lượng mưa năm tương

tự như lượng mưa mùa mưa, tăng ở các vùng khí hậu phía Nam và giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc Khu vực Nam Trung Bộ có lượng mưa mùa khô, mùa mưa và lượng mưa năm tăng mạnh nhất so với các vùng khác ở nước ta, nhiều nơi đến 20% trong 50 năm qua

Lượng mưa ngày cực đại tăng lên ở hầu hết các vùng khí hậu, nhất là trong những năm gần đây Số ngày mưa lớn cũng có xu thế tăng lên tương ứng, nhiều biến

Trang 18

Bảng 1.1 Mức tăng nhiệt độ và mức thay đổi lượng mưa trong 50 năm qua

ở các vùng khí hậu của Việt Nam

IV

Tháng V – Tháng X Năm

Về xoáy thuận nhiệt đới, trung bình hàng năm có khoảng 12 cơn bão và áp thấp nhiệt đới hoạt động trên Biển Đông, trong đó khoảng 45% số cơn nảy sinh ngay trên Biển Đông và 55% số cơn từ Thái Bình Dương di chuyển vào Số cơn bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Việt Nam vào khoảng 7 cơn mỗi năm và trong đó có 5 cơn đổ bộ hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền nước ta Nơi có tần suất hoạt động của bão, áp thấp nhiệt đới lớn nhất nằm ở phần giữa của khu vực Bắc Biển Đông, trung bình mỗi năm có khoảng 3 cơn đi qua ô lưới 2,5 x 2,5 độ kinh vĩ Khu vực bờ biển miền Trung từ 16 đến 180 N và khu vực bờ biển Bắc Bộ

từ 200 N trở lên có tần suất hoạt động của bão, áp thấp nhiệt đới cao nhất trong cả dải ven biển nước ta, cứ khoảng 2 năm lại có 1 cơn bão, áp thấp nhiệt đới đi vào khu vực 1 vĩ độ bờ biển

Số lượng xoáy thuận nhiệt đới hoạt động trên khu vực Biển Đông có xu

Trang 19

Nam không có xu hướng biến đổi rõ ràng Khu vực đổ bộ của các cơn bão và áp thấp nhiệt đới vào Việt Nam có xu hướng lùi dần về phía Nam lãnh thổ nước ta;

số lượng các cơn bão rất mạnh có xu hướng gia tăng; mùa bão có dấu hiệu kết thúc muộn hơn trong thời gian gần đây Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của bão đến nước ta có xu hướng mạnh lên

Hạn hán, bao gồm hạn tháng và hạn mùa có xu thế tăng lên nhưng với mức độ không đồng đều giữa các vùng và giữa các trạm trong từng vùng khí hậu Hiện tượng nắng nóng có dấu hiệu gia tăng rõ rệt ở nhiều vùng trong cả nước, đặc biệt là ở Trung Bộ và Nam Bộ

* Phát thải khí nhà kính

Biến đổi khí hậu phụ thuộc chủ yếu vào mức độ phát thải khí nhà kính, tức là phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, các kịch bản biến đổi khí hậu được xây dựng dựa trên các kịch bản phát triển kinh tế - xã hội toàn cầu Các kịch bản phát thải khí nhà kính được xây dựng dựa trên các cơ sở: (1) Sự phát triển kinh tế ở quy mô toàn cầu; (2) Dân số thế giới và mức độ tiêu dùng; (3) Chuẩn mực cuộc sống và lối sống; (4) Tiêu thụ năng lượng và tài nguyên năng lượng; (5) Chuyển giao công nghệ; (6) Thay đổi sử dụng đất

* Kịch bản nước biển dâng

Theo kịch bản phát thải trung bình (B2): Vào cuối thế kỷ 21, mực nước biển dâng cao nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 62 đến 82cm; thấp nhất ở khu vực Móng Cái trong khoảng từ 49 đến 64cm Trung bình toàn Việt Nam, mực nước biển dâng trong khoảng từ 57 đến 73cm (Bảng 1.2)

Trang 20

Bảng 1.2 Mực nước biển dâng theo kịch bản phát thải trung bình (cm)

Khu vực Các mốc thời gian của thế kỷ 21

2020 2030 2040 2050 2060 2070 2080 2090 2100 Móng Cái –

Đèo Hải Vân 8-9

1.2.2 Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến nông nghiệp ở Việt Nam

Nông nghiệp Việt Nam là một trong số ít các nước sẽ chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu (BĐKH) và nước biển dâng Theo tính toán của các chuyên gia nghiên cứu BĐKH, đến năm 2100, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng lên 300C và mực nước biển có thể dâng 1m Theo đó, khoảng 40 nghìn km2 đồng bằng ven biển Việt Nam sẽ bị ngập Theo dự đoán của Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP), các tác động trên sẽ gây thiệt hại rất lớn về kinh tế và khiến khoảng 17 triệu người không có nhà Theo nghiên cứu của ngân hàng thế giới (WB), Nước ta với bờ biến dài và hai vùng đồng bằng lớn, khi mực nước biển dâng cao từ 0,2 - 0,6m sẽ có từ 100.000 đến 200.000ha

Trang 21

lên 1m sẽ làm ngập khoảng 0,3 - 0,5 triệu ha tại Đồng bằng sông Hồng và những năm lũ lớn khoảng 90% diện tích của Đồng bằng sông Cửu Long bị ngập từ 4 - 5 tháng, vào mùa khô khoảng trên 70% diện tích bị xâm nhập mặn với nồng độ lớn hơn 4g/l Ước tính Việt Nam sẽ mất đi khoảng 2 triệu ha đất trồng lúa trong tổng

số 4 triệu ha hiện nay, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực Quốc gia và ảnh hưởng đến hàng chục triệu người dân Biến đổi khí hậu làm thay đổi điều kiện sinh sống của các loài sinh vật, dẫn đến tình trạng biến mất của một số loài và ngược lại làm xuất hiện nguy cơ gia tăng các loài “thiên địch” Trong thời gian 2 năm trở lại đây, dịch rầy nâu, vàng lùn, lùn xoắn lá ở Đồng bằng sông Cửu Long diễn ra ngày càng phức tạp ảnh hưởng đến khả năng thâm canh tăng vụ và làm giảm sản lượng lúa ở miền Bắc trong vụ Đông Xuân vừa qua sâu quấn lá nhỏ cũng đã phát sinh thành dịch, thời cao điểm diện tích lúa bị hại đã lên đến 400.000ha, gây thiệt hại đáng kể đến năng suất và làm tăng chi phí sản xuất Biến đổi khí hậu có thể tác động đến thời vụ, làm thay đổi cấu trúc mùa, quy hoạch vùng, kỹ thuật tưới tiêu, sâu bệnh, năng suất, sản lượng; làm suy thoái tài nguyên đất, đa dạng sinh học bị đe dọa, suy giảm về số lượng và chất lượng do ngập nước

và do khô hạn, tăng thêm nguy cơ diệt củng của động vật, làm biến mất các nguồn gen quý hiếm Một số loài nuôi có thể bị tác động làm giảm sức đề kháng do biên

độ dao động của nhiệt độ, độ ẩm và các yếu tố ngoại cảnh khác tăng lên Sự thay đổi các yếu tố khí hậu và thời tiết có thể làm nảy sinh một số bệnh mới đối với chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy cầm và phát triển thành dịch hay đại dịch

Biến đổi khí hậu là vấn đề rất lớn đối với Việt Nam, nhiều tổ chức quốc tế

và các tổ chức nghiên cứu trong nước đều nhận định, nước ta là một trong số ít các nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu Trong đó, ngành nông nghiệp và PTNT và bà con nông dân là những đối tượng bị ảnh hưởng sớm nhất

và nặng nề nhất Vì vậy, việc nghiên cứu và thực hiện các biện pháp để thích ứng

và đối phó có hiệu quả hơn với biến đổi khí hậu là nhiệm vụ quan trọng của cơ

Trang 22

1.2.3 Một số nghiên cứu trong thời gian gần đây về tác động của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp

Về nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trong lĩnh vực trồng trọt nói riêng đã có một số nghiên cứu như: Điều tra, đánh giá tác động, xác định các giải pháp ứng phó và triển khai các kế hoạch hành động trong lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản (Phạm Quang Hà, 2012) Theo đó các tác giả đã xây dựng được bộ chỉ số đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp và thủy sản cho 7 vùng sinh thái của Việt Nam Đánh giá được tính tổn thương của khí hậu đến sản xuất nông nghiệp của các vùng và hướng dẫn đề xuất các kế hoạch hành động ứng phó của biến đổi cấp tỉnh lấy Nam Định làm ví dụ

Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu cấp vùng đối với cây trồng lúa, ngô, mía, đỗ tương cũng đã bắt đầu được thực hiện tại vùng đồng bằng Sông Hồng và Đồng Bằng sông Cửu Long (Phạm Quang Hà và nnk, 2014) Tùy theo tính chất cây trồng, mô hình sử dụng và kịch bản biến đổi khí hậu cho giai đoạn 2020, 2030, 2050, 2100 các kết quả cụ thể có khác nhau, nhưng nhìn chung

kể cả năng suất tiềm năng và năng suất theo canh tác hiện hành của các cây trồng

đã nghiên cứu nhìn chung có xu hướng giảm Có những vụ, năng suất lúa có thể giảm trên 15% do biến đổi khí hậu Theo kịch bản NBD 1m, sản lượng lúa nước

có nguy cơ bị suy giảm lên đến 7,1 triệu tấn chỉ tính riêng ở các tỉnh vùng ĐBSCL; Chỉ tính riêng 1 vụ, mức thiệt hại là trên 3 triệu tấn lúa và ước tính thiệt hại là 17 nghìn tỷ đồng ( giá lúa 2012)

Về kết quả nghiên cứu mô hình hóa, mô phỏng: Mô hình hiệu chỉnh cho thấy các mô hình mô phỏng ở ĐBSH có sự khác biệt thấp so với kết quả theo dõi, quan trắc từ thí nghiệm; nhưng các mô hình mô phỏng ở ĐBSCL có sự khác biệt lớn so với kết quả quan trắc từ thí nghiệm và cần có các đánh giá chi tiết và thời gian dài hơn Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, đối với cây ngô: mức độ tổn thương trong sản xuất ngô ở cả 2 vùng đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH) và Đồng bằng Sông Cửu Long nằm ở mức 1 đến mức 3 và sản xuất ngô vùng

Trang 23

ngô ở vùng ĐBSH: 0,4; giao động từ 0,3-0,6; vùng ĐBSCL: 0,3; dao động từ 0,18-0,41); - Đối với cây đậu tương sự suy giảm diện tích trồng đậu tương trong những năm vừa qua là do các yếu tố cạnh tranh khác, không phải do biến đổi khí hậu Mức độ tổn thương trong sản xuất đậu tương ở cả 2 vùng nằm ở mức 1 đến mức 3 Chỉ số tổn thương đối với cây đậu tương ở vùng ĐBSH: 0,3; giao động từ 0,2-0,5; vùng ĐBSCL: 0,3; giao động từ 0,17-0,55

đổi khí hậu

Có nhiều quan điểm lượng hóa và đánh giá tác động của biến đổi khí hậu, tuy nhiên các chuyên gia cũng đi tới được một thống nhất, để lượng hóa và đánh giá các tác động từ biến đổi khí hậu nên đánh giá các tổn thất từ các nhóm giá trị chịu tổn hại Tổng hợp của Trần Văn Thể và CS ( 2009) cho thấy các quan điểm đánh giá tác động của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp tập trung chủ yếu vào:

- Đánh giá tác động của BĐKH dựa trên các tổn thất giá trị vật chất như thiệt

hại về cơ sở hạ tầng sản xuất nông nghiệp, hệ thống công trình thủy lợi, mùa màng

- Đánh giá tác động của BĐKH dựa vào các tổn thất giá trị hoạt động như

các tổn thất đối với các hoạt động bị ngưng trệ do tai biến gây ra như khả năng phục hồi khả năng sinh học của cây trồng, làm sạch các thành phần môi trường

do thiên tai dưới tác động của biến đổi khí hậu;

- Đánh giá tác động của BĐKH dựa vào những tổn thất giá trị môi sinh làm

thay đổi cơ chế hấp thụ, sinh trưởng phát triển của cây trồng, vật nuôi, điều hòa khí hậu gây dịch chuyển cơ cấu mùa vụ, suy giảm giá trị sinh thái và đa dạng sinh học

- Ngoài ra, đánh giá tác động của BĐKH còn dựa trên tổn thất giá trị lưu

truyền và giá trị tồn tại: Tổn thất những giá trị tiềm năng chưa sử dụng ở hiện

tại; những giá trị có ý nghĩa như văn hoá, thẩm mỹ, di sản cho đời sau.(Bùi Đại

Dũng, 2010)

Dựa trên các quan điểm về tổn thất do tác động của biến đổi khí hậu, có

Trang 24

- Phương pháp giá thị trường (Makert Price Method): là phương pháp xác

định giá trị của hệ sinh thái thông qua các sản phẩm, dịch vụ của hệ sinh thái được trao đổi, mua bán trên thị trường, tổn thất do sự cố môi trường có thể được xác định bằng sự thay đổi về số lượng và chất lượng của hàng hoá, dịch vụ với tư cách là hệ quả của sự cố được Hackett (1960), Freeman A M (1993) sử dụng rộng rãi trong đánh giá tác động của môi trường và biến đổi khí hậu đến các đối tượng bị ảnh hưởng

- Phương pháp thay đổi năng suất (Productivity Change Method) được sử

dụng để đánh giá sự thay đổi về năng suất cây trồng do các tác động trực tiếp, gián tiếp của BĐKH đến cây trồng, vật nuôi Phương pháp này có thể sử dụng để tính toán tổn thất trực tiếp do thiên tai đến các cây trồng hoặc thông qua các mô hình hóa để tính toán thay đổi về năng suất, sản lượng và hiệu quả kinh tế trong tương lai (Barbier E.ZB., 1994; Dixon J.A an et al, 1996 và EEPSEA 2008)

- Phương pháp chi phí sức khoẻ (Cost of Illness) do tác động của biến đổi

khí hậu nhưng phương pháp này không được sử dụng phổ biến khi đánh giá tác động của biến đỏi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp do nông nghiệp mang tinh chất thời vụ, những tồn thất về y tế do thiên tai nhưng không đúng thời vụ gieo trồng sẽ không được tính là tác động do biến đổi khí hậu (Mirasgedis and V Hontou and et al, 2008)

- Phương pháp chi phí thay thế (Replacement Cost Method) cũng được sử

dụng để đánh giá tác tác động trực tiếp do hậu quả của biến đổi khí hậu như thiên tai, phá hỏng các công trình, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp (Bolt K.G 2006)

- Phương pháp chi phí thiệt hại tránh được (Damage Cost Avoided

con người Chức năng bảo vệ này có giá trị tương đương với những gì có thể mất

đi nếu không được nó bảo vệ Phương pháp chi phí thiệt hại tránh được sử dụng các giá trị của tài sản được bảo vệ hoặc những chi phí cho các hoạt động nhằm tránh những thiệt hại đó, để đo lường lợi ích của hệ sinh thái (EPA, 2005)

Trang 25

- Phương pháp mô hình chọn lựa (Choice Modelling Method): Phương

pháp mô hình chọn lựa (CM) căn cứ vào sự ưa thích được thể hiện (stated preference) của cá nhân thông qua phỏng vấn Phương pháp này bắt nguồn từ phân tích kết hợp, người được hỏi sẽ đứng trước nhiều tập hợp lựa chọn Từ mỗi tập hợp lựa chọn, người được hỏi sẽ chọn ra phương án mà họ ưa thích Bằng cách đặt cho mỗi thuộc tính một mức giá hoặc mức chi phí thì các ước lượng về lợi ích biên sẽ được chuyển thành các ước lượng về tiền tệ đối với mỗi sự thay đổi các mức độ của thuộc tính

- Phương pháp tính toán mức độ tổn thương do biến đổi khí hậu cũng được nhiều nghiên cứu sử dụng Các nhóm yếu tố như thay đổi các chỉ số về thời tiết (Expose parameter); khả năng nhạy cảm (sensitivity) và khả năng thích ứng (Adaptive capacity) được sử dụng để tính toán mức độ tổn thương của các đối tượng cây trồng do tác động của biến đổi khí hậu để xây dựng các biện pháp ứng phó giảm tổn thương, tiến tới phát triển sản xuất cây trồng chủ lực bền vững và hiệu quả (Aried Anshory Yusuf and Herminia Fransisco, 2009; Ranganathan C R., et al 2009)

- Trong thực tế các nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp đều dựa vào phân tích diễn biến khí hậu trong quá khứ qua các dãy số liệu khí tượng nhiều thập kỷ (vài chục năm); điều tra tác động của biến đổi khí hậu theo nhận thức và kinh nghiệm của nông dân, mùa màng Đánh giá thiệt hại theo thông kê các mất mát do thiên tai, lụt lội, hạn hạn và các bất thuận của thời tiết Theo dõi các diễn biến trong sản xuất và các thiệt hại Ngoài

ra công cụ mô phỏng mô hình hóa ví dụ như DSSAT (2003) cũng rất được áp dụng ( Phạm Quang Hà và nnk, 2013,2014) để đánh giá các tác động của sự thay đổi khí hậu theo các kịch bản thông thường được các quốc gia công bố Việt Nam, dùng kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam do Bộ tài nguyên môi trường công bố (MONRE, 2009, 2011)

Trang 26

1.4 Một số chương trình, chính sách của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ứng phó với biến đổi khí hậu

Các kế hoạch chung hành động nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu trong nông nghiệp và phát triển nông thôn nói chung cũng như của sản xuất trồng trọt nói riêng đã được Bộ trưởng bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn hay phê duyệt (Quyết định số 543/QĐ-BNN-KHCN ngày 23 tháng 3 năm 2011: Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của ngành nông nghiệp và PTNT giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2050) Trước đó, khung chương trình hành động thích ứng với biến đổi khí hậu của ngành nông nghịêp và PTNT giai đoạn 2008-2020 (Quyết định số 2730/QĐ-BNN-KHCN ngày 05 tháng 9 năm

2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghịêp và PTNT) đã đáp ứng kịp thời các đòi hỏi

về các yêu cầu chung, lâu dài và các mục tiêu cụ thể, trước mắt cần thực hiện liên quan đến BĐKH của ngành nông nghiệp và PTNT

Bên cạnh đó còn có các chiến lược phát triển của ngành nông nghiệp (3310/BNN-KH ngày 12/10/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn).

Ngoài ra, có 8 chương trình nghiên cứu và qui hoạch từ nay đến năm 2020

đề ra để đạt mục tiêu tổng quát và cụ thể của khung chương trình hành động của

Bộ Nông nghiệp và PTNT

• Chương trình nghiên cứu và quy hoạch giải pháp đảm bảo dân cư vùng đồng bằng sông Cửu Long, Miền trung, đồng bằng Bắc bộ, Miền núi phía bắc sống ổn định, an toàn trong điều kiện nhiệt độ tăng và nước biển dâng;

• Chương trình nghiên cứu và quy hoạch giải pháp đảm bảo diện tích lúa hai vụ là 3,8 triệu ha nhằm đảm bảo an ninh lương thực quốc gia;

• Chương trình nghiên cứu và quy hoạch tổng thể thuỷ lợi đồng bằng sông Cửu Long trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng

• Chương trình nghiên cứu và quy hoạch phòng, chống lũ cho hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình, đồng bằng sông Cửu Long, các sông thuộc khu vực miền Trung từ Thanh Hoá đến Khánh Hoà, khu vực Nam Trung bộ và Đông Nam Bộ thích ứng với biến đổi khí hậu;

Trang 27

• Chương trình nghiên cứu và quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng phòng

hộ đê biển và ven biển;

• Chương trình nghiên cứu và quy hoạch hệ thống hạ tầng cơ sở đồng muối, phòng chống giảm nhẹ thiên tai v.v… theo hướng tăng cường thích ứng với BĐKH, trong đó đặc biệt chú trọng đến vấn đề nhiệt độ tăng và nước biển dâng;

• Chương trình nghiên cứu và quy hoạch các vùng sản xuất cây lương thực, cây công nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu;

• Chương trình nghiên cứu và quy hoạch các vùng nuôi trồng thuỷ, hải sản thích ứng với biến đổi khí hậu

Đây là 8 chuơng trình nghiên cứu và qui hoạch có tính trọng điểm, nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chiến lược phát triển lâu dài của ngành nông nghịêp và PTNT cũng như có cơ sở khoa học để có những quyết định và hành động phù hợp nhằm đạt được các mục tiêu của khung chương trình hành động thích ứng và giảm thiểu các tác động của BĐKH

Các chương trình này đều phải gắn liền với các chương trình phát triển kinh tế xã hội của ngành giai đoạn 2011-2020 cho nên chắc chắn phải lồng ghép

và coi biến đổi khí hậu (nhiệt độ tăng và nước biển dâng) là những ràng buộc hiện hữu để có những quyết sách đúng đắn

Tiếp theo đó, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đã phê duyệt kế hoạch hành động của ngành nông nghiệp và PTNT ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2020 ( Bộ NN và PTNT, 2011) Bộ nông nghiệp và PTNT cũng đồng thời phê duyệt đề án giảm phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp, nông thôn đến năm 2020

Trang 28

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào các cây trồng chủ lực và ảnh hưởng của BĐKH đến cây trồng chủ lực (lúa, ngô) ở tỉnh Thái Bình, đây là hai cây trồng chủ lực tại địa phương có diện tích trồng lớn nhất và một số cơ cấu cây trồng tiến

bộ có thể ứng phó với các tác động của biến đổi khí hậu Nghiên cứu chi tiết được thực hiện tại huyện Tiền Hải: là huyện chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu, thời tiết cực đoan, xâm nhập mặn, nước biển dâng

- Thời gian thực hiện luận văn: từ tháng 2/2014 đến tháng 8/2015

- Số liệu điều tra, các biện pháp canh tác ứng phó với biến đổi khí hậu trong trồng trọt, số liệu khí tượng và các diễn biến bất lợi của thời tiết được thu thập trong giai đoạn 1980 – 2010 và năm 2013, 2014

- Các kiểm chứng mô hình hóa DSSAT được thực hiện trong giai đoạn

2013 – 2014 (Phạm Quang Hà, 2014)

2.2 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu này thực hiện những nội dung chính sau:

- Tình hình sản xuất trồng trọt tỉnh Thái Bình

- Hiện trạng sản xuất hai cây trồng chủ lực (lúa và ngô) tại tỉnh Thái Bình

- Diễn biến khí hậu, thời tiết tại tỉnh Thái Bình

- Thiệt hại do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất lúa, ngô tại Thái Bình

- Hiểu biết của cán bộ và nông dân về tác động của BĐKH đến nông ngiệp

- Đánh giá ảnh hưởng và dự báo tác động của BĐKH đến năng suất của Lúa và Ngô tại tỉnh Thái Bình

- Đề xuất các giải pháp giảm nhẹ thiệt hại do tác động của BĐKH đến sản xuất lúa, ngô tại tỉnh Thái Bình

Trang 29

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp

Thu thập số liệu từ các nguồn đảm bảo độ tin cậy và có trích dẫn nguồn đầy đủ bao gồm:

- Phân loại các số liệu cần thu thập, xác định nguồn thu số liệu

- Nguồn số liệu tổng quan: Số liệu từ trang tổng cục thống kê, các báo cáo của đánh giá của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và PTNT

- Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Bình, các cơ quan và tổ chức nghiên cứu

- Số liệu từ các báo các tổng hợp kết quả khoa học công nghệ đề tài BĐKH 10

- Số liệu từ các tài liệu và sách tham khảo

- Số liệu từ bài viết của các chuyên gia về trồng trọt và BĐKH

2.3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp

Điều tra thực địa để thu thập thông tin hiện trạng sản xuất và xu hướng tác động của BĐKH đến cây trồng tại huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình theo phương pháp phỏng vấn bằng phiếu điều tra

+ Đối với cán bộ: Bao gồm chuyên viên, nghiên cứu của các phòng chuyên môn của Sở nông nghiệp, phòng nông nghiệp huyện Tiền Hải (20 phiếu),

+ Đối với hộ nông dân: nông dân được lựa chọn ngẫu nhiên (30 phiếu) ở

xã Đông Cơ thuộc huyện Tiền Hải Nông dân tham gia phỏng vấn được chọn ngẫu nhiên theo danh sách có tính đến cả các hộ có trình độ thâm canh cao và trung bình Các phiếu điều tra chi tiết ở phụ lục 1 và phụ lục 2 Việc điều tra được thực hiện trong năm 2014

+ Sử dụng các công cụ phỏng vấn nhanh có sự tham gia của 3 nhóm nông

hộ (giàu, trung bình, hỗn hợp) để hoàn chỉnh các thông tin và thu thập các kiến thức về các biện pháp ứng phó và thích ứng với BĐKH của người dân tỉnh Thái Bình

Trang 30

Phần mềm DSSAT – Decision Support System for AgroTechnology Transfer (Jones et al., 2003), phiên bản DSSAT 3.5 và 4.0 được cải thiện từ DSSAT 3.0 viết năm 1994 Các phiên bản này giúp người sử dụng biết kết hợp giữa nhu cầu sinh học của cây trồng với những đặc trưng hóa lý của đất và sự tác động của điều kiện thời tiết khí hậu

DSSAT là sản phẩm kết hợp của một số chương trình thành một phần mềm thuận lợi trong ứng dụng, trong công tác nghiên cứu cũng như đưa ra các hoạch định Nó mô phỏng năng suất cây trồng, lựa chọn những kết quả theo ý muốn không chỉ trong hiện tại mà còn cho nhiều năm tiếp theo trong tương lai Phần mềm DSSAT dùng để mô phỏng 3 trường hợp sau:

Phân tích thực nghiệm (Interactive hay Experiment): mô phỏng năng suất

trong từng mùa vụ và so sánh với năng suất thực tế

phân tích theo mùa, người sử dụng có thể mô phỏng năng suất qua nhiều mùa vụ (với nhiều nghiệm thức, nhiều lần lặp lại, trong nhiều năm) dựa vào số liệu thời tiết dự báo hay lịch sử Cách mô phỏng này còn cho phép đánh giá được hiệu của kinh tế của mỗi mùa vụ

Phân tích liên tục (Sequence Analysis): Mô phỏng theo sự luân canh và

liên tục của mùa vụ có xem xét đến hiệu quả các quá trình vận chuyển của nước, chất dinh dưỡng…trong đất từ vụ này sang vụ khác bao gồm cả thời gian đất bỏ trống không canh tác

Trong nội dung của đề tài này, thì mô hình DSSAT được ứng dụng phân

tích thực nghiệm (Interactive hay Experiment) cho cây trồng chủ lực (lúa, ngô)

tại tỉnh Thái Bình trong từng mùa vụ nhằm dự báo năng suất, sản lượng, hiệu quả kinh tế của cây trồng trong tương lai

Trang 31

Thành phần và cơ sở dữ liệu của phần mềm DSSAT

Hình 2.1 Cấu trúc mô hình DSSAT

Thành phần dữ liệu chính của mô hình DSSAT gồm có: Modun thời tiết; Modun đất; Modun cây trồng (lúa, ngô)

Các thông số yêu cầu dữ liệu đầu vào chính cho mô hình bao gồm:

+ Modun thời tiết: Dữ liệu theo ngày được thu thập từ năm 1990 đến 2013

bao gồm bức xạ, nhiệt độ tối cao, nhiệt độ tối thấp, lượng mưa

+ Modun cây trồng (là các thông tin trên thực địa) gồm:

- Chi tiết về gieo trồng: ngày gieo trồng, mật độ gieo, phương pháp gieo trồng, thời gian dự kiến các giai đoạn phát triển của cây trồng, ngày thu hoạch

Trang 32

- Các thông số khác: Tàn dư cây trồng để lại đồng ruộng, tình trạng, thành phần tỉ lệ (%) thu hoạch

+ Modun đất: Các tính chất đất phù sa sông Thái Bình, đất mặn tại huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (phụ lục 3)

2.3.4 Phân tích số liệu trên excel

Phân tích thống kê mô tả ( các tính toán trung bình, min, max, so sánh ),

vẽ đồ thị được thực hiện trên Excel

Trang 33

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội tỉnh Thái Bình

3.1.1 Vị trí địa lý

- Thái Bình là tỉnh đồng bằng ven biển, nằm ở phía Nam châu thổ sông Hồng, có ba mặt giáp sông và một mặt giáp biển Thái Bình nằm ở toạ độ 20017’ đến 20044’ vĩ độ Bắc và 106006’ đến 106039’ kinh độ Đông, từ Tây sang Đông dài 54 km, từ Bắc xuống Nam dài 49 km Phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ, phía Tây giáp tỉnh Hà Nam, phía Nam giáp tỉnh Nam Định, phía Bắc giáp tỉnh Hưng Yên, Hải Dương và thành phố Hải Phòng (Hình 3.1)

Với vị trí như vậy, tỉnh Thái Bình có vị trí quan trọng tại khu vực Nam đồng bằng sông Hồng Đây là vùng chuyển tiếp giữa kinh tế biển và kinh tế lục địa với chiều dài tiếp giáp với biển là 50km; là vùng hạ lưu xung yếu của sông Hồng, huyết mạch giao thông đường thủy và hàng hải quan trọng; là vùng tiệm cận với các trung tâm đô thị lớn, đặc biệt là thủ đô Hà Nội và Thành phố Hải Phòng và khu vực kinh tế trọng điểm Bắc bộ và là vùng sản xuất lương thực, thực phẩm lớn của Đồng bằng sông Hồng, có điều kiện tự nhiên sinh thái rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp đa dạng và toàn diện Đồng thời, đây cũng

là vùng đông dân (đứng thứ 9 trong cả nước), với mật độ phân bố dân cư cao, có nhiều tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên, xã hội, nhân văn và khoa học, công nghệ khác vv Đó là những nhân tố nội sinh thuận lợi cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh

Trang 34

Hình 3.1 Bản đồ vị trí hành chính của tỉnh Thái Bình

3.1.2 Điều kiện tự nhiên

3.1.2.1 Địa hình, địa mạo

Địa hình của tỉnh Thái Bình tương đối bằng phẳng, thấp dần từ Bắc xuống Nam Độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 1 - 2 m Địa mạo của tỉnh Thái Bình được phân thành 2 khu vực:

- Khu vực phía Bắc sông Trà Lý: đất được hình thành sớm bởi phù sa sông Thái Bình, độ chia cắt phức tạp, đây là vùng tương đối cao (trừ vùng Nam huyện Đông Hưng)

- Khu vực phía Nam sông Trà Lý: tương đối bằng phẳng, thấp hơn so với khu vực phía Bắc Đây là vùng điển hình của phù sa sông Hồng

Trong thực tế, từng khu vực cũng bị chia cắt thành những tiểu vùng khác nhau về độ cao tạo nên vùng thâm canh tăng vụ, bố trí cây trồng và hệ thống thuỷ lợi thuận lợi

Trang 35

Nhìn chung, tỉnh Thái Bình tương đối bằng phẳng, đất đai được hình thành do phù sa của sông Hồng, sông Luộc, sông Hoá, sông Trà Lý, thuận lợi để phát triển nông nghiệp, đặc biệt là lúa nước

3.1.2.2 Khí hậu

Thái Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, bức xạ mặt trời lớn với tổng bức xạ trên 100 kca/cm2/năm Số giờ nắng trung bình từ 1.600 - 1.800 giờ/năm, tổng nhiệt cả năm khoảng 8.500oC, nhiệt độ trung bình năm từ 23 - 24

oC lượng mưa trung bình năm 1.500 - 1.900 mm, độ ẩm từ 80 - 90%:

- Mùa hè: trùng với mùa mưa, bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào cuối tháng 10

+ Mưa: Lượng mưa chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm, lượng mưa ngày lớn nhất có thể đạt 200 - 300 mm/ngày Mưa lớn thường xẩy ra trong ngày có bão và dông

Trang 36

Nguồn: Số liệu khí tượng, Sở NN&PTNT, tỉnh Thái Bình

Hình 3.3 Lượng mưa trung bình tháng tại tỉnh Thái Bình

+ Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình trên 26 oC, cao nhất là 39,2 oC Trong mùa

hè thường gặp hai kiểu thời tiết, thời tiết dịu mát và thời tiết khô nóng kiểu gió Lào Những ngày dịu mát nhiệt độ dưới 25 oC, những ngày khô nóng nhiệt độ có thể lên tới 39,2 oC, làm cho cây cối thoát nước mạnh, dễ bị khô héo

Nguồn: Số liệu khí tượng, Sở NN&PTNT, tỉnh Thái Bình

Hình 3.4 Nhiệt độ trung bình tháng tại tỉnh Thái Bình

0 50

Trang 37

Nguồn: Số liệu khí tượng, Sở NN&PTNT, tỉnh Thái Bình

Hình 3.5 Số giờ nắng trung bình tháng tại tỉnh Thái Bình

+ Gió: Thịnh hành là gió Đông Nam Tốc độ gió trung bình từ 2 - 4

m/giây Trong mùa hè thường hay xuất hiện bão Bão kèm theo gió mạnh và mưa

to có sức tàn phá lớn Trung bình mỗi năm có từ 2 - 3 cơn bão, cá biệt có năm có

6 cơn bão

+ Độ ẩm không khí: Mùa hè độ ẩm rất cao, nhất là những ngày mưa ngâu

(tới 90%) Nhưng khi có gió Tây Nam xuất hiện, độ ẩm xuống thấp (dưới 30%)

- Mùa đông: Bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 4

+ Mưa: chiếm lượng nhỏ, khoảng 15 - 20% tổng lượng mưa cả năm Các

tháng 12 và tháng1 lượng mưa nhỏ thậm chí không có mưa Tháng 2 và tháng 3 là

thời kỳ mưa phùn và ẩm ướt Nhìn chung, lượng mưa giữa các tháng trong năm

không đều Do đó cần có biện pháp đảm bảo nước cho cây trồng, nhất là vào đầu mùa

+ Gió: Gió hướng Bắc, Đông Bắc và Đông,thường gây ra lạnh đột ngột

+ Độ ẩm không khí: Ngày khô hanh độ ẩm rất thấp, lượng bốc hơi cao,

thường xuất hiện vào đầu mùa Trong thời kỳ này hay xảy ra hạn nhưng có điều

Trang 38

3.1.2.3 Thủy văn

Tỉnh Thái Bình có hệ thống sông ngòi khá dày và phân bố khá đều giữa các vùng nội tỉnh, chủ yếu thuộc hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình Các sông có tiềm năng về giao thông vận tải và cung cấp lượng phù sa rất lớn cho nội đồng nói riêng và đồng bằng Nam sông Hồng nói chung

- Hệ thống sông Hồng: Bắt nguồn từ Vân Nam Trung Quốc, ở độ cao trên 1.000m, vào địa phận vùng tây Bắc bộ, qua vùng đồng bằng sông Hồng, đến Thái Bình, gồm: Sông Hồng, sông Luộc và sông Trà Lý

• Sông Hồng chảy qua địa phận Thái Bình có chiều dài 70km Lưu lượng trung bình 850 - 950 m3/s, lưu lượng cao nhất mùa lũ là 8.160 m3/s Lưu lượng thấp nhất mùa kiệt là 105 m3/s Vào mùa kiệt tốc độ dòng chảy nước sông dao động khoảng 0,2 - 0,4 m/s, mùa lũ 1,3 - 1,5 m/s; bề rộng lòng sông là 500 - 1.000 m

• Sông Luộc là phân lưu của sông Hồng, chảy qua địa phận Thái Bình, từ

xã Tân lễ huyện Hưng Hà đến xã An Khê huyện Quỳnh Phụ qua 33 xã, có chiều dài 53km, chiều rộng dòng sông trung bình là 100 - 300m

• Sông Trà Lý nối với sông Hồng tại xã Hồng Lý, chảy theo hường Tây - Đông qua thành phố Thái Bình rồi đổ ra cửa Trà Lý Sông có chiều dài 65km Bề rộng lòng sông trung bình là 100-200m

- Sông Hoá là phân lưu của sông Luộc, bắt nguồn từ xã Anh Khê huyện Quỳnh phụ chảy dọc biên giới giữa Thái Bình và Hải Phòng, sau đó đổ vào sông Thái Bình tại xã Thụy Tân huyện Thái Thụy đổ ra cửa sông Thái Bình, chiều dài sông Hóa chảy qua tỉnh Thái Bình là 35 km, bề rộng lòng sông trung bình là 100 - 250m

- Sông Trà lý là phân lưu của sông Hồng, toàn bộ dòng chảy thuộc địa phận tỉnh Thái Bình; bắt đầu từ xã Hồng Minh huyện Hưng Hà sông chảy qua 7/8 huyện, thành phố của tỉnh Thái Bình với 48 xã, phường ven sông sau đó đổ ra vịnh Bắc Bộ tại cửa Trà lý, sông có tổng chiều dài là 64 km

- Hệ thống sông nội đồng: Do sông Trà Lý chảy cắt ngang qua tỉnh nên mạng lưới sông nội đồng chia làm hai hệ thống tách biệt là hệ thống Bắc Thái Bình và hệ

Trang 39

sông Hoài, sông Cô, sông Cầu Sa, sông Ơ, sông Kiến Giang, sông Lân, sông Xuân Trạch, sông Tân Hoá, sông Long Hầu, sông Bến Hán, sông Châu Giang, sông Chuồn, sông Cầu Kim, sông Ngái…, có tổng chiều dài 386,97 km, trong đó vùng

Bắc Thái Bình có 249,67 km, vùng Nam Thái Bình có 137,3km

- Hệ thống các cửa sông: bao gồm cửa Trà Lý - Sông Trà Lý, cửa Diêm

Hộ - Sông Diêm Hộ (hay còn gọi là cửa Trà Linh), cửa Thái Bình - Sông Hoá, cửa Lân - Sông Kiến Giang, cửa Ba Lạt (Sông Hồng)

Chế độ thủy triều ở tỉnh Thái Bình là nhật triều khá thuần nhất Biên độ dao động tối đa của thủy triều từ 3,0 đến 3,5 m, trung bình từ 1,7 đến 1,9m và tối thiểu từ 0,3 đến 0,5 m Mực nước triều lớn nhất nhiều năm có thể đạt 4,0 m và thấp nhất khoảng 0,08 m Độ cao thủy triều trung bình là 1,8 m, độ cao tuyệt đối

từ 0,6 đến 3,8m Số ngày triều cường từ 3m trở lên có từ 152 đến 176 ngày Do biên độ thủy triều lớn nên độ mặn xâm nhập vào các cửa sông khá sâu: 22 km trên sông Hồng; 20 km trên sông Trà Lý

Nhìn chung hệ thống thuỷ văn của tỉnh Thái Bình thuận lợi về nguồn nước tưới cho sản xuất nông nghiệp, kể cả vào mùa khô và bồi đắp phù sa cho vùng đất ngoài đê thuộc các hệ thống sông Với 5 cửa sông lớn đổ ra biển tạo sự lắng đọng phù sa và bồi đắp ven biển là thế mạnh lấn biển của tỉnh Thái Bình Mặt hạn chế là hàng năm Thái Bình phải đầu tư sức người, sức của vào việc đắp đê,

tu bổ đê sông, đê biển đồng thời phải đầu tư cho việc thau chua, rửa mặn đất nông nghiệp ở ven biển do bị ảnh hưởng của xâm nhập mặn theo dòng triều

3.1.3 Các điều kiện kinh tế- xã hội

• Dân cư, lao động

- Đông dân là một trong những lợi thế cơ bản cho phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh Thái Bình Tính đến hết năm 2011, số dân Thái Bình là 1.786,3 nghìn người, với mật độ 1.138 người/km2 Dân số đông, tạo nguồn lao động dồi dào, thị

trường tiêu thụ rộng lớn cho các sản phẩm nông nghiệp và của các ngành kinh tế khác

Trang 40

chiếm tỷ lệ cao nhất 59,4% (600 nghìn người) và tỷ lệ lao động nữ làm việc trong nhóm ngành này cũng rất cao (chiếm 54,6% so với tổng số lao động nữ đang làm việc trong các ngành kinh tế)

- Nguồn lao động nông nghiệp có trình độ thâm canh cao so với cả nước

vì đây là mảnh đất của nghề trồng lúa nước và các sản phẩm chăn nuôi Người lao động Thái Bình cần cù, chịu khó, lao động có khả năng tiếp thu, tiếp cận với tiến bộ khoa học- kỹ thuật Tỷ lệ lao động qua đào tạo đang tăng dần qua các năm Nếu tỉnh có chiến lược đầu tư giáo dục- đào tạo một cách đồng bộ để nâng cao trình độ nguồn nhân lực sẽ tạo được một đội ngũ cán bộ đông đảo có trình độ

và tay nghề cao Đồng thời lại có chính sách quản lý và sử dụng hợp lý đội ngũ cán bộ, sẽ là động lực, là lợi thế cho phát triển nông nghiệp nói riêng và kinh tế

xã hội nói chung

Tuy nhiên, sức ép về dân số ở Thái Bình hiện đang là vấn đề cần được quan tâm giải quyết Vì sự gia tăng dân số trên địa bàn tỉnh đã gây ra các hiện tượng như thất nghiệp, sự nghèo đói, giáu dục và bảo vệ sức khỏe kém, thu nhập không công bằng và sự thiếu hụt về tài nguyên thiên nhiên, môi trường Đặc biệt dân số gia tăng sẽ dẫn đến sự thiếu hụt lương thực, ruộng đất sẽ sử dụng quá độ, đất đai bị thoái hóa, làm giảm diện tích canh tác…

• Các ngành kinh tế khác

Sự phát triển của mỗi ngành kinh tế là điều kiện, tiền đề cho ngành kia phát triển Nông nghiệp- công nghiệp- dịch vụ tạo mối liên kết vững chắc và có tác động qua lại với nhau Sản phẩm của một số ngành công nghiệp tác động trực tiếp đến toàn bộ ngành nông nghiệp đó là máy móc, thiết bị, hóa chất và các sản phẩm tiêu dùng công nghiệp khác Dịch vụ thì ngoài việc tạo mối quan hệ sâu sắc giữa công nghiệp và nông nghiệp, nó còn đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiều về các mặt sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng trong quá trình tái sản xuất nông nghiệp Nhờ có dịch vụ mà các sản phẩm của ngành nông nghiệp được tiêu thụ trong và ngoài khu vực, đặc biệt ở các thị trường ngoài nước

Đối với ngành công nghiệp tỉnh Thái Bình, những năm qua giá trị sản xuất

Ngày đăng: 17/02/2017, 11:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
20. Vũ Mạnh (26/8/2010). Kinh nghiệm mở rộng trà lúa mùa cực sớm ở Quỳnh Phụ. http://www.baothaibinh.com.vn.Tài liệu tiếng nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm mở rộng trà lúa mùa cực sớm ở Quỳnh Phụ
Tác giả: Vũ Mạnh
Nhà XB: baothaibinh.com.vn
Năm: 2010
21. Aried Anshory Yusuf and Herminia Fransisco. 2009. Climate change Vulnerability Mapping for Southeast Asia. s.l. : Economy and Environmnetal Program for Southeast Asia, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Climate change Vulnerability Mapping for Southeast Asia
Tác giả: Aried Anshory Yusuf, Herminia Fransisco
Nhà XB: Economy and Environmental Program for Southeast Asia
Năm: 2009
22. Barbier E. B. 1994. Economic valuation of environmental impacts: data and methodology requirements with the example of Indonesia. s.l. : Edward Edgar Publishing, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economic valuation of environmental impacts: data and methodology requirements with the example of Indonesia
Tác giả: Barbier E. B
Nhà XB: Edward Edgar Publishing
Năm: 1994
24. Freeman A. M. 1993. The measurement of environmental and resources value: Theory and Methods. s.l. : Resources for the future, Washington D.C., USA, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The measurement of environmental and resources value: Theory and Methods
Tác giả: A. M. Freeman
Nhà XB: Resources for the future
Năm: 1993
18. UNBD tỉnh Thái Bình (2010). Kế hoạch hành động, ứng phó với BĐKH tại tỉnh Thái Bình giai đoạn 2011- 2015 và định hướng đến năm 2020 Khác
19. Viện Khoa học Khí tượng thủy văn và Môi trường (2014). Tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Khác
23. Bolt K.G., M. Sarraf. 2006. Estimate the cost of environmental degradation. Singapore : EEPSEA, 2006 Khác
25. W. Jones, G. Hoogenboom, C.H. Porter, K.J. Boote, W.D. Batchelor, L.A. Hunt, P.W. Wilkens, U. Singh, A.J. Gijsman, J.T. Ritchie. 2003. The DSSAT cropping system model. Europ. J. Agronomy 18 (2003) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2. Diễn biến về sự thay đổi nhiệt độ toàn cầu giai đoạn 1800s-2000s - đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất một số cây trồng chủ lực tại tỉnh thái bình
Hình 1.2. Diễn biến về sự thay đổi nhiệt độ toàn cầu giai đoạn 1800s-2000s (Trang 14)
Hình 1.4. Diễn biến thiệt hại do thiên tai trên thế giới 1960-2000 (Tỷ US$, - đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất một số cây trồng chủ lực tại tỉnh thái bình
Hình 1.4. Diễn biến thiệt hại do thiên tai trên thế giới 1960-2000 (Tỷ US$, (Trang 16)
Hình 2.1. Cấu trúc mô hình DSSAT - đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất một số cây trồng chủ lực tại tỉnh thái bình
Hình 2.1. Cấu trúc mô hình DSSAT (Trang 31)
Hình 3.1. Bản đồ vị trí hành chính của tỉnh Thái Bình - đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất một số cây trồng chủ lực tại tỉnh thái bình
Hình 3.1. Bản đồ vị trí hành chính của tỉnh Thái Bình (Trang 34)
Hình 3.3. Lượng mưa trung bình tháng tại tỉnh Thái Bình - đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất một số cây trồng chủ lực tại tỉnh thái bình
Hình 3.3. Lượng mưa trung bình tháng tại tỉnh Thái Bình (Trang 36)
Hình 3.4. Nhiệt độ trung bình tháng tại tỉnh Thái Bình - đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất một số cây trồng chủ lực tại tỉnh thái bình
Hình 3.4. Nhiệt độ trung bình tháng tại tỉnh Thái Bình (Trang 36)
Hình 3.5. Số giờ nắng trung bình tháng tại tỉnh Thái Bình - đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất một số cây trồng chủ lực tại tỉnh thái bình
Hình 3.5. Số giờ nắng trung bình tháng tại tỉnh Thái Bình (Trang 37)
Bảng 3.2. Năng suất một số cây hàng năm - đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất một số cây trồng chủ lực tại tỉnh thái bình
Bảng 3.2. Năng suất một số cây hàng năm (Trang 42)
Bảng 3.5. Diễn biến diện tích canh tác lúa tại tỉnh Thái Bình (1000 ha) - đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất một số cây trồng chủ lực tại tỉnh thái bình
Bảng 3.5. Diễn biến diện tích canh tác lúa tại tỉnh Thái Bình (1000 ha) (Trang 45)
Bảng 3.9. Năng suất trồng ngô tỉnh Thái Bình (tạ/ha) - đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất một số cây trồng chủ lực tại tỉnh thái bình
Bảng 3.9. Năng suất trồng ngô tỉnh Thái Bình (tạ/ha) (Trang 48)
Bảng 3.8. Diện tích trồng ngô tỉnh Thái Bình  (1000 ha) - đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất một số cây trồng chủ lực tại tỉnh thái bình
Bảng 3.8. Diện tích trồng ngô tỉnh Thái Bình (1000 ha) (Trang 48)
Bảng 3.10. Sản lượng trồng ngô tỉnh Thái Bình giai đoạn 2009-2013 (1000 tấn) - đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất một số cây trồng chủ lực tại tỉnh thái bình
Bảng 3.10. Sản lượng trồng ngô tỉnh Thái Bình giai đoạn 2009-2013 (1000 tấn) (Trang 49)
Hình 3.7. Diễn biến nhiệt độ tháng I và tháng VII ở tỉnh Thái Bình giai đoạn - đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất một số cây trồng chủ lực tại tỉnh thái bình
Hình 3.7. Diễn biến nhiệt độ tháng I và tháng VII ở tỉnh Thái Bình giai đoạn (Trang 50)
Hình 3.8. Diễn biến tổng lượng mưa năm ở tỉnh Thái Bình giai đoạn 1960 – 2010 - đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất một số cây trồng chủ lực tại tỉnh thái bình
Hình 3.8. Diễn biến tổng lượng mưa năm ở tỉnh Thái Bình giai đoạn 1960 – 2010 (Trang 50)
Hình 3.9. Các hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiện tại tỉnh Thái Bình - đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất một số cây trồng chủ lực tại tỉnh thái bình
Hình 3.9. Các hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiện tại tỉnh Thái Bình (Trang 53)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w