1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

xác định đặc tính gây bệnh của trypanosoma evansi gây nhiễm thực nghiệm trên khỉ macaca mulatta và đặc điểm bệnh lý của khỉ được gây nhiễm

84 440 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 8,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.6.4 Xác định một số chỉ tiêu sinh lý máu khỉ 38 3.1 Đặc tính gây bệnh của Trypanosoma evansi trên khỉ Macaca 3.2 Kết quả theo dõi diễn biến thân nhiệt và biểu hiện lâm sàng ở khỉ Maca

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

ĐỖ VĂN CẦU

XÁC ĐỊNH ĐẶC TÍNH GÂY BỆNH CỦA TRYPANOSOMA

MACACA MULATTA VÀ ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ

CỦA KHỈ ĐƯỢC GÂY NHIỄM

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

ĐỖ VĂN CẦU

XÁC ĐỊNH ĐẶC TÍNH GÂY BỆNH CỦA TRYPANOSOMA

MACACA MULATTA VÀ ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ

CỦA KHỈ ĐƯỢC GÂY NHIỄM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc Mọi sự giúp đỡ đã được cảm ơn

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Đỗ Văn Cầu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: PGS.TS Phạm Ngọc Thạch, Trưởng bộ môn Nội - Chẩn - Dược - Độc chất, Khoa Thú y, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm Khoa Thú y, các thầy cô giảng dạy và nghiên cứu trong Khoa Thú y; Bộ môn Nội - Chẩn - Dược - Độc chất, Khoa Thú y, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp cùng gia đình đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành chương trình học tập

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Đỗ Văn Cầu

Trang 5

MỤC LỤC

1.1 Lịch sử nghiên cứu Tiên mao trùng, bệnh Tiên mao trùng do

1.2.1 Vị trí của T.evansi trong hệ thống phân loại động vật học 5

1.4.2 Vật chủ và vật môi giới truyền bệnh Tiên mao trùng 19

1.5 Biến đổi bệnh lý của gia súc mắc bệnh tiên mao trùng do T.evansi 23

1.5.2 Triệu chứng của gia súc mắc bệnh Tiên mao trùng do T.evansi 25

Trang 6

1.6 Một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu trâu, bò mắc bệnh Tiên mao

CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ

2.5.1 Kiểm tra sự có mặt của Trypanosoma evansi trong máu của khỉ sau

khi gây nhiễm (12 giờ, 24 giờ, 48 giờ, 72 giờ, 96 giờ, 120 giờ) 37 2.5.2 Theo dõi sự xuất hiện các triệu chứng lâm sàng và chỉ tiêu lâm

sàng của khỉ sau khi gây nhiễm (12 giờ, 24 giờ, 48 giờ, 72

2.5.3 Khảo sát sự biến đổi chỉ tiêu sinh lý máu ở khỉ Macaca Mulatta sau

khi gây nhiễm (12 giờ, 24 giờ, 48 giờ, 72 giờ, 96 giờ, 120 giờ) 37 2.5.4 Khảo sát sự biến đổi chỉ tiêu sinh hóa máu ở khỉ Macaca

Mulatta sau khi gây nhiễm (12 giờ, 24 giờ, 48 giờ, 72 giờ, 96

2.6.1 Gây nhiễm thực nghiệm T.evansi trên động vật thí nghiệm 37 2.6.2 Các phương pháp tiến hành phát hiện Tiên mao trùng 38

Trang 7

2.6.4 Xác định một số chỉ tiêu sinh lý máu khỉ 38

3.1 Đặc tính gây bệnh của Trypanosoma evansi trên khỉ Macaca

3.2 Kết quả theo dõi diễn biến thân nhiệt và biểu hiện lâm sàng ở khỉ

Macaca Mulatta sau khi gây nhiễm Trypanosoma evansi 42 3.2.1 Kết quả theo dõi diễn biến thân nhiệt khỉ Macaca Mulatta sau

3.2.2 Kết quả theo dõi biểu hiện lâm sàng và bệnh tích của khỉ

3.3 Một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu của khỉ sau khi gây nhiễm

3.3.6 Số lượng bạch cầu, công thức bạch cầu của khỉ sau khi gây

3.3.7 Hàm lượng đường huyết và độ dự trữ kiềm trong máu khỉ sau

3.3.8 Hàm lượng protein tổng số và các tiểu phần protein trong huyết

Trang 8

3 Các triệu chứng lâm sàng chủ yếu xuất hiện ở khỉ Macaca Mulatta sau

4 Phần lớn các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu của khi bị gây nhiễm

T.evansi đều bị biến đổi rõ rệt so với trước khi gây nhiễm 66

5 Những tổn thương bệnh lý thường thấy ở khỉ Macaca Mulatta được

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

3.1 Sự phát triển của Trypanososma evansi trong máu khỉ Macaca

3.2 Thân nhiệt khỉ Macaca Mulatta được gây nhiễm T.evansi (n=5) 44 3.3 Biểu hiện lâm sàng ở khỉ Macaca Mulatta sau gây nhiễm T.evansi (n=5) 45 3.4 Bệnh tích đại thể ở khỉ Macaca Mulatta sau gây nhiễm T.evansi (n=5) 47 3.5 Một số chỉ tiêu về chất lượng hồng cầu của khỉ sau khi gây nhiễm

3.6 Hàm lượng huyết sắc tố và lượng huyết sắc tố trung bình hồng cầu

3.7 Số lượng bạch cầu và công thức bạch cầu ở khỉ sau khi gây nhiễm

3.8 Hàm lượng đường huyết và độ dự trữ kiềm trong máu khỉ sau khi

3.9 Protein tổng số và các tiểu phần protein trong huyết thanh của khỉ

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

3.3 Diễn biến thân nhiệt của khỉ Macaca Mulatta sau khi gây nhiễm

3.5 Bệnh tích mổ khám khỉ sau năm ngày gây nhiễm T.evansi 46

3.8 Số lượng hồng cầu của khỉ sau gây nhiễm T.evansi (n=5) 50

3.10 Biểu diễn hàm lượng đường huyết ở khỉ Macaca Mulatta sau gây

3.11 Biểu diễn độ dự trữ kiềm ở khỉ Macaca Mulatta sau gây nhiễm

Trang 11

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CATT Card Agglutination Testfor Trypanosomiasis

EDTA Ethylene diaminete traacetic acid

ELISA Enzyme Linked Immuno sorbent Assay

Trang 12

Ngoài những vật nuôi quan trọng thường được quan tâm nghiên cứu thì

khỉ là một trong những loài động vật mẫn cảm với T.evansi Trong đó có khỉ Macaca Mullata thuộc họ khỉ Cercopi thecidae trong bộ linh trưởng Primates

Trên thế giới, khỉ vàng phân bố ở Miến Điện, Ấn Độ, Nê Pan, Thái Lan, Lào và miền nam Trung Quốc…Ở Việt Nam, khỉ vàng phân bố rộng ở các tỉnh miền núi, trung du như Tuyên Quang, Lạng Sơn, Hà Giang và Ninh Bình

Khỉ không chỉ là nguồn dược liệu quan trọng trong Đông và Tây y mà còn là loài động vật bậc cao rất gần gũi với con người về nguồn gốc và giải phẫu nên đã được dùng làm đối tượng nghiên cứu về hệ thần kinh, sự vận động, khả năng sinh sản, các bệnh ở hệ tim mạch và bệnh tiểu đường Vì vậy, Viện Vệ sinh dịch tễ thường dùng một số lượng lớn khỉ làm động vật thí nghiệm để sản xuất vaccine Sabin phòng bại liệt cho trẻ em và các loại vaccine chống dịch sởi, viêm gan A, B, C Đến nay, nước ta đã sản xuất được vaccine chống virut H5N1 thử nghiệm thành công trên động vật và đang xin phép thử nghiệm trên người

Holland W G et al (2002), đã kiểm tra và phát hiện các thú hoang châu Á nhiễm Trypanosoma evansi tự nhiên: hươu sao ở đảo Maurice; nai Cervus ở

Indonesia; cừu hoang và hoẵng, linh dương ở Kazakistan, tinh tinh ở đảo Sumatra; chuột Hamster ở Ấn Độ; khỉ Maracus rheusus ở một số nước Ở Nam Mỹ và Trung

Mỹ có một số loài thú cũng bị mắc bệnh Tiên mao trùng do T.evansi gây ra ở thể

cấp tính và chết bao gồm: chó rừng, khỉ ở Venezuela;, nai đuôi trắng, hươu ở Panama và Colombia Ngoài ra các tác giả còn phát hiện một số ổ dịch ở hổ, báo

Trang 13

nuôi ở vườn bách thú Ấn Độ

Ngoài những động vật bị nhễm T.evansi tự nhiên, trong phòng thí nghiệm

có thể truyền bệnh Tiên mao trùng cho các loại động vật nhỏ, chuột nhắt trắng, chuột cống trắng, thỏ, chuột lang, chồn, cầy hương, chó, mèo, trong đó chuột

nhắt trắng, chuột cống trắng đặc biệt mẫn cảm với T.evansi (Lapage.G,1968)

Để có thông tin khoa học về đặc tính gây bệnh của T.evansi gây bệnh thực

nghiệm trên khỉ và đặc điểm bệnh lý của khỉ được gây bệnh Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Xác định đặc tính gây bệnh của Trypanosoma evansi gây nhiễm thực nghiệm trên khỉ Macaca Mulatta và đặc điểm bệnh lý của khỉ được gây nhiễm”

2 Mục tiêu của đề tài

- Xác định được đặc tính gây bệnh của Trypanosoma evansi trên khỉ Macaca Mulatta gây bệnh thực nghiệm

- Xác định được sự biến đổi bệnh lý (các chỉ tiêu huyết học, triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đại thể ở các cơ quan) của khỉ Macaca Mulatta gây nhiễm

T.evansi.

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Lịch sử nghiên cứu Tiên mao trùng, bệnh Tiên mao trùng do T.evansi

Năm 1837, Donne phát hiện một loài Trychomonas trong ruột người Năm 1841, Valentin tìm ra trùng roi Trypanosoma đầu tiên trong máu một loài

cá Sau đó, các loài Tiên mao trùng khác được phát hiện trong máu nhiều loài

động vật, trong các loài được phát hiện thì loài T.evansi ký sinh và gây bệnh cho

động vật đóng vai trò quan trọng

Năm 1843, Gruby đã phát hiện thấy Tiên mao trùng trong máu ếch, đặt tên là Eryganosoma sanguinis Tiếp sau đó nhiều loài Tiên mao trùng khác lần lượt được phát hiện ký sinh gây bệnh cho động vật có vú và người

Năm 1880, Griffilt Evans tìm thấy loài Tiên mao trùng gây bệnh trong máu la, ngựa, lạc đà ở bang Punjab - Ấn Độ Nó được xác định là một thủ phạm gây ra bệnh chung cho ngựa, la, lạc đà, trâu ở Ấn Độ được gọi chung

là bệnh “Surra”

Năm 1919, Boreeho và Bernard tiến hành kiểm tra Tiên mao trùng cho

506 bò và thấy 1,2% bò có Tiên mao trùng mà vẫn khỏe mạnh bình thường Bệnh Tiên mao trùng đã được phát hiện ở hầu hết các tỉnh thuộc Bắc Bộ: Bắc Cạn, Cao Bằng, Lai Châu, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Bắc Giang, Phú Thọ, Quảng Yên, Yên Bái, Nam Định, Hà Tây, Ninh Bình,… Houdemer cũng đã thống kê những gia súc bị bệnh và chết do Tiên mao trùng từ 1920-1925 với tổng số 424 con, trong đó: ngựa 402 con, tỉ lệ chết 95%; bò 4 con

và tỉ lệ chết là 1%; trâu 14 con và tỉ lệ chết là 3%; chó 4 con và tỉ lệ chết là 1% (Houdmer, E.F 1925)

Năm 1955, Trịnh Văn Thịnh cho biết: Các nhà khoa học đã phát hiện ổ dịch Tiên mao trùng ở Việt Bắc và Tây Bắc làm chết 2 bò, ngựa Cũng tại đây năm 1956 lại xảy ra ổ dịch làm chết 56 con trong số bò ngựa ốm

Năm 1972, Nguyễn Hữu Nha phát hiện ổ dịch Tiên mao trùng ở bò ngoại

Trang 15

(lang trắng đen) tại nông trường Thái Bình (Quảng Ninh) làm thiệt hại 32 bò Cũng năm 1972, Phạm Sỹ Lăng công bố kết quả điều tra tại 15 huyện thuộc Hà Nội, Nam Hà, Quảng Nam, Thanh Hóa, Bắc Thái với 2.457 trâu, số trâu nhiễm Tiên mao trùng là 251 con chiếm tỉ lệ 9,6%; và 364 bò có 15 con nhiễm Tiên mao trùng chiếm tỉ lệ 4%

Năm 2002, Holland W.G đã nghiên cứu lịch sử phát triển, hình thái, tính chất sinh vật học của Tiên mao trùng và đi đến kết luận: tất cả đều là chủng gốc châu Á, gốc châu Phi, gốc châu Mỹ và gốc châu Âu của một loài duy nhất

T.evansi

Lapage.G (1968) đã ghi nhận những loài TMT chính ký sinh ở động vật

có vú và người như sau:

1 Trypanosoma evansi, ký sinh ở động vật có vú

2 Trypanosoma brucei, ký sinh ở động vật có vú

3 Trypanosoma equiperdum, ký sinh ở ngựa, la

4 Trypanosoma gambiense, ký sinh ở người

5 Trypanosoma congolense, ký sinh ở động vật có vú

6 Trypanosoma vivax, ký sinh ở động vật có vú

7 Trypanosoma cruzi, ký sinh ở người

8 Trypanosoma rhodesiense, ký sinh ở người

9 Trypanosoma simiae ký sinh ở lợn

Tiên mao trùng chưa rõ tác hại gây bệnh:

10 Trypanosoma lewisi, ký sinh ở động vật gậm nhấm

11 Trypanosoma theileri, ký sinh ở trâu, bò

12 Trypanosoma melophagium, ký sinh ở dê, cừu

Trong số các loài Tiên mao trùng kể trên thì Trypanosoma evansi là loài

phổ biến nhất, phân bố khắp nơi trên thế giới, gây bệnh cho hầu hết các loài động vật

có vú trừ người, chiếm ưu thế ở vùng cận đông châu Á và châu Mỹ La tinh

Ở nước ta hiện nay đã tìm thấy ba loài TMT đó là:

1 Trypanosoma evansi, ký sinh ở động vật có vú

2 Trypanosoma theileri, ký sinh ở trâu, bò

Trang 16

3 Trypanosoma lewisi, ký sinh ở chuột

1.2 Một số hiểu biết về Trypanosoma evansi

1.2.1 Vị trí của T.evansi trong hệ thống phân loại động vật học

Theo Levine et al (1980) (Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương 1997),

vị trí của Tiên mao trùng trong hệ thống phân loại nguyên bào (Protozoa) như

Giống Trypanosoma Gruby, 1843

Giống phụ Megatrypanum Hoare, 1964

Loài Trypanosoma (M) theileria Giống phụ Herpetosoma Donein, 1901

Loài Trypanosoma (H) leisi Giống phụ Schizotrypanum Chagas, 1909

Loài Trypanosoma (S) cruzi Giống phụ Duttonella Chalmers, 1918

Loài Trypanosoma (D) vivax Loài Trvpanosoma (D) uniform Giống phụ Nalmomonas Hoare, 1964

Loài Trypanosoma (N) congolense Loài Trypanosoma (N) siminae Loài Trypanosoma (N) vanhogi Giống phụ Trypanozoon Liihe, 1906

Loài Trypanosoma (T) brucei Loài Trypanosoma (T) gambience Loài Trypanosoma (T) rhodesiense

Trang 17

Loài Trypanosoma (T) equiperdum Giống phụ Pycnomonas Hoare, 1964

Loài Trypanosoma (P) suis Giống phụ Trypanosoma Gruby, 1843

Loài Trypanosoma evansi (Steel, 1885)

Trong các loài Tiên mao trùng trên, có 7 loài được tổ chức Thú y Thế giới (OIE) thông báo là có khả năng gây bệnh cho người và động vật có vú, đó là:

T.brucei, T.congolense, T.cruzi, T.evansi, T.gambiense, T.siminae, T.vivax

1.2.2 Đặcđiểm hình thái, cấu tạo của T.evansi

* Đặc điểm hình thái của T.evansi

Trypanosoma evansi được xếp vào loại đơn hình thái (Monomorpha) Killick-Kendrick, R (1964), đã gặp những thể bị biến mất thể cơ động

(diskinetoplas) Sau khi sử dụng thuốc điều trị Berenil, Prothidium, Trypanosoma evansi khó nuôi cấy trong môi trường, những thay đổi tính kháng nguyên mất độc lực, không gây bệnh cho cả những động vật dị cảm

Chen Quijun (1992) cho biết T.evansi được xếp vào loại đơn hình thái Trypanosoma evansi hình suốt chỉ hay hình thoi, ở giữa có nhân, không có Cytochrome Cuối thân có kinetoplast và kinetosome, màng rung động rộng, gấp

nếp rõ Trong nguyên sinh chất có những hạt nhỏ bắt màu trắng

Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Khuê và cs (1996), T.evansi là

loại ký sinh trùng ký sinh ngoài hồng cầu, có hình thoi, dài 18-34 µm, giữa thân

có một roi bắt nguồn là thể hình roi, cách đuôi khoảng 1,5 µm Roi này chạy dọc thân tạo thành nhiều màng rung động, cuối cùng roi này lơ lửng ở phần đầu thành

roi tự do dài 6 µm Nhờ có roi, màng rung động mà T.evansi chuyển động được

trong máu động vật Tiêu bản máu nhuộm Giemsa, nguyên sinh chất bắt màu xanh nhạt Nhân bắt màu hồng Tiên mao trùng ký sinh trong máu hoặc ở một số

tổ chức của động vật có xương sống, được truyền từ động vật bệnh sang động vật khoẻ theo phương thức cơ giới nhờ những côn trùng hút máu họ mòng

Tabanidae , họ ruồi Stomoxydinae

Lê Ngọc Mỹ và cs (1996 - 2000), đã quan sát thấy Trypanosoma evansi

Trang 18

hoàn toàn không có thể cơ động (diskinetoplast) sau khi sử dụng hoá dược

Prothridium, Berenil điều trị trên động vật thí nghiệm

Một số loài Tiên mao trùng có thể quan sát thấy nhiều hình thái trong quá trình phát triển ở ký chủ trung gian, ký chủ cuối cùng Hình thái Tiên mao trùng thường gặp là:

1 Thể Crithidia: thể cơ động ở trước, gần thân, từ thể cơ động xuất phát

một roi, giới hạn một màng rung động ngắn, roi tự do ở phía trước

2 Thể Leptomonas: thể cơ động hoàn toàn ở phía trước, từ thể cơ động

xuất hiện một roi tự do, không có màng rung động

3 Thể Leishmania: hình bầu dục hay hình cầu có một nhân to, một bào tử

thể hình gậy, từ đó xuất phát mội cái roi chưa thành hình kết thúc ở giữa thân

4 Thể Trypanosoma: hình dạng bình thường, nhưng có roi dính vào thân, chạy

thẳng lên phía trước, không tạo thành màng rung

Hiện nay người ta đã đưa ra những khái niệm để phân biệt hình thái của Tiên mao trùng theo 6 dạng:

1 Trypamastigote: Tiên mao trùng có hình dạng bình thường

2 Spimastigote: Tiên mao trùng có hình thái như Crithidia

3 Chosnomastigote: Tiên mao trùng có roi chạy thẳng theo thân, không

tạo thành màng rung động, không có những nếp gấp khúc

4 Promastigote: Tiên mao trùng có hình thái giống như Leptomonas

5 Amastigote: Tiên mao trùng có hình thái giống như Leishmanian

6 Phaeromastigote: Tiên mao trùng có hình thái giống như Leishmania

nhưng có roi có một đoạn tự do ngoài thân

* Đặc điểm cấu tạo của T.evansi

Nhìn chung, cấu trúc từ ngoài vào trong của Tiên mao trùng được chia thành 3 phần chính:

- Vỏ: ngoài cùng là lớp vỏ dày 10 - 15 nm, vỏ được chia làm 3 lớp (lớp ngoài

và lớp trong cùng tiếp giáp với nguyên sinh chất dầy hơn lớp giữa) Lớp vỏ ngoài cùng được cấu tạo từ các phân tử glycoprotein luôn biến đổi (Vanant Glycoprotein Surface -VGS) Tiếp giáp với lớp trong cùng là 9 cặp vi ống xếp song song dọc theo

Trang 19

chiều dài thân Tiên mao trùng Chính nhờ sự sắp xếp của các cặp vi ống nên Tiên mao trùng có dạng hình suốt chỉ mảnh (Nguyễn Quốc Doanh, 1998)

- Nguyên sinh chất: gồm lớp trong và lớp ngoài Trong nguyên sinh chất

có chứa các nội quan: ribosome có màu thẫm xen kẽ vùng không bào màu sáng, mitochrondno, reticulum (lưới nội bào), mạng lưới golgi và đặc biệt là kinetoplast (thể cơ động) - là nơi roi sinh ra và chứa DNA và cũng là một điểm rất riêng của Tiên mao trùng Lượng KADN chiếm khoảng 10 - 20% DNA của toàn bộ cơ thể, bao gồm

2 loại cấu trúc vòng DNA đó là: vòng lớn (maxicircles) và vòng nhỏ (minicircles)

Hình 1.1: Cấu tạo của Trypanosoma

A - Roi H - Phần thân chính

B - Tổ hợp cytoskeleton I - Bộ máy Golgi

E - Thể cơ động kinetoplast L - Nơi tiếp xúc của roi với màng rung

G - Túi tiên mao

Vòng nhỏ có kích thước 1Kb và có khoảng 1000 bản sao Bản sao mật mã di truyền của chuỗi vòng nhỏ mã hoá cho “Guide RNA” có chức năng điều khiển quá trình sao mã và giải mã của maxicircle Số lượng vòng lớn vào khoảng 20-25

và kích thước trung bình của mỗi vòng khoảng 20Kb tuỳ theo loài Các DNA của maxicircle là giống nhau và có chứa các gen mã hoá cho các enzym giúp cho quá

trình trao đổi chất của Tiên mao trùng Nhưng một điều đặc biệt là Trypanosoma

Trang 20

evansi lại không có DNA maxicircle Điều đó giải thích tại sao trong vòng đời

phát triển của mình, Trypanosoma evansi không có khả năng nhân lên trong vật chủ môi giới truyền bệnh giống T.brucei hay T.equiperdum

- Nhân: nhân Tiên mao trùng có chứa ADN, hình bầu dục hoặc hình trứng Nhân thường nằm ở vị trí trung tâm hoặc gần vị trí trung tâm cơ thể Ngoài nhân,

về phía cuối thân còn có thể kinetoplast chứa AND (KADN) Từ kinetoplast có một roi chạy vòng quanh thân lên đầu và ra phía ngoài cơ thể thành một roi tự do Roi của Tiên mao trùng có lớp vỏ ngoài cùng giống lớp vỏ của thân Trong roi có

9 cặp vi ống ở xung quanh và một cặp ở trung tâm, xếp song song dọc chiều dài roi (Nguyễn Quốc Doanh, 1998)

Phạm Sỹ Lăng (1982), cho biết: Trypanosoma evansi thuộc giống Trypanosoma,nó có hình suốt chỉ thon, mảnh, hai đầu tròn hoặc nhọn Thân là một khối nguyên sinh chất, giữa có một nhân, cuối thân có một thể cơ động (kinetoblast), hay còn gọi là hạch cơ động Từ thể cơ động hoặc gần thể cơ động xuất hiện một roi đính vào thân, chạy dọc lên phía trước tạo thành màng rung động nhiều nếp gấp do có một đoạn tự do ở phía trước Cũng có Tiên mao trùng trong giai đoạn phát triển không có roi

Theo Ventura R.M et al (2002), cấu trúc cơ bản của T.evansi cũng giống như cấu trúc của các loài Tiên mao trùng khác thuộc họ Trypanosomatidae Tế

bào có hình suốt chỉ là nhờ các vi ống xếp song song nằm dọc theo chiều dài dưới màng tế bào Chuyển động liên tục của Tiên mao trùng được hoạt hoá bởi một roi bắt nguồn từ thể cơ động Ở chỗ roi nhập vào thân tế bào có một chỗ lõm trên bề mặt tế bào gọi là túi roi Chính phần này của màng tế bào là nơi thực hiện các quá trình bài tiết, quá trình hấp thu các chất dinh dưỡng của Tiên mao trùng

1.2.3 Một số đặc tính sinh học của Trypanosoma evansi

Đặc tính sinh học của T.evansi là cơ sở khoa học để tìm ra các biện pháp

tiêu diệt mầm bệnh cũng như nuôi cấy mầm bệnh ở ngoài cơ thể động vật Đồng

thời cũng có thể chủ động về giống T.evansi trong nghiên cứu và sản xuất kháng

nguyên phục vụ cho công tác chẩn đoán bệnh

Theo Trịnh Văn Thịnh (1967), T.evansi được truyền từ động vật này

Trang 21

sang động vật khác bằng phương thức cơ giới, chủ yếu nhờ các loài ruồi họ

Stomoxydinae và các loài mòng họ Tabanidae Trong chu kỳ phát triển của T.evansi không có giai đoạn phát triển trong ký chủ trung gian như một số

loài Tiên mao trùng khác T.evansi sau khi theo máu vào cơ thể ruồi mòng, nó

vẫn sống và hoạt động đến giờ thứ 53, thời gian hoạt động mạnh nhất từ giờ

thứ nhất đến giờ thứ 34, trung bình là 24 giờ, sự hoạt động của T.evansi yếu

và giảm dần từ giờ thứ 35 đến giờ thứ 42 Từ 46 - 53 giờ sau thì T.evansi

ngừng hoạt động

Theo Lương Văn Huấn, Lê Hữu Khương (1997), T.evansi ký sinh

trong máu, đôi khi trong tổ chức nhiều loại động vật có vú, trong quá trình tiến hoá đi vào ống tiêu hoá của những loài động vật không xương sống khác, chúng

tự nuôi dưỡng bằng cách thẩm thấu các chất dinh dưỡng có trong huyết thanh

của máu hay dịch thể mà chúng sống trong đó T.evansi ký sinh trong máu nhiều

loại động vật, chúng sinh sản bằng cách trực phân theo chiều dọc Đầu tiên

T.evansi tăng thể tích, thể cơ động phân chia, nhân cũng phân chia theo Tuỳ

theo sự phân chia, T.evansi có thể phân thành hai hoặc bốn T.evansi mới, hình

thành một cái roi mới Sau đó nguyên sinh chất sẽ phân chia, bắt đầu từ phía trước giữa cái roi, sự phân chia tiếp tục cho đến phía sau thân thể Hai cơ thể mới sinh còn dính với nhau một thời gian ở phía sau thân của chúng, rồi tách hẳn nhau ra Bình thường hai cơ thể này bằng nhau, nhưng cũng có khi một bé một lớn Sự phân chia này chỉ thực hiện trong máu động vật có vú

Theo Phan Địch Lân (2004), T.evansi sống trong máu (huyết tương, ngoài

hồng cầu) của nhiều loài động vật như trâu, bò, ngựa, chó, mèo, lạc đà, voi, hươu, hoẵng, thỏ, chuột cống, chuột lang, chuột bạch

Trong thời gian sống trong máu, T.evansi tiết ra độc tố Trypanotoxin tác

động vào các cơ quan nội tạng của con vật và gây những biến đổi bệnh lý

Theo Novy MeNeal and Nicole, T.evansi có thể nuôi cấy trong bào thai

gà, môi trường dịch tổ chức, Trypanosoma evansi rất khó nuôi cấy trong môi

trường, trong một số điều kiện đặc biệt chúng có thể phát triển trong môi trường, nhưng nó thay đổi tính kháng nguyên, mất độc lực, không gây bệnh cho các động

Trang 22

vật dị cảm, đặc tính này đã được dùng để phân biệt với loài Trypanosoma brucei, đây là loài rất khó phân biệt với Trypanosoma evansi về hình thái, khả năng gây

bệnh

T.evansi nuôi cấy trong phòng thí nghiệm không có kết quả, nuôi cấy ở nhiệt độ thấp T.evansi có hình dạng tương tự như đang phát triển đã tìm thấy ở ruồi Tse tse Trypanosoma evansi không có khả năng gây nhiễm cho động vật khi nuôi cấy Những chủng đơn hình thái của Trypanosoma brucei bị mất khả

năng phát triển trong ký chủ trung gian cũng không nuôi cấy được (Toure and S.M.,1979)

1.3 Những nghiên cứu về miễn dịch Tiên mao trùng

1.3.1 Cấu trúc kháng nguyên của T.evansi

Kháng nguyên của T.evansi gồm hai loại: kháng nguyên ổn định (kháng

nguyên không biến đổi) và kháng nguyên biến đổi

* Kháng nguyên ổn định (kháng nguyên không biến đổi)

Trong quá trình ký sinh trong cơ thể vật chủ, phần lớn các thành phần kháng nguyên của Tiên mao trùng không bị biến đổi Bằng phương pháp điện di

miễn dịch huyết thanh thỏ tối miễn dịch với T.evansi, các nhà khoa học đã phát

hiện tới 30 thành phần kháng nguyên khác nhau Tất cả các loại Tiên mao trùng thuộc cùng một nhóm hầu như có cùng một loại kháng nguyên ổn định và chúng giống nhau một phần với các chủng Tiên mao trùng khác nhóm Thí dụ như

T.brucei thuộc giống phụ Trypanozoon, loài T.congolense thuộc giống phụ Nannomonas đến 60% giống nhau, T.vivax thuộc giống phụ Duttonella có miễn dịch chéo với Trypanozoon và Nannomonas

Có ba loại kháng nguyên không biến đổi (ISG: Invanant Surface Glycoprotein) ở màng nguyên sinh chất của tế bào Loại ISG 65, ISG 75 được phân bố trên toàn bộ màng tế bào ước lượng số lượng khoảng 50.000 - 60.000

phân tử giống nhau Ở T.evansi sống, kháng nguyên này không thể kết hợp được với kháng thể của vật chủ (Johanson HC et al., 2008) Do cấu trúc không gian ba

chiều và đặc tính ưa nước, các ISG này nằm chen vào phần VSG Bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang và phương pháp đánh dấu iode màng tế bào Tiên

Trang 23

mao trùng, có thể phát hiện và phân lập được các phân tử này Loại thứ ba, ISG

100 gần đây mới phát hiện Chúng có đặc tính ưa nước và không thể kết hợp được với kháng thể của vật chủ

* Kháng nguyên biến đổi

Về kháng nguyên biến đổi, cần đề cập đến sự biến đổi lớp vỏ bề mặt VSG (Variant Surface Glycoprotein), những quan điểm mới về sự xuất hiện kháng nguyên biến đổi của Tiên mao trùng và cơ chế di truyền của kháng nguyên biến đổi

Nhờ kháng thể đặc hiệu được đánh dấu mà các nhà khoa học đã phát hiện

ra sự biến đổi của lớp kháng nguyên bề mặt Lớp áo bề mặt của Tiên mao trùng

có thành phần là glycoprotein bao phủ toàn bộ bề mặt tế bào bằng một lớp phân

tử giống nhau (mỗi Tiên mao trùng có 107 phân tử) Lớp áo bề mặt này kích thích

cơ thể vật chủ tạo ra kháng thể đặc hiệu với từng type kháng nguyên biến đổi VAT (Variable Antigen Type) Kháng nguyên biến đổi có tính miễn dịch cao, chiếm khoảng 10% protein của Tiên mao trùng Loại kháng nguyên này kích thích tạo kháng thể đặc hiệu đối với từng loại sinh ra nó Đối với kháng nguyên biến đổi, chỉ mình nó có khả năng kích thích tạo ra miễn dịch chủ động Người ta ước lượng rằng, một con TMT có ít nhất vài trăm hoặc vài nghìn VSG, nghĩa là 5

- 10% số gen của Tiên mao trùng cung cấp cho kháng nguyên bề mặt này

Các tác giả nghiên cứu về miễn dịch học cho rằng, Tiên mao trùng biến đổi kháng nguyên bề mặt để né tránh miễn dịch đặc hiệu của vật chủ Tuy nhiên,

sự biến đổi kháng nguyên bề mặt của ký sinh trùng đã có ngay ở pha đầu tiên của quá trình nhiễm (trước khi xuất hiện đáp ứng miễn dịch của cơ thể vật chủ)

Theo Holland W.G et al (2002), hiện tượng biến đổi kháng nguyên bề

mặt của Tiên mao trùng còn thấy ở gia súc đã bị tiêm thuốc làm suy giảm miễn dịch

De Meeus T et al (2007) bằng nghiên cứu trên invitro đã quan sát thấy

sự biến đổi kháng nguyên theo một trình tự giống như sự biến đổi kháng nguyên ở invivo

Người ta đã nhận thấy rằng ở đỉnh cao của sóng Tiên mao trùng đầu tiên

Trang 24

hầu như có cùng một loại type kháng nguyên biến đổi (VAT) sau khi ruồi, mòng mang mầm bệnh truyền bệnh cho gia súc Các VAT sớm được gọi là các VAT trội có đặc tính của kho kháng nguyên đã cho Các type kháng nguyên biến đổi (VAT) xuất hiện theo một trật tự nửa xác định Nghĩa là các VAT sớm có xu hướng xuất hiện thành các VAT mới được phát hiện cách nhau vài ngày, nhưng nhịp điệu này không duy trì được ở giai đoạn nhiễm muộn Có lẽ là do miễn dịch bảo hộ của vật chủ dẫn đến Tiên mao trùng phải tái tạo ra VAT ngoại lệ (ít trội) Một số nghiên cứu đã áp dụng các kỹ thuật IFAT, Trypanolyse để định VAT trong một quần thể dị loại và nghiên cứu sự biến đổi kháng nguyên của

T.brucei đã phân dòng Từ sóng Tiên mao trùng đầu tiên, một quần thể Tiên mao trùng có tính đồng gen khoảng 99% và tạo thành một loại kháng nguyên chính: loại đồng gen (homotype) Ngoài ra còn phát hiện thấy nhiều loại kháng nguyên khác dị loại (heterotype) Sau khi hệ thống miễn dịch loại bỏ kháng nguyên đồng loại, kháng nguyên dị loại tăng nhanh Các sóng Tiên mao trùng kế tiếp nhau có thể chứa nhiều VAT chủ yếu và chúng sẽ bị thải loại nhanh và thay thế loại VAT khác và các VAT này loại thải ở mức độ chậm hơn

Những quan điểm này là hoàn toàn mới để lý luận về sự xuất hiện kháng nguyên biến đổi của Tiên mao trùng Như vậy, quan điểm về sự biến đổi kháng nguyên lớp vỏ của Tiên mao trùng cho đến nay vẫn chưa thống nhất

- Cơ chế di truyền của kháng nguyên biến đổi

Khi kháng thể đặc hiệu kết hợp với phân tử của kháng nguyên bề mặt (VSG), làm tiêu tan Tiên mao trùng thì đó cũng là nguyên nhân chính thúc đẩy

sự hoạt hoá của gen Kết quả là các phân tử kháng nguyên VSG được thay đổi hoàn toàn bằng các phân tử VSG mới Lúc này, kháng thể đặc hiệu lúc trước đã không còn tác dụng đối với kháng nguyên mới này

Các VSG được mã hoá nhờ các gen chuyên biệt Từ kho chứa hàng nghìn gen khác nhau, một gen VSG được hoạt hoá một cách chọn lọc, dẫn đến tổng hợp ra một loại kháng nguyên VSG Gen hoạt hoá này nhờ men ARN được sao chép thông qua ARN thông tin (ARNm) Nơi sao chép gọi là điểm biểu hiện gen (expression side) Điểm này thường nằm ở phía cuối của nhiễm sắc

Trang 25

thể (chromosome), ở chỗ telemere Tuy nhiên, điểm biểu hiện đôi khi bị hoạt hoá và cùng lúc này có tới hai chục điểm có chức năng tiềm tàng chuẩn bị hoạt hoá cùng tồn tại trong bộ gen của Tiên mao trùng ADN của Tiên mao trùng được tạo bởi nhiều nhiễm sắc thể, mỗi nhiễm sắc thể có telomere nằm trên nó và chứa nhiều gen VSG

Mỗi bên VSG mới tạo ra một loại kháng nguyên VSG mới Trong bộ gen của Tiên mao trùng tồn tại một số lớn gen VSG, các gen này sử dụng nhiều cơ chế sắp xếp khác nhau, do vậy Tiên mao trùng đã tạo ra nhiều VSG khác nhau ở gia súc bị bệnh mãn tính

Quá trình tái tạo ra các VAT mới là do có sự thay đổi mẫu gen nhờ vào sự chuyển hoá gen ở điểm biểu hiện Bên cạnh đó có các gen VSG ở telomere tích

tụ các đột biến thích hợp làm thay đổi đặc biệt ADN ở vùng này Tuy nhiên phần lớn các telomere này không giống nhau về các điểm biểu hiện Do vậy, cơ chế biến dổi theo hai cách:

Cách thứ nhất là sử dụng lần lượt các điểm biểu hiện khác nhau không có

sự sắp xếp của ADN Các điểm biểu hiện khác nhau sẽ mang các gen VSG khác nhau, sự luân phiên này dẫn đến sự thay đổi type kháng nguyên Cơ chế này quan sát được chủ yếu ở giai đoạn đầu của quá trình nhiễm Có lẽ ở giai đoạn đầu chưa có một đáp ứng miễn dịch của vật chủ đối với VSG và chính điều đó không gây ra một cản trở hoạt hoá một cách tự nhiên của các điểm biểu hiện này

Cách thứ hai là tập hợp lại các đoạn ADN khác nhau để tái tổ hợp gen, mà việc tái tổ hợp này cho phép thay thế hoàn toàn hoặc từng phần gen Protein biến đổi được hoạt hoá bằng một loại gen mới Việc thay thế này có thể là một

sự thay đổi do sự tái tổ hợp lẫn nhau giữa các telomere Nhưng trường hợp này quan sát thấy rất hãn hữu Còn trường hợp khác, việc thay thế thường diễn

ra là dựa vào sự chuyển đổi của gen chứ không dựa vào tái tổ hợp lẫn nhau Trường hợp này được diễn giải như sau: một gen hoạt hoá được thay thế bằng bản sao chép của một gen khác Do có sự thay thế một phần của gen nên tạo ra

loại gen phức hợp và đặc trưng

1.3.2 Miễn dịch học của bệnh Tiên mao trùng

Trang 26

Để sinh tồn và phát triển, ký sinh trùng phải sống nhờ và sử dụng chất dinh dưỡng trên cơ thể khác làm thức ăn duy trì sự sống Tuy vật chủ luôn có những đáp ứng miễn dịch đối với sự tác động có hại của chúng song mỗi loại ký sinh trùng lại có những cách phản ứng khác nhau đối với những tác động đó Vì vậy, đã gây khó khăn cho công tác chẩn đoán và điều trị bệnh

Qua một số nghiên cứu cho thấy: Tiên mao trùng có khả năng giải phóng

ra các yếu tố ức chế miễn dịch, chúng có 2 phương thức lẩn tránh đáp ứng miễn dịch rất có hiệu quả Thứ nhất là trở thành tính kháng nguyên thấp (hypoantigenis) hoặc không có tính kháng nguyên (nolmmunogenie) Cách thức thứ hai là có khả năng thay đổi kháng nguyên bề mặt rất nhanh, giữ được

kháng nguyên cũ Trypanosoma theileri ở trâu, bò, Trypanosoma lewisi ở chuột,

cả hai loài này đều là Trypanosoma không gây bệnh Vì vậy, chúng có thể sống

được trong máu của các động vật bị nhiễm do được bao phủ một lớp protein huyết thanh của vật chủ nên không được nhận biết như là một vật lạ

Trường hợp trâu, bò bị nhiễm TMT, người ta kiểm tra có sự xuất hiện thường xuyên của chúng trong máu, kết quả cho thấy: Số lượng TMT dao động trong khoảng rất lớn, có từng chu kỳ Mỗi một chu kỳ bắt đầu sự tăng lên, sau đó giảm đi, hoặc không phát hiện được TMT nữa Huyết thanh lấy từ nhiều động vật cảm nhiễm tác động tới TMT, được xét nghiệm trước thời gian lấy máu (chắt huyết thanh), nhưng không tác động tới TMT được xét nghiệm ở những lần lấy máu sau này

Qua đó người ta rút ra là trong quá trình ký sinh, Tiên mao trùng luôn thay đổi tính kháng nguyên, vì thế huyết thanh lấy từ giai đoạn trước chỉ có kháng thể chống lại TMT có tính kháng nguyên cũ, mà cơ thể chưa đáp ứng miễn dịch, hình thành kháng thể kháng lại kháng nguyên mới, xuất hiện ở giai đoạn sau đó, không có khả năng đáp lại những TMT mới này

Tính chu kỳ của sự xuất hiện TMT trong máu có thể được giải thích như sau: khi TMT xâm nhập, cơ thể đáp ứng miễn dịch bằng cách sinh ra kháng thể, làm cho số lượng TMT giảm đi trong máu Tuy nhiên số lượng nhỏ sống sót được lại tiếp tục phát triển, kháng nguyên bề mặt mới, một quần thể lạ được tạo

Trang 27

ra Sự thay đổi chu kỳ của số lượng TMT này với mỗi đỉnh cao, là biểu hiện sự xuất hiện một quần thể có tính kháng nguyên mới chúng có thể tiếp tục trong một thời gian dài

Authie (1974), cũng cho biết: trong cùng một giống gia súc, sự mẫn cảm của các loài Tiên mao trùng cũng khác nhau Ở châu Phi, bò Taurine như Baoule, N’dama, Muturu vẫn sống được ở những vùng có mật độ côn trùng gây nhiễm cao, trong khi đó bò Zebu bị chết do bệnh Tiên mao trùng Sự gây nhiễm tự nhiên rất quan trọng, thậm chí đến đời thứ ba của động vật mẫn cảm cũng không có kháng nguyên sống sót ở những vùng gây nhiễm nặng

Theo Turner (1984), lứa tuổi cũng có quan hệ đến sức đề kháng bệnh Tiên mao trùng Bê từ hai tháng đến một năm có kháng nguyên sản sinh kháng thể kháng Tiên mao trùng cao với bò già

Lê Ngọc Vinh (1992), khi nghiên cứu về bệnh Tiên mao trùng cho

biết: Trâu gây nhiễm T.evansi sau 24 đến 30 ngày hàm lượng kháng thể xuất

hiện trong máu cao nhất, giảm dần sau 90 ngày Sau khi điều trị một tuần bằng Trypamidium với liều 1mg/kg thể trọng, hàm lượng kháng thể kháng

T.evansi vẫn còn cao trong máu, bắt đầu giảm dần sau từ 2 đến 3 tuần điều

trị Bò sau khi điều trị 3 tháng, hàm lượng kháng thể kháng T.evansi vẫn còn

tồn tại trong máu

Lê Ngọc Mỹ, và cs ( 1 9 9 4 ) đã sử dụng kỹ thuật ELISA phát hiện kháng

thể kháng T.evansi trong máu trâu nhiễm T.evansi cho biết, kháng thể lưu hành

được phát hiện trong vòng 7 - 14 ngày sau gây nhiễm Hàm lượng kháng thể trong máu trâu gây nhiễm TMT sau 2 - 5 tuần là cao nhất

Phan Lục (2006), miễn dịch mang trùng ở bò có thể kéo dài 6 -10 tháng số

ký sinh trùng ấy chết đi thì con vật lại có thể tái nhiễm Nếu con vật tiếp tục nhiễm bệnh rồi lại qua khỏi nhiều lần thì sức miễn dịch đó càng được củng cố

Theo Lương Văn Huấn, Lê Hữu Khương (1997), ký sinh trùng ký sinh trong máu kích thích hệ thống miễn dịch của gia súc sản sinh kháng thể chống lại

ký sinh trùng, kháng thể xuất hiện làm ngưng kết hoặc tiêu tan ký sinh trùng Quá trình này làm hạn chế sự sinh sôi, phát triển của ký sinh trùng, kháng

Trang 28

thể xuất hiện với nồng độ cao làm ký sinh trùng suy yếu có thể gây nên bệnh mãn tính hoặc gia súc tự khỏi bệnh

Qua nhiều nghiên cứu về miễn dịch ký sinh trùng đường máu, người ta nhận định về cơ chế đáp ứng miễn dịch của cơ thể, sự lẩn tránh đáp ứng miễn dịch của Tiên mao trùng như sau: đáp ứng miễn dịch không hoàn toàn đối với các loại ký sinh trùng nói chung có tính miễn dịch yếu Điều này không đúng trong trường hợp ký sinh trùng có tính kháng nguyên đầy đủ Nhưng khi ký sinh trong máu của động vật chủ, Tiên mao trùng đã tạo ra một cơ chế cho phép chúng tồn tại trước sự đáp ứng miễn dịch của cơ thể Tuy nhiên, cũng giống các phần tử kháng nguyên khác, Tiên mao trùng có thể kích thích cơ thể sản sinh kháng thể dịch thể, kháng thể tế bào

Kháng thể dịch thể phục vụ chủ yếu việc kiểm soát số lượng ký sinh trùng

tự do có trong máu, trong dịch mô, còn kháng thể tế bào có thể trực tiếp chống lại

ký sinh trùng trong tế bào Kháng thể dịch thể gây ức chế trực tiếp các kháng nguyên bề mặt của Tiên mao trùng, có thể gây ra hiện tượng Sonin hóa, ngưng kết hoặc làm cho Tiên mao trùng không chuyển động được Kháng thể cùng với chất tiết của tế bào (cytotocxit) có thể giết chết Tiên mao trùng Mặt khác, kháng thể có thể ức chế hoạt động của các men tham gia vào quá trình sản sinh của Tiên mao trùng (quá trình sao chép) Song bản thân Tiên mao trùng cũng có cơ chế chống lại đáp ứng miễn dịch của vật chủ rất mạnh Tuy nhiên cách thức hoạt động của nó vẫn chưa được làm sáng tỏ, một số quan điểm cho rằng Tiên mao trùng cũng có khởi động sự phát triển của những tế bào ức chế hoặc hệ thống tế bào lympho B

1.4 Những nghiên cứu về dịch tễ học Tiên mao trùng

1.4.1 Phân bố địa lý của Tiên mao trùng

Bệnh Tiên mao trùng hay bệnh Surra có một phạm vi phân bố rất rộng từ phía Tây sang phía Đông bán cầu Phía Tây bán cầu thuộc châu Mỹ, phía Đông bán cầu trải dài từ châu Phi cho đến Philippine

Ở châu Phi, bệnh trải dài từ Tây sang Đông, phía Bắc qua vùng sa mạc Sahara, dọc theo bờ biển Atlantique Địa Trung Hải

Trang 29

Bệnh Tiên mao trùng xảy ra với tên gọi "bệnh Surra” ở Ả rập Saudi,

Yêmen, Sultanate, Ả Rập thống nhất, Thổ Nhĩ Kỳ, Israel, Syrie, Afganistan

Ở châu Á, bệnh xuất hiện ở Trung Á (thuộc Liên Xô cũ), Ấn Độ, Malaysia, bán đảo Đông Dương, Trung Quốc, Indonexia, Philippine, Việt Nam, Iran, Irắc, Ả Rập, Thái Lan

Ở châu Âu, bệnh xuất hiện ở Bungaria (nay đã được thanh toán), hiện chỉ còn ở vùng Volga và Nam Capcase (Liên Xô cũ)

Ở châu Mỹ, bệnh xuất hiện ở Trung Mỹ, Nam Mỹ, đặc biệt phổ biến ở Brazil, Mexico, Venezuela, Colombia

Theo Gibson W (2006) cho biết: ở Ấn Độ năm 1984 người ta đã phát hiện thấy có 13 lợn chết và lấy máu của chúng tiêm truyền cho chuột bạch thì thấy có

7 lợn nhiễm bệnh Tiên mao trùng Các chủng T.evansi phân lập ở châu Á có độc

lực cao hơn các chủng phân lập ở châu Phi Các chủng phân lập ở Phillipin có độc lực cao hơn các chủng phân lập ở Indonesia

Ở Việt Nam, bệnh Tiên mao trùng thấy ở hầu hết các vùng sinh thái khác nhau: miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển

Theo Lê Đức Quyết và cs (1995), tỉ lệ nhiễm bệnh Tiên mao trùng của trâu bò tại các tỉnh Miền Trung là 8,99%

Theo Phan Văn Chinh (2006), tình hình nhiễm T.evansi ở trâu, bò nuôi tại

các tỉnh miền Trung, ở các điểm điều tra với tỉ lệ nhiễm chung cho trâu 10,4% Nơi có tỉ lệ nhiễm cao nhất ở trâu thuộc tỉnh Khánh Hòa (14,3%), thấp nhất

trâu tỉnh Bình Định (6,8%) Bò có tỉ lệ nhiễm T.evansi chung 4,4% Tỉ lệ

nhiễm cao nhất ở bò tỉnh Khánh Hòa (4,9%), bò Đắk Lắk có tỉ lệ nhiễm

( 3,0%) Ở vùng núi trâu có tỉ lệ nhiễm T.evansi thấp (10,15%), thứ đến vùng

ven biển (10,42%), cao nhất vùng đồng bằng (10,63%) Với bò ở vùng núi có tỉ

lệ nhiễm T.evansi thấp (3,7%), vùng ven biển (4,53%), cao nhất là bò ở vùng

đồng bằng (4,98%)

Tại một số tỉnh miền Nam và Tây Nguyên, Phạm Chiến và cs (1999),

đã điều tra thấy trâu nhiễm với tỉ lệ 22,12% và bò nhiễm từ 6,6 - 10,3% Theo điều tra của Phan Lục (2006), cho biết tỉ lệ nhiễm Tiên mao trùng

Trang 30

của bò ở một số nơi tại miền Bắc là 5,9%

Theo Phạm Sỹ Lăng (1982), bệnh Tiên mao trùng có ở tất cả các tỉnh miền Bắc (Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Ninh Bình, Hà Tây) Trâu, bò nhiễm bệnh với tỉ lệ cao và thay đổi giữa các vùng khác nhau, đặc biệt ở trâu, bò có nguồn gốc từ miền núi chuyển xuống vùng đồng bằng) Tác giả

đã khảo sát 2.457 trâu, 364 bò trên 71 cơ sở và thấy tỉ lệ nhiễm chung của trâu, bò

là 8,8% Trâu đồng bằng nhiễm T.evansi từ 3 - 20% cao hơn vùng núi 2,5 - 6,3%

1.4.2 Vật chủ và vật môi giới truyền bệnh Tiên mao trùng

Trong số các loài TMT có khả năng gây bệnh cho người và động vật có vú

thì T.evansi là loài gây bệnh phổ biến nhất Chúng ký sinh ở hầu hết các loài

thú nuôi và thú hoang, thấy nhiều hơn ở trâu, bò, ngựa, lợn, hươu, nai, hổ, báo,

sư tử, chó, mèo, lạc đà, voi thỏ, chuột cống, chuột lang, chuột bạch, nhưng không ký sinh ở người

Ở các nước, trâu, bò đều nhiễm Trypanosoma evansi tự nhiên, nhưng bò

ít mẫn cảm và thường ở thể mãn tính, mang trùng Lạc đà thường nhiễm T.evansi ở

thể cấp tính, chết khá nhiều ở một số nước châu Phi, châu Á

Trịnh Văn Thịnh (1967), cho biết: Launoy (1943), cũng đã phát hiện thấy

mèo nhiễm T.evansi

Gill et al (1987), cho biết ở Ấn Độ đã phát hiện 13 lợn chết ở trại Khara

(Punab), sau khi lấy máu lợn chết tiêm truyền qua chuột bạch, có 7 lợn nhiễm

T.evansi.

Tperrone et al (1992), kiểm tra bò ở Venezuela, thấy bò dưới 3 tháng nhiễm T.evansi 13%, bò trên 36 tháng nhiễm 50% Nishikawa, H.,

Tunlasuvan, D N (1990), cho biết ở Thái Lan, trâu, bò của hầu khắp các tỉnh

trong cả nước đều nhiễm T.evansi, nhưng tỉ lệ nhiễm bệnh ở bò cao hơn ở

trâu

Theo Claes F et al (2004), cho biết: bò ở Guaico nhiễm T.evansi gây

bệnh cho hầu hết các loài động vật như trâu, bò, ngựa, la, chó, ở Trung Quốc

Nguyễn Quốc Doanh và cs (1999 - 2001), khi nghiên cứu bệnh Tiên mao trùng trên các loài bò sát, ếch nhái ở đồng bằng sông Hồng cho biết: các loài rắn,

ba ba, cóc, ếch, nhái cũng nhiễm T.evansi với tỉ lệ là 8,03%

Trang 31

Thực tế cho thấy bệnh ngã nước rất khó kiểm soát bởi bệnh không lây truyền trực tiếp từ con ốm sang con khoẻ mà do hai loại côn trùng môi giới truyền bệnh đó là

loài ruồi hút máu họ Stomoxynidae và loài mòng họ Tabanidae

Chúng không có chu kỳ phát triển trong ký chủ trung gian mà chỉ được truyền theo phương thức cơ giới Trong đó loài mòng là vật môi giới truyền bệnh quan trọng Sự xuất hiện lượng lớn loài mòng trong mùa mưa nóng ẩm luôn có liên quan đến tình hình dịch tễ bệnh Tiên mao trùng ở trâu, bò, lạc đà và dê

Ngoài hai loại côn trùng truyền bệnh trên, Trypanosoma evansi còn có

khả năng truyền bệnh nhờ một số loài ve và nhuyễn thể khác

Theo Phan Địch Lân (1983), cho biết: nước ta có khí hậu, điều kiện sinh

thái thích hợp cho những ký chủ trung gian thuộc họ mòng Tabanidae, họ ruồi Stomoxydinae, chúng cần có thảm thực vật để cư trú, đẻ trứng, cần khí hậu nóng (16oC - 30oC), độ ẩm (50 - 100%), mặt đất ướt để trứng nở, các giai đoạn ấu trùng phát triển, cuối cùng cần có trâu, bò, động vật thích hợp để hút máu duy trì

sự sống đồng thời truyền bệnh T.evansi cho những động vật này

Ở miền Bắc Việt Nam, mòng hoạt động tới 9 tháng, ruồi hút máu hoạt động quanh năm, đặc biệt tập trung vào tháng nóng nực Điều kiện này giải thích tại sao bệnh Tiên mao trùng phân bố rộng rãi, mang tính chất mùa vụ

Phan Văn Chinh (2006), đã tiến hành kiểm tra ruồi, mòng môi giới trung

gian truyền bệnh T.evansi ở ba tỉnh Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Khánh Hoà

đại diện cho các khu vực địa lý khác nhau ở các tỉnh miền Trung, tiến hành kiểm tra từ 1998 đến 2004 thu thập được 17600 tiêu bản mòng, ruồi thuộc

9 loài, trong đó 8 loài mòng thuộc hai giống Tabanus và Chrysops thuộc họ Tabanidae (Tabanus rubidus, Tabanus kiangsuensis, Tabanus striatus, Tabanus miser, Tabanus bruneothorax, Tabanus pseudofiventus, Chrysozona assamensis, Chrysops dispar ) và 1 loài ruồi Stomoxys calcitrans rất phổ biến

ở các vùng kiểm tra

Từ những nghiên cứu về ký chủ trung gian, Phạm Sỹ Lăng (1982) đều khẳng định mùa phát triển, lây lan của bệnh xảy ra vào những tháng thời tiết ấm

áp ruồi, mòng hoạt động mạnh

Trang 32

Thành phần họ mòng Tabanidae ở miền Bắc nước ta đã được Trịnh Văn

Thịnh (1967), cùng Ban Điều tra côn trùng Thú y công bố gồm 77 loài như sau:

Họ mòng Tabanidae

Họ phụ Tabanidae giống Tabanus

- Giống Tabanus : 55 loài

- Giống phụ Ochrops: 10 loài

- Giống Chrysozona : 12 loài

Trong số những loài đã phát hiện có 47 loài được xác định tên chính thức

Loài mòng phổ biến ở các vùng là Tabanus rubidus, Chrysops dispar, một số loài

có tính chất khu vực như Chrysops vandervulpi chỉ thấy ở miền núi, trung du

Hoạt động của mòng theo giờ trong ngày ảnh hưởng đến vai trò truyền bệnh của

chúng Trong một ngày, sự hoạt động của Tabanus ở vùng trung du, đồng bằng

giống nhau xuất hiện lúc 6 - 8 giờ, nhiều nhất 12 - 14 giờ, mất đi 16-18 giờ Ở

miền núi, mòng Tabanus xuất hiện nhiều vào 9 - 10 giờ, 17 - 18 giờ và ít xuất

hiện vào 10 - 14 giờ

Phạm Sỹ Lăng và Chu Duy Bào (1971), đã xác định vai trò của họ mòng

Tabanidae truyền bệnh T.evansi cho bê bằng cách cho mòng Tabanus rubidus đốt và kết luận Tabanus rubidus đã truyền được mầm bệnh cho bê Khoảng cách

mòng đốt bê ốm và bê khoẻ là 43 phút, đã gây cho bê một thể bệnh Tiên mao

trùng mãn tính T.evansi sống tới giờ thứ 53 sau khi xâm nhập vào ruột mòng

nhưng chỉ có khả năng gây bệnh đến giờ thứ 7 Cũng trong năm đó, tác giả đã thông

báo về tỉ lệ mang mầm bệnh T.evansi của một số loài ruồi, mòng ở Hà Nội và Lục Bình Ở Hà Nội mòng Tabanus rubidus mang mầm bệnh 26,58%, mòng Tabanus striatus 25,8%, mòng Chrysops dispar 7,55% Ở Lục Bình mòng Tabanus rubidus 25,1%, Tabanus striatus 24,7%, Tabanus kiangsuensia 19,5%, ruồi Stomoxys calcitrans 20,4%

Phan Địch Lân (2004), phần lớn các loài mòng tập trung ở khu vực miền núi

và trung du Trong 53 loài mòng thì có tới 44 loài phân bố ở vùng rừng núi có độ cao dưới 1.000 mét so với mặt nước biển, càng lên cao số loài càng ít dần (độ cao trên 1.000 mét chỉ có 26 loài) Ở vùng trung du, rừng thưa, độ cao không quá 500

Trang 33

mét so với mặt nước biển có 27 loài; vùng đồi trọc chỉ có 9 - 11 loài; vùng rừng núi ven biển phát hiện chỉ có 8 loài Những loài mòng phổ biến ở tất cả các vùng là:

Tabanus rubidus, T striatus, Chrysops ispar, Chrysozoma assamensis.

Những loài mòng chỉ gặp ở vùng núi là: Tabanus flavistriatus, T.fumifer, Chrysops vander Miền Bắc nước ta có 4 loài ruồi hút máu, 2 loài phổ biến ở tất cả

các vùng là Stomoxys calcitrans và Liperosis exigua; 2 loài chỉ thấy ở những vùng sinh cảnh đặc biệt: loài Bdellolarynx sanguinolentus (chỉ xuất hiện ở vùng có độ cao dưới 1.000mét), loài Stomoxys indica (chỉ thấy ở vùng núi Cẩm Thuỷ)

Phan Địch Lân (2004) cho biết, kiểm tra ở nhiều địa điểm thấy hai loài

mòng T.rubidus và T.striatus mang Tiên mao trùng với tỉ lệ 15,2% và 14,0%; ruồi hút máu Stomoxys calcitrans mang Tiên mao trùng với tỉ lệ 12,5% Ở những vùng

đang có bệnh Tiên mao trùng, kiểm tra ruồi và mòng hút máu dễ dàng tìm thấy Tiên mao trùng Sau khi theo máu vào vòi hút ruồi và mòng, Tiên mao trùng vẫn sống đến giờ thứ 53, thời gian hoạt động mạnh nhất là từ giờ thứ nhất đến giờ thứ

34 trung bình là 24giờ Sự hoạt động của Tiên mao trùng yếu dần từ giờ thứ 35 đến

42 Từ 46 - 53 giờ thì Tiên mao trùng ngừng hoạt động

Hình thái Tiên mao trùng khi ở trong vòi ruồi, mòng biến đổi theo thời gian: từ 1- 34 giờ có hình thái, kích thước bình thường; 35 - 45 giờ: Tiên mao trùng có hình dạng thay đổi, tăng kích thước chiều rộng và thô dần; 46 - 53 giờ: Tiên mao trùng trương to, duỗi thẳng, mất khả năng di động và ngừng hẳn hoạt động

Thực nghiệm đã chứng minh khả năng gây bệnh của Tiên mao trùng sau

khi xâm nhập vào mòng Tabanus rubidus như sau: Thời gian từ giờ thứ 1 đến giờ

thứ 5, Tiên mao trùng có khả năng gây bệnh và làm chết chuột bạch tương tự như khi truyền thẳng máu có Tiên mao trùng cho chuột; từ giờ thứ 6 đến thứ 7 chỉ còn 30% số chuột thí nghiệm phát bệnh, thời gian gây bệnh kéo dài và thời gian chết của chuột cũng dài Điều này có thể giải thích là do độc lực của Tiên mao trùng giảm dần và số lượng Tiên mao trùng còn hoạt lực gây bệnh cũng giảm dần sau

khi chúng xâm nhập vào mòng Tabanus rubidus

1.4.3 Tuổi vật chủ, mùa mắc bệnh

Trang 34

Trâu, bò và các loài gia súc khác ở mọi lứa tuổi đều nhiễm Tiên mao trùng

và đều phát bệnh với triệu chứng suy nhược, thiếu máu, giảm sức đề kháng, giảm khả năng sinh đẻ và sức sản xuất, thậm chí có thể dẫn đến tử vong

Phan Địch Lân (2004) đã tổng hợp kết quả điều tra 3.172 trâu ở các tỉnh đồng bằng: trâu dưới 3 năm tuổi nhiễm thấp nhất (3,2 - 6,l %), trâu 3 - 5 tuổi nhiễm cao hơn (6 - 12,7%), trâu 6 - 8 tuổi nhiễm cao nhất (12,9 - 14,8%), trâu trên 9 năm tuổi tỉ lệ nhiễm giảm thấp hơn trâu 3 - 8 năm tuổi

Theo Phan Văn Chinh (2006), tỉ lệ nhiễm Tiên mao trùng cao nhất là ở 4 -

8 năm tuổi (trâu: 12,71%; bò: 5,77%), thấp nhất là trâu, bò dưới 3 năm tuổi (6,92% và 2,31%) Mùa lây lan bệnh thường xảy ra trong các tháng nóng ẩm, mưa nhiều (từ tháng 4 đến tháng 9) Thời gian này điều kiện sinh thái thuận lợi cho các loài ruồi, mòng phát triển, hoạt động mạnh, hút máu súc vật và truyền Tiên mao trùng

Kết quả nghiên cứu ở miền Trung của tác giả Lê Hữu Nghĩa và cs cho biết: “Trong quá trình thu thập mẫu ở địa phương nhận thấy mòng thường hoạt động tích cực vào mùa khô, vào mùa mưa chúng thường trú ở những bụi cây, do vậy hoạt động hút máu gia súc cũng giảm Thời gian mòng hút máu vào khoảng 10-13 giờ trong ngày nhất là vào lúc nắng to”

Theo Phạm Sỹ Lăng (1982), từ những nghiên cứu về ký chủ trung gian đều khẳng định mùa phát triển, lây lan của bệnh xảy ra vào những tháng thời tiết

ấm áp ruồi, mòng xuất hiện hoạt động mạnh Ở Liên Xô mùa bệnh khoảng 3,5 tháng, từ tháng 5 đến tháng 8 Ở các nước nhiệt đới thì mùa lây lan bệnh có thể xảy ra quanh năm

1.5 Biến đổi bệnh lý của gia súc mắc bệnh tiên mao trùng do T.evansi

Trang 35

lượng Tiên mao trùng được tiêm truyền (ước chừng khoảng 108 Tiên mao trùng có thể gây viêm da ở vị trí tiêm truyền), một số lượng lớn TMT phát triển ở tại chỗ viêm này

Khi vào máu, Tiên mao trùng nhân lên theo cấp số nhân ở trong máu, trong bạch huyết và ở trong các mô khác của cơ thể vật chủ theo cách phân chia theo chiều dọc Số lượng Tiên mao trùng trong máu không phải lúc nào cũng như nhau Mật độ Tiên mao trùng thay đổi theo ngày Biểu đồ sóng Tiên mao trùng cho thấy, xen kẽ giữa những sóng Tiên mao trùng mạnh là những đợt sóng yếu Mỗi đợt sóng Tiên mao trùng bắt đầu bằng sự tăng số lượng Tiên mao trùng trong máu, sau đó giảm và khó phát hiện thấy Tiên mao trùng Mỗi đợt Tiên mao trùng tăng lên trong máu là biểu hiện sự xuất hiện một quần thể Tiên mao trùng

có tính kháng nguyên bề mặt mới, quần thể này có thể tiếp tục sinh sản và tồn tại một thời gian cho đến khi cơ thể xuất hiện kháng thể đặc hiệu với chúng

Tính chu kỳ của sự xuất hiện Tiên mao trùng trong máu là do cơ chế đáp ứng miễn dịch, kháng thể đặc hiệu được hình thành tiêu diệt Tiên mao trùng làm cho số lượng của chúng giảm đi Mặc dù vậy, vẫn còn một số lượng nhỏ sống sót

và chúng tiếp tục thay đổi kháng nguyên bề mặt bằng loại kháng nguyên mới và một quần thể lạ được tạo ra Một chu kỳ mới của Tiên mao trùng trong máu lại tiếp tục hình thành

Tiên mao trùng phát triển nhanh trong máu, tiêu thụ Glucose và các chất đạm, chất béo và khoáng chất trong máu ký chủ bằng phương thức thẩm thấu qua

bề mặt cơ thể để duy trì hoạt động và sinh sản Ở súc vật bị bệnh, trong 1 ml máu

có thể có 10.000 - 30.000 Tiên mao trùng Với số lượng nhiều như vậy, Tiên mao trùng chiếm đoạt dinh dưỡng nhiều, làm cho súc vật bệnh gây còm, thiếu máu và mất dần khả năng sinh sản đồng thời làm giảm sức đề kháng với các bệnh khác

Sống trong máu vật chủ, Tiên mao trùng còn tạo ra độc tố Trypanotoxin, độc

tố này gồm: độc tố do Tiên mao trùng tiết ra qua màng thân trong quá trình sống

và độc tố do xác chết của Tiên mao trùng phân huỷ trong máu sau 15 - 30 ngày Độc tố của Tiên mao trùng tác động lên hệ thần kinh trung ương làm rối loạn trung khu điều hoà thân nhiệt, gây sốt cao và gián đoạn (lúc sốt, lúc hết sốt xen

Trang 36

kẽ nhau) Khi sốt thường có rối loạn về thần kinh (kêu rống, run rẩy, ngã vật xuống) Độc tố cũng phá huỷ hồng cầu, ức chế cơ quan tạo máu làm cho vật chủ thiếu máu và suy nhược dần Độc tố còn tác động tới bộ máy tiêu hoá, gây rối loạn tiêu hoá, làm con vật tiêu chảy Hội chứng tiêu chảy thường xảy ra khi xuất hiện Tiên mao trùng trong máu con vật bệnh

1.5.2 Triệu chứng của gia súc mắc bệnh Tiên mao trùng do T.evansi

Nhiều nhà nghiên cứu cho biết: Khi quan sát triệu chứng lâm sàng của bò

nhiễm T.evansi thể cấp tính thấy bò bệnh có triệu chứng sốt cao, sốt gián đoạn,

thiếu máu, suy nhược, chảy nước mắt, bại liệt chân sau, thủy thũng dưới mỏm ức, phần bụng sau, đôi khi bị kéo dài tới 6 tháng Một số trường hợp bò nhiễm

Trypanosoma evansi thể cấp tính chết nhanh, chỉ trong vòng vài ngày

Theo Verma et al (1988), cho biết trâu, bò nhiễm Trypanosoma evansi

thể hiện rất rõ trạng thái bệnh lý, chết trong khoảng 22 - 96 ngày sau khi gây nhiễm Một số bò khỏi bệnh tự nhiên lại trở thành vật mang trùng

Theo dõi triệu chứng lâm sàng của nghé 6 tuổi nhiễm Trypanosoma evansi (Verma et al., 1988) cho biết: Nghé nhiễm bệnh có biểu hiện sốt 39oC - 40oC, bỏ

ăn, đau đớn Khi lấy máu nghé nhiễm bệnh tiêm truyền cho chuột bạch và lấy

máu chuột bạch kiểm tra đã phát hiện thấy T.evansi

Ở nước ta, Phạm Sỹ Lăng (1982), Hồ Văn Nam (1963), Đoàn Văn Phúc (1985), Trịnh Văn Thịnh (1982), cũng đã phát hiện thấy ở trâu mắc bệnh Tiên mao trùng thể cấp tính với tính chất bệnh rất nặng, sốt cao, bỏ ăn, điên loạn và chết nhanh Trâu nhiễm bệnh thể mãn tính thường sốt gián đoạn, gầy còm, thiếu máu kéo dài, viêm giác mạc, phù thũng ở bụng, liệt chân sau và chết do kiệt sức Đối với bệnh Tiên mao trùng ở bò có những biểu hiện lâm sàng gần giống như ở trâu,

ít thấy các trường hợp cấp tính, con vật sốt gián đoạn, chậm chạp, hạch lâm ba trước đùi sưng, một số con thủy thũng ở vùng hàm, vùng cổ nhưng không đau, gần chết thì bại liệt

Sirivan et al (1987) trong quá trình theo dõi lợn chửa nhiễm T.evansi đã thấy

lợn bệnh thường xuất hiện triệu chứng sảy thai ở tất cả các giai đoạn phát triển của thai, nhưng ở giai đoạn từ 1-2 tháng tỉ lệ sảy thai cao hơn

Trang 37

Bùi Quý Huy và cs (1988) khi điều tra và nghiên cứu nguyên nhân gây sảy thai ở đàn trâu sữa nhập từ Ấn Độ thuộc nông trường trâu sữa Phùng Thượng, tỉnh Ninh Bình cho biết 43% trâu chửa của nông trường bị sảy thai là do

T.evansi gây ra

Trong quá trình nghiên cứu hiện tượng trâu, bò chửa bị sảy thai nhiều trên đàn trâu, bò thuộc huyện Kỳ Sơn và huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình vào năm 1991, các tác giả Lê Ngọc Mỹ, Lương Tố Thu, Vũ Đình Hưng (1994) đã đưa ra kết luận: Nguyên nhân chính của hiện tượng trâu, bò chửa bị sảy thai

của 2 huyện trên là do T.evansi

Nguyễn Văn Duệ và cs (1995) khi quan sát triệu chứng lâm sàng của bò nhiễm bệnh Tiên mao trùng đã miêu tả: một số bò nhiễm bệnh Tiên mao trùng có

cơ thể gầy còm, tiêu chảy dai dẳng, niêm mạc nhợt nhạt, chảy nước mắt, nước mũi liên tục, viêm kết mạc, giác mạc, có hiện tượng thủy thũng, bại liệt chân sau

Bò thường sốt ngắt quãng, sốt rất cao vào buổi sáng, niêm mạc nhợt nhạt, lông

xù, đi khập khiễng đôi lúc còn có triệu chứng thần kinh, run rẩy, sẩy thai, lồng lên trước khi chết Ở ngựa bệnh thường thể hiện cấp tính, rất nặng so với trâu, bò, sốt cao, phù thũng ở dịch hoàn, trước ngực, chân bại liệt nặng nhưng vẫn ăn cho đến khi chết

1.5.3 Bệnh tích của bệnh Tiên mao trùng

Khi ký sinh ở cơ thể vật chủ, Trypanosoma evansi tiết ra độc tố được gọi

là Trypanotoxin Độc tố theo máu đi khắp cơ thể, tác động lên các cơ quan của

vật bệnh, đặc biệt là hệ thống tuần hoàn và gây ra một số bệnh tích làm ảnh hưởng đến hoạt động sống và phát triển của cơ thể con vật

Trong quá trình nghiên cứu các biểu hiện lâm sàng của trâu, bò mắc bệnh Tiên mao trùng, Hồ Văn Nam (1963) cho biết: Ở trâu, bò chết do nhiễm bệnh Tiên mao trùng thường thấy bị thuỷ thũng ở ngực và có dịch màu vàng lầy nhầy

ở tổ chức dưới da; thịt nhão có nhiều nước; trong xoang bụng, xoang ngực có dịch màu vàng chanh; gan sưng to, có khi cứng lại, có màu xám nhạt; cơ tim nhão, đáy tim thuỷ thũng

Ikede and B O (1975) khi mổ khám bò nhiễm T.evansiđã thấy ở những

Trang 38

nơi tổ chức thuỷ thũng của bò bệnh thường có chất keo vàng lầy nhầy Theo tác

giả thì T.evansi sinh sản nhiều trong quá trình di hành trong máu đã làm tắc các

động mạch nhỏ dưới da, gây hiện tượng tụ máu, làm tổn thương vách mạch máu nhỏ dưới da, nên huyết dịch tiết ra ngoài tạo thành các ổ thuỷ thũng

Elamin and E A (1992) khi nghiên cứu tổn thương bệnh lý ở dê nhiễm

Trypanosoma evansi và thấy có hiện tượng Hemosiderin lắng đọng ở tế bào kupffer gan, bạch cầu đơn nhân thấm qua ống cửa gan làm cho tế bào gan bị hoại

tử, dẫn đến cơ tim thoái hoá, bạch cầu đơn nhân chui qua phế quản gây xung huyết và khí thũng phổi, tế bào ống thận bị hoại tử, bong ra

Green house et al (2006) khi quan sát 2 ngựa được gây nhiễm T.evansivà thấy ở ngựa nhiễm T.evansi có biểu hiện sưng hạch, niêm mạc nhợt nhạt, gây

trạng thái bệnh lý ở gan, tuỷ, lách, thoái hoá cơ tim Cầu thận tăng nhanh lymphocyte, monocyte thấm vào nhu mô của các cơ quan, tăng kích thước của tuyến lympho ở gan, lách

1.6 Một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu trâu, bò mắc bệnh Tiên mao trùng

do T.evansi

Máu có quan hệ mật thiết tới sự sống của cơ thể, nó vận chuyển chất dinh dưỡng đến các tổ chức và thải tiết những sản phẩm sinh ra trong quá trình trao đổi chất Máu còn làm nhiệm vụ điều tiết nhiệt cho cơ thể, tham gia vào quá trình thực bào và sản sinh kháng thể, vận chuyển các chất nội tiết để làm cho các khí quan trong cơ thể liên hệ với nhau chặt chẽ Chính vì vậy, khi có chất lạ xâm nhập vào cơ thể sẽ làm ảnh hưởng tới tất cả các chức năng, nhiệm vụ của máu

gây ra tình trạng gầy còm, thiếu máu và giảm sức đề kháng trên con vật

Hồ Văn Nam (1963), Nguyễn Thị Đào Nguyên (1993) khi nghiên cứu hàm lượng các chất vô cơ trong máu trâu, bò nhiễm kí sinh trùng đường máu do

T.evansi đã nhận thấy các chỉ tiêu này có sự biến động rõ rệt so với trâu, bò khỏe mạnh, bình thường Tỉ khối hồng cầu, các chỉ tiêu về chất lượng hồng cầu, sức kháng hồng cầu đều giảm so với trâu, bò khỏe mạnh Hàm lượng protein huyết thanh, lượng huyết đường huyết của trâu bệnh rất thấp Albumin và tỉ lệ A/G giảm, β globulin, γ globulin tăng, hàm lượng bilirubin toàn phần trong huyết

Trang 39

thanh tăng Những biến đổi của các chỉ tiêu trên nói lên tình trạng gan bị rối loạn do tác động của nguyên nhân gây bệnh

Kriiger and F (1985) khi gây nhiễm Trypanosoma evansi cho bốn ngựa

và trong quá trình theo dõi ông thấy hai con sau khi nhiễm ba ngày đã sản sinh interferon, hai con còn lại sau sáu đến bảy ngày mới sinh interferon Và ông đã rút ra kết luận: Ở ngựa non mức sản sinh interferon cao nhất là 25 - 27 ngày sau gây nhiễm, ở ngựa già thì tới ngày thứ 29 - 43 sau gây nhiễm

Cũng theo tác giả trên, tỉ lệ albumin, globulin giảm từ 14 - 49% Không có

sự thay đổi về acid lactic, protein toàn phần, potasium trong huyết thanh Tỉ lệ huyết trầm lắng 35 - 54% Giảm tỉ khối hồng cầu, tổng số hồng cầu, bạch cầu trung tính giảm, nhưng tăng tế bào lympho so với trước khi gây nhiễm

Raina et al (1987), đã gây nhiễm 80 - 100 x 106 T evansi/con cho 18

trâu đực 1,5 tuổi Sau khi gây nhiễm 7 ngày dùng thuốc Suramin, Puirapiramine (4,2 mg/kg) điều trị, sau đó kiểm tra một số chỉ tiêu máu và thấy: không thấy có sự thay đổi urê, nitơ giữa lô dùng thuốc với lô không dùng thuốc, hemoglobin có sự thay đổi không đáng kể Trong quá trình khỏi bệnh thì PO2 tăng rõ rệt ở động mạch, tĩnh mạch, oxy tự do giảm, trong khi đó PO2, oxy tự do ở nhóm không dùng thuốc có sự thay đổi rõ

Ở nước ta việc nghiên cứu sự biến đổi các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa trên cơ

thể động vật nhiễm Trypanosoma evansi còn ít Phạm Sỹ Lăng và cs (1974 - 1984) đã xét nghiệm đàn trâu, bò nhiễm Trypanosoma evansi tự nhiên và thực

nghiệm đều thấy số lượng hồng cầu, hàm lượng huyết sắc tố đều giảm Số lượng bạch cầu của trâu, bò bệnh tăng dần trong quá trình bệnh, nhưng tăng cao nhất vào tháng thứ hai sau gây nhiễm Thành phần các loại bạch cầu tăng không đều

Ở trâu, bò bệnh, lympho bào, bạch cầu ái toan đều tăng, bạch cầu đa nhân trung tính giảm Khảo sát các tiểu phần protein trong huyết thanh thấy lượng protein tổng số, albumin giảm rõ rệt, ngược lại α, β, γ globulin đều tăng, chỉ số A/G < 0,5

Losos and G J ( 1 9 7 9 ) khi gây nhiễm 107 T evansi/con cho 4 ngựa ở

độ tuổi 4- 6 năm và thấy sau 35 ngày gây nhiễm ngựa nhiễm bệnh có tỉ lệ albumin, globulin giảm 14 - 49% Giảm tỉ khối hồng cầu, tổng số hồng cầu, bạch cầu trung tính

Trang 40

giảm, nhưng tăng tế bào lympho so với trước khi gây nhiễm

Theo Nguyễn Quốc Doanh (1998), ở trâu, bò nhiễm Tiên mao trùng số lượng hồng cầu giảm (ở trâu giảm còn 4,12 triệu/mm3, hàm lượng huyết sắc tố giảm 8,24g %, ở bò số lượng hồng cầu giảm còn 4,04 triệu/mm3, hàm lượng huyết sắc tố giảm 8,08g %), mức độ giảm còn phụ thuộc vào chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, quá trình tiến triển của bệnh, nhưng số lượng bạch cầu tăng cao

1.7 Chẩn đoán bệnh Tiên mao trùng

1.7.1 Chẩn đoán lâm sàng

Các biểu hiện lâm sàng đặc trưng của bệnh Tiên mao trùng ở trâu, bò, ngựa không phải lúc nào cũng phát hiện được, nhất là đối với những gia súc mắc bệnh Tiên mao trùng mãn tính

Đối với gia súc mắc bệnh ở thể cấp tính, các biểu hiện bệnh đặc trưng là sốt cao, bỏ ăn, có triệu chứng thần kinh (điên loạn) và chết nhanh Trâu bị bệnh mãn tính có thể thấy triệu chứng: sốt gián đoạn, gầy còm, thiếu máu kéo dài, viêm giác mạc, phù thũng ở bụng và chân sau, chết do kiệt sức (Phạm Sỹ Lăng, 1982) Triệu chứng sảy thai có thể thấy ở trâu, bò bị bệnh Tiên mao trùng (Nguyễn Đăng Khải, 1995)

1.7.2 Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm

Chẩn đoán bệnh Tiên mao trùng trong phòng thí nghiệm với mục đích là phát hiện Tiên mao trùng trong máu gia súc Tùy theo từng trường hợp bệnh, tuỳ điều kiện mà có thể làm cùng lúc một số phương pháp hoặc lựa chọn một phương

pháp phù hợp và có độ chính xác cao

* Phương pháp phát hiện T.evansi trực tiếp

Để phát hiện T.evansi trực tiếp, có thể áp dụng những phương pháp sau:

- Phương pháp xem tươi (Direct smear)

Khi bệnh súc sốt, T.evansi thường xuất hiện trong mao quản ngoại vi Vì

vậy, nên lấy máu vùng ngoại vi để xem tươi

Cho 1 giọt máu nhỏ lên phiến kính đã có sẵn 1 giọt EDTA; dùng góc của

la men khuấy đều, đậy la men lên để máu dàn theo la men thành một lớp mỏng Soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10x40) để phát hiện Tiên mao trùng sống

Ngày đăng: 17/02/2017, 11:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Cấu tạo của Trypanosoma - xác định đặc tính gây bệnh của trypanosoma evansi gây nhiễm thực nghiệm trên khỉ macaca mulatta và đặc điểm bệnh lý của khỉ được gây nhiễm
Hình 1.1 Cấu tạo của Trypanosoma (Trang 19)
Bảng 3.2.Thân nhiệt khỉ Macaca Mulatta được gây nhiễm T.evansi (n=5) - xác định đặc tính gây bệnh của trypanosoma evansi gây nhiễm thực nghiệm trên khỉ macaca mulatta và đặc điểm bệnh lý của khỉ được gây nhiễm
Bảng 3.2. Thân nhiệt khỉ Macaca Mulatta được gây nhiễm T.evansi (n=5) (Trang 55)
Bảng 3.3. Biểu hiện lâm sàng ở khỉ  Macaca Mulatta sau gây nhiễm - xác định đặc tính gây bệnh của trypanosoma evansi gây nhiễm thực nghiệm trên khỉ macaca mulatta và đặc điểm bệnh lý của khỉ được gây nhiễm
Bảng 3.3. Biểu hiện lâm sàng ở khỉ Macaca Mulatta sau gây nhiễm (Trang 56)
Hình 3.4. Khỉ có triệu chứng thần - xác định đặc tính gây bệnh của trypanosoma evansi gây nhiễm thực nghiệm trên khỉ macaca mulatta và đặc điểm bệnh lý của khỉ được gây nhiễm
Hình 3.4. Khỉ có triệu chứng thần (Trang 57)
Bảng 3.4. Bệnh tích đại thể ở khỉ Macaca Mulatta - xác định đặc tính gây bệnh của trypanosoma evansi gây nhiễm thực nghiệm trên khỉ macaca mulatta và đặc điểm bệnh lý của khỉ được gây nhiễm
Bảng 3.4. Bệnh tích đại thể ở khỉ Macaca Mulatta (Trang 58)
Hình 3.8. Số lượng hồng cầu của khỉ sau gây nhiễm T.evansi  (n=5) - xác định đặc tính gây bệnh của trypanosoma evansi gây nhiễm thực nghiệm trên khỉ macaca mulatta và đặc điểm bệnh lý của khỉ được gây nhiễm
Hình 3.8. Số lượng hồng cầu của khỉ sau gây nhiễm T.evansi (n=5) (Trang 61)
Bảng 3.6. Hàm lượng huyết sắc tố và lượng huyết sắc tố trung bình hồng - xác định đặc tính gây bệnh của trypanosoma evansi gây nhiễm thực nghiệm trên khỉ macaca mulatta và đặc điểm bệnh lý của khỉ được gây nhiễm
Bảng 3.6. Hàm lượng huyết sắc tố và lượng huyết sắc tố trung bình hồng (Trang 63)
Hình 3.9. Số lượng bạch cầu của khỉ sau gây nhiễm T.evansi - xác định đặc tính gây bệnh của trypanosoma evansi gây nhiễm thực nghiệm trên khỉ macaca mulatta và đặc điểm bệnh lý của khỉ được gây nhiễm
Hình 3.9. Số lượng bạch cầu của khỉ sau gây nhiễm T.evansi (Trang 67)
Bảng 3.8. Hàm lượng đường huyết và độ dự trữ kiềm trong máu khỉ sau - xác định đặc tính gây bệnh của trypanosoma evansi gây nhiễm thực nghiệm trên khỉ macaca mulatta và đặc điểm bệnh lý của khỉ được gây nhiễm
Bảng 3.8. Hàm lượng đường huyết và độ dự trữ kiềm trong máu khỉ sau (Trang 69)
Hình 3.10. Biểu diễn hàm lượng đường huyết ở  khỉ Macaca Mulatta sau gây - xác định đặc tính gây bệnh của trypanosoma evansi gây nhiễm thực nghiệm trên khỉ macaca mulatta và đặc điểm bệnh lý của khỉ được gây nhiễm
Hình 3.10. Biểu diễn hàm lượng đường huyết ở khỉ Macaca Mulatta sau gây (Trang 70)
Hình 3.11. Biểu diễn độ dự trữ kiềm ở  khỉ Macaca Mulatta sau gây - xác định đặc tính gây bệnh của trypanosoma evansi gây nhiễm thực nghiệm trên khỉ macaca mulatta và đặc điểm bệnh lý của khỉ được gây nhiễm
Hình 3.11. Biểu diễn độ dự trữ kiềm ở khỉ Macaca Mulatta sau gây (Trang 72)
Hình 1. T.evansi trong máu khỉ - xác định đặc tính gây bệnh của trypanosoma evansi gây nhiễm thực nghiệm trên khỉ macaca mulatta và đặc điểm bệnh lý của khỉ được gây nhiễm
Hình 1. T.evansi trong máu khỉ (Trang 82)
Hình 5. Tim nhão,có lấm tấm - xác định đặc tính gây bệnh của trypanosoma evansi gây nhiễm thực nghiệm trên khỉ macaca mulatta và đặc điểm bệnh lý của khỉ được gây nhiễm
Hình 5. Tim nhão,có lấm tấm (Trang 83)
Hình 9. Cho máu khỉ vào ống - xác định đặc tính gây bệnh của trypanosoma evansi gây nhiễm thực nghiệm trên khỉ macaca mulatta và đặc điểm bệnh lý của khỉ được gây nhiễm
Hình 9. Cho máu khỉ vào ống (Trang 83)
Hình 7. Cố định khỉ để lấy máu  Hình 8. Lấy máu tĩnh mạch khoeo khỉ - xác định đặc tính gây bệnh của trypanosoma evansi gây nhiễm thực nghiệm trên khỉ macaca mulatta và đặc điểm bệnh lý của khỉ được gây nhiễm
Hình 7. Cố định khỉ để lấy máu Hình 8. Lấy máu tĩnh mạch khoeo khỉ (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm