Để tạo đà tiếp tục đầu tư mạnh mẽ hơn nữa, phát huy những yếu tố tiềm năng để phát triển kinh tế xã hội của thành phố, từng bước tương xứng với vị trí quan trọng của thành phố trung tâm
Trang 11.3.3 Những vấn đề có tính quy luật thường phát sinh trong quá trình đô
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
Trang 22.2 Phạm vi nghiên cứu 32
2.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 32 2.3.2 Đánh giá quá trình đô thị hóa tại thành phố Nam Định 32 2.3.3 Đánh giá ảnh hưởng đô thị hóa đến việc quản lý sử dụng đất trên
2.3.4 Đề xuất một số giải pháp hạn chế ảnh hưởng của đô thị hóa đến việc quản lý sử dụng đất tại thành phố Nam Định 33
2.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 33
3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành
Trang 33.3.5 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến quản lý việc thực hiện quyền của
3.3.6 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến xây dựng hệ thống thông tin đất đai 72 3.3.7 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp 73 3.3.8 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến một số lĩnh vực khác 79 3.4 Đề xuất một số giải pháp hạn chế ảnh hưởng của đô thị hóa đến việc quản lý sử dụng đất trên địa bàn thành phố Nam Định 83 3.4.1 Giải pháp về lập và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 83 3.4.2 Giải pháp về tuyên truyền phố biến pháp Luật Đất đai 84 3.4.3 Giải pháp xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai 85
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
1.1 Tỷ lệ dân số đô thị các khu vực trên thế giới theo các năm 20 1.2 Biến động đất nông nghiệp của cả nước 27 3.1 Hệ thống giao thông thành phố Nam Định giai đoạn 2011 - 2014 40 3.2 Các công trình đô thị thành phố Nam Định giai đoạn 2011 - 2014 41 3.3 Biến động đất đai thành phố Nam Định giai đoạn 2005 – 2015 52 3.4 Tổng hợp các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất 68 3.5 Tổng hợp đăng ký thực hiện quyền của người sử dụng đất 70 3.6 Tổng hợp đăng ký thực hiện quyền của người sử dụng đất theo khu vực 71 3.7 Diện tích chuyển đổi cơ cấu cây trồng của các xã năm 2014 74 3.8 Tình hình đất trồng lúa bỏ hoang tại Tp Nam Định năm 2014 78 3.9 Diện tích đất trồng lúa bỏ hoang tại Tp Nam Định năm 2014 78 3.9 Biến động dân số và đô thị hoá TPNĐ giai đoạn 2005 - 2015 79 3.10 Biến động dân số và lao động giai đoạn 2005 – 2014 80
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
3.1 Sơ đồ vị trí địa lý thành phố Nam Định 36 3.2 Sơ đồ quy hoạch xây dựng thành phố Nam Định đến năm 2025 46 3.3 Khu đô thị mới Hòa Vượng - thành phố Nam Định 47 3.4 Khu Công nghiệp Hòa Xá- thành phố Nam Định 48 3.5 Khu vui chơi Đầm Đọ - Đầm Bét thành phố Nam Định 48 3.6 Khu di tích Đền Trần - chùa Tháp thành phố Nam Định 49 3.7 Cơ cấu sử dụng đất thành phố Nam Định năm 2005 51 3.8 Cơ cấu sử dụng đất thành phố Nam Định năm 2015 51 3.9 Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất thành phố Nam Định năm 2005 54 3.10 Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất thành phố Nam Định năm 2010 54 3.11 Sơ đồ kế hoạch sử dụng đất thành phố Nam Định năm 2015 56 3.12 Khu đô thị mới Mỹ Trung - Thành phố Nam Định 67 3.13 Bản đồ địa chính lồng ghép quy hoạch chi tiết sử dụng đất 70 3.14 Ô nhiễm môi trường tại cụm công nghiệp An Xá 83
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt,
là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bổ các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng; trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập,
bảo vệ được vốn đất như ngày nay
Nam Định là trung tâm chính trị kinh tế, văn hóa của tỉnh Nam Định; thành phố Nam Định được hình thành khá sớm dưới thời Pháp thuộc (1921), hiện nay được xác định là trung tâm của vùng Nam đồng bằng sông Hồng Đất đai ngày càng có giá trị về mọi mặt, vì thế yêu cầu đòi hỏi phải quản lý chặt chẽ, có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai theo hướng hiện đại và khách quan
Từ năm 2011 đến ngày 31/12/2014 thành phố Nam Định đã thực hiện việc giao đất, thu hồi đất cho 37 dự án với tổng diện tích là 61,75ha Tuy nhiên, việc thực hiện GPMB gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là vướng mắc về cơ chế chính sách, phát sinh nhiều mâu thuẫn trong bồi thường hỗ trợ và tái định cư Thành phố giao việc thực hiện GPMB cho các đơn vị khác nhau theo từng dự án Người
bị thu hồi đất giai đoạn trước so sánh kiến nghị với người bị thu hồi đất giai đoạn sau Việc thực hiện GPMB đã khó nhưng việc giao đất để thực hiện hiệu quả qũy đất đó còn khó hơn, nhiều cơ sơ, doanh nghiệp được giao đất đã sử dụng không đúng mục đích, không thực hiện đúng tiến độ dự án, để hoang lãng phí quý đất
Từ đó dẫn đến khiếu kiện kéo dài, đông người làm mất an ninh trật tự tại địa phương
Từ năm 2001 thành phố đã triển khai lập đồ án Quy hoạch chung xây dựng thành phố Nam Định đến năm 2020 để làm cơ sở cho công tác quản lý đất đai Qua quá trình đô thị với tốc độ nhanh, để đảm bảo yêu cầu đầu tư và quản lý
đô thị Thành phố Nam Định đã lập quy hoạch chung xây dựng thành phố Nam Định đến năm 2025, làm cơ sở tiếp tục triển khai quy hoạch chi tiết Theo Quyết định số 2084/QĐ-TTg ngày 22/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê
Trang 8duyệt điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố Nam Định đến năm 2025 diện tích thành phố Nam Định mở rộng từ 4.643,81 ha lên 18.445ha
Để tạo đà tiếp tục đầu tư mạnh mẽ hơn nữa, phát huy những yếu tố tiềm năng để phát triển kinh tế xã hội của thành phố, từng bước tương xứng với vị trí quan trọng của thành phố trung tâm vùng Nam đồng bằng sông Hồng thì ngoài những nhiệm vụ phải thực hiện như: phát huy tốt hơn nữa những lợi thế, vai trò, chức năng của một trung tâm kinh tế, văn hoá xã hội, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, bảo tồn và phát huy di sản văn hoá đặc sắc, … thì công tác quản lý, GPMB,
sử dụng đất đai phục vụ nhu cầu phát triển của các ngành một cách hợp lý và có hiệu quả là một trong những nhân tố có vị trí và vai trò quyết định
Mặt khác, đô thị hóa là xu thế tất yếu của một xã hội phát triển Mức độ đô thị hóa của mỗi địa phương có tùy thuộc vào sự phát triển của địa phương đó Bên cạnh những lợi ích mà việc đô thị hóa mang lại như: hệ thống cơ sở hạ tầng được cải thiện, tạo thêm nhiều việc làm, nâng cao đời sống cho người dân, thì những ảnh hưởng của nó đến xã hội cũng không nhỏ như: Tác động đến công tác quản lý: làm thay đổi cơ bản tư duy quản lý đất khu vực nông thôn sang khu vực
đô thị; Tác dộng đến người sử dụng đất: trình độ lao động ở nông thôn thấp, đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế, ảnh hượng tới sản xuất nông nghiệp; việc ô nhiễm môi trường ngày càng nặng, mối quan hệ xã hội ngày càng xấu đi, nhất là công tác quản lý đất đai ngày càng phức tạp Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa là không thể tránh khỏi nên cần phải nghiên cứu các giải pháp hạn chế ảnh hưởng của đô thị hóa đến quản lý sử dụng đất.Từ nhưng vấn đề nêu trên yêu cầu khách quan cần thiết phải có hệ thống giải pháp mới để quản lý đất đai khi đô thị hóa phát triển mạnh Nhận thức rõ được tầm quan trọng của vấn đề này, tác giả chọn
đề tài: “Ảnh hưởng của đô thị hóa đến quản lý sử dụng đất tại thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định”,
Trang 9chế ảnh hưởngcủa đô thị hóa đến việc sử dụng đất tại thành phố Nam Định
3 Yêu cầu của đề tài
- Các thông tin, số liệu, tài liệu điều tra phải trung thực, chính xác đảm bảo độ tin cậy và phản ánh đúng thực trạng SDĐ trên địa bàn nghiên cứu
- Việc phân tích, xử lý số liệu trên cơ sở khoa học, có tính định lượng bằng các phương pháp nghiên cứu thích hợp
- Phải nắm rõ các nội dung trọng tâm cần thực hiện của đề tài
- Đánh giá đúng hiện trạng SDĐ trên địa bàn thành phố Nam Định
- Đánh giá đúng thực trạng ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến tình hình quản lý và SDĐ
- Đề xuất giải pháp hạn chế ảnh hưởng của đô thị hóa đến quản lý sử dụng đất có tính khả thi phù hợp với tình hình thực tế, cụ thể tại thành phố Nam Định
Trang 10Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số vấn đề cơ bản về đô thị hóa
tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn (Bộ Xây dựng, 2009)
Dưới khía cạnh xã hội học: đô thị và nông thôn là hai khái niệm về mặt nội dung có hàng loạt đặc điểm có tính đối lập nhau Có một số nhà lý luận xã hội học lại cho rằng, để phân biệt giữa đô thị và nông thôn theo sự khác biệt giữa chúng về mặt kinh tế, xã hội và môi trường Như về mặt kinh tế thì giữa đô thị và nông thôn có sự khác biệt về lao động, nghề nghiệp, mức độ và cách thu nhập về dịch vụ, … Về mặt xã hội thì đó có sự khác biệt trong lối sống, giao tiếp, văn hóa, gia đình, mật độ dân số, nhà ở, … Về mặt môi trường thì chủ yếu ở đây là môi trường tự nhiên, mức độ ô nhiễm, (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005) Nhấn mạnh từ góc độ xã hội thì cả đô thị và nông thôn đều được coi là những hệ thống xã hội, những cộng đồng xã hội có những đặc trưng riêng biệt như những xã hội nhỏ và trong đó có đầy đủ các yếu tố, các vấn đề xã hội và các thiết chế xã hội Vì vậy, trước hết đô thị và nông thôn cần được xem xét như một
cơ cấu xã hội, trong đó có hàng loạt các yếu tố, các lĩnh vực nằm trong mối quan
hệ chặt chẽ với nhau
1.1.1.1 Tiêu chuẩn cơ bản để phân loại đô thị
Căn cứ Điều 6 của Nghị định số 42/2009/NĐ - CP ngày 07/05/2009 của Chính phủ quy định về việc phân loại đô thị và thông tư số 34/2009/TT - BXD ngày 30/09/2009 của Bộ Xây dựng quy định chi tiết về một số nội dung của Nghị
Trang 11định 42/2009/NĐ - CP, các tiêu chuẩn cơ bản để phân loại đô thị được xem xét, đánh giá trên cơ sở hiện trạng phát triển đô thị tại năm trước liền kề năm lập đề
án phân loại đô thị, hoặc tại thời điểm lập đề án phân loại đô thị, bao gồm (Chính phủ, 2009):
Chức năng đô thị
Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định
Các chỉ tiêu thể hiện chức năng của một đô thị bao gồm:
- Vị trí, vai trò của đô thị trong hệ thống đô thị cả nước: được xác định trên cơ sở quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam, quy hoạch xây dựng vùng liên tỉnh, vùng tỉnh, vùng liên huyện, vùng huyện;
+ Tổng thu ngân sách trên địa bàn (tỷ đồng/năm)
+ Tổng chi ngân sách (tỷ đồng/năm)
+ Cân đối thu chi ngân sách
+ Thu nhập bình quân đầu người năm so với cả nước (lần)
+ Mức tăng trưởng kinh tế trung bình 3 năm gần nhất (%)
+ Tỷ lệ hộ nghèo được xác định theo quy định hiện hành (%)
+ Tỷ lệ tăng dân số hàng năm (%)
Quy mô dân số toàn đô thị
Tối thiểu phải đạt 4 nghìn người trở lên
- Quy mô dân số toàn đô thị bao gồm dân số thường trú và dân số tạm trú
Trang 12đã quy đổi khu vực nội thị và khu vực ngoại thị
- Quy mô dân số của khu vực nội thị và của khu vực ngoại thị được xác định gồm dân số thống kê thường trú và dân số tạm trú đã quy đổi Dân số tạm trú từ 6 tháng trở lên được tính như dân số thường trú
Mật độ dân số đô thị
Phải phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn
Mật độ dân số đô thị phản ánh mức độ tập trung dân cư của khu vực nội thị được tính theo công thức sau:
S
N
Trong đó:
D: Mật độ dân số trong khu vực nội thị (người /km2);
N1: Dân số của khu vực nội thị đã tính quy đổi (người);
S: Diện tích đất xây dựng đô thị trong khu vực nội thị không bao gồm các diện tích tự nhiên như núi cao, mặt nước, không gian xanh (vùng sinh thái, khu
dự trữ thiên nhiên được xếp hạng về giá trị sinh học ) và các khu vực cấm không được xây dựng (km2)
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp
Được tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động
Lao động phi nông nghiệp của đô thị: là lao động trong khu vực nội thị thuộc các ngành kinh tế quốc dân như: công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, bưu điện, thương nghiệp, cung ứng vật tư, dịch vụ công cộng, du lịch, khoa học, giáo dục (học sinh, sinh viên không tính trong lực lượng lao động), văn hoá, nghệ thuật, y tế, bảo hiểm, thể thao, tài chính, tín dụng, ngân hàng, quản lý nhà nước và lao động khác không thuộc ngành sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp (lao động làm muối, đánh bắt cá, công nhân lâm nghiệp được tính là lao động phi nông nghiệp)
Trang 13- Hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật: giao thông, cấp điện và chiếu sáng công cộng, hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước, công viên cây xanh, xử lý các chất thải, nghĩa trang, thông tin, bưu chính viễn thông
+ Khi xây dựng các trục giao thông chính của đô thị phải đảm bảo đầu tư đồng bộ các công trình hạ tầng kỹ thuật khác như: cấp nước, thoát nước, thông tin, bưu chính viễn thông, cấp điện, chiếu sáng, cây xanh
+ Khu vực ngoại thị phải được đầu tư xây dựng theo quy hoạch được duyệt đảm bảo sự đồng bộ các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội tại các khu dân cư; mạng hạ tầng khung kết nối nội, ngoại thị và vùng xung quanh; các công trình hạ tầng kỹ thuật đầu mối; bảo vệ cảnh quan sinh thái và vùng ưu tiên phát triển nông nghiệp
Kiến trúc, cảnh quan đô thị
Kiến trúc, cảnh quan đô thị được đánh giá căn cứ các chỉ tiêu sau:
Đã có quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị hoặc quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc từng khu vực đô thị được duyệt Việc xây dựng phát triển đô thị phù hợp và tuân thủ quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị;
- Có khu đô thị mới đã xây dựng đồng bộ; có khu đô thị mới được công nhận là khu đô thị mới kiểu mẫu; khu cải tạo chỉnh trang đô thị có các khu nhà ở, khu phố;
- Có các tuyến phố văn minh đô thị: có kiến trúc mặt phố hài hòa, có hè phố đủ mặt lát; đảm bảo mỹ quan đô thị về chiếu sáng, cây xanh, điểm nghỉ, thiết
bị che chắn nắng, tường rào công trình, biển hiệu, quảng cáo, nơi bán hàng, chỗ
đổ xe; hệ thống đường dây (thông tin liên lạc và viễn thông, điện chiếu sáng, cấp điện sinh hoạt) được xây dựng ngầm;
Trang 14- Có các không gian công cộng của đô thị bao gồm không gian sinh hoạt cộng đồng, công viên, vườn hoa, quảng trường, khu vực đi bộ được tổ chức là không gian mở, có điểm vui chơi nghỉ ngơi giải trí phục vụ đời sống tinh thần của dân cư đô thị;
- Có công trình kiến trúc tiêu biểu, công trình lịch sử văn hóa, di sản, danh thắng có ý nghĩa quốc gia, quốc tế hoặc đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hội nghề nghiệp hoặc các tổ chức quốc tế công nhận
1.1.1.2 Phân loại đô thị
Căn cứ Chương 2 tiêu chuẩn phân loại đô thị của Nghị định 42/2009/NĐ -
CP ngày 07/05/2009 của Chính phủ quy định về việc phân loại đô thị, đô thị Việt Nam được phân loại như sau (Chính phủ, 2009):
Đô thị loại đặc biệt
- Chức năng đô thị là Thủ đô hoặc đô thị có chức năng là trung tâm kinh
tế, tài chính, hành chính, khoa học - kỹ thuật, giáo dục - đào tạo, du lịch, y tế, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước
- Quy mô dân số toàn đô thị từ 5 triệu người trở lên
- Mật độ dân số khu vực nội thành từ 15.000 người/km2 trở lên
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu đạt 90% so với tổng số lao động
- Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị
+ Khu vực nội thành: được đầu tư xây dựng đồng bộ và cơ bản hoàn chỉnh, bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh môi trường đô thị; 100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường;
+ Khu vực ngoại thành: được đầu tư xây dựng cơ bản đồng bộ mạng lưới
hạ tầng và các công trình hạ tầng kỹ thuật đầu mối phục vụ đô thị; hạn chế tối đa việc phát triển các dự án gây ô nhiễm môi trường; mạng lưới công trình hạ tầng tại các điểm dân cư nông thôn phải được đầu tư xây dựng đồng bộ; phải bảo vệ những khu vực đất đai thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, vùng xanh phục
vụ đô thị và các vùng cảnh quan sinh thái
Trang 15- Kiến trúc, cảnh quan đô thị: thực hiện xây dựng phát triển đô thị theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị Các khu đô thị mới phải đạt tiêu chuẩn đô thị kiểu mẫu và trên 60% các trục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị, có các không gian công cộng, phục vụ đời sống tinh thần nhân dân,
có các tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu mang ý nghĩa quốc tế
+ Đô thị trực thuộc tỉnh có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, hành chính, giáo dục - đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một hoặc một số vùng lãnh thổ liên tỉnh
- Quy mô dân số đô thị
+ Đô thị trực thuộc Trung ương có quy mô dân số toàn đô thị từ 1 triệu người trở lên;
+ Đô thị trực thuộc tỉnh có quy mô dân số toàn đô thị từ 500 nghìn người trở lên
- Mật độ dân số bình quân khu vực nội thành
+ Đô thị trực thuộc Trung ương từ 12.000 người/km2 trở lên;
+ Đô thị trực thuộc tỉnh từ 10.000 người/km2 trở lên
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành tối thiểu đạt 85% so với tổng số lao động
Đô thị loại II
- Chức năng đô thị
+ Đô thị có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, hành chính, giáo dục - đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu
Trang 16trong vùng tỉnh, vùng liên tỉnh có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một vùng lãnh thổ liên tỉnh
+ Trường hợp đô thị loại II là thành phố trực thuộc Trung ương thì phải
có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, hành chính, giáo dục - đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc
tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước
- Quy mô dân số toàn đô thị phải đạt từ 300 nghìn người trở lên
Trong trường hợp đô thị loại II trực thuộc Trung ương thì quy mô dân số toàn đô thị phải đạt trên 800 nghìn người
- Mật độ dân số khu vực nội thành
Đô thị trực thuộc tỉnh từ 8.000 người/km2 trở lên, trường hợp đô thị trực thuộc Trung ương từ 10.000 người/km2 trở lên
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành tối thiểu đạt 80% so với tổng số lao động
Đô thị loại III
- Chức năng đô thị
Đô thị là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, hành chính, giáo dục - đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh Có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng trong tỉnh, một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh
- Quy mô dân số toàn đô thị từ 150 nghìn người trở lên
- Mật độ dân số khu vực nội thành, nội thị từ 6.000 người/km2 trở lên
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành, nội thị tối thiểu đạt 75% so với tổng số lao động
Đô thị loại IV
- Chức năng đô thị
Đô thị là trung tâm kinh tế, văn hóa, hành chính, khoa học - kỹ thuật, giáo dục - đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu của một vùng trong tỉnh hoặc một tỉnh Có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một
Trang 17vùng trong tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với một tỉnh
- Quy mô dân số toàn đô thị từ 50 nghìn người trở lên
- Mật độ dân số khu vực nội thị từ 4.000 người/km2 trở lên
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thị tối thiểu đạt 70% so với tổng số lao động
Đô thị loại V
- Chức năng đô thị
Đô thị là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về kinh tế, hành chính, văn hóa, giáo dục - đào tạo, du lịch, dịch vụ có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện hoặc một cụm xã
- Quy mô dân số toàn đô thị từ 4 nghìn người trở lên
- Mật độ dân số bình quân từ 2.000 người/km2 trở lên
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tại các khu phố xây dựng tối thiểu đạt 65% so với tổng số lao động
1.1.1.3 Vai trò của đô thị trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Đô thị tượng trưng cho thành quả kinh tế, văn hóa của một quốc gia, là sản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất kỹ thuật và văn hóa
Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, có khả năng tiếp nhận các thành tựu khoa học kỹ thuật của khu vực và trên thế giới
1.1.2 Đô thị hóa
1.1.2.1 Khái niệm về đô thị hóa
Một trong những vấn đề nổi bật của sự phát triển thế giới là sự gia tăng nhanh chóng số lượng và quy mô các đô thị, trong đó tập trung các hoạt động chủ yếu của con người, nơi diễn ra cuộc sống vật chất và tinh thần của một bộ phận dân số Các đô thị chiếm vị trí to lớn trong quá trình phát triển xã hội Một trong các khuynh hướng định cư lâu đời của loài người là đô thị hóa Quá trình đô thị hóa ra đời vào lúc nền canh tác nông nghiệp đã ở trình độ khá cao như đã có thủy lợi, thành lập kho tàng lưu trữ và phân bố lương thực… tức
Trang 18là vào khoảng 2.000 năm trước Công nguyên Các khu vực đô thị lúc đầu thường mọc lên ở dọc bờ sông thuận tiện giao thông, nguồn nước Sự hình thành các đô thị gia tăng mạnh mẽ nhờ các tiến bộ về công nghiệp của thế kỉ trước và hiện nay Các
đô thị là thị trường lao động rộng lớn của dân cư có mức sống cao với điều kiện giao thông và dịch vụ thuận lợi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2007) Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về đô thị hóa, dưới đây là khái niệm được sử dụng phổ biến:
Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân
đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực Nó cũng có thể tính theo tỉ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian Nếu tính theo cách đầu thì nó còn được gọi là mức độ đô thị hóa; còn theo cách thứ hai, nó có tên là tốc độ đô thị hóa
Đô thị hoá là sự biến đổi toàn diện kinh tế - xã hội nhiều mặt, trên cái nhìn hẹp hơn đó là hiện tượng dịch cư nghề nghiệp từ lĩnh vực nông nghiệp sang phi nông nghiệp với tất cả các hệ quả của nó Và đô thị hoá là quá trình kinh tế - xã hội tất yếu sẽ xảy ra mà không ngoại trừ bất kỳ quốc gia nào
Đô thị hoá được hiểu là một quá trình phát triển mang tính kinh tế - xã hội
- lịch sử của các hình thái cư trú (định cư) và của các điều kiện sống đô thị hay theo kiểu đô thị Đô thị hoá không chỉ là sự gia tăng tương đối hay tuyệt đối của dân cư đô thị, sự phát triển của các đô thị hay quần cư đô thị (siêu đô thị), sự phát triển của hình thức cư trú kiểu đô thị mà còn gắn liền với những thay đổi kinh tế -
xã hội ở đô thị và nông thôn, gắn kết với sự thay đổi về cơ cấu xã hội, nghề nghiệp, nhân khẩu học, dân số học, phong cách sống, trình độ văn hoá của dân cư cũng như sự phân bố của dân cư và lực lượng sản xuất xã hội trên phạm vi quốc gia và vùng lãnh thổ (Phạm Kim Giao, 2011)
1.1.2.2 Đặc trưng của đô thị hóa
Đô thị hóa là hiện tượng mang tính toàn cầu và có những đặc trưng chủ yếu sau đây:
Một là, số lượng các thành phố, kể cả các thành phố lớn tăng nhanh, đặc biệt là sau chiến tranh thế giới thứ hai
Trang 19Hai là, quy mô dân số tập trung trong mỗi thành phố ngày càng lớn, số lượng thành phố có trên một triệu dân ngày càng nhiều
Ba là, việc hình thành và phát triển nhiều thành phố gần nhau về mặt địa
lý, liên quan chặt chẽ với nhau do phân công lao động đã tạo nên các vùng đô thị Thông thường vùng đô thị bao gồm một vài thành phố lớn và xung quanh chúng là các thành phố nhỏ vệ tinh
Bốn là, dân số thành thị có xu hướng tăng nhanh do quá trình di dân nông thôn - thành thị, đang làm thay đổi tương quan dân số thành thị và nông thôn, nâng cao tỷ trọng dân thành thị trong tổng số dân
Năm là, mức độ đô thị hóa biểu thị trình độ phát triển xã hội nói chung, song có đặc thù riêng cho mỗi nước Đối với các nước phát triển, đô thị hóa diễn
ra theo chiều sâu, chất lượng cuộc sống ở các thành phố ngày càng hoàn thiện Trong các nước đang phát triển, tốc độ đô thị hóa rất cao, đặc biệt trong các thập
kỷ gần đây, quá trình đô thị hóa diễn ra theo chiều rộng đang đặt ra nhiều vấn đề khó khăn cần giải quyết như vấn đề đất đai, thất nghiệp, nghèo đói, ô nhiễm môi trường và tệ nạn xã hội
1.1.2.3 Vai trò của đô thị hóa
- Đô thị hóa làm thay đổi cơ cấu lao động trong các khu vực kinh tế
- Đô thị hóa làm số dân sống trong đô thị ngày càng tăng Đây là yếu tố đặc trưng nhất của quá trình đô thị hóa Dân cư sống trong khu vực nông thôn sẽ chuyển thành dân cư sống trông đô thị, lao động chuyển từ hình thức lao động khu vực I sang khu vực II, III, cơ cấu lao động chuyển từ lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp, dịch vụ
- Đô thị hóa gắn liền với việc hình thành và phát triển các khu công nghiệp, làm thay đổi cục diện sản xuất, phương thức sản xuất
- Đô thị hóa tạo ra hệ thống không gian đô thị Cùng với sự phát triển các trung tâm đô thị, các khu dân cư với nhiều loại quy mô đã tạo thành các vành đai
đô thị, các chùm đô thị và các vành đai, các chùm đô thị này đều phát triển
- Đô thị hóa góp phần phát triển trình độ văn minh của quốc gia nói chung và văn minh đô thị nói riêng Đô thị hóa phát triển cơ sở hạ tầng, phát
Trang 20triển các cơ sở văn hóa, giáo dục, phát triển sự giao lưu trong nước và nước ngoài Đô thị là điều kiện để tiếp nhận nền văn minh thì từ bên ngoài và phát triển nền văn minh trong nước
1.1.3 Tác động của quá trình đô thị hoá đối với kinh tế - xã hội
1.1.3.1 Tác động tích cực
Đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế:
Đô thị hóa gắn liền với sự phát triển khoa học kỹ thuật, tập trung lao động
có chất lượng cao, cơ sở hạ tầng được đầu tư phát triển hoàn chỉnh Những yếu tố này giúp cho chi phí vận tải, chi phí sản xuất giảm đáng kể Từ đó, hiệu quả kinh
tế tăng, giúp tăng trưởng kinh tế nhanh chóng
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Đô thị hóa thường đi đôi với công nghiệp hóa, hiện đại hóa Quá trình này biến dân cư nông thôn trở thành dân đô thị, với sự chuyển dịch cơ cấu lao động
từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ; biến quần cư nông thôn thành quần
cư thành thị Tác động này làm ngành nông nghiệp giảm dần tỉ trọng, tăng dần tỉ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ
Thay đổi đặc điểm dân số
+ Gia tăng dân số và tỉ lệ thị dân: Quá trình đô thị hóa tạo nên sức hút rất
mạnh mẽ dân cư từ các vùng nông thôn chuyển vào đô thị Vì thế, quy mô dân số
và tỉ lệ dân thành thị tăng nhanh chóng
+ Thay đổi kết cấu dân số: Quá trình đô thị hóa làm thay đổi cơ cấu dân
số theo độ tuổi: Do chất lượng cuộc sống người dân đô thị được nâng cao, tỉ lệ sinh tại các đô thị giảm xuống Thêm vào đó, số dân nhập cư vào các thành phố lớn chủ yếu trong độ tuổi lao động nên tỉ lệ dân số phụ thuộc giảm mạnh, tỉ lệ dân số trong độ tuổi lao động tăng lên Đây là lực lượng lao động dồi dàotạo điều kiện cho các ngành kinh tế phát triển nhanh chóng
Tăng cường hiệu quả sử dụng đất
Đất đô thị có giá trị rất lớn do chức năng và tính chất sử dụng cao độ của
nó Vì thế, quá trình đô thị hóa luôn gắn liền với quá trình chuyển đổi mục đích SDĐ: giảm diện tích đất nông nghiệp, tăng diện tích đất đô thị, làm giá đất có sự
Trang 21biến động mạnh mẽ
Nâng cao chất lượng cuộc sống
+ Tăng thu nhập bình quân đầu người
Quá trình đô thị hóa có tác động rất mạnh mẽ đến sự tăng trưởng kinh tế, giúp tăng thu nhập bình quân đầu người, nâng cao chất lượng cuộc sống
+ Tăng chất lượng giáo dục
Do chất lượng cuộc sống và nhu cầu về lực lượng lao động có trình độ chuyên môn ngày càng cao, giáo dục tại đô thị được quan tâm phát triển Chính sách xã hội hóa giáo dục tại các khu vực đô thị hóa được quan tâm tích cực từ các thành phần kinh tế Nhiều trường tư thục, dân lập các cấp hình thành và phát triển, tạo điều kiện đáp ứng số lượng học sinh và nhu cầu xã hội ngày càng tăng
+ Tăng thu nhập bình quân đầu người: Quá trình đô thị hóa có tác động
rất mạnh mẽ đến sự tăng trưởng kinh tế, giúp tăng thu nhập bình quân đầu người,
đó chính là cơ sở nâng cao chất lượng cuộc sống người dân
+ Tăng chất lượng giáo dục: Do chất lượng cuộc sống và nhu cầu về lực
lượng lao động có trình độ chuyên môn ngày càng cao, giáo dục tại đô thị được quan tâm phát triển
Tác động đến môi trường tự nhiên: Do ý thức cải tạo và bảo vệ môi trường
của người dân được nâng cao, hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống người dân cải thiện, hoạt động vệ sinh môi trường ngày càng hiệu quả… giúp môi trường sống của người dân đô thị được cải thiện đáng kể, đặc biệt tại các khu dân cư mới Bên cạnh đó, quá trình quy hoạch đô thị cũng khiến cảnh quan tự nhiên thay đổi, được điều chỉnh hợp lí, làm tăng vẻ mỹ quan đô thị (Phạm Văn Nhật, 2003)
1.1.3.2 Tác động tiêu cực
Đô thị hóa nếu không xuất phát từ công nghiệp hoá, không phù hợp, cân đối với quá trình công nghiệp hoá thì việc chuyển cư ồ ạt từ nông thôn ra thành phố sẽ làm cho nông thôn mất đi một phần lớn nhân lực Trong khi đó nạn thiếu việc làm, nghèo nàn ở thành phố ngày càng phát triển, điều kiện sinh hoạt ngày càng thiếu thốn, môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, từ đó dẫn đến hiện tượng tiêu cực trong trong đời sống kinh tế - xã hội Thông thường quá trình này
Trang 22không phải là tác nhân mạnh vì mức độ tăng trưởng dân cư tự nhiên của thành phố thường thấp hơn nông thôn Sự chuyển dịch dân cư từ nông thôn ra thành thị như là sự nhập cư đến đô thị Đô thị hoá có tác động không nhỏ đến sinh thái và kinh tế khu vực Sự gia tăng quá mức của không gian đô thị so với thông thường gọi là “sự bành trướng đô thị”, thông thường để chỉ những khu đô thị rộng lớn mật độ thấp phát triển xung quanh thậm chí vượt ngoài ranh giới đô thị
Sự mất cân đối nghiêm trọng giữa đô thị và nông thôn: Quá trình công
nghiệp hoá và đô thị hoá đã dẫn đến tình trạng di dân từ nông thôn lên thành thị
Sự chênh lệch này còn thể hiện ở chất lượng giáo dục, cơ hội nâng cao thu nhập gia đình, chất lượng các phúc lợi xã hội và các dịch vụ công cộng khác giữa vùng nông thôn và thành thị
Sự mất cân đối trong cơ cấu kinh tế: Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đã dẫn đến mức độ đô thị hoá nhanh chóng, dẫn theo quy mô và vị trí của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế bị giảm dần Do không chú trọng đúng mức đến phát triển nông nghiệp, khu vực nông thôn đã gặp phải các vấn đề như ô nhiễm môi trường sinh thái do chất thải công nghiệp và phân hoá học, năng xuất nông nghiệp thấp do đất đai bị ô nhiễm, mức sống của nông dân không được nâng cao Chính sách cơ giới hoá nông nghiệp đã khiến nông dân lâm vào cảnh nợ nần
do gánh nặng về vốn nông nghiệp, chi phí thuê lao động do thiếu nhân công ở vùng nông thôn, cùng các chi phí sinh hoạt (Trần Thị Bích Huyền, 2011)
Nhiều thành phố không phát huy tác dụng trong quá trình đô thị: Bất kỳ
tỉnh nào cũng quy hoạch, vay tiền để xây dựng các đô thị mới với kỳ vọng các thành phố này trở thành đòn bẩy kinh tế của mình Nhưng thực tế là không phải thành phố nào cũng thu hút được đầu tư Do đó đã xảy ra tình trạng mà các chuyên gia gọi là “thành phố bong bóng” Nhiều thành phố không tăng dân số mà chững lại và bị giảm dần khi không còn có khả năng phát triển
1.2 Một số vấn đề cơ bản về đất đai
1.2.1 Một số thuật ngữ về đất đai
2.2.1.1 Khái niệm về đất đai
Theo Luật Đất đai năm 1987 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Trang 23Nam: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay.”
Theo Hiến pháp năm 2013 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật” (Quốc hội nước CHXHCN VN, 2013)
2.2.1.2 Quy hoạch sử dụng đất
Quy hoạch SDĐ là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian
sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu SDĐ của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định
2.2.1.3 Kế hoạch sử dụng đất
Kế hoạch SDĐ là việc phân chia KHSDĐ theo thời gian để thực hiện trong kỳ KHSDĐ
2.2.1.4.Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất:
Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền SDĐ của
người được Nhà nước trao quyền SDĐ hoặc thu lại đất của người SDĐ vi phạm pháp luật về đất đai
Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có
đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển
2.2.1.5 Quyền sử dụng đất
- Tại Điều 192, Bộ Luật Dân sự quy định: “Quyền sử dụng là quyền khai
thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản”
- Tại Điều 17, Luật Đất đai 2013 quy định: “Nhà nước trao quyền sử dụng
Trang 24đất thông qua hình thức sau đây: Quyết định giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất; Quyết định cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; công nhận quyền sử dụng đất”
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc quản lý và sử dụng đất
1.2.2.1 Yếu tố điều kiện tự nhiên
Việc SDĐ luôn chịu sự ảnh hưởng của nhân tố tự nhiên, do vậy khi SDĐ ngoài bề mặt không gian cần chú ý đến việc thích ứng với điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái tự nhiên của đất cũng như các yếu tố bao quanh mặt đất như nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa, không khí và các khoáng sản trong lòng đất… Các nhân tố điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến quá trình SDĐ đó là: khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, thủy văn,… hầu như các yếu tố này đền có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi trong sản xuất nông nghiệp và hoạt động phát triển sản xuất trong ngành phi nông nghiệp
1.2.2.2 Yếu tố kinh tế - xã hội
Nhân tố kinh tế xã hội bao gồm các yếu tố như chế độ xã hội, dân số và lao động, mức độ phát triển và sự trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật của nền kinh
tế, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, khả năng áp dụng các tiến bộ khoa học trong sản xuất…
Nhân tố kinh tế - xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với việc lựa chọn mục đích SDĐ cho phù hợp, mang lại hiệu quả kinh tế cao, bảo vệ được nguồn đất Nếu như điều kiện tự nhiên ảnh hưởng tới phương thức SDĐ thì điều kiện kinh tế - xã hội chi phối rất nhiều tới hiệu quả SDĐ Đất đai cùng điều kiện tự nhiên nhưng điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau thì hiệu quả từ việc sử dung, khai thác quỹ đất cũng hoàn toàn khác nhau
1.2.2.3 Yếu tố không gian
Đất đai có tính cố định về vị trí, giới hạn về mặt không gian, nó sẽ quyết định đến việc sử dụng đất phải tuân theo quy mô, hình thể, ranh giới, diện tích hiện hữu Đối với đất xây dựng đô thị, đất dùng cho công nghiệp, xây dựng công trình, nhà xưởng, giao thông,… mặt bằng không gian và vị trí của đất đai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và có giá trị kinh tế rất cao (Nguyễn Thị Hải, 2010)
Trang 251.2.2.4 Vai trò của đất đai trong quá trình đô thị hoá
Có thể nói Đất đô thị là một nguồn lực phát triển kinh tế, phát triển đô thị Tính đa dạng về mục đích sử dụng và giá thành cao khi phải chuyển đổi mục đích
sử dụng đất, nên buộc phải tiến hành quy hoạch sử dụng đất một cách cẩn trọng, phải xem đất đô thị là một không gian thống nhất, cần được thâm dụng để đạt hiệu quả cao Vị trí đất trong đô thị có ý nghĩa đặc biệt trong tiêu chuẩn lựa chọn khu dân cư, cũng như khu vực sản xuất kinh doanh, phụ thuộc nhiều vào điều kiện giao thông và cơ sở hạ tầng Vị trí đất trong đô thị được xác định qua giá đất Giá đất đô thị lại phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng vào vị trí thửa đất, không phụ thuộc vào độ phì nhiêu của đất Đất đô thị không chỉ là tài nguyên, mà đã là tài sản có giá trị trong quyền sử dụng đất Việc định giá đất đô thị theo phương pháp luận thống nhất thích ứng với cơ chế thị trường (Phạm Đức Hòa, 2013)
Đô thị Việt Nam đã và đang trong xu thế phát triển rất nhanh về số lượng, quy mô đất đai và dân số Trong các yếu tố hình thành và phát triển đô thị, thì yếu tố mở rộng đất đai là yếu tố quan trọng Mọi hoạt động kinh tế - xã hội của
đô thị trong xu thế phát triển, yêu cầu sử dụng nhiều đất, nhưng chỉ diễn ra trong phạm vi giới hạn của đô thị, làm cho tính khan hiếm của đất đô thị rõ ràng hơn, vai trò của đất đô thị càng trở nên quan trọng trong đời sống đô thị và việc sử dụng tiết kiệm đất đô thị càng trở nên cấp bách
Theo PGS.TS Vũ Năng Dũng, Hội Khoa học Đất Việt Nam cho biết, đất phi nông nghiệp không ngừng tăng mạnh Năm 1990 so với năm 2010 tăng 2,07% lần, tương ứng 1.914,1 nghìn ha, trung bình mỗi năm tăng 95.755ha Đáng chú ý, nhiều địa phương như: Hà Nội, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh, các tỉnh đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long chủ yếu lấy đất lúa để quy hoạch khu công nghiệp, khu đô thị Theo số liệu thống kê, từ năm 2000 trở lại đây, trung bình mỗi năm đất nông nghiệp chuyển sang đất phi nông nghiệp khoảng 74.000ha
1.3 Tình hình đô thị hóa trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Tình hình đô thị hóa trên thế giới và kinh nghiệm một số nước
Đô thị hoá là hiện tượng mang tính toàn cầu và diễn ra với tốc độ ngày một tăng, đặc biệt là ở các quốc gia kém phát triển Theo các chuyên gia nghiên
Trang 26cứu về đô thị hoá thì trong tiến trình đô thị hoá nửa sau thế kỷ 20, các quốc gia kém phát triển có chung một đặc điểm là: ở giai đoạn đầu, tỷ trọng dân số đô thị trên tổng dân số thấp và tốc độ phát triển dân số đô thị nhanh, nhanh hơn rất nhiều so với các quốc gia phát triển
Bảng 1.1 Tỷ lệ dân số đô thị các khu vực trên thế giới theo các năm
ĐVT: %
Khu vực phát triển 52,58 64,69 70,75 72,74 73,89 75,16 Khu vực kém phát triển 17,61 25,32 34,83 40,00 42,82 45,08 Khu vực kém phát triển nhất 7,32 13,13 20,98 24,68 26,83 29,17
(Nguồn: World urbanization prospect, 2010 )
Trong cùng một khoảng thời gian 60 năm từ 1950 - 2010, tỉ lệ dân số đô thị toàn thế giới là từ 28,83% lên đến 50,46%, khu vực kém phát triển từ 17,61% lên 45,08% trong khi khu vực phát triển là từ 52,58% lên 75,16%
Vào thập niên 90, tỉ lệ đô thị hoá châu Á là 35%, châu Âu là 75%, châu Phi là 45%, Bắc Mỹ trên 90% và 80% ở Mỹ La tinh Theo báo cáo của Liên hợp quốc, trong 1/4 thế kỷ tới, việc tăng dân số hầu như sẽ chỉ diễn ra ở các thành phố mà phần lớn thuộc các nước kém phát triển.Đến năm 2030, hơn 60% dân số thế giới sống ở các đô thị (Nguyễn Đình Cự, 1997)
Tiến trình phát triển đô thị đã góp phần to lớn vào sự nghiệp CNH - HĐH Song sự bùng nổ đô thị quá tải đã tạo ra hàng loạt vấn đề gay cấn đối với cuộc sống con người, tạo ra sự thiếu cân bằng trong phân bố dân cư và vùng lao động theo vùng lãnh thổ, khả năng cung ứng lương thực, thực phẩm ven đô tiêu hao nhiên liệu, năng lượng Nếu trong năm 1990, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người ở mức 0,27 ha thì con số này dự báo sẽ tụt xuống 0,17 ha vào năm
2025 Chiến lược chung của vấn đề đô thị hiện nay là:
- Hạn chế việc di cư từ nông thôn ra đô thị trong đó yêu cầu nhất thiết phải nâng cao mức sống nông thôn
Trang 27- Khi tập trung quá tải, cùng với việc hạn chế nhập cư vào các tụ điểm lớn thì đồng thời phải tạo nên sự cân bằng hài hoà dân số đô thị, khuyến khích các đô thị vừa và nhỏ, tăng cường đầu tư hệ thống dịch vụ, xây dựng cơ sở hạ tầng,
Hàn Quốc hình thành từ 600 năm trước đây, gần đây Seoul đã thành một
trong những siêu đô thị tầm cỡ thế giới với tốc độ chóng mặt Từ chỗ chỉ có trên
10 triệu dân năm 1990 (chiếm 25% dân số cả nước), đến năm 1995 đã có trên 45% dân số cả nước sống và làm việc tại vùng thủ đô, gồm Seoul và tỉnh Kyonggi Đô thị hoá đi liền với công nghiệp hoá đã trở thành động lực phát triển
đô thị tập trung gần 24,4 triệu người Tuy nhiên, quá trình đô thị hoá đã để lại nhiều hậu quả như sự chênh lệch việc làm, sự quá tải về đất đai và hạ tầng, sự bất lợi về an ninh của một đô thị đầu não
Trước năm 1990, Hàn Quốc có mục tiêu phát triển mạnh các ngành cần nhiều lao động, lao động không có kỹ năng hoặc kỹ năng thấp Sau năm 1990 trở
đi Hàn Quốc đẩy mạnh CNH, HĐH, đầu tư đổi mới công nghệ, biến đổi cơ cấu kinh tế, thúc đẩy xuất khẩu, tăng năng xuất lao động Chương trình này của Hàn Quốc được chính phủ đặt trong mối quan hệ đồng bộ với các biện pháp khác: Thực hiện chương trình trợ cấp thất nghiệp, mở rộng các chương trình đào tạo, đào tạo lại kỹ năng cho người lao động, áp dụng các chương trình đảm bảo việc làm, tăng hiệu quả của thị trường lao động
Để tạo nhiều việc làm cho người lao động trong quá trình đô thị hoá, các nước trong khu vực thường tập trung phát triển mạnh các ngành nghề phi nông nghiệp: khai thác mỏ, phát triển mạnh công nghiệp chế biến, công nghiệp chế tạo, phát triển mạnh các ngành thuộc khu vực kinh tế phi chính thức (khu vực kinh tế bao gồm các hoạt động sản xuất quy mô nhỏ hoặc rất nhỏ), các hoạt động không đăng ký hoặc trốn tránh pháp luật, các hoạt động chưa được pháp luật quy định, do đó không chịu sự kiểm soát, điều tiết của nhà nước Ở thành phố ngành nghề đa dạng, đặc biệt trong lĩnh vực ăn uống, dịch vụ và các ngành nghề truyền thống Phát triển mạnh các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp theo hướng xuất khẩu Sử dụng công nghệ thu hút nhiều lao động(Trần Thị Thu, 2002)
Thái Lan vùng đô thành Bangkok có dân số lên đến gần 7 triệu người
Trang 28(hơn một nửa dân số đô thị cả nước), với ranh giới trên 2.400 km2, đã trở thành trung tâm lan toả theo các trục giao thông đi các tỉnh xung quanh Vùng đô thành Bangkok đi đầu và chi phối toàn bộ hoạt động kinh tế-xã hội của một nước vốn
30 năm trước đây chỉ dựa vào nông nghiệp Đồng thời với đô thị hoá tập trung cao độ, các vấn đề thiếu đất phát triển, ô nhiễm môi trường, tắc nghẽn giao thông, nhà ổ chuột… cũng đã trở thành vấn đề vô cùng nan giải
Thái Lan là một quốc gia đang phát triển, có tốc độ tăng trưởng khá cao 6% bình quân năm và cũng là một quốc gia có thành tích cao trong khu vực về giải quyết công ăn việc làm cho người lao động Thành tích đó có được nhờ chính sách gắn kết giữa đô thị hoá, tăng trưởng và phát triển kinh tế, với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành nghề Trong đó các biện pháp tăng trưởng nhanh xuất khẩu hàng công nghiệp, hàng tiểu thủ công nghiệp, tạo thị trường xuất khẩu quốc tế nhằm nhanh chóng phát triển nền kinh tế, tạo nhiều việc làm, thu hút người lao động Lựa chọn và áp dụng công nghệ phù hợp với điều kiện một nước kinh tế đang phát triển có nguồn lao động dồi dào, đó là công nghệ sử dụng nhiều lao động: như công nghiệp hàng dệt may, Phát triển khu vực kinh tế phi chính thức ở thành phố là các biện pháp cơ bản, quan trọng nhằm tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động Thái Lan mà chính phủ quan tâm
5-Trung Quốc vùng đô thị Bắc Kinh có diện tích khoảng 17.000 km2, bao
gồm thành phố trung tâm (7 triệu người) được bao bọc bởi vành đai xanh và 12 thành phố vệ tinh cách đều 40 km và các thị trấn xóm Tuy nhiên, truyền thống Bắc Kinh cũng đang phải đối mặt với sức ép dân số, cây xanh, đất nông nghiệp, cấu trúc khu phố dọc theo vành đai mới
Trung Quốc là nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh và tốc độ phát triển nhanh Nếu vào năm 1949, Trung Quốc có 136 thành phố với số dân khoảng 54 triệu người, chiếm khoảng 10,6% dân số cả nước thì đến năm 2005, dân số đô thị nước này đã đạt tới 800 triệu người sống ở trên 700 thành phố, tỷ lệ bằng 37% Có những dự đoán cho rằng đến năm 2050, tỷ lệ ĐTH sẽ đạt 75% Tính trung bình mỗi năm có 12 triệu người ở nông thôn vào sinh sống ở đô thị (Basand, Michel, 2001)
Trang 29Như vậy là một lượng lớn nhân công đã di chuyển khỏi vùng nông thôn lạc hậu và hiệu quả kém sang các thành phố - nơi có trình độ tiên tiến hơn, năng suất lao động cao và hiệu quả hơn Không những bản thân người lao động có mức sống khá hơn mà gia đình họ cũng đỡ gặp khó khăn trong sản xuất nông nghiệp, có thể trang trải các khoản ăn mặc, học hành, thiết bị sản xuất, tình trạng đói nghèo ở nông thôn được giảm bớt Tuy nhiên, mặt trái của vấn đề di chuyển nhân công từ nông thôn ra thành phố là rất rõ rệt, trở thành mâu thuẫn chủ yếu của quá trình ĐTH ở Trung Quốc (Basand, Michel, 2001) Nhiều hậu quả kinh tế
- xã hội nghiêm trọng đang thách đố khả năng quản lý của Nhà nước như thiếu nhà ở cho người nghèo, sự phân hoá xã hội, việc sinh đẻ không thể kiểm soát, trật
tự trị an kém, môi trường ô nhiễm, kết cấu hạ tầng thiếu thốn
Mặt khác, trước đây ở Trung Quốc đã có một thời kỳ công nghiệp hương trấn phân bố quá phân tán, xây dựng các thành phố nhỏ và thị trấn một cách bừa bãi, thiếu quy hoạch làm lãng phí nguồn lực của nông thôn, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và làm mất đi đặc điểm và ưu thế của nông thôn
Để đối phó với tình hình trên, Nhà nước Trung Quốc đã coi trọng tiếp tục giữ vững nguyên tắc phát triển hài hoà, tiên tiến, tránh tình trạng mở rộng ào ạt các đô thị lớn, làn sóng nhân công lưu động tràn vào thành phố quá lớn, làm xáo trộn hoạt động kinh tế Tư tưởng chiến lược ĐTH của Trung Quốc hiện nay là: khai thác tiềm lực các thành phố lớn, mở rộng và xây dựng các thành phố loại vừa, phát triển có lựa chọn và thích hợp các thành phố nhỏ và thị trấn (Basand, Michel, 2001)
Đối với quá trình ĐTH nông thôn, Trung Quốc chủ trương tiếp tục xây dựng xí nghiệp hương trấn theo hướng khắc phục dần tình trạng thô sơ, phân tán trong phân công lao động giữa công nghiệp và nông nghiệp, thực hiện khẩu hiệu
“Ly điền bất ly hương”, “Ly hương bất ly điền”, dần dần tiến tới phân công lao
động theo chiều sâu
1.3.2 Tình hình đô thị hóa ở Việt Nam
Việt Nam đang trong tiến trình phát triển thành một nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020 Tuy chịu ảnh hưởng tác động chung của suy thoái kinh tế
Trang 30thế giới nhưng tổng sản phẩm trong nước (GDP) 6 tháng đầu năm 2014 ước tính tăng 5,18% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó nguồn thu từ các hoạt động kinh
tế đô thị, đặc biệt các thành phố lớn, các đô thị gắn với phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch chiếm tỷ lệ khá cao trong cơ cấu GDP cả nước, khẳng định vai trò của hệ thống đô thị động lực chủ đạo của Việt Nam Tỷ lệ % GRDP của 05 thành phố trực thuộc Trung ương/tổng DRDP cả nước, chiếm trên 50% GDP của cả nước (trong khi dân số đô thị chiếm trên 1/3 dân số cả nước) Tổng thu ngân sách khu vực đô thị chiếm trên 70% tổng thu ngân sách toàn quốc Các đô thị lớn như ở Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng đã có nền tảng phát triển kinh tế vững chắc, số lượng các cơ sở sản xuất công nghiệp và dịch vụ thương mại cũng tăng mạnh hơn Tại đây, các động lực phát triển mới đang chuyển dịch mạnh mẽ sang các lĩnh vực giáo dục, dịch vụ tài chính – ngân hàng, bất động sản, viễn thông và truyền thông… Các nơi có điều kiện tự nhiên đặc biệt như Hạ Long, Nha Trang, Đà Lạt, Sa Pa, Phú Quốc… hay các đô thị có
di sản văn hóa - lịch sử tầm cỡ quốc gia và quốc tế như Huế, Hội An, Hạ Long, Côn Đảo,…thì du lịch đã trở thành động lực phát triển chính Hạ tầng xã hội và
hạ tầng kỹ thuật các đô thị loại II trở lên đã được tăng cường, đô thị loại IV trở lên đã được nâng cấp, cải thiện điều kiện hạ tầng cơ sở (điện đường, trường trạm, môi trường nước, rác…) nhờ các khoản đầu tư trong và ngoài nước
Các khu kinh tế cấp quốc gia như: Khu kinh tế Vân Đồn (Quản Ninh), Đình Vũ - Cát Hải (Hải Phòng), Nghi Sơn (Thanh Hóa), Nghệ An (Bắc TP Vinh), Vũng Áng (Hà Tĩnh), Hòn La (Quảng Bình), Chân Mây - Lăng Cô (Thừa Thiên - Huế), Chu Lai (Quảng Nam), Dung Quất (Quảng Ngãi), Nhơn Hội (Bình Định), Văn Phong (Khánh Hòa), Nam Phú Yên (Phú Yên), đảo Phú Quốc (Kiên Giang), là các khu kinh tế tổng hợp đa ngành có quy mô sản xuất lớn, có hạ tầng quan trọng là cảng biển có diện tích đất đai rất lớn là nền tảng để hình thành và phát triển các đô thị mới
Trong nhiều năm qua thương mại quốc tế thông qua các cảng biển đã thúc đẩy các đô thị ven biển có tiềm năng cảng phát triển mạnh Trong những năm gần đây, khối lượng thương mại quốc tế trên đất liền thông qua các cửa khẩu đã
Trang 31được tăng cường đáng kể, thúc đẩy phát triển nhanh các đô thị cửa khẩu quốc gia, quốc tế đã có từ trước như Lạng Sơn, Lào Cai hay mới được hình thành như Cầu Treo (Hà Tĩnh), Bờ Y (Kon Tum), Bu Phơ Răng (Đắc Nông), Mộc Bài (Tây Ninh),
Xà Xía (Kiên Giang)… Một số đô thị cửa khẩu kinh tế thuộc tiểu vùng sông Mê Kông mở như Lào Cai trên các hành lang Côn Minh (Trung Quốc) -Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; Lao Bảo trên hành lang kinh tế Đông - Tây nối Mukdahan (Đông - Bắc Thái Lan) - Savanakhet (Trung - Nam Lào) - Quảng Trị - Huế - Đà Nẵng; Bờ Y trên tuyến Đông Bắc Campuchia - Pakse (Nam Lào) - Kon Tum - Quy Nhơn; hay Mộc Bài trên hành lang Đông - Nam Campuchia - Tây Ninh - TP.HCM -Vũng Tàu Các đô thị cửa khẩu là các điểm tựa đô thị hóa quan trọng đối với các khu vực biên giới miền núi vốn chậm phát triển ở nước ta và cũng là những mốc giới quan trọng đảm bảo an ninh biên giới tổ quốc (Chu Văn Thỉnh, 2000)
Về du lịch, kể cả du lịch quốc tế và du lịch trong nước, đã nổi lên như một trong các động lực chính phát triển đô thị Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Các giá trị truyền thống và bản sắc của một nền văn hóa lịch sử lâu đời, cảnh quan thiên nhiên đa dạng, bờ biển dài và ấm quanh năm là các yếu tố chính hấp dẫn khách du lịch quốc tế đến Việt Nam Thêm vào đó, du lịch là một ngành công nghiệp có nhiều ưu điểm nổi trội, khá phù hợp với khả năng phát triển của Việt Nam Trong các năm qua lượng khách du lịch quốc tế và nội địa ở Việt Nam tăng chậm hơn, giữ mức độ trung bình mức 15-20%/năm, phụ thuộc ít vào các biến động thất thường của kinh tế, nhưng đang chịu ảnh hưởng không nhỏ bởi các vấn đề an ninh quốc phòng trên không và trên biển Có thể thấy, ngoài các điều kiện tự nhiên các khu vực có điều kiện cơ sở hạ tầng đô thị và cơ sở dịch vụ tốt hấp dẫn được khách du lịch
Về đơn vị hành chính đô thị do hiện nay Hiến pháp 2013 đã có hiệu lực nên việc nâng cấp quản lý hành chính và điều chỉnh ranh giới hành chính đô thị phải thông qua thường trực Quốc hội, 6 tháng đầu năm 2014 không có biến động
về cấp quản lý hành chính, cả nước có 5 thành phố trực thuộc Trung ương, 63 thành phố thuộc tỉnh, 47 thị xã thuộc tỉnh, 613 thị trấn (trong đó 27 thị trấn là đô thị loại IV) Tỉnh có nhiều thị trấn nhất là Thanh Hóa với 28 thị trấn Tỉnh Ninh
Trang 32Thuận chỉ có 3 thị trấn, thành phố Đà Nẵng không có thị trấn nào
Về đất đô thị, tổng diện tích cả nước 331.698 km2, diện tích đất đô thị không có biến động so với năm 2013, đến nay, tổng diện tích đất tự nhiên toàn đô thị đạt 34,017 km2 chiếm khoảng 10,26% diện tích đất tự nhiên của cả nước, nội thành nội thị 14.760 km2 chiếm khoảng 4,42% diện tích đất tự nhiên của cả nước Nhiều khu vực nội thành nội thị vẫn còn 50-60% diện tích đất nông nghiệp hoặc để trống chưa sử dụng phát triển đô thị Hiện tượng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuêu thế chấp, góp vốn bằng quyền SDĐ đặc biệt vùng ven đô đang rất cần quản lý chặt chẽ (Bộ Xây dựng, 2014)
1.3.3 Những vấn đề có tính quy luật thường phát sinh trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam
1.3.3.1 Mở rộng diện tích đất đô thị và thu hẹp đất nông nghiệp
Trong điều kiện kinh tế nước ta, đô thị hóa dẫn đến tình trạng thu hẹp đất canh tác nông nghiệp Thực chất quá trình đó là thay đổi mục đích SDĐ: từ đất nông nghiệp chuyển sang đất phi nông nghiệp,… Quá trình này góp phần làm tăng hiệu quả SDĐ nói chung cũng gây ra không ít các vấn đề xã hội
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp nước ta là 9.415.568 ha chiếm 37,93% tổng diện tích đất nông nghiệp Diện tích đất lâm nghiệp là 14.677.409 ha chiếm 59,13% tổng diện tích đất nông nghiệp Diện tích đất nuôi trồng thủy sản là 700.061 ha chiếm 2,82% tổng diện tích đất nông nghiệp, còn lại 29,522 ha là đất làm muối và đất nông nghiệp khác Thực tế mấy năm trở lại đây, cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp lại Dễ nhận thấy một điều là diện tích đất trồng lúa ngày càng bị thu hẹp do quá trình thu hồi đất nông nghiệp để chuyển sang xây dựng đô thị và các khu công nghiệp
Tổng diện tích nhóm đất nông nghiệp năm 2010 của cả nước so với năm
2005 tăng 1.277.600 ha, trong đó tăng chủ yếu ở loại đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, tình hình tăng giảm các loại đất nông nghiệp cụ thể như sau:
Trang 33Bảng 1.2 Biến động đất nông nghiệp của cả nước
2 Đất lâm nghiệp 15.249.025 14.677.409 571.616
2.1 Đất rừng sản xuất 7.389.462 5.434.856 1.954.606 2.2 Đất rừng phòng hộ 5.719.339 7.173.689 -1.454.350 2.3 Đất rừng đặc dụng 2.140.225 2.068.864 71.361
Dân số và lao động ở đô thị gia tăng với tốc độ nhanh do nhiều nguyên nhân, trong đó có sự dôi dư về lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa là một nguyên nhân cần quan tâm giải quyết
Trong quá trình đô thị hóa cơ cấu dân cư theo tuổi, giới, theo tầng lớp xã hội, theo nghề nghiệp biến đổi nhanh chóng Sự phân hóa giàu nghèo ngày càng
rõ nét Thu nhập của dân cư nói chung tăng lên nhưng tốc độ tăng của mỗi nhóm
xã hội, mỗi nghề nghiệp rất khác nhau
Trang 341.3.3.3 Vấn đề môi trường
- Môi trường khu vực đô thị mới
Tốc độ tăng dân số, lao động ở các đô thị Việt Nam nhanh hơn ở một số nước khác Nguyên nhân chính là do nước ta là nước công nghiệp, kinh tế chưa phát triển, tài nguyên không dồi dào, diện tích đất canh tác bình quân đầu người thấp Các nguyên nhân này làm cho lao động dư thừa từ các vùng nông thôn đổ
về các đô thị tìm việc làm Cùng với người lao động là cả những người trong gia đình họ cũng theo về đô thị, kéo theo cả phong tục, tập quán, lối sống của người nông dân sản xuất nhỏ từ các vùng quê về đô thị Lối sống tùy tiện trong sinh hoạt hàng ngày đã làm tăng thêm sự phức tạp về xã hội và môi trường sinh thái Các hiện tượng lấn chiếm vỉa hè, hình thành các xóm lều, ô nhiễm môi trường cũng gia tăng (Dương Thị Thơm, 2012)
- Môi trường ở khu vực giáp ranh đô thị
Thực tế môi trường đô thị đang ngày càng xấu đi do quy mô dân số, quy
mô sản xuất và cung cấp các dịch vụ của đô thị Để giải quyết các vấn đề đó, các chính quyền đô thị sẽ có những chính sách di chuyển nhà máy, khu công nghiệp
ra vùng ngoại thành xa trung tâm Các doanh nghiệp sẽ chọn địa điểm có giá đất thấp và vẫn hưởng được các dịch vụ của đô thị, thuận tiện về giao thông, đó chính là khu vực giáp ranh đô thị và nông thôn Ở khu vực này vấn đề quản lý môi trường tương đối lỏng lẻo hơn Chính vì vậy môi trường bị đe dọa nếu không có chính sách kịp thời
1.3.3.4 Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế toàn vùng
Cùng với việc tăng dân số đô thị là sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế Trên góc độ dân số và lao động, đô thị hóa là quá trình chuyển đổi cơ cấu dân số từ khu vực I sang khu vực II và khu vực III của nền kinh tế Những người nông dân trước đây gắn bó với ruộng vườn, sau khi trở thành dân cư đô thị, họ bị mất phần lớn đất canh tác Với số tiền được Nhà nước đền bù, họ dùng để tạo nghề mới, xây dựng nơi cư trú mới…
Trang 35Trong quá trình đô thị hóa, cơ cấu kinh tế trong vùng và cả nền kinh tế cũng thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng trong khu vực I, tăng tỷ trọng khu vực II
và III Khi đô thị mở rộng ra vùng ngoại vi nhằm giải quyết vấn đề quá tải dân
số, hình thành các khu dân cư đô thị ở các vùng ngoại vi thì các hoạt động thương mại, dịch vụ phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng khu vực III Ngoại thành là nơi có sự thay đổi mạnh mẽ về các hoạt động thương mại, dịch vụ (Thái Phiên, 2000)
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở khu vực đô thị mới
Trong quá trình đô thị hóa, kinh tế ở các khu vực đô thị mới tăng trưởng nhanh chóng nhờ có sự tập trung lực lượng sản xuất, tạo ra năng xuất lao động cao, cách tổ chức lao động hiện tại
Thực chất quá trình tăng trưởng kinh tế là quá trình tăng việc làm ở đô thị Quá trình đó vừa làm tăng tổng việc làm vừa làm chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong kinh tế đô thị Ngược lại, việc chuyển đổi cơ cấu các ngành kinh tế đô thị làm tăng trưởng kinh tế đô thị theo chiều sâu, tăng năng xuất lao động xã hội, tăng GDP bình quân đầu người ở đô thị
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực giáp ranh
Khu vực giáp ranh giữa đô thị và nông thôn luôn chịu ảnh hưởng của cả những ngoại ứng tích cực và tiêu cực Mật độ dân cư ở khu vực này sẽ tăng dần, đất đai thay đổi nhanh về mục đích sử dụng Một phần những người dân nội thành mua làm nhà nghỉ, một phần sẽ trở thành nơi cung cấp dịch vụ giải trí cho dân cư nội thành Cơ cấu kinh tế thay đổi theo hướng tích cực là khu vực I giảm dần và thay vào đó là khu vực III
1.3.3.5 Vấn đề phát triển hạ tầng kỹ thuật
- Hình thành nhanh chóng kết cấu hạ tầng
Quá trình đô thị hóa là quá trình hình thành nhanh chóng kết cấu hạ tầng
kỹ thuật như cấp điện, cấp thoát nước, hệ thống thông tin liên lạc, trường học, bệnh viện, hệ thống chợ, khu ở của dân cư, hệ thống đường giao thông… Đây là những yếu tố thường xuyên không phát triển kết hợp với nhu cầu thực tế ở các
đô thị
Trang 36- Mật độ giao thông đô thị tăng nhanh
Do tăng dân số, lao động và tăng trưởng kinh tế khá nhanh với nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa tăng nhanh làm cho mật độ giao thông phát triển mạnh đặt ra vấn đề như:
+ Cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng nông thôn đã được đầu tư nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu sử dụng ngày càng cao của thực tế
+ Các công trình hạ tầng của nông thôn hầu hết lấy từ nguồn ngân sách, việc huy động vốn của các thành phần kinh tế còn hạn chế nên không thể cùng xây dựng hệ thống công trình hạ tầng nhanh chóng và đồng bộ
+ Hệ thống hạ tầng kinh tế đô thị thực sự còn lạc hậu Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình đô thị hoá của các đô thị
1.3.3.6 Những vấn đề quản lý hành chính, quản lý đất đai
Đô thị hóa theo chiều rộng bằng việc mở rộng quy mô đô thị dưới hình thức xây dựng các phường, quận mới dẫn đến biến động ranh giới các đơn vị hành chính cũng như diện tích và dân số của đô thị
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của đô thị không còn phù hợp khi quy mô
đô thị tăng Đồng thời với sự tác động mạnh mẽ đến công tác quản lý nhà nước
về địa giới hành chính, quá trình đô thị hóa làm xuất hiện mâu thuẫn giữa cơ cấu kinh tế - xã hội hiện thực với thể chế quản lý hành chính nhà nước Quá trình đô thị hóa dẫn đến sự cần thiết tổ chức lại bộ máy quản lý nhà nước trên địa bàn
Về nguyên tắc, đô thị hóa đến đâu cần tổ chức lại bộ máy quản lý nhà nước trên địa bàn đến đó
Việc biến động đất đai diễn ra hết sức phức tạp: lấn chiếm, chuyển mục đích trái phép, giải phóng mặt bằng, tranh chấp đất đai…đặc biệt là việc điều chỉnh cập nhật biến động đất đai trên hồ sơ
1.4 Nhận xét rút ra từ tổng quan
Rất nhiều bài học liên quan đến đô thị hoá và phát triển bền vững có thể học tập được từ những kinh nghiêm quốc tế và trong nước nêu trên
Thứ nhất, là vai trò quan trọng của các nhà lãnh đạo ở tầm nhìn phát triển
và thực hiện các cam kết để khắc phục các khó khăn, giải quyết các vấn đề về
Trang 37môi trường và kinh tế
Thứ hai, sự nổi trội của khủng hoảng hoặc đe doạ là nhân tố chính trong
các hành động ban đầu để đảm bảo cho sự tồn tại của các đô thị
Thứ ba, thiện chí của cộng đồng chấp nhận thay đổi dẫn đến sự cải tổ về
hành chính công, quản lý đô thị và thiết kế môi trường
Thứ tư, các thành phố đều tìm kiếm các nguồn lực thúc đẩy thông qua
nhiều dạng khác nhau của sự cộng tác để xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật, cung cấp nhà ở và các tiện nghi cộng đồng
Thứ năm, quy hoạch và phối hợp các dịch vụ giao thông dẫn đến hiệu quả
tốt hơn cho xe và hành khách trong các thành phố; Việc kết hợp SDĐ công trình nhà ở, xã hội, văn hoá và giáo dục với thương mại, nghiên cứu đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng không gian đô thị cho con người cảm thấy thoải mái khi làm việc, hoạt động và sinh hoạt
Thứ sáu, tầm quan trọng của quy hoạch đô thị, luật xây dựng, các chính
sách môi trường và sự chú trọng vào quản lý và giữ gìn tài sản đã tạo điều kiện cho các thành phố duy trì hệ thống đô thị hiệu quả, chất lượng cao của các tiện nghi và sự sống động
Tóm lại, Đô thị hoá là quá trình tất yếu của sự phát triển mà bất kỳ nước nào cũng phải trải qua Bên cạnh những mặt tích cực, nó cũng tồn tại nhiều khía cạnh hạn chế cần phải tìm hiểu phân tích và có biện pháp khắc phục Nó có thể góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội của một vùng hoặc một quốc gia phát triển, nhưng nó cũng có thể phá vỡ cấu trúc phát triển của các quốc gia Vì vậy, khi quy hoạch đô thị cần có một kế hoạch cụ thể và thống nhất về quy mô, không gian, cấu trúc .cần có sự chủ động trong quá trình đô thị hóa trong phát triển hợp lý và bền vững Từ đó hạn chế tối đa ảnh hưởng tiêu cực đến việc quản lý sử dụng đất
Trang 38Chương 2 : NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Chính sách, quy định của pháp luật về đô thị hóa và quản lý sử dụng đất
- Việc lập kế hoạch sử dụng đất và quy hoạch chung định hướng phát triển tại thành phố Nam Định
- Tổ chức, cá nhân sử dụng đất
- Cơ quan quản lý đất đai tại địa phương
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu 6/15 nội dung quản lý nhà nước về đất
đai theo quy định tại điều 22 Luật Đất đai năm 2013
- Nghiên cứu được giới hạn ở mức khái quát về đô thị hóa tại thành phố Nam Định nhưng chi tiết về ảnh hưởng của đô thị hóa đến quản lý sử dụng đất nông nghiệp tại xã Nam Vân, xã Mỹ Xá và phường Lộc Vượng là 3 đơn vị nằm ở
3 cửa ngõ chính của thành phố Nam Định và là 3 đơn vị chịu tác động lớn của
quá trình đô thị hóa
- Luận văn nghiên cứu thực trạng từ năm 2005 đến năm 2015 và đề xuất giải pháp hạn chế ảnh hưởng của đô thị hóa đến quản lý sử dụng đất tại thành phố Nam Định
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
- Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, khí hậu thời tiết, đất đai, địa hình địa mạo, thủy văn,…
- Điều kiện kinh tế - xã hội: cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành, kết cấu hạ tầng, dân số và lao động
2.3.2 Đánh giá quá trình đô thị hóa tại thành phố Nam Định
Trang 39+ Đánh giá thực trạng phát triển đô thị của thành phố Nam Định: xây dựng
hạ tầng cơ sở, xây dựng các khu cụm công nghiệp, các khu đô thị mới và các công trình phúc lợi công cộng
- Thực trạng quản lý đất đai tại thành phố Nam Định: Việc giao đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất; quản lý hồ sơ địa chính; các hoạt động về quyền sử dụng đất
- Biến động đất đai giai đoạn 2005 – 2015;
2.3.3 Đánh giá ảnh hưởng đô thị hóa đến việc quản lý sử dụng đất trên địa bàn thành phố Nam Định
- Ảnh hưởng đô thị hóa đến công tác xác định và quản lý địa giới hành chính
- Ảnh hưởng đô thị hóa đến công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Ảnh hưởng đô thị hóa đến công tác việc giao đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất
- Ảnh hưởng đô thị hóa đến việc thực hiện quyền của người sử dụng đất
- Ảnh hưởng đô thị hóa đến xây dựng hệ thống thông tin đất đai
- Ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp
- Ảnh hưởng đô thị hóa đến một số lĩnh vực khác
2.3.4 Đề xuất một số giải pháp hạn chế ảnh hưởng của đô thị hóa đến việc quản lý sử dụng đất tại thành phố Nam Định
- Giải pháp về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Giải pháp về tuyên truyền phố biến pháp luật về đất đai
- Giải pháp xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai: phục vụ GPMB, quản
lý tài chính đất đai, quản lý và hỗ trợ việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người
sử dụng đất
- Giải pháp về xử lý đất xen kẹt
- Giải pháp về chuyển dịch lao động nông nghiệp
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
a, Nguồn số liệu, tài liệu thứ cấp
Trang 40- Điều tra thu thập các thông tin, tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên (vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, tài nguyên, môi trường); về thực trạng phát triển kinh
tế - xã hội (dân số, lao động, việc làm, tỷ lệ tăng dân số; số liệu về thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng, thực trạng phát triển kinh tế, phát triển sản xuất nông nghiệp), về hiện trạng sử dụng đất qua các kỳ kiểm kê đất đai 2005, 2010, 2015 của thành phố Nam Định Thực trạng việc thu hồi đất phát triển đô thị từ năm
2005 đến năm 2014
- Thu thập các văn bản về chính sách đất đai, chính sách quản lý và sử dụng đất từ Trung ương đến địa phương theo thời điểm hiệu lực từ năm 2004 đến nay để so sánh đối chiếu
- Nguồn tư liệu, tài liệu, số liệu chủ yếu được sử dụng bao gồm: Các báo cáo liên quan đến các nội dung về đô thị hóa, quản lý sử dụng đất của UBND tỉnh Nam Định, các Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, UBND thành phố Nam Định, các phòng, ban thuộc thành phố Nam Định: phòng Tài nguyên Môi trường phòng Quản lý đô thị, Văn phòng Đăng ký và thông tin nhà đất, phòng Kinh tế,
b, Nguồn số liệu sơ cấp
Để đánh giá thực trạng công tác quản lý SDĐ thực hiện phương pháp điều tra xã hội học để thu nhận các thông tin đánh giá từ 3 đối tượng (hộ gia đình, cán
bộ chính quyền địa phương và doanh nghiệp) thuộc thành phố Nam Định
Mẫu điều tra tiến hành tại xã Nam Vân, xã Mỹ Xá và phường Lộc Vượng
là 3 đơn vị nằm ở 3 cửa ngõ chính của thành phố Nam Định Mỗi xã tiến hành thu thập 30 phiếu điều tra
Các đơn vị phường, xã lấy phiếu điều tra là các đơn vị chịu tác động lớn của quá trình đô thị hóa tại thành phố Nam Định: có nhiều dự án giao đất thu hồi đất, xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp Và là 3 đơn vị có nhiều loại hình sử dụng đất nông nghiệp: đất trồng lúa, đất nuôi trồng thủy sản, đất trồng rau Mặt khác theo quy hoạch đến năm 2025 các đơn vị này thuộc trung tâm thành phố Nam Định