1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ứng dụng hệ thống định vị toàn cầu xây dựng lưới địa chính huyện lục nam tỉnh bắc giang

115 351 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 6,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người ta đã sử dụng công nghệ GPS để xây dựng lưới tọa độ nhà nước thay thế cho các phương pháp truyền thống, đạt được độ chính xác cao.. Khái niệm về lưới khống chế trắc địa Lưới trắc

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu đo đạc và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Nội dung

đề tài này là những kết quả nghiên cứu, những ý tưởng khoa học được tổng hợp từ công trình nghiên cứu, các công tác thực nghiệm, các công trình sản xuất do tôi trực tiếp tham gia thực hiện

Tôi xin cam đoan, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày……tháng… năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Ngọc Quyền

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được đề tài, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến: Ban giám đốc Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam, Khoa Quản lý đất đai, cùng quý Thầy Cô giáo đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian tôi tham gia khóa học của Học viện

TS Lê Minh Tá đã hết lòng quan tâm, trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi trong suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, các đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên và đóng góp ý kiến cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành đề tài

Do thời gian thực hiện có hạn, kinh nghiệm thực tiễn của bản thân chưa nhiều, luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được

sự đóng góp ý kiến của quý Thầy, Cô để đề tài hoàn thiện hơn

Hà Nội, ngày……tháng… năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Ngọc Quyền

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục iv

Danh mục chữ viết tắt vii

Danh mục bảng viii

Danh mục hình ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích của đề tài 2

3 Yêu cầu của đề tài 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Khái quát chung về lưới khống chế tọa độ 4

1.1.1 Khái niệm về lưới khống chế trắc địa 4

1.1.2 Vai trò của lưới trắc địa tọa độ Nhà nước 4

1.2 Các phương pháp xây dựng lưới khống chế tọa độ 4

1.2.1 Lưới tam giác đo góc 4

1.2.2 Lưới tam giác đo cạnh 5

1.2.3 Lưới đường chuyền 5

1.2.4 Lưới trắc địa vệ tinh 5

1.3 Nguyên lý hoạt động của hệ thống định vị GPS 6

1.4 Các đại lượng đo 11

1.4.1 Đo khoảng cách giả theo code: 11

1.4.2 Đo pha sóng tải 12

1.5 Các phương pháp định vị 13

1.5.1 Định vị GPS tuyệt đối 13

1.5.2 Định vị GPS tương đối: 13

1.5.3 Ưu điểm, nhược điểm của phương pháp định vị GPS 16

1.6 Các loại sai số chủ yếu trong kết quả đo GPS 17

1.6.1 Sai số của quỹ đạo vệ tinh 17

Trang 5

1.6.2 Sai số do tầng điện ly và tầng đối lưu 18

1.6.3 Sai số do nhiễu xạ của các tín hiệu vệ tinh 19

1.6.4 Sai số của đồng hồ 20

1.6.5 Sai số người đo 20

1.7 Tình hình xây dựng hệ thống lưới khống chế tọa độ sử dụng công nghệ GPS trên thế giới và ở Việt Nam 22

1.7.1 Trên thế giới 22

1.7.2 Ở Việt Nam 26

1.7.3 Quy trình xây dựng lưới GPS 28

1.8 Giới thiệu chung về chương trình TTC 2.73 để xử lý, bình sai lưới GPS 29

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30

2.2 Nội dung nghiên cứu 30

2.3 Phương pháp nghiên cứu 30

2.3.1 Phương pháp điều tra số liệu thứ cấp 30

2.3.2 Phương pháp xây dựng lưới địa chính 30

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu đo bằng phần mềm TTC 2.73 31

2.3.4 Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh 31

2.3.5 Phương pháp kiểm tra nghiệm thu 31

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32

3.1 Đặc điểm, tình hình huyện Lục Nam và điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội khu đo 02 xã Vô Tranh, Bình Sơn huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang 32

3.1.1 Khái quát đặc điểm, tình hình chung của huyện Lục Nam 32

3.1.2 Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội khu đo 32

3.2 Thu thập các loại tư liệu, tài liệu trắc địa và bản đồ 37

3.2.1 Xã Vô Tranh 37

3.2.2 Xã Bình Sơn 37

3.2.3 Các số liệu gốc phục vụ cho xây dựng lưới địa chính 38

3.3 Xây dựng lưới địa chính cụm 02 xã Vô Tranh và Bình Sơn huyện Lục Nam 38

3.3.1 Các văn bản áp dụng trong thiết kế thi công 38

Trang 6

3.3.2 Nguyên tắc thiết kế lưới địa chính 39

3.3.3 Phương án thiết kế 40

3.3.4 Tổ chức đo lưới địa chính 44

3.3.5 Xử lý kết quả đo lưới GPS bằng phần mềm TTC 2.73 49

3.3.6 Sơ đồ thi công lưới GPS và đánh giá kết quả bình sai lưới 02 xã 62

3.4 Kiểm tra nghiệm thu và đánh giá phương pháp đo lưới: 67

3.4.1 Kiểm tra nghiệm thu 67

3.4.2 Đánh giá phương pháp đo lưới 68

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70

KẾT LUẬN 70

KIẾN NGHỊ 71

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường

EDOP Easrhing Dilution Of Presition

GNSS Global Navigation Satellite System

GLONASS Global Orbitting Navigation Satellite System NAVSTAR GPS Navigation Satellite Providing Timming and

Ranging Global Positioning System NDOP Northing Dilution Of Presition

Reference Variance Độ chênh lệch tham khảo

TDOP Time Dilution Of Presition

UTM Universal Transverse Mercator

VDOP Vertical Dilution Of Presition

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Số bảng Tên bảng Trang

3.1 Số hiệu điểm tọa độ gốc (1) 41

3.2 Thống kê các cạnh thông hướng (1) 42

3.3 Số hiệu điểm tọa độ gốc (2) 43

3.4 Thống kê các cạnh thông hướng (2) 43

3.5 Số lượng điểm GPS đã đo 62

3.6 Tiêu chí đánh giá chất lượng lưới địa chính 62

3.7 Tiêu chí đánh giá chất lượng lưới địa chính đo bằng công nghệ GPS 63

3.8: Bảng tọa độ vuông góc không gian sau bình sai (1) 65

3.9: Bảng tọa độ vuông góc không gian sau bình sai (2) 66

3.10 So sánh kết quả đạt được với quy phạm hiện hành 67

3.11 So sánh kết quả xử lý được với kết quả đo kiểm tra 68

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Số hình Tên hình Trang

1.1 Hình ảnh trái đất và vệ tinh GPS 7

1.2 Vệ tinh và quỹ đạo vệ tinh GPS 8

1.3 Các thông tin điều biến sóng tải L1, L2 9

1.4 Sơ đồ vị trí các trạm theo dõi và trạm điều khiển GPS 10

1.5 Đo khoảng cách giả theo code 11

1.6 Hệ thống định vị toàn cầu của Mỹ 23

1.7 Hệ thống định vị toàn cầu GLONASS của Nga 24

1.8 Quy trình xây dựng lưới GPS 28

1.9 Giao diện phần mềm Trimble Total Control 29

3.1 Modul lập lịch đo trong Trimble Total Control 44

3.2 Cài đặt các thông số lập lịch đo 45

3.3 Số lượng vệ tinh 46

3.4 Sự phân bố vệ tinh trên bầu trời 46

3.5 Máy GPS 1 tần số Hitarget V30X 47

3.6 Điểm địa chính BS - 24 49

3.7 Tạo mới Project 50

3.8 Nhập số liệu từ máy thu GPS 50

3.9 Cửa sổ Insert Files into Project 51

3.10 Cửa sổ Receiver Raw Data Import 52

3.11 Cửa sổ Process Option 53

3.12 Cửa sổ Processing Options 53

3.13 Cửa sổ Scan Satellites 54

3.14 Cửa sổ Loop Closure Report 55

3.15 Cửa sổ Coordinate System Manager 57

3.16 Cửa sổ Coordinate System Group Parameters 58

3.17 Hộp thoại Type chọn Free 59

3.18 Cửa sổ Adjustment Reports (1) 59

3.19 Hộp thoại Type chọn Biased 60

3.20 Cửa sổ Adjustment Reports (2) 61

3.21 Hộp thoại Type chọn National Biased 61

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công tác quản lý Nhà nước về đất đai trong giai đoạn hiện nay cũng như trong tương lai lâu dài luôn giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế -

xã hội, bảo vệ môi trường, giữ vững an ninh, quốc phòng và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính là một trong những nội dung quản lý nhà nước về đất đai đã được ghi tại khoản 2, Điều 6 của Luật Đất đai năm 2003 Nội dung, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cấp, các ngành trong việc thực hiện khảo sát, đo đạc, lập và quản lý bản đồ địa chínhđã được quy định tại Điều 19 của Luật Đất đai năm 2003

Căn cứ Luật đất đai ngày 29 tháng 11 năm 2013; căn cứ Nghị định số 45/2015/NĐ-CP ngày 06 tháng 05 năm 2015 của Chính phủ về hoạt động đo đạc

và bản đồ; căn cứ Nghị định số 21/2013/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2013 của Chính phủ về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường; căn cứ “Quy phạm thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1:200, 1:500, 1:1000, 1:2000, 1:5000 và 1:10000” do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành năm 2008 áp dụng thống nhất trong cả nước đối với việc đo đạc, thành lập bản đồ địa chính phục vụ công tác quản lý đất đai

Hệ thống định vị toàn cầu GPS là hệ thống định vị, dẫn đường sử dụng các vệ tinh nhân tạo được Bộ Quốc phòng Mỹ triển khai từ những năm đầu thập

kỷ 70 Ban đầu, hệ thống này được dùng cho mục đích quân sự nhưng sau đó đã được thương mại hóa, được ứng dụng rất rộng rãi trong các hoạt động kinh tế, xã hội Ngày nay, trong rất nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội đã và đang áp dụng công nghệ GPS Trong trắc địa cũng vậy, công nghệ GPS đã mở ra thời kỳ mới,

đã thay thế công nghệ truyền thống trong việc thành lập và xây dựng mạng lưới tọa độ các cấp Với ngành trắc địa bản đồ thì đây là cuộc cách mạng thực sự về

cả kỹ thuật, chất lượng cũng như hiệu quả kinh tế trên phạm vi toàn thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng

Ở Việt Nam từ năm 1990 hệ thống định vị toàn cầu đã được ứng dụng và

Trang 11

ngày càng phát triển Công nghệ GPS đã được ứng dụng xây dựng mạng lưới tọa

độ Nhà nước từ cấp “0” đến lưới địa chính cơ sở (cấp III Nhà nước)

Hiện nay, công nghệ GPS đã được ứng dụng để xây dựng lưới khống chế tọa độ các cấp để thành lập bản đồ địa chính từ lưới địa chính đến lưới đo vẽ Công nghệ GPS ngày càng phát triển hoàn thiện theo chiều hướng chính xác, hiệu quả, thuận tiện hơn và được sử dụng rộng rãi Người ta đã sử dụng công nghệ GPS để xây dựng lưới tọa độ nhà nước thay thế cho các phương pháp truyền thống, đạt được độ chính xác cao

Huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang những năm qua có tốc độ phát triển kinh tế tương đối nhanh kéo theo nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng Chính

vì thế nhu cầu bức thiết trong quản lý đất đai của huyện là phải thành lập được bản đồ địa chính có độ chính xác cao trong một hệ tọa độ thống nhất trong toàn huyện Muốn có được điều đó cần phải xây dựng hệ thống lưới địa chính trên địa bàn huyện

Để góp phần đưa công nghệ mới vào sản xuất, xây dựng hệ thống lưới địa chính huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, dưới sự hướng dẫn của Tiến Sỹ Lê Minh

Tá, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ứng dụng hệ thống định vị toàn cầu xây

dựng lưới địa chính huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang”

2 Mục đích của đề tài

Ứng dụng công nghệ GPS vào xây dựng lưới địa chính huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

3 Yêu cầu của đề tài

Lưới địa chính của huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang được thiết kế đảm bảo mật độ điểm hợp lý, phục vụ cho công tác thành lập bản đồ địa chính các loại tỉ

lệ Lưới thiết kế phải có tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao

Công tác tổ chức đo lưới GPS phải thỏa mãn yêu cầu kỹ thuật theo quy phạm hiện hành

Các kết quả bình sai và đánh giá độ chính xác của lưới địa chính huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang phải thỏa mãn yêu cầu của quy phạm hiện hành

Trang 12

Dựa trên công nghệ đo GPS để xây dựng lưới khống chế địa chính phục

vụ công tác thành lập bản đồ địa chính, thay thế cho phương pháp xây dựng lưới truyền thống, góp phần đưa công nghệ mới vào sản xuất nhằm nâng cao độ chính xác, mang lại hiệu quả kinh tế - kỹ thuật trong thực tế sản xuất Từ các kết quả đạt được, đưa ra khả năng ứng dụng của công nghệ GPS đối với các huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái quát chung về lưới khống chế tọa độ

1.1.1 Khái niệm về lưới khống chế trắc địa

Lưới trắc địa là hệ thống các điểm được đánh dấu bằng các mốc bê tông, liên kết với nhau theo một quy luật toán học nhất định; thông qua các trị đo góc, chiều dài, góc phương vị, từ một điểm có tọa độ có thể tính ra tọa độ các điểm khác trong lưới (qua quá trình xử lý toán học các kết quả đo)

Trong quá trình xây dựng, người ta chia lưới trắc địa thành 3 loại: Lưới trắc địa Nhà nước, lưới trắc địa khu vực (lưới địa chính) và lưới đo vẽ

Theo chức năng nhiệm vụ lưới trắc địa được chia ra các loại: lưới toàn cầu, lưới quốc gia, lưới địa phương và lưới chuyên dùng (Dương Vân Phong và Nguyễn Gia Trọng, 2013)

1.1.2 Vai trò của lưới trắc địa tọa độ Nhà nước

Lưới trắc địa tọa độ hạng cao Nhà nước có vai trò và nhiệm vụ sau:

Nghiên cứu chi tiết hình dáng kích thước, thể trọng trường của trái đất và những thay đổi của chúng theo thời gian

Thiết lập hệ tọa độ thống nhất trên phạm vi toàn quốc nhằm thỏa mãn các yêu cầu xây dựng kinh tế và quốc phòng

Lưới trắc địa các cấp làm cơ sở xây dựng lưới khống chế để đo vẽ các loại bản đồ địa hình, địa chính và các loại tỷ lệ trong phạm vi quốc gia; định hướng cho các công tác nghiên cứu khoa học và kỹ thuật về trái đất như địa chất, địa động học, bảo vệ tài nguyên và môi trường (Dương Vân Phong và Nguyễn Gia Trọng, 2013)

1.2 Các phương pháp xây dựng lưới khống chế tọa độ

1.2.1 Lưới tam giác đo góc

Lưới tam giác đo góc được xây dựng đầu tiên trên thế giới ở Hà Lan năm

1916 nửa đầu thế kỷ XX, hầu hết các nước đều xây dựng lưới tọa độ nhà nước theo phương pháp này Đồ hình cơ bản của lưới là hình tam giác, tứ giác trắc địa

Trang 14

và đa giác trung tâm (Trần Hồng Quang, 2001)

Trong lưới tam giác đo góc, người ta đo tất cả các góc do đó có nhiều trị

đo thừa kiểm tra Độ chính xác của lưới khá cao và đồng đều, hạn chế của lưới

đo góc là độ chính xác các yếu tố trong lưới phụ thuộc nhiều vào đồ hình lưới, đồng thời phải đòi hỏi phải thông hướng đến nhiều điểm khác, do đó công việc chọn điểm rất khó khăn và phải xây dựng cột tiêu với chi phí lớn (chiếm 70% kinh phí xây dựng lưới) (Dương Vân Phong và Nguyễn Gia Trọng, 2013)

1.2.2 Lưới tam giác đo cạnh

Do sự phát triển của các máy đo khoảng cách điện tử người ta xây dựng lưới tam giác đo cạnh Trong lưới đo cạnh người ta đo tất cả các cạnh, chỉ đo nối phương vị đủ để bình sai lưới Lưới đo cạnh có các ưu điểm là độ chính xác ít phụ thuộc vào đồ hình lưới, công tác ngoại nghiệp nhanh và ít chịu ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh hơn lưới đo góc Hạn chế của lưới đo cạnh là

ít trị đo thừa,không có điều kiện kiểm tra trị đo ở thực địa Trong một tam giác

đo ba cạnh chỉ là trị đo vừa đủ, do đó khi xây dựng lưới đo cạnh đồ hình cơ bản là tứ giác trắc địa và đa giác trung tâm (Dương Vân Phong và Nguyễn Gia Trọng, 2013)

1.2.3 Lưới đường chuyền

Lưới đường chuyền gồm các điểm nối với nhau tạo thành các đường gấp khúc Đo tất cả các góc ngoặt và các cạnh trong lưới từ đó tính tọa độ cho tất cả các điểm (Trần Bạch Giang, 1995)

Lưới đường chuyền bao gồm nhiều đường chuyền liên kết với nhau tạo thành các điểm nút Lưới đường chuyền có ưu điểm là dễ chọn điểm, độ lớn của góc ngoặt có thể thay đổi không hạn chế cho nên đồ hình lưới bố trí rất linh hoạt Hạn chế của lưới đường chuyền là có ít trị đo thừa, kết cấu hình học không chặt chẽ bằng lưới đo góc (Dương Vân Phong và Nguyễn Gia Trọng, 2013)

1.2.4 Lưới trắc địa vệ tinh

Các phương pháp xây dựng lưới nêu trên có nhược điểm là phải thông hướng giữa các điểm liền kề Do ảnh hưởng của chiết quang và độ cong trái đất

Trang 15

nên không xây dựng lưới cạnh dài

Để xây dựng lưới cạnh dài hoặc nối các lưới ở xa nhau có độ chính xác cao,

từ những năm 60 của thế kỷ XX ra đời phương pháp mới gọi là trắc địa vệ tinh Đầu tiên người ta chụp ảnh vệ tinh nhân tạo trên nền sao, xác định hướng

từ điểm ngắm đến vệ tinh, khoảng cách từ điểm ngắm đến vệ tinh được đo bằng máy đo khoảng cách Lazer đến vệ tinh

Sai số vị trí điểm mặt đất cần định vị từ chỗ 100m sau đó chỉ còn 10m Thập kỷ 70 với kỹ thuật Doppler vệ tinh độ chính xác đạt cỡ định vị đạt cỡ vài

cơ sở phục vụ công tác đo vẽ bản đồ địa chính trong cả nước (Dương Vân Phong

và Nguyễn Gia Trọng, 2013)

1.3 Nguyên lý hoạt động của hệ thống định vị GPS

Hệ thống định vị toàn cầu GPS là hệ thống bao gồm các vệ tinh bay trên quỹ đạo, thu thập thông tin toàn cầu và được xử lý bởi các trạm điều khiển trên mặt đất.Trong cùng một thời điểm, ở một vị trí trên mặt đất nếu xác định được khoảng cách đến ba vệ tinh (tối thiểu) thì sẽ tính được toạ độ của vị trí đó (Nguyễn Đức Hùng, 2006)

Trang 16

đi vào các lĩnh vực: Chế tạo máy thu tín hiệu, xây dựng phần mềm xử lý tín hiệu đáp ứng cho nhiều mục đích, thiết lập và phát triển công nghệ ứng dụng trong các chuyên ngành.Hệ thống luôn sẵn sàng trên phạm vi toàn cầu và hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết

Các thành phần của hệ thống GPS:

Hệ thống định vị toàn cầu GPS bao gồm 3 bộ phận:

- Đoạn không gian ( Space Segment )

- Đoạn điều khiển ( Control segment )

- Đoạn sử dụng ( User Segment )

*Đoạn không gian:

Đoạn không gian đến nay bao gồm 31 vệ tinh chuyển động trên 6 mặt phẳng quỹ đạo Vệ tinh chuyển động ở độ cao khoảng 20200 Km Mặt phẳng quỹ

Trang 17

đạo nghiêng so với mặt phẳng xích đạo Trái đất một góc 550, mỗi quỹ đạo của mỗi

vệ tinh cách nhau 600 kinh Chu kỳ chuyển động của vệ tinh là gần 12h đồng hồ Tất cả các vệ tinh GPS đều có thiết bị tạo dao động tần số chuẩn cơ sở f0 = 10.23 MHz Từ tần số cơ sở f0 sẽ tạo ra hai tần số sóng tải L1, L2

Hình 1.2: Vệ tinh và quỹ đạo vệ tinh GPS

L1 = 154f0 = 1575.42 MHz

L2 = 120f0 = 1227.60 MHz

Các sóng tải này được điều khiển bởi các mã, mã C/A và mã P

Mã C/A ( Coarse/Accquisition code ) là mã thô cho phép sử dụng rộng rãi

Mã C/A là một chuỗi nhị phân mang tính chất tựa ngẫu nhiên, có tần số 1.023MHz, tương ứng với bước sóng 293 m Chu kỳ của mã C/A là 1 mi-li-giây, mỗi vệ tinh phát đi một mã C/A khác nhau và mã C/A chỉ điều biến sóng tải L1

Mã P (Precission code) là mã chính xác, được dùng cho mục đích quân sự

là chủ yếu Mã P cũng là một chuỗi nhị phân nhưng phức tạp hơn, có tần số 10.23 MHz tương ứng với bước sóng 29.3 m, có chu kỳ 267 ngày Người ta chia

mã P thành 38 đoạn, mỗi đoạn dài 7 ngày và mỗi đoạn điều biến cho một vệ tinh, sau 7 ngày lại thay đổi Bằng cách chia và điều biến này mã P rất khó bị giải mã Theo thiết kế độ chính xác định vị GPS có thể đạt độ chính xác cỡ 1% độ dài bước sóng, nghĩa là chỉ với mã thô C/A cũng có thể đạt độ chính xác cỡ 3 m Chính vì thế phía Mỹ đã chủ động làm nhiễu tín hiệu bằng kỹ thuật SA (Selective

Trang 18

Availability) nhằm hạ thấp độ chính xác định vị Từ ngày 20-05-2000 Mỹ đã bỏ chế độ nhiễu SA

L1: C/A-code 1.023 MHz

P - code 10.23 MHz Thông tin đạo hàng

L2: P - code 10.23 MHz Thông tin đạo hàng

Hình 1.3: Các thông tin điều biến sóng tải L 1 , L 2

Ngoài hai sóng tải L1 và L2 phục vụ cho mục đích định vị cho người sử dụng, các vệ tinh còn dùng hai sóng tần số 1783.74 MHz và 2227.5 MHz để trao đổi thông tin với các trạm điều khiển trên mặt đất

*Đoạn điều khiển:

Đoạn điều khiển bao gồm một trạm điều khiển trung tâm đặt tại Colorado Springs và bốn trạm theo dõi phân bố đều quanh Trái Đất đặt tại Hawaii (Thái Bình Dương), Ascension Island (Đại Tây Dương), DiegoGarcia (Ấn Độ Dương)

và Kwajalein (Tây Thái Bình Dương)

Tất cả 5 đều là trạm giám sát, theo dõi vệ tinh và truyền dữ liệu đến trạm điều khiển chính

Trạm đặt tại Colorado Springs là trạm điều khiển chính (MSC) Tại đó dữ liệu theo dõi được xử lý nhằm tính toạ độ và số hiệu chỉnh đồng hồ vệ tinh

Ba trạm tại Ascension, Diego Garcia và Kwajalein là các trạm nạp dữ liệu lên vệ tinh

Các trạm này liên tục theo dõi sự hoạt động của các vệ tinh Đồng thời trên mỗi trạm theo dõi đều có các mày thu GPS, chúng đo khoảng cách, sự thay đổi khoảng cách và cả các số liệu khí tượng Các số liệu này được gửi tới trạm trung tâm xử lý tính toán, kết quả tính toán là các lịch vệ tinh (Ephemerit) và số

Trang 19

cải chính đồng hồ vệ tinh Sau đó các thông tin này được chuyển lên các vệ tinh,

từ đó chuyển đến các máy thu của người sử dụng

Như vậy nhiệm vụ của đoạn điều khiển là rất quan trọng, nó không chỉ điều chỉnh, theo dõi mọi hoạt động của các vệ tinh mà còn liên tục cập nhật các loại thông tin bổ trợ để chính xác hóa các thông tin đạo hàng, đảm bảo độ chính xác khi định vị

Hình 1.4: Sơ đồ vị trí các trạm theo dõi và trạm điều khiển GPS

*Đoạn sử dụng:

Đoạn sử dụng bao gồm tất cả các máy móc, thiết bị thu nhận thông tin từ vệ tinh để khai thác sử dụng cho các mục đích và các yêu cầu khác nhau cả ở trên biển, trên không và trên đất liền Đó có thể là một máy thu riêng hoạt động độc lập (định vị tuyệt đối) hay một nhóm gồm từ hai máy thu trở lên hoạt động đồng thời theo một lịch trình thời gian nhất định (định vị tương đối) hoặc hoạt động theo chế

độ máy thu đóng vai trò máy chủ phát tín hiệu vô tuyến hiệu chỉnh cho các máy thu khác (định vị vi phân) Đó còn là cả một hệ thống dịch vụ đạo hàng GPS đa năng trên phạm vi toàn cầu hoặc ở từng khu vực đang được thiết lập ở một số nước phát triển (Đặng Nam Chinh và Đỗ Ngọc Đường, 2012)

Trang 20

1.4 Các đại lượng đo

1.4.1 Đo khoảng cách giả theo code:

Trong phương pháp này, mã tựa ngẫu nhiên được phát đi từ vệ tinh tới máy thu GPS, máy thu tín hiệu vệ tinh và cũng phát ra mã tương tự Sau đó máy thu so sánh mã thu được từ vệ tinh với mã của máy thu tạo ra để xác định ra thời gian lan truyền của tín hiệu vệ tinh Từ đó tính ra được khoảng cách từ máy thu tới vệ tinh theo công thức:

R = c(t + ∆t) = ρ + c ∆t ; Với t – thời gian lan truyền từ tín hiệu vệ tinh đến điểm xét;

∆t – sai số không đồng bộ giữa đồng hồ vệ tinh và máy thu;

R – khoảng cách giả đo được;

Tín hiệu vệ tinh

Tín hiệu máy thu

t

Hình 1.5: Đo khoảng cách giả theo code

Nếu ký hiệu: Xs , Ys , Zs – là tọa độ của vệ tinh; X , Y, Z - toạ độ của điểm Khi đó ta có thể viết :

S

2 S

2

S X) (Y Y) (Z Z)X

( − + − + − + c∆t Trong trường hợp sử dụng C/A code, theo dự tính của các nhà thiết kế hệ thống GPS, kỹ thuật đo khoảng thời gian lan truyền tín hiệu chỉ có thể đảm bảo

độ chính xác đo khoảng cách cỡ 30 m Nếu tính đến ảnh hưởng của điều kiện lan truyền tín hiệu, thì sai số đo khoảng cách theo C/A – code sẽ ở mức 100 mét, với mức này chính phủ mỹ chấp nhận để cho khách hàng khai thác sử dụng Song kỹ thuật xử lý tín hiệu code này đã phát triển đến mức có thể đạt độ chính xác đo khoảng cách tới mức 3 m tức là hầu như không thua kém so với trường hợp sử dụng P – code mà phía Mỹ không cho khách hàng sử dụng Chính vì lý do này

Trang 21

phía Mỹ phải đưa ra giải pháp SA để hạn chế khả năng thực tế của C/A – code (Đặng Nam Chinh và Đỗ Ngọc Đường, 2012)

1.4.2 Đo pha sóng tải

Trong các công tác của trắc địa, đo khoảng cách giả (Pseudo Range) theo pha các sóng tải L1 và L2 cho độ chính xác cao, nên phương pháp đo này được ứng dụng nhiều hơn cả

Việc đo khoảng cách giả theo pha sóng tải được thực hiện như sau: máy thu GPS thu tín hiệu vệ tinh và đo hiệu số giữa pha của sóng tải của vệ tinh với pha của tín hiệu do chính máy thu tạo ra Nếu ký hiệu pha sóng tải là Ф (0< Ф < 2П);

Khi đó ta có thể viết:

Ф = 2Пλ (R − Nλ + c∆t)

Trong đó:

R - là khoảng cách giữa vệ tinh và máy tâm anten máy thu

λ – bước sóng của sóng tải

N – số nguyên lần bước sóng chứa trong R, hoặc còn được gọi là số nguyên đa trị N thường không biết trước mà phải xác định trong quá trình đo

∆t– sai số không đồng bộ giữa đồng hồ của vệ tinh và của máy thu

Người ta tìm cách xác định chắc chắn số nguyên lần chu kỳ N và từ số lẻ hiệu pha đo được có thể xác định được khoảng cách giả R từ máy thu tới vệ tinh theo công thức:

Trang 22

1.5 Các phương pháp định vị

1.5.1 Định vị GPS tuyệt đối

Định vị tuyệt đối là sử dụng một máy thu GPS đặt tại điểm cần xác định vị trí, thu tín hiệu vệ tinh và xử lý, kết quả định vị là tọa độ vuông góc không gian (X,Y,Z) hoặc tọa độ trắc địa (B,L,H) của điểm đặt máy

Định vị tuyệt đối dựa trên cơ sở giao hội không gian từ các điểm đã biết tọa độ là các vệ tinh, các đại lượng đo ở đây là các khoảng cách giả từ máy thu tới vệ tinh Độ chính xác có thể đạt được cỡ 3 m tới 20 m thậm chí kém hơn

Trong phương pháp định vị này, ẩn số là 3 thành phần tọa độ (X,Y,Z) hay (B,L,H) của điểm đo, ngoài ra do sai số của đồng hồ máy thu và đồng hồ vệ tinh nên coi chúng là ẩn số thứ tư cần xác định

Với mỗi trị đo, ta viết được một phương trình:

(XSi – X)2 + (YSi – Y)2 + (ZSi - Z)2 = (RSi – c.∆t)2

Để xác định các ẩn số cần 4 trị đo khoảng cách giả, tức là máy thu cần quan sát đồng thời 4 vệ tinh Trên thực tế, cùng thời điểm chúng ta thường quan sát 6 đến 8 vệ tinh và lúc này hệ phương trình được lập từ các phương trình trên được giải theo nguyên lý số bình phương nhỏ nhất (Đặng Nam Chinh và Đỗ Ngọc Đường, 2012)

1.5.2 Định vị GPS tương đối:

a Nguyên lý

Định vị tương đối là sử dụng ít nhất 2 máy thu đặt tại các điểm quan sát khác nhau, tiến hành thu tín hiệu vệ tinh đồng thời và xác định các hiệu tọa độ (∆X, ∆Y, ∆Z) hoặc (∆B, ∆L, ∆H) Nói cách khác, định vị tương đối là xác định vector giữa 2 điểm đặt máy, được gọi là baseline

Để đạt được độ chính xác cao, người ta đã tạo ra các sai phân khác nhau nhằm làm giảm ảnh hưởng của một số nguồn sai số

Ký hiệu Φ(ti) là hiệu pha của sóng tải từ vệ tinh j đo được tại trạm r vào thời điểm ti, khi đó nếu hai trạm đo 1 và 2 ta quan sát đồng thời vệ tinh j vào thời điểm ti, ta sẽ có sai phân bậc một (single differences) được biểu diễn như sau:

1 j(ti)= Φ j(ti)- Φ j(ti)

Trang 23

Trong sai phân này hầu như không còn ảnh hưởng của sai số đồng hồ vệ tinh

Nếu hai trạm cùng tiến hành quan sát đồng thời hai vệ tinh j và k vào thời điểm ti, ta có phân sai bậc hai (double diferences):

∆2Φj,k(ti)= ∆1

Φk(ti)- ∆1

Φj(ti) Qua công thức này ta thấy không còn ảnh hưởng của sai số đồng hộ vệ tinh và máy thu

Nếu xét hai trạm cùng tiến hành quan sát đồng thời hai vệ tinh j và k vào thời điểm ti và t i+1, ta sẽ có phân sai bậc ba (triple differences):

∆3Φj,k(ti)= ∆2Φj,k(ti+1)- ∆2Φj,k(ti) Trong sai phân này đã loại bỏ được sai số số nguyên đa trị

Định vị tương đối được thực hiện trên nguyên tắc đo pha sóng tải và hạn chế được nhiều nguồn sai số chung của hai điểm đặt máy, độ chính xác có thể đạt được lên tới cỡ mi-li-mét trên khoảng cách hàng trăm ki-lo-mét

Trong định vị tương đối, người ta sử dụng các phương pháp đo: đo tĩnh,

đo động và đo giả động (Đặng Nam Chinh và Đỗ Ngọc Đường, 2012)

b Đo tĩnh:

Phương pháp đo tĩnh được sử dụng để xác định hiệu tọa độ (hay vị trí tương hỗ) giữa hai điểm xét với độ chính xác cao, thường là nhằm đáp ứng các yêu cầu của công tác trắc địa – địa hình Trong trường hợp này cả hai máy cùng phải đồng thời thu tín hiệu từ một số vệ tinh chung liên tục trong một khoảng thời gian nhất định Số vệ tinh chung tối thiểu cho cả hai trạm quan sát là ba, nhưng thường được lấy là bốn để đề phòng trường hợp thu tín hiệu vệ tinh bị gián đoạn Khoảng thời gian quan sát phải kéo dài là đủ để cho đồ hình phân bố

vệ tinh thay đổi từ đó ta có thể xác định được số nguyên đa trị của sóng tải và đồng thời để có nhiều trị đo nhằm đạt được độ chính xác cao và ổn định

Phương pháp đo tĩnh cho phép đạt được độ chính xác cao nhất trong định

vị tương đối bằng GPS, có thể cỡ cen-ti-mét, thậm chí mm trên khoảng cách hàng chục và hàng trăm km Nhược điểm chủ yếu của phương pháp này là thời gian đo phải kéo dài hàng giờ, do vậy mà năng suất đo bị ảnh hưởng (Đặng Nam Chinh và Đỗ Ngọc Đường, 2012)

Trang 24

c Đo động

Phương pháp đo động cho phép xác định vị trí tương đối của hàng loạt điểm so với điểm đã biết, trong đó tại mỗi điểm đo chỉ cần thu tín hiệu trong vòng một vài phút

Theo phương pháp này, cần có một cạnh đáy đã biết để xác định số nguyên đa trị Với cạnh đáy đã biết, đặt một máy thu cố định ở điểm đầu cạnh đáy và cho tiến hành thu liên tục tín hiệu vệ tinh trong suốt chu kỳ đo, máy này được goi là máy cố định Ở điểm cuối cạnh đáy đặt máy thu thứ hai, thu tín hiệu

vệ tinh đồng thời với máy cố định trong một vài phút, việc làm này gọi là khởi đo

(initialization) để xác định số nguyên đa trị của tín hiệu vệ tinh Sau khi đã xác

định, số nguyên đa trị được giữ nguyên để tính khoảng cách từ vệ tinh đến máy thu trong các điểm đo tiếp sau trong suốt cả chu kỳ đo Tiếp đó cho máy thứ hai này, gọi là máy di động, lần lượt chuyển đến các điểm đo cần xác định, tại mỗi điểm dừng lại để thu tín hiệu trong một vài phút, cuối cùng quay trở về điểm khởi

đo để đo khép

Yêu cầu nhất thiết của phương pháp đo động là cả máy cố định và máy di động phải đồng thời thu tín hiệu liên tục từ ít nhất là bốn vệ tinh chung trong suốt chu kỳ đo Vì vậy tuyến đo phải bố trí ở khu vực thoáng đãng để không xảy ra

tình trạng tín hiệu thu bị gián đoạn (cycle slip) Nếu tín hiệu gián đoạn phải tiến

hành lại công tác khởi đo hoặc sử dụng một cạnh đáy khác dự phòng trên tuyến

đo Cạnh đáy có thể dài từ 2 m đến 5 km và dộ chính xác cỡ cen-ti-mét là đủ Phương pháp đo động cho phép đạt độ chính xác dịnh vị tương đối kém hơn so với phương pháp đo tĩnh, đồng thời đòi hỏi khá ngặt nghèo về thiết bị và

tổ chức đo để đảm bảo yêu cầu về đồ hình phân bố, tín hiệu của vệ tinh (Đặng Nam Chinh và Đỗ Ngọc Đường, 2012)

d Đo giả động

Phương pháp đo giả động cũng cho phép xác định vị trí tương đối của hàng loạt điểm so với điểm đã biết trong khoảng thời gian đo nhanh Phương pháp này không cần làm thủ tục khởi đo, tức là không cần sử dụng cạnh đáy đã biết Máy cố định cũng phải tiến hành thu tín hiệu vệ tinh liên tục trong suốt chu

Trang 25

kỳ đo, còn máy di động được chuyển đến từng điểm đo, tại mỗi điểm đo thu tín hiệu trong khoảng thời gian là 5 ÷ 10 phút

Sau khi đo hết lượt máy di động quay trở về điểm xuất phát (điểm đo đầu tiên) và đo lặp lại tại tất cả các điểm theo đúng trình tự trước đó, nhưng khoảng thời gian giãn cách giữa hai lần đo tại mỗi điểm không ít hơn một tiếng, chính trong khoảng thời gian này đồ hình phân bố vệ tinh thay đổi đủ để xác định được

số nguyên đa trị Yêu cầu nhất thiết trong phương pháp này là phải có ít nhất ba

vệ tinh chung cho cả hai lần đo tại mỗi thời điểm quan sát

Phương pháp này có độ chính xác kém hơn phương pháp đo động nhưng

có thể áp dụng ở khu vực có nhiều vật che khuất Về mặt thiết kế, tổ chức đo thì chỉ nên bố chỉ ở khu vực đo tương đối nhỏ với số lượng điểm vừa phải để đảm bảo thời gian đo lặp lại tại mỗi điểm và số lượng vệ tinh chung cho cả hai lần đo (Đặng Nam Chinh và Đỗ Ngọc Đường, 2012)

1.5.3 Ưu điểm, nhược điểm của phương pháp định vị GPS

* Ưu điểm:

- Các vệ tinh GPS có thể được quan trắc trên cùng một vùng lãnh thổ rộng lớn như quốc gia hay châu lục, trong khi phương pháp định vị truyền thống chỉ khống chế ở một khu vực nhỏ hẹp

- Không cần phải thông hướng trên mặt đất giữa các điểm nên công tác chọn điểm sẽ có nhiều phương án để lựa chọn

- Có thể định vị ở thời gian thực và ở thời điểm bất kỳ vị trí nào nếu thu được tín hiệu vệ tinh: Trên mặt đất, trên biển và trong không gian cho đối tượng đứng yên hay di động

- Có thể đo 24 giờ một ngày cho nên thời gian thi công nhanh đem lại hiệu quả kinh tế cao

- Độ chính xác lưới cao và đồng đều Độ chính xác không phụ thuộc vào

đồ hình của lưới cho nên thuận lợi cho công tác thiết kế lưới

Công tác xử lý nội nghiệp hoàn toàn tự động theo các chương trình có sẵn nên

Trang 26

kết quả có độ tin cậy cao

1.6 Các loại sai số chủ yếu trong kết quả đo GPS

1.6.1 Sai số của quỹ đạo vệ tinh

Chuyển động của vệ tinh trên quỹ đạo không tuân thủ theo định luật Kepler do có nhiều tác động nhiễu như: tính không đồng nhất của trọng trường Trái Đất, ảnh hưởng của sức hút Mặt Trăng, Mặt Trời, Vị trí tức thời của vệ tinh chỉ có thể được xác định theo mô hình chuyển động được xây dựng trên cơ

sở các số liệu quan sát từ các trạm đo có độ chính xác cao trên mặt đất thuộc đoạn điều khiển của hệ thống GPS và đương nhiên có chứa sai số

Ephemerit là tập hợp các số liệu thể hiện vị trí của thiên thể nói chung và

vệ tinh nói riêng dưới dạng hàm của thời gian, do đó cũng gọi là lịch vệ tinh

Số liệu của lịch vệ tinh cho phép xác định tức thời các vector vị trí và tốc

độ của các vệ tinh trong hệ tọa độ trái đất Các máy thu GPS thu tín hiệu vệ tinh,

và sử dụng lịch vệ tinh để tính toán xử lý số liệu đo (Nguyễn Thị Mỹ Lệ, 2014)

Có hai loại Ephemerit của VT: Ephemerit được xác định từ kết quả hậu xử

lý các số liệu quan sát cho chính các thời điểm nằm trong khoảng thời gian quan sát và Ephemerit được nội suy từ các Ephemerit nêu trên cho các ngày quan sát tiếp theo Loại Ephemerit thứ nhất có độ chính xác ở mức 10 – 50 m, và chỉ được cung cấp khi chính phủ Mỹ cho phép; còn ở mức hai cỡ 20 – 100 m, cho phép các khách hàng đại trà sử dụng

Sai số vị trí của VT ảnh hưởng gần như trọn vẹn tới sai số xác định vị trí điểm quan sát đơn, hoàn toàn riêng biệt; nhưng lại được loại trừ đáng kể trong kết quả định vị tương đối giữa hai điểm quan sát

Trang 27

Sai số vị trí của VT là nguồn sai số khá lớn nhưng tác động chủ yếu vào tọa

độ tuyệt đối được sử dụng theo phương pháp đo khoảng cách giả Vì vậy, thông thường tọa độ tuyệt đối trong hệ WGS-84 quốc tế chỉ có thể xác định được với độ chính xác khoảng từ 10 tới 100 m Tọa độ này có vai trò rất quan trọng trong việc

tính toán số gia tọa độ ∆X, ∆Y, ∆Z của các baseline Nếu độ chính xác tọa độ tuyệt

đối của một đầu baseline tăng được từ 100 m tới 2 m thì độ chính xác của ∆X, ∆Y,

∆Z có thể tăng thêm được 1 dm Chính vì vậy người ta cần có tọa độ gần đúng

trong hệ WGS-84 tới cỡ 2 m để có được các baseline có độ chính xác cao Để khắc phục các sai số này người ta đã sử dụng các biện pháp sau:

- Có được lịch vệ tinh chính xác tại thời điểm đo: Lịch vệ tinh chính xác

có thể có được nếu yêu cầu các cơ quan như NGS, IGS, cung cấp

-Quan trắc liên tục trong 24 giờ: tức là hai vòng quỹ đạo của 32 vệ tinh

có thể hiệu chỉnh được lịch vệ tinh thông qua các phần mềm xử lý Pseudo Range mới, độ chính xác đạt tới 1 m Độ chính xác này đã được thử nghiệm tại Việt Nam và đã so sánh kết quả đo tọa độ tuyệt đối với kết quả lan truyền tọa độ theo các baseline từ một điểm gốc tọa độ tuyệt đối cũng như với tọa độ

đo nối với lưới IGS quốc tế (Đặng Nam Chinh và Đỗ Ngọc Đường, 2012)

1.6.2 Sai số do tầng điện ly và tầng đối lưu

a Ảnh hưởng khúc xạ tầng điện ly

Đây là sai số do hiện tượng khúc xạ tia sóng đi từ khoảng không vũ trụ vào tầng đầu tiên của khí quyển Sai số này không gây ảnh hưởng lớn tới kết quả đo trong khoảng cách ngắn mà chỉ ảnh hưởng lớn trên khoảng cách dài Để khắc phục người ta đã sử dụng tần số thứ hai để hiệu chỉnh các trị đo trên khoảng cách dài (Nguyễn Thị Mỹ Lệ, 2014)

Tầng điện ly đó là tầng khí quyển ở độ cao từ 50 km đến 1000 km Do bức

xạ mạnh của mặt trời, các phân tử khí trong tầng điện ly tạo thành một lượng lớn các điện tử khí tự do Khi tín hiệu sóng điện từ đi qua tầng điện ly thì đường truyền tín hiệu sẽ bị cong Tốc độ truyền sóng sẽ thay đổi (trong đó các điện tử tự

do gây tác dụng là chủ yếu) Vì vậy thời gian truyền tín hiệu nhân với tốc độ ánh sáng trong chân không sẽ không bằng khoảng cách từ vệ tinh đến máy thu Đối

Trang 28

với tín hiệu GPS mà nói thì sai số cự ly trên hướng thiên đỉnh có thể tới 50 m, ở hướng gần mặt đất (khi góc độ cao 200) thì có thể tới 150 m

Do vậy cần phải cải chính cẩn thận nếu không sẽ làm cho kết quả đo kém chính xác rất nhiều

Số cải chính khúc xạ tầng điện ly khi đo vị trí tương đối sóng tải và số cải chính khi đo cự ly giả thì bằng nhau về trị số tuyệt đối nhưng ngược dấu nhau (Đặng Nam Chinh và Đỗ Ngọc Đường, 2012)

b Ảnh hưởng khúc xạ tầng đối lưu

Đây là hiện tượng khúc xạ tia sóng đi trong lớp khí quyển gần mặt đất Sai

số này có tác động chủ yếu vào các trị đo trên khoảng cách ngắn mà không có ảnh hưởng đáng kể trên khoảng cách dài Trước đây người ta yêu cầu đo nhiệt

độ, áp suất, độ ẩm để tính số hiệu chỉnh do ảnh hưởng của tầng đối lưu Đến nay các phần mềm đã sử dụng số hiệu chỉnh theo mô hình tầng đối lưu tạo độ chính xác cao hơn sử dụng các số hiệu chỉnh do nhiệt độ, áp suất, độ ẩm

Tầng đối lưu là tầng khí quyển ở độ cao dưới 50 km Vì cách mặt đất càng gần thì mật độ khí quyển càng lớn Hơn nữa, trạng thái khí của khí quyển cũng bị thay đổi theo sự thay đổi của khí hậu Do vậy, khúc xạ tầng đối lưu phức tạp hơn nhiều so với khúc xạ tầng điện ly (Nguyễn Thị Mỹ Lệ, 2014)

Thành phần khí quyển của tầng đối lưu chủ yếu là nitơ (70%) và oxy (21%) hợp thành, ngoài ra còn có một số khí khác rất nhỏ như hyđrô,

Sóng điện từ khi đi qua tầng đối lưu thì tốc độ truyền bị thay đổi, đường truyền sóng cũng bị cong Sai số khoảng cách do tầng đối lưu gây ra trên thiên đỉnh khoảng 2.3 m Khi khoảng thiên đỉnh Z = 800thì sai số này khoảng 13 m Môi trường truyền sóng gây nên sai số nhiễu tín hiệu do môi trường: Sai số này có 2 nguồn gây ra, một là do các nguồn phát sóng ngắn quanh máy thu tạo nên (như các đài truyền hình, thậm chí là sóng của điện thoại di động, ), hai là do sóng GPS phản xạ từ các vật thể quanh anten Để khắc phục sai số này người ta đã cải tiến các anten có độ nhậy cao hơn nhằm tạo khả năng tự lọc nhiễu và đặt thêm các

bộ lọc trong phần mềm xử lý (Đặng Nam Chinh và Đỗ Ngọc Đường, 2012)

1.6.3 Sai số do nhiễu xạ của các tín hiệu vệ tinh

Máy thu GPS là một thiết bị bao gồm phần cứng và phần mềm, do vậy

Trang 29

trong quá trình làm việc có thể gặp tình trạng máy thu làm việc không ổn định Trong môi trường lan truyền tín hiệu luôn có các nguồn sóng điện từ phát ra sẽ gây nhiễu tín hiệu

Tín hiệu vệ tinh tới máy thu có thể bị nhiễu do một số nguyên nhân sau: -Tín hiệu bị phản xạ từ các vật (kim loại, bê tông) gần máy thu

-Tín hiệu bị nhiễu do ảnh hưởng của các tín hiệu sóng điện từ khác

-Máy thu GPS đặt gần các đường dây tải điện cao áp

-Tín hiệu bị gián đoạn do các vật che chắn tín hiệu

Để khắc phục sai số nhiễu tín hiệu, khi thiết kế điểm đo cần bố trí xa các trạm phát sóng, các đường dây cao thế, Không bố trí máy thu dưới các rặng cây (Đặng Nam Chinh và Đỗ Ngọc Đường, 2012)

1.6.4 Sai số của đồng hồ

Đây là sai số của đồng hồ vệ tinh, sai số của đồng hồ máy thu và sự không đồng bộ giữa chúng Độ chính xác của đồng hồ và sự đồng bộ thời gian giữa đồng hồ vệ tinh và đồng hồ máy thu có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao độ chính xác kết quả đo GPS

Đồng hồ trên vệ tinh được trạm điều khiển trên mặt đất theo dõi, và do đó nếu phát hiện có sai lệch, trạm này sẽ phát tín hiệu chỉ thị thông báo số cải chính cho máy thu GPS biết để xử lý Để cải tiến đồng hồ máy thu có thể lắp đặt các đồng hồ nguyên tử như trên vệ tinh, nhưng như vậy giá thành máy thu rất đắt, người ta chỉ có thể cải tiến các đồng hồ thạch anh trong máy thu để có khả năng làm việc ổn định hơn trong giai đoạn đã đồng bộ với đồng hồ vệ tinh

Ngoài ra để làm giảm ảnh hưởng sai số đồng hồ của cả vệ tinh và máy thu, người ta sử dụng hiệu các trị đo giữa các vệ tinh cũng như giữa các trạm quan sát (Đặng Nam Chinh và Đỗ Ngọc Đường, 2012)

1.6.5 Sai số người đo

Người đo có thể phạm các sai lầm như: sự nhầm lẫn trong khi đo chiều cao anten của máy thu, dọi điểm định tâm không chính xác, đôi khi ghi nhầm chế

độ đo cao anten Để tránh các sai số này thì người đo GPS cần thận trọng trong định tâm và đo chiều cao anten

Trong phương pháp đo tương đối, độ cao anten của máy thu cũng là một

Trang 30

đại lượng tham gia vào thành phần vector cạnh Vì vậy phải chú ý trong khi đọc

số đo chiều cao anten

Trong khi thu tín hiệu không nên đứng vây quanh máy thu, không che ô

cho máy (Nguyễn Thị Mỹ Lệ, 2014)

Tổng hợp ảnh hưởng các nguồn sai số nói trên và cùng với nhiều nguyên

nhân khác nữa, khoảng cách từ VT đến điểm quan sát sẽ có sai số khoảng 13 m với

xác suất 95% Nếu xét thêm ảnh hưởng sự can thiệp của chế độ SA thì sai số này

cỡ khoảng 50 m, song các giá trị này chưa phải là sai số vị trí điểm Do vị trí điểm

quan sát được xác định từ phép giao hội khoảng cách từ các VT, nên độ chính xác

còn phụ thuộc vào các góc giao hội – đồ hình của các vệ tinh ở thời điểm quan sát Như vậy sai số vị trí điểm quan sát sẽ lớn hơn sai số đo khoảng cách – sai số

khoảng cách nhân với hệ số lớn hơn 1 Hệ số này đặc trưng cho đồ hình giao hội –

đồ hình phân bố các VT, và được gọi là hệ số phân tán độ chính xác DOP

(Dilution of presition) DOP càng nhỏ, vị trí điểm quan sát càng chính xác

Hệ số DOP tổng hợp nhất là hệ số phân tản độ chính xác hình học GDOP

(Geometric Dilution Of Presition), vì nó đặc trưng cho cả ba thành phần tọa độ

XYZ và yếu tố thời gian Giá trị GDOP khoảng từ 2 – 4 được coi là tốt

Nếu chỉ quan tâm đến vị trí điểm – 3 thành phần tọa độ XYZ, hoặc độ vĩ,

độ kinh, độ cao; thì nên sử dụng hệ số tản mạn độ chính xác vị trí PDOP

(Position Dilution Of Presition) Còn nếu chỉ quan tâm tới vị trí mặt phẳng của

điểm quan sát – hai thành phần tọa độ XY thì sử dụng hệ số phân tán độ chính

xác mặt bằng HDOP (Horizontal Dilution Of Presition)

Hệ số DOP cũng có thể được xét riêng cho các thành phần tọa độ, hay

Trang 31

-EDOP (Easrhing Dilution Of Presition) – hệ số phân tản độ chính xác

theo hướng Đông

Các hệ số kể trên được máy thu tính ra theo đồ hình phân bố cụ thể của các VT được quan sát và thông báo cho người sử dụng biết cùng với nhiều thông tin cần thiết khác hiển thị trên màn hình máy thu

Đến nay, với tiến bộ của khoa học kỹ thuật, các nguồn sai số nói trên đã được khắc phục đáng kể, tạo được các baseline có độ chính xác rất cao Các trị đo GPS cạnh dài đã nâng được độ chính xác từ cỡ 1/10.000.000 vào giai đoạn 1990 đến 1/200.000.000 như hiện nay đạt được (Đặng Nam Chinh và Đỗ Ngọc Đường, 2012)

1.7 Tình hình xây dựng hệ thống lưới khống chế tọa độ sử dụng công nghệ GPS trên thế giới và ở Việt Nam

Hệ thống hoạt động dựa trên nguyên lý của hiệu ứng Doppler, gồm 6 vệ tinh bay

ở độ cao cỡ 1.075 km trên các quỹ đạo hầu như tròn cách đều nhau và có góc nghiên so với mặt phẳng xích đạo của trái đất xấp xỉ 900 Tùy thuộc vào vị trí địa

lý cảu điểm quan sát, vệ tinh xuất hiện liên tiếp trên bầu trời từ 35 đến 100 phút Điều này có nghĩa là trung bình cứ sau khoảng hơn một nửa giờ đồng hồ mới lại

có thể quan sát vệ tinh để định vị Độ chính xác định vị với một lần vệ tinh bay qua chỉ đạt cỡ vài chục mét Để nâng độ chính xác cần tăng số lần quan sát vệ tinh đi Đây cũng chính là nhược điểm cơ bản của hệ thống TRANSIT trong việc đáp ứng nhu cầu định vị nhanh với độ chính xác cao Hệ thống TRANSIT có thời gian sử dụng khoảng 25 năm, hệ thống này đã kết thúc sử dụng vào năm 1966 (Phạm Hoàng Lân và Đặng Nam Chinh, 2011; Trần Đoàn Hoa, 2011)

b Hệ thống định vị toàn cầu GPS

Trang 32

Vào khoảng giữa những năm 60 của thế kỷ XX, Bộ quốc phòng Mỹ khuyến khích xây dựng một hệ thống đạo hàng vệ tinh hoàn hảo hơn so với hệ thống TRANSIT Ý tưởng chính của đề án do Hải quân Mỹ đề xuất là sử dụng khoảng cách đo từ các điểm trên mặt đất đến vệ tinh trên cơ sở biết chính xác tốc

độ và thời gian lan truyền tín hiệu vô tuyến Đề án có tên là Timation

Các công trình nghiên cứu tương tự cũng được không quân Mỹ tiến hành trong khuôn khổ chương trình mang mã số 621B Song từ năm 197, Bộ quốc phòng Mỹ quyết định đình chỉ cả hai chương trình này để triển khai phối hợp nghiên cứu xây dựng hệ thống đạo hàng vô tuyến vệ tinh trên cơ sở các kết quả của chương trình TRANSIT và hai chương trình nói trên Hệ thống này có tên gọi đúng là NAVSTAR GPS (Navigation Satellite Providing Timming and Ranging Global Positioning System) Nhiệm vụ chính của hệ thống là xác định tọa độ không gian và tốc độ chuyển động của điểm xét trên tàu vũ trụ, máy bay, tàu thủy và trên đất liền Trước năm 1980, hệ thống GPS chỉ phục vụ cho mục đích quân sự do Bộ quốc phòng Mỹ quản lý Từ năm 1980 chính phủ Mỹ cho phép sử dụng trong dân sự Từ đó, các ứng dụng của GPS vào nhiều lĩnh vực khác nhau và ngày càng được nghiên cứu, phát triển rộng rãi

Hình 1.6: Hệ thống định vị toàn cầu của Mỹ

Hệ thống này bao gồm 21 vệ tinh hoạt động và 3 vệ tinh dự trữ Các vệ tinh bay trên 6 quỹ đạo gần như tròn ở độ cao cỡ 20.000 km với chu kỳ xấp xỉ 12h Với cách bố trí này thì trong suốt 24h tại bất kỳ điểm nào trên Trái Đất cũng có thể quan

Trang 33

sát ít nhất 4 vệ tinh Các vệ tinh đầu tiên của hệ thống này được phóng lên quỹ đạo vào tháng 2 năm 1978 Toàn bộ hệ thống được đưa vào hoạt động hoàn chỉnh từ tháng

5 năm 1994 Chi phí cho việc thiết lập hệ thống này cỡ khoảng 12 tỷ đô la Mỹ (Trần Mạnh Tuấn và Đào Thị Hồng Điệp, 2012)

1.7.1.2 Hệ thống định vị toàn cầu GLONASS của Nga

Song hành với hệ thống NAVSTAR GPS, một hệ thống định vị toàn cầu tương tự mang tên GLONASS (Global Orbitting Navigation Satellite System) do Liên Xô cũ chế tạo cũng đã được đưa vào sử dụng từ năm 1982 và hoàn chỉnh vào tháng 12 năm 1996 Hệ thống này gồm có 24 vệ tinh, nhưng quay trên 3 mặt phẳng quỹ đạo ở độ cao từ 18.840 km đến 19.940 km Trên mỗi quỹ đạo các vệ tinh có độ giãn cách là 450 , chu kỳ quay cỡ 676 phút (Trần Đình Lữ, 2003) Với đúng nghĩa là hệ thống định vị toàn cầu GPS, cả NAVSTAR và GLONASS cùng cho phép thực hiện định vị cho bất kỳ điểm xét nào, vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày và với bất kỳ điều kiện thời tiết nào Đã có những dự án phối hợp khai thác hai hệ thống này để nâng cao hiệu quả định vị trên phạm vi toàn cầu Hiện nay đã có những hãng chế tạo máy thu có thể thu đồng thời cả tín hiệu vệ tinh NAVSTAR và GLONASS (Trần Mạnh Tuấn và Đào Thị Hồng Điệp, 2012)

Hình 1.7: Hệ thống định vị toàn cầu GLONASS của Nga

Trang 34

1.7.1.3 Hệ thống định vị toàn cầu GALILEO

Cả hai hệ thống GPS và GLONASS được sử dụng chính cho mục đích quân sự

Galileo sẽ xác định vị trí bằng công nghệ real-time, tức là dựa vào thời gian truyền tín hiệu để xác định vị trí cần tìm Với tốc độ truyền tín hiệu cực nhanh, gần như tức thời, Galileo được trông đợi có thể xác định một vật thể trên mặt đất với sai số trong khoảng 1 mét (Nguyên Khang, 2006)

Đối với những người sử dụng dân sự có thể có sai số lớn nếu như cơ quan điều hành GPS và GLONASS kích hoạt bộ phận gây sai số chủ định, ví dụ như

SA của GPS Do vậy, liên minh Châu Âu (EU) đã lên kế hoạch thiết kế và điều hành một hệ thống định vị vệ tinh mới mang tên nhà thiên văn học GALILEO, với mục đích sử dụng dân sự Việc nghiên cứu dự án hệ thống GALILEO được bắt đầu triển khai thực hiện từ năm 1999 do 4 quốc gia Châu Âu: Pháp, Đức, Italia và Anh Quốc Giai đoạn đầu triển khai chương trình GALILEO bắt đầu năm 2003 và theo dự kiến sẽ hoàn thành đưa vào sử dụng trong năm 2010 (chậm hơn so với thời gian dự định ban đầu 2 năm) GALILEO được thiết kế gồm 30 vệ tinh chuyển động trong 3 mặt phẳng quỹ đạo (nghiêng 560 so với mặt phẳng xích đạo) quanh trái đất với bán kính 29.980 km Các nước trong Liên minh Châu Âu đang xây dựng hệ thống định vị GALILEO có tính năng giống như GPS của Hoa Kỳ, dự tính sẽ bắt đầu hoạt động năm 2013 (Trần Mạnh Tuấn và Đào Thị Hồng Điệp, 2012)

1.7.1.4 Hệ thống định vị toàn cầu “COMPASS” của Trung Quốc

Năm 2000, Trung Quốc bắt đầu xây dựng thí nghiệm hệ thống định vị

vệ tinh COMPASS gọi tắt là hệ thống “Bắc Đẩu” và là nước thứ ba có hệ thống định vị vệ tinh tự chủ trên thế giới sau Mỹ và Nga Hệ thống COMPASS sẽ gồm 35 vệ tinh bao phủ toàn cầu dự kiến sẽ hoàn tất vào năm

2020 Bắc Đẩu tương thích với hệ thống định vị GPS của Mỹ, hệ thống Galileo của châu Âu và hệ thống GLONASS của Nga Nó cho phép người sử dụng định vị chính xác trong phạm vi 10 m, đo tốc độ từ 200 cm/giây trở lên

và cung cấp thông tin về thời gian với sai số chỉ là 2 phần trăm triệu giây., có

Trang 35

khả năng cung cấp dịch vụ dẫn đường toàn cầu cho người sử dụng trên khắp thế giới Các nhà khoa học Trung Quốc cũng hy vọng “Bắc Đẩu” có thể cạnh tranh được với hệ thống định vị toàn cầu GPS của Mỹ, GALILEO của EU và GLONASS của Nga (Bùi Thị Hồng Thắm, 2014)

1.7.2 Ở Việt Nam

Năm 1990, cục đo đạc và bản đồ Nhà nước đã quyết định ứng dụng công nghệ GPS để đổi mới công nghệ xây dựng lưới toạ độ Sau khi thử nghiệm thành công, công nghệ GPS được áp dụng ngay vào sản xuất để thi công lưới toạ độ cạnh ngắn Minh Hải, Sông Bé và Tây Nguyên gồm 117 điểm Đây là những địa bàn còn lại chưa có lưới toạ độ vì không đủ điều kiện để thi công theo công nghệ

đo đạc truyền thống

Năm 1991, công nghệ GPS khoảng cách dài được thử nghiệm thành công,

từ năm 1991 – 1992 chúng ta đã sử dụng công nghệ GPS để xây dựng một số mạng lưới hạng II ở những vùng khó khăn (Minh Hải, Tây Nguyên…) Sử dụng GPS để xây dựng lưới trắc địa biển gồm 36 điểm đo nối tất cả các đảo, quần đảo lớn với đất liền trong đó có 23 điểm trên quần đảo Trường Sa, kết nối đất liền với hải đảo xa trong một hệ thống toạ độ chung

Năm 1995, Tổng cục địa chính đã quyết định xây dựng lưới toạ độ cấp “0” bằng công nghệ GPS cạnh dài (bằng máy 2 tần) với chiều dài cạnh trung bình khoảng 120 km gồm 71 điểm trong đó có 56 điểm trùng các điểm toạ độ hạng I, hạng II đã đo; Trong số các điểm mới đo có một điểm gốc mới ở Hà Nội Lưới toạ

độ cấp “0” đóng vai trò kiểm tra chất lượng các lưới toạ độ hạng I, hạng II đã xây dựng, kết nối thống nhất và tằng cường độ chính xác cho các lưới toạ độ cũ, xây dựng hệ quy chiếu độ chính xác cao, làm cơ sở đo nối toạ độ với các lưới quốc tế

Hệ quy chiếu và Hệ toạ độ Quốc gia là cơ sở toán học của công tác trắc địa và bản đồ mà mỗi quốc gia nhất thiết phải xác lập để thể hiện độ chính xác và thống nhất các dữ liệu đo đạc và bản đồ Hệ quy chiếu và hệ toạ độ quốc gia HN-

72 đến giai đoạn này không còn đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật mà thực tế đòi hỏi Do đó việc lựa chọn một hệ quy chiếu Quốc gia mới phù hợp và chính xác là nhiệm vụ bức xúc được Tổng cục địa chính đặc biệt quan tâm Công nghệ

Trang 36

GPS đã đóng góp đáng kể trong việc thực hiện nhiệm vụ trên

Công trình tính toán xác định hệ quy chiếu hợp lý cho Việt Nam, bình sai

hệ thống lưới toạ độ Nhà nước để thống nhất hệ toạ độ Quốc gia được bắt đầu từ năm 1992 Năm 1998, Tổng cục địa chính đo đạc bổ sung, tích hợp lưới toạ độ cấp “0”, định vị hệ quy chiếu bằng trị đo GPS - thuỷ chuẩn, xây dựng mô hình Geoid, kết nối với các lưới quốc tế, bình sai hỗn hợp lưới vệ tinh - mặt đất để xác định Hệ quy chiếu và Hệ toạ độ Quốc gia

Từ năm 1995, để phục vụ cho công tác đo đạc lập bản đồ địa chính ở địa phương, Tổng cục Địa chính bắt đầu triển khai xây dựng lưới địa chính cơ sở (tương đương lưới toạ độ Quốc gia hạng III), Việc tính toán bình sai tổng thể mạng lới đã hoàn thành vào năm 2004 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã kết thúc công tác xây dựng mạng lưới địa chính cơ sở và chính thức công bố hoàn thành (gồm 13.836 điểm) Toàn bộ lưới toạ độ này được đo đạc bằng công nghệ GPS Hiện nay Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam đã đươc đầu tư xây dựng 6 trạm GPS

cố định: Đồ Sơn, Vũng Tàu, Lai Châu, Hà Giang, Cao Bằng, Quảng Nam cung cấp số liệu cải chính phân sai cho đo toạ độ bằng công nghệ GPS trong đo vẽ bản

đồ, điều tra Tài nguyên, phân giới cắm mốc và phục vụ an ninh quốc phòng Hiện nay công nghệ GPS đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong công tác xây dựng lưới địa chính và lưới khống chế đo vẽ để thành lập bản đồ địa chính các tỷ lệ tại một số địa phương Qua thực tế thấy rằng công nghệ này có chiều hướng phát triển tốt, khả năng ứng dụng cao, đem lại hiệu quả cả về kỹ thuật và kinh tế (Bùi Thị Hồng Thắm, 2014)

Trang 37

1.7.3 Quy trình xây dựng lưới GPS

Hình 1.8: Quy trình xây dựng lưới GPS

Thiết kế lưới, chọn điểm, chôn mốc

Đạt

Đạt Không đạt

Trang 38

1.8 Giới thiệu chung về chương trình TTC 2.73 để xử lý, bình sai lưới GPS

Trimble Total Control là phần mềm xử lý số liệu GPS của hãng Trimble được xây dựng từ những năm 2001- 2002 Nó có chức năng như: bình sai độ cao (1D), bình sai mặt phẳng (2D), bình sai không gian (3D)

Giao diện đồ họa Trimble Total Control :

Hình 1.9: Giao diện phần mềm Trimble Total Control

Giao diện đồ họa của Trimble Total Control bao gồm giao diện chính với các chức năng như các thanh trình đơn (Menu), các phím tắt trên thanh trình đơn

và các thanh công cụ (Toolbar) cũng như một số tính năng đặc biệt Nói chung giao diện đồ họa bao gồm 6 phần: thanh trình đơn (Menucommands), thanh công

cụ (Toolbar), thanh dự án (Projectbar), cửa sổ dự án (Project windows), thanh trạng thái (Status bar) và cửa sổ đầu ra (outpout window) (Bùi Khắc Luyện và

Vũ Đình Toàn, 2011)

Trang 39

Chương 2 NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu ứng dụng công nghệ GPS tĩnh để xây dựng lưới địa chính khu vực huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

- Phạm vi nghiên cứu: Thiết kế, đo đạc, xử lý kết quả đo và đánh giá độ chính xác lưới địa chính, kiểm tra lưới địa chính cụm 02 xã: Vô Tranh, Bình Sơn; huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

2.2 Nội dung nghiên cứu

1 Điều tra, khảo sát tình hình, đặc điểm huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang và điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 02 xã Vô Tranh, Bình Sơn huyện Lục Nam

2 Thu thập các loại tư liệu, tài liệu trắc địa, bản đồ và các số liệu gốc phục vụ cho xây dựng lưới địa chính 02 xã Vô Tranh và Bình Sơn huyện Lục Nam

3 Xây dựng lưới địa chính cụm 02 xã Vô Tranh và Bình Sơn huyện Lục Nam, tổ chức đo đạc thực địa lưới GPS theo đúng các yêu cầu kỹ thuật của quy phạm hiện hành, tính toán xử lý số liệu bằng phần mềm TTC 2.73, kết quả bình sai và đánh giá độ chính xác lưới địa chính, so sánh độ chính xác đạt được với quy phạm hiện hành để kết luận về độ chính xác của lưới đã xây dựng

4 Kiểm tra nghiệm thu theo đúng quy trình của Bộ Tài nguyên và Môi trường, trên cơ sở đó đánh giá phương pháp đo lưới bằng công nghệ GPS và đề xuất phương pháp đo lưới đối với vùng núi tương tự như huyện Lục Nam

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp điều tra số liệu thứ cấp

Sử dụng các loại bản đồ khu vực như bản đồ địa chính, bản đồ địa hình dùng để thiết kế, chọn điểm, các điểm trắc địa gốc (điểm tam giác nhà nước, điểm địa chính cơ sở) và các tài liệu có liên quan đến việc thiết kế và thi công lưới

2.3.2 Phương pháp xây dựng lưới địa chính

Phương pháp thiết kế lưới: Dựa trên bản đồ địa hình tỷ lệ 1/25000 để thiết

kế lưới địa chính 02 xã Lưới địa chính 02 xã Vô Tranh, Bình Sơn được thiết kế

Trang 40

theo đồ hình lưới tam giác dày đặc dựa trên các điểm địa chính cơ sở có ở trong khu

đo và các điểm ở xã lân cận

Tổ chức thi công lưới địa chính: Phát cây thông hướng phải cùng cán bộ địa phương làm việc, trước khi đem chôn mốc địa chính phải chờ đủ thời gian để

bê tông đông cứng, để đảm bảo an toàn khi thi công phải chuẩn bị sẵn sàng dụng

cụ chuyên chở, khiêng vác mốc địa chính

Tổ chức đo lưới địa chính cho cụm 02 xã Vô Tranh, Bình Sơn huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang bằng phương pháp đo GPS trạng thái tĩnh, tổ chức đo tuân thủ theo quy định hiện hành của bộ tài nguyên và môi trường

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu đo bằng phần mềm TTC 2.73

Phương pháp xử lý số liệu đo bằng phần mềm chuyên dụng Trimble Total control 2.73

Phần mềm TTC 2.73 phục vụ đa mục đích, trong đó có modul xử lý số liệu GPS tĩnh phục vụ công tác xây dựng lưới một cách nhanh chóng và tiện lợi,

có thể xử lý số liệu hàng nghìn điểm chỉ trong vòng một thời gian rất ngắn

2.3.4 Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh

Trên cơ sở kết quả ứng dụng công nghệ GPS để xây dựng lưới địa chính cho cụm 02 xã Vô Tranh, Bình Sơn huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang; chúng tôi tiến hành tổng hợp, phân tích, so sánh, đánh giá độ chính xác lưới GPS đã xây dựng với Quy phạm thành lập bản đồ địa chính của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2008

2.3.5 Phương pháp kiểm tra nghiệm thu

Phương pháp kiểm tra nghiệm thu nhằm đánh giá khách quan kết quả xây dựng lưới địa chính

Phương pháp đo: Đo kiểm tra lưới địa chính 02 xã Vô Tranh, Bình Sơn theo phương pháp đo GPS trạng thái tĩnh bằng máy GPS 01 tần số Trimble R3

Kiểm tra nghiệm thu lưới địa chính theo phương pháp kiểm tra toàn lưới các điểm trên thực địa: Đo kiểm tra xác suất các điểm địa chính trên thực địa nhằm đánh giá khách quan kết quả xây dựng toàn hệ thống lưới 02 xã Vô Tranh, Bình Sơn huyện Lục Nam

Ngày đăng: 17/02/2017, 11:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w