Thức ăn hỗn hợp cho lợn con tập ăn trước và cai sữa không những đòi hỏi đủ chất dinh dưỡng, khả năng tiêu hóa hấp thu cao mà còn cần kích thích được tính thèm ăn.. Một số nghiên cứu cho
Trang 12.1.2 Khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con 3
2.1.4 Khả năng tiêu hóa và hấp thụ chất dinh dưỡng 6
2.1.7 Ảnh hưởng của cai sữa đến sự thay đổi hình thái học của niêm mạc ruột
2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của lợn nái 9
2.3.1 Lượng thức ăn hàng ngày và số lần cho ăn trong ngày 11
Trang 22.4 Hội chứng tiêu chảy ở lợn con 15
1.4.4 Một số biện pháp phòng và trị tiêu chảy cho lợn con 17
2.7 Tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài 24
3.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 26
3.3.1 Phương pháp phân tích thành phần hoá học của thức ăn thí nghiệm 27 2.3.2 Phương pháp xây dựng công thức thức ăn hỗn hợp 27
4.1 Thành phần hóa học của một số loại nguyên liệu thức ăn 32 4.2 Thức ăn hỗn hợp cho lợn con giai đoạn 7 – 40 ngày tuổi 37 4.2.1 Công thức thức ăn hỗn hợp cho lợn con giai đoạn 7 - 40 ngày tuổi 37 4.2.2 Thành phần hoá học của công thức thức ăn cho lợn con giai đoạn 7 – 40
Trang 34.2.3 Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của thức thí nghiệm 38 4.3 Ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm monosodium glutamate vào khẩu phần ăn đối với lợn con giai đoạn từ 7 – 21 ngày tuổi 39 4.3.1 Khối lượng cơ thể của lợn con thí nghiệm giai đoạn từ 7 - 21 ngày tuổi 39 4.3.2 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con thí nghiệm giai đoạn 7 – 21 ngày tuổi 43 4.3.3 Sinh trưởng tương đối của lợn con thí nghiệm giai đoạn 7 – 21 ngày tuổi 46 4.3.4 Lượng thức ăn thu nhận của lợn con thí nghiệm giai đoạn 7 – 21 ngày tuổi 48 4.3.5 Ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm Monosodium glutamate đến tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn con giai đoạn 7 - 21 ngày tuổi 50 4.4 Ảnh hưởng của bổ sung chế phẩm mmonosodium glutamate vào khẩu phần
4.4.1 Khối lượng cơ thể lợn con thí nghiệm giai đoạn 21 - 40 ngày tuổi 51 4.4.2 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con thí nghiệm giai đoạn 21 – 40 ngày tuổi 53 4.4.3 Sinh trưởng tương đối của lợn con thí nghiệm giai đoạn từ 21 – 40 ngày tuổi 54 4.4.4 Lượng thức ăn thu nhận và hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn con giai đoạn
4.4.5 Ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm Monosodium glutamate đến tỷ lệ tiêu chảy ở lợn con giai đoạn 21 - 40 ngày tuổi 58 4.5 Hiệu quả của việc bổ sung chế phẩm monosodium glutamate vào khẩu phần ăn cho lợn con giai đoạn 21 - 40 ngày tuổi 59
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CPTĂ Chi phí thức ăn
FCR Feed Conversion Ratio (Hệ số chuyển đổi giữa kg thức ăn/kg
tăng trọng) hay tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng
KPCS Khẩu phần cơ sở
LxY Landrace x Yorkshire
ME Metabolizable energy (Năng lượng trao đổi)
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm lợn con giai đoạn 7 – 21 ngày tuổi 28 Bảng 3.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm lợn con giai đoạn từ 21 - 40 ngày tuổi 28 Bảng 4.1a Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của các nguyên liệu phối
Bảng 4.12 Sinh trưởng tương đối của lợn con thí nghiệm giai đoạn từ 21 - 40
Bảng 4.13 Lượng thức ăn thu nhận và hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn con giai
Bảng 4.14 Tỷ lệ tiêu chảy ở lợn con thí nghiệm giai đoạn 21 - 40 ngày tuổi 58 Bảng 4.15 Hiệu quả của việc bổ sung chế phẩm MSG vào khẩu phần ăn cho
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Khối lượng cơ thể lợn con giai đoạn 7 – 21 ngày tuổi 42 Biểu đồ 4.2 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con giai đoạn 7 – 21 ngày tuổi 45 Biểu đồ 4.3 Khối lượng lợn con giai đoạn 21 - 40 ngày tuổi 52 Biểu đồ 4.4 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con giai đoạn 21 – 40 ngày tuổi 54 Biểu đồ 4.5 Sinh trưởng tương đối của lợn con giai đoạn 21 – 40 ngày tuổi 55 Biểu đồ 4.6 Hiệu quả của việc bổ sung chế phẩm MSG vào khẩu phần ăn cho lợn
Trang 7PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trên thế giới, chăn nuôi lợn là một bộ phận rất quan trọng trong công nghiệp chăn nuôi gia súc, trong đó thịt lợn chiếm 40% tổng các loại thịt (Vũ Đình Tôn và Nguyễn Thị Thuận, 2005) Ở nước ta, chăn nuôi lợn chiếm vị trí hàng đầu trong ngành chăn nuôi và có vai trò quan trọng trong hệ thống sản xuất nông nghiệp Cùng với nghề trồng lúa nước, nghề chăn nuôi lợn là một trong hai hợp phần quan trọng và xuất hiện sớm nhất trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam Hiện nay, chăn nuôi lợn ở nước ta đang chiếm tỷ phần lớn trong ngành chăn nuôi và là nguồn cung cấp lớn nhất thực phẩm cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Bởi vậy, nâng cao năng suất trong chăn nuôi lợn giúp đáp ứng nhu cầu thực phẩm và nâng cao thu nhập cho người chăn nuôi
Trong chăn nuôi lợn, nuôi dưỡng và chăm sóc lợn con giai đoạn theo mẹ và cai sữa đóng vai trò rất quan trọng Nếu lợn con được chăm sóc tốt sẽ giúp lợn
có sức đề kháng cao, ít bệnh tật và tăng trọng nhanh trong suốt thời gian tiếp theo của quá trình chăn nuôi Để nâng cao sự thích nghi cho lợn con với thức ăn trước giai đoạn chuyển sang ăn hoàn toàn thức ăn ngoài nguồn sữa mẹ, lợn con
từ 4 -7 ngày tuổi đã được làm quen với thức ăn tập ăn Thức ăn hỗn hợp cho lợn con tập ăn trước và cai sữa không những đòi hỏi đủ chất dinh dưỡng, khả năng tiêu hóa hấp thu cao mà còn cần kích thích được tính thèm ăn Do đó, lựa chọn nguyên liệu để sản xuất thức ăn hỗn hợp cho lợn con tập ăn và sau cai sữa phải đáp ứng được các yêu cầu trên
Sử dụng các chất bổ sung để kích thích tính thèm ăn của lợn con đã được nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới Một số nghiên cứu cho thấy có rất nhiều chất bổ sung làm tăng tính thèm ăn của lợn con, giúp lợn con biết ăn nhanh, ăn được nhiều hơn, hỗ trợ phòng ngừa bệnh tiêu chảy, nâng cao năng suất của lợn con đã có mặt trên thị trường phụ gia thức ăn chăn nuôi Việt Nam như: vedafeed (Vedan, Việt Nam), lean start (Kenpal Farm Products Inc., Canada), chocolate (Pigcare Chocolate, ANCO) … Gần đây, chế phẩm Monosodium glutamate được khuyến cáo có tác dụng kích thích tính thèm ăn và nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn trong các giai đoạn Để hiểu rõ tác dụng của chế phẩm trên, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của việc bổ sung Monosodium Glutamate
Trang 8vào khẩu phần ăn cho lợn từ 7 - 40 ngày tuổi tại công ty TNHH lợn giống DaBaCo”
1.2 MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU
* Mục đích
- Xác định hiệu quả của việc bổ sung Monosodium glutamate trên lợn con
lai tập ăn 7 - 40 ngày tuổi
- Xác định hiệu quả kinh tế của việc bổ sung Monosodium glutamate
* Yêu cầu
- Theo dõi, ghi chép số liệu đầy đủ, đảm bảo tính khách quan, trung thực
Trang 9PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ CỦA LỢN CON
2.1.1 Một số đặc điểm sinh trưởng của lợn con
Lợn con sau sinh có tốc độ sinh trưởng rất nhanh, thể hiện thông qua sự tăng về khối lượng cơ thể Thông thường khối lượng lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần so với lúc sơ sinh, 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần khối lượng sơ sinh
và 30 ngày tuổi tăng gấp 5 lần
Khối lượng lợn con đạt được ở các thời điểm sơ sinh, cai sữa, xuất chuồng
có mối tương quan thuận với nhau khá chặt chẽ, có nghĩa là khối lượng lúc sơ sinh càng cao thì có khả năng khối lượng lúc cai sữa cao (Vũ Đình Tôn và Trần Thị Nhuận, 2005) Nếu lợn sơ sinh hơn nhau 0,5kg thì tương đương với 1kg hơn nhau ở thời điểm cai sữa và nếu khối lượng ở thời điểm cai sữa hơn nhau 0,1kg thì ở thời điểm đạt khối lượng giết thịt sẽ sớm hơn 1 ngày Lợn con nuôi trong giai đoạn cai sữa nếu tăng trọng bình quân mỗi ngày thêm 5g thì thời điểm đạt khối lượng giết thịt sẽ sớm hơn 1 ngày
2.1.2 Khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con
Khả năng điều tiết thân nhiệt của gia súc non rất kém; do đó, lợn con rất nhạy cảm với sự thay đổi của khí hậu bên ngoài, nhất là nhiệt độ lạnh dễ làm lợn con bị bệnh Gia súc non từ 15 – 20 ngày tuổi thân nhiệt mới ổn định (Trần Thị Dân, 2006) Nước ta tuy là xứ nóng nhưng phải chống lạnh cho lợn con mới sinh đến cai sữa vì nhiệt độ ban đêm thường dưới 300C Cơ thể lợn con chống lạnh bằng cách nâng cao chuyển hóa cơ bản, tăng sinh nhiệt nhưng không kéo dài được Nhiệt độ
cơ thể của lợn con sau khi đẻ giảm xuống phụ thuộc vào khối lượng sơ sinh, số lượng, chất dinh dưỡng thu được và nhiệt độ môi trường
Khi còn trong cơ thể mẹ, sự cân bằng nhiệt của bào thai được xác định do thân nhiệt của lợn mẹ Sau khi sinh, cơ thể lợn con chưa thể bù đắp được lượng nhiệt bị mất đi nên cơ thể dễ bị lạnh và phát sinh bệnh tật, nhất là bệnh phân trắng lợn con Trong tuần lễ đầu, thân nhiệt của lợn con hoàn toàn phụ thuộc vào nhiệt
độ của môi trường Ở hai ngày đầu, nếu nhiệt độ môi trường từ 5 – 60C, lợn con có thể chết do lạnh và mất nhiệt Khả năng điều tiết nhiệt ở lợn con trong 3 tuần tuổi đầu còn rất kém do thân nhiệt chưa ổn định Nguyên nhân chủ yếu do lớp mỡ dưới
da còn mỏng, lượng mỡ và glycogen được dự trữ trong cơ thể còn ít nên khả năng
Trang 10cung cấp năng lượng để chống rét bị hạn chế Mặt khác, trên cơ thể lợn con lông mao đang còn thưa nên khả năng giữ nhiệt còn kém Do đó, khi nuôi lợn con trong chuồng có nhiệt độ thấp, ẩm độ cao, thân nhiệt của lợn con sẽ giảm nhanh làm cho lợn con dễ bị cảm lạnh, hay bị ỉa chảy và ỉa phân trắng Sau 3 tuần tuổi thân nhiệt lợn con mới tương đối ổn định (39,0 - 39,50C), khả năng điều hòa thân nhiệt tốt dần lên để đáp ứng với môi trường bên ngoài Nhiệt độ môi trường thích hợp đối với lợn con lúc sơ sinh là 340C; 2 ngày tuổi là 300C; 14 ngày tuổi là 200C với độ ẩm không khí khoảng 60%, riêng nhiệt độ dưới chụp sưởi của lợn con phải đạt 32 – 350C
Thân nhiệt của lợn con sau khi đẻ khoảng 380C, sau 10 ngày tăng lên 39,5 - 39,70C và giữ ở mức đó Trong thời gian này thân nhiệt lợn con có thể biến động trên dưới 10C Chuồng lạnh là nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp làm lợn mẹ đè chết con do đó tỷ lệ chết của lợn con cao Lợn chết trong 48 giờ là 12,1% khi nhiệt
độ chuồng nuôi là 20 - 250C, trong khi đó tỷ lệ chết là 7,7% khi nhiệt độ chuồng nuôi lớn hơn 250C (Vũ Duy Giảng, 2001)
Lợn con dưới 3 tuần tuổi, nếu nuôi ở nhiệt độ chuồng nuôi là 180C thì thân nhiệt của lợn con giảm xuống 20C so với thân nhiệt ban đầu Khi nhiệt độ chuồng nuôi giảm xuống 00C thì thân nhiệt lợn con giảm xuống 40C Khi khối lượng sơ sinh trung bình của lợn con là 1,13kg được nuôi ở trong chuồng nuôi có nhiệt độ 16 –
210C thì sau 30 phút thân nhiệt lợn con bị giảm xuống 1,60C nhưng lợn con có khối lượng trung bình 2,4kg nuôi trong điều kiện là – 40C thì thân nhiệt giảm tới 16,60C Điều này chứng tỏ khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con ít phụ thuộc vào khối lượng sơ sinh mà chủ yếu phụ thuộc và nhiệt độ chuồng nuôi và tuổi lợn con
2.1.3 Đặc điểm tiêu hóa của lợn con
Đặc điểm nổi bật của cơ quan tiêu hóa của lợn con đó chính là sự phát triển rất nhanh song chưa hoàn thiện Sự phát triển nhanh thể hiện ở sự tăng về dung tích và khối lượng của bộ máy tiêu hóa Cơ quan tiêu hóa của lợn con chưa hoàn thiện thể hiện ở số lượng cũng như hoạt lực của một số enzyme trong đường tiêu hóa lợn con bị hạn chế Sự phát triển nhanh về dung tích bộ máy tiêu hóa được thể hiện cụ thể là ở dạ dày lợn sơ sinh đạt 2,5ml nhưng đã tăng lên 1815ml ở lợn
70 ngày tuổi và tăng hơn 70 lần Ruột non lợn lúc sơ sinh với dung tích 100ml thì
ở lợn 70 ngày tuổi là 6000ml và tăng 60 lần Đối với ruột già, lợn sơ sinh có dung tích 40ml nhưng đã tăng lên hơn 50 lần và ở lợn 70 ngày tuổi đạt 2100ml (Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt, 2007)
Trang 11* Tiêu hóa ở miệng
Amylase nước bọt có hoạt tính cao ở lợn con cho đến 21 ngày tuổi Tùy theo lượng thức ăn và lượng sữa tiết ra khác nhau, thức ăn có phản ứng axít yếu
và khô thì nước bọt chủ yếu để tẩm ướt và làm mềm thức ăn
* Tiêu hóa ở dạ dày
Lợn con mới sinh ra sống nhờ sữa mẹ, sau khi cai sữa thì sống tự lập nên phải trải qua một quá trình thay đổi không ngừng về hình thái cấu tạo và hoạt động sinh lý của ống tiêu hóa để thích ứng với điều kiện mới Dung tích dạ dày của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, 20 ngày gấp 8 lần và 60 ngày tuổi gấp 60 lần trong khi dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít và sau đó tăng chậm đến tuổi trưởng thành đạt 3,5 – 4 lít
Cơ quan tiêu hóa của lợn con chưa được hoàn thiện do một số enzyme tiêu hóa thức ăn chưa có hoạt tính mạnh, đặc biệt là ở 3 tuần đầu Khoảng 25 ngày đầu sau khi đẻ enzyme pepsin trong dạ dày lợn con chưa có khả năng tiêu hóa protein của thức ăn Sau 25 ngày tuổi trong dịch vị lợn con mới có HCl ở dạng tự do và enzyme pepsinogen không hoạt động mới được HCl hoạt hóa thành pepsin hoạt động và mới có khả năng tiêu hóa Do thiếu HCl ở dạng
tự do nên lợn con dưới 25 ngày tuổi rất dễ bị vi khuẩn có hại xâm nhập vào đường tiêu hoá Chúng ta có thể kích thích tế bào vách dạ dày lợn con tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn con Nếu tập cho lợn con ăn sớm từ 7 - 10 ngày tuổi thì HCl ở dạng tự do có thể được tiết ra từ 14 ngày tuổi (Võ Trọng Hốt và cs., 2000)
* Tiêu hóa ở ruột
Dung tích ruột non của lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích ruột non lúc
sơ sinh khoảng 0,111 lít) Dung tích ruột già của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 1,5 lần lúc sơ sinh, 20 ngày tuổi gấp 2,5 lần và 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích ruột già lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít) Hoạt tính của các enzyme thay đổi từ sơ sinh đến trưởng thành
+ Amylase và maltase: Hai enzyme này có trong dịch tụy từ khi lợn con mới đẻ ra nhưng dưới 3 tuần hoạt tính còn thấp, do đó khả năng tiêu hoá tinh bột còn kém Sau 3 tuần tuổi enzyme amylase và maltase mới có hoạt tính mạnh nên khả năng tiêu hoá tinh bột của lợn con tốt hơn
Trang 12+ Saccharase: Đối với lợn con dưới 2 tuần tuổi enzyme saccharase hoạt tính còn thấp; vì vậy, nếu cho lợn con ăn đường saccharose thì rất dễ bị ỉa chảy Lợn con dưới 3 tuần tuổi chỉ có một số enzyme tiêu hóa có hoạt tính mạnh như trypsin, cathepsin, lactase, lipase và chymotrypsin
+ Trypsin: Là enzyme tiêu hóa protein của thức ăn Ở thai lợn 2 tháng tuổi trong chất chiết đã có enzyme trypsin, thai càng lớn hoạt tính của enzyme trypsin càng cao Khi lợn con mới đẻ ra hoạt tính của enzyme trypsin dịch tụy rất cao để
bù đắp lại khả năng tiêu hoá kém của enzyme pepsin dạ dày
+ Cathepsin là enzyme tiêu hoá protein trong sữa Đối với lợn con ở 3 tuần tuổi đầu, cathepsin có hoạt tính mạnh sau đó giảm dần
+ Lactase: Có tác dụng tiêu hoá đường lactose trong sữa Enzyme này có hoạt tính mạnh ngay từ khi lợn con mới đẻ ra và tăng cao nhất ở tuần tuổi thứ 2, sau đó hoạt tính của enzyme giảm dần
+ Lipase và chymotrypsin: Đây là hai enzyme có hoạt tính mạnh trong 3 tuần đầu và sau đó hoạt tính giảm dần (Võ Trọng Hốt và cs, 2000)
Như vậy, từ khi sơ sinh đến 5 tuần tuổi hàm lượng và hoạt tính của enzyme tiêu hóa ở lợn con khác nhiều với lợn trưởng thành Vì vậy, khi nuôi lợn con cần chú ý cho lợn con tập ăn sớm nhằm cai sữa sớm
2.1.4 Khả năng tiêu hóa và hấp thụ chất dinh dưỡng
Tiêu hóa thức ăn ở lợn là quá trình làm nhỏ các chất hữu cơ trong đường tiêu hóa như: protein, carbohydrate, lipid để cơ thể có thể hấp thu được Tiêu hóa
có thể diễn ra theo các quá trình: (1) Quá trình cơ học: nhai nuốt hoặc sự co bóp của cơ trong đường tiêu hóa dể nghiền nhỏ thức ăn (2) Quá trình hóa học: là quá trình tiêu hóa nhờ các enzyme tiết ra từ các tuyến trong đường tiêu hóa (3) Quá trình vi sinh vật: đây là quá trình tiêu hóa nhờ bacteria và protozoa
Tiêu hóa và hấp thu chất dinh dưỡng tiến hành chủ yếu ở dạ dày, ruột non Trong một ngày đêm, dạ dày phân giải 45% carbohydrate, 50% protein, 20 - 25% đường Dạ dày và ruột non phân giải và hấp thu 85% đường và 87% protein, ruột già chỉ còn không quá 10 - 15% (Trương Lăng, 2003)
Như vậy, lợn con sinh trưởng và phát dục nhanh song những tuần đầu bị hạn chế do chức năng cơ quan tiêu hóa chưa thành thục
Trang 132.1.5 Đặc điểm về khả năng miễn dịch
Lợn con mới đẻ ra trong máu hầu như chưa có kháng thể Lượng kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu Vì vậy, khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động và phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thụ được nhiều hay ít từ sữa mẹ Trong sữa đầu của lợn nái hàm lượng protein rất cao Những ngày đầu mới đẻ hàm lượng protein sữa chiếm tới 18 - 19%, trong đó lượng γ-globulin chiếm số lượng khá lớn (34 - 45%) γ-globulin có tác dụng tạo sức đề kháng cho nên sữa đầu có tác dụng quan trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con
Lợn con hấp thu γ-globulin bằng con đường ẩm bào Quá trình hấp thu nguyên vẹn phân tử γ-globulin giảm đi rất nhanh theo thời gian Phân tử γ-globulin chỉ có khả năng thấm qua thành ruột lợn con tốt nhất trong 24 giờ đầu sau khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu có kháng enzyme trypsin (anti-trypsin) làm mất hoạt lực của enzyme trypsin tuyến tuỵ và nhờ khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con khá rộng Vì vậy, 24 giờ sau khi được bú sữa đầu hàm lượng γ-globulin trong máu lợn con đạt tới 20,3 mg/100ml máu Sau 24 giờ lượng kháng thể trong sữa giảm dần và khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con hẹp dần lại nên sự hấp thu γ-globulin kém hơn, hàm lượng γ-globulin trong máu lợn con tăng lên chậm hơn Ở 3 tuần tuổi, hàm lượng γ-globulin trong máu của lợn con chỉ đạt khoảng 24mg/100ml máu (máu bình thường của lợn có khoảng 65mg γ-globulin/100ml); vì vậy, lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể Do đó, những lợn con không được bú sữa đầu thì sức đề kháng rất kém, tỷ lệ chết rất cao (Võ Trọng Hốt và cs, 2000)
2.1.6 Tập cho lợn con ăn sớm
Trong chăn nuôi lợn, đặc biệt là nuôi lợn công nghiệp, lợn con thường được tách mẹ rất sớm Thông thường, lợn con ngoài 20 ngày tuổi mới tự biết ăn Tuy nhiên, trong chăn nuôi lợn hiện nay, người ta thường cai sữa cho lợn con ngay khi lợn được 21 - 23 ngày tuổi Do đó, việc tập cho lợn ăn sớm có rất nhiều tác dụng: Tăng cường sự phát triển của bộ máy tiêu hoá do kích thích đường tiêu hoá của lợn con tiết enzyme "làm quen" với thức ăn từ bên ngoài, giảm hao mòn ở lợn nái do lợn con được bù đắp thêm dinh dưỡng từ thức ăn, và lợn con sẽ ít bị hao hụt sau cai sữa Lợn con được 4 - 5 ngày tuổi sau khi bú mẹ no, chúng đi theo đàn quan sát
Trang 14những vật có trong chuồng Mùi thơm của cám sẽ kích thích lợn con nếm thử Vì vậy, tập cho lợn con ăn sớm là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất Nhiều công trình nghiên cứu chứng minh rằng cho lợn con tập ăn sớm, ăn thêm trong giai đoạn bú sữa sẽ làm tăng khả năng thu nhận thức ăn và tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng trong giai đoạn cai sữa, đặc biệt khi năng suất sữa của lợn mẹ thấp (Flower,1985) Tập cho lợn con ăn sớm còn làm giảm tỷ lệ hao hụt của lợn nái, thúc đẩy bộ máy tiêu hoá của lợn con phát triển nhanh, sớm hoàn thiện và tạo tiền đề cho giai đoạn sau cai sữa Hoạt tính của các enzyme saccharase, maltase, trypsin, amylase tuyến tụy tăng lên đáng kể ở những lợn con được cho ăn thêm thức ăn trong giai đoạn bú sữa.Việc tập ăn cho lợn con ăn được nhiều thức ăn trong thời gian bú sữa không những không làm giảm sự teo lông nhung mà còn
làm giảm khả năng nhiễm E.coli và tỉ lệ tiêu chảy của lợn con giai đoạn sau cai
sữa (Sonaco, 1996)
Newby et al (1985) cho rằng nếu tập ăn cho lợn con chậm và số lượng thức
ăn tiêu thụ ít (<100g/con/trước khi cai sữa) có thể làm cho lợn con mẫn cảm hơn với mầm bệnh trong một vài loại thức ăn
Tiêu chảy sau cai sữa có thể do rối loạn hấp thu và mất các chất điện giải kết hợp với giảm tính thèm ăn dẫn đến năng suất lợn sau cai sữa bị giảm Vì vậy, cho lợn con tập ăn sớm trong giai đoạn bú sữa và lượng thức ăn thu được có thể
sẽ làm tăng khả năng chống chịu với mầm bệnh
2.1.7 Ảnh hưởng của cai sữa đến sự thay đổi hình thái học của niêm mạc ruột non ở lợn con
Cấu trúc đặc trưng nhất của niêm mạc ruột non ở động vật có vú nói chung
và của lợn nói riêng là sự tồn tại của các lông nhung (đơn vị hấp thu nhỏ nhất của
cơ quan tiêu hóa) Vùng niêm mạc giữa các lông nhung tồn tại các hốc nhỏ, nơi
mà từ đó dịch ruột và các chất lỏng khác được tiết vào khoang ruột Ở những lợn con khỏe mạnh, chiều cao của lông nhung dài gấp 3 - 4 lần so với chiều sâu của các hốc giữa chúng Tương quan giữa chiều cao lông nhung và độ sâu của các hốc phản ánh tình trạng và khả năng hấp thu của niêm mạc ruột non Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng tỏ giữa chiều cao lông nhung và tốc độ sinh trưởng
của lợn con giai đoạn sau cai sữa có tương quan rất chặt chẽ Theo Li et al
(1990), hệ số tương quan giữa tốc độ sinh trưởng và chiều cao của lông nhung là:
r = 0,63; P<0,05 Trong một công trình nghiên cứu khác của Pluske et al (1996)
cho thấy hệ số tương quan này là: r = 0,78; P<0,05 Nếu giảm chiều cao của lông
Trang 15nhung sẽ dẫn đến giảm diện tích bề mặt hấp thu, giảm hàm lượng enzyme trong mỗi tế bào niêm mạc ruột Nhiều công trình nghiên cứu đã khẳng định cai sữa làm giảm chiều cao của lông nhung và tăng độ sâu của các hốc niêm mạc ruột ở lợn con trong những ngày đầu cai sữa (Kenworthy, 1976; Smith, 1984; Hamspon,
1986; Dunsford et al., 1989) Chiều cao của các lông nhung và tăng độ sâu của
các hốc nhỏ giữa chúng trong niêm mạc ruột non, giải thích cho hiện tượng giảm khả năng tiêu thụ thức ăn, giảm khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng, tăng tỉ lệ mắc bệnh tiêu chảy sau cai sữa và dẫn đến giảm thậm chí ngừng tốc độ sinh trưởng của lợn con trong giai đoạn sau cai sữa (hiện tượng ức chế sau cai sữa)
(Pluske et al., 1996)
2.2 NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI
Năng suất sinh sản của lợn nái chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố Nó không chỉ được quyết định bởi lợn nái mà còn bị tác động rất lớn bởi các yếu tố bên ngoài Những yếu tố bên ngoài vừa liên quan trực tiếp đến lợn nái lại vừa liên quan đến lợn con
2.2.1 Khả năng sinh sản
Khả năng sinh sản của lợn nái là chỉ tiêu kỹ thuật, kinh tế hết sức quan trọng Nó phản ánh phẩm chất giống của con nái và kỹ thuật chăn nuôi Khả năng sinh sản của lợn nái được đánh giá theo các chỉ tiêu: số con sơ sinh/ổ, số lợn con cai sữa/lứa, số con cai sữa/nái/năm, chất lượng đàn con,
2.2.2 Khả năng tiết sữa
Khả năng tiết sữa của lợn mẹ là chỉ tiêu nói lên khả năng nuôi con của lợn mẹ, đặc điểm của giống và kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái của cơ sở chăn nuôi Lợn không có bể sữa, do đó không thể đo lượng sữa của lợn mẹ bằng cách vắt sữa mà chỉ có thể đo lượng sữa thông qua khối lượng của đàn con Khi so sánh đàn lợn con nào có khối lượng cao hơn thì khả năng tiết sữa của lợn mẹ tốt hơn
2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của lợn nái
* Yếu tố di truyền
Yếu tố di truyền ở đây là thành tích sinh sản của giống mà cụ thể là con nái Thành tích sinh sản của con nái thông thường đặc trưng cho giống và cũng mang tính cá thể
Trang 16Phối giống kết hợp giữa thụ tinh nhân tạo và nhảy trực tiếp có thể tăng 0,5 lợn con so với phối giống riêng rẽ
* Nhân tố môi trường
Ngoài các nhân tố tác động do di truyền, các nhân tố tác động do ngoại cảnh cũng ảnh hưởng rõ ràng và có ý nhĩa đến năng suất sinh sản của lợn nái như: chế độ nuôi dưỡng, bệnh tật, phương thức nuôi nhốt, mùa vụ, nhiệt độ, thời gian chiếu sáng đều ảnh hưởng đến các chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái
* Tuổi và lứa đẻ
Tuổi lợn nái liên quan trực tiếp đến số lứa đẻ Thông thường số con đẻ ra ở mỗi lứa tăng dần từ lứa 1 – 3, ổn định cho đến lứa 6 – 7 và sau đó có chiều hướng
giảm đi (Richard et al., 2001) Số con bị giảm chủ yếu liên quan đến tỉ lệ chết
phôi tăng ở các lứa về sau, không phải là do số trứng rụng bị giảm Ngoài ra, số con đẻ ra còn sống ở lứa đầu còn thấp do lợn nái thường sợ hãi khi đẻ và tỷ lệ thụ
thai thấp, tỷ lệ chết thai cao
* Thời gian nuôi con
Thời gian nuôi con kéo dài hay ngắn còn ảnh hưởng đến mức độ hao hụt của con nái, do đó cũng ảnh hưởng đến chất lượng lứa đẻ sau Nếu phải nuôi con trong thời gian dài thì sau khi cai sữa con nái cần có thời gian dài hơn để phục hồi lại trạng thái sức khỏe đảm bảo cho các lứa đẻ tiếp theo
* Số con để lại nuôi
Lợn nái thường có 12 - 16 vú, phổ biến là 14 vú Nếu số con sinh ra nhiều thì người ta thường để lại nhiều nhất là số con bằng số vú Do khả năng tiết sữa của lợn mẹ và số con để nuôi có mối tương quan chặt chẽ, khi số con để lại nuôi càng ít thì khả năng tiết sữa của lợn mẹ càng lớn và ngược lại Tuy nhiên không
Trang 17nên nuôi quá ít lợn con vì hiệu quả kinh tế thấp và không đánh giá hết tiềm năng sinh sản thực của nái (Phạm Quang Hùng và cs., 2006)
* Mùa vụ
Mùa vụ có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái thông qua số con
đẻ ra Trong điều kiện nhiệt độ cao của mùa hè sẽ làm giảm khả năng thu nhận thức ăn của lợn nái Tỷ lệ hao hụt sẽ tăng từ đó kéo dài thời gian động dục trở lại sau cai sữa Khi nuôi lợn nái trong điều kiện nhiệt độ cao còn giảm tỷ lệ thụ thai, giảm sức sống của bào thai
2.3 NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA LỢN CON
Lĩnh vực dinh dưỡng cho lợn con còn nhiều thách thức Một khẩu phần sau cai sữa cần đảm bảo đầy đủ chất lượng để giảm bớt "shock" và hậu quả của cai sữa sớm Giảm giá thành sản phẩm bằng cách giảm chất lượng sẽ kéo dài dấu hiệu giảm tăng trưởng sau cai sữa do ảnh hưởng tiêu cực trên chỉ tiêu sinh trưởng
và sức khoẻ của lợn con
Tuy nhiên, lợn con càng lớn, nhu cầu sữa càng nhiều nhưng lượng tiết sữa của lợn mẹ lại giảm từ tuần thứ 3 và 4 rõ rệt Tuần thứ 3, do lượng sữa giảm nên không cung cấp đủ năng lượng cho lợn con, vì vậy nên tập ăn sớm cho lợn con
2.3.1 Lượng thức ăn hàng ngày và số lần cho ăn trong ngày
Cho ăn với một lượng nhỏ và khoảng cách đều đặn đã nâng cao được năng suất của lợn con Phương pháp nuôi dưỡng này người chăn nuôi có thể khắc phục được 2 vấn đề, một là tránh tồn dư thức ăn lâu trong máng, hai là tăng khả năng hấp thu của lợn con
Sau khi cai sữa, lợn con thường bị khủng hoảng, tránh tình trạng đó cần giảm thức ăn hằng ngày Cách giảm lượng thức ăn cho ăn hàng ngày như sau: Ngày đầu cai sữa giảm 1/2 lượng thức ăn so với ngày trước cai sữa;
Ngày tiếp theo cai sữa giảm 1/3 lượng thức ăn so với ngày trước cai sữa; Ngày tiếp theo sữa giảm 1/4 lượng thức ăn so với ngày trước cai sữa Sau đó nếu quan sát thấy lợn không có vấn đề gì về đường tiêu hóa thì cho lợn ăn bình thường như trước ngày cai sữa rồi tăng dần theo nhu cầu của lợn con
Theo Pluske et al (1996), những lợn con được ăn một bữa trong ngày bị ỉa
chảy nhiều hơn so với nhóm lợn được ăn tự do, trái lại những con cho ăn hạn chế năng suất lại khá nhất Việc ăn quá nhiều có thể dẫn đến ứ máu trong dạ dày,
Trang 18ruột Vì vậy, cho ăn hạn chế trong thời gian sau cai sữa có hiệu quả rõ rệt đối với việc phòng tránh bệnh ỉa chảy Số lần cho ăn ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa của lợn con Khi cho ăn được ăn 3 lần/ngày thì sẽ tiêu hóa được 13,5% nhưng khi cho ăn 5 lần/ngày thì sẽ tiêu hóa được 19,7%
2.3.2 Nhu cầu về năng lượng
Khi nghiên cứu chế biến và phối trộn thức ăn cho lợn cũng cần chú ý đến mức năng lượng trong 1kg thức ăn Nhu cầu năng lượng của lợn tăng lên theo tuần tuổi nhưng nhu cầu năng lượng tính cho 1kg khối lượng cơ thể giảm theo tuổi Nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho vật nuôi là các loại hạt ngũ cốc như: ngô, thóc, gạo, cám gạo, cao lương, lúa mì,… Ngô vàng được coi là một loại thức ăn giàu cấp năng lượng, chứa nhiều axít béo thiết yếu và nhiều carotene (tiền vitamin A)
Từ khi đẻ ra đến 21 ngày tuổi, nguồn dinh dưỡng chủ yếu của lợn con là do sữa lợn mẹ cung cấp Vì thế, số lượng và chất lượng của sữa lợn mẹ ở giai đoạn này ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của lợn con
2.3.3 Nhu cầu protein và axit amin
Lợn con bú sữa có tốc độ phát triển mạnh về hệ cơ và khả năng tích lũy protein lớn do đó đòi hỏi về số lượng và chất lượng protein cao Trong 2 tuần đầu lượng sữa của lợn nái đạt đến mức cực thịnh, lợn con hầu như đã nhận được đầy
đủ lượng protein cần thiết cho sự phát triển của cơ thể Từ tuần tuổi thứ 3 cần bổ sung thêm protein để không ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của lợn con Trong khẩu phần ăn của lợn con cần có từ 18 – 20% protein thô, tỷ lệ protein và năng lượng đảm bảo từ 120 – 130g protein tiêu hóa/2500 kcal ME
Khi định mức protein cho các loại lợn cần chú ý đến chất lượng protein Tuy nhiên, giá trị sinh vật học của protein phụ thuộc vào thành phần các axit amin của nó Nếu khẩu phần ăn thiếu một axit amin nào đó nhu cầu về protein tăng lên rất nhiều Khẩu phần ăn của gia súc càng hoàn chỉnh, có đủ thành phần các axit amin sẽ làm giảm mức tiêu tốn thức ăn Đối với lợn con bú sữa quan trọng nhất là lysine và methionine, đôi khi còn thêm tryptophan Trong protein thô của khẩu phần ăn cho lợn con bú sữa cần có 5 – 5,6% lysine; 3 – 3,2% methionine và 1,4 – 1,5% tryptophan Để bổ sung các axit amin thiết yếu cho lợn con cách tốt nhất là dùng axit amin tổng hợp vì các loại axit amin tổng hợp thường được tiêu hóa 100% (Võ Trọng Hốt và cs., 2000)
Trang 19Như vậy, nhu cầu protein của lợn con chính là nhu cầu về các axit amin thiết yếu Nếu bổ sung không đầy đủ các axit amin thiết yếu cho lợn con, cả
về mặt số lượng và tỷ lệ các axit amin sẽ dẫn đến sinh trưởng của lợn con bị ảnh hưởng, lợn chậm lớn, còi cọc, ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của các giai đoạn tiếp theo
2.3.4 Nhu cầu khoáng chất
Khoáng ngoài chức năng cấu tạo mô cơ thể, khoáng còn tham gia vào nhiều quá trình chuyển hoá của mô cơ thể Trong thành phần cấu tạo của nhiều enzyme
có mặt các nguyên tố khác nhau Vì thế, thiếu khoáng con vật sẽ bị rối loạn trao đổi chất, sinh trưởng, sinh sản bị ngừng trệ, sức sản xuất giảm
Sữa của lợn mẹ có đầy đủ các chất dinh dưỡng nhưng hàm lượng các chất khoáng trong sữa mẹ thấp, trong đó các chất khoáng như: canxi (Ca); photpho (P); magie (Mg); iốt (I); sắt (Fe); đồng (Cu); kẽm (Zn)
Ca và P: Hai nguyên tố này có vai trò rất quan trọng trong hình thành xương Nếu cung cấp thiếu Ca sẽ có nguy cơ dẫn đến hiện tượng còi xương ở lợn con Mức cung cấp trong khẩu phần đối với Ca là 0,8% so với vật chất khô khẩu phần, đối với P là 0,6% so với vật chất khô khẩu phần Nguồn Ca và P được thường được
bổ sung trong khẩu phần ăn cho lợn con là bột xương, vôi bột, bột đá,
Fe và Cu: Hai yếu tố này chủ yếu tham gia vào quá trình tạo máu cho lợn con và là hai yếu tố bị hạn chế trong quá trình tạo sữa của lợn mẹ; vì vậy cần phải cung cấp trong khẩu phần đầy đủ cho lợn con Lượng sắt bổ sung vào khẩu phần ở mức 80ppm và bổ sung ở dạng FeSO2 (FeSO4 7H20) Tuy nhiên, hiện tượng thiếu máu do thiếu sắt thường xảy ra rất sớm trên lợn con, bởi vậy để khắc phục hiện tượng cần phải thực hiện bổ sung sắt bằng cách tiêm dextran sắt cho lợn con (Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt, 2007) Thông thường 1ml dextran sắt chứa từ 100 đến 150mg sắt Người chăn nuôi cần tiến hành tiêm lần thứ nhất vào ngày thứ 3 sau khi đẻ và có thể tiêm lần thứ 2 vào ngày thứ 13 Phương pháp này rất đơn giản và mang lại hiệu quả cao
Đồng chỉ cần một lượng rất nhỏ bổ sung vào khẩu phần cho lợn con với mức từ 6 – 8ppm Song đối với lợn con bú sữa lượng đồng có thể bổ sung vào khẩu phần với lượng từ 125 - 250ppm đem lại tốc độ sinh trưởng cao hơn Dạng
bổ sung đồng vào trong khẩu phần ăn cho lợn con thường là: CuSO4 5H2O, CuO, CuCO3 (Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt, 2007)
Trang 202.3.5 Nhu cầu vitamin
Từ “vitamin” miêu tả một hợp chấp hữu cơ khác với axit amin, carbohydrate, lipit và cơ thể của vật nuôi chỉ cần một lượng nhỏ cho sự tăng trưởng và sinh sản bình thường Một số vitamin có thể được tổng hợp từ các thức
ăn hoặc các chất đồng hoá khác hoặc do các vi khuẩn tạo ra trong đường ruột Vitamin tham gia vào hầu hết các quá trình trao đổi chất và hoạt động của
cơ thể như: là chất xúc tác sinh học, xúc tiến việc tổng hợp, phân giải các chất dinh dưỡng Trong cơ thể của vật nuôi có tới 850 loại enzyme trong đó có khoảng
120 loại có thành phần của vitamin tham gia Vitamin còn có trong các tế bào cơ thể và giúp lợn sinh trưởng phát dục bình thường Cơ thể lợn thường xuyên nhận được nguồn vitamin từ thức ăn Tuy nhiên với đối tượng lợn khác nhau sẽ có nhu cầu vitamin khác nhau
Vitamin được chia ra thành 2 nhóm: vitamin hoà tan trong mỡ và vitamin hoà tan trong nước Nhóm vitamin hoà tan trong mỡ bao gồm: các vitamin A, D,
E và K Nhóm vitamin hòa tan trong nước bao gồm: các vitamin nhóm B và vitamin C
Vitamin A có tác dụng bảo vệ lớp tế bào biểu mô cũng như hình thành nên lớp ngoài của màng nhày của nhiều hệ cơ quan hô hấp, cơ quan sinh sản và hệ thần kinh Đồng thời, nó có chức năng rất quan trọng đối với hoạt động thị giác; vì vậy, nếu thiếu vitamin A có thể dẫn đến mù Nhu cầu của vitamin A ở lợn trong 8 tuần tuổi đầu tiên
cần 75 - 605mg retinol acetate/kg thức ăn (Sheffy et al., 1954; Frape et al., 1959)
Theo NRC (1998), nhu cầu vitamin A của lợn từ 3 - 10kg là 2200 IU/kg khẩu phần) Vitamin D có nhiều loại song có 2 loại có giá trị đối với lợn đó là vitamin D2
và D3 Vitamin D3 tham gia vào chuyển hoá Ca, P, làm tăng sự hấp thu Ca, P ở vách ruột thông qua việc tạo pH thích hợp và tổng hợp nên protein vật mang Nếu thiếu vitamin D3 dẫn đến chức năng của cơ không bình thường do sự méo mó của các xương đang phát triển ở lợn con dẫn đến còi xương Nhu cầu vitamin D3 của lợn
con dùng khẩu phần casein - glucose là 100 IU/kg thức ăn (Miller et al., 1964)
Theo NRC (1998), nhu cầu vitamin D3 ở lợn con là 220 IU/kg khẩu phần
Vitamin E là một trong những vitamin quan trọng đối với lợn Chức năng của vitamin E là chống ôxy hoá màng tế bào Thiếu vitamin E dẫn đến hàng loạt các điều kiện bệnh lý như: suy thoái khung xương, cơ tim, tắc nghẽn mạch, sừng hoá dạ dày, thiếu máu, hoại tử gan và chết bất ngờ
Trang 21Nhóm các vitamin hoà tan trong nước có vai trò quan trọng trong sự trao đổi chất trong cơ thể Nhiều vitamin thuộc nhóm này có trong nguồn thức ăn tự nhiên và nồng độ đủ để ngăn ngừa hiện tượng thiếu trong điều kiện bình thường Tuy nhiên, nếu thiếu các vitamin nhóm này dẫn đến động vật giảm toàn bộ hoạt động trao đổi chất, giảm tốc độ sinh trưởng và hiệu quả chuyển hoá thức ăn cũng như khả năng thu nhận thức ăn
Vitamin B1 (Thiamin) tham gia vào quá trình trao đổi chất, chống viêm dây
thần kinh, khử carboxyl của axit pyruvic Miller et al (1955) ước tính nhu cầu
thiamin của lợn từ 2 - 10kg là 1,5 mg/kg thức ăn Lợn cai sữa lúc 3 tuần tuổi
nuôi tới 40kg cần khoảng 1,0 mg thiamin/kg thức ăn (Etten et al., 1940) NRC
(1998) đưa ra nhu cầu thiamin cho lợn từ 5 - 10kg là 1,0 mg/kg thức ăn
Vitamin B2 (Riboflavin) tham gia vào quá trình ôxy hoá hoàn nguyên, sự hô hấp của mô bào, vận chuyển hyđrô Ngoài ra, vitamin B2 còn tham gia vào quá trình tạo hemoglobin để phòng bệnh thiếu máu, tham gia vào sự hình thành axit chlohydric của dịch vị và muối mật Thiếu B2 dẫn đến động vật giảm tốc độ sinh trưởng, viêm da, rụng lông, ỉa chảy, nôn mửa Nhu cầu vitamin B2 của lợn con từ
3 - 5kg là 4 mg/kg khẩu phần, và 5 - 10kg là 3,5 mg/kg khẩu phần
Vitamin C (Ascorbic acid) là một chất ôxy hoá tan trong nước, tham gia quá trình ôxy hoá các axit amin có vòng thơm Vitamin C tăng cường sự tạo khung xương và răng Thiếu vitamin C, vật nuôi sẽ xuất huyết lấm tấm toàn thân
2.3.6 Nhu cầu nước của lợn
Nước có chức năng chính tạo hình cơ thể thông qua hình thể tế bào và giữ vai trò tối quan trọng trong việc điều hòa nhiệt độ cơ thể Mặc dù trong 3 tuần đầu lợn thường ăn ít thức ăn ăn vào, song lượng thức ăn thu nhận sẽ ít hơn nếu không cung cấp đủ nước uống (NRC, 2000)
Nước chiếm 50 - 60% trọng lượng cơ thể Trong máu và sữa, nước chiếm đến
80 - 95% Vì vậy, nếu cơ thể mất 10% nước sẽ gây rối loạn chức năng trao đổi chất
và nếu mất 20% lượng nước cơ thể, lợn con sẽ chết (Trương Lăng, 2003)
2.4 HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN CON
Trong chăn nuôi lợn con, hội chứng tiêu chảy ở lợn con xuất hiện khá phổ biến và gây nhiều thiệt hại về kinh tế
2.4.1 Khái niệm chung về hội chứng tiêu chảy
Tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý đặc thù ở đường tiêu
Trang 22hóa Biểu hiện lâm sàng này tùy theo đặc điểm, tính chất diễn biến, mức độ tuổi mắc bệnh Tùy theo yếu tố được coi là nguyên nhân chính mà nó được gọi theo nhiều tên bệnh khác nhau như: bệnh xảy ra với gia súc non theo mẹ được gọi là bệnh phân trắng lợn con, còn ở gia súc sau cai sữa là chứng khó tiêu, chứng rối loạn tiêu hóa, Tiêu chảy luôn là triệu chứng phổ biến trong các dạng bệnh của đường tiêu hóa, xảy ra mọi lúc, mọi nơi và đặc biệt là gia súc non có biểu hiện triệu chứng là ỉa chảy, mất nước và mất chất điện giải, suy kiệt cơ thể và có thể
dẫn đến trụy tim mạch (Radostits et al., 1994)
Tiêu chảy ở gia súc là một hiện tượng bệnh lý phức tạp gây ra bởi sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố Một trong những nguyên nhân quan trọng là sự tác động của ngoại cảnh bất lợi gây ra các stress cho cơ thể Mặt khác do quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng kém, chuồng trại không được vệ sinh sạch sẽ thường xuyên, thức ăn và nước uống bị nhiễm khuẩn, cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật gây bệnh xâm nhập vào vật chủ, đặc biệt là các vi sinh vật gây bệnh đường tiêu hóa dẫn tới sự nhiễm khuẩn và dễ xảy ra loạn khuẩn đường ruột Đây là một trong những nguyên nhân đóng vai trò quan trọng trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con Đặc điểm của sự rối loạn về tiêu hóa thường gây tiêu chảy nhiều lần trong ngày, trong phân có nhiều nước so với bình thường do tăng tiết dịch ruột
2.4.2 Một số nguyên nhân gây tiêu chảy
Có nhiều nguyên nhân gây ra tiêu chảy, tùy từng giai đoạn, lứa tuổi của lợn
mà có các nguyên nhân khác nhau Xác định được chính xác nguyên nhân gây bệnh là rất cần thiết, giúp chúng ta đưa ra những biện pháp phòng ngừa và chữa trị kịp thời
+ Bộ máy tiêu hóa của lợn con: Lợn con mới sinh bộ máy tiêu hóa phát
triển chưa hoàn chỉnh, khả năng tiết dịch tiêu hóa chưa đầy đủ Lượng axit chlohydric (HCl) tự do ít, không đủ để làm giảm độ pH trong ruột non làm ức chế quá trình xâm nhập và phát triển của vi khuẩn gây tiêu chảy ở lợn con Các enzyme tiêu hóa ở dạ dày và ruột non cũng còn quá ít, không đủ để tiêu hóa các loại thức ăn đơn giản
+ Chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng kém: Không cho lợn con bú sữa đầu đầy
đủ Sữa đầu ngoài thành phần dinh dưỡng cao còn có chứa một lượng kháng thể
từ mẹ truyền sang, giúp lợn con phòng chống bệnh trong 3 – 4 tuần lễ đầu Do vậy, lợn con phải được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Sau 24 giờ kháng thể trong
Trang 23sữa đầu sẽ giảm thấp, đồng thời lúc này enzyme tiêu hóa protein bắt đầu hoạt động sẽ phá hủy hết kháng thể trong sữa
Vệ sinh cuống rốn không tốt, lợn con sẽ bị viêm rốn, do đó sẽ rất dễ bị tiêu chảy Sắt rất cần cho lợn con để tạo hồng cầu, do trong sữa mẹ rất ít sắt nên phải cung cấp thêm cho lợn con Nếu lợn con không được tiêm sắt sẽ gây thiếu sắt dẫn đến thiếu máu, tiêu chảy Vì vậy, người chăn nuôi cần tiêm sắt cho lợn con vào khoảng 3 – 4 ngày tuổi sau khi sinh để phòng thiếu sắt cho lợn con Do vệ sinh chuồng trại kém, chuồng trại ẩm ướt, không sạch sẽ đây cũng là nguyên nhân gián tiếp gây ra tiêu chảy ở lợn con Ngoài ra, nguyên nhân có thể do thức ăn, nước uống của lợn mẹ và lợn con không đảm bảo vệ sinh và chất lượng kém hoặc thức ăn có chứa nấm mốc và độc tố,
+ Không gi ữ ấm cho lợn con: Lợn con bị lạnh sẽ dễ bị tiêu chảy do hoạt động
tiết dịch tiêu hóa bị giảm Do vậy, cần làm chuồng úm đúng cách cho lợn con
+ Nhiễm trùng đường ruột: Thường do các loài vi khuẩn đường ruột như:
E.coli, Salmonella, Shigella, Proteus, Clostridium, Campylobacter, Treponema hyodysenteriae , hoặc do các loại virus như: Rota virus,Corona virus, hoặc
cũng có thể do nhiễm ký sinh trùng như: giun đũa lợn, sán lá ruột lợn,
Sryptosporidium Chúng sống trong đường ruột của lợn con hoặc nhiễm từ môi trường bên ngoài vào và sẽ gây bệnh khi cơ thể lợn con không khỏe mạnh
2.4.3 Tình hình tiêu chảy của lợn con
Lợn con bị tiêu chảy là do nhiều nguyên nhân, thứ nhất lợn mẹ bị viêm vú, viêm tử cung, mất sữa Thứ hai là lợn con bị lạnh do độ ẩm, lạnh do không úm hoặc úm không tốt Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tiêu chảy ở lợn con Thứ ba là chăm sóc lợn mẹ, thức ăn cho lợn mẹ và đỡ đẻ không tốt, và không cung cấp đủ nước uống Thứ tư là do chuồng trại bị ô nhiễm
Cai sữa gây stress trên lợn con làm ảnh hưởng đến sinh trưởng, sinh lý, dịch
bệnh, đặc biệt là tiêu chảy do E.coli Ngày đầu tiên sau khi tách mẹ, lợn con ăn rất
ít, hiện tượng tiêu chảy gần như chưa có Ngày tiếp theo lợn con bắt đầu ăn tăng lượng thức ăn, hiện tượng tiêu chảy xuất hiện và tiêu chảy hàng loạt đạt đỉnh điểm
vào ngày thứ 3 và thứ 4, sau đó bắt đầu giảm dần vào các ngày tiếp theo
1.4.4 Một số biện pháp phòng và trị tiêu chảy cho lợn con
Tùy theo nguyên nhân gây bệnh, người chăn nuôi có thể đưa ra các phác đồ phòng và điều trị tiêu chảy ở lợn con khác nhau Một số biện pháp phòng và điều
Trang 24trị chính cho lợn con như sau:
Tập trung giải quyết vấn đề môi trường, tiêu độc để giải quyết mầm bệnh, đảm bảo nhiệt độ chuồng nuôi 30 – 340C đối với lợn con theo mẹ và 29 – 300C với lợn con sau cai sữa
Nâng cao sức đề kháng cho lợn con: Cho lợn con bú sữa đầu, tiêm sắt phòng thiếu máu, cung cấp protein chất lượng cao, bổ sung chất điện giải, khoáng chất, vitamin trong khẩu phần ăn hàng ngày,…c ó thể bổ sung thêm enzyme tiêu hóa Nếu do vi khuẩn phải điều trị bằng kháng sinh phổ rộng, có thể kết hợp 2 -
3 loại kháng sinh để nâng cao hiệu quả điều trị
2.5 CHẤT ĐIỀU VỊ
2.5.1 Khái niệm
Chất điều vị (flavor enhancers/potentiators) là tên gọi chung của một số phụ gia thực phẩm để làm tăng hương vị hiện có của các thực phẩm mà nó được thêm vào
Những năm gần đây, nhờ những phương pháp hiện đại, các nhà khoa học đã xác định có những vị trí tiếp nhận chất điều vị Monosodium glutamate trên lưỡi tạo ra sự cãm nhận về vị của chúng Trong số các chất làm tăng hương vị; acid glutamic, các muối glutamate và các ribonucleotides là hợp chất có vai trò quan trọng và được sử dụng rộng rãi nhất trong công nghiệp chế biến thực phẩm
2.5.2 Một số chất điều vị thường dùng
- Monosodium glutamate (MSG)
Axit glutamic, một trong 20 loại axit amin cấu thành nên protein trong cơ thể sinh vật, là chất tạo vị ngọt “thịt” cơ bản có trong thịt các loại động vật, protein thực vật
Bảng 2.1 Axit glutamic và muối của nó
Trang 25Năm 1908, MSG được giáo sư Kikunae Ikeda, trường Đại học Hoàng gia Tokyo - Nhật Bản phát hiện ra khả năng tạo một loại vị mới và ông đặt tên là vị umani MSG được thương mại hóa vào năm 1909 và sản phẩm được dùng trong công nghiệp thực phẩm ở dạng tinh thể màu trắng không mùi, không hút ẩm Chúng có độ hòa tan trong nước cực lớn (74gr/100ml nước, ở 250C) và phân ly ở dạng ion glutamate và sodium (natri)
Trên thị trường hiện nay có nhiều loại muối glutamate khác nhau nhưng chỉ có muối sodium (MSG) là loại có độ hòa tan cao nhất, tạo ra vị dễ chịu, thích hợp cũng như dễ dàng kết tinh trong quá trình sản xuất; do đó, chúng được sử dụng chủ yếu trong chế biến thực phẩm gia đình cũng như trong công nghiệp MSG bền nhiệt trong điều kiện chế biến thông thường Tuy nhiên, ở nhiệt độ cao, giống như các axit amin khác, chúng cũng tham gia vào phản ứng Maillard khi
có mặt các phân tử đường
Glutamate không bị phân hủy trong quá trình chế biến thực phẩm bình thường hoặc trong nấu nướng Glutamate sẽ bị biến đổi và mất khả năng tạo vị umani khi bị đốt cháy liên tục ở nhiệt độ 3000C trong 2 giờ (nhiệt độ cao nhất đạt được trong quá trình nấu thông thường là khoảng 2600C – đây là nhiệt độ sôi cao nhất của dầu ăn) Trong môi trường rất axit (pH 2,2 - 4,4) ở nhiệt độ rất cao, một phần của glutamate mất nước và bị chuyển đổi thành 5-pyrolidone-2carboxylate
Ở nhiệt độ rất cao, glutamate chuyển thành DL-glutamate trong môi trường axit mạnh hoặc kiềm mạnh, đặc biệt là môi trường kiềm Phản ứng Maillard (hay Brown reaction: phản ứng màu nâu) xảy ra khi glutamate kết hợp với đường khử các axit amin khác (Yoshida, 1978)
Công thức phân tử của MSG là C5H8NO4Na hoặc ở dạng ngậm một phân tử nước C5H8NO4Na.H2O, trọng lượng phân tử là 169gr/mol (dạng khan)
Công thức cấu tạo MSG Trước đây, MSG được cho là có vị hơi giống thịt và vị này là một yếu tố làm tăng cường vị của các thực phẩm khác, đặc biệt là thực phẩm giàu protein
Trang 26nhưng sau đó người ta thấy rằng, vị của thịt thực ra là do trong đó có chứa một lượng glutamate Khi lượng glutamate này giảm đi, mùi vị thịt đặc trưng cũng bị giảm đi đáng kể Nhiều người cho rằng MSG thực chất là một loại gia vị và khi kết hợp với hương vị của các thực phẩm khác, nó sẽ tạo ra hiệu ứng tăng cường hương vị cho thực phẩm đó
Có vài giả thiết liên quan đến cơ chế làm tăng cường vị của MSG như: MSG giúp làm tăng độ cảm nhận vị là do MSG làm tăng tiết nước bọt
- Disodium ribonucleotides
Disodium ribonucleotides hay còn gọi là disodium 5’-ribonucleotides là một sản phẩm thương mại làm tăng hương vị Disodium ribonucleotides là hỗn hợp của 2 hợp chất disodium guanylate và disodium inosinate Bản chất của chúng là các nucleotides và có nguồn gốc phổ biến trong tự nhiên Ở dạng thương mại, chúng thường được phối trộn với tỷ lệ 5:5 Trên thị trường, sản phẩm này thường được biết với tên gọi tắt là I+G và tại Việt Nam, các nhà sản xuất thực phẩm thường gọi sản phẩm này là “siêu bột ngọt”
- Disodium guanylate
Disodium guanylate là muối sodium của axit guanylic, còn được gọi là sodium 5’-guanylate hoặc disodium 5’-guanylate và tên hóa học quốc tế là guanosine-5’-monophotphate (GMP)
Bảng 2.2 Axit guanylic và muối của nó
Trang 27Công thức cấu tạo GMP
- Disodium inosinate
Disodium inosinate là muối sodium của axit inosinic, còn được gọi là disodium 5’- inosinate và tên hóa học quốc tế là inosine-5’-monophotphate (IMP)
Bảng 2.3 Axit inosinic và muối của nó
Công thức cấu tạo IMP
Trang 28Hai hợp chất inosinate và guanylate này được xem là không tạo ra vị umani
đặc trưng trong khi MSG tạo ra vị nhẹ, có thể được xem là vị umani Tuy nhiên,
khi sử dụng kết hợp các nguyên liệu có vị umani khác, chúng có khả năng làm
tăng vị gấp nhiều lần so với MSG nhưng hiệu ứng làm tăng vị của chúng khác
với MSG Theo ước tính của các nhà khoa học, inosinate có khả năng làm tăng vị
gấp 10 - 20 lần MSG Trong thực phẩm dạng lỏng, chúng còn có thể tạo ra cảm
giác làm tăng độ nhớt giúp cho cảm nhận thực phẩm trong miệng (mouthfeel) tốt
hơn, trong khi MSG không có tính chất này
2.5.3 Phản ứng sinh lý của chất điều vị đến quá trình tiêu hóa
Thử nghiệm loài chó cho thấy MSG tạo ra sự kích thích ăn, uống đáng kể
Tuy nhiên, nó còn phụ thuộc vào khả năng tiết dịch của tuyến tụy và lượng
protein (Naim et al., 1991)
Đối với chuột, những tác động tích cực của umani lên các thông số của quá
trình trao đổi chất đã được phát hiện MSG bổ sung vào bữa ăn đã làm các thộng
số trao đổi chất tiến dần đến mức của các thông số chuyển hóa protein (Viarouge
et al., 1992)
Các nghiên cứu gần đây cho biết thức ăn có bổ sung glutamate dưới dạng
MSG giúp tăng tiết nước bọt và IgA trong nước bọt (một kháng thể quan trọng trong
nước bọt) khi so sánh với thực phẩm không bổ sung MSG Với tác dụng gia tăng
việc tiết nước bọt và lượng IgA trong nước bọt, glutamate được cho là đóng vai trò
quan trọng với hoạt động sinh lý của khoang miệng (Hayakawa et al., 2008)
Bên cạnh đó, các nhà khoa học cũng nhận thấy rằng glutamate có tác dụng
giúp gia tăng lượng dịch vị, trong đó có pepsinogen và HCl tiết ra trong dạ dày
khi được ăn kèm thực phẩm; do đó, quá trình tiêu hóa diễn ra dễ dàng hơn
(Shina and Vasilevskaia, 1996)
2.5.4 Một số chức năng sinh học khác của chất điều vị
Bên cạnh việc làm tăng giá trị cảm quan cho thực phẩm, chất điều vị còn có
một số chức năng sinh học sau:
Axit glutamic rất cần cho sự sống Mặc dù, axit glutamic là một axit amin
không cần thiết nhưng nhiều thí nghiệm lâm sàng cho thấy đóng vai trò quan
trọng trong quá trình trao đổi chất của người và động vật, giúp xây dựng protit,
và các cấu tử của tế bào
Axit glutamic có thể đảm bảo nhiệm vụ chức năng tổng hợp nên các axit
Trang 29amin khác như: alanine, cysteine, proline,…nó tham gia vào phản ứng chuyển amin, giúp cho cơ thể tiêu hóa nhóm amin và tách NH3 ra khỏi cơ thể
Axit glutamic chiếm phần lớn thành phần protide và phần xám của não, đóng vai trò quan trọng trong các biến đổi sinh hóa ở hệ thần kinh trung ương Vì vậy trong y học axit glutamic còn được sử dụng axit glutamic với các trường hợp suy nhược thần kinh nặng, mỏi mệt, mất trí nhớ, sự đầu độc NH3 vào cơ thể, một số bệnh về tim, bệnh teo bắp thịt Axit glutamic dùng làm thuốc chữa các bệnh về thần kinh và tâm thần, bệnh chậm phát triển trí óc ở trẻ em, bệnh bại liệt bệnh hôn
mê gan
Axit glutamic phân bố rộng rãi trong tự nhiên dưới dạng hợp chất và dạng tự
do, có trong thành phần cấu tạo của protein động thực vật Trong mô, axit glutamic tạo thành từ NH3 và acid α-xetoglutaric Trong sinh vật đặc biệt là vi sinh vật, axit glutamic được tổng hợp theo con đường lên men từ nhiều nguồn carbon
2.6 GIỚI THIỆU CHẾ PHẨM MONOSODIUM GLUTAMATE
Chế phẩm Monosodium glutamate (MSG) do công ty MIWON của Hàn Quốc sản xuất tại Việt Nam
Hình 1.1.Công thức cấu tạo MSG
MSG được coi như một nguồn glutamine, là một trong 20 axit amin được
mã hóa bỡi mã di truyền tiêu chuẩn
* Tác dụng
- Kích thích tính thèm ăn của lợn con
- Làm tăng lượng thức ăn ăn vào
Trang 30- Tăng tăng trọng hằng ngày
- Nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn
* Liều lượng sử dụng
Khuyến cáo sử dụng vào khẩu phần ăn cho lợn ở các giai đoạn là 0,6 -
1,4%
Đóng gói: bao đựng 1kg hoặc 20kg/bao
2.7 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NƯỚC NGOÀI
2.7.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng, việc áp dụng những kết quả nghiên cứu mới và hiện đại đã và đang mang lại những lợi ích và hiệu quả cao cho người chăn nuôi
MSG là chất điều vị được sử dụng phổ biến trong cuộc sống hằng ngày của người Việt Nam nhưng trong chăn nuôi chưa có kết quả nghiên cứu nào công bố
về hiệu quả của MSG
2.7.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài
Trên thế giới, chất điều vị trong chăn nuôi nói chung và MSG nói riêng đã được sử dụng rất nhiều trong chăn nuôi gia súc Nhiều thí nghiệm đã chỉ ra rằng sử dụng MSG ở mức độ phù hợp đã có ảnh hưởng tích cực tới hiệu quả chăn nuôi Theo Gatel and Guion (1990) khi bổ sung 5g MSG/kg cho lợn con giai đoạn tập ăn đã làm tăng lượng thức ăn ăn vào (0,36%) tính từ thời điểm tập ăn đến 18 ngày tuổi, và bổ sung cho lợn trong suốt 13 ngày sau cai sữa đã làm tăng lượng thức ăn ăn vào (0,1%) cũng như làm tăng khả năng sinh trưởng của lợn (0,07%) Đồng thời tác giả cũng khẳng định việc bổ sung MSG vào khẩu phần ăn cho lợn con có khối lượng cai sữa thấp sẽ có hiệu quả hơn
Hewitt and Barneveld (2012) cho biết bổ sung MSG vào khẩu phần ăn cho lợn nái đã cải thiện lượng sữa và sinh trưởng của lợn con, cụ thể: Lợn con được nuôi bởi lợn nái ăn khẩu phần ăn bổ sung 1,15% MSG tăng trọng nhanh hơn (188g/con/ngày) so với đối chứng (172g/con/ngày) và mức bổ sung 1% glutamine (174g/con/ngày)
Rezaei (2013) cho thấy bổ sung MSG vào khẩu phần ăn cho lợn con sau cai sữa với các mức 0,5; 1; 2 và 4% đã cải thiện khả năng sinh trưởng của lợn con Tại 7 ngày sau cai sữa, bổ sung MSG từ 1 – 4% đã làm tăng chiều cao của lông nhung và đã làm giảm đáng kể tỉ lệ tiêu chảy trong suốt tuần đầu tiên sau cai sữa
Trang 31Theo Lin et al (2014) bổ sung vào khẩu phần ăn của lợn con ở 35±1 ngày
tuổi với mức 2% L-glutamate đã làm tăng sự hoạt động của enzyme glutamate oxaloacetate transaminase (GOT) – vai trò quan trọng trong chuyển hóa axit amin, ure và vòng axit tricarboxylic trong niêm mạc không tràng (jejunal mucosa), tăng chiều cao của vi nhung trong tá tràng và không tràng (duodenal and jejunal segments), tăng các receptor và nhân tố vận chuyển các axit amin trong niêm mạc ruột do đó tăng nồng độ glutamate, arginine, histidine, isoleucine, leucine, methionine, phenylalanine và threonine trong huyết tương Các tác giả cũng cho rằng khẩu phần ăn bổ sung 2% L-glutamate đã có tác dụng cải thiện đáng kể khả năng tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng ở không tràng của lợn con thí nghiệm
Các kết quả nghiên cứu trên cho thấy lợn ăn khẩu phần có sử dụng MSG cho tăng trọng và khả năng thu nhận thức ăn cao hơn, tỷ lệ tiêu chảy thấp hơn so với đối chứng không sử dụng MSG Đặc biệt, hiệu quả của MSG tăng lên đối với lợn con ở giai đoạn sau cai sữa
Trang 32PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 3.1.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
+ Lợn con lai (PiDu x LY) từ 7 - 40 ngày tuổi tại trại Tân Chi, Tiên Du, Bắc Ninh
- Vật liệu nghiên cứu
+ Chế phẩm Monosodium glutamate của công ty MIWON, Hàn Quốc sản xuất + Một số nguyên liệu sử dụng làm thức ăn thí nghiệm như : ngô, bột phun dịch cá,…
3.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu:
+ Công ty TNHH lợn giống DABACO, xã Tân Chi - huyện Tiên Du - tỉnh Bắc
Ninh
- Thời gian nghiên cứu:
+ Từ 20/8/2014 đến 20/1/2015
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Phân tích thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của một số nguyên liệu thức ăn chăn nuôi
- Xây dựng công thức thức ăn tập ăn cho lợn con có bổ sung chế phẩm MSG
- Xác định ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm MSG đến tốc độ sinh trưởng của lợn con giai đoạn từ 7 - 40 ngày tuổi
- Xác định ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm MSG đến khả năng thu nhận và chuyển hóa thức ăn của lợn con giai đoạn từ 7 - 40 ngày tuổi
- Xác định ảnh hưởng của mức bổ sung chế phẩm MSG vào khẩu phần đến
tỷ lệ mắc tiêu chảy của lợn con giai đoạn từ 7 – 40 ngày tuổi
- Hiệu quả của việc bổ sung chế phẩm MSG trong thức ăn cho lợn con từ 7
- 40 ngày tuổi
Trang 333.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.3.1 Phương pháp phân tích thành phần hoá học của thức ăn thí nghiệm
- Phương pháp lấy mẫu theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) (TCVN 4325: 2007)
- Định lượng hàm lượng xơ thô theo TCVN 4329: 2007
- Định lượng hàm lượng khoáng toàn phần theo TCVN 4327: 2007
- Định lượng hàm lượng protein thô theo TCVN 4328: 2007
- Định lượng hàm lượng lipit thô theo TCVN 4321: 2007
- Định lượng hàm lượng nước theo TCVN 4326: 2007
- Định lượng canxi theo TCVN 1526: 2001
- Định lượng photpho theo TCVN 1525: 2001
- Định lượng NaCl theo TCVN 4332: 2007
2.3.2 Phương pháp xây dựng công thức thức ăn hỗn hợp
Kết quả phân tích các nguyên liệu thức ăn được gửi về Ban công thức thuộc Phòng phân tích của nhà máy TOPFEED - DABACO để xây dựng công thức thức ăn thí nghiệm Các công thức thức ăn hỗn hợp thí nghiệm được xây dựng theo chương trình Brill Formulation
2.3.3 Bố trí thí nghiệm
* Đối với lợn con theo mẹ
Chọn 36 lợn nái (L x Y) nuôi con (10 lợn con/nái) Lợn nái đã được phối với đực PiDu Các nái đồng đều về số lứa đẻ (từ lứa 3 - 5) Lợn mẹ được chia thành 3 lô: lô đối chứng (ĐC), lô thí nghiệm 1 (TN1) và lô thí nghiệm 2 (TN2), mỗi lô có 12 lợn nái Mỗi lợn nái nuôi con được nuôi ở một ô chuồng (3 lô x 1 nái/ô x 12 nái) Tổng số lợn con theo mẹ của một lô là 120 con (10 con/ổ x 12 nái) Lợn con theo mẹ có khối lượng đồng đều (khối lượng trung bình 2,8 ± 0,1 kg/con) ở 7 ngày tuổi Lợn con được nuôi trong ô chuồng có sàn bằng nhựa, các chuồng có núm uống tự động và máng tập ăn cho lợn con Trong chuồng có hệ thống đèn sưởi, hệ thống làm mát tự động Lợn con được tiêm vaccine đầy đủ theo quy trình của Trại
Khẩu phần ăn của lô ĐC là khẩu phần ăn cơ sở (KPCS); đây là thức ăn hỗn hợp dạng viên cho lợn con từ 7 ngày tuổi – 10kg của Công ty thức ăn chăn nuôi NUTRECO – DABACO sản xuất Lô TN1 sử dụng KPCS có bổ sung 0,675% MSG và lô TN2 bổ sung 1,350% MSG Sơ đồ bố trí thí nghiệm lợn con theo mẹ
Trang 34* Đối với lợn sau cai sữa (từ 21 - 40 ngày)
Tiếp tục theo dõi lợn con của giai đoạn lợn con theo mẹ sau khi cai sữa ở 21 ngày tuổi được chuyển lên chuồng cai sữa Lợn con (PiDu x LY) sau cai sữa đồng đều nhau về khối lượng (6,5 ± 0,3 kg/con), được chia làm 3 lô gồm: lô ĐC,
lô TN1 và lô TN2 Mỗi lô thí nghiệm có 90 lợn con và chia thành 3 lần lặp lại (30con/lô/lần lặp lại x 3 lô TN x 3 lần lặp) Lợn cai sữa được nuôi trong một ô có sàn bằng nhựa Các chuồng có núm uống nước tự động và máng ăn cho lợn con Trong chuồng có hệ thống đèn sưởi, hệ thống làm mát và hệ thống bình pha thuốc điện giải Lợn được tiêm vaccine đầy đủ theo quy trình của Trại
Khẩu phần ăn của lô ĐC là khẩu phần ăn cơ sở (KPCS), đây là thức ăn hỗn hợp dạng viên cho lợn con từ 7 ngày tuổi – 10kg của Công ty thức ăn chăn nuôi NUTRECO – DABACO cung cấp Lô TN1 sử dụng KPCS có bổ sung 0,675% MSG và lô TN2 bổ sung 1,350% MSG Sơ đồ bố trí thí nghiệm lợn con giai đoạn
từ 21 – 40 ngày được trình bày ở Bảng 3.2
Bảng 3.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm lợn con giai đoạn từ 21 - 40 ngày tuổi
Trang 35Ở cả hai giai đoạn, lợn được cho ăn ít một nhưng cho ăn liên tục để đảm bảo lợn con được ăn đủ và tránh cám không bị hút ẩm
3.3.4 Các chỉ tiêu theo dõi
- Khối lượng sơ sinh (kg/con)
- Khối lượng 7 ngày tuổi (kg/con)
- Khối lượng 14 ngày tuổi (kg/con)
- Khối lượng lợn con ở 21 ngày tuổi (kg/con)
- Khối lượng lợn con ở 40 ngày tuổi (kg/con)
- Tiêu tốn thức ăn giai đoạn 7 - 21 ngày tuổi (g/con)
- Tiêu tốn thức ăn thức ăn giai đoạn 21 - 40 ngày tuổi (g/con)
- Tỉ lệ tiêu chảy giai đoạn 7 - 21 ngày tuổi (%)
- Tỉ lệ tiêu chảy giai đoạn 21 - 40 ngày tuổi (%)
3.3.5 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu
* Đối với lợn con theo mẹ
- Khối lượng sơ sinh (kg/con): Cân khối lượng lợn con sơ sinh bằng cân
đồng hồ Nhơn Hòa 2kg (sai số cho phép: ± 10g) Cân lợn sau khi đẻ ra, cắt rốn, lau khô và chưa cho bú sữa đầu
- Khối lượng cơ thể (kg/con): khối lượng lợn con lúc 7, 14, 21, 40 ngày
tuổi được cân bằng cân Nhơn Hòa 10kg (sai số cho phép: ± 50g) và 60kg (sai số cho phép: ± 300g) Lợn con được cân vào một ngày, giờ cố định và được cân khối lượng vào buổi sáng trước khi cho ăn và cân từng con một
- Tỷ lệ nuôi sống (%): Hàng ngày ghi chép số con chết và số con còn lại
trong từng đàn lợn con
Số con sống đến cuối kỳ (con)
Tỷ lệ nuôi sống (%) = x 100
Số con đầu kỳ (con)
- Tỉ lệ mắc tiêu chảy (%): Hằng ngày khi cho lợn ăn phải kiểm tra, phát
hiện kịp thời lợn con bị tiêu chảy trong từng đàn lợn thí nghiệm và đếm tổng số lợn con trong đàn Tỷ lệ tiêu chảy được xác định theo công thức:
Trang 36Số con bị tiêu chảy trong đàn (con)
Tổng số lợn con trong đàn (con)
+ Sinh trưởng của lợn con
Khối lượng cơ thể của lợn được theo dõi theo từng thời điểm cụ thể (7, 14, 21 và40 ngày tuổi) và cân lần lượt từng con tại thời điểm đó
- Sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày): Cân khối lượng lợn con của các lô thí
nghiệm tại các thời điểm: 7, 14, 21 và 40 ngày tuổi
(P2 – P1)
A =
T2 – T1
Trong đó:
A: Sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày)
P1: Khối lượng lợn con tại thời điểm T1 (kg)
P2: Khối lượng lợn con tại thời điểm T2 (kg)
T1, T2: Thời điểm cân lần trước và lần sau (ngày)
- Sinh trưởng tương đối (%): Cân khối lượng lợn con của các lô thí
nghiệm tại các thời điểm: 7, 14, 21 và 40 ngày tuổi
P2 – P1
R (%) = x 100
(P2 + P1)/2
R: Sinh trưởng tương đối (%)
P1: Khối lượng lợn con tại thời điểm trước (kg)
P2: Khối lượng lợn con tại thời điểm sau (kg)
- Lượng thức ăn thu nhận hàng ngày (g/con/ngày): Cân lượng thức ăn
cho ăn và thức ăn còn thừa hàng ngày vào một giờ nhất định vào buổi sáng