1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của kiểm toán nhà nước

108 274 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ và động viên từ các Thầy, Cô giáo, các cơ quan, tổ chức cùng toàn thể cán bộ, công chức của Kiểm toán nhà nước, nơ

Trang 1

LÊ XUÂN ĐẠT

TỔ CHỨC CÔNG TÁC KIỂM TOÁN DOANH NGHIỆP

CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

MÃ SỐ: 60.34.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS ĐỖ VĂN VIỆN

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 2

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài là trung thực và chưa từng được sử dụng, công bố trong bất kì nghiên cứu nào

Tôi xin can đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong đề tài đều được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, tháng 09 năm 2015

Học viên

Lê Xuân Đạt

Trang 3

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ và động viên từ các Thầy, Cô giáo, các cơ quan, tổ chức cùng toàn thể cán bộ, công chức của Kiểm toán nhà nước, nơi tôi chọn làm địa bàn nghiên cứu

Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong khoa Kế toán

và Quản trị kinh doanh - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã truyền đạt cho tôi những kiến thức cơ bản và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS TS Đỗ Văn Viện, thầy đã giúp đỡ tận tình và trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Kiểm toán nhà nước, các doanh nghiệp trong thời gian tôi thực tế nghiên cứu đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tiếp cận và thu thập thông tin cần thiết cho đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn./

Hà Nội, tháng 09 năm 2015

Học viên

Lê Xuân Đạt

Trang 4

Lời cam đoan i

2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC

KIỂM TOÁN DOANH NGHIỆP CỦA KTNN 4

2.1.1 Những vấn đề cơ bản về kiểm toán và Kiểm toán nhà nước 4

2.1.2 Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp nhà nước 13

2.1.3 Những vấn đề cơ bản về tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của

2.1.4 Yếu tố ảnh hưởng đến công tác kiểm toán doanh nghiệp của KTNN 23

2.2 Kinh nghiệm tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của các nước

2.2.1 Kinh nghiệm tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của một số

2.2.2 Tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của các công ty kiểm toán

2.2.3 Bài học kinh nghiệm cho kiểm toán doanh nghiệp của KTNN Việt Nam 28

2.2.4 Công trình nghiên cứu liên quan 28

3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

3.1 Giới thiệu về Kiểm toán nhà nước 30

Trang 5

3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Kiểm toán nhà nước 31

3.1.3 Cơ cấu tổ chức của KTNN và chức năng, nhiệm vụ từng bộ phận

3.1.5 Kết quả công tác kiểm toán thời gian qua 38

3.3 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu 42

4.1 Thực trạng tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của KTNN 43

4.1.1 Thực trạng lập kế hoạch kiểm toán năm và bố trí nhân sự kiểm toán

4.1.2 Thực trạng công tác chuẩn bị kiểm toán 46

4.1.3 Thực trạng thực hiện kiểm toán 52

4.1.4 Thực trạng công tác lập, xét duyệt và gửi báo cáo kiểm toán 59

4.1.5 Thực trạng công tác kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm

4.3 Đánh giá về tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của KTNN 66

4.3.1 Đánh giá của doanh nghiệp đối với tổ chức công tác kiểm toán doanh

4.3.2 Tự đánh giá của cán bộ, công chức KTNN đối với tổ chức công tác

kiểm toán doanh nghiệp của KTNN 68

4.3.3 Tồn tại trong tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của KTNN 69

Trang 6

4.4.1 Định hướng 72

4.4.2 Mục tiêu kiểm toán doanh nghiệp của KTNN những năm tới 74

4.4.3 Giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của

Trang 7

BCKT Báo cáo kiểm toán

BBXNSL Biên bản xác nhận số liệu

KTNN CN Kiểm toán nhà nước chuyên ngành

KTNN KV Kiểm toán nhà nước khu vực

Trang 8

Số bảng Tên bảng Trang

3.1 Tình hình nhân sự của kiểm toán nhà nước trong 3 năm 36

3.3 Số doanh nghiệp thuộc thẩm quyền kiểm toán của KTNN 38

3.4 Tình hình kiến nghị xử lý tài chính của KTNN qua các năm 39

4.1 Số cuộc kiểm toán doanh nghiệp hàng năm của KTNN 44

4.2 Tình hình bố trị nhân sự để kiểm toán doanh nghiệp của KTNN 45

4.3 Số doanh nghiệp được thực hiện kiểm toán qua các năm 47

4.4 Số doanh nghiệp được kiểm toán phân theo loại doanh nghiệp 48

4.5 Số người tham gia kiểm toán doanh nghiệp từ 2012-2014 50

4.6 Số ý kiến thẩm định dự thảo kế hoạch kiểm toán 51

4.7 Tình hình xác nhận số liệu kiểm toán của kiểm toán viên 54

4.8 Kết quả kiến nghị xử lý tài chính đối với các doanh nghiệp của KTNN 56

4.9 Kết quả kiểm toán của KTNN phân theo loại doanh nghiệp 57

4.10 Kiến nghị của KTNN về sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ các văn bản qua

4.14 Tình hình kiểm tra thực hiện kiểm nghị kiểm toán 64

4.15 Kết quả thực hiện kiến nghị kiểm toán qua các năm 64

4.16 Đánh giá của doanh nghiệp về tổ chức công tác kiểm toán doanh

4.17 Đánh giá của doanh nghiệp về cán bộ kiểm toán 67

4.18 Tự đánh giá của cán bộ KTNN trong tổ chức công tác kiểm toán

Trang 9

STT Tên sơ đồ Trang

4.1 Các bước tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp 46

4.3 Trình tự thực hiện kiểm toán doanh nghiệp của KTNN 554.4 Quy trình lập, xét duyệt và gửi báo cáo kiểm toán của KTNN 60

Trang 10

1 MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Kiểm toán ra đời, phát triển do yêu cầu quản lý và phục vụ cho quản lý Xã hội càng phát triển, nền kinh tế thị trường càng phức tạp, thông tin kinh tế càng có nguy

cơ chứa đựng nhiều rủi ro, sai lệch, thiếu tin cậy Để hạn chế rủi ro thông tin, một phương cách tốt nhất là các thông tin trước khi công bố cho bên thứ ba sẽ có một cơ quan, tổ chức kiểm toán để xác nhận mức độ tin cậy Các tổ chức kiểm toán sẽ thực hiện kiểm toán các thông tin, xác nhận mức độ tin cậy và cung cấp cho người sử dụng Nếu chủ thể sử dụng thông tin là Nhà nước (Chính phủ, Quốc hội) thì sẽ thành lập cơ quan kiểm toán thuộc cơ cấu nhà nước Nếu là các tổ chức khác, các doanh nghiệp sẽ phải sử dụng các dịch vụ kiểm toán được cung cấp bởi các doanh nghiệp kiểm toán Các doanh nghiệp kiểm toán sẽ thực hiện kiểm toán theo yêu cầu của khách hàng và cung cấp thông tin xác thực phục vụ khác hàng Với các cơ quan, đơn vị hay tổ chức kinh doanh có quy mô lớn, để phục vụ quản lý nội bộ sẽ thành lập bộ phận kiểm toán nội bộ trực thuộc ban lãnh đạo để kiểm toán các thông tin phục vụ cho việc ra quyết định quản trị nội bộ

Trên thế giới Kiểm toán nhà nước có lịch sử hình thành và phát trển hàng trăm năm, Kiểm toán nhà nước được khẳng định như một bộ phận không thể thiếu của hệ thống quyền lực nhà nước hiện đại Ở nước ta viêc hình thành và hoạt động của Kiểm toán nhà nước là đòi hỏi khách quan xuất phát từ chính nhu cầu của nền kinh

tế khi chuyển từ kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa Kiểm toán nhà nước đã trở thành công cụ vĩ mô của nhà nước có vai trò quan trọng trong việc kiểm tra, kiểm soát, tăng cường việc sử dụng hợp lý, đúng mục đích hiệu quả nguồn lực tài chính, tài nguyên đất nước tại các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp

Kiểm toán doanh nghiệp của kiểm toán nhà nước là việc kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính của doanh nghiệp; kiểm tra việc tuân thủ pháp luật; tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý, sử dụng vốn, tài sản của Nhà nước tại doanh nghiệp Hoạt động kiểm toán doanh nghiệp của

Trang 11

Kiểm toán nhà nước đã mang lại những ý nghĩa quan trọng, góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng quản lý, điều hành, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp; đáp ứng một phần yêu cầu về quản lý và điều hành nền kinh

tế của Đảng và Nhà nước

Qua 20 năm hoạt động, chất lượng tổ chức kiểm toán doanh nghiệp của Kiểm toán nhà nước đã dần được nâng cao Tuy nhiên, công tác này vẫn chưa đáp ứng được sự kỳ vọng của Đảng, Nhà nước và công chúng mà nguyên nhân một phần do tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của Kiểm toán nhà nước chưa thực sự phù hợp và hiệu quả Mặt khác trước những tác động trong việc đổi mới kinh tế và chủ trương của Đảng và Nhà nước trong quản lý, điều hành các doanh nghiệp có vốn nhà nước, nên sẽ có những ảnh hưởng lớn đến tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của Kiểm toán nhà nước Nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, công tác kiểm toán doanh nghiệp phải được đổi mới toàn diện, góp phần tăng cường vai trò của Kiểm toán nhà nước trong việc giúp Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan chức năng trong việc giám sát, quản lý, điều hành các doanh nghiệp có vốn của nhà nước, đặc biệt là các doanh nghiệp mà nhà nước giữ cổ phần chi phối Với thực tế

đó, việc nghiên cứu để hoàn thiện tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của Kiểm toán nhà nước có ý nghĩa hết sức quan trọng và là yêu cầu cấp bách

Xuất phát từ lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của Kiểm toán nhà nước”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở phân tích thực trạng tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của Kiểm toán nhà nước những năm gần đây và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của kiểm toán nhà nước, luận văn đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác kiểm toán doanh nghiệp cho Kiểm toán nhà nước những năm tới

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về kiểm toán và tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của Kiểm toán nhà nước

Trang 12

- Đánh giá thực trạng tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của Kiểm toán nhà nước những năm qua, tìm ra các yếu tố ảnh hưởng làm hạn chế công tác kiểm toán doanh nghiệp của Kiểm toán nhà nước

- Đề xuất giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của Kiểm toán nhà nước thời gian tới

1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các nội dung liên quan đến tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của Kiểm toán nhà nước

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Đề tài nghiên cứu tại Kiểm toán nhà nước, Cầu Giấy, Hà Nội Các số liệu phục vụ nghiên cứu được thu thập trong 3 năm từ năm 2012-2014;

số liệu điều tra năm 2015

- Về thời gian: Đề tài được thực hiện nghiên cứu từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 8 năm 2015

- Về nội dung nghiên cứu: Tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của Kiểm toán nhà nước bao gồm: chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kiểm toán, lập báo cáo kiểm toán, kiểm tra việc thực hiện kiến nghị kiểm toán đối với các doanh nghiệp nhà nước

Trang 13

2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC

KIỂM TOÁN DOANH NGHIỆP CỦA KTNN

2.1 Cở sở lý luận

2.1.1 Những vấn đề cơ bản về kiểm toán và Kiểm toán nhà nước

2.1.1.1 Khái niệm kiểm toán

Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng kiểm toán ra đời từ thời La Mã cổ đại vào thế kỷ thứ III trước Công Nguyên Chính vì vậy, kiểm toán có gốc từ La tinh"Audit", nguyên bản là "Audire", gắn liền với nền văn minh của Ai Cập và La

Mã cổ đại Từ "Audire" có nghĩa là nghe Hình ảnh kiểm toán cổ điển thường được tiến hành bằng cách người ghi chép về tài sản đọc to lên cho một bên độc lập

"nghe" rồi sau đó chấp nhận thông qua việc chứng thực Tuy kiểm toán ra đời đã hơn 2000 năm qua, nhưng nó cũng chỉ phát triển mạnh mẽ từ giữa thế kỷ XIX và cho đến nay vẫn còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về kiểm toán (Nguyễn Quang Quỳnh, 2003)

Ở Vương quốc Anh đã đưa ra khái niệm: “Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và

là sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên được bổ nhiệm để thực hiện những công việc đó theo đúng với bất kỳ nghĩa vụ pháp định có liên quan” (Nguyễn Quang Quỳnh, 2003) Theo khái niệm này, kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của kiểm toán viên theo nghĩa vụ pháp định

Các chuyên gia Hợp chủng quốc Hoa Kỳ cho rằng: “Kiểm toán là một quá trình

mà qua đó một người độc lập, có nghiệp vụ, tập hợp và đánh giá rõ ràng về một thông tin có thể lượng hoá có liên quan đến một thực thể kinh tế riêng biệt nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa thông tin có thể lượng hoá với những tiêu chuẩn đã được thiết lập” (Nguyễn Quang Quỳnh, 2003) Như vậy, các nhà nghiên cứu về kiểm toán Hoa Kỳ cũng khẳng định sự kiểm tra mang tính độc lập của KTV và nhấn mạnh hơn đến khía cạnh chuyên môn tức là các KTV không chỉ độc lập mà còn phải “có nghiệp vụ” Khái niệm này cũng đề cập đến sự phù hợp giữa thông tin với các tiêu chuẩn đã được thiết lập

Trang 14

Trong giáo dục và đào tạo kiểm toán ở Cộng hoà Pháp, kiểm toán được quan niệm như sau: “Kiểm toán là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản niên độ của một tổ chức do một người độc lập, đủ danh nghĩa gọi là một kiểm toán viên tiến hành để khẳng định rằng những tài khoản đó phản ánh đúng tình hình tài chính thực

tế, không che đậy sự gian lận và chúng được trình bày theo mẫu chính thức của luật định” (Nguyễn Quang Quỳnh, 2003)

Từ các khái niệm trên có thể rút ra những đặc trưng cơ bản thể hiện bản chất của kiểm toán là:

Thứ nhất, kiểm toán là sự phát triển độc lập của chức năng kiểm tra kế toán,

một chức năng của bản thân quá trình kế toán Với đặc trưng này, kiểm toán là quá trình kiểm tra, rà soát các thông tin kế toán từ chứng từ kế toán đến kế toán tổng hợp và cân đối kế toán

Thứ hai, hoạt động kiểm toán được thực hiện bởi người độc lập, có chuyên

môn nghiệp vụ Với đặc trưng này, kiểm toán là hoạt động mang tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, trung thực, khách quan

Thứ ba, kiểm toán là sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của một đơn

vị, một tổ chức kinh tế so với các tiêu chuẩn đã được thiết lập và kết quả kiểm toán được trình bày theo một cách thức nhất định Với đặc trưng này, kiểm toán là sự xác minh và bày tỏ ý kiến về những nội dung đã kiểm toán Đối tượng cụ thể của kiểm toán là các bản khai tài chính

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các loại hình kiểm toán, khái niệm kiểm toán đã được mở rộng và phát triển vượt ra ngoài khuôn khổ quan niệm truyền thống nêu trên Kiểm toán không chỉ là việc kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của các tài liệu, số liệu, báo cáo tài chính mà còn kiểm tra, đánh giá tính tuân thủ pháp luật, thể lệ, quy định của các đơn vị được kiểm toán và rộng hơn nữa là kiểm tra, đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong việc quản

lý, sử dụng các nguồn lực tài chính Ở một số quốc gia, hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước còn bao gồm cả kiểm toán nguồn nhân lực, kiểm toán môi trường, kiểm toán trách nhiệm kinh tế của cán bộ lãnh đạo trong nhiệm kỳ Điều đó cho thấy, đối tượng, loại hình và nội dung kiểm toán ngày càng phát triển sâu, rộng

Trang 15

tuỳ thuộc và yêu cầu quản lý và nhu cầu thông tin được chứng thực

Ở Việt Nam, thuật ngữ "Kiểm toán" xuất hiện trở lại và được sử dụng nhiều từ những năm đầu của thập kỷ 90 Trước năm 1975, ở miền Nam Việt Nam đã có hoạt động của các công ty kiểm toán nước ngoài Do ra đời muộn hơn so với đa số các nước trên thế giới nên ở Việt Nam, kiểm toán nói chung và khái niệm kiểm toán nói riêng đã có sự kế thừa và phát triển của kiểm toán trên thế giới Tuy nhiên, cho đến nay ở Việt Nam cũng còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về kiểm toán

Giáo trình Lý thuyết Kiểm toán của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân quan

niệm: “Kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động được kiểm

toán bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và ngoài chứng

từ do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực” (Nguyễn Quang Quỳnh, 2003) Khái niệm này đã cho rằng kiểm toán không chỉ là kiểm tra các bản khai tài chính mà còn xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động; đồng thời, còn đề cập đến việc sử dụng hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán và yêu cầu hoạt động kiểm toán phải được thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực

Luật Kiểm toán nhà nước của Việt Nam đưa ra khái niệm: Hoạt động kiểm toán của KTNN là việc kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính; việc tuân thủ pháp luật; tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản

lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước

Qua nghiên cứu các khái niệm kiểm toán nêu trên và từ thực tiễn hoạt động kiểm toán, có thể hiểu khái niệm về kiểm toán như sau: Kiểm toán là việc kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính, việc tuân thủ pháp luật; kiểm tra, đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý, sử dụng các nguồn lực do một chủ thể độc lập, có thẩm quyền, có năng lực chuyên môn thực hiện theo quy định của pháp luật và các chuẩn mực chuyên môn

2.1.1.2 Phân loại kiểm toán

Việc phân loại kiểm toán thường được thực hiện theo hai cách cơ bản sau đây:

Một là: Theo mục mục đích của kiểm toán (hay theo đối tượng trực tiếp của kiểm toán)

Trang 16

Căn cứ vào mục đích cụ thể (hay đối tượng trực tiếp) của kiểm toán, người ta thường chia kiểm toán thành ba loại là: kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán báo cáo tài chính

- Kiểm toán hoạt động

Kiểm toán hoạt động là loại kiểm toán nhằm để xem xét và đánh giá về tính kinh tế, tính hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động được kiểm toán

Tính kinh tế là sự tiết kiệm các nguồn lực Hay đây còn gọi là nguyên tắc tối

thiểu, nghĩa là để đạt được mục tiêu nhất định cần dùng một lượng nguồn lực ít nhất

Tính hiệu lực là khả năng về mức độ hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu đã

xác định của đơn vị

Tính hiệu quả là việc đạt được kết quả cao nhất với một lượng nguồn lực nhất

định, hay đây còn gọi là nguyên tắc tối đa

- Kiểm toán tuân thủ

Kiểm toán tuân thủ là loại kiểm toán nhằm để xem xét đơn vị được kiểm toán

có tuân thủ các quy định mà các cơ quan có thẩm quyền cấp trên hoặc cơ quan chức năng của Nhà nước hoặc cơ quan chuyên môn đề ra hay không

Đối tượng của kiểm toán tuân thủ cũng khá linh hoạt Nó có thể là việc tuân thủ các quy tắc do các cơ quan nhà nước cấp trên đề ra, như kiểm tra đánh giá về việc tuân thủ các quy định về thuế giá trị gia tăng, hay các quy định về bảo vệ môi trường, bảo vệ người lao động , hoặc việc tuân thủ những quy định do người quản

lý cấp trên trong đơn vị đề ra, hoặc nó còn là việc tuân thủ những quy định của cơ quan chuyên môn đề ra như việc tuân thủ các quy trình và thủ tục giải ngân của kho bạc nhà nước, việc tuân thủ các điều kiện và thủ tục vay vốn của ngân hàng Các tiêu chuẩn, chuẩn mực để đánh giá thông tin ở loại kiểm toán này không phức tạp như kiểm toán hoạt động, chúng thường được xác định một cách dễ dàng gắn liền với các thủ tục, quy tắc được kiểm toán Thông thường loại kiểm toán này được thực hiện để phục vụ cho nhu cầu của bản thân các đơn vị, hoặc nhu cầu của cơ quản lý cấp trên nên kết quả của kiểm toán tuân thủ nói chung được báo cáo cho người có trách nhiệm trong đơn vị được kiểm toán hoặc cơ quan quản lý cấp trên

Trang 17

hơn là cho một phạm vi rộng người sử dụng

- Kiểm toán báo cáo tài chính là loại kiểm toán nhằm kiểm tra và xác nhận về tính trung thực, hợp lý của các báo cáo tài chính được kiểm toán

Báo cáo tài chính được kiểm toán thường là bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và bản thuyết minh báo cáo tài chính của các đơn vị tổ chức kinh doanh Ngoài ra, các báo cáo tài chính của các đơn vị khác như bảng cân đối kế toán, báo cáo quyết toán vốn, ngân sách của các đơn vị hành chính, sự nghiệp, của các dự án đầu tư cũng là những đối tượng thông tin của kiểm toán báo cáo tài chính Tiêu chuẩn, chuẩn mực cho việc đánh giá thông tin của loại kiểm toán này thường là các chuẩn mực kế toán, các quy định pháp lý về kế toán và những quy định khác có liên quan

Hai là: Theo loại hình tổ chức kiểm toán (theo chủ thể thực hiện kiểm toán)

Theo cách phân loại này, kiểm toán được chia làm ba loại là Kiểm toán nhà nước, kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ

- Kiểm toán nhà nước: là cơ quan kiểm tra tài chính tối cao của quốc gia, thực

hiện việc kiểm tra và báo cáo về việc quản lý và sử dụng các nguồn lực của Nhà nước ở các đơn vị

- Kiểm toán độc lập: được tổ chức dưới dạng doanh nghiệp kiểm toán (công ty

hay hãng kiểm toán) nhằm cung cấp dịch vụ kiểm toán và các dịch vụ khác có tính chuyên môn cho xã hội

- Kiểm toán nội bộ: được tổ chức bên trong mỗi đơn vị, thực hiện kiểm tra và

cho ý kiến về các đối tượng được kiểm toán nhằm giúp đơn vị thực hiện tốt các chức năng và nhiệm vụ của mình

2.1.1.3 Chức năng của kiểm toán

Thứ nhất: Chức năng xác nhận (hay còn gọi là chức năng xác minh)

Đây là chức năng được hình thành đầu tiên gắn liền với sự ra đời, hình thành và phát triển của kiểm toán Bản thân chức năng này không ngừng phát triển mạnh mẽ cùng với sự phát triển của xã hội loài người nói chung và kiểm toán nói riêng, đồng thời chức năng này luôn thể hiện ở các mức độ khác nhau trong từng giai đoạn lịch

sử nhất định Ngay từ thời kỳ đầu, khi kiểm toán ra đời, chức năng kiểm tra và xác

Trang 18

nhận được thể hiện dưới dạng chứng thực báo cáo tài chính (kiểm toán cổ điển), về sau chức năng này phát triển mạnh mẽ và được thể hiện cao hơn dưới dạng báo cáo kiểm toán

Thứ hai: Chức năng tư vấn (hay còn gọi là chức năng trình bày ý kiến)

Đây là chức năng phát sinh và hình thành sau chức năng xác nhận Chức năng

tư vấn cũng có quá trình phát sinh và phát triển riêng của nó Cùng với quá trình phát triển của kiểm toán, chỉ một chức năng xác nhận, kiểm toán không thể đáp ứng được yêu cầu của nhà quản lý Chính từ yêu cầu thực tiễn quản lý đặt ra, đã xuất hiện chức năng tư vấn Ở thời kỳ ban đầu khi mới hình thành, chức năng này biểu hiện dưới dạng thư quản lý Trong quá trình phát triển, sự biểu hiện của tư vấn cũng rất khác nhau theo từng giai đoạn lịch sử nhất định Thực tế chức năng này chỉ phát triển mạnh mẽ vào giữa thế kỷ XX, nhưng lại giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong một nền kinh tế thị trường phát triển cao như hiện nay

Qua hai chức năng của kiểm toán ta thấy kiểm toán nhìn nhận đánh giá một cách toàn diện cả về quá khứ và tương lai Về quá khứ, đối với các sự kiện đã nảy sinh, kiểm toán với tư cách là người kiểm tra xác nhận sự việc đã hoàn thành nhằm đáp ứng yêu cầu của người sử dụng thông tin Như vậy, chức năng kiểm toán xác nhận hay xác minh là chức năng hướng về quá khứ Mặt khác, để đáp ứng yêu cầu của người sử dụng thông tin trong tương lai, kiểm toán lại có thêm chức năng thứ hai đó là chức năng tư vấn hay chức năng trình bày ý kiến, chức năng này hướng về tương lai Hai chức năng của kiểm toán hình thành và phát triển hoàn toàn khác nhau tuỳ theo từng giai đoạn lịch sử nhất định Ở thời kỳ đầu, người ta thường chỉ tập trung quan tâm đến chức năng kiểm tra xác nhận Nhưng khi xã hội càng phát triển, người ta càng quan tâm nhiều hơn đến chức năng tư vấn của kiểm toán, đó là việc nhìn nhận, định hướng cho một tương lai đúng đắn để có những quyết định tối

ưu và giành được thắng lợi trong cạnh tranh

2.1.1.4 Khái niệm, đặc trưng của Kiểm toán nhà nước

* Khái niệm: Theo quy định tại Điều 118 Hiến pháp năm 2013: Kiểm toán nhà

nước là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực hiện việc kiểm toán tài chính, tài sản công (Hiến pháp, 2013)

Trang 19

Hoạt động kiểm toán của KTNN có thể phân thành 3 lĩnh vực gồm:

- Lĩnh vực kiểm toán ngân sách nhà nước;

- Lĩnh vực kiểm toán dự án đầu tư;

- Lĩnh vực kiểm toán doanh nghiệp

* Đặc trưng của Kiểm toán nhà nước

So với các hoạt động kiểm tra, kiểm soát khác của Nhà nước và so với các loại hình hoạt động kiểm toán khác (kiểm toán nội bộ, kiểm toán độc lập), hoạt động kiểm toán của KTNN có những đặc điểm cơ bản như sau:

Thứ nhất, hoạt động kiểm toán của KTNN là hoạt động kiểm tra tài chính

Thứ hai, hoạt động kiểm toán của KTNN mang tính độc lập và chỉ tuân theo

pháp luật; trung thực, khách quan Đây là đặc điểm cơ bản nhất, yếu tố quan trọng nhất trong hoạt động kiểm toán của KTNN Vấn đề này được quy định thành nguyên tắc và được cụ thể hoá trong các điều, khoản của Luật Kiểm toán nhà nước

và các quy chế liên quan đến tổ chức và hoạt động của KTNN, phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế

Thứ ba, đối tượng kiểm toán của Kiểm toán nhà nước là việc quản lý, sử dụng

ngân sách, tiền và tài sản nhà nước ở tất cả các cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan với phạm vi rộng lớn trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân Với tư cách

là chủ sở hữu các nguồn lực tài chính và tài sản quốc gia, Nhà nước thành lập cơ quan Kiểm toán nhà nước để kiểm soát việc quản lý, sử dụng các nguồn lực đó của các chủ thể có liên quan, bảo đảm phục vụ cho mục tiêu phát triển chung của đất

Trang 20

nước Do vậy, về nguyên tắc ở đâu có quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước thì ở đó có hoạt động Kiểm toán nhà nước

Thứ tư, chức năng của KTNN là xác nhận, kết luận và kiến nghị, trong đó xác

nhận độ tin cậy của báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán là chức năng đặc trưng riêng có của kiểm toán nói chung và KTNN nói riêng Đồng thời, KTNN cũng có

chức năng kiểm toán việc tuân thủ pháp luật và đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và

hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước KTNN đưa ra các kết luân, kiến nghị nhưng việc xử lý các kết luận, kiến nghị kiểm toán lại do các

cơ quan nhà nước có thẩm quyền và bản thân các đơn vị được kiểm toán thực hiện Điều này đòi hỏi phải có sự phối hợp rất chặt chẽ giữa KTNN với các cơ quan có liên quan thì hiệu lực kiểm toán mới được xác lập trên thực tế

Thứ năm, hoạt động Kiểm toán nhà nước mang tính chuyên môn, chuyên

nghiệp rất cao

- Tuân theo chuẩn mực, quy trình, quy chế một cách chặt chẽ;

- Sản phẩm của KTNN - Báo cáo kiểm toán có nội dung chuyên môn rất cao đòi hỏi phải có sự hiểu biết ở mức độ nhất định của người sử dụng (Đại biểu Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan chức năng của Nhà nước, báo chí và công luận nói chung);

- Đòi hỏi phải được trang bị sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, đồng bộ (hệ thống dữ liệu, công nghệ thông tin, các phương tiện đặc chủng trong lĩnh vực đầu tư - dự án )

2.1.1.5 Vai trò của Kiểm toán nhà nước

Với chức năng xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách; đánh giá tính tuân thủ pháp luật, tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước, vai trò của KTNN thể hiện qua các mặt sau:

Một là, KTNN góp phần quan trọng vào việc phân bổ, sử dụng tiết kiệm, có

hiệu quả các nguồn lực quốc gia; hỗ trợ Quốc hội, Chính phủ thực hiện giám sát và

quản lý tài chính nhà nước

Hai là, KTNN tham gia với Quốc hội trong việc quyết định các chính sách về

Trang 21

tài chính ngân sách, trong việc ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến tài chính, ngân sách Đây chính là hoạt động tư vấn của cơ quan KTNN với Quốc hội Bằng kinh nghiệm kiểm toán, KTNN phát hiện những bất cập trong bản thân các văn bản pháp luật, phát hiện những hiện tượng thực tế phát sinh mà pháp luật chưa điều chỉnh Thông qua đó, kiến nghị với cơ quan lập pháp trong việc ban hành các văn bản pháp luật Trong quyết định các chính sách về tài chính ngân sách của quốc gia, cơ quan KTNN với kinh nghiệm chuyên môn, tư vấn cho Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội để quyết định chính xác, đảm bảo tính khả thi Các ý kiến tham gia của KTNN sẽ tạo nên luồng thông tin đa chiều, làm cơ sở cho việc thảo luận và quyết định

Ba là, KTNN cung cấp các thông tin dữ liệu cho các cơ quan quản lý phục vụ

tốt hơn công tác quản lý NSNN Thông qua kết quả kiểm toán, ngoài việc cung cấp thông tin cho Quốc hội, Chính phủ, KTNN còn cung cấp cho các cơ quan quản lý những yếu kém bất cập trong quản lý NSNN; những đơn vị vi phạm chính sách, chế

độ quản lý NSNN Trên cơ sở đó, các cơ quan quản lý đề ra các biện pháp quản lý thích hợp nhằm quản lý NSNN tốt hơn Đối với những trường hợp vi phạm chính sách, chế độ quản lý NSNN như các khoản trốn lậu thuế, các khoản chi sai chế độ

mà KTNN đã phát hiện, các cơ quan quản lý có biện pháp thu hồi cho NSNN, duy trì trật tự, kỷ cương trong quản lý NSNN

Bốn là, KTNN góp phần cải cách và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của tài chính

công Với vị trí và vai trò là cơ quan kiểm tra tài chính nhà nước, hoạt động độc lập, KTNN có thể có những đóng góp nhiều mặt trong quá trình cải cách tài chính công như: Tham gia ý kiến vào các dự án luật và các văn bản pháp quy về quản lý tài chính nhà nước; tổ chức thực hiện kiểm toán nhằm đảm bảo tính tuân thủ pháp luật

và các quy định trước hết là về tài chính công để đảm bảo tính hiệu lực của pháp luật; mặt khác thông qua đó cũng góp phần đánh giá hiệu lực, hiệu quả của các chính sách, chế độ, giải pháp trong cải cách tài chính công; phát hiện và đề xuất kiến nghị với Nhà nước các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý tài chính công; đồng thời, phát hiện những quy định, những giải pháp kém hiệu lực hoặc bất hợp lý để kiến nghị với Nhà nước hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính công cho phù hợp

Trang 22

2.1.1.6 Phạm vi đối tượng của Kiểm toán nhà nước

Là công cụ giúp cơ quan quyền lực nhà nước thực hiện việc kiểm soát nền tài chính nhà nước, đối tượng của Kiểm toán nhà nước trước hết và đương nhiên là các hoạt động của các cơ quan, đơn vị, tổ chức liên quan tới thu - chi ngân sách và các công quỹ nhà nước, quản lý và sử dụng các nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước, tiền và tài sản nhà nước Nói một cách khác, ở đâu có hoạt động liên quan đến thu, chi quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước, các công quỹ và tài sản nhà nước thì ở

đó phải thực hiện kiểm tra nhà nước Về nguyên tắc, phạm vi của các hoạt động thuộc đối tượng của Kiểm toán nhà nước không bị giới hạn, không có vùng cấm Tuy nhiên, do phạm vi của các hoạt động đó rất rộng lớn và đa dạng, mặt khác do một số yếu tố đặc thù về chính trị - xã hội, pháp luật, ở nhiều nước phạm vi đối tượng của Kiểm toán nhà nước có những giới hạn nhất định, đặc biệt là ở các lĩnh vực nhạy cảm và lĩnh vực tối mật quốc gia (an ninh, quốc phòng)

Điều 5, Luật Kiểm toán nhà nước năm 2005, quy định: “Đối tượng kiểm toán

của Kiểm toán nhà nước là hoạt động có liên quan đến quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước” ( Luật Kiểm toán nhà nước 2005) bao gồm các đơn

vị được kiểm toán sau: các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các

cơ quan khác ở trung ương; các cơ quan được giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách nhà nước các cấp; Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp, cơ quan khác ở địa phương; các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân; các đơn vị quản lý quỹ

dự trữ của Nhà nước; các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp có sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước; các đơn vị sự nghiệp công lập; các ban quản lý dự án đầu tư có nguồn kinh phí ngân sách nhà nước

hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; doanh nghiệp nhà nước

2.1.2 Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp nhà nước

2.1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp, doanh nghiêp nhà nước

Doanh nghiệp (DN) là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch

ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh (Luật doanh nghiệp, 2005)

Dựa theo hình thức sở hữu và cơ cấu tổ chức chia doanh nghiệp thành các loại

Trang 23

sau: Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh, Doanh

nghiệp tư nhân Ngoài ra trong thực tế còn xuất hiện một số loại nhóm công ty liên kết thành các tập đoàn kinh tế, tổng công ty Theo đó: Tập đoàn kinh tế, tổng công ty là nhóm công ty có mối quan hệ với nhau thông qua sở hữu cổ phần, phần vốn góp hoặc liên kết khác Tập đoàn kinh tế, tổng công ty không phải là một loại hình doanh nghiệp, không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký thành lập theo quy định của Luật Tập đoàn kinh tế, tổng công ty có công ty mẹ, công ty con và các công ty thành viên khác Công ty mẹ, công ty con và mỗi công ty thành viên trong tập đoàn kinh tế, tổng công ty có quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp độc lập theo quy định của pháp luật

Theo Luật doanh nghiệp năm 2005 thì “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp

trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ” (Luật doanh nghiệp, 2005) Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) có thể hoạt động theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần Nhiều doanh nghiệp nhà nước có thể liên kết với nhau thành tập đoàn, tổng công ty Theo quy định của Luật KTNN năm 2005 thì doanh nghiệp nhà nước là đối tượng kiểm toán của KTNN

2.1.2.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước

Theo thống kê tại thời điểm ngày 31/12/2011 toàn quốc có 3.265 doanh nghiệp nhà nước, sử dụng 1,66 triệu lao động với tiền lương bình quân 7,53trđ/tháng, 84,2% số doanh nghiệp hoạt động có lãi [20] Bên cạnh các đặc điểm của một doanh nghiệp, doanh nghiệp nhà nước còn có những đặc điểm sau:

* Là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn và trực tiếp thành lập

+ Doanh nghiệp Nhà nước đều do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trực tiếp ký quyết định thành lập khi thấy việc thành lập Doanh nghiệp là cần thiết Việc thành lập doanh nghiệp Nhà nước dựa trên nguyên tắc chỉ thành lập theo những ngành, lĩnh vực then chốt, xương sống của nền kinh tế dựa trên những đòi hỏi thực tiễn của nền kinh tế thời điểm đó và chủ trương của Đảng và ngành nghề lĩnh vực đó

+ Doanh nghiệp Nhà nước do Nhà nước đầu từ vốn nên nó thuộc sở hữu Nhà nước, tài sản của doanh nghiệp Nhà nước là một bộ phận của tài sản Nhà nước Doanh nghiệp Nhà nước sau khi được thành lập là một chủ thể kinh doanh, tuy nhiên chủ thể kinh doanh này không có quyền sở hữu đối với tài sản trong doanh

Trang 24

nghiệp mà chỉ là người quản lý tài sản và kinh doanh trên cơ sở sở hữu của Nhà nước Nhà nước giao vốn cho doanh nghiệp, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc bảo toàn và phát triển vốn mà Nhà nước giao

* Do Nhà nước tổ chức quản lý và hoạt động theo mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao

- Nhà nước quản lý doanh nghiệp Nhà nước thông qua cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền theo phân cấp của Chính phủ Bao gồm những nội dung sau: + Nhà nước quy định mô hình cơ cấu tổ chức quản lý trong từng loại doanh nghiệp Nhà nước phù hợp với quy mô của nó

+ Những quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn của các cơ cấu tổ chức trong doanh nghiệp Nhà nước như hội đồng quản trị, Tổng giám đốc

+ Những quy định thẩm quyền trình tự thủ tục của việc bổ nhiệm miễn nhiệm khen thưởng kỷ luật các chức vụ quan trọng của doanh nghiệp như chủ tịch Hội đồng quản trị

+ Hoạt động của doanh nghiệp chịu sự chi phối của nhà nước về mục tiêu kinh

tế xã hội do nhà nước giao

Nếu Nhà nước giao cho doanh nghiệp Nhà nước nào thực hiện hoạt động công ích thì doanh nghiệp Nhà nước đó phải thực hiện hoạt động công ích nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội

2.1.2.3 Vai trò của doanh nghiệp nhà nước

Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khoá X (2001) và các Nghị quyết của Đảng Chính phủ về doanh nghiệp nhà nước, khu vực doanh nghiệp nhà nước đang được đổi mới, có vai trò chi phối nhiều ngành kinh tế then chốt và tập trung hơn vào lĩnh vực then chốt, thiết yếu, địa bàn quan trọng Hệ thống DNNN đã và đang được đổi mới, sắp xếp lại, góp phần phát triển và nâng cao hiệu quả kinh doanh

DNNN, nhất là các tập đoàn, tổng công ty, đã có đóng góp quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, hình thành các ngành công nghiệp, ngành kinh tế quan trọng, then chốt của nền kinh tế, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nhiều tập đoàn, tổng công ty, có vai trò quan trọng góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tham gia

Trang 25

nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, kết hợp phát triển kinh tế với đảm bảo quốc phòng,

an ninh, chủ quyền quốc gia, thực hiện chính sách an sinh xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai Những năm gần đây, chỉ tính riêng các tập đoàn, tổng công ty trong khối Doanh nghiệp Trung ương nộp NSNN gần 300 nghìn tỷ đồng, chiếm hơn 30% tổng thu NSNN (Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, 2015)

* Xuất phát từ vị trí, tầm quan trong của DNNN đối với nền kinh tế, để nhà nước nắm được thông tin cần thiết về doanh nghiệp, trên cơ sở đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển đúng hướng thì việc thực hiện kiểm toán với DNNN là quan trọng và rất cần thiết

2.1.3 Những vấn đề cơ bản về tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của Kiểm toán nhà nước

2.1.3.1 Khái niệm, vai trò của tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp

Kiểm toán là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về đối tượng kiểm toán do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực Các yếu tố của xác minh và bày tỏ ý kiến là đối chiếu logic, đối chiếu trực tiếp, kiểm kê, thực nghiệm và điều tra Các yếu tố này cần được kết hợp theo một trình tự khoa học phù hợp với đối tượng cụ thể ở một đơn vị được kiểm toán nhất định nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu kiểm toán Tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp là cách kết hợp theo các trình tự khoa học chung giữa các yếu tố trong thực tiễn kiểm toán như quản lý điều hành công tác kiểm toán và tổ chức bộ máy kiểm toán với mục tiêu phát huy hết chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng doanh nghiệp hoặc về sự kiện, thông tin liên quan đến quản lý, điều hành doanh nghiệp do các kiểm toán viên có kỹ năng phù hợp thực hiện trên cơ sở luật pháp hiện hành Mục tiêu này hướng tới việc tạo ra mối liên hệ giữa các phương pháp kỹ thuật kiểm toán dùng để xác minh và bày tỏ ý kiến về đối tượng kiểm toán Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải hiểu biết đầy đủ về các phương pháp kỹ thuật kiểm toán để áp dụng trong từng trường hợp cụ thể và được thực hiện theo quy trình nhất định

Tổ chức tốt công tác kiểm toán là một trong những vấn đề cơ bản quyết định sự thành công và tính hiệu quả đối với từng cuộc kiểm toán doanh nghiệp do kiểm toán

Trang 26

nhà nước thực hiện theo những mục tiêu và đối tượng kiểm toán cụ thể Việc định hướng tốt công tác kiểm toán chính là việc xác định rõ mục tiêu, phạm vi, đối tượng kiểm toán trong từng cuộc kiểm toán để kết hợp khéo léo, linh hoạt và sáng tạo các phương pháp kỹ thuật theo một trình tự logic, khoa học trong cơ sở những khuôn khổ pháp lý nhất định Đây chính là quá trình diễn ra các hoạt động của các kiểm toán viên nhằm thu thập các bằng chứng kiểm toán làm cơ sở cho việc đưa ra các đánh giá và kết luận về đối tượng kiểm toán để lập báo cáo kiểm toán

2.1.3.2 Nội dung tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của Kiểm toán nhà nước

Bên cạnh việc lập kế hoạch kiểm toán năm Đối với mỗi cuộc kiểm toán doanh nghiệp của Kiểm toán nhà nước được tổ chức thực hiện theo một trình tự nhất định, bao gồm 4 bước cơ bản là :

- Chuẩn bị kiểm toán;

- Thực hiện kiểm toán;

- Lập và gửi báo cáo kiểm toán;

- Kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán

Bên cạnh đó, một vấn đề quan trọng trong công tác kiểm toán doanh nghiệp là kiểm soát chất lượng kiểm toán xuyên suốt các bước của trình tự kiểm toán nhằm đảm bảo thực hiện tốt chức năng kiểm toán

Bước 1 Chuẩn bị kiểm toán

Chuẩn bị là bước công việc đầu tiên của công tác kiểm toán nhằm tạo ra tất

cả tiền đề và điều kiện cụ thể trước khi thực hành kiểm toán Đây là công việc có

ý nghĩa quyết định chất lượng kiểm toán Chuẩn bị kiểm toán doanh nghiệp của Kiểm toán nhà nước về cơ bản bao gồm các công việc chủ yếu sau:

Thứ nhất, Khảo sát và thu thập thông tin

Ở bước chuẩn bị, thu thập thông tin chỉ hướng tới việc đưa ra các bước quyết định về kiểm toán (kể cả kế hoạch kiểm toán) mà chưa đặt ra mục đích thu thập bằng chứng cho kết luận kiểm toán Do vậy, nhiệm vụ thu thập thông tin ở bước này cần đặt ra tương ứng với mục tiêu và phạm vị kiểm toán, song cần quan tâm đến chiều rộng hơn là chiều sâu Trong thu thập thông tin, trước hết cần tận dụng tối đa nguồn tài liệu đã có và khi cần thiết vẫn phải có những biện pháp thu thập bổ sung

Trang 27

Thứ hai, Phân tích, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) và các thông tin đã thu thập

Thông tin thu thập được từ bước khảo sát sẽ là cơ sở cho kiểm toán viên (KTV) đánh giá các rủi ro kiểm toán và tính trọng yếu Đây là hai vấn đề quan trọng phải cân nhắc để hình thành kế hoạch kiểm toán phù hợp nhất, hoàn thành mục tiêu kiểm toán với chi phí thấp nhất

Kiểm toán viên được phân công nhiệm vụ, phải thực hiện phân tích đánh giá các thông tin đã thu thập được về doanh nghiệp Đánh giá về môi trường KSNB, hoạt động kiểm soát và các thủ tục kiểm soát, công tác kế toán, kiểm toán, thanh tra

và kiểm tra nội bộ

Đánh giá rủi ro kiểm toán, xác định các đơn vị được kiểm toán, xác định các nội dung trọng tâm kiểm toán

Trong nhiều trường hợp, nguồn thông tin đã có chưa đủ cần tiến hành khảo sát, thu thập bổ sung bằng cách khảo sát tại các đơn vị thông qua phỏng vấn, thu thập tài liệu, quan sát, song cũng ở mức khái quát phục vụ cho việc lập kế hoạch kiểm toán Một trong những vấn đề quan trọng trong lập kế hoạch kiểm toán là nghiên cứu

cơ cấu KSNB của đơn vị được kiểm toán để giúp KTV đánh giá về rủi ro kiểm soát,

đề ra phương pháp kiểm toán thích hợp áp dụng cho cuộc kiểm toán Vì vậy, KTV phải có sự hiểu biết đầy đủ về cơ cấu KSNB để lập kế hoạch kiểm toán Nếu kết quả đánh giá hệ thống KSNB là hoạt động tốt, có độ tin cậy cao thì có thể thu hẹp phạm

vi, khối lượng kiểm toán mà vẫn đảm bảo không bỏ sót những nội dung trọng yếu của cuộc kiểm toán Nghiên cứu và đánh giá hiệu lực của hệ thống KSNB trong quá trình kiểm toán sẽ giúp KTV đánh giá được các rủi ro kiểm soát để lập kế hoạch kiểm toán và sử dụng phương pháp kiểm toán thích hợp Chất lượng của việc đánh giá hệ thống KSNB có ảnh hưởng đến hiệu quả của cuộc kiểm toán về thời gian, chi phí, nhân sự và hạn chế tối đa các rủi ro kiểm toán có thể phát sinh

Thứ ba, Lập kế hoạch kiểm toán

Lập kế hoạch kiểm toán (KHKT) không chỉ xuất phát từ yêu cầu chính của cuộc kiểm toán nhằm chuẩn bị những điều kiện cơ bản trong công tác kiểm toán, cho cuộc kiểm toán mà còn là nguyên tắc cơ bản trong công tác kiểm toán đã được

Trang 28

quy định thành chuẩn mực và đòi hỏi các KTV phải tuân theo đầy đủ nhằm đảm bảo tiến hành công tác kiểm toán có hiệu quả và chất lượng Kế hoạch kiểm toán là quá trình cân đối tích cực giữa nhu cầu và nguồn lực đã có Lập kế hoạch kiểm toán giúp KTV lựa chọn phương pháp kiểm toán thích hợp, hiệu quả để thu thập bằng chứng kiểm toán, bố trí hợp lý các yếu tố nguồn lực và thời gian kiểm toán, thống nhất những hoạt động phối hợp giữa KTV và đơn vị được kiểm toán, nhằm tạo ra các điều kiện cần thiết cho cuộc kiểm toán đảm bảo chất lượng, đúng tiến độ và tiết kiệm Các nội dung chính của kế hoạch kiểm toán:

- Mục tiêu kiểm toán là đích cần đạt tới, đồng thời là thước đo kết quả kiểm

toán cho mỗi cuộc kiểm toán Mục tiêu kiểm toán tùy thuộc vào loại hình kiểm toán

áp dụng là kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ hay kiểm toán hoạt động Trong kiểm toán doanh nghiệp, mục tiêu kiểm toán khi áp dụng kiểm toán báo cáo tài chính là nhằm xác định tính đúng đắn, trung thực của báo cáo, giúp cho KTV đưa ra ý kiến xác nhận rằng báo cáo tài chính được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế

độ kế toán hiện hành được chấp nhận, có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính trên các khía cạnh trọng yếu hay không

- Nội dung kiểm toán: Nội dung kiểm toán bao gồm: Kiểm toán báo cáo tài

chính hợp nhất của Công ty mẹ và các cong ty con, công tác đầu tư xây dựng; trong cuộc kiểm toán tuân thủ còn đánh giá tình hình chấp hành Luật kế toán, các luật thuế và văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan; tình hình chấp hành nội quy, quy chế của đơn vị được kiểm toán Đối với kiểm toán hoạt động, nội dung kiểm toán gồm: Tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ hoạt động; việc đảm bảo, quản lý

và sử dụng các nguồn lực; Hệ thống kiểm soát nội bộ; Các chương trình, dự án; các hoạt động của đơn vị được kiểm toán; tác động của môi trường bên ngoài đối với tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của đơn vị được kiểm toán

- Phạm vi kiểm toán là sự giới hạn về không gian và thời gian của đối tượng kiểm

toán Phạm vi kiểm toán thường được xác định đồng thời với mục tiêu kiểm toán và là một hướng cụ thể hóa mục tiêu này Phạm vi kiểm toán tùy theo đối tượng kiểm toán

và loại hình kiểm toán cụ thể áp dụng Cùng với việc cụ thể hóa về đối tượng kiểm toán, cần cụ thể hóa về khoảng thời gian thuộc phạm vi kiểm toán, có thể liên quan đến

Trang 29

thời kỳ trước, sau có liên quan của sự kiện hay hoạt động của đơn vị Phạm vi và trọng tâm kiểm toán đối với doanh nghiệp là xác định được các đơn vị được kiểm toán, các

cơ quan chức năng trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại doanh nghiệp

- Chỉ định người phụ trách công việc kiểm toán và chuẩn bị các điều kiện vật

chất cơ bản: Căn cứ vào mục tiêu và phạm vi kiểm toán, cần chỉ định trước người

chủ trì cuộc kiểm toán trong kế hoạch kiểm toán được giao Công việc này có thể làm đồng thời với việc xây dựng mục tiêu cụ thể song cần thực hiện trước khi thu thập thông tin Yêu cầu chung của việc chỉ định này là phải có người phụ trách có trình độ tương xứng với mục tiêu, phạm vi kiểm toán và tương xứng với vị trí, yêu cầu, nội dung, đặc thù của cuộc kiểm toán Cùng với việc phân công nhân sự, cần chuẩn bị các thiết bị và điều kiện vật chất khác phục vụ công tác kiểm toán

Bước 2 Thực hiện kiểm toán

Thực hiện kiểm toán là quá trình sử dụng các phương pháp kỹ thuật kiểm toán thích ứng với đối tượng kiểm toán cụ thể để thu thập bằng chứng kiểm toán Đó là quá trình triển khai một cách chủ động và tích cực các kế hoạch kiểm toán chi tiết nhằm đạt được mục tiêu kiểm toán Kế hoạch kiểm toán chi tiết là những dự kiến chi tiết về các công việc kiểm toán cần thực hiện, thời gian hoàn thành và sự phân công lao động giữa các KTV cũng như dự kiến về những tư liệu, thông tin liên quan cần sử dụng và thu thập Xây dựng kế hoạch kiểm toán chi tiết chính là việc xác định số lượng và thứ tự các bước kể từ điểm bắt đầu đến điểm kết thúc công việc kiểm toán Do mỗi phần hành kiểm toán trong kiểm toán doanh nghiệp là rất khác nhau, kiểm toán tại các cơ quan quản lý tổng hợp và kiểm toán tại các đơn vị sử dụng ngân sách hoặc sự khác nhau giữa các loại hình kiểm toán áp dụng do vậy cần phải có những phương pháp kiểm toán riêng cho từng loại nghiệp vụ Trọng tâm của kế hoạch kiểm toán chi tiết là các thủ tục kiểm toán cần thiết thực hiện đối với từng khoản mục hay bộ phận được kiểm toán

Việc xác định nội dung kiểm toán doanh nghiệp phải gắn với chu trình kế toán Việc xác định nội dung kiểm toán phải bao quát được nội dung kiểm toán ở các đầu mối quản lý chính, trong mỗi doanh nghiệp phải bao quát được các chủ thể quản lý Nội dung kiểm toán phải gồm cả doanh thu, chi phí, các khoản thuế và nghĩa vụ

Trang 30

khác với nhà nước trong đó xác định được giá thành sản xuất đối với mỗi loại sản phậm dịch vụ của doanh nghiệp; đánh giá hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản của doanh nghiệp trong ngắn hạn và dài hạn

Do tính chất và quy mô của mỗi cuộc kiểm toán rất khác nhau, vấn đề quan trọng đối với KTV là vận dụng tính trọng yếu kiểm toán trong khi lập kế hoạch kiểm toán chi tiết và thiết kế các thủ tục kiểm toán phù hợp với đặc thù của mỗi cuộc kiểm toán Trong kiểm toán nói chung và kiểm toán doanh nghiệp nói riêng, thực trạng quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính của đơn vị cũng như hiệu quả của các khoản thu, chi, hay hiệu lực của một chính sách quản lý là vấn đề rất rộng và thực tế không thể kiểm toán được tất cả các vấn đề Chính vì vậy, KTNN cần lựa chọn nội dung kiểm toán tối ưu để đánh giá đúng bản chất của đối tượng kiểm toán nhằm đáp ứng yêu cầu của người quan tâm trên cơ sở thực hiện tốt chức năng kiểm toán và đảm bảo hiệu quả của cuộc kiểm toán

Trong bước thực hiện kiểm toán, KTV phải thực hiện một số công việc theo trình tự sau đây: Xác định lại mức độ tin cậy đối với hệ thống KSNB của đơn vị được kiểm toán và lựa chọn mẫu kiểm toán; lập và xét duyệt kế hoạch kiểm toán chi tiết; lựa chọn các phương pháp kỹ thuật kiểm toán thích hợp để kiểm tra nhằm thu thập bằng chứng kiểm toán; ghi chép tài liệu và giấy tờ làm việc; phân tích đánh giá kết quả bằng chứng kiểm toán; trao đổi với đơn vị được kiểm toán; soát xét chất lượng kiểm toán; lập hồ sơ cho giai đoạn thực hiện kiểm toán

Việc thực hiện kiểm toán mang tính khoa học đòi hỏi phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản gồm: phải tuyệt đối tuân thủ kế hoạch chi tiết đã được xây dựng

và điều chỉnh; trong quá trình kiểm toán, KTV phải thường xuyên ghi chép những phát hiện, những nhận định về các nghiệp vụ, sự kiện, con số nhằm thu thập bằng chứng, nhận định cho những đánh giá, kết luận kiểm toán; định kỳ tổng hợp thông tin, phát hiện cho từng cấp kiểm soát hoạt động kiểm toán

Từ đó có thể thấy thực hành kiểm toán là hướng tới bằng chứng cho những ý kiến kết luận kiểm toán Bằng chứng kiểm toán bao gồm các tài liệu, các ghi chép

kế toán, báo cáo tài chính và các thông tin khác có liên quan đến việc kiểm tra của KTV nhằm trợ giúp cho việc hình thành các nhận xét, đánh giá, kết luận và kiến

Trang 31

nghị kiểm toán

Số liệu thể hiện trong báo cáo tài chính được tổng hợp từ một khối lượng lớn các thông tin có nguồn gốc khác nhau, trong khi đó KTV không phải bao giờ có thể kiểm tra được tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, nhưng KTV vẫn có thể kết luận

về các thông tin bằng cách chỉ kiểm tra chọn mẫu Chọn mẫu kiểm toán là việc kiểm tra dưới 100% các khoản mục trong phạm vi số dư của một tài khoản hoặc một nghiệp vụ, giúp KTV thu thập và đánh giá bằng chứng của các số dư, nghiệp vụ

có đặc điểm tương tự như nhau để hình thành các ý kiến kết luận

Sau khi tiến hành chọn mẫu, KTV dùng các phương pháp kỹ thuật để thu thập bằng chứng kiểm toán thích hợp và đầy đủ Các phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán thường được vận dụng trong kiểm toán báo cáo tài chính bao gồm: kiểm tra vật chất, quan sát, điều tra, lấy xác nhận, xác minh tài liệu, tính toán và phân tích Các phương pháp kiểm toán thường áp dụng trong kiểm toán tuân thủ là điều tra hệ thống và kiểm tra chi tiết các tác nghiệp Các phương pháp kiểm toán thường

áp dụng trong kiểm toán hoạt động là kiểm tra các hồ sơ, tài liệu, phỏng vấn, khảo sát, tham khảo ý kiến chuyên gia, kiểm tra, đánh giá quy chế, quy trình kiểm soát, quản lý, phân tích số liệu thống kê, nghiên cứu các trường hợp điển hình, tái lập các

mô hình

Thu thập bằng chứng là khâu rất quan trọng, bằng chứng kiểm toán là nguồn thông tin để lập biên bản kiểm toán, báo cáo kiểm toán và trả lời theo các yêu cầu cần giải trình cho đơn vị được kiểm toán hay bất kỳ bến thứ ba nào và tạo điều kiện cho việc kiểm tra và soát xét chất lượng, làm tài liệu lưu trữ phục vụ cho các kỳ kiểm toán sau tham khảo

Bước 3 Lập và gửi báo cáo kiểm toán

Để kết thúc kiểm toán, KTNN cần đưa ra kết luận và kiến nghị trong báo cáo kiểm toán và công bố báo cáo kiểm toán Báo cáo kiểm toán là sản phẩm của một cuộc kiểm toán, do KTNN phát hành để trình bày đánh giá kết luận của KTV về các thông tin tài chính của đơn vị được kiểm toán dựa trên cơ sở các bằng chứng kiểm toán đã thu thập được Kết luận kiểm toán là sự khái quát hóa kết quả thực hiện các chức năng kiểm toán, vì vậy kết luận kiểm toán phải đảm bảo yêu cầu cả về nội

Trang 32

dung cũng như tính pháp lý Nội dung của kết luận kiểm toán phải phù hợp, đầy đủ trên cơ sở những bằng chứng kiểm toán tương xứng Phải xác nhận được số liệu của báo cáo tài chính của doanh nghiệp được kiểm toán

Bước 4 Kiểm tra việc thực hiện kết luận và kiến nghị kiểm toán

Kiểm tra thực hiện kết luận và kiến nghị kiểm toán là giai đoạn cuối cùng của quy trình kiểm toán, nhằm đảm bảo kết quả của cuộc kiểm toán có tác dụng và hiệu lực trong thực tiễn; đồng thời xác định lại tính đúng đắn của những kiến nghị kiểm toán và nguyên nhân của những sai sót có thể có trong kết luận kiểm toán, từ đó đề

ra giải pháp để khắc phục

Ngoài các bước trong quy trình kiểm toán như đã trình bày ở trên, một vấn đề quan trọng trong công tác kiểm toán chính là kiểm soát chất lượng kiểm toán Kiểm soát chất lượng sẽ giúp cho KTNN thấy rõ thực trạng chất lượng kiểm toán, từ đó

có các biện pháp điều chỉnh, khắc phục những bất hợp lý, hoàn thiện chính sách quản lý, phương pháp làm việc, tăng cường đào tạo, nâng cao trình độ KTV

2.1.4 Yếu tố ảnh hưởng đến công tác kiểm toán doanh nghiệp của KTNN

2.1.4.1 Nhóm yếu tố khách quan

Công cuộc đổi mới đất nước đã tạo nên sự chuyển biến quan trọng trong tất cả các lĩnh vự xã hội Quá trình đổi mới đã đặt ra yêu cầu cấp thiết thành lập Kiểm toán nhà nước, sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cho công tác này thời gian qua tạo điều kiện thuận lợi cho công tác Kiểm toán nhà nước nói chung trong đó có công tác kiểm toán doanh nghiệp của Kiểm toán nhà nước Xét về yếu tố khách quan, các yếu tố sau sẽ ảnh hưởng đến công tác kiểm toán doanh nghiệp của Kiểm toán nhà nước

- Hệ thống pháp luật: Chính sách pháp luật là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến công tác kiểm toán của kiểm toán nhà nước nói chung trong đó có kiểm toán doanh nghiệp Hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động của Kiểm toán nhà nước đầy

đủ, đồng bộ sẽ giúp cho công tác kiểm toán doanh nghiệp của Kiểm toán nhà nước đạt hiệu quả bao gồm các quy định về tổ chức của Kiểm toán nhà nước, các quy định về doanh nghiệp, về hoạt động kinh doanh, quy định về công tác tài chính, kế toán… ảnh hưởng tới công tác kiểm toán doanh nghiệp của kiểm toán nhà nước

Trang 33

- Sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức liên quan: Công tác kiểm toán của Kiểm toán nhà nước là hoạt động mang tính chuyên môn cao hoạt động rộng trên phạm vi toàn quốc, đòi hỏi phải có thông tin đa chiều về tình hình kinh tế xã hội của đất nước; phải có sự phối kết hợp giữa các cơ quan, đơn vị đơn vị được kiểm toán;

cơ quan quản lý: các bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố trong việc chỉ đạo đơn

vị được kiểm toán phối hợp, cung cấp thông tin, tạo điều kiện cho hoạt động kiểm toán; đồng thời yêu cầu các đơn vị thực hiện kiến nghị của kiểm toán nhà nước; và việc sử dụng báo cáo kiểm toán trong quản lý, điều hành của các cơ quan như Quốc hội, Chính phủ, HĐND, UBND các địa phương; sự phối hợp giữa cơ quan thanh tra, kiểm tra và Kiểm toán nhà nước

- Nhận thức của các cấp, các ngành, công chúng và xã hội nói chung về vị trí, vai trò và chức năng, nhiệm vụ của Kiểm toán nhà nước: Việc nhận thức đúng về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Kiểm toán nhà nước sẽ góp phần tạo sự đồng thuận và hợp tác tốt hơn giữa Kiểm toán nhà nước và các đơn vị được kiểm toán cũng như các tổ chức, cá nhân khác

2.1.4.2 Nhóm yếu tố chủ quan

- Chất lượng nguồn nhân lực của Kiểm toán nhà nước

Con người là nhân tố trung tâm trong hoạt động của một tổ chức Đội ngũ công chức kiểm toán viên có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công tác kiểm toán nói chung và kiểm toán doanh nghiệp của KTNN nói riêng Chất lượng đội ngũ kiểm toán viên được thể hiện qua trình độ chuyên môn nghiệp vụ; đạo đức nghề nghiệp của các kiểm toán viên

Công tác kiểm toán của KTNN đòi hỏi đội ngũ công chức, kiểm toán viên phải

có tâm, có tài để không những kiểm tra, đánh giá về công tác quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công của các doanh nghiệp, đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp để từ đó có nghiến nghị phù hợp cho doanh nghiệp cũng như các cơ quan quản lý nhà nước để có chính sách phù hợp Bên cạnh đó các kiểm toán viên cũng là những người công minh, chính trực, không được lợi dụng hoạt động nghề nghiệp để tham ô, nhận hối lộ hoặc có hành vi khác nhằm vụ lợi cho bản thân và gia đình làm ảnh hưởng tới hoạt động kiểm toán

Trang 34

- Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác kiểm toán

Công tác kiểm toán doanh nghiệp của KTNN là hoạt động có tính chuyên môn nghề nghiệp cao mặt khác do đặc thù công tác này nên luôn phải đi công tác xa do

đó đòi hỏi KTNN không ngưng đầu tư phương tiện, trang thiết bị phục vụ cho công tác kiểm toán như thiết bị máy tính, mạng 3G, hệ thống thông tin điện tử để cập nhật, ghi nhật ký điện tử, cập nhật dữ liệu về các đơn vị được kiểm toán… phục vụ đắc lực cho công tác kiểm toán của KTNN Công cụ hỗ trợ cho công tác kiểm toán như phần mềm hỗ trợ kiểm toán các khoản mục trong báo cáo tài chính, phần mềm

hỗ trợ chọn mẫu kiểm toán…

- Quy trình kiểm toán của Kiểm toán nhà nước

Quy trình kiểm toán doanh nghiệp của Kiểm toán nhà nước quy định trình tự, thủ tục tiến hành các công việc của mỗi cuộc kiểm toán Quy trình kiểm toán được xây dựng trên cơ sở quy định của Luật kiểm toán nhà nước, Hệ thống chuẩn mực kiểm toán nhà nước và thực tiễn hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước Việc ban hành quy trình kiểm toán doanh nghiệp phù hợp sẽ bảo đảm tính thống nhất trong việc tổ chức, quản lý hoạt động kiểm toán và kiểm soát chất lượng kiểm toán của Đoàn Kiểm toán nhà nước, Kiểm toán viên và thành viên khác của Đoàn Kiểm toán nhà nước Đồng thời tạo cơ sở pháp lý và khuôn khổ nghề nghiệp để tổ chức các công việc trong một cuộc kiểm toán; các hoạt động của Đoàn kiểm toán và Kiểm toán viên góp phần quan trọng cho chất lượng, hiệu quả công tác kiểm toán doanh nghiệp của Kiểm toán nhà nước

2.2 Kinh nghiệm tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của các nước trên thế giới và của Việt Nam

2.2.1 Kinh nghiệm tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của một số nước trên thế giới

- Tại Trung Quốc, cơ quan kiểm toán được phân cấp từ trung ương đến các huyện, thành phố Công tác kiểm toán doanh nghiệp được Kiểm toán nhà nước thực hiện qua 4 bước là lập kế hoạch kiểm toán thực hiện kiểm toán, phát hành báo cáo kiểm toán và kiểm tra thực hiện kiến nghị kiểm toán (Kiểm toán nhà nước, 2003) Tại mỗi cuộc kiểm toán doanh nghiệp đều được thành lập đoàn kiểm toán, các đoàn

Trang 35

kiểm toán độc lập trong nghiệp vụ kiểm toán và báo cáo kết quả kiểm toán với lãnh đạo đơn vị Mỗi đơn vị trực thuộc được phân công theo dõi và kiểm toán một số doanh nghiệp theo những địa bàn và lĩnh vực nhất định tạo sự chuyên sâu trong chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán của mỗi Kiểm toán viên cũng như mỗi đơn vị trực thuộc Kiểm toán nhà nước Hàng năm KTNN Trung Quốc đều tổ chức tập huấn cho đội ngũ kiểm toán viên về kinh nghiệm kiểm toán và cập nhật, học tập những văn bản pháp luật mới ban hành liên quan đến hoạt động kiểm toán Trong phân công nhiệm vụ phân công chuyên sâu cho các kiểm toán viên, mỗi kiểm toán viên sẽ chuyên sâu về một số nội dung trong báo cáo tài chính như: Chi phí, giá thành, đầu

tư Kiểm toán doanh nghiệp được thực hiện thông qua cả 3 loại hình kiểm toán là kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động Tuy nhiên, loại hình kiểm toán hoạt động vẫn còn nhiều hạn chế và ít được thực hiện

- Tại Lào, Kiểm toán nhà nước được tổ chức thành khối các cơ quan kiểm toán

ở trung ương, các kiểm toán nhà nước ở các khu vực để thực hiện kiểm toán theo nhiệm vụ được phân công Công tác kiểm toán doanh nghiệp của kiểm toán nhà nước Lào cũng được thực hiện theo 4 bước là lập kế hoạch kiểm toán thực hiện kiểm toán, phát hành báo cáo kiểm toán và kiểm tra thực hiện kiến nghị kiểm toán Tại mỗi cuộc kiểm toán doanh nghiệp được cơ cấu theo đoàn kiểm toán trong đó có các tổ kiểm toán, các kiểm toán viên (Kiểm toán Nhà nước, 2003) Việc kiểm toán doanh nghiệp được phân công cho một đơn vị chuyên trách tại Kiểm toán nhà nước

ở trung ương (KTNN chuyên ngành) tương tự như ở Việt Nam; công tác kiểm toán doanh nghiệp của Lào chủ yếu là kiểm toán báo cáo tài chính và kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động hầu như chưa được thực hiện

- Tại Hàn Quốc, nhiệm vụ kiểm toán được lập cùng với thanh tra (Thanh tra kiểm toán) Các doanh nghiệp có vốn nhà nước tại Hàn Quôc rất hạn chế do đó số lượng nhân viên thực hiện kiểm toán doanh nghiệp ít và loại hình kiểm toán hoạt động được thực hiện nhiều để đánh giá tính kinh tế, hiệu lực hiệu quả của các đề án kinh tế và việc sử dụng hiệu quả vốn đầu tư của nhà nước (Kiểm toán Nhà nước, 2003) Một điểm khác biệt nữa là KTNN Hàn Quốc có đội ngũ Kiểm toán viên có trình độ cao và hệ thống thông tin về các doanh nghiệp được kiểm toán được cập

Trang 36

nhật thường xuyên giúp cho kiểm toán viên nắm được tình hình của doanh nghiệp

và không phải mất nhiều thời gian tới đơn vị để thu thập thông tin, thậm trí có thể thực hiện kiểm toán ngay tại trụ sở cơ quan kiểm toán nhà nước Khi cần thiết mới thực hiện xác minh, phỏng vốn hay đối chiếu tại doanh nghiệp được kiểm toán nên không mất nhiều thời gian, nhân lực và kinh phí cho công tác kiểm toán

2.2.2 Tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của các công ty kiểm toán độc lập tại Việt Nam

Qua tìm hiểu việc tổ chức công tác kiểm toán của một số công ty kiểm toán độc lập của Việt Nam như công ty kiểm toán Thăng Long, công ty kiểm toán VACO … cho thấy quy trình kiểm toán của các tổ chức kiểm toán độc lập được thưc hiện thông qua 3 bước gồm:

- Chấp nhận, duy trì khách hàng và lập kế hoạch kiểm toán;

- Thực hiện kiểm toán;

- Kết thúc kiểm toán, lập báo cáo kiểm toán và xử lý sau kiểm toán

Như vậy trình tự tổ chức kiểm toán độc lập cơ bản giống quy trình kiểm toán của KTNN Tuy nhiên, trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán việc khảo sát và thu thập thông tin về đơn vị được kiểm toán được thực hiện thường xuyên do là khách hàng quen thuộc nên các thông tin về đơn vị được kiểm toán thường có sẵn và doanh nghiệp kiểm toán thường thực hiện kiểm toán theo quý, 6 tháng nên các thông tin về kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán được kiểm toán viên nắm

rõ, không mất nhiều thời gian cho việc khảo sát, lập kế hoạch kiểm toán

Quy trình kiểm toán của kiểm toán độc lập không có bước kiểm tra việc thực hiện kiến nghị do hoạt động của kiểm toán độc lập là hoạt động dịch vụ, các kiến nghị đều mang tính chất tư vấn cho doanh nghiệp, không mang giá trị bắt buộc thực hiện đối với các đơn vị được kiểm toán Trong khi đó, KTNN có chức năng kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động đối với cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước, kiến nghị của Kiểm toán nhà nước có giá trị pháp lý, các đơn vị được kiểm toán phải thực hiện

Vì vậy đối với các công ty kiểm toán độc lập không có bước kiểm tra thực hiện kiến nghị kiểm toán

Trang 37

Các kiểm toán viên là những người có chứng chỉ kiểm toán viên hành nghề, có trình độ chuyên môn cao, khi được giao nhiệm vụ kiểm toán thì có thể hoạt động độc lập để đưa ra xác nhận, kiến nghị về lĩnh vực kiểm toán

2.2.3 Bài học kinh nghiệm cho kiểm toán doanh nghiệp của KTNN Việt Nam

Từ thực tiễn công tác kiểm toán doanh nghiệp của một số nước trên thế giới có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho công tác kiểm toán doanh nghiệp của KTNN như sau:

- Cần thường xuyên tập huấn, hướng dẫn các kiểm toán viên nắm vững quy trình, phương pháp chuyên môn nghiệp vụ của KTNN; các chuẩn mực kiểm toán của KTNN để áp dụng trong công tác kiểm toán

- KTNN cần xây dựng cơ sở dữ liệu về các đơn vị được kiểm toán để thuận tiện trong nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ cũng như các thông tin tài chính của đơn vị phục vụ cho việc lập kế hoạch, chuẩn bị kiểm toán nhanh và chất lượng

- Hiện đại hoá công tác kiểm toán, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kiểm toán để rút ngắn thời gian kiểm toán; tăng cường loại hình kiểm toán hoạt động đối với các doanh nghiệp để kịp thời đưa ra ý kiến tư vấn, kiến nghị với các cơ quan chức năng trong quản lý, điều hành doanh nghiệp

2.2.4 Công trình nghiên cứu liên quan

Đề tài cấp bộ của kiểm toán nhà nước về “Xây dựng quy trình kiểm toán doanh nghiệp nhà nước” (Phan Văn Bích, 1997) Đề tài đã đưa ra những vấn đề lý luận và phương pháp luận xây dựng quy trình kiểm toán của kiểm toán nhà nước Trên cơ

sở đánh giá thực trạng công tác kiểm toán doanh nghiệp do Kiểm toán nhà nước thực hiện từ năm 1994 đến năm 1996 để đưa ra kiến nghị xây dựng quy trình kiểm toán doanh nghiệp của Kiểm toán nhà nước Tuy nhiên việc nghiên cứu của đề tài được thực hiện từ những năm mới thành lập Kiểm toán nhà nước, chưa có quy trình kiểm toán doanh nghiệp nên tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp trong thời gian nghiên cứu của đề tài không phù hợp với thực tế hiện nay

Luận án Tiến sỹ kinh tế về “Tổ chức công tác kiểm toán nợ công tại Việt Nam”

(Vũ Thanh Hải, 2013) Luận án đã đưa ra cơ sở lý luận về nợ công; cơ sở kiểm toán

nợ công và kinh nghiệm kiểm toán nợ công trên thế giới từ đó đề xuất giải pháp

Trang 38

hoàn thiện tổ chức công tác kiểm toán nợ công của KTNN Việt Nam Tuy luận án

đã đề cập đến cơ sở lý luận và quy trình tổ chức tực hiện kiểm toán nhưng chưa đề cập tới tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của KTNN

Từ những vấn đề trên cho thấy các nội dung liên quan đến tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của KTNN còn ít được nghiên cứu và thiếu tính hệ thống Các đề tài trên tuy có đề cập đến công tác kiểm toán của KTNN nhưng chưa có

đề tài nào nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ về tổ chức công tác kiểm toán

doanh nghiệp của KTNN Chính vì vậy, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Tổ chức

công tác kiểm toán doanh nghiệp của Kiểm toán nhà nước” làm đề tài tốt nghiệp

thạc sỹ ngành quản tri kinh doanh của mình

Trang 39

3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Giới thiệu về Kiểm toán nhà nước

3.1.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Kiểm toán nhà nước Việt Nam

Ở Việt Nam, Kiểm toán nhà nước được thành lập theo Nghị định số 70/CP ngày 11 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ Đây là cơ quan mới ra đời trong công cuộc đổi mới của đất nước và tiến trình cải cách nền hành chính quốc gia Sự ra đời

và phát triển Kiểm toán nhà nước là một tất yếu khách quan, đánh dấu một bước phát triển mới của hệ thống các công cụ kiểm tra, kiểm soát ở Việt Nam trong điều kiện mới Sự ra đời của Kiểm toán nhà nước khẳng định quyết tâm của Đảng, Nhà nước ta lập lại trật tự, kỷ cương trong quản lý nguồn lực tài chính quốc gia; tăng cường tính minh bạch và công khai nền tài chính đất nước; góp phần thực thi dân chủ xã hội và chống tiêu cực, tham nhũng

Từ khi thành lập đến 01/01/2006 Kiểm toán nhà nước hoạt động theo Điều lệ

tổ chức và hoạt động của Kiểm toán nhà nước ban hành kèm theo Quyết định số 61/TTg ngày 24 tháng 1 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ Từ 01/01/2006 đến nay hoạt động theo Luật kiểm toán nhà nước năm 2005

Theo quy định tại Điều 118 Hiến pháp năm 2013: “1 Kiểm toán nhà nước là

cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công

2 Tổng Kiểm toán nhà nước là người đứng đầu Kiểm toán nhà nước, do Quốc hội bầu Nhiệm kỳ của Tổng Kiểm toán nhà nước do luật định

Tổng Kiểm toán nhà nước chịu trách nhiệm và báo cáo kết quả kiểm toán, báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp chịu trách nhiệm và báo cáo trước Ủy ban thường vụ Quốc hội

3 Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của Kiểm toán nhà nước do luật định” [15]

Với quy định trên, lần đầu tiên KTNN được hiến định trong Hiến pháp, khẳng định sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với KTNN; khẳng định được vị trí, vai trò của KTNN trong xã hội

Trang 40

3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Kiểm toán nhà nước

- Theo quy định của Luật Kiểm toán nhà nước, Kiểm toán nhà nước có chức năng đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị đối với việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công

- Để thực hiện chức năng trên, KTNN có các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 10 của Luật Kiểm toán nhà nước, cụ thể:

1 Quyết định kế hoạch kiểm toán hàng năm và báo cáo Quốc hội trước khi thực hiện

2 Tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm toán hàng năm và thực hiện nhiệm vụ kiểm toán theo yêu cầu của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

3 Xem xét, quyết định việc kiểm toán khi có đề nghị của Hội đồng dân tộc,

Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cơ quan, tổ chức không có trong kế hoạch kiểm toán năm của Kiểm toán nhà nước

4 Trình ý kiến của Kiểm toán nhà nước để Quốc hội xem xét, quyết định dự toán ngân sách nhà nước, quyết định phân bổ ngân sách trung ương, quyết định chủ trương đầu tư chương trình mục tiêu quốc gia, dự án quan trọng quốc gia, phê chuẩn

quyết toán ngân sách nhà nước

5 Tham gia với các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ trong việc xem xét về

dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương, phương án điều chỉnh dự toán ngân sách nhà nước, phương án bố trí ngân sách cho chương trình mục tiêu quốc gia, dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định và quyết toán ngân sách nhà nước

6 Tham gia với các cơ quan của Quốc hội trong hoạt động giám sát việc thực hiện luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường

vụ Quốc hội về lĩnh vực tài chính - ngân sách, giám sát việc thực hiện ngân sách nhà nước và chính sách tài chính khi có yêu cầu

7 Tham gia với các cơ quan của Quốc hội, của Chính phủ, các cơ quan có thẩm quyền trình dự án luật, pháp lệnh khi có yêu cầu trong việc xây dựng và thẩm

Ngày đăng: 17/02/2017, 11:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Văn Bích (1997). Xây dựng quy trình kiểm toán doanh nghiệp nhà nước, đề tài cấp bộ của Kiểm toán nhà nước Hà Nội Khác
2. Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1994). Nghị định số 70/CP về việc thành lập cơ quan Kiểm toán Nhà nước, ngày 11-7 Hà Nội Khác
3. Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2008). Nghị định số 91/2008/NĐ-CP về công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước, Hà Nội Khác
4. Vũ Thanh Hải (2013), Kiểm toán nợ công, Luận án Tiến sỹ, Hà Nội Khác
5. Nguyễn Viết Lợi (2007). Giáo trình lý thuyết kiểm toán Học viện Tài chính, NXB Tài chính Hà Nội Khác
6. Kiểm toán Nhà nước (2003). Luật Kiểm toán nhà nước của một số nước trên thế giới, Tài liệu dịch Hà Nội Khác
7. Kiểm toán Nhà nước (2005). Vai trò của Kiểm toán Nhà nước trong nền kinh tế thị tr- ường, Tài liệu Hội thảo quốc tế Hà Nôi Khác
8. Kiểm toán nhà nước (2012). Quyết định số 04/2012/QĐ-KTNN ban hành quy trình kiểm toán doanh nghiệp của KTNN Hà Nội Khác
9. Kiểm toán Nhà nước (2012a). Báo cáo tổng kết 5 năm thi hành Luật Kiểm toán nhà nước và đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Kiểm toán nhà nước Hà Nội Khác
10. Kiểm toán Nhà nước (2012b). Địa vị pháp lý của Kiểm toán Nhà nước và Tổng Kiểm toán Nhà nước trong Hiến pháp Nước cộng hoà XHCN Việt Nam, Tài liệu Hội thảo quốc tế Hà Nội Khác
11. Kiểm toán nhà nước (2013). Báo cáo kiểm toán năm 2012 Hà Nội 12. Kiểm toán nhà nước (2014a). Báo cáo kiểm toán năm 2013 Hà Nội Khác
13. Kiểm toán Nhà nước (2014b). Kiểm toán Nhà nước Việt Nam - 20 năm xây dựng và phát triển Hà Nội Khác
14. Kiểm toán nhà nước (2015). Báo cáo kiểm toán năm 2014 Hà Nội Khác
15. Nguyễn Quang Quỳnh (2003). Giáo trình lý thuyết kiểm toán Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB Tài chính Hà Nội Khác
16. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1995). Luật Doanh nghiệp nhà nước, Hà Nội Khác
17. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013). Hiến pháp 2013, Hà Nội Khác
18. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015). Luật Kiểm toán nhà nước, Hà Nội Khác
19. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, (2005). Luật Kiểm toán nhà nước, Hà Nội Khác
21. Tổng cục Thống kê (2013). Sự phát triển của doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 – 2011, NXB Thống kê Hà Nội Khác
22. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (2005). Nghị quyết số 916/2005/NQ-UBTVQH11 về tổ chức bộ máy của Kiểm toán Nhà nước, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 3.1. Cơ cấu tổ chức của KTNN - tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của kiểm toán nhà nước
Sơ đồ 3.1. Cơ cấu tổ chức của KTNN (Trang 42)
Bảng 3.1. Tình hình nhân sự của kiểm toán nhà nước trong 3 năm - tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của kiểm toán nhà nước
Bảng 3.1. Tình hình nhân sự của kiểm toán nhà nước trong 3 năm (Trang 45)
Bảng 3.2. Cơ cấu công chức của Kiểm toán nhà nước - tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của kiểm toán nhà nước
Bảng 3.2. Cơ cấu công chức của Kiểm toán nhà nước (Trang 46)
Bảng 3.4. Số tiền Kiểm toán nhà nước kiến nghị xử lý qua các năm - tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của kiểm toán nhà nước
Bảng 3.4. Số tiền Kiểm toán nhà nước kiến nghị xử lý qua các năm (Trang 48)
Sơ đồ 4.2. Cơ cấu tổ chức đoàn KTNN - tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của kiểm toán nhà nước
Sơ đồ 4.2. Cơ cấu tổ chức đoàn KTNN (Trang 58)
Bảng 4.5. Số người tham gia kiểm toán doanh nghiệp từ 2012-2014 - tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của kiểm toán nhà nước
Bảng 4.5. Số người tham gia kiểm toán doanh nghiệp từ 2012-2014 (Trang 59)
Hình tài chính và các thông tin khác; tính hợp lý trong việc đánh giá hệ thống kiểm  soát nội bộ và các thông tin thu thập được; - tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của kiểm toán nhà nước
Hình t ài chính và các thông tin khác; tính hợp lý trong việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và các thông tin thu thập được; (Trang 60)
Bảng 4.7. Tình hình xác nhận số liệu kiểm toán của kiểm toán viên - tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của kiểm toán nhà nước
Bảng 4.7. Tình hình xác nhận số liệu kiểm toán của kiểm toán viên (Trang 63)
Sơ đồ 4.3. Trình tự thực hiện kiểm toán doanh nghiệp của KTNN - tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của kiểm toán nhà nước
Sơ đồ 4.3. Trình tự thực hiện kiểm toán doanh nghiệp của KTNN (Trang 64)
Bảng 4.8. Số tiền Kiểm toán nhà nước phát hiện sai phạm và kiến nghị - tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của kiểm toán nhà nước
Bảng 4.8. Số tiền Kiểm toán nhà nước phát hiện sai phạm và kiến nghị (Trang 65)
Sơ đồ 4.4. Quy trình lập, xét duyệt và gửi báo cáo kiểm toán của KTNN - tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của kiểm toán nhà nước
Sơ đồ 4.4. Quy trình lập, xét duyệt và gửi báo cáo kiểm toán của KTNN (Trang 69)
Bảng 4.12  cho  thấy:  Số ý  kiến  thẩm định  đối  với các dự thảo  BCKT  năm - tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của kiểm toán nhà nước
Bảng 4.12 cho thấy: Số ý kiến thẩm định đối với các dự thảo BCKT năm (Trang 70)
Bảng 4.13. Tình hình thẩm định dự thảo báo cáo kiểm toán của - tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của kiểm toán nhà nước
Bảng 4.13. Tình hình thẩm định dự thảo báo cáo kiểm toán của (Trang 71)
Bảng 4.14. Tình hình kiểm tra thực hiện kiểm nghị kiểm toán - tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của kiểm toán nhà nước
Bảng 4.14. Tình hình kiểm tra thực hiện kiểm nghị kiểm toán (Trang 73)
Bảng 4.15. Kết quả thực hiện kiến nghị kiểm toán qua các năm - tổ chức công tác kiểm toán doanh nghiệp của kiểm toán nhà nước
Bảng 4.15. Kết quả thực hiện kiến nghị kiểm toán qua các năm (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w