1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ứng xử của hộ chăn nuôi trong phòng chống bệnh cúm gia cầm ở thành phố bắc ninh

124 412 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước tác động của dịch cúm gia cầm, người dân ở địa phương đã có những cách ứng xử khác nhau để giảm thiểu tác động của dịch bệnh, nâng cao hiệu quả chăn nuôi.. Để ngành chăn nuôi nói c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP& PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ KIM LOAN

ỨNG XỬ CỦA HỘ CHĂN NUÔI TRONG PHÒNG CHỐNG BỆNH CÚM GIA CẦM

Ở THÀNH PHỐ BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP& PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ KIM LOAN

ỨNG XỬ CỦA HỘ CHĂN NUÔI TRONG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu

và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 29 tháng 09 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Kim Loan

Trang 4

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Bộ môn Kinh tế tài nguyên và môi trường, Khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

Tôi xin cảm ơn Lãnh đạo UBND thành phố Bắc Ninh, Chi cục thú y thành phố; UBNN cùng toàn thể các hộ chăn nuôi phường Vân Dương, xã Nam Sơn, xã Khắc Niệm, đã cung cấp số liệu thực tế và thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, bạn bè, cùng toàn thể gia đình, người thân đã động viên, chia sẻ khó khăn, khích lệ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu đề tài

Hà Nội, ngày 29 tháng 09 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Kim Loan

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục iv

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục đồ thị ix

Danh mục hộp x

PHẦN I MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 4

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5

2.1 Cơ sở lý luận 5

2.1.1 Một sô khái niệm 5

2.1.2 Nội dung ứng xử của người chăn nuôi với bệnh cúm trong chăn nuôi gia cầm 9

2.2 Cơ sở thực tiễn 17

2.2.1 Ứng xử của người dân với tác động cũng như thiệt hại do dịch cúm gia cầm của một số nước trên thế giới 17

2.2.2 Ứng xử của người dân với dịch cúm gia cầm ở Việt Nam 23

PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

3.1 Đặc điểm địa bàn thành phố Bắc Ninh 31

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 31

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 33

3.1.3 Tình hình phát triển KTXH giai đoạn 2012 – 2014 41

3.2 Phương pháp nghiên cứu 44

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 44

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 44

3.2.3 Phương pháp xử lý thông tin 46

3.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 46

3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 46

Trang 6

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 48

4.1 Tình hình chăn nuôi và dịch cúm gia cầm ở thành phố Bắc Ninh 48

4.1.1 Thực trạng chăn nuôi gia cầm ở thành phố Bắc Ninh 48

4.1.2 Thực trạng bệnh cúm gia cầm ở thành phố Bắc Ninh 51

4.1.3 Tình hình chăn nuôi gia cầm ở các hộ điều tra 56

4.2 Ứng xử của người chăn nuôi trong phòng, chống bệnh cúm gia cầm 57

4.2.1 Ứng xử của người chăn nuôi trong phòng bệnh cúm gia cầm 57

4.2.2 Ứng xử của hộ chăn nuôi khi xảy ra dịch cúm gia cầm 74

4.2.3 Ứng xử của người chăn nuôi sau khi dịch cúm gia cầm xảy ra 82

4.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới ứng xử của người chăn nuôi về bệnh cúm gia cầm 86

4.3.1 Ảnh hưởng của vùng chăn nuôi đến ứng xử của người chăn nuôi 86

4.3.2 Ảnh hưởng của trình độ chủ hộ đến ứng xử của người chăn nuôi 88

4.3.3 Ảnh hưởng của tham gia các lớp tập huấn đến ứng xử của hộ chăn nuôi 90

4.3.4 Ảnh hưởng của nguồn tiếp cận thông tin đến ứng xử của hộ chăn nuôi 93

4.3.5 Ảnh hưởng của chính sách đến ứng xử của người chăn nuôi về cúm gia cầm 94

4.4 Định hướng và giải pháp nâng cao ứng xử của người chăn nuôi về cúm gia cầm 95

4.4.1 Định hướng chung phát triển chăn nuôi ở tỉnh Bắc Ninh 95

4.4.2 Giải pháp nâng cao ứng xử của người chăn nuôi trong phòng chống cúm gia cầm 96

PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 101

5.1 Kết Luận 101

5.2 Kiến nghị 102

5.2.1 Đối với các cấp chính quyền 102

5.2.2 Đối với người chăn nuôi 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

PHỤ LỤC 108

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CN - XD Công nghiệp – xây dựng

CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa GTSX Giá trị sản xuất

TTCN Tiểu thủ công nghiệp

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

2.1 Tình hình dịch cúm gia cầm qua các năm (2007 – 2011) 26

3.1 Hiện trạng sử dụng đất thành phố Bắc Ninh Giai đoạn 2012 - 2014 34

3.2 Tình hình dân số và lao động của thành phố Bắc Ninh giai đoạn 2012-2014 36

3.3 Tình hình phát triển cơ sở hạ tầng 38

3.1 Một số chỉ tiêu KTXH thành phố Bắc Ninh ( Giai đoạn 2012-2014) 42

3.4 Phân bố mẫu điều tra 45

4.1 Quy mô gia cầm ở thành phố Bắc Ninh 2012- 2014 49

4.2 Tình hình dịch cúm gia cầm trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2004 – 2014 52

4.3 Tình hình chung về các hộ điều tra 56

4.4 Nguồn giống gia cầm của các hộ, trang trại 59

4.5 Ứng xử về phòng cúm gia cầm trong chọn mua giống nuôi 61

4.6 Xây dựng chuồng nuôi phòng bệnh cúm 63

4.7 Vệ sinh chuồng của các hộ, trang trại 65

4.8 Vệ sinh các dụng cụ, thức ăn, nước uống của các hộ, trang trại 67

4.9 Ứng xử trong sử dụng thức ăn chăn nuôi 68

4.10 Ứng xử trong tiêm phòng cúm cho gia cầm của các hộ chăn nuôi 70

4.11 Hoạt động liên kết trong phòng cúm gia cầm 72

4.12 Tỷ lệ các hộ, trang trại đã từng có gia cầm bị mắc cúm trên địa bàn thành phố Bắc Ninh 75

4.13 Ảnh hưởng của phạm vi khoảng cách có gia cầm mắc cúm gia cầm đến ứng xử của người chăn nuôi 78

4.14 Ứng xử của các hộ, trang trại có nguy cơ gia cầm bị nhiễm cúm 79

Trang 9

4.15 Ứng xử của hộ chăn nuôi trong điều kiện giả định gia cầm nghi bị

mắc cúm gia cầm 81

4.16 Ứng xử của hộ chăn nuôi trong việc thay đổi quy mô chăn nuôi sau khi hết dịch cúm gia cầm 83

4.17 Ảnh hưởng của vùng chăn nuôi đến ứng xử của người chăn nuôi 87

4.18 Ảnh hưởng của trình độ chủ hộ đến ứng xử của người chăn nuôi 89

4.19 Ảnh hưởng của tham gia tập huấn đến ứng xử của người chăn nuôi 90

Trang 10

DANH MỤC ĐỒ THỊ

4.1 Số lượng gia cầm của các xã giai đoạn 2012 – 2014 50 4.2 Ứng xử của các hộ có gia cầm bị mắc cúm 76 4.3 Ứng xử của hộ chăn nuôi trong việc thay đổi giống, kỹ thuật chăn

nuôi sau khi hết dịch cúm gia cầm 85 4.4 Ảnh hưởng của nguồn tiếp cận thông tin đến ứng xử của hộ chăn

nuôi 94

Trang 11

DANH MỤC HỘP

4.1 Nuôi để ăn nên việc tiêm phòng cũng không quan trọng lắm 604.2 mua của người quen nên việc tiêm phòng các bệnh được biết rõ ràng hơn 714.3 sẵn sàng chấp nhận rủi ro mất không cả đàn gà 774.4 quan trọng là kỹ thuật, kinh nghiệm chăm sóc gia cầm 85

Trang 12

PHẦN I

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Chăn nuôi gia cầm ngày càng có vai trò to lớn trong sản xuất và đời sống,

nó vừa là nguồn cung cấp thực phẩm quý cho con người, lại tận dụng được nguồn lao động và các loại phế phụ phẩm trồng trọt, đem lại hiệu quả kinh tế cao Các điều kiện và tiềm năng để phát triển chăn nuôi ở nước ta rất lớn Hằng năm chăn nuôi gia cầm cung cấp khoảng trên 350 – 450 ngàn tấn thịt và 2,5 – 3,5 tỷ quả trứng (Bùi Hữu Đoàn, 2012) Tuy nhiên cho đến nay ngành chăn nuôi vẫn phát triển chậm, chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội, hàng năm vẫn phải nhập khẩu sản phẩm gia cầm từ nước ngoài về Phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán, chưa hình thành nhiều khu chăn nuôi gia cầm tập trung Tình hình dịch bệnh luôn luôn đe dọa và bùng phát liên miên mà nguyên nhân xảy ra những đại dịch

đó cũng chính là do phương thức chăn nuôi manh mún, buôn bán, giết mổ thủ công lan tràn ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và lây lan dịch bệnh

Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi gia cầm nói riêng đã gặp không ít khó khăn Nhiều dịch bệnh đã xảy ra buộc phải tiêu hủy toàn đàn gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi và nền kinh tế nước nhà Nhiều dịch bệnh không chỉ xảy ra trên vật nuôi mà còn lây sang con người gây tử vong Một trong số đó là bệnh Cúm gia cầm Cúm gia cầm là một trong những đại dịch mà ngành chăn nuôi gia cầm nước ta dễ bị bùng phát và lây lan Cúm gia cầm (còn gọi là cúm chim, cúm gà, cúm týp A) là bệnh cúm gây bởi một týp virus cúm sống trên loài có lông vũ, nhưng có thể lây nhiễm sang nhiều loài động vật có vú Bệnh được xác định lần tiên ở Montenergro vào đầu những năm 1900 và hiện nước biết là có mặt trên khắp thế giới Chủng cúm gia cầm H5N1 xuất hiện năm 1997 tại Hồng Công nhiều khả năng là nguồn gây dịch cúm gia cầm trên đàn gia cầm của nhiều nước châu Á từ cuối năm 2003 đến nay (Cẩm Tú, 2006)

Khi mới xuất hiện ở Việt Nam vào năm 2003, bệnh đã thể hiện là một căn

Trang 13

bệnh có tính lây lan nhanh và gây hậu quả nghiêm trọng Thời gian đầu của dịch bệnh từ ngày 27/12/2003 đến 30/04/2004, chỉ trong vòng hơn 4 tháng dịch đã làm cho 2574 xã/phường thuộc 381 huyện/thị trấn của 57 tỉnh/thành phố mắc bệnh Tổng số gia cầm bị chết do bệnh và tiêu hủy lên tới 43,9 triệu con Trong thời gian gần đây, mặc dầu chúng ta đã có nhiều biện pháp phòng chống dịch nhưng bệnh vẫn đang xảy ra trên phạm vi rộng và ngày càng nguy hiểm hơn, đặc biệt là số lượng người mắc và tử vong ngày càng tăng Với đặc điểm của căn bệnh là có nhiều subtype khác nhau và khả năng tổ hợp biến chủng đã làm cho căn bệnh ngày càng trở nên nguy hiểm hơn gây nhiều thiệt hại cho người chăn nuôi, đe dọa tính mạng con người đồng thời gây không ít khó khăn cho việc khống chế dịch bệnh cho ngành thú y (Cẩm Tú, 2006)

Thành phố Bắc Ninh với vị trí thuận lợi là đầu mối giao thông của các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, là thành phố vệ tinh của Hà Nội và là

lá chắn bảo vệ cửa ngõ phía Bắc của thủ đô Hà Nội Mặt khác, trong chính sách phát triển nông nghiệp của huyện thì ngành chăn nuôi vẫn đang được ưu tiên phát triển Những năm qua, việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp trong tỉnh có bước phát triển nhanh, đem lại hiệu quả kinh tế rõ rệt Trong lĩnh vực chăn nuôi, nhiều cơ sở sản xuất giống, chế biến, các trang trại từng bước đưa công nghệ cao vào sản xuất, góp phần giải phóng sức lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm Nhờ tăng cường áp dụng KHKT, đẩy mạnh chăn nuôi tập trung nên mặc dù tổng đàn không tăng nhưng sản lượng gia súc, gia cầm tăng Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng toàn tỉnh trong năm 2013 đạt hơn 90.640 tấn, tăng gần 2% so với cùng kỳ năm 2012 Toàn tỉnh có 176 trang trại chăn nuôi áp dụng cơ giới hóa khâu vệ sinh chuồng trại, hệ thống thông gió, cung cấp nước uống tự động (Việt Anh, 2012) Tuy nhiên ngành chăn nuôi gia cầm của thành phố cũng chịu ảnh hưởng vô cùng lớn bởi các đợt cúm gia cầm Trên địa bàn tỉnh, từ ngày 2 đến 19-1 dịch cúm gia cầm xuất hiện tại 10 hộ thuộc 6 thôn, 5 xã, phường của các huyện: Tiên Du, Yên Phong, thị xã Từ Sơn và thành phố Bắc Ninh làm gần 12.000 con gia cầm chết, mắc bệnh phải tiêu hủy Do triển khai khẩn trương, đồng bộ các biện pháp

Trang 14

phòng, chống dịch, từ ngày 19-1 đến nay trên địa bàn tỉnh không có thêm trường hợp gia cầm ốm, chết do bệnh cúm (Nguyễn Tuấn, 2014)

Trước tác động của dịch cúm gia cầm, người dân ở địa phương đã có những cách ứng xử khác nhau để giảm thiểu tác động của dịch bệnh, nâng cao hiệu quả chăn nuôi Để ngành chăn nuôi nói chung, chăn nuôi gia cầm nói riêng phát triển bền vững và đảm bảo công tác phòng chống dịch cúm trên đàn gia cầm nhằm hướng tới sự phát triển bền vững cho ngành chăn nuôi gia cầm của thành phố

Bắc Ninh , tôi chọn vấn đề nghiên cứu: “Ứng xử của hộ chăn nuôi trong phòng chống bệnh cúm gia cầm ở Thành phố Bắc Ninh”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

- Ứng xử của người chăn nuôi trong phòng chống bệnh cúm gia cầm dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn nào?

- Để giảm thiểu tác động cũng như thiệt hại do dịch cúm gia cầm ở Thành phố Bắc Ninh thì người dân đã làm những gì?

Trang 15

- Những yếu tố nào ảnh hưởng tới ứng xử của người chăn nuôi trong phòng chống bệnh cúm gia cầm trên địa bàn thành phố Bắc Ninh?

- Giải pháp nào phù hợp với ứng xử của người chăn nuôi trong phòng chống bệnh cúm gia cầm trên địa bàn thành phố Bắc Ninh?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu ứng xử của người chăn nuôi, các giải pháp giảm thiểu tác động cũng như thiệt hại do dịch cúm gia cầm gây ra ở Thành phố Bắc Ninh

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung

Đánh giá ứng xử của hộ chăn nuôi trước tác động cũng như thiệt hại do dịch cúm gia cầm gây ra, xác định các yếu ảnh hưởng tới ứng xử của hộ chăn nuôi, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu tác động cũng như thiệt hại do dịch cúm gia cầm gây ra ở Thành phố Bắc Ninh

- Phạm vi không gian

Thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

- Phạm vi thời gian

Đề tài được tiến hành từ 30/10/2014 – 30/08/2015

Các thông tin được công bố từ năm 2012 – 2014 Các thông tin mới điều tra thu thập được trong năm 2015

Trang 16

PHẦN II

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Một sô khái niệm

2.1.1.1 Khái niệm về bệnh cúm gia cầm

a Khái niệm

Theo Bách Khoa toàn thư, Gia cầm là tên gọi chỉ chung cho các loài động vật có hai chân, có lông vũ, thuộc nhóm động vật có cánh được con người nuôi giữ, nhân giống nhằm mục đích sản xuất trứng, lấy thịt hay lông vũ Những loài gia cầm điển hình gồm: gà, vịt, ngan, ngỗng Gia cầm cũng bao gồm các loài chim được nuôi với mục đích lấy thịt, chẳng hạn như chim bồ câu, chim cút hoặc dùng là vật cảnh, giải trí như gà lôi hay gà chọi, chim cảnh (Bách khoa toàn thư, 2014)

Cúm gia cầm có tên khoa học là Avian influanza, là một bệnh truyền nhiễm cấp tính gây ra bởi virus cúm type A thuộc họ Orthomyxovirideae Đây là tác nhân gây bệnh nguy hiểm và nghiêm trọng trên gia cầm, dã cầm, động vật có

vú khắp thế giới và có thể lây sang cho người gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi nói riêng và kinh tế mỗi quốc gia nói chung (Bách khoa toàn thư, 2014) Bệnh cúm gia cầm là một bệnh truyền nhiễm do virus cúm type A thuộc họ Orthomyxoviridae gây ra Virus cúm A gây bệnh cho gia cầm, một số loài động vật có

vú và người Bệnh cúm gia cầm động lực cao (HPAI) được Tổ chức Thú y thế giới (OIE) xếp vào danh mục bảng A Biến chủng H5N1 của virus cúm gà bắt đầu hoành hành từ năm 1997 Trước đây, loại virus này chỉ gây bệnh cho gia cầm, song hiện nay lại gây bệnh cho cả thủy cầm và động lực của nó rất mạnh Type virus này có tính biến

dị cao, có thể kết hợp với các type khác sinh ra đại dịch Virus lây lan mạnh trong điều kiện độ ẩm cao và nhiệt độ lạnh Virus cúm cư trú trên các loài thủy cầm di cư như: cò ngỗng trời, vịt trời nên khả năng lây lan bệnh rất rộng và khó kiểm soát Hiện nay, không một quốc gia nào khẳng định có đầy đủ phương tiện và kỹ thuật để ngăn ngừa, chống lại đại dịch cúm này nếu điều đó xảy ra (Mạnh Hùng, 2012)

Trang 17

b Triệu chứng

Khi gia cầm bị nhiễm cúm thường có những biểu hiện:

+ Gia cầm sốt cao, có những biểu hiện không thường ở hệ thống tiêu hóa, hô hấp, sinh sản, thần kinh

+ Trường hợp nặng biểu hiện ở gia cầm là ho, thở khó, chảy nước mắt, đứng túm tụm một chỗ, lông xù, phù đầu và mặt, những chỗ da không có long bị tím tái, chân bị xuất huyết, rối loạn thần kinh, ỉa chảy, một số con biểu hiện co giật hoặc đầu ở

tư thế không bình thường

+Xác gia cầm chết bệnh tím tái, mổ xác thấy dạ dày tuyến, dạ dày cơ (mề) xuất huyết, phổi tích máu, thận và gan sưng to, tuyến tụy sưng to có các vạch vàng và đỏ xen kẽ, tổ chức dưới da và các cơ đều thấy xuất huyết đỏ thẫm từng mảng

+ Thời gian ủ bệnh từ vài giờ đến 21 ngày, có trường hợp kéo dài đến 28 ngày + Gà bị bệnh cúm thường sốt cao, chảy nước mắt, đứng tụm một chỗ, lông xù, phù đầu và mắt, da tím tái, chân xuất huyết, chảy nước dãi, mào và yếm tím tái

+ Tỷ lệ mắc bệnh cúm và chết tùy thuộc vào loài vật mắc bệnh, động lực của virus gây bệnh cũng như tuổi mắc và điều kiện môi trường Trường hợp virus gây bệnh

có động lực cao, gà có thể chết 100%

+ Ngoài ra, khi gà bị cúm còn có thêm biểu hiện ăn ít, giảm sản lượng trứng, một số con còn có biểu hiện bị co giật (Mạnh Hùng, 2012)

2.1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của hộ nông dân

a Khái niệm hộ nông dân

Theo “Kinh tế hộ nông dân” của Đào Thế Tuấn (1997) thì hộ nông dân là một nhóm người cùng chung huyết tộc, sống chung hay không sống chung với những người khác huyết tộc trong cùng một mái nhà, ăn chung và có cùng chung ngân quỹ, có phân phối chung nguồn thu nhập mà các thành viên sáng tạo ra

Theo Frank Ellis, kinh tế hộ nông dân là kinh tế của những hộ gia đình có quyền sinh sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu lao động gia đình Sản xuất của hộ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia ở mức độ không hoàn hảo vào hoạt động của thị trường

Trang 18

b Đặc điểm của hộ nông dân

- Hộ nông dân là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là đơn vị tiêu dùng

- Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ

từ tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hóa hoàn toàn Trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân và thị trường

- Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp với các mức khác nhau, vì vậy hộ nông dân vừa là người sản xuất, vừa là người cung cấp dịch vụ (Trần Đình Thao, 2008)

2.1.1.3 Ứng xử của hộ nông dân

Theo từ điển tiếng Việt, ứng xử của các cá nhân là thái độ, hành động của các cá nhân trước một sự việc cụ thể Thông thường thái độ và hành động đúng đắn của cá nhân sẽ giúp cho việc giải quyết công việc một cách hợp lý, mang lại lợi ích cho cá nhân đó

Nguyễn Khắc Viện (1991) cho rằng ứng xử là chỉ mọi phản ứng của động vật khi có một yếu tố nào đó trong môi trường; các yếu tố bên ngoài và tình trạng bên trong gộp lại thành một tình huống và tiến trình ứng xử để kích thích có định hướng nhằm giúp chủ thể thích nghi với hoàn cảnh

Trong cuốn tâm lý học ứng xử, tác giả Lê Thị Bừng và Hải Vang đã đưa

ra khái niệm: Ứng xử là sự phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định Nó thể hiện ở chỗ

con người không chủ động giao tiếp mà chủ động trong phản ứng có sự lựa chọn, tính toán, thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng, tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người, nhằm đạt kết quả giao tiếp nhất định (Lê Thị Bừng và Hải Vang, 1997)

Theo Nguyễn Văn Bộ, những phản ứng đáp lại đối với tự nhiên theo cách này hay cách khác có thể coi là ứng xử (Nguyễn Văn Bộ, 2000)

Cũng theo Nguyễn Văn Bộ, ứng xử ở người tồn tại một số yếu tố gắn bó với nhau Thứ nhất, chủ thể ứng xử luôn luôn có ý thức về việc mình làm trên cơ

sở của những kinh nghiệm đã có Nói một cách khác, chủ thể cảm thấy, nhận

Trang 19

thấy, hiểu mình đang đứng trước tình huống nào để tổ chức hoạt động đáp lại tình huống đó Thứ hai là tính xuất ngoại của chủ thể, nghĩa là trong ứng xử, những suy nghĩ của chủ thể luôn được biểu thị ra bên ngoài (hành động, cử chỉ, ngôn ngữ, sắc thái tình cảm v.v…) đối tác và những người xung quanh có thể quan sát, nhận biết được Thứ ba là ứng xử được diễn ra trong những không gian

và thời gian xác định, môi trường ứng xử rất đa dạng, phong phú, trong đó tồn tại những con người, những vật thể, cảnh quan gần gũi với chủ thể Trong đời sống

cá nhân, một hoạt động ứng xử nào đó được cá nhân thực hiện thường xuyên đối với những tình huống cùng loại, khi đó ta nói cá nhân ấy có một tập quán cá nhân Tương tự như vậy về cách tạo lập, nếu nhiều cá nhân trong một xã hội thường xuyên lặp lại ứng xử một cách tương đối như nhau và diễn ra trong một thời gian dài lịch sử, khi đó ta có một tập quán xã hội Và cũng như vậy, nếu tại nhiều thời điểm của lịch sử, ở nhiều xã hội khác nhau, một tập quán xã hội được lặp đi lặp lại tương đối như nhau, ta có một phong tục xã hội

Tóm lại, ứng xử của con người chỉ xảy ra khi bị tác động và khi bị tác động mỗi người khác nhau sẽ có những quyết định hành động khác nhau, nhưng những quyết định đó cũng bị ảnh hưởng bởi không gian ngữ cảnh nhất định Nói như vậy ứng xử có thay đổi nếu cùng người đó, sự việc đó nhưng ở những ngữ cảnh khác nhau Ứng xử có thể được tạo ra hay thay đổi bằng cách học tập Con người học được cách ứng xử qua tác động qua lại với môi trường Tác động qua lại này dẫn đến thưởng hay phạt, vui hay buồn, hạnh phúc hay đau khổ Những hậu quả này có thể làm thay đổi các quyết định của con người

Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu chúng tôi cho rằng: Ứng xử của người dân đó là việc họ đưa ra các quyết định trong đó nhu cầu giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống là một điều tất yếu Để giải quyết các vấn đề này người

ta thường phải có nhiều suy nghĩ, nhiều phương án để giải quyết sau đó lựa chọn phương án nào là thích hợp nhất hay chính là phương án tối ưu

Trang 20

2.1.2 Nội dung ứng xử của người chăn nuôi với bệnh cúm trong chăn nuôi gia cầm

2.1.2.1 Ứng xử trong phòng cúm gia cầm

a Ứng xử trong chọn giống gia cầm

Giống là yếu tố không thể thiếu trong sản xuất chăn nuôi, nhưng nếu không được quản lý tốt thì rất dễ mang các mầm bệnh từ nơi khác về chuồng nuôi của mình Đặc biệt là bệnh cúm, loại bệnh có khả năng tồn tại rất lâu trong

cơ thể vật chủ Chính vì vậy, quản lý giống là một trong những biện pháp phòng bệnh gia cầm được đánh giá rất cao trong công tác phòng chống sự lây lan của cúm gia cầm Để phòng chống cúm gia cầm, người chăn nuôi nghiêm túc thực hiện các biện pháp phòng trừ, trong việc chọn giống thì người chăn nuôi chỉ chọn mua gia cầm ở những cơ sở giống tốt, đảm bảo không có bệnh cúm Chỉ chọn những con khỏe mạnh, nhanh nhẹn Các trại chăn nuôi gia cầm áp dụng các biện pháp an toàn sinh học

để ngăn chặn mầm bệnh lây lan vào trại Không nhốt chung đàn gia cầm khỏe với gia cầm ốm Thường xuyên loại thải gia cầm ốm ra khỏi đàn (Phạm Sỹ Lăng, 2011)

b Ứng xử trong chuẩn bị chuồng trại và các dụng cụ chăn nuôi

Do đặc điểm dịch tễ của bệnh cũng như đặc tính biến đổi kháng nguyên

bề mặt của virus khá phức tạp Do vậy, để phòng bệnh và ngăn chặn bệnh xảy ra thì các biện pháp vệ sinh thú y tổng hợp như: vệ sinh chuồng trại, khu vực chăn nuôi, thiết bị cho ăn uống phải được áp dụng định kỳ ở những vùng chưa có dịch Trong điều kiện chăn nuôi nông hộ hiện nay, để đảm bảo cho công tác phòng, chống dịch bệnh cho đàn gia cầm các chộ chăn nuôi cần thực hiện công tác vệ sinh chuồng trại như sau:

Các trại chăn nuôi gia cầm áp dụng các biện pháp an toàn sinh học để ngăn chặn mầm bệnh lây lan vào trại Chuồng nuôi bảo đảm thoáng mát, khô, có ánh nắng mặt trời chiếu vào, chuồng nuôi tách biệt với nơi sinh hoạt của con người, không bị gió lùa, thuận tiện cho quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phải giữ ẩm vào mùa đông, mát

về mùa hè, thuận tiện về nguồn nước và tiện cho công tác thu gom xử lý chất thải Sân chơi và ao nuôi phải có hang rào bao quanh Chuồng nuôi phải được xây xa đường

Trang 21

giao thông chính, tránh được tiếng ồn và những hoạt động qua lại của con người (Nguyễn Tiến Giáp, 2015)

Đổi mới phương thức chăn nuôi: Chăn nuôi tập trung, cách xa khu dân cư theo quy trình khép kín là điều kiện hàng đầu trong phòng bệnh Cần tổ chức mạng lưới cung ứng vắc-xin đầy đủ và kịp thời để người dân chủ động tiêm phòng cho đàn gia cầm với tỉ lệ 100%

Với các dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển, dụng cụ bảo hộ lao động

và người vào trại phải được tiêu độc, khử trùng Thức ăn nước uống, chất độn chuồng phải đảm bảo không chứa mầm bệnh Ngoài ra, người chăn nuôi nên đăng ký với trạm thú y trên địa bàn để thẩm tra điều kiện vệ sinh thú y và cấp chứng nhận cho phép chăn nuôi Đăng ký với trạm thú y để tiến hành lấy mẫu huyết thanh xét nghiệm virus cúm theo quy định

Thường xuyên sát trùng chuồng trại, khu vực chăn nuôi, vệ sinh thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi Hạn chế tối đa người ra vào trại, phương tiện vận chuyển trước khi vào trại phải qua hố sát trùng ở cổng, đồng thời thường xuyên thay thuốc sát trùng tại các hố trước cổng để ngăn chặn virus từ bên ngoài xâm nhập vào qua các phương tiện vận chuyển

Những ngày thời tiết lạnh, thả gia cầm muộn và nhốt sớm Duy trì nhiệt độ chuồng nuôi và nhốt gia cầm theo ngày tuổi, tháng tuổi Giữ chuồng luôn khô sạch, vệ sinh chuồng trại định kỳ bằng các loại thuốc sát trùng có hiệu quả dài ngày (loại thuốc

có thành phần Iot như Han Iodine 10%), khoảng 7-10 ngày phun/lần sau khi dọn chất độn chuồng (Mạnh Hùng, 2012)

c Ứng xử trong sử dụng thức ăn chăn nuôi

Tăng cường dinh dưỡng: Trong khẩu phần ăn hàng ngày của gia cầm đảm bảo đầy đủ dưỡng chất để tăng cường miễn dịch, giảm nguy cơ nhiễm bệnh Cho gia cầm

ăn đầy đủ khẩu phần các loại cám có chất lượng tốt và ổn định, cho uống thêm B.Complex giúp cho gia cầm khỏe mạnh tăng sức đề kháng với bệnh Ngoài vaccine cúm gia cầm tiêm theo sự hỗ trợ của Nhà nước cần tiêm phòng định kỳ, đầy đủ các loại vacxin thông thường như: Marek gà; Gumboro gà; đậu gà; tả gia cầm; tụ huyết trùng gia cầm theo lịch của cơ quan thú y địa phương, giúp cho gia cầm miễn dịch với các

Trang 22

bệnh này Cho gia cầm ngửi khói quả bồ kết định kỳ 5- 7 ngày một lần, làm mũi gà thông thoáng, phòng hiệu quả các bệnh về đường hô hấp Tiêu diệt virus cúm, giúp gia cầm khỏe mạnh chống lại bệnh

Khoảng 2- 3 ngày cho gà uống nước tỏi pha loãng/lần, Đập dập 2-3 củ tỏi sống,

để trong không khí 15- 20 phút sau đem hòa với 10 – 15 lít nước đem cho gà uống, bã tỏi rải quanh chuồng cho gà ngửi mùi Các chất kháng sinh thực vật có trong tỏi tiêu diệt mạnh virus cúm gia cầm (Mạnh Hùng, 2012)

d Ứng xử trong tiêm phòng cúm cho gia cầm

Các chủng virus cường độc A/H5N1 sau năm 1996, qua thời gian tiến hóa

có xu hướng biến đổi nội gen nhằm tăng tính gây bệnh và thay đổi thành phần nội gen kháng nguyên làm mất tương quan miễn dịch giữa chúng và các chủng vacxin được tạo ra Do vậy, vấn đề này phải được hết sức chú ý trong chiến lược chế tạo vacxin

Đối với bệnh truyền nhiễm, vacxin được coi là biện pháp có tính chiến lược, nhằm ngăn chặn lây lan, tạo bảo hộ miễn dịch Đối với dịch cúm A/H5N1 ở gia cầm và dự phòng dịch cúm trên người, nghiên cứu phát triển vacxin không những ngăn ngừa làm giảm được bệnh ở gia cầm, mà còn khống chế nguồn truyền lây của loại virus nguy hiểm này sang người Kháng thể đặc hiệu có thể được cơ thể sinh ra do kích thích của kháng nguyên trong vacxin, và đó là các kháng thể kháng HA, NA, MA và nhiều loại hình khác của virus đương nhiễm, góp phần vô hiệu hóa virus cúm đúng đối tượng khi chúng xâm nhập vào Các vacxin phòng bệnh hiện nay dựa trên cơ sở hai loại chính: vacxin truyền thống và vacxin thế hệ mới (Nguyễn Bá Hiên, 2008)

2.1.2.2 Ứng xử của hộ chăn nuôi trong chống bệnh cúm gia cầm

Trong thời gian xảy ra dịch ở các địa phương khác thì các trại chăn nuôi gia cầm giống áp dụng các biện pháp an toàn sinh học nhằm ngăn cản mầm bệnh đưa vào Dụng cụ chăn nuôi, xe chuyên chở, dụng cụ bảo hộ lao động và con người ra vào trại phải được vệ sinh, khử trùng Thức ăn, nước uống, chất độn

Trang 23

chuồng phải đảm bảo không chứa mầm bệnh Quy trình xử lý ổ dịch cúm gia

cầm như sau:

- Khi phát hiện gia cầm có biểu hiện của bệnh cúm như: ốm chết hàng

loạt, ho, khó thở; đầu, mặt, mào sưng tím tái; lông xù, da có màu đỏ sẫm, chân xuất huyết, tiêu chảy phân có lẫn máu chủ hộ chăn nuôi phải báo ngay cho ban thú y xã, phường hoặc cơ quan thú y gần nhất để được kiểm tra, xác minh và hướng dẫn xử lý Tuyệt đối không tiếp xúc với gia cầm bệnh, không ăn thịt gia cầm bệnh

- Thú y cơ sở khi phát hiện có gia cầm bị cúm phải báo cáo ngay về trạm

thú y huyện và UBND xã Trạm thú y huyện lập tức báo cáo bằng điện thoại về Chi cục Thú y và UBND huyện để kịp thời khoanh vùng bao vây ổ dịch, ngay sau đó báo cáo bằng văn bản về diễn biến tình hình dịch và các biện pháp xử lý ổ dịch

- Nghiêm cấm bán chạy, sơ tán, giết mổ hoặc vứt xác gia cầm ốm chết ra đường, ra sông, hồ, ao, mương máng làm ô nhiễm môi trường và lây lan dịch bệnh Tại thôn xuất hiện ổ dịch: Toàn bộ số gia cầm ốm chết, số gia cầm còn sống trong đàn có dịch, các đàn quanh ổ dịch và những đàn chưa tiêm phòng vaccin cúm gia cầm phải thu gom, giết hủy (Chi cục thú y Bắc Ninh, 2009)

- Biện pháp tiêu hủy gia cầm nhiễm bệnh:

+ Dùng bao tải có túi ni lon cho gà tiêu hủy vào bao buộc kín, phun thuốc sát trùng chở đến nơi tiêu hủy

+ Đào hố sâu 2,5-3m, (chiều dài, rộng tùy thuộc vào số lượng gia cầm tiêu hủy) trải 1 lớp nilon (hoặc vải bạt không thấm nước) trên toàn bộ đáy và xung quanh thành hố, đổ bao chứa gà xuống hố, phun thuốc sát trùng lên bề mặt sau đó

đổ vôi bột lên trên và lấp đất Khoảng cách từ xác chết đến mặt đất tối thiểu từ 0,8-1,0m, nén đất thật chặt

+ Đốt gia cầm ngay trên miệng hố bằng dầu hỏa; (5 lít dầu/100 kg gia cầm, đốt xong gom xác gia cầm xuống hố sau đó lấp đất lại, trải vôi lên trên và phun khử trùng xung quanh mộ

+ Gia cầm bệnh vận chuyển đi hủy phải được che bạt kín Phun đẫm hóa chất vào xe và bạt, xe chở gia cầm đi trước, máy phun thuốc khử trùng đi sau

Trang 24

+ Việc đốt hủy gia cầm phải bảo đảm không gây ô nhiễm môi trường Những người thực hiện việc tiêu hủy gia cầm bệnh phải có khẩu trang và đồ bảo

hộ lao động

+ Hố chôn gia cầm phải bảo đảm các yếu tố: Xa nguồn nước, xa khu dân

cư, xa đường giao thông và xa bãi chăn thả gia súc, gia cầm

+ Toàn bộ phân, chât thải, thức ăn thừa, chất độn chuồng của gia cầm bệnh và vật rẻ tiền phải được thu gom đốt, hủy ngay trên nền chuồng, sau đó đem chôn sâu dưới đất Phát quang thu dọn chất phế thải, rác ở xung quanh khu vực chuồng nuôi, đốt hủy rác, chất phế thải

+ Chuồng và khu vực xung quanh chuồng nuôi phải được phun thuốc sát trùng lên toàn bộ bề mặt nền chuồng, tường, vách, trần, máng ăn, máng uống, mỗi ngày 1 lần trong 3 ngày liền Sau đó cách 2-3 ngày lại phun 1 lần cho đến khi tình hình dịch chấm dứt

+ Tại thôn có dịch, đình chỉ việc mua bán, giết mổ, vận chuyển gia cầm và sản phẩm gia cầm Vệ sinh tẩy uế và phun thuốc sát trùng môi trường mỗi ngày 1 lần liên tục trong 3 ngày liền sau đó 2 ngày 1 lần

+ Khu vực vành đai ổ dịch, các thôn xung quanh thôn có ổ dịch đình chỉ việc mua bán, giết mổ, vận chuyển, cho tặng gia cầm hoặc sản phẩm gia cầm, không chăn thả gia cầm, thực hiện nuôi nhốt tại chuồng để tránh lây nhiễm + Trên các tuyến giao thông ra vào ổ dịch phải lập các chốt kiểm dịch tạm thời có barie, có biển báo, có thuốc sát trùng và cử người trực 24/24h để kiểm soát ngăn chặn gia cầm và sản phẩm gia cầm ra ngoài ổ dịch

+ Nghiêm cấm người không nhiệm vụ vào ổ dịch Người có nhiệm vụ khi vào ổ dịch phải có bảo hộ lao động như khẩu trang, găng tay, quần áo bảo hộ, ủng khi ra khỏi ổ dịch phải được khử trùng tiêu độc quần áo, giày, dép (Chi cục thú y Bắc Ninh, 2009)

2.1.2.3 Ứng xử của hộ chăn nuôi sau dịch cúm gia cầm

a Ứng xử của hộ chăn nuôi trong việc thay đổi quy mô chăn nuôi

Để đa dạng hóa sản phẩm, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa của người tiêu dùng thì người sản xuất – hộ nông dân cần phải thường xuyên cập nhật thông

Trang 25

tin thị trường, nắm rõ xu hướng phát triển để từ đó mạnh dạn đầu tư sản xuất vào những mặt hàng, những lĩnh vực đang còn thiếu trên thị trường Do sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, chịu rủi ro cao nên sau khi hết dịch cúm gia cầm thì người chăn nuôi đã thay đổi quy mô chăn nuôi để đảm bảo nguồn thu nhập ổn định cho gia đình Việc mở rộng hay thu hẹp quy mô chăn nuôi gia cầm là các quyết định tăng số đầu vật nuôi nhằm tăng số lượng sản phẩm sản xuất và cung cấp cho thị trường Khi nhu cầu về sản phẩm chăn nuôi tăng thì giá sản phẩm tăng, đồng thời hộ chăn nuôi có xu hướng mở rộng quy mô chăn nuôi nhằn tăng cung cho thị trường Tuy nhiên, khi có dịch bệnh bùng phát, giá thịt gà, vịt, ngan giảm mạnh, người tiêu dùng chuyển sang các sản phẩm thay thế sản phẩm chăn nuôi thì

hộ chăn nuôi thu hẹp quy mô chăn nuôi để tối thiểu hóa thiệt hại khi có dịch bệnh, chờ hết dịch bệnh lại tiếp tục đầu tư Hộ chăn nuôi là những đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất và tiêu dùng Nếu xét thấy việc chăn nuôi gia cầm kém hiệu quả họ sẵn sàng từ bỏ ngay để chuyển sang chăn nuôi các vật nuôi khác có giá trị kinh tế cao hơn hay nghành nghề khác có hiệu quả hơn (Vân Thảo, 2014)

b Thay đổi giống, kỹ thuật chăn nuôi

Để nâng cao hiệu quả chăn nuôi, cách phòng chống dịch bệnh, ngăn chặn

sự phát tán, lây lan các dịch bệnh trong chăn nuôi gia cầm thì sau khi hết dịch cúm gia cầm, người chăn nuôi có thể thay đổi giống gia cầm, chuyển sang chăn nuôi giống gia cầm có sức đề kháng tốt hơn, phù hợp với điều kiện khí hậu ở Việt Nam Đồng thời, người chăn nuôi cũng cần đồng bộ áp dụng các kỹ thuật tiến bộ trong chăn nuôi gia cầm (Vân Thảo, 2014)

2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến ứng xử của hộ chăn nuôi trong phòng chống dịch cúm gia cầm

2.1.3.1 Ảnh hưởng của vùng chăn nuôi đến ứng xử của hộ chăn nuôi trong phòng chống dịch cúm gia cầm

Mỗi vùng chăn nuôi có lợi thế về diện tích đất đai, điều kiện cơ sở hạ tầng…thuận lợi cho chăn nuôi nói chung, phòng chống dịch cúm gia cầm nói riêng Với mỗi vùng có điều kiện về không gian khác nhau, nên ứng xử trong việc phòng cúm gia cầm khác nhau Có những nơi là cửa khẩu, tiếp giáp với các

Trang 26

vùng kinh tế trọng điểm ở địa phương khác, công tác phòng chống, kiểm tra trong quá trình vận chuyển, giao dịch hàng ngày được tăng cường như thành lập các trạm kiểm dịch, chốt kiểm tra nhằm nhanh chóng phát hiện các đàn gia cầm mắc bệnh, đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng, cũng như hạn chế rủi ro đối với người chăn nuôi Mặt khác, ở các vùng khác nhau, có nơi thực hiện việc thành lập các nhóm, tổ chức, liên kết nhằm trao đổi kinh nghiệm chăn nuôi, phòng chống dịch bệnh; có nơi không thực hiện, như vậy, ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình chăn nuôi gia cầm

2.1.3.2 Ảnh hưởng trình độ học vấn, kinh nghiệm của chủ hộ tới ứng xử của người chăn nuôi phòng dịch bệnh cúm gia cầm

Trình độ học vấn của chủ hộ chăn nuôi có ảnh hưởng đến quyết định của người chăn nuôi trước tình hình dịch bệnh cúm gia cầm Với các chủ hộ chăn nuôi có trình độ học vấn và kinh nghiệm chăn nuôi khac nhau nên họ có những quan điểm khác nhau về những tiến bộ trong chăn nuôi, những vấn đề thách thức trong ứng xử với dịch cúm gia cầm… Với những chủ hộ có trình độ học vấn cao, kinh nghiệm chăn nuôi lâu năm, họ dễ dàng có những quyết định ứng xử trước dịch cúm gia cầm như: đầu tư công nghệ chăn nuôi, ứng dụng tiến bộ kĩ thuật nhằm hạn chế lây lan dịch bệnh, tăng hiệu quả chăn nuôi, hoặc thay đổi phương thức chăn nuôi, kết hợp chăn nuôi với kinh doanh, buôn bán nhằm giảm rủi ro, tăng lợi nhuận…

2.1.3.3 Ảnh hưởng của tham gia tập huấn tới ứng xử của người chăn nuôi phòng dịch bệnh cúm gia cầm

Tham gia tập huấn giúp cho người chăn nuôi có thêm hiểu biết, kinh nghiệm chăn nuôi, ngoài ra, thông qua tập huấn, người chăn nuôi có thể giảm bớt thiệt hại nhờ việc ứng dụng kinh nghiệm chăn nuôi thành công của những trang trại chăn nuôi tiêu biểu, từ đó rút ngắn thời gian thử nghiệm Việc tham gia các lớp tập huấn cho thấy mức độ quan tâm của chủ hộ tới công tác phòng chống dịch bệnh trên đàn gia cầm Với những hộ thường xuyên tìm hiểu về công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn gia cầm nói chung, phòng bệnh cúm gia cầm nói riêng, tham gia các lớp tập huấn có ý nghĩa quan trọng, giúp các chủ trang trại có

Trang 27

cơ hội được trao đổi, giải đáp thắc mắc trong quá trình chăn nuôi với cán bộ thú

y, cán bộ khuyến nông Đồng thời qua đó, người chăn nuôi được tiếp cân với các chủ trương, chính sách của nhà nước, chính quyền, cơ quan các cấp

2.1.3.4 Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế đến ứng xử của người chăn nuôi phòng dịch bệnh cúm gia cầm

Điều kiện kinh tế của hộ khác nhau có thể dẫn đến cách ứng xử trong phòng chống cúm gia cầm khác nhau Với những hộ có điều kiện kinh tế, hộ sãn sàng đầu tư thức ăn chăn nuôi, xây dựng chuồng nuôi hợp vệ sinh, đúng tiêu chuẩn, sử dụng các trang thiết bị hiện đại trong phòng chống cúm gia cầm Với

hộ chăn nuôi chưa đủ điều kiện kinh tế để áp dụng công nghệ chăn nuôi, hộ tận dụng điều kiện sẵn có để kết hợp chăn nuôi với phát triển ngành nghề khác, nhằm giảm thiểu rủi ro, tăng lợi nhuận của quá trình chăn nuôi

2.1.3.5 Ảnh hưởng của nguồn tiếp cận thông tin đến ứng xử của người chăn nuôi phòng dịch bệnh cúm gia cầm

Nguồn tiếp cận thông tin về tình hình chăn nuôi, dịch cúm gia cầm của các chủ hộ chăn nuôi chủ yếu thông qua đài, ti vi, báo chí, bạn bè, người quen, internet…Nguồn tiếp cận đa dạng, phong phú, phù hợp với thời gian làm việc của người chăn nuôi, tránh tình trạng thông tin không được đưa đến người chăn nuôi kịp thời và đầy đủ dẫn đến tình trạng bùng phát dịch bệnh, ảnh hưởng đến quá trình chăn nuôi của chủ hộ

2.1.3.6 Ảnh hưởng của chính sách tới ứng xử của người chăn nuôi phòng dịch bệnh cúm gia cầm

Các yếu tố thuộc về môi trường bên ngoài bao gồm các chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với các hộ chăn nuôi gia cầm trong phòng chống cúm gia cầm, công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức và ứng xử trong phòng chống bệnh cúm gia cầm; sự sẵn có của những loại vắc-xin hữu hiệu hay cách ứng xử có hiệu quả, tiến bộ kỹ thuật áp dụng trong chăn nuôi Đây là những yếu tố rất quan trọng có ảnh hưởng đến việc lựa chọn quyết định ứng xử của hộ chăn nuôi đối với công tác phòng chống bệnh cúm gia cầm

Trang 28

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Ứng xử của người dân với tác động cũng như thiệt hại do dịch cúm gia cầm của một số nước trên thế giới

2.2.1.1 Tình hình bệnh cúm trên thế giới

a Tình hình dịch cúm trên thế giới giai đoạn 2004 - 2007

Bệnh đã được mô tả đầu tiên ở Italia vào năm 1878 và nó được nhìn nhận

là một bệnh quan trọng và nguy hiểm Năm 1955 virus gây bệnh mới được xác định thuộc type A thông qua kháng nguyên bề mặt H7N1 và H7N7 gây chết

nhiều gà, gà tây và các loại chim khác

Vào năm 1971 bệnh đã được mô tả kỹ qua đợt dịch cúm khá lớn trên gà tây ở Mỹ Các năm tiếp theo bệnh được phát hiện ở Nam Mỹ, Bắc Mỹ, Nam Phi Đặc biệt năm 1983 – 1984 ở Mỹ, dịch cúm gia cầm do chủng H5N2 ở bang Pensylvania, Virginia, New Jersey làm chết và tiêu hủy hơn 19 triệu con gà Cũng trong thời gian này tại Irelan người ta phải tiêu hủy 270000 con vịt, tuy không có triệu chứng lâm sàng nhưng đã phân lập được virus H5N8 và bệnh đã được loại trừ một cách nhanh chóng

Đến năm 2004, bệnh Cúm gia cầm đã xảy với quy mô lớn và với tốc độ bùng phát nhanh ở các nước châu Á với tổng số 11 quốc gia Dịch xuất hiện đầu tiên ở Hàn Quốc từ đầu tháng 12/2003, sau đó dịch xảy ra nhiều nước khác với diễn biến khá phức tạp Đến cuối tháng 2/2004 đã có 10 nước công bố dịch là Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan và Pakistan Chủng virus độc lực cao đã được phân lập và định type là H5N1 đây là type chủ yếu, bên cạnh đó còn có H5N2 ở Đài Loan và H7N3, H9N2 ở Pakistan Ngoài ra, tại một số nước khác đã phân lập được một

số chủng khác như H6 ở Nam Phi, chủng H10N7 ở Ai Cập, H7N3 ở Canada, H7N2 ở Hoa Kì Trong đợt dịch này khoảng 120 triệu gia cầm gồm: gà, gà tây,

gà sao, gà lôi, vịt, ngan, ngỗng, chim cút, bồ câu và một số chim hoang dã đã bị nhiễm bệnh và nằm trong vùng dịch phải tiêu hủy Cùng với diễn biến bệnh trên gia cầm, hàng trăm người cũng đã bị lây nhiễm, trong đó có trên 20 người bị chết (Ban chỉ đạo Quốc gia phòng chống cúm gia cầm, 2005)

Trang 29

Dịch cúm gia cầm ngày càng lan rộng Tại Thái Lan, đợt dịch thứ nhất kéo dài từ ngày 23/01/2004 đến giữa tháng 3/2004 đã phải tiêu hủy 30 triệu con Vừa chấm dứt thì đợt dịch thứ hai xuất hiện kéo dài từ ngày 03/07/2004 đến 14/02/2005 Ở Indonesia dịch xuất hiện đợt dịch thứ hai vào ngày 23/03/2005 Trong tháng 02/2004 một số nước đã tuyên bố khống chế được dịch song có một

số nước dịch lại tái phát lần 2 như Thái Lan, Campuchia, Hàn Quốc, Nhật Bản

và Việt Nam Có thể nói đây là lần đầu tiên trong lịch sử bệnh Cúm gia cầm xảy

ra nhanh trên diện rộng với diễn biến khá phức tạp Ngoài thiệt hại về kinh tế tính đến năm 2009 đã có 423 người nhiễm và 258 người tử vong (Ban chỉ đạo Quốc gia phòng chống cúm gia cầm, 2005)

b Tình hình dịch cúm trên thế giới giai đoạn 2007 - 2014

Theo Báo cáo công tác phòng chống dịch cúm gia cầm (Tài liệu phục vụ cuộc họp giao ban trực tuyến về công tác phòng chống dịch cúm gia cầm ngày 23/2/2012) của Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống cúm gia cầm, tình hình về dịch cúm gia cầm trên thế giới giai đoạn 2007 – 2012 như sau:

Năm 2007, có 30 quốc gia và vùng lãnh thổ báo cáo xuất hiện dịch cúm gia cầm do virut H5N1, đặc biệt là tại Indonesia, dịch cúm gia cầm dây dưa kéo dài, tại một số quốc gia Châu Phi – nơi được cho là virut gia cầm có nguy cơ biến đổi cũng

đã phát dịch Các nước khác trong khu vực như Lào, Camphuchia, Myanmar, Malaysia, Trung Quốc, Thái Lan cũng đã tái phát dịch Các quốc gia có ngành chăn nuôi tiên tiến như Hàn Quốc, Nhật Bản, và một số quốc gia ở Châu Âu như Nga, Hungari, Rumani, Anh…cũng ghi nhận có các ổ dịch trên gia cầm

Năm 2008, dịch cúm gia cầm phát ra tại 28 quốc gia và vùng lãnh thổ bao gồm: Banglasdesh, Benin, Campuchia, Canada, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ai Cập, Đức Đặc khu hành chính Hồng Kông (Trung Quốc), Ấn Độ, Israel, Iran, Nhật Bản, Lào, Myanmar, Nigeria, Pakistan, Ba Lan, Rumani, Nga, Ả - rập Xê –út, Thụy Sỹ, Thái Lan, Togo, Thổ Nhĩ Kỳ, Ukraine, Vương quốc Anh và Việt Nam

Trang 30

Năm 2009, dịch cúm gia cầm trên gia cầm phát ra tại 17 quốc gia và vùng lãnh thổ bao gồm: Afghanistan, Banglasdesh, Campuchia,Trung Quốc, Đặc khu hành chính Hồng Kông (Trung Quốc), Ấn Độ, Nhật Bản, Lào, Mông Cổ, Nepal, Nigeria, Nga, Tây Ban Nha, Thái Lan, Togo, Việt Nam

Năm 2010, dịch cúm gia cầm phát ra tại 17 quốc gia và vùng lãnh thổ bao gồm: Banglasdesh, Campuchia,Trung Quốc, Đặc khu hành chính Hồng Kông (Trung Quốc), Ấn Độ, Israel, Lào, Mông Cổ, Nepal, Myanmar, Bunlgaria, Rumainia, Nga, Tây Ban Nha và Việt Nam

Năm 2011, dịch cúm gia cầm phát ra tại 14 quốc gia và vùng lãnh thổ bao gồm: Banglasdesh, Campuchia,Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Mông Cổ, Đặc khu hành chính Hồng Kông (Trung Quốc), Hàn Quốc, Hi Lạp, Israel, Iran Indonesia, Việt Nam, Myanmar

Từ 1/1/2012- 17/2/2012, dịch cúm đã xảy ra tại: Ai Cập, Banglasdesh, Nepal, Bhutan, Ấn Độ, Đặc khu hành chính Hồng Kông (Trung Quốc), Việt Nam

(Ban chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch cúm gia cầm, 2012)

Năm 2014, đối với cúm A(H5N6), A(H5N8) và cúm A(H5N2), trên thế giới, trong khoảng thời gian cuối năm 2014 đến đầu năm 2015, tại nhiều nước trên thế giới như Đức, Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan tiếp tục ghi nhận các vụ dịch do vi rút cúm A(H5N8) ở các trang trại gia cầm Cuối năm 2014, Ủy ban Nông nghiệp Đài Loan (Trung Quốc) đã đưa ra thông báo công bố phát hiện nhiều trang trại nuôi ngan/ngỗng có thủy cầm nuôi chứa vi rút cúm A(H5N2) là chủng vi rút cúm mới xuất hiện lần đầu tiên Hiện trên thế giới chưa ghi nhận trường hợp nào nhiễm các vi rút cúm gia cầm nói trên ở người, tuy nhiên các chủng vi rút này có thể lây truyền từ gia cầm sang

người (Cục y tế dự phòng bộ y tế, 2015)

2.2.1.2 Kinh nghiệm phòng chống cúm gia cầm ở Thái Lan

Cũng như Việt Nam, từ đầu năm 2003 đến nay, dịch cúm gia cầm đã bùng phát mạnh tại Thái Lan, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành chăn nuôi

Trang 31

và công nghiệp chế biến gia cầm Qua hai đợt dịch 2003 – 2005, Thái Lan đã phải tiêu hủy 60 triệu gia cầm, xuất khẩu giảm 20 -30%, đặc biệt các sản phẩm bao gói đông lạnh như đùi, lườn (chưa nấu chin) không xuất được (nhưng Thái Lan đã nhanh chóng chuyển sang sản xuất các sản phẩm nướng, rán, quay, xúc xích…) Tại thời điểm tháng 8/2005, dịch vẫn xuất hiện rải rác trên nhiều vùng

và chủ yếu ở những đàn nuôi trong nông hộ, còn các trại ít bị dịch bệnh hơn do làm tốt các biện pháp an toàn sinh học

Cho đến nay, Thái Lan vẫn chưa hòan toàn khống chế được dịch cúm gia cầm nhưng những thành tựu đã đạt được là không thể phủ nhận là một kinh nghiệm đáng quý để các nước khác học hỏi đặc biệt là về thể chế quản lý, hành chính chỉ đạo phòng chống dịch cũng như các biện pháp xử lý kỹ thuật, trong đó nổi bật là các mảng sau:

Thứ nhất: ban hành pháp luật Pháp luật của Nhà nước về quản lý ngành

chăn nuôi thú y đã được Thái Lan ban hành từ năm 1951 Sau đó được sửa đổi,

bổ sung vào các năm 1987, 1999, 2001 Trong đó có 6 đạo luật cơ bản như Luật dịch bệnh động vật, Luật chăn nuôi động vật, Luật kiểm nghiệm động vật giết

mổ và bán thịt…Pháp luật là hành lang pháp lý cơ bản giúp Thái Lan dễ dàng quản lý, tổ chức, giám sát và phát huy hiệu quả khi có dịch bệnh xảy ra

Thứ hai: Tổ chức ngành chăn nuôi - thú y: Thái Lan tổ chức ngành chăn

nuôi thú y là một cơ quan thống nhất là Cục phát triển chăn nuôi thuộc Bộ nông nghiệp và hợp tác xã Thái Lan Cơ quan này được tổ chức theo ngành dọc từ Cục phát triển chăn nuôi xuống đến các cấp tỉnh và huyện, Cục phát triển chăn nuôi quản lý cả về nhân sự và cung cấp tài chính, vật tư đến tất cả các cấp bên dưới Các viện nghiên cứu, các trung tâm chẩn đoán đều do cục quản lý

Thứ ba: Về cơ quan phòng chống dịch cúm: Nhà nước thành lập Ủy ban

phòng chống dịch cúm do Phó thủ tướng chính phủ đứng đầu và thành viên có

12 Bộ, Thành lập các “đội công tác” “lực lượng đặc nhiệm” là những lực lượng thường trực và chủ động phòng chống dịch Đặc biệt, việc chống dịch cúm đã được “xã hội hóa”: có khoảng 900 ngàn người làm việc tình nguyện về công tác thú y và y tế phòng chống dịch cúm Cứ một người phụ trách theo dõi 10 hộ gia

Trang 32

đình nhằm thống kê đàn gia cầm, theo dõi, phát hiện, báo cáo tình hình cho cán

bộ xã, cán bộ thú y và tham gia xử lý dịch bệnh

Thứ tư: làm tốt công tác tuyên truyền Thái Lan làm rất tốt công tác thông

tin tuyên truyền: mọi người dân đều được hiểu sâu sắc tác hại kinh tế và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng của dịch cúm, như vậy phải tăng cường các biện pháp an toàn sinh học, vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm

Thứ năm: Quản lý tốt chăn nuôi, buôn bán, vận chuyển, giết mổ, chế biến Thứ sáu: Chính sách đền bù và hỗ trợ: Ban đầu Thái Lan cũng lúng túng

trong việc đền bù và mức đền bù thấp cũng làm dịch bùng phát mạnh Sau đó đã nâng mức đền bù thỏa đáng, giải ngân nhanh nên có tác dụng khuyến khích người dân khai báo bệnh dịch và kịp thời tiêu hủy góp phần khống chế dịch bệnh

Thứ bảy: Thái Lan không sử dụng vacxin cúm gia cầm Họ cho rằng tiêm

phòng rất khó quản lý, hiệu quả không cao và do yêu cầu xuất khẩu thịt gia cầm (Nguyễn Anh Tuấn, 2006)

2.2.1.3 Kinh nghiệm phòng chống cúm gia cầm ở Liên Bang Nga

Để phòng chống dịch cúm gia cầm có hiệu quả, việc xử lý ổ dịch đóng vai trò rất quan trọng Liên Bang Nga đã áp dụng các biện pháp dập tắt dịch như sau: Bao vây, khống chế, dập tắt dịch: Đây là biện pháp rất quan trọng trong công tác phòng chống cúm gia cầm Kinh nghiệm phòng chống dịch ở nước Nga cho thấy, chỉ cần khoanh vùng khống chế và khu trú dịch trong một phạm vi nhất định (trong phạm vi bán kính 10km), thực hiện nghiêm ngặt các quy định đối với một ổ dịch truyền nhiễm nguy hiểm là có thể dập tắt được ổ dịch Ở tất cả các trung tâm y tế dự phòng của Liên bang Nga đều thành lập tổ cơ động phòng chống dịch, thành phần từ 5-6 người (gồm các bác sĩ về dịch tễ, vi sinh vật, vệ sinh môi trường, xét nghiệm, lâm sàng và thú y) Nhiệm vụ của tổ cơ động phòng chống dịch là giám sát, phát hiện sớm, lấy mẫu bệnh phẩm và triển khai các biện pháp khống chế dịch Cần chủ động giám sát dịch thường xuyên, nhất là các ổ dịch cũ, tăng cường giám sát vào thời điểm giao mùa, khi thời tiết thay đổi, nhiệt

độ ngoài trời xuống thấp (dịch thường xảy ra vào mùa đông) Khi phát hiện thấy

Trang 33

có những dấu hiệu đầu tiên của dịch bệnh (gia cầm giảm hoạt động, kém ăn, lông

xù, tiêu chảy, chảy dãi ở miệng), đội ngũ giám sát viên báo cáo ngay lên cấp trên theo ngành dọc bằng điện thoại (theo đường dây nóng trực 24/24 giờ), từ đây báo cáo trực tiếp lên trung tâm kiểm soát dịch bệnh toàn liên bang Trung tâm cử cán

bộ chuyên môn đến địa phương có ổ dịch, phối hợp với trung tâm y tế dự phòng

và đội vệ sinh phòng dịch quân khu tiến hành lấy mẫu bệnh phẩm để xét nghiệm

và áp dụng các biện pháp khoanh vùng, bao vây, khống chế dập tắt dịch Khi xác định chính xác là có ổ dịch, nhanh chóng khoanh vùng, bên trong ổ dịch tiến hành tiêu hủy gia cầm, khử trùng, tẩy uế chuồng trại, cách ly những người nghi

bị nhiễm cúm gia cầm để xét nghiệm và chẩn đoán Bên ngoài ổ dịch kiểm soát chặt chẽ các đường ra, vào địa phận có ổ dịch, cấm vận chuyển gia cầm từ ổ dịch

ra ngoài và ngược lại Đối với dân cư trên địa bàn có dịch, tuyệt đối không giết thịt gia cầm, mà chuyển sang ăn các loại thịt khác (bò, lợn, dê, cừu, ngựa)

Khử trùng ổ dịch: Việc khử trùng có ý nghĩa rất quan trọng nhằm tiêu diệt

và hạn chế sự lan truyền của virut cúm A H5N1 Trước khi vào khu vực chăn nuôi có gia cầm bị chết trong ổ dịch, nhân viên y tế phải mang các phương tiện phòng hộ cá nhân: áo choàng, mũ, khẩu trang, kính, găng tay, ủng Đeo khẩu trang che kín miệng, mũi được coi là một trong những biện pháp dự phòng có hiệu quả Cần chọn loại khẩu trang dày, 2 lớp, đeo khẩu trang vừa khít với khuôn mặt, dây đeo khẩu trang phải bảo đảm giữ khẩu trang trên mặt chắc chắn Dùng xong gập khẩu trang sao cho mặt ngoài của khẩu trang được gấp vào phía trong, sau đó bỏ vào túi nilon đem tiêu hủy Thu gom tất cả gia cầm trong ổ dịch (kể cả sống và chết), các chất thải rắn vào các túi màu vàng, 2 lớp hoặc bao tải để đem chôn Chôn xác gia cầm ở độ sâu tối thiểu 2,5m, có nilon đáy và thành hố, rắc vôi bột lên trên, lèn đất thật chặt, chôn cách xa nguồn nước sinh hoạt Tiêu độc toàn

bộ khu vực có dịch, có chất thải gia cầm, vệ sinh môi trường sạch sẽ, phun thuốc sát trùng, rửa sạch chuồng trại bằng xà phòng và nước Các chất thải lỏng tập trung vào các bể chứa riêng, khử trùng bằng cloramin 10%, clorua vôi 10%, nước zavel hoặc vôi bột trước khi cho chảy vào hệ thống thoát nước công cộng Các chất thải của bệnh nhân nhiễm cúm gia cầm (chất nôn, đờm dãi, chất khạc nhổ)

Trang 34

phải được chứa trong bô có nắp đậy kín và khử trùng bằng cloramin 10%, crezol hoặc vôi bột trong 120 phút rồi mới đổ vào hệ thống thoát nước chung Dùng dung dịch cloramin B nồng độ 5% hoặc dung dịch dibromit nồng độ 0,5-1g/l để lau và phun lên sàn nhà, tường nhà, các đồ dùng, dụng cụ, chuồng gia súc Để khử trùng không khí bị ô nhiễm người ta dùng xe khử trùng phun formalin cùng luồng hơi nước nóng với liều 4-5g/m3 không khí

Các phương tiện vận chuyển gia cầm bị bệnh cần được tập kết tại các khu vực riêng để xử lý: phun formalin hoặc dùng tia cực tím trong các khoang kín, phun hoặc lau bề mặt, sàn xe, thành xe, ghế ngồi bằng dungdịch cloramin B 5%

từ 1-2 lần, sau 60 phút rửa lại bằng nước sạch (Phạm Xuân Ninh, 2012)

2.2.2 Ứng xử của người dân với dịch cúm gia cầm ở Việt Nam

2.2.2.1 Tình hình dịch bệnh cúm gia cầm ở Việt Nam

Đây là đợt dịch đầu tiên xảy ra tại Viêt Nam nên ngành thú y gặp nhiều khó khăn trong công tác khống chế bệnh Đồng thời dịch lây lan một cách nhanh chóng với nhiều ổ bệnh xuất hiện cùng một lúc ở nhiều địa phương khác nhau đã gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi Chính vì thế, chỉ trong 2 tháng đợt dịch đã làm cho gia cầm của 2574 xã/phường thuộc 381 huyện/thị trấn của 51 tỉnh/thành phố của Việt Nam bị mắc bệnh Tổng số gia cầm bị chết do bệnh và bị tiêu hủy hơn 43,9 triệu con và thủy cầm là 13,5 triệu con Ngoài ra còn có 14,76 triệu con chim cút và các loại chim khác bị chết và tiêu hủy

Đến đầu tháng 2/2004, bệnh Cúm gia cầm đã lan ra hầu như khắp cả nước với diễn biến phức tạp Trung bình 1 ngày có khoảng 13 – 230 xã, 15 – 20 huyện

Trang 35

phát sinh ổ dịch mới trong cả nước Số gia cầm phải tiêu hủy lên tới 2 – 3 triệu con/ngày, ngày cao điểm lên tới 4 triệu con Số lượng các ổ dịch cao nhất vào ngày 6/2/2004 Sau ngày 29/2/2004 không có thông báo về các ổ dịch mới, không còn gia cầm bị tiêu hủy và ngày 30/3/2004 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã công bố hết dịch cúm gia cầm trên toàn quốc Như vây, trong đợt dịch đầu tiên này có 57/61 tỉnh/thành trong cả nước có dịch Có 4 tỉnh không có dịch là Tuyên Quang, Phú Yên, Khánh Hòa và Bình Thuận Hầu hết ở các tỉnh có dịch đều

có trên 10% số xã có dịch Theo thống kê cho đến đợt dịch cuối, đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là những khu vực có tỷ lệ gia cầm mắc bệnh cao nhất (Ban chỉ đạo quốc gia Phòng chống dịch cúm gia cầm, 2005)

Đợt dịch thứ 2: từ tháng 4 đến tháng 11 năm 2004

Các ổ dịch Cúm gia cầm thể độc lực cao đã tái xuất hiện vào giữa tháng 4/2004 ở một số tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long

Trong đợt dịch tái lại này, bệnh xuất hiện chủ yếu ở các hộ chăn nuôi nhỏ

lẻ và hầu như không có trại chăn nuôi quy mô lớn nào bị nhiễm bệnh Như vậy ta thấy dịch có khuynh hướng xuất hiện ở những vùng chăn nuôi nhiều thủy cầm và dịch đã xuất hiện ở 46 phường/xã tại 32 quận/huyện thuộc 17 tỉnh/thành Thời gian cao điểm nhất là tháng 7 sau đó giảm dần, đến tháng 11 cả nước chỉ có 1 điểm phát dịch Tổng số gia cầm bị tiêu hủy trong đợt này là 84000 con, trong đó

có gần 56000 gà, hơn 8000 vịt và gần 20000 chim cút (Nguyễn Lan Anh, 2005)

Đợt dịch thứ 3: từ tháng 12/2004 đến tháng 5/2005

Trong đợt này bệnh Cúm gia cầm thể độc lực cao đã xuất hiện ở 670 xã tại 182 huyện thuộc 36 tỉnh/thành phố trong đó có 15 tỉnh phía Bắc và 21 tỉnh phía Nam Thời điểm xuất hiện nhiều ổ dịch nhất là vào tháng 1/2005 với 143 ổ dịch xảy ra trên 31 tỉnh/thành Tổng số gia cầm tiêu hủy của đợt dịch này là

460320 con gà, hơn 825000 vịt ngan và 551000 chim cút đã chết và bị tiêu hủy (Ban chỉ đạo quốc gia Phòng chống dịch cúm gia cầm, 2005)

Đợt dịch thứ 4: từ 01/10/2005 đến 12/2005

Từ đầu tháng 10/2005 đến 15/12/2005 dịch đã tái phát ở 285 phường/xã, thị trấn thuộc 100 quận/huyện của 24 tỉnh/thành phố Số gia cầm ốm, chết và tiêu hủy là 3735620 con, trong đó có 1245282 con gà, 2005557 con vịt, 484781 chim

Trang 36

cút, bồ câu, chim cảnh Đây là đợt dịch có diễn biến khá phức tạp nên buộc các địa phương phải áp dụng các biện pháp quyết liệt như diệt toàn bộ gia cầm thả rông, đóng cửa rừng, đóng cửa các vườn chim, không nuôi gia cầm chim cảnh trong nội thành Với những biện pháp trên với mục đích là đến năm 2006 không còn dịch Cúm gia cầm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành lệnh cấm ấp mới thủy cầm đến hết tháng 2/2007 (Ban chỉ đạo quốc gia Phòng chống dịch cúm gia cầm, 2005)

Đợt dịch thứ 5: từ ngày 06/12/2006 đến ngày 04/03/2007

Ở những tháng đầu của năm 2007 dịch bệnh đã xảy ra tại 83 xã/phường thị trấn, 33 huyện/quận của 11 tỉnh/thành phố; nơi đầu tiên xảy ra dịch là Cà Mau sau đó lan ra ở các vùng lân cận Tổng số gia cầm bị bệnh là 99040 trong đó có

11950 con gà, 87090 vịt và ngan Sau thời gian trên dịch bệnh vẫn tiếp tục diễn

ra trên nhiều điạ phương khác Và theo số liệu thống kê trong năm 2007 dịch bệnh đã xảy ra trên 283 phường/xã thuộc 115 huyện/quận của 33 tỉnh/thành phố Tổng số gia cầm mắc bệnh là 62207 con, số gia cầm chết và tiêu hủy là 314268 con Như vậy, so với các năm trước thì dịch bệnh đã có xu hướng giảm xuống về phạm vi mắc bệnh cũng như số lượng mắc bệnh (Ban chỉ đạo quốc gia Phòng chống dịch cúm gia cầm, 2007)

b Giai đoạn 2008 – 2011

Đầu năm 2008 dịch cúm gia cầm mới chỉ xảy ra trên tỉnh Trà Vinh sau

đó dịch đã xảy ra trên các tỉnh khác như Thái Nguyên, Tuyên Quang, Quảng Bình, Hải Dương, Nam Định, Nghệ An, Hà Tĩnh và nhiều tỉnh khác Trong năm 2008 dịch đã xảy ra trên 80 phường/xã thuộc 57 huyện/thị trấn của 27 tỉnh Tổng số gia cầm mắc bệnh là 13007 con và tổng số gia cầm tiêu hủy là

106058 con (Cục thú y, 2010)

Tính từ đầu năm 2009 đến ngày 22/12/2009 cả nước đã có 129 ổ dịch tại

71 xã/phường của 35 huyện/thị xã thuộc 17 tỉnh/thành phố phát dịch cúm gia cầm là: Bạc Liêu, Bắc Ninh, Cà Mau, Điện Biên, Đồng Tháp, Hậu Giang, Khánh Hòa, Nghệ An và một số tỉnh khác Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu huỷ

là 105.601 con, trong đó gà 23733 con (chiếm 22,51 %), vịt 79138 con (chiếm 74,94 %) và ngan 2690 con (chiếm 2,55 %) Trong năm 2009 dịch bệnh đã diễn

Trang 37

ra trên 72 xã/phường thuộc 18 huyện/thị trấn của 18 tỉnh Tổng số gia cầm mắc bệnh 68463 con, tổng số gia cầm chết và tiêu hủy là 105601 con Qua những số liệu trên ta thấy năm 2009 dịch bệnh đã giảm về phạm vi (số phường, xã) tuy nhiên số lượng gia cầm chết và tiêu hủy năm 2009 tương đương năm 2008 và bằng 1/3 so với năm 2007 (Cục Thú y, 2010)

Trong những tháng đầu năm 2010 dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở nhiều tỉnh trên toàn quốc Dịch xảy ra đầu tiên ở Cà Mau, sau đó dịch lan ra ở một số huyện ở Sóc Trăng Tiếp đó dịch xảy ra ở Kon Tum, Quảng Trị, Nghệ An, Nam Định, Khánh Hòa và một số tỉnh khác Trong gian đó, ở vùng Bắc Trung Bộ dịch xảy ra cũng khá phức tạp Ở Hà Tĩnh dịch đã xảy ra ở huyện Cẩm Xuyên, Thành phố Hà Tĩnh, huyện Thạch Hà Tổng số gia cầm ốm là 3527 con và tổng

số tiêu hủy là 5726 con Dịch cũng đã xảy ra ở một số huyện ở tỉnh Nghệ An như Huyện Nam Đàn, Huyện Nghi Lộc, Thành phố Vinh làm cho 370 con bị ốm

và 1139 con tiêu hủy Ở Quảng Trị, dịch mới chỉ xảy ra ở huyện Triệu Phong đã làm cho 495 gia cầm bị ốm và 1440 con gia cầm tiêu hủy

Có thể nói rằng dịch cúm gia cầm ngày càng diễn ra phức tạp trên phạm

vi toàn quốc Do vậy công tác phòng chống dịch ngày càng phải chặt chẽ hơn, ý thức người dân cũng phải nâng cao hơn Tình hình dịch cúm gia cầm qua các năm được thể hiện ở bảng 2.1

Bảng 2.1 Tình hình dịch cúm gia cầm qua các năm (2007 – 2011)

Giai đoạn Số tỉnh Số huyện có dịch

Số xã/phường

có dịch

Số gia cầm mắc bệnh (con)

Số gia cầm chết, tiêu hủy (con)

Trang 38

c Giai đoạn 2012 - 2014

Năm 2012: Từ ngày 01/01/2012 – 22/02/2012, dịch cúm gia cầm đã xảy

ra ở 36 xã, phường của 29 huyện, quận thuộc 12 tỉnh, thành phố là: Hải Phòng, Hải Dương, Thái Nguyên, Hà Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh, Quảng Trị, Thanh Hóa, Sóc Trăng, Kiên Giang, Hà Tĩnh và Quảng Nam Tổng số gia cầm mắc bệnh chết và tiêu hủy là 51.983 con, trong đó gà là 5.058 con chiếm (9,7%), vịt

là 46.399 con (chiếm 89,3%), ngan là 526 con (chiếm 1%) Dịch bệnh phát ra lẻ

tẻ, rải rác, phần lớn các tỉnh có 1 hoặc 2 hộ chăn nuôi có dịch và các ổ dịch đã được địa phương phát hiện sớm, xử lý gọn nên chưa có dấu hiệu lây lan rộng Dịch xuất hiện chủ yếu trên vịt, quy mô dịch là nhỏ lẻ, rải rác, 1-2 hộ có dịch trong 1 tỉnh (Ban chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch cúm gia cầm, 2012)

Năm 2013: Dịch cúm gia cầm H5N1 đã xảy ra tại 50 xã, phường (giảm

83% so với năm 2012) của 23 huyện, quận (giảm 81%) thuộc 7 tỉnh gồm Điện Biên, Hòa Bình, Kiên Giang, Khánh Hòa, Tây Ninh, Tiền Giang và Vĩnh Long làm 59.829 con gia cầm mắc bệnh (gà chiếm 16,25%; vịt là 83,43%, ngan là 0,32%); tổng số gia cầm chết và tiêu hủy là 79.522 con (trong đó gà chiếm 18,12%; vịt 81,64%; ngan là 0,26%) Ngoài ra, một số địa phương khác có xuất hiện ổ dịch trên đàn gia cầm dưới dạng nhỏ lẻ (một vài hộ chăn nuôi) nhưng đã được chính quyền địa phương và ơ quan chuyên môn tổ chức tiêu hủy ngay và xử

lý kịp thời không để dịch lây lan (Cục thú y, 2014)

Năm 2014: Trong năm 2014 đã ghi nhận các ổ dịch cúm A(H5N6) trên gia

cầm tại một số tỉnh Lạng Sơn, Lào Cai, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Quảng Ngãi Phú Thọ, Bắc Giang, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam Kết quả xét nghiệm bằng giải trình tự gen của các mẫu vi rút cúm A(H5N6) phát hiện ở Việt Nam thấy có sự tương đồng đến 99% với chủng vi rút cúm A(H5N6) gây bệnh trên người tại Trung Quốc (Cục Y tế

dự phòng Bộ y tế, 2015)

2.2.2.2 Kinh nghiệm phòng chống cúm gia cầm ở một số địa phương

a Kinh nghiệm phòng chống cúm ở Quảng Ninh

Ông Đặng Văn Diềm, Trưởng Phòng NN&PTNT huyện Đông Triều cho biết: Sau khi có văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh, huyện Đông Triều đã thành lập Ban chỉ đạo phòng chống dịch do một đồng chí Phó Chủ tịch UBND huyện làm

Trang 39

Trưởng ban và huy động cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc Các thành viên Ban chỉ đạo đều chủ động phối hợp chặt chẽ để theo dõi tình hình và thông tin địa bàn mình phụ trách về Thường trực UBND huyện trước 15h hàng ngày Việc kiểm soát mua bán gia cầm cũng được làm chặt, ngoài 2 chốt của tỉnh tại cầu Vàng Chua (xã Bình Dương) và cầu Đá Vách (thị trấn Mạo Khê) huyện đã chỉ đạo các xã giáp ranh với tỉnh bạn thành lập thêm chốt kiểm dịch Cùng với những công việc trên, huyện Đông Triều đang đẩy nhanh việc tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm, đến thời điểm này đã thực hiện được trên 300.000 liều, đạt 90% kế hoạch đề ra Để tận mắt chứng kiến hiệu quả của công tác phòng chống dịch cúm gia cầm trên địa bàn huyện, chúng tôi tới xã Hưng Đạo - một trong 5 xã có ổ dịch cúm gia cầm năm 2013 Ông Lê Văn Lương, Phó Chủ tịch UBND xã Hưng Đạo cho biết: Từ kinh nghiệm thực tế của năm trước, năm nay địa phương nâng cao tinh thần chủ động phòng chống dịch, chỉ đạo tổ thú y viên hướng dẫn bà con tiêu độc, khử trùng, vệ sinh chuồng trại và có biện pháp phòng dịch hiệu quả Anh Phạm Văn Phong, thôn Mễ Xá 1 cho biết thêm: Nhà tôi đang nuôi trên 100 con gà, với thời tiết này rất dễ bùng phát dịch bệnh nên tôi đã chủ động phòng dịch ngay từ khi bắt đầu nuôi bằng việc cho uống thuốc theo khuyến cáo của cán

bộ thú y, thường xuyên vệ sinh chuồng trại Định kỳ các cán bộ thú y của xã xuống giám sát, tư vấn nên đàn gà của tôi phát triển tốt không có dịch bệnh xảy

ra Được biết, hiện nay trên địa bàn xã Hưng Đạo, có trên 20.000 con gia cầm, theo chỉ đạo của huyện, công tác tiêm vắc xin phòng dịch cúm đến nay đã hoàn thành 100% kế hoạch (Dương Trường, 2013)

b Kinh nghiệm phòng chống cúm ở thành phố Lạng Sơn

Trước những diễn biến phức tạp và nguy cơ lây nhiễm của bệnh cúm gia cầm H7N9, những ngày này, cấp ủy, chính quyền thành phố Lạng Sơn đang tích cực lãnh đạo, chỉ đạo các ban, ngành chức năng, các phường, xã tập trung thực hiện tốt công tác phòng chống dịch

Để chủ động phòng chống, công tác tuyên truyền về sự nguy hại của cúm gia cầm H7N9 gây ra được thành phố đặt lên hàng đầu Ông Lưu Đức Bảo, Trưởng Trạm Thú y thành phố cho biết: Trạm đã tăng cường cán bộ xuống cơ sở

Trang 40

phối hợp với thú y viên, các ban, ngành đoàn thể, các phường, xã đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, hướng dẫn các thôn, người chăn nuôi, hộ kinh doanh, buôn bán gia cầm nhận thức rõ, đầy đủ về tác hại của bệnh cúm gia cầm nói chung, cúm gia cầm H7N9 nói riêng Từ đó, mỗi người, mỗi gia đình, mỗi hộ kinh doanh đều có thức ý chủ động phòng chống bệnh Định kỳ phun thuốc tiêu độc khử trùng 1 tuần 3 lần tại các chợ đầu mối Trong 2 ngày 25-26/4/2013, Trạm đã phối hợp với Ban quản lý dự án VAHIP của tỉnh tổ chức 2 lớp tập huấn

về phòng chống bệnh cúm gia cầm cho các hộ kinh doanh gia cầm, cán bộ của Trạm và Ban quản lý chợ Giếng Vuông Qua đó nhằm hướng dẫn cho các học viên biết cách chủ động phòng chống bệnh như: vệ sinh quầy hàng, rửa và sát trùng phương tiện vận chuyển, lồng nhốt gia cầm, thu gom và xử lý chất thải, quy trình vệ sinh, tiêu độc khử trùng… Bà Lê Thị Lan, tiểu thương kinh doanh gia cầm tại chợ Giếng Vuông cho tiết: gia đình đã kinh doanh gia cầm được 20 năm nay Công tác phòng chống bệnh cho gia cầm được đặc biệt quan tâm Bởi hơn ai hết gia đình bà hiểu nếu không làm tốt công tác phòng chống bệnh thì người bị ảnh hưởng đầu tiên chính là những người trong gia đình Vì vậy, trong những năm qua, gia đình luôn chấp hành tốt các quy định về phòng chống bệnh cho gia cầm Cũng như gia đình bà Lan, bà Đặng Thị Lừng kinh doanh gia cầm tại chợ Giếng Vuông cho biết: gia đình đã kinh doanh gia cầm được 25 năm, khách hàng chủ yếu là khách quen nên việc giữ uy tín trong kinh doanh được gia đình chú trọng Những năm qua, gia đình chỉ nhập gia cầm rõ nguồn gốc, đảm bảo về chất lượng để cung ứng ra thị trường

Thời gian qua, trên các phương tiện thông tin đại chúng liên tục tuyên truyền về tác hại của cúm gia cầm H7N9 nên qua tìm hiểu chúng tôi nhận thấy: không chỉ các chủ hàng kinh doanh gia cầm mà đa phần nhân dân đều có ý thức trong sử dụng thịt gia cầm Các gia đình luôn quan tâm lựa chọn mua sản phẩm gia cầm có nguồn gốc rõ ràng, vệ sinh sạch sẽ, không chủ quan, thờ ơ với dịch bệnh Song song với công tác tuyên truyền, cơ quan chuyên môn, các phường, xã thường xuyên xuống cơ sở kiểm tra, giám sát tình hình chăn nuôi, hướng dẫn người dân vệ sinh chuồng trại Trạm đã phối hợp với các xã, phường xây dựng kế hoạch cụ thể để tiêm phòng đồng loạt cho gia súc, gia cầm vụ xuân hè các bệnh

Ngày đăng: 17/02/2017, 11:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Quang Anh, Văn Đăng Kỳ (2004). Bệnh cúm gia cầm: Lưu hành bệnh, chẩn đoán và kiểm soát dịch bệnh, Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y 11 (3), tr. 69 – 75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh cúm gia cầm: Lưu hành bệnh, chẩn "đoán và kiểm soát dịch bệnh
Tác giả: Bùi Quang Anh, Văn Đăng Kỳ
Năm: 2004
2. Bùi Quang Anh (2005). Báo cáo về dịch cúm gia cầm tại hội nghị kiểm soát dịch cúm gia cầm khu vực Châu Á do FAO, OIE tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh từ 23 – 25/02/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về dịch cúm gia cầm tại hội nghị kiểm soát dịch "cúm gia cầm khu vực Châu Á
Tác giả: Bùi Quang Anh
Năm: 2005
4. Việt Anh (2012). Kết quả công tác phòng, chống dịch bệnh gia cầm những tháng đầu năm 2012, Báo điện tử Bắc Ninh, truy cập ngày 15/8/2014 từ http://www.bacninh.gov.vn/sobannganh/sonnptnt/Trang/Tin%20chi%20ti%E1%BA%BFt.aspx?newsid=45&dt=2012-05-04&cid=8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả công tác phòng, chống dịch bệnh gia cầm những tháng "đầu năm 2012
Tác giả: Việt Anh
Năm: 2012
6. Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống cúm gia cầm (2005), Báo cáo công tổng kết 2 năm (2004 – 2005) phòng chống dịch cúm gia cầm, hội nghị tổng kết 2 năm phòng chống dịch cúm gà, ngày 18 tháng 4 năm 2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tổng kết 2 "năm (2004 – 2005) phòng chống dịch cúm gia cầm, hội nghị tổng kết 2 năm "phòng chống dịch cúm gà, ngày 18 tháng 4 năm 2005
Tác giả: Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống cúm gia cầm
Năm: 2005
7. Ban chỉ đạo phòng chống cúm gia cầm quốc gia (2007). Báo cáo công tác phòng chống dịch cúm gia cầm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác phòng "chống dịch cúm gia cầm
Tác giả: Ban chỉ đạo phòng chống cúm gia cầm quốc gia
Năm: 2007
8. Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống cúm gia cầm (2012), Báo cáo công tác phòng chống dịch cúm gia cầm (Tài liệu phục vụ cuộc họp giao ban trực tuyến về công tác phòng chống dịch cúm gia cầm ngày 23/2/2012), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác phòng "chống dịch cúm gia cầm (Tài liệu phục vụ cuộc họp giao ban trực tuyến về công "tác phòng chống dịch cúm gia cầm ngày 23/2/2012)
Tác giả: Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống cúm gia cầm
Năm: 2012
9. Nguyễn Văn Bộ (2000). Ứng xử sư phạm, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ). Ứng xử sư phạm
Tác giả: Nguyễn Văn Bộ
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
10. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2014). Đề án “Thí điểm xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh đối với gia súc và gia cầm, giai đoạn 2014 – 2018”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án “Thí điểm xây dựng vùng, "cơ sở an toàn dịch bệnh đối với gia súc và gia cầm, giai đoạn 2014 – 2018
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2014
11. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2010). Hướng dẫn chương trình giám sát cúm gia cầm năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chương trình giám sát "cúm gia cầm năm 2010
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Năm: 2010
12. Bộ Y tế (2005). Quyết định số 1812/2005/QĐ-BYT ngày 23 tháng 5 năm 2005 “Về việc ban hành quy trình xử lý ổ dịch cúm A (H5N1). Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1812/2005/QĐ-BYT ngày 23 tháng 5 năm 2005 “Về "việc ban hành quy trình xử lý ổ dịch cúm A (H5N1)
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2005
13. Lê Thị Bừng và Hải Vang (1997). Tâm lý học ứng xử. Nhà xuất bản giáo dục. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học ứng xử
Tác giả: Lê Thị Bừng và Hải Vang
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục. Hà Nội
Năm: 1997
15. Chính phủ (2007), Báo cáo Quốc hội về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ (2007), "Báo cáo Quốc hội về công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, "gia cầm
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
16. Cục thú y (2004). Tài liệu tập huấn các phương pháp chẩn đoán cúm gia cầm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục thú y (2004). "Tài liệu tập huấn các phương pháp chẩn đoán cúm gia cầm
Tác giả: Cục thú y
Năm: 2004
17. Cục thú y (2010). Báo cáo tổng kết công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm năm 2009 và phương hướng năm 2010. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia "cầm năm 2009 và phương hướng năm 2010
Tác giả: Cục thú y
Năm: 2010
3. Đức Anh (2013). Thành phố chủ động phòng chống cúm gia cầm H7N9, Báo điện tử Lạng Sơn, truy cập ngày 20/12/2014 từ http://baolangson.vn/tin-bai/Van-hoa-xa-hoi/thanh-pho-chu-dong-phong-chong-cum-gia-cam-h7n9/30-30-47463 Link
5. Bách khoa toàn thư (2014). Khái niệm về gia cầm, truy cập ngày 20/10/2014, từ https://vi.wikipedia.org/wiki/Gia_c%E1%BA%A7m Link
14. Chi cục thú y Bắc Ninh (2009). Hướng dẫn quy trình xử lý ổ dịch cúm gia cầm, Báo điện tử Bắc Ninh, truy cập ngày 20/12/2014 từhttp://baobacninh.com.vn/news_detail/61206/huong-dan-quy-trinh-xu-ly-o-dich-cum-gia-cam.html Link
20. Nguyễn Tiến Giáp (2015). Kinh nghiệm phòng chống nóng trong chăn nuôi lơn, gà nông hộ, Báo điện tử Hòa Bình, truy cập ngày 20/6/2015 từ http://www.japfavietnam.com/tin-tuc/tin-tuc-nganh-chan-nuoi/776-kinh-nghiem-phong-chong-nong-trong-chan-nuoi-lon-ga-nong-ho Link
29. Vân Thảo (2014). Huyện Bảo Thắng (Lào Cai): người chăn nuôi chú trọng tái đàn, truy cập ngày 20/11/2014 từ: http://vcn.vnn.vn/huyen-bao-thang-lao-cai-nguoi-chan-nuoi-chu-trong-tai-dan_n58512_g721.aspx Link
35. Nguyễn Anh Tuấn (2006). Kinh nghiệm phòng chống dịch cúm gia cầm từ Thái Lan, truy cập ngày 23/11/2014, từ http://tailieuvn.com.vn/kinh-nghiem-phong-chong-dich-cum-gia-cam-cua-thai-lan.html Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm