1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới tại huyện thanh hà, tỉnh hải dương

132 463 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu - Khách thể nghiên cứu: Các nội dung kinh tế, tổ chức, xã hội liên quan đến thực hiện vai trò của người dân tham gia trong các hoạt động xây dựng nông thôn mới tại

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

-

NGUYỄN HẢI ĐÔNG

VAI TRÒ CỦA NGƯỜI DÂN TRONG VIỆC THAM GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN THANH HÀ,

TỈNH HẢI DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

-

NGUYỄN HẢI ĐÔNG

VAI TRÒ CỦA NGƯỜI DÂN TRONG VIỆC THAM GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN THANH HÀ,

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một luận văn tốt nghiệp nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Hải Đông

Trang 4

Đặc biệt, tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Vũ Thị Phương Thụy, người đã dành nhiều thời gian, trực tiếp tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Huyện ủy, UBND huyện và các phòng, ban của huyện Thanh Hà, và Đảng ủy, HĐND, UBND các xã: Thanh Xá, Thanh Hải, Vĩnh Lập đã tạo điều kiện thuận lợi, cung cấp số liệu, thông tin cần thiết và giúp

đỡ tôi trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu tại địa bàn

Tôi xin chân thành cảm ơn những cán bộ, đảng viên và người dân của các

xã trên địa bàn huyện đã giúp đỡ, cung cấp tư liệu khách quan và nói lên những suy nghĩ của mình để giúp tôi hoàn thành Luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè, đồng nghiệp đã ủng hộ và giúp đỡ tôi nhiệt tình trong quá trình học tập và nghiên cứu

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Hải Đông

Trang 5

PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI

2.1.1 Các khái niệm và vai trò xây dựng nông thôn mới 4

2.1.2 Các đặc trưng và tiêu chí xây dựng nông thôn mới 7

2.2 Lý luận về vai trò người dân tham gia xây dựng nông thôn mới 14

2.2.2 Vai trò của người dân tham gia trong xây dựng nông thôn mới 15

2.2.3 Các hình thức và mức độ tham gia của người dân trong xây dựng NTM 18

2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong xây

2.3.1 Tổng quan tài liệu về xây dựng nông thôn và vai trò người dân ở

Trang 6

2.3.2 Tổng quan tài liệu về xây dựng nông thôn và vai trò của người dân

3.2.1 Phương pháp tiếp cận và chọn điểm nghiên cứu và điều tra 42

3.2.3 Phương pháp phân tích và dự báo tài liệu 45

4.1 Thực trạng xây dựng và vai trò tham gia của người dân trong xây

4.1.1 Thực trạng xây dựng nông thôn mới ở huyện thời gian qua 48 4.1.2 Sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới 58

4.2 Đánh giá kết quả vai trò tham gia của người dân trong xây dựng

4.2.2 Đóng góp về tài chính xây dựng nông thôn mới 71

4.2.3 Đóng góp về đất đai xây dựng nông thôn mới 76

4.2.4 Đóng góp sức lao động xây dựng nông thôn mới 80

4.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng và vấn đề đặt ra đối với vai trò của

4.3.1 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc vai trò tham gia của người

dân trong xây dựng nông thôn mới ở Thanh Hà 83

4.3.2 Đánh giá chung và vấn đề đặt ra đối với thực hiện vai trò người dân

trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Thanh Hà 89

4.4 Giải pháp nâng cao vai trò của người dân tham gia trong xây dựng NTM 101

4.4.1 Nâng cao vai trò, trách nhiệm và trao quyền cho người dân 102

Trang 7

4.4.2 Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động và phối hợp của các tổ

4.4.3 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của người dân 104

4.4.4 Tăng cường công tác bồi dưỡng kiến thức về cơ chế quản lý, điều

4.4.5 Thu hút các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, xã hội tham gia xây

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

3.1 Nhiệt độ, lượng mưa, ẩm độ, giờ nắng bình quân 2012- 2014 37

3.2 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai huyện Thanh Hà, 2012- 2014 38

3.3 Tình hình dân số và lao động của huyện Thanh Hà, 2012- 2014 39

3.4 Giá trị và cơ cấu kinh tế của huyện Thanh Hà, 2012 – 2014 41

3.5 Thống kê số lượng mẫu điều tra trong nghiên cứu đề tài 44

4.1 Tình hình triển khai chương trình xây dựng NTM mới ở huyện

4.2 Tỷ lệ người dân tham gia thảo luận tại các hội nghị phổ biến chính

4.3 Ý kiến của người dân về huy động đóng góp xây dựng NTM 63

4.4 Người dân tham gia tập huấn và ứng dụng kỹ thuật trong sản xuất 65

4.5 Tổng hợp mức độ tham gia các HĐ xây dựng NTM của người dân 67

4.6 Người dân đóng góp trí tuệ vào các hoạt động xây dựng cơ sở hạ

4.7 Kết quả huy động đóng góp tài chính của người dân trong xây dựng

nông thôn mới ở huyện trong 3 năm 2012 – 2014 72

4.8 Kết quả huy động đóng góp về tài chính của người dân trong xây

dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới ở 3 xã điều tra 75

4.9 Kết quả huy động đóng góp về đất đai của người dân huyện Thanh

Hà trong xây dựng CSHT NTM trong 3 năm 2012 – 2014 77

4.10 Kết quả huy động đóng góp về đất đai của người dân trong xây

4.11 Kết quả huy động đóng góp ngày công lao động của người dân

huyện Thanh Hà trong xây dựng NTM 3 năm 2012 – 2014 80

4.12 Kết quả huy động đóng góp lao động của người dân xây dựng

Trang 9

4.13 Người dân tham gia thời gian lao động xây dựng công trình nông

4.14 Trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn của các chủ hộ 88

4.15 Các yếu tố làm hạn chế đến tiến trình xây dựng NTM ở các xã 90

4.16 Kết quả huy động vốn xây dựng NTM ở các xã giai đoạn 2012 – 2014 93

4.17 Người dân tham gia vào các hoạt động xây dựng nông thôn mới 94

4.18 Cách tổ chức huy động người dân, cộng đồng trong xây dựng NTM 97

Trang 10

PHẦN I

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Với khoảng 70 % dân số là nông dân, gần 60% lực lượng lao động đang hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, Việt Nam luôn coi trọng những vấn đề liên quan đến nông dân, nông nghiệp và nông thôn Đặc biệt trong quá trình CNH – HĐH, nông nghiệp, nông dân, nông thôn là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo

an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã có những bước phát triển khá toàn diện và to lớn Từ một nước thường xuyên thiếu và đói, hàng năm phải nhập hàng triệu tấn lương thực của nước ngoài, hơn thập niên qua

đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ ba trên thế giới (sau Thái Lan và Mỹ) GDP trong lĩnh vực nông nghiệp bình quân hàng năm tăng 3,3%; thu nhập và đời sống nhân dân ngày càng cải thiện hơn, tỉ lệ hộ nghèo ở nông thôn giảm bình quân 1,5% năm; bộ mặt nông thôn thay đổi theo hướng văn minh; trình độ văn hoá, khoa học, kỹ thuật của nhiều nông dân được nâng lên cao hơn trước

Nông nghiệp, nông thôn, nông dân ngày càng có nhiều đóng góp tích cực hơn vào tiến trình phát triển, hội nhập của kinh tế cả nước vào nền kinh tế toàn cầu Vì vậy, để triển khai thực hiện nghị quyết 26-NQ/TW, Chính phủ đã xây

dựng chương trình hành động (Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2008) trong đó có Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn

mới Việc nâng cao năng lực cho cộng đồng người dân ở nông thôn, đặc biệt phải nâng cao vai trò cho người dân là hết sức cần thiết Do đó, Đảng và Chính phủ đã ra những chỉ thị, nghị định và Quyết định như: Chỉ thị 30 CT/TW ngày 12 tháng 8 năm

1998 của Trung ương Đảng về thực hiện dân chủ cấp cơ sở, Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11 tháng 5 năm 1998 và Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày

Trang 11

07 tháng 7 năm 2003 của Chính phủ là cách tiếp cận, đánh giá đúng tình hình ở cơ

sở, thể chế hoá, pháp quy hoá những nội dung, nguyên tắc, phương châm cho sinh hoạt dân chủ ở nông thôn,

Hòa cùng tiến trình xây dựng NTM của cả nước, trong thời gian qua trên địa bàn huyện Thanh Hà - tỉnh Hải Dương đã tiếp nhận và thu hút nhiều nguồn lực từ các chương trình, dự án để phát triển nông thôn, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống cho cộng đồng người dân sống ở nông thôn, nâng cao vai trò cho người dân, nhằm xây dựng và phát triển nông thôn Tuy nhiên, trên thực tế nhiều nơi chưa phát huy được vai trò của người dân trong thực hiện các dự án phát triển nông thôn Có rất nhiều lý do và lực cản như trình độ hiểu biết của người dân, năng lực quản lý, cơ chế, phương pháp triển khai thực hiện và điều kiện cơ

sở hạ tầng thấp kém,…

Vấn đề nâng cao vai trò của người dân thực hiện chủ yếu của người dân thông qua một số mô hình phát triển nông thôn mới vẫn chưa được cụ thể hoá một cách chi tiết, chưa mô phỏng nó thành phương pháp để thực hiện có tính đồng bộ, thống nhất, phù hợp với tình hình thực tế

Xuất phát từ những yêu cầu về phát triển nông thôn mới và tình hình trên,

tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Vai trò của người dân tham gia trong xây

dựng nông thôn mới tại huyện Thanh Hà, tỉnh Dương”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở đánh giá thực trạng nông thôn mới và vai trò của người dân tham gia trong xây dựng nông thôn mới, đề xuất một số giải pháp chủ yếu để nâng cao vai trò người dân tham gia xây dựng nông thôn mới đạt kết quả tốt hơn trên địa bàn huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương

Trang 12

dựng nông thôn mới tại địa bàn huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương thời gian qua

- Đề xuất phương hướng và giải pháp để nâng cao vai trò của người dân tham gia trong xây dựng nông thôn mới đạt kết quả tốt hơn trên địa bàn huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương thời gian tới

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Các nội dung kinh tế, tổ chức, xã hội liên quan đến thực hiện vai trò của người dân tham gia trong các hoạt động xây dựng nông thôn mới tại địa bàn nghiên cứu

- Chủ thể là nghiên cứu các tổ chức hiệp hội nông dân, doanh nghiệp, hộ nông dân và cán bộ quản lý các lĩnh vực trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại địa bàn nghiên cứu

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian

Đề tài được triển khai nghiên cứu trên phạm vi toàn huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương Thực hiện nghiên cứu điển hình tại 3 xã là Thanh Hải, Thanh Xá và Vĩnh Lập đại diện cho 3 khu vực có mức độ phát triển khác nhau

- Phạm vi thời gian

+ Đánh giá thực trạng xây dựng nông thôn mới và vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương được sử dụng số liệu từ năm 2012-2014

+ Dự kiến tài liệu nghiên cứu đề tài đến năm 2020

+ Thời gian thực hiện đề tài được tiến hành từ tháng 2 năm 2014 đến tháng 6 năm 2015

- Phạm vi nội dung:

Đề tài tập trung nghiên cứu về vai trò của người dân tham gia trong các hoạt động xây dựng nông thôn mới tại địa bàn nghiên cứu

Trang 13

PHẦN II

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI DÂN

THAM GIA TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

2.1 Lý luận về xây dựng nông thôn mới

2.1.1 Các khái niệm và vai trò xây dựng nông thôn mới

2.1.1.1 Các khái niệm

Khái niệm “nông thôn” thường đồng nghĩa với làng, xóm, thôn…Trong

tâm thức người Việt, đó là một môi trường kinh tế sản xuất với nghề trồng lúa nước cổ truyền, không gian sinh tồn, không gian xã hội và cảnh quan văn hoá xây đắp nên nền tảng tinh thần, tạo thành lối sống, cốt cách và bản lĩnh của người Việt Làng - xã là một cộng đồng địa vực, cộng đồng cư trú có ranh giới lãnh thổ

tự nhiên và hành chính xác định Làng là một đơn vị tự cấp, tự túc về kinh tế, có ruộng, có nghề, có chợ…tạo thành một không gian khép kín thống nhất Làng -

xã là một cộng đồng tương đối độc lập về phong tục tập quán, văn hoá, là một đơn vị tự trị về chính trị Trong lịch sử, làng - xã là đơn vị hành chính cơ sở Tuy nhiên làng - xã cũng có những biến đổi ít nhiều qua các thời kỳ, nhưng nhìn chung cho đến trước năm 1945, qua các biến động, làng vẫn giữ được những cấu trúc truyền thống cơ bản Nông thôn được xác định là tổng hợp của các làng, nói cách khác, Làng Việt là đơn vị cơ bản của nông thôn Việt Nam (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2013).

Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn; được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã

Phát triển nông thôn là chỉ sự phát triển ở khu vực nông thôn; có thể hiểu rằng phát triển nông thôn chỉ sự phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi hẹp hơn phát triển

và phát triển kinh tế Sau đây là một số quan điểm về phát triển nông thôn

Phát triển nông thôn là những thay đổi cần thiết ở vùng nông thôn Tuy nhiên, những gì coi là cần thì lại khác nhau ở từng nước, từng vùng, từng địa phương

Trang 14

Phát triển nông thôn bền vững là sự phát triển kinh tế - xã hội nông thôn với tốc độ cao, là quá trình làm tăng mức sống của người dân nông thôn Phát triển nông thôn phù hợp với nhu cầu của con người, đảm bảo sự tồn tại bền vững và sự tiến bộ lâu dài trong nông thôn Sự phát triển đó dựa trên việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên mà vẫn bảo đảm giữ gìn môi trường sinh thái nông thôn Phát triển nông thôn đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay nhưng không làm cạn kiệt tài nguyên, không để lại hậu quả cho thế hệ tương lai (Hoàng Văn Cường, 2002) Phát triển nông thôn là một chiến lược phát triển đời sống kinh tế và xã hội của một nhóm người riêng biệt, người nghèo ở nông thôn Nó đòi hỏi phải mở rộng các lợi ích của sự phát triển đến với những người nghèo nhất trong những người nghèo nhất trong những người đang tìm kế sinh nhai ở các vùng nông thôn Như vậy, phát triển nông thôn là một quá trình nhằm cải thiện và nâng cao đời sống của người dân nông thôn một cách bền vững về kinh tế xã hội, văn hoá và môi trường, quá trình này, trước hết là do nỗ lực từ chính người dân nông thôn và

có sự hỗ trợ tích cực của Chính phủ và các tổ chức khác

Xây dựng nông thôn mới: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự

lãnh đạo của Đảng được tăng cường

2.1.1.2 Vai trò của việc xây dựng nông thôn mới (Hồ Văn Thông, 2005)

Về kinh tế: Nông thôn có nền sản xuất hàng hóa mở, hướng đến thị trường

và giao lưu, hội nhập Để đạt được điều đó, cơ sở hạ tầng của nông thôn phải hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi cho mở rộng sản xuất, giao lưu buôn bán, chăm sóc sức khỏe cộng đồng

- Thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, kích thích mọi người tham gia vào thị trường, hạn chế rủi ro cho nông dân, điều chỉnh, giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo, chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị

- Phát triển các hình thức sở hữu đa dạng, trong đó chú ý xây dựng mới các HTX theo mô hình kinh doanh đa ngành Hỗ trợ các HTX ứng dụng tiến bộ

Trang 15

khoa học - công nghệ phù hợp với các phương án sản xuất, kinh doanh, phát triển ngành nghề ở nông thôn

- Sản xuất hàng hóa với chất lượng sản phẩm mang nét độc đáo, đặc sắc của từng vùng, địa phương Tập trung đầu tư vào những trang thiết bị, công nghệ sản xuất, chế biến nông sản sau thu hoạch vừa có khả năng tận dụng nhiều lao động vừa đáp ứng yêu cầu xuất khẩu

Về chính trị: Phát huy dân chủ với tinh thần tôn trọng pháp luật, gắn lệ

làng, hương ước với pháp luật để điều chỉnh hành vi con người, đảm bảo tính pháp lý, phát huy tính tự chủ của làng xã

Phát huy tối đa Quy chế dân chủ cơ sở, tôn trọng hoạt động của các hội, đoàn thể, các tổ chức hiệp hội vì lợi ích cộng đồng, nhằm huy động tổng lực vào xây dựng nông thôn mới

Về văn hóa - xã hội: Tăng cường dân chủ ở cơ sở, phát huy vai trò tự

chủ trong thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, trong xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, giúp nhau xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng

Về con người: Xây dựng nhân vật trung tâm của mô hình nông thôn mới,

đó là người nông dân sản xuất hàng hóa khá giả, giàu có; là người nông dân kết tinh các tư cách: công dân, thể nhân, dân của làng, người con của các dòng họ, gia đình

Có kế hoạch, chương trình, lộ trình xây dựng người nông dân nông thôn thành người nông dân sản xuất hàng hóa trong kinh tế thị trường, thành nhân vật trung tâm của mô hình nông thôn mới, người quyết định thành công của mọi cải cách ở nông thôn

Người nông dân và các cộng đồng nông thôn là trung tâm của mọi chiến lược PTNNNT Đưa nông dân vào sản xuất hàng hóa, doanh nhân hóa nông dân, doanh nghiệp hóa các cộng đồng dân cư, thị trường hóa nông thôn

Về môi trường: Môi trường sinh thái phải được bảo tồn xây dựng, củng cố,

bảo vệ Bảo vệ rừng đầu nguồn, chống ô nhiễm nguồn nước, môi trường không khí

và chất thải từ các khu công nghiệp để nông thôn phát triển bền vững

Trang 16

Các nội dung trên trong cấu trúc vai trò mô hình nông thôn mới có mối liên

hệ chặt chẽ với nhau Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều hành quá trình hoạch định và thực thi chính sách, xây dựng đề án, cơ chế, tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện, kích thích tinh thần Nhân dân tự nguyện tham gia, chủ động trong thực thi và hoạch định chính sách Trên tinh thần đó, các chính sách kinh tế - xã hội ra đời tạo hiệu ứng tổng (Hồ Văn Thông, 2005)

2.1.2 Các đặc trưng và tiêu chí xây dựng nông thôn mới

2.1.2.1 Các đặc trưng của xây dựng nông thôn mới

Một là, đơn vị cơ bản của mô hình nông thôn mới là làng - xã

Làng - xã thực sự là một cộng đồng, trong đó công tác quản lý của Nhà nước không can thiệp sâu vào đời sống nông thôn trên tinh thần tôn trọng tính tự quản của người dân thông qua hương ước, lệ làng (không trái với pháp luật của Nhà nước) Quản lý của Nhà nước và tự quản của nông dân được kết hợp hài hòa; các giá trị truyền thống làng xã được phát huy tối đa, tạo ra bầu không khí tâm lý xã hội tích cực, bảo đảm trạng thái cân bằng trong đời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn, giữ vững an ninh, trật tự xã hội,… nhằm hình thành môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông thôn

Hai là, đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hóa, đô thị hóa, chuẩn bị những điều kiện vật chất và tinh thần giúp nông dân làm ăn sinh sống và trở nên thịnh vượng ngay trên mảnh đất mà họ đã gắn bó lâu đời Trước hết, tạo cho người dân có điều kiện để chuyển đổi lối sống và canh tác tự cung tự cấp, thuần nông (cổ truyền) sang sản xuất

hàng hóa, dịch vụ, du lịch; để người nông dân có thể “ly nông bất ly hương”

Ba là, nông thôn biết khai thác hợp lý và nuôi dưỡng các nguồn lực Tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, môi trường sinh thái được giữ gìn, khai thác tốt tiềm năng du lịch, khôi phục ngành nghề truyền thống, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp Vận dụng các công nghệ cao về quản lý, sinh học, các hoạt động kinh tế đạt hiệu quả Cơ cấu kinh tế nông nghiệp phát triển hài hòa, hội nhập địa phương, vùng, cả nước và quốc tế

Bốn là, dân chủ nông thôn mở rộng và đi vào thực chất

Các chủ thể nông thôn (lao động nông thôn, chủ trang trại, hộ nông dân,

Trang 17

các tổ chức phi chính phủ, Nhà nước, tư nhân…) tham gia tích cực trong mọi quá trình ra quyết định về chính sách phát triển nông thôn; thông tin minh bạch, thông suốt và hiệu quả giữa các tác nhân có liên quan; phân phối công bằng Người nông dân thực sự “được tự do và tự quyết định trên luống cày, thửa ruộng của mình”, lựa chọn phương án sản xuất, kinh doanh làm giàu cho mình, cho quê hương theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước

Năm là, nông dân, nông thôn có văn hóa phát triển, trí tuệ được nâng lên,

sức lao động được giải phóng, nhiệt tình cách mạng được phát huy Đó chính là sức mạnh nội sinh của làng - xã trong công cuộc xây dựng nông thôn mới Người nông dân có cuộc sống ổn định, trình độ văn hóa, khoa học - kỹ thuật và tay nghề cao, lối sống văn minh, hiện đại nhưng vẫn giữ gìn những giá trị văn hóa, bản sắc truyền thống, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tham gia tích cực mọi phong trào chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh - quốc phòng, đối ngoại… nhằm vừa tự hoàn thiện bản thân, nâng cao chất lượng cuộc sống của mình, vừa góp phần xây dựng quê hương văn minh, giàu đẹp Các tiêu chí này đang trở thành mục tiêu, yêu cầu trong hoạch định chính sách về mô hình nông thôn mới ở nước

ta trong giai đoạn hiện nay (Hồ Văn Thông, 2005)

2.1.2.2 Các tiêu chí xây dựng nông thôn mới

Nội dung Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới bao gồm 5 nhóm và 19 tiêu chí, khái quát các tiêu chí như sau: (Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Hải Dương, 2012)

- Chia thành 5 nhóm, gồm nhóm 1 là Quy hoạch, nhóm 2 là Hạ tầng kinh

tế xã hội, nhóm 3 là Kinh tế và tổ chức sản xuất, nhóm 4 là Văn hóa- xã hội - môi trường, nhóm 5 là Hệ thống chính trị

- Chia thành 19 tiêu chí, gồm 1 là Quy hoạch, 2: Giao thông, 3: Thủy lợi, 4: Điện, 5: Trường học, 6: Cơ sở vật chất văn hóa, 7: Chợ, 8: Bưu điện, 9: Nhà ở dân cư, 10: Thu nhập, 11: Tỷ lệ hộ nghèo, 12: Cơ cấu lao động, 13: Hình thức tổ chức sản xuất, 14: Giáo dục, 15: Y tế, 16: Văn hóa, 17: Môi trường, 18: Hệ thống

tổ chức chính trị xã hội, 19: An ninh, trật tự xã hội

Trang 18

2.1.3 Nội dung xây dựng nông thôn mới

Xây dựng nông thôn mới là biểu hiện cụ thể của phát triển nông thôn nhằm tạo ra một nông thôn có kinh tế phát triển cao hơn, có đời sống về vật chất văn hoá

và tinh thần tốt hơn, có bộ mặt nông thôn hiện đại bao gồm cả cơ sở hạ tầng phục vụ tốt cho sản xuất, phục vụ tốt cho đời sống và văn hóa của người dân, đẩy mạnh dân chủ hoá ở nông thôn và nâng cao vai trò của cộng đồng trong những quyết định về phát triển sản xuất, phát trển văn hoá và xã hội trên địa bàn Ba điều kiện cần trên đây cho chúng ta đề xuất những chỉ tiêu chủ đạo trong xây dựng mô hình nông thôn mới với ý nghĩa rằng một địa phương là một mô hình nông thôn mới thì ít nhất cần phải đạt những chỉ tiêu này (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2005)

2.1.3.1 Phát triển kinh tế

Sản xuất phát triển, nhất là sản xuất hàng hoá là điều kiện cơ bản để phát triển kinh tế của cộng đồng mỗi địa phương Kinh tế có phát triển thì những yếu

tố xã hội mới có cơ hội phát triển theo và đây là động lực chính cho những tiến

bộ xã hội được thực hiện Sau khi đã có thu nhập bảo đảm cuộc sống, người dân mới có điều kiện xây dựng những công trình phục vụ đời sống cho bản thân gia đình họ và đóng góp cho sự phát triển chung

Trong các nội dung xây dựng nông thôn mới thì nội dung phát triển sản xuất hàng hoá là quan trọng nhất Tuy vậy không phải bất cứ địa phương nào cũng có điều kiện để sản xuất hàng hoá mà phải tạo ra hoặc lựa chọn những sản phẩm nhất định có thể sản xuất hàng hoá Nói một cách cụ thể, những địa phương đã phát triển ngành nghề thì đẩy mạnh hơn nữa các ngành nghề là biện pháp để nâng cao sản xuất hàng hoá; địa phương nào có điều kiện phát triển trang trại là đã có điều kiện sản xuất nông sản hàng hoá và cần phải đẩy mạnh các hoạt động sản xuất hàng hoá quy mô trang trại để tạo cơ sở cho phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới Nói như vậy không có nghĩa là địa phương nào chỉ thuần nông và không có nhiều đất làm trang trại thì không thể phát triển sản xuất hàng hoá và do đó khó có điều kiện để xây dựng nông thôn mới, chẳng hạn như ở đồng bằng sông hồng nhiều địa phương chủ yếu sống bằng nông nghiệp trong khi đất chật người đông thì sẽ mãi mãi không có điều kiện xây dựng nông thôn mới Thật

Trang 19

ra, những địa phương như vậy vẫn có thể phát triển sản xuất nông sản hàng hoá, chẳng hạn việc phát triển chăn nuôi bằng biện pháp quy hoạch các khu chăn nuôi tập trung là vẫn có thể thực hiện được và chính việc xây dựng các trang trại chăn nuôi tập trung có thể đẩy mạnh để trở thành chăn nuôi quy mô lớn, tạo ra sản xuất hàng hoá Ngoài ra có thể thực hiện biện pháp "cấy nghề" để trở thành địa phương

có sản xuất ngành nghề và đó là điều kiện để mở rộng sản xuất hàng hoá theo hướng phát triển ngành nghề

Phát triển kinh tế nông thôn trước hết là phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá với năng suất và hiệu quả ngày càng cao, đồng thời phát triển tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp nông thôn, phát triển dịch vụ nông thôn để từng bước giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tiến bộ, phân công lại lao động, phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

2.1.3.2 Xây dựng quy hoạch và phát triển cơ sở hạ tầng

Quy hoạch NTM là cách bố trí, sắp xếp các khu chức năng, sản xuất, dịch

vụ, hạ tầng kinh tế-xã hội, môi trường trên địa bàn theo tiêu chuẩn NTM gắn với đặc thù, tiềm năng, lợi thế của từng địa phương Để có mô hình NTM mang tính

kế thừa và bổ sung, phát triển mới theo hướng CNH-HĐH thì công tác quy hoạch được đặt lên hàng đầu Nếu quy hoạch không có chất lượng, tính tổng thể và tầm nhìn, thì lộ trình đến đích NTM của các địa phương là vô cùng gian khó

Vì vậy, quy hoạch nông thôn mới (NTM) là một trong những tiêu chí quan trọng trong xây dựng NTM (nằm ở vị trí số 1 trong 19 tiêu chí xây dựng NTM), quy hoạch phải đi trước một bước nhằm đạt được hiệu quả cao nhất của quá trình đầu tư xây dựng hạ tầng KT - XH nông thôn Quy hoạch nông thôn vừa phải đáp ứng được quá trình phát triển đồng thời giữ được những bản sắc văn hoá đặc thù

ở nông thôn

Nội dung tiếp theo cần thiết cho một địa phương xây dựng nông thôn mới

là có một bộ mặt nông thôn đổi mới, trong đó xây dựng cơ sở hạ tầng là yếu tố thiết yếu Cơ sở hạ tầng không những là nhân tố đảm bảo thúc đẩy sản xuất và

Trang 20

phát triển kinh tế mà còn nâng cao đời sống của người dân Đối với cơ sở hạ tầng, đường giao thông (liên thôn, liên xã, đường nối các cụm dân cư với hệ thống trục giao thống), hệ thống thuỷ lợi, các công trình chăm sóc y tế, trường học, công trình văn hoá được xếp thứ tự là các hạng mục ưu tiên cần được phát triển để đáp ứng với yêu cầu thiết yếu của đời sống và sản xuất

Những công trình phát triển cơ sở hạ tầng trực tiếp ảnh hưởng đến sản xuất (hệ thống thuỷ lợi, hệ thống chuồng trại chăn nuôi tập trung để thay đổi phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ trong khu dân cư, các hộ có khả năng chăn nuôi lớn

có thể mở rộng chăn nuôi ở khu tập trung này) thường được quan tâm và đầu tư thích đáng để nhanh chóng đẩy mạnh sản xuất và tạo ra các động lực cho việc phát triển các cơ sở hạ tầng khác phục vụ cho phát triển kinh tế và đời sống Việc phát triển cơ sở hạ tầng đẩy mạnh phát triển kinh tế còn có thể là việc đưa các ngành nghề mới vào địa phương hoặc trang bị những thiết bị mới những biện pháp sản xuất mới gắn liền với tìm kiếm và định hướng thị trường

Xây dựng nông thôn mới không chỉ tập trung vào sản xuất hàng hoá mà còn đảm bảo các vấn đề an sinh xã hội khác, trong đó các công trình y tế, giáo dục, văn hoá cũng cần được ưu tiên phát triển Tuy nhiên cần phải xác định rõ quy mô và mức độ phục vụ của các công trình an sinh xã hội để đảm bảo các công trình đó có quy mô phù hợp với nhu cầu thực sự của xã hội và cộng đồng

2.1.3.3 Phát triển văn hoá và nâng cao dân trí

Việc nâng cao dân trí, phát triển văn hoá sẽ là một trong những động lực

để giải phóng sức lao động, giải phóng sức tư duy sáng tạo trong việc đẩy mạnh sản xuất cho chính họ và cho cộng đồng Giải phóng tư duy trí tuệ được xem là sức mạnh nội sinh của cộng đồng cư dân nông thôn trong công cuộc phát triển nông nghiệp và nông thôn nói chung và xây dựng nông thôn mới nói riêng Người nông dân có kinh tế ổn định, có trình độ văn hoá khoa học cao, có phong cách sống văn minh hiện đại là mẫu người nông dân mới trong nông thôn đổi mới không những là mục tiêu trước mắt mà còn là mục tiêu lâu dài của công cuộc phát triển nông thôn ở nước ta

Trang 21

Để thực hiện được yêu cầu này, việc xây dựng các cơ sở văn hoá xã hội tốt hơn, khang trang hơn chỉ là một trong nhiều yếu tố mang tính hình thức Cần có những nội dung thiết thực trong việc xây dựng con người có trình độ văn hoá chuyên môn lại vừa có văn hoá là một nhiệm vụ hết sức nặng nề và có tính lâu dài Trong xây dựng nông thôn mới, không chỉ tạo ra các nhà văn hoá, các công trình phúc lợi công cộng mà điều cốt yếu là phải xây dựng các phong trào hoạt động văn hoá, thể thao, phát triển dân trí có tính thiết thực và được cả cộng đồng tham gia Do

đó xây dựng các hạ tầng văn hoá xã hội luôn luôn phải đi đôi với những nội dung của những hoạt động này

Địa phương xây dựng nông thôn mới cần phải là địa phương có phong trào văn hoá mới, vì văn hoá mới là tiêu chí cần thiết trong xây dựng con người mới, phát huy nền dân chủ nhân dân, xây dựng một cuộc sống văn hoá tinh thần lành mạnh

2.1.3.4 Xây dựng hệ thống chính trị, an ninh trật tự xã hội, có dân chủ thực chất

ở nông thôn

Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là nhiệm vụ quan trọng của cấp uỷ, chính quyền các cấp trong quá trình xây dựng nông thôn mới Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; triển khai thực hiện tốt kế hoạch ra quân tấn công trấn áp tội phạm Công tác quản lý địa bàn, quản lý đối tượng được tập trung chỉ đạo, kịp thời phát hiện và xử lý những vấn

đề phát sinh, không xẩy ra điểm nóng Phong trào quần chúng nhân dân tham gia bảo vệ an ninh tổ quốc, công tác xây dựng làng an toàn về an ninh trật tự được duy trì và phát huy tác dụng

Chỉ đạo tăng cường các mặt công tác quản lý hành chính về TTXH, quản

lý chặt chẽ các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, quản lý tốt việc đăng ký hộ khẩu, tạm trú, tạm vắng

Sự tham gia của người dân, của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới (trong đó tất cả những nội dung của chương trình xây dựng này đều cần có sự tham gia góp ý kiến cũng như sự đồng thuận của cộng đồng) là một trong những yếu tố cơ bản để nâng cao tính dân chủ ở nông thôn và từ đó mở rộng hơn nữa vấn đề dân chủ

Trang 22

ở nông thôn trong nhiều lĩnh vực khác kể cả những vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội Từ đó cộng đồng dân cư sẽ được tham gia vào mọi quá trình ra quyết định cũng như thực hiện các quyết sách của các cấp chính quyền ở địa phương mà mục tiêu cuối cùng cũng là để dân giàu, nước mạnh, văn minh và hiện đại

2.1.3.5 Phát triển nguồn lực con người

Trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá-hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, yêu cầu cấp thiết là nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, tạo ra sản phẩm có chất lượng và khả năng cạnh tranh tốt hơn Người nông dân giờ đây đang tự chủ vươn lên, nắm bắt thị trường, chuyển đổi mục đích, phương pháp canh tác để làm giàu trên mảnh đất của mình Để nông dân có thể làm được như vậy, Nhà nước cần đầu tư và giúp đỡ nhiều hơn, cụ thể hơn cho nông dân đặc biệt là vấn đề nâng cao trình độ các mặt về sản xuất, thị trường, quản lý Trong xây dựng nông thôn mới, công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công, khuyến thương cần được đẩy mạnh thông qua các chương trình phát triển nông, lâm, ngư nghiệp và ngành nghề Trong những năm qua, công tác khuyến nông khuyến lâm, khuyến ngư đã được triển khai mạnh mẽ và thu được nhiều kết quả, nhưng công tác khuyến công đặc và biệt là khuyến thương còn là những lĩnh vực tương đối mới mẻ, chưa được triển khai nhiều trên địa bàn nông thôn Có điều này là do bản thân ngành nghề nông thôn, hoạt động kinh doanh trên địa bàn nông thôn nói chung còn rất hạn chế

Để có thể đẩy mạnh khuyến công thì các địa phương phải có ngành nghề và nhiều người hoạt động ngành nghề (công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ), do đó việc

"cấy nghề" không những là bước đi ban đầu mà còn là yêu cầu cấp thiết trong phát triển kinh tế ở mỗi địa phương và là điều kiện để khuyến công phát huy hiệu quả của mình Thông qua hoạt động khuyến công, các xã xây dựng nông thôn mới có thể phát triển nguồn lực con người để từ đó không những nâng cao trình độ nhiều mặt nhất là phát triển các ngành nghề mới, khôi phục các ngành nghề truyền thống có sự kết hợp bổ sung các công nghệ mới phù hợp với tiến trình hiện đại hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn

2.1.3.6 Bảo vệ môi trường và tài nguyên

Tăng trưởng kinh tế cao và bền vững là điều kiện thiết yếu để phát triển

Trang 23

nông thôn, song điều đó không có nghĩa là phát triển kinh tế với bất cứ giá nào Trong phát triển kinh tế, việc giữ gìn và bảo vệ môi trường là yếu tố quan trọng

để tăng trưởng một cách bền vững Bên cạnh đó, việc giữ gìn và bảo vệ môi trường cũng là một trong những nội dung đảm bảo cho cuộc sống tốt đẹp hơn, hơn nữa nếu có điều kiện có thể kết hợp giữa bảo vệ môi trường với phát triển các cảnh quan thiên nhiên ở khu vực nông thôn còn có thể tạo đều kiện lớn cho mục tiêu khai thác tiềm năng du lịch sinh thái

Trong nội dung giữ gìn và bảo vệ môi trường của xây dựng nông thôn mới, trước mắt đó là cuộc vận động về một nông thôn mới xanh - sạch - đẹp, không có rác thải vứt bừa bãi, không có phế thải của sản xuất và sinh hoạt thải thẳng ra các cánh đồng, hệ thống ao hồ mà không được xử lý Tiếp theo là việc

cả cộng đồng cùng tham gia đầu tư xây dựng hệ thống cống rãnh trong các thôn làng, xây dựng hệ thống xử lý nước thải và thu gom rác thải Về lâu dài, nông thôn phải đúng là nơi cảnh quan và môi trường thực sự lý tưởng cho cuộc sống

và là lá phổi xanh trong sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước

Như vậy, sáu nội dung chủ yếu của xây dựng nông thôn mới bao gồm phát triển kinh tế; xây dựng quy hoạch và phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng nền văn hoá mới; xây dựng hệ thống chính trị, an ninh trật tự, phát huy dân chủ ở cơ sở; phát triển nguồn lực và bảo vệ môi trường nông thôn là sáu yêu cầu cơ bản phải luôn được gắn kết với nhau

Trong quá trình xây dựng nông thôn mới cũng phải đánh giá xem một địa phương có khả năng xây dựng nông thôn mới hoặc đã trở thành một nông thôn mới hay chưa? Tuy nhiên đây là vấn đề rất phức tạp, hơn nữa trong hoàn cảnh nông thôn nước ta còn nghèo nàn và lạc hậu thì yêu cầu đồng thời phải đạt tất cả các các nội dung sẽ trở nên khó khả thi Tuỳ từng điều kiện cụ thể của mỗi địa phương mà thứ tự ưu tiên của mỗi nội dung sẽ được thay đổi cho phù hợp và đảm bảo để công cuộc xây dựng nông thôn mới thu được thắng lợi

2.2 Lý luận về vai trò người dân tham gia xây dựng nông thôn mới

2.2.1 Đặc điểm của nông dân Việt Nam

Bản chất cần cù, thông minh và sáng tạo là truyền thống lâu đời của người dân nông thôn; sau khi có Đảng lãnh đạo thì tinh thần ấy được thể hiện và phát

Trang 24

huy một cách có hiệu quả về mọi mặt Ngày nay người dân nông thôn Việt Nam một lòng theo Đảng, luôn tán thành chủ trương đường lối đổi mới của Đảng, thể hiện từ tinh thần hăng say lao động, dám đương đầu với khó khăn và thách thức để vươn lên; cùng nhau góp sức với các tầng lớp khác để hoà chung với đất nước trong công cuộc đổi mới, vai trò của người dân nông thôn đang được phát huy trên nhiều lĩnh vực; chủ trương dân chủ cấp cơ sở ngày một hoàn thiện, nông dân tham gia ngày một nhiều hơn trong các hoạt động phát triển kinh tế xã hội thôn, bản (Đỗ Kim Chung, 2009)

Trong những năm qua người dân nông thôn đã được tiếp cận với những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến, với những công nghệ hiện đại trong sản xuất thâm canh, cũng như tiếp cận được thông tin trong nước và trên thế giới một cách nhanh chóng; người dân nông thôn đã tự lực trong sản xuất kinh doanh và nâng cao khả năng thu nhập cho chính họ, Đảng và Nhà nước rất khuyến khích người dân nông thôn làm giầu một cách chính đáng để rút ngắn khoảng cách thu nhập giữa các vùng, miền

Tuy nhiên, người dân nông thôn có những hạn chế và còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại như: tính cam chịu, ít có động lực và ý chí vươn lên, tính bảo thủ,

ít tư duy sáng tạo và còn ỷ lại, trông chờ vào Nhà nước và sự hỗ trợ từ bên ngoài; trình độ dân trí thấp, đội ngũ cán bộ địa phương, nhất là ở cấp thôn, bản còn hạn chế và yếu kém, vốn, máy móc lạc hậu, cơ sở hạ tầng thấp kém, Từ những vấn

đề đó đã làm hạn chế vai trò của người dân nông thôn

2.2.2 Vai trò của người dân tham gia trong xây dựng nông thôn mới

Sự tham gia của người dân vào việc phát triển kinh tế xã hội nông thôn được coi như nhân tố quan trọng, quyết định sự thành bại của việc áp dụng phương pháp tiếp cận phát triển dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ trong thí điểm mô hình Khi tham gia vào quá trình phát triển thôn mới với sự hỗ trợ của Nhà nước, người dân tại các cộng đồng dân cư nông thôn sẽ từng bước được tăng cường kỹ năng, năng lực về quản lý nhằm tận dụng triệt để các nguồn lực tại chỗ và bên ngoài (Đỗ Kim Chung, 2009)

Khi xem xét quá trình tham gia của người dân trong các hoạt động trong

phát triển nông thôn, vai trò của người dân ở đây được thể hiện: Dân biết, dân

Trang 25

bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý và dân hưởng lợi Như

vậy, vai trò của người dân vẫn theo một trật tự nhất định, các trật tự ở đây hoàn

toàn phù hợp với quan điểm của Đảng ta “lấy dân làm gốc” Các nội dung trong

nâng cao vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới được hiểu:

- Dân biết: là quyền lợi, nghĩa vụ và sự hiểu biết của người nông dân về

những kiến thức bản địa có thể đóng góp vào quá trình quy hoạch nông thôn, quá trình khảo sát thiết kế các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Mặt khác, người dân có điều kiện tham gia hiệu quả hơn vào các giai đoạn sau của quá trình xây dựng công trình; Người dân nắm được thông tin đầy đủ về công trình mà họ tham gia như: mục đích xây dựng công trình, quy mô công trình, các yêu cầu đóng góp từ cộng đồng, trách nhiệm và quyền lợi của cộng đồng người dân được hưởng lợi

- Dân bàn: bao gồm sự tham gia ý kiến của người dân liên quan đến kế

hoạch phát triển sản xuất, liên quan đến các giải pháp, mọi hoạt động của nông dân trên địa bàn như: bàn luận mở ra một hướng sản xuất mới, đầu tư xây dựng công trình phúc lợi công cộng, các giải pháp thiết kế, phương thức khai thác công trình, tổ chức quản lý công trình, các mức đóng góp và các định mức chi tiêu từ các nguồn thu, phương thức quản lý tài chính, … trong nội bộ cộng đồng dân cư hưởng lợi

- Dân đóng góp: là một yếu tố không chỉ ở phạm trù vật chất, tiền bạc mà

còn ở cả phạm trù nhận thức về quyền sở hữu và tính trách nhiệm, tăng tính tự giác của từng người dân trong cộng đồng Hình thức đóng góp có thể bằng tiền, sức lao động, vật tư tại chỗ hoặc đóng góp bằng trí tuệ

- Dân làm: chính là sự tham gia lao động trực tiếp từ người dân vào các

hoạt động phát triển nông thôn như: đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các hoạt động của các nhóm khuyến nông, khuyến lâm, nhóm tín dụng tiết kiệm và những công việc liên quan đến tổ chức tiếp nhận, quản lý và sử dụng công trình Người dân trực tiếp tham gia vào quá trình cụ thể trong việc lập kế hoạch có sự tham gia cho từng hoạt động thi công, quản lý và duy tu bảo dưỡng, từ những việc tham gia đó đã tạo cơ hội cho người dân có việc làm, tăng thu nhập cho người dân

- Dân kiểm tra: có nghĩa là thông qua các chương trình, hoạt động có sự

Trang 26

giám sát và đánh giá của người dân, để thực hiện các quy chế dân chủ cơ sở của Đảng và Nhà nước nói chung và nâng cao hiệu quả chất lượng công trình Ở những công trình có nhiều bên tham gia, sự kiểm tra, giám sát của cộng đồng hưởng lợi có tác động tích cực trực tiếp đến chất lượng công trình và tính minh bạch trong việc sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và của người dân vào xây dựng, quản lý và vận hành công trình Việc kiểm tra có thể được tiến hành ở tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư trên các khía cạnh kỹ thuật cũng như tài chính

- Dân quản lý: đó là các thành quả của các hoạt động mà người dân đã

tham gia; các công trình sau khi xây dựng xong cần được quản lý trực tiếp của một tổ chức do nông dân hưởng lợi lập ra để tránh tình trạng không rõ ràng về chủ sở hữu công trình Việc tổ chức của người dân tham gia duy tu, bảo dưỡng công trình nhằm nâng cao tuổi thọ và phát huy tối đa hiệu quả trong việc sử dụng công trình

Sơ đồ 2.1 Vai trò của người dân tham gia xây dựng nông thôn mới

- Dân hưởng lợi: chính là lợi ích mà các hoạt động mang lại, tuy nhiên cần

chia ra các nhóm hưởng lợi ích trực tiếp và nhóm hưởng lợi gián tiếp Nhóm hưởng lợi trực tiếp là nhóm thụ hưởng các lợi ích từ các hoạt động như thu nhập tăng thêm của năng suất cây trồng do thực hiện thâm canh, tăng vụ, áp dụng các

Quản

Hưởnglợi

Trang 27

giống mới, các kỹ thuật tiên tiến, phòng trừ dịch bệnh và các hoạt động tài chính, tín dụng,… Nhóm hưởng lợi gián tiếp là nhóm thụ hưởng thành quả của các hoạt động đó, để hưởng lợi từ mức độ cải thiện môi trường sinh thái, học hỏi nhóm hưởng lợi trực tiếp từ các mô hình nhân rộng, mức độ tham gia vào thị trường để tăng thu nhập, (Đỗ Kim Chung, 2000)

2.2.3 Các hình thức và mức độ tham gia của người dân trong xây dựng NTM

- Được tham dự các buổi họp, tự do phát biểu, trình bày ý kiến, quan điểm

và thảo luận các vấn đề của cộng đồng

- Được cùng quyết định, chọn lựa các giải pháp hay xác định các vấn đề

ưu tiên của cộng đồng

- Có trách nhiệm cùng mọi người đóng góp công sức, tiền của để thực hiện các hoạt động mang tính lợi ích chung

- Người dân tự lập kế hoạch dự án và quản lý điều hành, kiểm tra giám sát, đánh giá các chương trình dự án phát triển cộng đồng

Sự quyết định và tự quản của người dân được đánh giá ở mức độ cao bởi

lẽ nó thể hiện tăng năng lực, quyền lực của người dân Mang tính bền vững vì người dân thể hiện vai trò làm chủ với trách nhiệm cao của mình (Đỗ Kim Chung, 2009)

2.2.3.2 Mức độ tham gia

a Có thể phân chia theo hình thức thể hiện phản ảnh mức độ tham gia: như:

(1) Không có sự tham gia

- Cán bộ điều khiển: người dân làm và thực hiện theo ý của cán bộ, không được hiểu rõ Như người dân bị gọi đi làm công ích, đóng góp tiền cho một hoạt động nào đó mà không được biết, không được thảo luận

- Tham gia mang tính hình thức: cán bộ cũng có gọi dân đến, cho dân phát biểu ý kiến nhưng chỉ có lệ, mọi việc cán bộ quyết theo ý mình

Trang 28

(2) Tham gia ít

- Người dân được thông báo và giao nhiệm vụ: người dân được thông báo, hiểu

rõ những việc mà cán bộ muốn họ tham gia, sau đó người dân đóng góp công sức hay tiền của theo khả năng của mình

- Người dân được hỏi ý kiến: kế hoạch công tác do cán bộ thiết kế và quản

lý, người dân được mời tham gia thảo luận, hỏi lấy ý kiến, cán bộ lắng nghe nghiêm túc, sau đó cán bộ điều chỉnh kế hoạch (nếu cần thiết) cho phù hợp với dân rồi cùng thực hiện

(3) Tham gia thực sự

- Cán bộ khởi xướng, người dân cùng tham gia lấy quyết định: cán bộ là người khởi xướng, có ý tưởng Người dân chủ động tham gia cùng cán bộ trong các khâu lập

kế hoạch, quyết định chọn các phương án và tổ chức thực hiện

- Người dân khởi xướng và cùng cán bộ ra quyết định: người dân khởi xướng, lập kế hoạch, cán bộ cùng dân quyết định chọn các phương án và tổ chức thực hiện

- Người dân khởi xướng, quyết định chọn các phương án và có sự hỗ trợ của cán bộ: người dân khởi xướng, lập kế hoạch, quyết định chọn các phương án và tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát Cán bộ đóng vai trò khi người dân cần

- Người dân tự lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, cán bộ hỗ trợ khi cần thiết Các mức độ tham gia này có thể minh hoạ phương thức "Nhà nước và nhân dân cùng làm" với các bước dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra cộng thêm bước xuất phát là dân nhận từ nhà nước và bước cuối cùng là dân tự quyết nên chọn nhận những gì để dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý và dân hưởng lợi

b Theo các mức độ tham gia của người dân có thể được coi như một tiến trình liên tục và chia thành 5 cấp độ khác nhau:

+ Tham gia thụ động: người dân thụ động tham gia vào các hoạt động phát triển làng, xã, bảo gì làm đấy, không tham dự vào quá trình ra quyết định

+ Tham gia thông qua việc cung cấp thông tin: thông qua việc trả lời các câu hỏi điều tra của các nhà nghiên cứu Người dân không tham gia vào quá trình phân tích và sử dụng thông tin

Trang 29

+ Tham gia bởi nghĩa vụ hay bị bắt buộc: thông qua việc đóng góp lao động, tiền hay một số nguồn lực khác Người dân cho rằng đây là nghĩa vụ họ phải đóng góp Các hoạt động thường do các tổ chức quần chúng, cán bộ dự án khởi xướng, định hướng và hướng dẫn

+ Tham gia bởi định hướng từ bên ngoài: người dân tự nguyện tham gia vào các tổ, nhóm do dự án hoặc các chương trình khởi xướng Bên ngoài hỗ trợ

và người dân tự chịu trách nhiệm trong việc ra quyết định

+ Tự nguyện: người dân tự khởi xướng về việc xác định, lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá các hoạt động phát triển không có sự định hướng từ bên ngoài

c Các chủ thể người dân tham gia xây dựng nông thôn mới

- Người dân nông thôn là các hộ nông nghiệp và phi nông nghiệp

- Các tổ chức kinh tế - xã hội trên địa bàn

- Các tổ chức kinh tế - xã hội, cá nhân ngoài địa bàn (Vũ Thi Huyền Trang, 2009)

2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM

2.2.4.1 Chủ trương, chính sách của Nhà nước

Chủ trương, chính sách của Nhà nước là môi trường pháp lý quan trọng tạo môi trường thuận lợi cho xây dựng nông thôn mới nói chung và thực hiện vai trò tích cực của người dân trong công cuộc xây dựng nông thôn mới hiên nay Một số chính sách như chính sách quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai, chính sách hỗ trợ vốn của Nhà nước, chính sách tín dụng, tạo vốn, huy động vốn, khuyến khích ưu đãi đầu tư, chính sách quản lý đầu tư xây dựng, quản lý ngân sách Các chương trình kiên cố hóa kênh mương, đường GTNT, trường lớp học, cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường đối với nông thôn Chính sách phân cấp cho các cấp chính quyền trong phê duyệt va thực hiện các dự án sẽ góp phần phát huy tính chủ động, năng động và sáng tạo của các địa phương và người dân (Hồ Xuân Hùng, 2010)

2.2.4.2 Công tác tuyên truyền, vận động và thi đụa khen thưởng

Với phương châm hướng mạnh công tác dân vận về cơ sở, tuyên truyền vận động Nhân dân “Chung sức xây dựng nông thôn mới”, Ban Dân vận Huyện ủy-cơ quan thường trực Ban Vận động, Tuyên truyền xây dựng nông thôn mới

Trang 30

huyện đã tập trung phối hợp khối dân vận cơ sở quán triệt các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là thực hiện tốt phong trào thi đua “Dân vận khéo” trong xây dựng nông thôn mới, để thông qua đó làm chuyển biến nhận thức của cán bộ, đảng viên và Nhân dân, tạo sự đồng thuận, tham gia tích cực của cộng đồng, từng bước hoàn thành bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới, phấn đấu đến năm 2020 có trên 50% số xã, thị trấn đạt chuẩn nông thôn mới Vì vậy, công tác dân vận đặt ra yêu cầu hệ thống Dân vận, Mặt trận, các đoàn thể từ tỉnh, huyện đến cơ sở phải xây dựng một chương trình hành động, chỉ tiêu xác thực ở từng địa phương, từng lĩnh vực, từng thời gian Đáng chú ý là vận động Nhân dân hiến đất, cây cối, hoa màu, mở đường, chuyển dịch cơ cấu cây con, mùa vụ, xây dựng cánh đồng mẫu lớn cho thu nhập cao, thực hiện vệ sinh môi trường, xử lý rác thải và các tiêu chí khác, yêu cầu cả hệ thống chính trị vào cuộc, vận động tất cả hội viên, đoàn viên và quần chúng Nhân dân cùng thực hiện đồng loạt (Hồ Xuân Hùng, 2010)

Ban Dân vận Huyện ủy đã phối hợp với các cấp, các ngành tuyên truyền, vận động xây dựng nông thôn mới đến các tầng lớp Nhân dân bằng nhiều hình thức như truyên truyền miệng, thông qua các hội nghị, các buổi họp, hội nghị của các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, tuyên truyền thông qua hệ thống loa truyền thanh, qua các hoạt động văn hoá văn nghệ, hội diễn, cuộc thi tìm hiểu xây dựng nông thôn mới, tuyên truyền trực quan thông qua pa nô, áp phích, qua các đợt học tập kinh nghiệm các mô hình, qua các mô hình “Dân vận khéo” để vận động Nhân dân tham gia xây dựng nông thôn mới đem lại hiệu quả tích cực, góp phần vào thành công chung của công tác xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh.…

Tuy nhiên, công tác tuyên truyền, vận động xây dựng nông thôn mới trong thời gian qua còn một số tồn tại, hạn chế Công tác tuyên truyền tuy sớm được triển khai nhưng chưa thực sự có chiều sâu và điểm nhấn Nội dung tuyên truyền còn dừng lại ở việc tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách, các thông tin khác vẫn còn mang tính một chiều, chưa đáp ứng được các nhu cầu bức xúc của Nhân dân Thông tin tuyên truyền xây dựng nông thôn mới trên các phương tiện thông tin đại chúng chưa nhiều, chưa được liên tục, chưa thực sự đáp ứng được nhu

Trang 31

cầu của các tầng lớp Nhân dân Một số chính sách của Chính phủ về nông nghiệp, nông dân và nông thôn chưa được cụ thể hóa nên khi vận động Nhân dân còn gặp trở ngại nhất là vận động Nhân dân chăm lo phát triển sản xuất, nâng cao đời sống

Vì vậy đến nay trên địa bàn huyện mới có 01 xã đạt chuẩn nông thôn mới

2.2.4.3 Trình độ dân trí, đời sống và thu nhập của người dân

Hiện nay ở nước ta, tại nhiều địa phương, kể cả khu vực thành thị nhìn chung dân trí chưa cao Theo số liệu Lao động-việc làm ở Việt Nam công bố năm

2003, mặt bằng dân trí và học vấn của khu vực nông thôn, dù đã tiến bộ hơn trước, nhìn chung vẫn còn rất thấp Cụ thể là: Lao động nông thôn có tới 4,6%

mù chữ (chiếm 93,81% tổng số chưa biết chữ của lao động cả nước), 18,15% chưa tốt nghiệp tiểu học, 34,11% tốt nghiệp tiểu học, 31,31% tốt nghiệp THCS, chỉ có 11,82% tốt nghiệp THPT (Hồ Xuân Hùng, 2010)

Thực trạng học vấn, dân trí và chuyên môn kỹ thuật đang còn thấp kém đã gây rất nhiều khó khăn trong việc thực hiện chủ trương đưa các tiến bộ khoa học

và công nghệ vào quá trình lao động sản xuất ở khu vực nông nghiệp - nông thôn Thực trạng này cũng đã và đang là những nguyên nhân quan trọng làm cho: Nhiều vấn đề trong nông nghiệp, nông thôn, nông dân chậm được giải quyết

Thu nhập bình quân của người dân nông thôn hiện nay trên dưới 500.000 đồng/tháng, trong khi đó việc chi cho ăn, mặc chiếm tới 80 - 90% Hiện trạng về khoảng cách giàu, nghèo có xu hướng tăng lên, tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn mới) vẫn còn ở mức 18% (ở nhiều vùng sâu, vùng xa tới 40%)

Không chỉ vấn đề đất đai, áp lực về lao động trong nông thôn cũng ngày càng lớn Thực tế, ở nhiều địa phương hiện nay tuy có số nông dân đông, nhưng hầu hết những người có sức khỏe đều rời quê ra các đô thị tìm việc kiếm sống Vì thế vào những ngày mùa cần nhiều lao động các vùng thôn quê rất thiếu nhân lực, phải thuê với giá cao Do đó vấn đề đặt ra tuy nông thôn thừa lao động, thiếu việc làm nhưng có khi lao động vẫn là sức ép đối với nông thôn Ngoài ra, để tiến lên sản xuất lớn khu vực nông thôn còn thiếu hẳn lực lượng lao động có tay nghề, làm nông nghiệp giỏi

Trang 32

2.2.4.4 Năng lực, trình độ của cán bộ địa phương và kinh nghiệm xây dựng NTM

Trong quá trình nhận thức và thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước

về xây dựng nông thôn mới, nhận thức, đặc biệt tư duy của nhiều cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân ở một số địa phương còn hạn chế: Cho rằng xây dựng nông thôn mới là dự án phát triển sản xuất, đầu tư cơ sở hạ tầng; hoặc là biến đổi nông thôn thành thị trấn, thị tứ để đô thị hóa; hoặc xây dựng nông thôn mới là trách nhiệm của nhà nước phải làm cho dân nên nảy sinh tâm lý trông chờ, thụ động, ỷ lại, ảo tưởng là sắp có nông thôn mới Vì vậy, vấn đề đổi mới tư duy

để nâng cao hiệu quả nhận thức, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân

là hết sức cần thiết

Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là lực lượng tiên phong, đi đầu trong xây dựng nông thôn mới Trước tiên họ phải đổi mới tư duy để nhận thức đúng về chủ trương của Đảng, chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới của Chính phủ; từ đó tuyên truyền, vận động, hướng dẫn tư duy và nhận thức của nhân dân

về xây dựng nông thôn mới Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì không thể có đất nước công nghiệp mà nông thôn lạc hậu (Hồ Xuân Hùng, 2010)

2.2.4.5 Sự phối hợp của các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp

Sự phối hợp của các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp có ý nghĩa rất lớn và ảnh hưởng đến vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới Sự phối kết

hợp thể hiện: Thứ nhất, quán triệt và thống nhất trong tổ chức về ý nghĩa và nhiệm

vụ trong công tác xây dựng nông thôn mới; Thứ hai, là cầu nối hiệu quả giữa chính quyền và người dân; Thứ ba, tuyên truyền, vận động và tổ chức các phong trào thi đua nhằm huy động nhân lực, vật lực giải quyết các công việc cụ thể, Thứ tư, gương

mẫu, trách nhiệm và đi đầu trong việc triển khai, thực hiện và duy trì sử dụng các công trình, thành quả của công tác xây dựng nông thôn mới (Hồ Xuân Hùng, 2010)

2.3 Cơ sở thực tiễn nghiên cứu đề tài

2.3.1 Tổng quan tài liệu về xây dựng nông thôn và vai trò người dân ở các nước

Phát triển nông thôn với việc tăng cường sự tham gia của người dân trong

Trang 33

việc xây dựng nông thôn là mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh

tế, bình ổn xã hội, nhằm đạt đến sự phát triển bền vững cho mỗi quốc gia Tuy nhiên, mỗi quốc gia có một quốc sách phát triển để phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước mình (Nguyễn Mậu Dũng, Nguyễn Mậu Thái, 2012)

2.3.1.1 Tổng quan về Đài Loan - bài học kinh nghiệm về vai trò người dân xây dựng nông thôn mới

Theo con đường phát triển của Đài loan từ “nông nghiệp bồi dưỡng công nghiệp” tới “công nghiệp bồi dưỡng nông nghiệp”

Đến cuối những năm 50 của thế kỷ trước, Đài Loan đã cơ bản thực hiện tự cung cấp lương thực và có dư Sau khi giải quyết vấn đề lương thực, từ năm 1963 trở đi, Đài Loan bắt đầu dồn sức phát triển công nghiệp nhẹ Điều đáng nói là lúc này, một số quan chức của chính quyền Đài Loan có dấu hiệu coi thường nông nghiệp Bởi vậy, tới năm 1969, sản xuất nông nghiệp trở nên tiêu điều, kéo theo cảnh tiêu điều trong sản xuất công nghiệp

Trong hoàn cảnh này, chính quyền Đài Loan buộc phải điều chỉnh chính sách, tức chuyển từ phương châm “nông nghiệp bồi dưỡng công nghiệp” sang

“công nghiệp bồi dưỡng nông nghiệp”

Chính sách cụ thể là: từ năm 1974, bắt đầu thiết lập một quỹ bình chuẩn lương thực, thực hành chính sách thu mua đảm bảo giá cả đối với các nông sản phẩm như thóc, gạo ; tăng cường đầu tư vào các hạng mục công trình công cộng nông thôn, bao gồm thủy lợi, rừng chắn gió, đường và nước máy ; mở rộng cơ giới hóa nông nghiệp và kỹ thuật nông nghiệp tổng hợp; tăng cường nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, nhân lực và kinh phí,

Sau thập kỷ 80 của thế kỷ trước, bối cảnh chính sách nông nghiệp Đài Loan

có sự thay đổi khá lớn: mức thu nhập bình quân đầu người tăng cao dẫn đến cơ cấu tiêu dùng phát sinh biến động; Ý thức bảo vệ môi trường của con người được nâng cao, khiến cho môi trường sinh thái ngày càng được coi trọng; sự phát triển của nông nghiệp quốc tế hóa và tự do hóa khiến cho nhiều mặt hàng từ nước ngoài được nhập vào Đài Loan, tạo nên sức cạnh tranh với các sản phẩm bản địa Do những thay đổi này, chính sách nông nghiệp của Đài Loan cũng có sự điều chỉnh

Trang 34

tương ứng, từ đơn thuần coi trọng chính sách sản xuất nông nghiệp, chính sách thị trường, giá cả chuyển sang cùng coi trọng cả chính sách sản xuất nông nghiệp, chính sách thị trường và giá cả, chính sách môi trường nông nghiệp và chính sách

xã hội nông thôn

Kinh nghiệm của Đài Loan chứng minh: Khi đất đai dành để khai khẩn có hạn, cần thiết phải gia tăng sức lao động và đầu tư tiền bạc để nâng cao hiệu quả sản xuất của đất đai Cùng với sự phát triển của công nghiệp, sức lao động nông nghiệp bắt đầu có sự chuyển hướng lớn; cùng với sự đầu tư ngày càng nhiều vào nông nghiệp, khả năng sản xuất của đất đai và lao động cũng gia tăng đáng kể, giúp cho nông nghiệp hiện đại tiếp tục phát triển

Có thể thấy rằng, kinh nghiệm cơ bản của phong trào xây dựng nông thôn mới Đông Á không nằm ngoài công thức: Chính phủ kết hợp với Hội Nông dân điều tiết quá trình thực thi, trong đó Chính phủ đóng vai trò chủ đạo Đồng thời, phải dựa vào tình hình, bối cảnh cụ thể của mỗi quốc gia để có những chính sách,

kế hoạch và bước đi thích hợp

2.3.1.2 Tổng quan về Hàn Quốc - phát triển nông thôn từ việc tăng cường sự tham gia của người dân thông qua mô hình “làng mới” (Saemaul Undong) (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2002)

Hàn Quốc vào những năm đầu 60 vẫn là một nước chậm phát triển, nông nghiệp là hoạt động kinh tế chính với khoảng 2/3 dân số sống ở khu vực nông thôn Nông dân quen với sống trong cảnh nghèo nàn, an phận thủ thường, họ cho rằng nghèo là số phận, là do kết quả lao động của cha ông để lại, do lãnh đạo đất nước thiếu năng lực, nông dân thiếu tinh thần trách nhiệm về bản thân mình mà chỉ đổ tại cho khách quan bên ngoài Những suy nghĩ còn mang tính thụ động và

ỷ lại ở phần đông nông dân cần được thay đổi; do vậy, các chính sách mới phải khơi dậy được niềm tin và tính tích cực đối với việc phát triển nông thôn, khơi dậy tính độc lập, hăng say lao động của đội ngũ nông dân ở khu vực nông thôn là làm thay đổi những suy nghĩ thụ động và ỷ lại ở phần lớn nhân dân sống trong khu vực nông thôn và nâng cao vai trò của họ trong cuộc sống

Mục tiêu chính của chính sách mới là làm cho người dân có niềm tin và trở

Trang 35

nên tích cực đối với sự nghiệp phát triển nông thôn, làm việc chăm chỉ, cần cù, sáng tạo, độc lập và cộng đồng Tổng thống Hàn Quốc phát biểu: “Nếu chúng ta có thể tạo ra hay khai thác được tinh thần chăm chỉ, tự vượt khó khăn và hợp tác tiềm ẩn trong mỗi thành viên sống trong khu vực nông thôn, tôi tin tưởng rằng tất cả các làng xã nông thôn sẽ trở thành nơi thịnh vượng để sống Chúng ta có thể gọi là phương hướng hành động của mô hình Saemaul Undong đó là lời tuyên ngôn của phong trào làng mới” Như vậy, phong trào làng mới nhấn mạnh đến yếu tố quan

trọng nhất tạo động lực cho phát triển là “phát triển tinh thần của người nông dân”,

lấy kích thích vật chất nhỏ để kích thích tinh thần và qua đó phát huy nội lực tiềm tàng to lớn của nông dân

Một số hoạt động của mô hình “làng mới” trong việc nâng cao vai trò của

người dân trong việc tham gia xây dựng mô hình

- Phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, tổ chức từ cơ sở đến Trung ương

Cấp được coi trọng nhất vẫn là cấp cơ sở, việc đầu tiên được tiến hành là

bầu ra một tổ chức ở cấp cơ sở được gọi là “Uỷ ban Phát triển Làng mới”; Uỷ

ban này có khoảng 5 - 10 người, những người này là đại diện cho cộng đồng ở làng và chịu trách nhiệm lập kế hoạch, thực thi các tiểu dự án phát triển nông thôn cho làng mình Ngoài ra ở cấp tỉnh và cấp huyện, thị cũng được thành lập

Uỷ ban này nhằm giúp, hướng dẫn, tư vấn mọi hoạt động cho Uỷ ban Phát triển làng mới và giúp họ trong vấn đề huy động vật lực Khác với các nước khác, chương trình này do tổng thống đứng ra trực tiếp lãnh đạo Bộ trưởng Bộ Nội vụ đứng đầu Uỷ ban điều phối Trung ương với 12 điều phối viên là các Bộ trưởng của các bộ

- Đội ngũ lãnh đạo thôn làm nòng cốt cho chương trình phát triển

Cuộc họp toàn dân mỗi làng bầu ra hai lãnh đạo, một nam và một nữ để lãnh đạo cho phong trào của mình Những người này độc lập với hệ thống chính trị và hành chính ở nông thôn và không được hưởng một khoản trợ cấp nào Nguồn tinh thần chính cho những người này là sự kính trọng của cộng đồng và

sự vận động tinh thần kịp thời từ Chính phủ, những người lãnh đạo tinh thần này

Trang 36

không bị một sức ép nào về chính trị hay ảnh hưởng về kinh tế, mà chỉ chịu sự phán xét của nông dân và được cộng đồng tin yêu

- Đào tạo cán bộ các cấp theo các mô hình, gắn cả nước với phong trào phát triển nông thôn

Để giảm khoảng cách giữa dân thường và quan chức Chính phủ, cần gắn

bó thực sự cán bộ nhà nước với nhân dân Các quan chức Trung ương được đưa

về và sống cùng với nông dân, lãnh đạo các cấp chính quyền sống với lãnh đạo nông dân; Chính phủ mở các khoá đào tạo ngắn ngày khoảng từ một đến hai tuần, nội dung tuỳ theo nhu cầu từng giai đoạn của sự phát triển, đào tạo chủ yếu

là học theo các mô hình, rút kinh nghiệm từ các mô hình

- Phát huy dân chủ, đưa nông dân tham gia vào quá trình ra quyết định

Nông dân đều tự ra quyết định lựa chọn thứ tự ưu tiên cho mỗi hoạt động, trong đó hoạt động nào được tiến hành trước và hoạt động nào tiến hành sau; họ

tự chịu trách nhiệm trong việc lựa chọn, thực thi và quản lý, giám sát công trình

Để tập hợp hay huy động nhanh, thuận lợi trong sinh hoạt cộng đồng, các làng đã xây dựng hội trường làng của mình Đây là điều kiện cho dân làng gần gũi nhau hơn, có tinh thần đoàn kết hơn khi tham gia sinh hoạt cộng đồng

- Tạo ra một không khí thi đua, tinh thần hăng hái trong làng, xã

Đây là nét nổi bật trong phong trào “Làng mới” của Hàn Quốc Hàng năm

có đánh giá hiệu quả tham gia chương trình và được đánh giá một cách nghiêm túc, công khai Nơi nào thực hiện thành công từng giai đoạn của dự án mới được

hỗ trợ chương trình khác Chủ trương này được Tổng thống công bố chính thức cho toàn dân Địa phương nào cũng muốn vươn lên thành điển hình tốt, họ tự hào

về sự thay đổi và giàu có của làng mình, tình trạng kê khai xã nghèo để được hưởng sự hỗ trợ, đầu tư của nhà nước cũng tự nó mất đi trong các làng

- Nhà nước và nhân dân cùng làm

Nhà nước hỗ trợ vật tư, nhân dân đóng góp công, của; sự giúp đỡ và hỗ trợ của Nhà nước được giảm dần khi quy mô của địa phương và sự tham gia của dân gia tăng Nông dân chủ động trong vấn đề ra quyết định thứ tự ưu tiên trước, sau,

họ tự quyết định các loại thiết kế, chỉ đạo thi công, xây lắp, nghiệm thu, giám sát

Trang 37

công trình Hàng năm nhà nước tổ chức các cuộc họp toàn quốc cho lãnh đạo cộng đồng làng, xã tham dự; tại cuộc họp này, người có công được tuyên dương, phát phần thưởng, kể cả tuyên dương anh hùng lao động Đặc biệt Tổng thống là người sáng tác bài hát của phong trào, điều này đã cổ động rộng rãi hơn cho phong trào xây dựng mô hình “làng mới”, người dân càng tự hào và tự tinh hơn

- Một số kết quả đạt được từ phong trào “Làng mới”

Một số hoạt động của mô hình “làng mới” nhằm tăng cường sự tham gia của người dân trong việc xây dựng mô hình:

- Phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, tổ chức từ cơ sở đến Trung ương

- Bầu ra đội ngũ lãnh đạo thôn làm nòng cốt cho chương trình phát triển

- Đào tạo cán bộ các cấp theo các mô hình, gắn cả nước với phong trào phát triển nông thôn

- Phát huy tính dân chủ, đưa nông dân tham gia vào quá trình ra quyết định

- Tạo ra một không khí thi đua, tinh thần hăng hái trong làng, xã

- Nhà nước và nhân dân cùng làm

“Ủy ban phát triển làng mới” được lập ra ở các làng để vạch kế hoạch và xúc tiến các dự án Lãnh đạo của dự án độc lập với xã trưởng là người chỉ giữ vai trò đại diện hành chính để tránh tình trạng quan liêu hóa thường thấy ở các vùng nông thôn Ủy ban ở làng xã được kết nối với ủy ban ở các cấp quận, huyện, tỉnh, cũng không phụ thuộc vào cơ quan hành chính từng cấp

Các dự án ở từng làng xã xây dựng với sự hướng dẫn của các chuyên viên của các ngành khác nhau Mỗi dự án phải nhắm vào một công việc thiết thực nhất của làng, mang lại lợi ích cụ thể cho dân làng và do chính dân làng thực hiện Nhà nước hỗ trợ cho các dự án theo cách ưu tiên cho những cộng đồng biết

tự tổ chức và thực hiện dự án một cách thành công, không có việc cấp phát bình quân, cào bằng cho mọi làng nếu ở đó không có những công việc và mục đích thiết thực

Bộ mặt nông thôn thay đổi một cách nhanh chóng, sau tám năm các dự án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành, trong vòng 20 năm rừng đã được che phủ khắp nước và khoảng 84% cây rừng của Hàn Quốc hiện nay là cây rừng đã được trồng trong những năm làm mô hình Trong vòng sáu

Trang 38

năm thu nhập bình quân các nông hộ tăng gấp 3 lần, tính thương mại trong sản xuất nông nghiệp tăng; việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đường làng, nhà xưởng, hệ thống cung cấp nước, điện, chuyển giao khoa học công nghệ, tích luỹ vốn, đào tạo nhân lực, bảo vệ môi trường, tạo quỹ tiết kiệm trong gia đình, Phong trào Saemaul là một mô hình phát triển nông thôn cho phép hạn chế tối đa thời gian chuyển hoá nông thôn truyền thống thành một nông thôn hiện đại

Sau hơn 30 năm thực hiện phong trào Làng mới, môi trường sống và cuộc sống vật chất của người dân nông thôn đã được cải thiện đáng kể; sản xuất mang tính thương mại Cái được lớn nhất là những người nông dân nghèo đói bắt đầu trở nên tự tin hơn, khu vực nông thôn trở thành xã hội năng động, có khả năng tích luỹ, tự đầu tư và nhờ đó mà có khả năng tự phát triển Thông qua phong trào lao động nông thôn đã được đào tạo cơ bản, điều quan trọng là họ có tác phong công nghiệp, điều này đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng lao động cho ngành công nghiệp đòi hỏi kỹ thuật cao hơn

Đầu tư phát triển nông thôn là quá trình lâu dài và tốn kém, để tìm ra biện pháp phát triển rút ngắn được khoảng cách thời gian, đồng thời hạn chế nguồn kinh phí hạn hẹp thì mô hình phong trào Làng mới Saemaul là một trong số những mô hình phát triển nông thôn Đây là cách làm có hiệu quả vì nó đã đánh thức những tiềm năng và những quyết tâm của dân chúng ở từng cộng đồng Tính tích cực và chủ động của nông dân được khơi dậy thay cho tình trạng trì trệ vốn có ở nông thôn

và từ đó tạo ra những bước phát triển cụ thể trong một cao trào học hỏi và ganh đua giữa các cộng đồng

2.3.1.3 Tổng quan và kinh nghiệm của Thái Lan về doanh nghiệp hóa nông nghiệp (Vũ Trọng Khải và cs, 2003)

Thái Lan đã lựa chọn chiến lược xuất khẩu nông sản từ năm 1977 Chiến lược đó đặt mục tiêu làm cho những nông sản có ưu thế của Thái Lan với tính cách một nước nhiệt đới có thể chiếm lĩnh được thị trường thế giới bằng chính

sản phẩm nông nghiệp đã kinh qua chế biến Công nghiệp chế biến được chọn là khâu đột phá để thực hiện chiến lược ấy

Từ quan điểm ấy, họ đã xúc tiến các hoạt động sau:

- Công nghiệp hóa nông nghiệp với nghĩa là làm cho nông nghiệp trở

Trang 39

thành một khâu gắn chặt với công nghiệp làm hàng xuất khẩu và do đó phải phát triển các doanh nghiệp trong công nghiệp đảm nhận liên hiệp với nông dân tạo ra sản phẩm để chế biến có hiệu quả xuất khẩu cao

- Để có được nền công nghiệp chế biến mạnh như vậy thì phải làm nông nghiệp theo một kiểu tổ chức khác Tổ chức đó như cách của Thái Lan (có lẽ cũng là nước đầu tiên trong số các nước đang phát triển) là đi theo công thức 4 nhà: Nhà nước + nhà doanh nghiệp + nhà ngân hàng + nhà nông Trung Quốc rất chú ý đến công thức này Việt Nam cũng lấy ý tưởng này nhưng lại thay nhà ngân hàng bằng nhà khoa học

Công thức của Thái Lan nhắm vào việc lập ra các doanh nghiệp kinh doanh nông sản xuất khẩu theo hướng cả 4 nhà đi từ đầu đến cuối của quá trình sản xuất Hình thức kết hợp thì linh động thay đổi theo từng loại công việc và sản phẩm, nhưng về nguyên tắc, thì cả 4 nhân vật này đều là chủ thể của quá trình sản xuất: Chính phủ địa phương chịu trách nhiệm tạo dựng cơ sở hạ tầng, nhất là đường xá, chọn các nông hộ có khả năng tham gia liên kết với doanh nghiệp ngay từ lúc đầu, chọn những làng xã nào để thực hiện dự án sản xuất; Ngân hàng có trách nhiệm đầu tư vốn vào việc xây dựng các cơ sở chăn nuôi hoặc trồng trọt cho từng hộ nông dân đã được chọn; Doanh nghiệp chịu trách nhiệm cung ứng thiết bị, vật tư cho sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm Kết thúc quá trình sản xuất và tiêu thụ, lợi nhuận sẽ được chia cho 4 bên theo tỷ lệ thích hợp, chính phủ thu lợi qua thuế, ngân hàng thu lợi qua lợi tức cho vay, doanh nghiệp thu lợi qua lợi nhuận, nông dân thu lợi qua lợi nhuận và trừ dần các khoản đầu tư về thiết bị dài hạn Sau

5 - 7 năm, các thiết bị, nhà xưởng, máy móc đã đầu tư cho nông hộ sẽ do nông hộ

sở hữu hoàn toàn

Như vậy, nông hộ không bị lép vế như là người vay lãi ngân hàng hay mang nợ doanh nghiệp Do đó, cũng không xẩy ra tình trạng phải phạt nông dân khi họ không tôn trọng hợp đồng như có thể thấy ở các nơi khác Kết quả cuối cùng là Thái Lan có được một hệ thống các doanh nghiệp chuyên kinh doanh nông nghiệp và hệ thống các vùng kinh tế nông nghiệp chuyên môn hoá có quy mô hợp

lý Lúc đầu, Thái Lan làm mô hình này trong chăn nuôi, sau phát triển sang các mặt hàng khác như gạo, thuỷ sản, và đặc biệt là hoa quả nhiệt đới, hiện đứng đầu

Trang 40

thế giới Đến năm 1989, Thái Lan đã có 14 loại nông sản phẩm xuất khẩu trên thế giới được thực hiện chủ yếu vào sự liên kết này

2.3.2 Tổng quan tài liệu về xây dựng nông thôn và vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn ở Việt Nam

2.3.2.1 Chủ trương, chính sách của nhà nước về phát triển nông thôn

Những năm gần đây trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến vai trò của người dân trong việc tham gia phát triển nông thôn Đại hội đại đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng có một số quan điểm lớn của Đảng và Nhà nước ta về phát triển nông thôn là:

+ Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững + Phát triển nhanh kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông

+ Phát triển hài hòa, bền vững các vùng, xây dựng đô thị và nông thôn mới (Phạm Cường, 2003)

Nghị định 29/1998/NĐ-CP ngày 11 tháng 5 năm 1998 của Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, đến nay đã được đổi thành Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2003 là cách tiếp cận, đánh giá đúng tình hình ở cơ sở, thể chế hoá, pháp quy hoá những nội dung, nguyên tắc, phương châm cho sinh hoạt dân chủ ở nông thôn;

Nghị định cũng đã đề ra Quy chế dân chủ cấp cơ sở là khâu đột phá đưa sinh hoạt chính trị ở nước ta lên một tầm cao mới, củng cố và kiến tạo những điều kiện có tính nền tảng cho sự nghiệp dân chủ hoá ở địa bàn nông nghiệp, nông thôn Như vậy, quy chế dân chủ cấp cơ sở là điều kiện thuận lợi cho người dân nông thôn tham gia vào các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, là diễn đàn lớn cho nông dân phát huy quyền tự chủ của mình trong phát triển nông thôn và như vậy vai trò của họ được củng cố và nâng cao

2.3.2.2 Bài học kinh nghiệm (Nguyễn Mậu dũng, Nguyễn Mậu Thái, 2012)

- Huyện Ðan Phượng, Thành phố Hà Nội

Hiện nay, Ðan Phượng là huyện dẫn đầu thành phố về hoàn thành xây dựng đường giao thông xóm ngõ, giao thông thủy lợi nội đồng Toàn huyện đã thi công xong hơn 2.000 tuyến đường giao thông ngõ, xóm và giao thông nội đồng, với tổng mức đầu tư hơn 200 tỷ đồng (chỉ trong vòng hai tháng theo dự toán được

Ngày đăng: 17/02/2017, 11:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Chính phủ (2009). Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 “Ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
17. Đảng cộng sản Việt Nam (2008). Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5 tháng 8 năm 2008 “Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2008
28. UBND huyện Thanh Hà (2014). Báo cáo kết quả thực hiện chương trình số 42- CTr/HU về “Xây dựng nông thôn mới huyện Thanh Hà giai đoạn 2011-2015”của BCĐ chương trình xây dựng nông thôn mới huyện Thanh Hà (đến ngày 06/12/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nông thôn mới huyện Thanh Hà giai đoạn 2011-2015
Tác giả: UBND huyện Thanh Hà
Năm: 2014
14. Phạm Cường (2013). Hội Cựu chiến binh chung sức xây dựng nông thôn mới, Tạp chí cộng sản Đảng, truy cập ngày 20/08/2014 tại http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30701&cn_id=604660 Link
1. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hải Dương (2012). Tài liệu hỏi đáp xây dựng nông thôn mới, tháng 8/2012 Khác
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013). Giáo trình KTCT Mác - Lênin - Dùng cho khối ngành kinh tế, quản trị kinh doanh trong các trường đại học, cao đẳng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
3. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2002). Phát triển nông nghiệp bằng phong trào nông thôn mới (Saemaul) ở Hàn Quốc, Hà Nội Khác
4. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2006). Quyết định số 2614/QĐ-BNN-HTX ngày 08/9/2006 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc phê duyệt Đề án thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới Khác
5. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2005). Chương trình phát triển nông thôn làng xã mới giai đoạn 2006 - 2010, Hà Nội Khác
6. Chi cục Thống kê huyện Thanh Hà (2014). Báo cáo tình hình kinh tế, xã hội huyện Thanh Hà Khác
8. Chính phủ (2010). Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 Khác
9. Đỗ Kim Chung (2000). Phương pháp logic cho kế hoạch hoá dự án phát triển, Trung tâm Viện Công nghệ Châu Á tại Việt Nam Khác
10. Đỗ Kim Chung và cộng sự (2008). Giáo trình kinh tế nông nghiệp, NXB Nông nghiệp Khác
11. Đỗ Kim Chung (2009). Vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đai hóa hiện nay: Quan điểm và những định hướng chính sách, Hội thảo các Trường Đại học Việt Nam - Trung Quốc, Vấn đề Nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, tháng 12-2009 Khác
12. Mai Thanh Cúc, Quyền Đình Hà, Nguyễn Thị Tuyết Lan, Nguyễn Trọng Đắc (2005) Giáo trình phát triển nông thôn. NXB Nông nghiệp Hà Nội Khác
13. Hoàng Văn Cường (2002). Mối quan hệ giữa các biến kinh tế và biến dân số trong phát triển các vùng nông thôn Việt Nam, Luận án tiến sĩ Kinh tế, trường đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Khác
15. Nguyễn Mậu Dũng, Nguyễn Mậu Thái (2012). Vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới: Những Kinh nghiệm từ thực tiễn, Hội thảo xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiến, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, tháng 03-2012 Khác
16. Đảng cộng sản Việt Nam (2006). Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Khác
18. Hồ Xuân Hùng (2010). Những vấn đề quan tâm khi xây dựng nông thôn mới, Bản tin ISG, Quý 2/2010, Bộ Nông nghiệp và PTNT - Vụ Hợp tác quốc tế Khác
19. Vũ Trọng Khải, Đỗ Thái Đồng, Phạm Bích Hợp (2003). Tổng kết và xây dựng mô hình phát triển kinh tế - xã hội nông thôn mới, kết hợp truyền thống làng xã Việt Nam với văn minh thời đại, TP. Hồ Chí Minh - tháng 10/2003 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1 Nhiệt độ, lượng mưa, ẩm độ, giờ nắng bình quân 2012- 2014 - vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới tại huyện thanh hà, tỉnh hải dương
Bảng 3.1 Nhiệt độ, lượng mưa, ẩm độ, giờ nắng bình quân 2012- 2014 (Trang 46)
Bảng 3.2 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai huyện Thanh Hà, 2012- 2014 - vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới tại huyện thanh hà, tỉnh hải dương
Bảng 3.2 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai huyện Thanh Hà, 2012- 2014 (Trang 47)
Bảng 3.3 Tình hình dân số và lao động của huyện Thanh Hà, 2012- 2014 - vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới tại huyện thanh hà, tỉnh hải dương
Bảng 3.3 Tình hình dân số và lao động của huyện Thanh Hà, 2012- 2014 (Trang 48)
Bảng 3.4 Giá trị và cơ cấu kinh tế của huyện Thanh Hà, 2012 – 2014 - vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới tại huyện thanh hà, tỉnh hải dương
Bảng 3.4 Giá trị và cơ cấu kinh tế của huyện Thanh Hà, 2012 – 2014 (Trang 50)
Bảng 4.1. Tình hình triển khai chương trình xây dựng NTM mới - vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới tại huyện thanh hà, tỉnh hải dương
Bảng 4.1. Tình hình triển khai chương trình xây dựng NTM mới (Trang 65)
Hình cụ thể của địa phương, các đoàn thể xã tùy theo điều kiện của ngành mình - vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới tại huyện thanh hà, tỉnh hải dương
Hình c ụ thể của địa phương, các đoàn thể xã tùy theo điều kiện của ngành mình (Trang 76)
Bảng 4.6 Người dân đóng góp trí tuệ vào các hoạt động xây dựng - vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới tại huyện thanh hà, tỉnh hải dương
Bảng 4.6 Người dân đóng góp trí tuệ vào các hoạt động xây dựng (Trang 79)
Bảng 4.7 Kết quả huy động đóng góp tài chính của người dân trong xây - vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới tại huyện thanh hà, tỉnh hải dương
Bảng 4.7 Kết quả huy động đóng góp tài chính của người dân trong xây (Trang 81)
Bảng 4.8. Kết quả huy động đóng góp về tài chính của người dân trong xây - vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới tại huyện thanh hà, tỉnh hải dương
Bảng 4.8. Kết quả huy động đóng góp về tài chính của người dân trong xây (Trang 84)
Bảng 4.11 Kết quả huy động đóng góp ngày công lao động của người dân - vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới tại huyện thanh hà, tỉnh hải dương
Bảng 4.11 Kết quả huy động đóng góp ngày công lao động của người dân (Trang 89)
Bảng 4.13. Người dân tham gia thời gian lao động xây dựng công trình - vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới tại huyện thanh hà, tỉnh hải dương
Bảng 4.13. Người dân tham gia thời gian lao động xây dựng công trình (Trang 91)
Bảng 4.14 Trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn của các chủ hộ - vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới tại huyện thanh hà, tỉnh hải dương
Bảng 4.14 Trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn của các chủ hộ (Trang 97)
Bảng 4.15. Các yếu tố làm hạn chế đến tiến trình xây dựng NTM ở các xã - vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới tại huyện thanh hà, tỉnh hải dương
Bảng 4.15. Các yếu tố làm hạn chế đến tiến trình xây dựng NTM ở các xã (Trang 99)
Bảng 4.16. Kết quả huy động vốn xây dựng NTM ở các xã - vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới tại huyện thanh hà, tỉnh hải dương
Bảng 4.16. Kết quả huy động vốn xây dựng NTM ở các xã (Trang 102)
Bảng 4.17 Người dân tham gia vào các hoạt động xây dựng nông thôn mới - vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới tại huyện thanh hà, tỉnh hải dương
Bảng 4.17 Người dân tham gia vào các hoạt động xây dựng nông thôn mới (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w