1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò tại tỉnh sekong chdcnd lào và ứng dụng một số phác đồ điều trị bệnh

68 450 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 2,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

v 3.3.2 Kiểm tra một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập được ở trâu, bò tại tỉnh Sê Kong 453.4 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

PHOUVONG BOUPHAPHANH

TÌNH HÌNH BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG TRÂU BÒ TẠI TỈNH SEKONG - CHDCND LÀO VÀ ỨNG DỤNG MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

PHOUVONG BOUPHAPHANH

TÌNH HÌNH BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG TRÂU BÒ TẠI TỈNH SEKONG - CHDCND LÀO VÀ ỨNG DỤNG MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

PHOUVONG BOUPHAPHANH

Trang 4

ii

LỜI CÁM ƠN

Luận văn này được thực hiện và hoàn thành , tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới PGS TS.Nguyễn Bá Hiên, Bộ môn Vi sinh vật - Truyền nhiễm, Khoa Thú y- HọcViện Nông Nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành tốt luận văn

Tôi xin ghi nhận sự giúp đỡ qúy báu của tập thể các thầy, cô giáo Bộ môn

Vi sinh vật - Truyền nhiễm, Khoa Thú y , Ban chủ nhiệm Khoa Thú y, Ban Quản

lý đào tạo - Học Viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và hoàn thành luận văn đúng tiến độ

Luận văn này được thực hiện với sự hỗ trợ của lãnh đạo, cán bộ của Sở Nông- Lâm Nghiệp và cán bộ chi cục thú y, phòng Nông- Lâm Nghiệp của các Huyện Tỉnh Sê Kong CHDCND- Lào giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong qúa trình thực hiện luận văn Tôi xin trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ qúy bấu đó

Trong thời gian nghiên cứu đề tài tôi cũng nhận được sự hỗ trợ và giúp đỡ tận tình từ lãnh đạo đến cán bộ phòng thí nghiệm khám chứa bệnh gia súc gia cầm Thành phố Pak Sê Tinh Chăm Pa Sắk CHDCND - Lào, Sự giúp đỡ nhiệt tình của của lãnh đạo và cán bộ Thú y Thủ Đô Viêng Chăn CHDCND-Lào đã tạo điều kiện thuận lợi và thời gian giúp đỡ tôi trong qúa trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tôi xin trân thành cảm ơn

Hà Nội, Ngày tháng Năm 2015

Tác giả luận văn

PHOUVONG BOUPHAPHANH

Trang 5

1.1 Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò trên thế giới và ở chdcnd lào 31.1.1 Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò trên thế giới 31.1.2 Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò ở CHDCND Lào 5

1.2.1 Vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng trâu bò 71.2.2 Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng trâu bò 151.2.3 Triệu chứng và bệnh tích bệnh tụ huyết trùng trâu bò 18

1.2.5 Phòng và điều trị bệnh tụ huyết trùng 22CHƯƠNG 2 NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

2.2.1 Điều tra tình hình chăn nuôi trâu bò ở tỉnh Sê Kong 252.2.2 Điều tra tình hình bệnh và tiêm phòng vacxin tụ huyết trùng

Trang 6

2.2.3 Phân lập vi khuẩn Pasteurella multocida ở trâu, bò tại tỉnh

2.2.4 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tụ huyết trùng trâu, bò

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học 27

2.4.3 Phương pháp phân lập vi khuẩn Pasteurella multocida 282.4.4 Kiểm tra tính mẫn cảm của vi khuẩn với kháng sinh 292.4.5 Phương pháp thử nghiệm phác đồ điều trị 30

3.1 Tình hình chăn nuôi trâu, bò ở tỉnh sê kong 313.1.1 Một số điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Sê Kong 313.1.2 Tình hình chăn nuôi trâu bò, ở tỉnh Sê Kong 333.2 Tình hình bệnh và tiêm phòng vacxin tụ huyết trùng trâu, bò ở

3.2.1 Tình hình bệnh trên đàn trâu bò nuôi tại tỉnh Sê Kong 333.2.2 Tình hình bệnh tụ huyết trùng trên đàn trâu, bò nuôi tại tỉnh

3.2.3 Tình hình tiêm phòng vacxin bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại

3.3 Phân lập vi khuẩn Pasteurella multocida ở trâu, bò nuôi tại tỉnh

3.3.1 Phân lập vi khuẩn Pasteurella multocida ở trâu, bò ở tỉnh

Trang 7

v

3.3.2 Kiểm tra một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Pasteurella

multocida phân lập được ở trâu, bò tại tỉnh Sê Kong 453.4 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại tỉnh

3.4.1 Xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của vi khuẩn

3.4.2 Thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh tụ huyết trùng trâu

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ADN Acid deoxyribonucleic

AGPT Agar gel precipitation test

ARN Acid ribonucleic

B trehalosi Bibersteinia trehalosi

CHDCND Cộng hòa Dân chủ Nhân dân

ELISA Enzyme-Linked ImmunoSorbent Assay

FAO Food and Agricultural Organization

HS Haemorrhagic Septicaemia

IHA Indirect Haemaglutination test

M haemolytica Mannheimia haemolytica

OIE Office International des Epizooties PCR Polymerase chain reaction

P multocida Pasteurella multocida

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

1.1 Tình hình bệnh Tụ huyết trùng trâu bò trên thế giới giai đoạn 2005-2015 5

1.2 Phân biệt một số Pasteurella và Mannheimia gây bệnh chính 13

3.1 Tình hình chăn nuôi trâu bò ở tỉnh Sê Kong năm 2011 - 2015 33

3.2 Tình hình bệnh trâu, bò ở tỉnh Sê Kong từ năm 2011 đến 2015 34

3.3 Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở tỉnh Sê Kong từ năm 2011

3.4 Tình hình bệnh Tụ huyết trùng ở trâu nuôi tại tỉnh Sê Kong năm

3.5 Tình hình bệnh Tụ huyết trùng ở bò nuôi tại tỉnh Sê Kong năm

3.6 Tình hình tiêm phòng vacxin bệnh Tụ huyết trùng trâu bò tại tỉnh

3.7 Kết quả phân lập Pasteurella multocida ở trâu tại tỉnh Sê kong 43

3.8 Kết quả phân lập Pasteurella multocida ở bò tại tỉnh Sê kong 44

3.9 Kết quả kiểm tra một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Pasteurella

3.10 Kết quả kiểm tra một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Pasteurella

3.11 Kết quả kiểm tra tính mẫn cảm với kháng sinh của vi khuẩn

3.12 Phác đồ điều trị bệnh Tụ huyết trùng trâu bò ở tỉnh Sê kong 49

3.13 Kết quả điều trị bệnh Tụ huyết trùng ở trâu tại tỉnh Sê Kong 50

3.14 Kết quả điều trị bệnh Tụ huyết trùng ở bò tại tỉnh Sê Kong 50

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

1.1 Tình hình bệnh Tụ huyết trùng trâu bò ở Lào năm 2011 và 2015 6

3.3 Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở Sê Kong 2011-2015 37

3.6 Tỷ lệ phân lập vi khuẩn Pasteurella multocida ở trâu 43

3.7 Tỷ lệ phân lập vi khuẩn Pasteurella multocida ở bò 44

Trang 11

1

MỞ ĐẦU

Đặt vấn đề

Bệnh tụ huyết trùng (Pasteurellosis) là môt bệnh truyền nhiễm cấp tính

gây bệnh cho nhiều loài gia súc, gia cầm Trong đó có trâu, bò bị bệnh với những biểu hiện sốt cao, mệt mỏi, khó thở, giảm ăn hoặc bỏ ăn, chướng bụng gây những thiệt hại đáng kể cho nền kinh tế nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng

Chăn nuôi trâu, bò đang là môt ngành quan trọng trong nền nông nghiệp Lào Chăn nuôi trâu, bò hàng năm cung cấp một lượng sức kéo và lượng phân bón cho trổng trọt, cung cấp rất lớn nguổn thực phẩm như: thịt, sữa có chất lượng

và giá trị dinh dưỡng cao cho xã hội tiêu dùng

Chăn nuôi trâu, bò muốn phát triển tốt và cho hiệu quả kinh tế, ngoài công tác giống, thức ăn, quản lý chăm sóc thì công tác phòng chống dịch bệnh

là rất quan trọng Do đặc điểm của từng vùng, từng khu vực và từng địa phương, do nhiều yếu tố và nguyên nhân khác nhau nên vẫn còn một số bệnh truyền nhiễm xẩy ra như bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đã gây thiệt hại lớn về kinh tế cho nhân dân

Ở Lào, bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đã được xác định có mặt ở hầu hết các địa phương trong cả nước (Cục Thú y và Thủy sản, 2003) Chính vì vậy bệnh này luôn được xác định là đối tượng nghiên cứu của ngành thú y trong những năm qua, hiện tại và những năm tiếp theo

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh tụ huyết trùng và phân lập vi

khuẩn Pasteurella nhưng nó chỉ mang tính chất vùng, miền đại diện cho khu vực

chứ chưa đại diện chung cho toàn bộ được

Do đặc điểm dịch tễ học của bệnh phức tạp, nguồn gieo rắc mầm bệnh là động vật khoẻ mang trùng vẫn chưa được làm sáng tỏ, gặp điều kiện thuận lợi bệnh phát ra ồ ạt hoặc phát ra lẻ tẻ theo từng địa phương Bởi vậy việc nghiên cứu tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu, bò trên cả nước và phân lập vi khuẩn

Trang 12

ốm, chết số lượng đáng kể trâu, bò của địa phương và đã trở thành vấn đề bức

xúc, cần được nghiên cứu Vì lẽ đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò tại tỉnh Sekong - CHDCND Lào và ứng dụng một số phác đồ điều trị bệnh”

Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định một được số đặc điểm dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng trâu bò tại tình Sekong – CHDCND Lào

- Phân lập và xác định được một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Pasteurella gây bệnh tụ huyết trùng trâu bò

- Ứng dụng một số phác đồ điều trị bệnh tụ huyết trùng trâu, bò có hiệu quả

Trang 13

3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò trên thế giới và ở CHDCND- lào

1.1.1 Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò trên thế giới

Bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đã được Bollinger phát hiện trong năm 1878 tại nước Đức Năm 1885, Kitt đã phân lập vi khuẩn tụ huyết trùng ở bò, nghiên cứu vi khuẩn gây bệnh ở các loài gia súc, thấy sự giống nhau về tính chất gây bệnh, nhưng tương đổng về kháng nguyên ở các loài có khác nhau và đặt tên là

Pasteurella để ghi nhớ công lao của người đầu tiên nghiên cứu phát hiện ra loại

vi khuẩn

Theo Luis Pasteur, người có nhiều đóng góp vào nghiên cứu phát hiện ra loại vi khuẩn này, năm 1887 Trevisan đã đề nghị đặt tên cho vi khuẩn là

Pasteurella (De Alwis, 1992) Do Pasteurella gây bệnh cho nhiều loài gia súc,

gia cầm nên tên của vi khuẩn, theo những năm trước đây, được gắn liền với tên của loài vật mà chúng gây bệnh vi khuẩn gây bệnh phân lập từ bò được gọi tên

là Pasteurella boviseptica, từ lợn là Pasteurella suiseptica Rosenbush and Merchant (1939) đề nghị đặt tên cho vi khuẩn là Pasteurella multocida, và tên này được gọi cho đến nay Bệnh do Pasteurella multocida gây ra thường ở hai

thể chủ yếu nhiễm trùng máu - xuất huyết (Haemorrhagic Septicaemia - HS) và viêm phổi ở bò (Bovine Pneumonia) Thể nhiễm trùng máu - xuất huyết thấy ở

trâu, bò các nước châu Á và châu Phi (Bain et al, 1982)

Từ năm 1887 đến nay bệnh đã được phát hiện ở nhiều nước trên thế giới thuộc khắp các châu lục

Châu Phi: Theo những báo cáo trước đây, tụ huyết trùng xẩy ra không lớn bởi số lượng trâu, bò ít Theo De Alwis (1999), bệnh tụ huyết trùng đã có ở vùng Bắc Phi, Trung Phi, Đông châu Phi và cả Nam châu Phi Những năm gần đây, bệnh được phát hiện ở nhiều nước thuộc châu lục này Tại Đông Phi, bệnh xuất hiện ở Eritrea vào tháng 6/2009 Tại Nam Phi, bệnh xuất hiện ở South Africa vào tháng 11/2011 Tại Tây Phi, bệnh xuất hiện ở Ghana, Niger và Sierra Leone vào

Trang 14

4

tháng 10/2010, tháng 12/2013 và tháng 12/2014 Bệnh cũng đã xuất hiện ở trâu

bò hoang dã tại Sierra Leone vào tháng 12/2014 (OIE, 2015a)

Châu Mỹ: bệnh xẩy ra ở bò rừng tại các công viên quốc gia trong các năm

1912, 1922, 1966, 1967; ở bò sữa năm 1969 và ở bò thịt vùng California năm

1993 Cùng năm 1993, ổ dịch tụ huyết trùng xẩy ra ở bò tại Canada Bệnh xẩy ra tại một số nước Nam Mỹ, nơi có mât độ trâu cao và các điều kiện tự nhiên tương

tự như các vùng nhiệt đới của châu Á Bệnh xuất hiện ở Colombia vào tháng 10/2007 (OIE, 2015a)

Châu Á: bệnh tụ huyết trùng đã xẩy ra ở trâu bò nuôi tại các nước Nam Á

và Đông Nam Á:

Nam Á: Theo FAO (1991), những vụ dịch xẩy ra lớn ở Ấn Độ, vào các năm từ 1936 - 1974 hằng năm có tới vài trăm ổ dịch tụ huyết trùng, hơn 40 nghìn gia súc chết mỗi năm, năm 1950 số gia súc chết rất lớn lên đến gần 60 ngàn con Tại Iran bệnh được thông báo năm 1930 Dulta và cộng sự (1990) đánh giá 4 thâp

kỷ đối với Ấn Độ, bệnh tụ huyết trùng đã làm chết 46 - 55% trong tổng số bò chết do các loại bệnh gây cho đàn trâu, bò De Alwis (1999), Dulta và cộng sự (1990) đã phân tích tình hình dịch bệnh xẩy ra ở đàn trâu, bò của Ấn Độ từ năm

1974 - 1986 cho thấy bệnh tụ huyết trùng có tỷ lệ chết cao nhất và lây lan thứ hai khi so sánh với các bệnh khác như lở mồm long móng, nhiệt thán, ung khí thán Đông Nam Á: bao gồm Indonesia, Philippin, Thái Lan và Malaysia Bệnh cũng đã xuất hiện ở Malaysia vào tháng 6/2012 Thái Lan số lượng trâu bò rất lớn nhưng dịch phát ra ở mức độ thấp

Philippin, trong năm 1990 đã có 1057 con bò chết trong tổng số 14.331 con mắc bệnh tụ huyết trùng trên tổng số đàn bò là 1,67 triệu con Số trâu chết

1725 con trong số 17.720 con mắc bệnh tụ huyết trùng, trên tổng số đàn trâu là 2,66 triệu con

Châu Âu những năm gần đây cũng đã phát hiện những ổ dịch tụ huyết trùng trâu bò cả ở trâu bò nuôi lẫn trâu bò hoang dã Bệnh đã xuất hiện ở Latvia tháng 12/2102, tại Azerbaijan trên trâu bò hoang dã vào năm 2009 và xuất hiện ở

Trang 15

5

trâu bò nuôi vào tháng 6/2014 Tại Ý, bệnh xuất hiện ở trâu bò nuôi vào 6/2007

và trên trâu bò hoang vào 6/2014

Bảng 1.1 Tình hình bệnh Tụ huyết trùng trâu bò trên thế giới giai đoạn

2005-2015

Trâu bò nuôi Trâu bò hoang dã

(Nguồn: OIE, 2015a http://www.oie.int/wahis_2/public/wahid.php/Diseaseinformation/statuslist)

1.1.2 Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò ở CHDCND Lào

Bệnh tụ huyết trùng trên gia súc ở Lào được phát hiện từ những năm cuối thế kỷ 20 bởi các nhà nghiên cứu người Ấn Độ Misra R.P (1987) đã thông báo

về bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở các tỉnh miền Bắc, miền Trung và miền Nam giai đoạn1979 - 1986 Bệnh xảy ra ở các tỉnh miền Bắc như: Siêng Khuang, Say Nha Bu Ly, Luang Năm Tha, Luang Pha Bang các hàng năm trâu, bò chết trung bình 80 - 120 con / năm trên toàn miền Bắc Lào

Bệnh xảy ra các tỉnh miền Trung vào các năm1982 - 1985, hàng năm có nhiều trâu, bò chết 80 - 90 con/ năm, theo Som May (1986) Sinh Khăm (1998) cho biết bệnh xảy ra ở các tỉnh miền Trung vào các năm 1982 - 1985, hàng năm

Trang 16

Theo Bun Mi (2005), bệnh tụ huyết trùng xảy ra ở tỉnh Xay Nha Bu Ly vào các năm 2003 - 2004 có nhiều trâu, bò chết (175 con /năm)

Theo Bun Lom (2005), ở tỉnh Siêng Khoang từ năm 2004 bệnh tụ huyết trùng xảy ra làm trâu, bò chết (96 con /năm)

Theo Khăm Phon (1996), bệnh thường xảy ra ở những vùng ẩm thấp, khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, đặc biệt là vào đầu mùa mưa hoặc sau những trận mưa rào đột ngột và vào các giai đoạn chuyển mùa Tại Việt Nam Đỗ Văn Được (1999) nghiên cứu ở Lạng Sơn cho thấy vùng núi đất, có độ dốc lớn, nhiệt độ thấp, độ ẩm cao, tập quán chăn nuôi còn lạc hậu, chăn thả tự do tỷ lê trâu, bò nhiễm bệnh và chết do bệnh viêm phổi cao Các nghiên cứu ở miền Bắc tỉnh Xay Nha Bó Ly của Bun Lom (2003) cho biết ở vùng đổi núi thấp, tỷ lê trâu bò nhiễm bệnh tụ huyết trùng và chết cao Các kết quả nghiên cứu trên thế giới và Lào đều cho thấy rằng bệnh tụ huyết trùng mang tính chất vùng miền (vùng địa lý) rất rõ Ở Lào, các nghiên cứu cũng cho thấy bệnh tụ huyết trùng trâu, bò thường xẩy ra ở những vùng đất trũng, khí hậu nóng và ẩm ướt, theo Cục Thú y và Thuỷ sản (2003)

Hình 1.1 Tình hình bệnh Tụ huyết trùng trâu bò ở Lào năm 2011 và 2015

(Nguồn: OIE Disease distribution map, 2015b)

Trang 17

1.2 Bệnh tụ huyết trùng trâu bò

Bệnh tụ huyết trùng trâu bò (Pasteurellosis bovum) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính ở trâu, bò do cầu trực khuẩn Pasteurella multocida (P multocida)

thuộc các typ A, B, D, E gây ra Các biểu hiện đặc trưng: tụ huyết và xuất huyết

ở những vùng đặc biệt trên cơ thể, vi khuẩn thường xâm nhập vào máu gây bại huyết; vì vậy tên bệnh còn được gọi là bệnh bại huyết - xuất huyết

(Haemorrhagic septicaemia - HS) ở trâu, bò

1.2.1 Vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng trâu bò

1.2.1.1 Phân loại

Họ Pasteurellaceae gồm 15 chi, 7 chi trong số đó là những vi khuẩn rất quan trọng đối với thú y: Actinobacillus, Avibacterium, Haemophilus,

Histophilus, Mannheimia, Pasteurella và Bibersteinia (Quinn và cộng sự, 2011)

Những chi họ này có một số đặc điểm chung, một vài vi khuẩn được tái phân loại

dựa vào những nghiên cứu giải trình tự gen 16s RNA Pasteurella trehalosi ( trước đây được gọi là Pasteurella haemolytica biotype T) đã được xếp loại lại thành Bibersteinia trehalosi (Blackall và cộng sự, 2007) Những chủng vi khuẩn

P haemolytica được phân lập trước đây và từng cho là thuộc nhóm biotype A thì

đã được xếp vào một nhánh mới và đặt tên lại là Mannheimia

haemolytica (Sneath and Stevens, 1990) Pasteurella multocida, B trehalosi và M haemolyticaare là những chủng gây bệnh chính cho động vật Các chi họ Actinobacillus, Histophilus và Haemophilus cũng có một số vi khuẩn gây bệnh cho động vật Một vài Pasteurella và Mannheimia khác được

phân lập từ động vật nuôi và người

Pasteurella multocida serotype B:2 gây bệnh ở khu vực châu Á, Trung

Trang 18

8

Đông và một số khu vực thuộc Nam Âu trong khi serotype E:2 gây bệnh ở châu Phi Tuy nhiên những năm gần đây serotype E ít được phát hiện ở châu Phi mà

thấy có sự lưu hành của type B (Dziva et al., 2008)

Quinn và cộng sự (2011) đã tổng hợp và phân loại một số vi khuẩn thuộc

họ Pasteurellaceae gây bệnh cho trâu bò Trong đó chủ yếu là P multocida type

A, B và E gây bệnh cho trâu bò nhưng type A liên quan nhiều với bệnh viêm

phổi địa phương, Mannheimia haemolytica gây bệnh cho trâu bò ở dạng viêm

phổi Ngoài ra có một số khác cũng gây bệnh cho trâu bò nhưng hiếm gặp như:

M granulomatis và P lymphangitidis

1.2.1.2 Đặc điểm hình thái

P.multocida là vi khuẩn gram âm, trong môi trường nuôi cấy mới và tổ chức động vật vi khuẩn bắt màu lưỡng cực đặc trưng khi nhuộm với Leishman hoặc xanh methylene Nếu nuôi cấy trong môi trường nhân tạo thì ít thấy tính chất này Manniger (1919) giải thích tính lưỡng cực của vi khuẩn là do tế bào vi khuẩn đang ở giai đoạn sinh sản, trước khi phân chia các tế bào phát triển trong động vật hay trong môi trường nuôi cấy; để lâu vi khuẩn tăng lên về kích thước, nguyên sinh chất tập trung ở hai đầu tế bào nên khi nhuộm thấy dạng khuẩn lưỡng cực, phần thân tế bào không bắt màu

Vi khuẩn P.multocida là loài hiếu khí hay yếm khí tuỳ tiên có dạng cầu

trực khuẩn bắt màu gram âm và có kích thước nhỏ (0,2 x 1-2 µm) Vi khuẩn có giáp mô không sinh nha bào và bắt màu lưỡng cực, vi khuẩn có thể đứng riêng lẻ hoặc đứng thành đôi Theo Smith (1959) kích thước và hình thái của vi khuẩn có

sự thay đổi phụ thuộc vào nguổn gốc của chúng

Vi khuẩn phân lập từ bò có kích thước đồng nhất 0,5 µm - 1,2 µm Carter (1967) cho rằng tính đa dạng của vi khuẩn liên quan đến điều kiện nuôi cấy thiếu oxy Vi khuẩn thường đổng nhất trong máu đông vật, trong môi trường nuôi cấy

vi khuẩn thường có nhiều hình dạng như hình trứng, hình cầu

Theo Rosenbush và Merchant (1939) khi nuôi cấy vi khuẩn trong môi trường có thêm cacbon vi khuẩn thường mọc thành chuỗi, hình thái của vi khuẩn

Trang 19

9

còn thay đổi theo hình thái của nó, kích thước của vi khuẩn có giáp mô còn lớn hơn vi khuẩn không giáp mô

1.2.1.3 Đặc tính nuôi cấy của vi khuẩn trên các môi trường

Vi khuẩn P.multocida có thể nuôi cấy ở nhiều loại môi trường: thể lỏng,

thể đặc hoặc bán cố thể, môi trường có thể cho thêm chất kích thích

P.multocida phát triển ức chế các loại vi khuẩn khác, tuỳ vào mục đích nghiên cứu mà cho thêm vào môi trường các loại đường, axit amin và các hoá chất khác nhau để đánh giá vi khuẩn

Trong môi trường nước thịt Hotinger hoặc Martin sau khi nuôi cấy 24 giờ,

P.multocida phát triển làm đục nhẹ môi trường, khi lắc nhẹ có vẩn đục như sương mù sau đó mất dần Nếu để quá 24 giờ dưới đáy có lắng cặn nhầy và bên trên có màng mỏng

Carter (1952) cho biết trong môi trường nước thịt Hotinger hoặc Martin

sau khi nuôi cấy 24 giờ P.multocida mọc tốt làm đục môi trường, tạo mùi đặc

trưng, khi nuôi cấy vi khuẩn lâu, mùi tanh này mất dần Vi khuẩn thoái hoá nhanh sau khi phân lập và nuôi giữ trên môi trường dinh dưỡng Carter (1967) Moriss (1959) đã đưa ra một môi trường chọn lọc có cho thêm neomycine (2,5 mg/l) để nuôi cấy và phân lập vi khuẩn từ các mẫu bị tạp khuẩn Neomycine có

tác dụng ngăn chặn sự phát triển của P pseudotuberculosis mà vẫn cho phép P

mutocida phát triển

Theo Namioka và Murata (1961a) môi trường nuôi cấy tốt nhất cho vi

khuẩn P multocida là môi trường YPC (Yeast extract Pepton, L.cystine) có thêm

Sucrose và Sodium sunfate Đây cũng là môi trường giúp tái tạo mô của vi khuẩn Prince (1969) cũng cho rằng tính chất kháng nguyên của vi khuẩn tăng lên rõ ràng khi được nuôi cấy ở môi trường YPC này có bổ xung thêm máu Nhưng Jordan (1982) lưu ý rằng máu có thể được thay thế bằng Hematin, Sodium sunfat Để làm tăng số lượng khuẩn lạc trên môi trường rắn có thể cho thêm Pantothenate, Thiamin và L.cystine Moriss (1959) đã đưa ra một môi trường chọn lọc để nuôi cấy và phân lập vi khuẩn từ các mẫu tạp khuẩn và cho thêm kháng sinh

Neomycine có tác dụng ngăn chặn sự phát triển của P pseudotubecculosis để vi

Trang 20

khuẩn P.multocida phát triển

Theo Namioka và Murata (1961b) môi trường để phân lập, nuôi giữ và thu hoạch kháng nguyên, môi trường giữ giống tươi và đông khô dùng cho vi khuẩn

P.multocida như sau: Môi trường phân lập, môi trường thạch có thêm 5% - 10% huyết thanh thỏ hoặc ngựa

Môi trường nuôi cấy và thu hoạch kháng nguyên: môi trường YPC thạch, môi trường này giúp phục hổi những khuẩn lạc thoái hoá và thu được những kháng nguyên có chất lượng dùng trong các phản ứng sinh hoá và định type vi khuẩn Khi giữ giống tươi có thể dùng môi trường này đậy nút kín ở 40C giữ được 2 - 3 tuần

Để đông khô giữ giống: dùng môi trường YPC không cho thạch mà cho thêm 1,0 gam sucarose 1,0 gam sodium glutamic, vi khuẩn ở dạng đông khô có thể giữ được10 năm trong điều kiên 40C

Trong quá trình nuôi cấy vi khuẩn ở môi trường lỏng, người ta có thể dùng phương pháp sục khí, để tăng cường sự phát triển của vi khuẩn

P.multocida. Khi so sánh 2 phương pháp nuôi: sục khí và cấy tĩnh thấy số lượng

vi khuẩn tăng lên gấp 20 lần ở cùng loại môi trường, người ta áp dụng phương pháp nuôi cấy này để tăng số lượng vi khuẩn trong 1ml canh trùng và để rút ngắn thời gian nuôi cấy trong sản xuất vacxin phòng bênh

Theo Carter (1952), trong môi trường nước thịt, vi khuẩn P.multocida

mọc tốt tạo mùi tanh đặc trưng, mùi tanh đặc trưng này thể hiên rõ nhất ở pha phát triển nhanh Sau khi nuôi cấy lâu, mùi tanh này mất dần

Nuôi cấy trên môi trường thạch thường ở 370C sau 24 giờ vi khuẩn

P.multocida phát triển thành các dạng khuẩn lạc sau:

- Dạng S (Smooth) khuẩn lạc có mặt vổng trơn bóng loáng, dung quang sắc cầu vổng, đôc lực mạnh, vi khuẩn thuôc dạng khuẩn lạc này, thường tạo lớp giáp mô nhiều hơn loại xù xì

- Dạng M (Mucoid) khuẩn lạc nhầy ướt, kích thước to nhất dung quang sắc cầu vổng, đôc lực yếu hơn dạng S

- Dạng R (Rough) khuẩn lạc dẹt rìa nhám, xù xì, dung quang màu xanh, dạng này đôc lực yếu

Trang 21

vi khuẩn P.multocida Khi nuôi cấy vi khuẩn P.multocida phát triển thành khuẩn

lạc nhỏ, rìa gọn, xung quanh mép rìa khuẩn lạc có hiên tượng phát huỳnh quang Khuẩn lạc dạng S có dung quang màu xanh lơ chiếm tỷ lệ 2/3, còn lại là khuẩn lạc R có dung quang vàng Theo Hudson (1954), nhiệt độ thích hợp nhất cho vi

khuẩn P.multocida phát triển là 370C với pH từ 7,2 - 7,6 Nhiệt độ với pH < 6 hoặc pH > 8,5 vi khuẩn mọc kém, nếu muốn vi khuẩn mọc tốt cho thêm vào môi trường 5% - 10% huyết thanh đông vật Hoàng Đạo Phấn (1986) cho biết vi khuẩn mọc tốt trong môi trường nước thịt pepton, sau môt ngày đêm vi khuẩn làm đục môi trường nhưng vài ngày nước thịt trở nên trong, đáy có cặn lắc khó tan Tác giả cho rằng để giữ giống tươi, cần cấy chuyển vi khuẩn qua môi trường thạch máu, vì vi khuẩn mới được phân lập mọc tốt trong các môi trường nuôi cấy thông thường, nhưng khi nuôi cấy tiếp sẽ mọc yếu, vì vậy phải cho thêm vào môi trường nuôi cấy một lượng huyết thanh

Theo Nguyễn Như Thanh (2001), độc lực của vi khuẩn giảm dần từ dạng

S đến dạng R Theo Carter (1952) và Rimler (1992) khuẩn lạc của vi khuẩn P

multocida tập trung ở 2 dạng chính: khuẩn lạc có dung quang sắc cầu vồng và khuẩn lạc có dung quang màu xanh Dung quang của khuẩn lạc liên quan đến vỏ nhầy của vi khuẩn, vi khuẩn có khuẩn lạc dung quang sắc cầu vồng đứng riêng lẻ hoặc từng đôi có vỏ nhầy và rất độc, thường gây bệnh thể cấp tính, khuẩn lạc có dung quang màu xanh kém độc lực hơn dạng S, thường gặp ở những gia súc bị bênh theo tính chất vùng dịch địa phương (Rimler and Rohoades, 1987)

Theo Hedleston (1996), những khuẩn lạc của vi khuẩn mới phân lập có dung quang không đồng đều và có xu hướng dính vào nhau Dung quang của khuẩn lạc cũng thay đổi khi cấy chuyển nhiều lần qua môi trường dinh dưỡng hoặc tiêm truyền qua động vật thí nghiêm khuẩn lạc có thể chuyển từ dạng S sang dạng M hoặc dạng R và ngược lại Rosenbush and Merchant (1939) cho

rằng khi cấy vi khuẩn P multocida trên thạch máu hay tiêm truyền qua động vật

Trang 22

thí nghiêm, khuẩn lạc của vi khuẩn được tăng cường độ dung quang Tác giả giải thích rằng hiên tượng dung quang của khuẩn lạc vi khuẩn có liên quan đến tính chất của một số hợp chất có khả năng hấp thụ những tia ánh sáng nhất định có trong vi khuẩn Vi khuẩn nuôi cấy lâu ngày hoặc cấy chuyển nhiều lần thì khuẩn lạc có sự thay đổi

1.2.1.4 Đặc tính sinh vật hoá học

Có nhiều công trình nghiên cứu đặc tính sinh hoá của vi khuẩn

P.multocida và dựa vào các đặc tính và các phản ứng sinh hoá này của vi khuẩn

P.multocida để xác định và phân biệt với các loài vi khuẩn khác và chủng vi khuẩn có nguồn gốc từ các loài động vật khác nhau

Carter (1955) đã cho rằng các chủng P.multocida type A phân giải

Arabinose và Dullitol, không phân giải Xylose Các type B và type C phân giải xylose nhưng không phân giải Arabinose và Dulcitol Chúng còn phân giải Glerecose, Inositol, Dextrin và tinh bột Một số chủng phân giải yếu Sorbitol, Glycorol và Fructose tạo thành axít

Lignieres (1990) cho biết vi khuẩn P.multocida làm tan chảy gelatin, không phân giải lactose, không sinh Indol và đã chia vi khuẩn P.multocida làm 3 nhóm:

- Nhóm 1: gồm các nhóm phân giải lactose, maltose, glucose, mannit, gây dung huyết

- Nhóm 2: gồm các vi khuẩn phân giải glucose, sacharose, mannit, không phân giải lactose, maltose, không dung huyết

- Nhóm 3: gồm các vi khuẩn phân giải glucose, sacharose, mannit, lactose, maltose, không dung huyết

Tác giả còn cho thấy rằng khi nuôi cấy lâu trong phòng thí nghiêm vi khuẩn mất khả năng phân giải Arabinose và xylose Tất cả các chủng nghiên cứu trên đều sinh Indol không di động, không dung huyết và không phân giải Urea

Abdullahi Mz et al (1990) nghiên cứu khả năng dung huyết của các chủng P.multocida và kết luận rằng tất cả đều không gây dung huyết, khi nghiên cứu về phản ứng Indol của các chủng P.multocida đã xác định là P.multocida sản

sinh Indole

Mỗi loại vi khuẩn có sự trao đổi chất riêng của nó, quá trình trao đổi chất

Trang 23

là quá trình hấp thụ chất dinh dưỡng để sống và phát triển, đổng thời cũng đào thải những chất không cần thiết cho tế bào vi khuẩn và những chất thải của nó ra ngoài Những chất đào thải đó ở mỗi loại vi khuẩn có khác nhau, do đó sự trao đổi chất khác nhau của vi khuẩn dẫn đến sự khác nhau về tính chất sinh hoá của từng loại vi khuẩn Dựa trên sự khác nhau về tính chất sinh hoá, để ứng dụng vào việc chẩn đoán phân lập vi khuẩn, những phản ứng sinh hoá này của vi khuẩn

P.multocida được xác định để phân biệt với các loài vi khuẩn khác, dùng để xác định các chủng vi khuẩn từ các loài động vật khác nhau và dùng để phân biệt các

loài vi khuẩn khác thuộc giống Pasteurella

Quinn và cộng sự (2011) đã đưa ra bảng so sánh một số đặc tính sinh vật

hóa học của những chủng Pasteurella và Mannheimia gây bệnh chính

Bảng 1.2 Phân biệt một số Pasteurella và Mannheimia gây bệnh chính

Ghi chú: (+): Dương tính

(-): Âm tính (v): Không ổn định, lúc dương tính, lúc âm tính

Trang 24

1.2.1.5 Đặc tính kháng nguyên và giáp mô của Pasteurella multocida

* Kháng nguyên của Pasteurella multocida

Kháng nguyên của vi khuẩn P.multocida rất phức tạp, cấu trúc từng loại

kháng nguyên thay đổi Cho đến nay các nhà khoa học đã xác định được kháng

nguyên của P.multocida có 2 loại là kháng nguyên vỏ (K) và kháng nguyên thân

(O) Kháng nguyên vỏ (K) chính là lớp vỏ bao xung quanh vi khuẩn, che cho kháng nguyên O khỏi bị tác dụng của kháng thể O Do đó muốn phát hiện kháng nguyên O phải phá huỷ kháng nguyên K hoặc dùng phương pháp nuôi cấy cho vi khuẩn hình thành kháng nguyên giáp mô K, kháng nguyên giáp mô K chỉ có ở vi khuẩn tụ huyết trùng tạo khuẩn lạc S và không bao giờ gặp ở vi khuẩn tạo khuẩn lạc dạng nhầy M và xù xì dạng R

Prince và Smith (1966) dùng phương pháp miễn dịch điện di đã tách được

16 kháng nguyên Bằng phương pháp khác nhau các tác giả đã xác định cấu trúc các loại kháng nguyên và gọi chúng theo bản chất cấu trúc: kháng nguyên protein, kháng nguyên lypopolysaccharid, polysaccharid và và axit amin

Carter và Chengapa (1991) cho rằng cần phải kết hợp 2 hệ thống là phản ứng ngưng kết hổng cầu gián tiếp và phản ứng khuếch tán trên thạch sẽ xác định

serotype của P.multocida Hai hệ thống định type của P.multocida được dùng là:

- Namioka và Murata (1961a) - Carter (1955)

- Carter (1955) – Heddleston (1972)

Trong đó hệ thống Carter - Heddleston được dùng phổ biến

Pheng Phet, Thong Phun và Yoshikasu Iritani (2004) cho biết ở Lào, bệnh

tụ huyết trùng trâu, bò cũng gặp các chủng thuộc typ B

* Giáp mô của vi khuẩn Pasteurella multocida

Nhiều tác giả nghiên cứu độc lực của vi khuẩn P.multocida đã khẳng định độc lực của vi khuẩn P.multocida liên quan chặt chẽ với giáp mô của vi khuẩn

Vi khuẩn P.multocida sản sinh trong điều kiện nhất định sẽ sinh ra giáp mô bao

quanh tế bào Manninger (1919) đã xác định những vi khuẩn có giáp mô thì thấy

có độc lực và những vi khuẩn không có giáp mô thì thấy không có độc lực Theo

Caster (1967), những vi khuẩn P.multocida phân lập được từ động vật mắc bệnh

Trang 25

cấp tính sẽ thấy có giáp mô và có độc lực Khi nuôi cấy vi khuẩn này lâu trong môi trường nhân tạo, giáp mô của vi khuẩn sẽ mất và vi khuẩn không còn độc lực Nhưng ta lại cấy tiếp vi khuẩn mất giáp mô này trong môi trường cho thêm

máu hay tiêm truyền qua động vật thí nghiệm thì vi khuẩn P.multocida tái tạo lại

giáp mô và thể hiện độc lực Caster còn cho rằng khi nuôi cấy vi khuẩn ở 370C trong môi trường nhân tạo qua một đêm thấy vi khuẩn phát triển giáp mô đầy đủ, sau đó mất dần đi Điều này chứng tỏ giáp mô chỉ tổn tại ở những vi khuẩn non

Theo tác giả thì khả năng xâm nhập và sự phát triển của vi khuẩn ở trong

ký chủ là nhờ sự có mặt của giáp mô Một chủng mất khả năng tái tạo giáp mô cũng sẽ không còn độc lực Nhiều chủng khi phân lập có giáp mô rõ ràng nhưng độc lực lại ít, vì độc lực của vi khuẩn có thể phụ thuộc vào cấu trúc hoá học của giáp mô hơn là sự có mặt của chúng Có thể nhuộm được lớp vỏ giáp mô của vi khuẩn bằng phương pháp nhuộm Hiss và phương pháp nhuộm Anthony

1.2.2 Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng trâu bò

1.2.2.1 Loài vật và lứa tuổi mắc bệnh

Trong thiên nhiên: trâu, bò cảm thụ mạnh nhất Trâu, bò rừng cũng mắc bệnh Bệnh từ trâu, bò có thể lây sang ngựa, chó và lợn vì vậy trong ổ dịch tụ huyết trùng trâu, bò cần chú ý phòng bệnh cho các loài động vật này Bê, nghé đang bú mẹ ít mắc, trâu bò 2 - 3 tuổi mắc bệnh hơn trâu, bò già Trâu dường như thường mẫn cảm và mắc bệnh nặng hơn bò với thời gian nung bệnh ngắn hơn Trong phòng thí nghiệm: thỏ cảm nhiễm nhất, tiêm vi khuẩn vào dưới da hoặc tĩnh mạch chỉ sau 1 - 2 ngày thỏ chết Bệnh tích thể hiện: chỗ tiêm có nước,

tụ máu, lồng ngực tích nước; phổi và khí quản viêm xuất huyết, ruột xuất huyết (Nguyễn Bá Hiên và cs., 2013)

Trang 26

phát triển của mầm bệnh trong môi trường sinh sống ở đông vật cảm nhiễm

Tính chất mùa vụ của bệnh tụ huyết trùng cũng được các nhà khoa học Lào nghiên cứu và có khí hậu nóng, ẩm, mưa nhiều nên bệnh xảy ra rải rác quanh năm nhưng tập trung vào các tháng mưa nhiều Khăm Phon (1996) cho biết ở tỉnh Viêng Chăn bệnh xảy ra mạnh từ tháng 2 đến tháng 6, 7 và bệnh xảy

ra đối với các gia súc chưa tiêm phòng vacxin tụ huyết trùng Ở miền Bắc bệnh xảy ra quanh năm, các tháng mưa nhiều từ tháng 6 đến tháng 10 số ổ dịch chiếm tới 65% số ổ dịch trong năm

Như vậy, các kết quả đã nghiên cứu về ảnh hưởng của mùa vụ đến bệnh, đều thống nhất là bệnh tụ huyết trùng có tính chất mùa vụ rõ rệt Bệnh xẩy ra nhiều vào những thời gian có nhiệt đô cao, nóng ẩm, mưa nhiều

1.2.2.3 Phương thức truyền lây

Bệnh lây lan trực tiếp từ con ốm sang con khỏe thông qua tiếp xúc, qua thức ăn, nước uống, nhốt cùng chuồng, chăn cùng bãi chăn thả hoặc dùng chung các dụng cụ chăn nuôi

Bệnh có thể lan xa do việc mổ thịt súc vật ốm, phân tán thịt, da Chó, mèo, chuột, côn trùng hút máu như ruồi, mòng cũng là vật trung gian để truyền bệnh

Bệnh xảy ra rải rác quanh năm ở các vùng nóng ẩm nhưng thường tập trung vào mùa mưa từ tháng 6 - 9

1.2.2.4 Cơ chế sinh bệnh

Bệnh tụ huyết trùng thường phát sinh ở các vùng nóng ẩm Vào mùa mưa,

vi khuẩn sẵn có trong đất được nước đưa lên mặt đất, dính vào rơm cỏ và nước uống nếu trâu, bò ăn phải sẽ mắc bệnh

Sau khi vào đường tiêu hoá, vi khuẩn qua niêm mạc nhờ các vết xây xát nhỏ do rơm, cỏ cứng và dị vật, chúng xâm nhập vào máu đến hệ thống lympho ruột, hạch sau hầu làm hạch này sưng rất to Từ đó, vi khuẩn xâm nhập vào các hạch lympho khác như hạch trước vai, hạch trước đùi làm cho các hạch này cũng sưng to và bị thuỷ thũng Bởi vậy trâu, bò bị bệnh tụ huyết trùng thường có biểu hiện đặc trưng là sưng hạch hầu

Trong điều kiện bình thường, ở đa số trâu, bò khoẻ vi khuẩn tụ huyết

Trang 27

trùng thường sống ký sinh trên niêm mạc đường hô hấp và tiêu hoá Có tới 80%

số trâu, bò khỏe mang vi khuẩn nhưng chúng không gây bệnh, giữa vi khuẩn và súc vật có sự cân bằng sinh học Khi gặp các yếu tố ngoại cảnh bất lợi như: thời tiết thay đổi đột ngột, thiếu thức ăn, làm việc nặng nhọc làm sức đề kháng của con vật giảm sút, thế cân bằng sinh học bị phá vỡ, vi khuẩn tăng cường độc lực, xâm nhập vào máu và phủ tạng để gây bệnh

1.2.2.5 Hiện tượng mang trùng ở trâu bò đối với bệnh tụ huyết trùng

Vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng tồn tại ở trâu, bò khoẻ và cư trú ở hầu, họng, ở ruột và môt vài vị trí khác của trâu, bò Singh (1948) đã chứng minh sự

có mặt của vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng trong đường hô hấp của trâu, bò khoẻ Wijewanda and Karunaratne (1992) đã phát hiện động vật mang trùng khi khảo sát ở lò giết mổ gia súc chiếm tỷ lệ khoảng 15% Các cuộc khảo sát sau này cho thấy, hiện tượng mang trùng của động vật trong đường hô hấp trên có liên quan tới các vụ dịch Theo Gupta (1962), ở môt vụ dịch có 7,5% gia súc khoẻ mang trùng ở đường hô hấp Mustafa và cs (1978), phát hiện có 44% số con khoẻ ở đàn bò trong ổ dịch có mang trùng trong đường hô hấp, trong 3 đàn khác nhau không liên quan đến ổ dịch thì tỷ lệ mang trùng ở đường hô hấp là 0%; 3,8%; 5,5% De Alwis phát hiện 22,7% con vật mang trùng trong đường hô hấp ở

4 đàn nơi có bệnh tụ huyết trùng xẩy ra Những phát hiện này cho thấy tỷ lệ mang trùng ở đường hô hấp có liên quan tới tỷ lệ mắc bệnh của đàn trâu, bò Các nghiên cứu khẳng định có thể phát hiện đông vật mang trùng bằng cách lấy bênh phẩm ở đường hô hấp trên để nuôi cấy phân lập vi khuẩn Singh (1948), Wijewanda và cs (1992), đã phân lập vi khuẩn bằng cách nuôi cấy dịch tiết ở mũi, hầu và các hạch lympho của trâu, bò lấy từ lò mổ De Alwis cho rằng có một tỷ lê thấp trâu, bò mang vi khuẩn ở hầu, họng, mũi và tuyến Amidan Ở những con vật này có hiệu giá kháng thể cao so với con vật không mang trùng và

vi khuẩn thông qua dịch tiết niêm mạc mũi bài tiết ra ngoài gây cảm nhiễm cho

gia súc khác Theo Ackermann và cs., (1994), hạch Amidan là nơi cư trú của P

multocida Chúng có vai trò bệnh nguyên gây ra viêm khí quản, viêm màng phổi Saharee và cs., (1992), đã phân lập từ đàn bò ở Malaysia và cho rằng trong những khoảng thời gian khác nhau thì sự xuất hiện của vi khuẩn tụ huyết trùng

Trang 28

trâu, bò ở các vị trí trên cũng khác nhau Theo De Alwis (1986) việc lấy mẫu được nhắc lại ở các thời điểm khác nhau, đã phát hiện những con vật khác nhau mang trùng ở những ngày lấy mẫu cũng khác nhau và tỷ lệ động vật mang trùng

ở hầu và họng ít nhất dao động từ 12 - 40%

Có nhiều tác giả nghiên cứu và kết luận hạch Amidan của động vật mang

trùng là vị trí ký sinh của vi khuẩn P multocida Wijewanda và cs (1992), đã

kiểm tra 103 hạch Amidan của trâu, bò từ lò giết mổ trong một vùng có dịch địa

phương và đã phân lập được 49 chủng P.multocida Ở điều kiện tự nhiên vi

khuẩn tụ huyết trùng cư trú ở hạch Amidan không bị các kháng sinh nhạy cảm tiêu diệt De Alwis (1999) đã phát hiện ra điều này bằng điều trị những con vật mang trùng, những con vật mang trùng ẩn được điều trị 3 ngày với Oxytetracyline, Chloramphenycol hoặc Sulfadimidine và được giết mổ một tuần sau đó Kết quả phân lập vi khuẩn được từ amidan là dương tính Chứng tỏ rằng kháng sinh đã không có tác dụng với vi khuẩn trong hạch Amidan Các nhà

nghiên cứu đã làm rõ vị trí cư trú của vi khuẩn P.multocida trong hạch amidan

bằng cách đã sử dụng các phương pháp hoá sinh miễn dịch để kiểm tra những phần của hạch amidan, của các động vật mang trùng ẩn cho thấy, vi khuẩn không tổn tại trong mô hạch Amidan nhưng tổn tại trong hốc hạch amidan như vậy là nó vẫn tổn tại mặc dù có liệu pháp kháng sinh

Ở Lào, tài liệu của Sinh Khăm (1998) cho biết kết quả phân lập từ dịch ngoáy mũi thấy có 6,52% vật mang trùng ở trâu, bò khoẻ, kết quả ghi rõ có nằm trong vùng dịch hay không Khăm Phon (1996) phân lập được vi khuẩn từ 8,36% trâu bò khỏe mạnh từ dịch ngoáy mũi ở vùng miền Trung và miền Bắc

Các kết qủa nghiên cứu đã khẳng định trạng thái mang trùng có liên quan

đến khả năng mắc bệnh của trâu, bò khoẻ mang trùng thì vì khuẩn P multocida

tổn tại trong hầu, họng và hạch Amidan

1.2.3 Triệu chứng và bệnh tích bệnh tụ huyết trùng trâu bò

1.2.3.1 Triệu chứng

* Thể ác tính (thể quá cấp tính)

Thể này thường ít gặp Trâu, bò phát bệnh rất nhanh, con vật đột nhiên lên cơn sốt cao 41- 420C và trở nên hung dữ, điên loạn, đập đầu vào tường và chết

Trang 29

trong vòng 24 giờ Với bê nghé 3 - 18 tháng có thể hiện triệu chứng thần kinh: giãy giụa ngã vật xuống rồi chết, có khi con vật đang ăn bỗng chạy lồng lên, điên loạn, run rẩy, ngã xuống rồi lịm đi

* Thể cấp tính

Thể này xảy ra phổ biến ở trâu, bò Thời gian nung bệnh ngắn từ 1 - 3 ngày, con vật không nhai lại, mệt lả, bứt rứt, sốt cao đột ngột 40 - 420C Các niêm mạc mắt, mũi đỏ sẫm rồi tái xám Nước mắt trâu, bò nước mũi chảy liên tục Các lạch lympho đều sưng, đặc biệt là hạch dưới hầu sưng rất to, làm cho con vật lè lưỡi ra, thở khó khăn, người ta thường gọi là "bệnh lưỡi đòng" hay bệnh "trâu bò hai lưỡi" Hạch lympho trước vai, trước đùi sưng, thủy thũng làm cho con vật đi lại khó khăn Vật bệnh thể hiện hội chứng hô hấp, thở mạnh và khó khăn do viêm màng phổi, tràn dịch màng phổi, có tụ huyết và viêm phổi cấp Một số rất ít trâu, bò bị bệnh thể đường ruột lúc đầu phân táo bón sau đó

đi ỉa chảy, phân có lẫn máu và niêm mạc ruột Bụng con vật chướng to do viêm phúc mạc và có tương dịch trong xoang bụng

Lúc sắp chết, con vật nằm liệt, đái ra máu, thở rất khó khăn, có nhiều chấm xuất huyết đỏ sẫm ở các niêm mạc Bệnh tiến triển 3 - 5 ngày Tỷ lệ chết 90 - 100% Nếu bệnh chuyển sang nhiễm trùng máu thì con vật sẽ chết trong thời gian

từ 24 - 36 giờ

* Thể mạn tính

Con vật mắc bệnh ở thể cấp tính, nếu không chết, bệnh sẽ chuyển thành mạn tính Vật bệnh thể hiện viêm ruột mạn tính: lúc ỉa chảy, lúc táo bón, viêm khớp làm cho con vật đi lại khó khăn, viêm phế quản và viêm phổi mạn tính

Bệnh tiến triển trong vài tuần Con vật có thể khỏi bệnh, các triệu chứng nhẹ dần, nhưng thường con vật gầy rạc và chết do kiệt sức

Trang 30

1.2.4.1 Chẩn đoán lâm sàng

Dựa vào triệu chứng, bệnh tích đặc trưng sa

+ Ở thể cấp tính hoặc quá cấp tính con vật chết nhanh trong vòng 8 giờ đến 24 giờ Trạng thái đờ đẫn, sốt 41 đến 420C Con vật ho, thể trạng giảm sút,

có triệu chứng chảy nước dãi, chảy nước mắt, chảy nước mũi, phù thũng, sưng to

từ họng đến cổ và ức, suy hô hấp khó thở và chết trong vài giờ

+ Mổ khám: Thấy toàn thân sung huyết, xuất huyết lấm tấm, phù thũng, thuỷ dịch màu vàng rơm ở vùng thuỷ thũng, bao tim xoang ngực chứa lẫn dịch máu, xuất huyết lấm tấm tại các hạch vùng hầu và cổ, viêm phổi thường không tập trung

1.2.4.2 Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm

- Nuôi cấy: Bệnh phẩm là máu tim hoặc tuỷ xương hay dịch ngoáy mũi

trâu, bò, hạch amidan, các hạch lympho của trâu, bò cần chẩn đoán pha loãng hay ria trực tiếp trên môi trường thạch máu

Nếu bệnh phẩm đảm bảo không bị nhiễm các mầm bệnh khác thì có thể quan sát được khuẩn lạc sau 24 giờ nuôi cấy trên đĩa thạch, có thể lấy các khuẩn lạc này để tiến hành các phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính Dựa vào hình thái của khuẩn lạc hoặc hình thái của vi khuẩn được phết kính trực tiếp từ môi trường nuôi cấy và kết quả dương tính đối với phản ứng nhanh trên phiến kính có thể chẩn đoán trong phòng thí nghiệm là dương tính Nếu bệnh phẩm bị nhiễm tạp mà đó là các trường hợp rất phổ biến thì trước hết cần thu được canh trùng thuần khiết bằng cách tiêm truyền qua chuột và nuôi cấy máu chuột Nuôi

Trang 31

cấy máu chuột và tiến hành phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính với canh trùng đó có thể khẳng định được bệnh Trong vòng 24 - 48 giờ đã có thể có kết quả chẩn đoán trong phòng thí nghiệm khi đã trở thành thường quy

+ Phương pháp chẩn đoán vi sinh vật thường quy: Nhuộm tiêu bản phết

máu và soi kính, phết kính máu của động vật chết nghi tụ huyết trùng, nhuộm bằng xanh methylen hoặc Leishman hoặc nhuộm Gram sẽ thấy các trực khuẩn ngắn, lưỡng cực, gram âm Phương pháp này chưa đủ để khẳng định đó là vi

khuẩn P multocida vì rất nhiều vi khuẩn gram âm có dạng lưỡng cực

- Phương pháp phản ứng sinh vật học: Phương pháp phân lập tốt nhất là

tiêu dưới da chuột với liều tiêm khoảng 0,1 - 0,2 ml dung dịch máu tuỷ xương

hoà nước muối sinh lý Nếu đúng vi khuẩn P.multocida chuột sẽ chết trong vòng

24 giờ Hút lấy máu tim chuột đem nhuộm gram sẽ thấy nhiều vi khuẩn gram âm lưỡng cực, đồng thời máu chuột đem nuôi cấy sẽ phân lập được vi khuẩn type B

có độc lực rất cao đối với chuột Phương pháp này rất hữu dụng khi mẫu bệnh phẩm có rất ít vi khuẩn sống thậm chí có lẫn nhiều tạp khuẩn

1.2.4.3 Chẩn đoán huyết thanh học

Phương pháp chẩn đoán huyết thanh học để xác định serotyp của

P.multocida, dựa vào việc tìm kiếm kháng nguyên vỏ và kháng nguyên thân của

vi khuẩn Có rất nhiều phương pháp và kỹ thuật để định type kháng nguyên vỏ và kháng nguyên thân theo các phương pháp sau đây:

+ Phương pháp ngưng kết nhanh trên phiến kính định loại kháng nguyên

vỏ Đây là phương pháp chẩn đoán thường quy phòng thí nghiêm dựa vào kỹ thuật của Namioka và Murata (1961a) để định type kháng nguyên vỏ

+ Phản ứng ngưng kết gián tiếp hồng cầu (IHA: Indirect Haemagglution test) để xác định kháng nguyên vỏ Đây là phản ứng được dùng phổ biến trong chẩn đoán dựa trên kỹ thuật của Caster (1955)

+ Phản ứng kết tủa trên thạch (AGPT: agar gel precipitation test) để định type kháng nguyên thân Theo phương pháp của Heddleston và cs (1972)

+ Phương pháp ELISA: Phương pháp ELISA có đô chính xác cao và độ nhạy lớn dùng để chẩn đoán vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng nhưng không thể

Trang 32

định type P.multocida Phản ứng này dùng cho chẩn đoán bệnh tụ huyết trùng

nhanh và chính xác

1.2.4.4 Các kỹ thuật sinh học phân tử

Với những thành tựu về kỹ thuật phân tử hiện nay đã có nhiều kỹ thuật mới có thể phân tích bộ gen của các cơ thể sống Một số kỹ thuật đã được áp dụng để chẩn đoán bệnh tụ huyết trùng trâu bò Các kỹ thuật này phân biệt được các chủng trong cùng một serotype

- Phương pháp PCR (polymerase chain reaction): Phương pháp PCR

làm tăng lượng bản sao DNA có mặt trong mẫu bệnh phẩm và cho phép phát hiện chính xác các trình tự gen đặc hiệu, phương pháp PCR đã được ứng dụng trong chẩn đoán bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đã được nhiều nhà nghiên cứu vào ứng dụng (De Alwis, 1999)

- Phương pháp giải trình tự gen: Hiện tại hầu hết vi khuẩn đều được giải

trình tự gen 16s RNA Sau khi nhân gen 16s RNA lên bằng phản ứng PCR, phân đoạn gen sẽ được giải trình tự và so sánh với ngân hàng sữ liệu gen Kết quả thu được có độ chính xác rất cao, định danh được cả tên của loài vi khuẩn

1.2.5 Phòng và điều trị bệnh tụ huyết trùng

Bệnh tụ huyết trùng do vi khuẩn gram âm gây ra nên có thể sử dụng nhiều loại kháng sinh hiện có để điều trị Nhưng bệnh tụ huyết trùng thường hay mắc ở thể cấp tính và quá cấp tính khiến con vật chết nhanh nên cần phát hiện sớm điều trị kịp thời mới cho kết quả tốt Như vậy biện pháp phòng bệnh cần được chú trọng trong công việc kiểm soát và khống chế bệnh tụ huyết trùng

Tăng cường sức đề kháng cho con vật bằng cách vệ sinh thức ăn, nước

Trang 33

uống, ăn đủ, uống đủ; chăm sóc, sử dụng và khai thác hợp lý

Khi có dịch xảy ra phải phát hiện kịp thời gia súc ốm để cách ly điều trị, tránh làm lây lan bệnh, công bố dịch, cấm không cho vận chuyển và mổ thịt trâu,

bò Trâu, bò chết phải chôn sâu có đổ vôi bột vào hố chôn Toàn bộ chuồng trại, bãi chăn phải được vệ sinh, tẩy uế triệt để Đốt rác thải và ủ phân có trộn vôi bột

1.2.5.2 Điều trị bệnh tụ huyết trùng

Bệnh tụ huyết trùng có thể điều trị với hiệu quả cao nếu phát hiện kịp thời

và có phác đồ điều trị hợp lý

Theo De Alwis, điều trị bằng Streptomycin cho hiệu quả tốt Ngoài ra việc

sử dụng Tetracyclin để điều trị bệnh tụ huyết trùng trâu, bò bằng đường tiêm bắp thấy loại kháng sinh này cho kết quả tốt, với số ngày điều trị ngắn hơn Chanda -

A (1989) đã cho biết Ampicilin có hiệu quả tốt hơn trong việc điều trị nhiễm

trùng do P.multocida Bandopadhyay và cộng sự (1991) đã kiểm tra khả năng kháng kháng sinh của 16 chủng P.multocida phân biệt được từ các ổ dịch khác

nhau ở Ấn Độ với 19 loại kháng sinh và cho biết tất cả các chủng đều nhạy cảm với Penicillin, Ampicilin, Erythromicine, Caphalercin, Colistin và Chloramphenicol để điều trị tụ huyết trùng cho kết quả tốt

Phạm Sỹ Lăng, Lê Thị Tài (1994) cho rằng cần phối hợp các loại kháng sinh tuỳ theo từng loại vi khuẩn để tăng hiệu quả sử dụng thuốc Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2000) đã nêu một số thuốc kháng sinh phối hợp có thể điều trị tụ huyết trùng là: Ampi - kana, Genta - sunmet, Genta - tylo Trong khi

Trang 34

sử dụng các kháng sinh điều trị, các tác giả đề nghị phải dùng thêm các thuốc trợ lực trợ tim và các loại vitamin Những hóa dược hỗ trợ khác cho phác đồ điều trị nhằm mục địch trợ sức, trợ lực cho con vật là: Cafein, Anagil và các vitamin B, vitamin C Trong trường hợp cần thiết có thể truyền dịch để tăng sức đề kháng cho con vật

Nguyễn Bá Hiên và cs (2013) cho biết có thể dùng kháng huyết thanh tụ huyết trùng đơn giá hoặc đa giá để chữa bệnh đặc hiệu Tuy nhiên, trường hợp bệnh ở thể cấp tính cần phải tiêm sớm mới có hiệu quả Liều điều trị có thể từ

100 – 250 ml/con

Ngày đăng: 17/02/2017, 11:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Hoàng Đạo Phấn (1986). Pasteurella multocida và typ huyết thanh của chúng. Tạp chí KHKT Thú y, tr: 1 - 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pasteurella multocida
Tác giả: Hoàng Đạo Phấn
Năm: 1986
17. Abdullahi. M. Z, Gilmour, N. J. L, Poxton. I .P (1990). Outer membrant protein of bovine strains of Pasteurella multocida type A and other doubtful role as protactive antigens, Journal of medical microbiology, pp: 55 - 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pasteurella multocida
Tác giả: Abdullahi. M. Z, Gilmour, N. J. L, Poxton. I .P
Năm: 1990
18. Ackermann, M. R, Debey. M. C, Register. K. B, Larson. D. J. and Kinyon. J. M (1994). Tosil and turbinate colonigation by toxigenie and nontoxiginie strains of Pasteurella multocida in conventionally raised lowa swine, Proceeding 13 th IPVS Congress, pp: 162 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pasteurella multocida
Tác giả: Ackermann, M. R, Debey. M. C, Register. K. B, Larson. D. J. and Kinyon. J. M
Năm: 1994
21. Bandopadhyay. P. K, Tonganokar. S.S. and Singh. D. K. (1991). Characterisation and tibiotie sen Sitivity of Pasteurella multocida isolates from cases of haemorrhagie Septicaemia. Proceeding 4 th International workshop on Haemorrhagie Septicaemia FAO/APHCA Publication 13, pp: 65 - 65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pasteurella multocida
Tác giả: Bandopadhyay. P. K, Tonganokar. S.S. and Singh. D. K
Năm: 1991
23. Carter G. R. (1952). Type Specific capsular antigens of Pasteurella multocida, Camadium Journal of Medical Science, pp: 48 - 53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pasteurella multocida
Tác giả: Carter G. R
Năm: 1952
24. Carter G. R (1967). Pasteurellosis and Pasteurella multocida and Pasteurella haemolytica. Advance im veterinary science,11,pp:321-329 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pasteurella multocida
Tác giả: Carter G. R
Năm: 1967
25. Carter. G. R (1955). Studies of Pasteurella multocida I. A Heamagglutination test for Identification of serological types, Journal of veterinary research,16-481- 484 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pasteurella multocida
Tác giả: Carter. G. R
Năm: 1955
26. Chanda. A, Mukherjec. K.S, Koy. C. R, Banerjec. P. K, Guha. C, (1989). Clinical mastitis with Pasteurella multocida infection, Indian veterinary Journal 66, 571 - 572 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pasteurella multocida
Tác giả: Chanda. A, Mukherjec. K.S, Koy. C. R, Banerjec. P. K, Guha. C
Năm: 1989
31. Dziva, F., Muhairwa, A.P., Bisgaard, M. and Christensen, H. ( 2008 ). Diagnostic and typing options for investigating diseases associated with Pasteurella multocida. Veterinary Microbiology, 128, 1 – 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pasteurella "multocida
41. Mustafa. A.A, Ghalile H. W, and Shighidi M. T. (1978). Carrier rate of Pasteurella multocida in a cattle herd with on out - break of Haemorrhagic Septicaemia, in Zambia, British Veterinary Journal, 124, pp: 375 - 358 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pasteurella multocida
Tác giả: Mustafa. A.A, Ghalile H. W, and Shighidi M. T
Năm: 1978
42. Namioka. S. and Murata.M. (1961 a). Serological Studies on Pasteurella multocida I, A. Simplified method for caprule typing of the organism cornell veterinaria 55: pp: 198 - 207 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pasteurella multocida
43. Namioka. S and Murata M. (1961 b). Serological Studies on Pasteurella multocida II, Characte - ristie of the romatic O antigen of the organism, cornell, Veterinarian, 51, pp: 507 - 512 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pasteurella multocida
49. Prince (1969). Production of antigens of Pasteurella multocida and detection of antibody against them in bovine sera, Journal of comparative pathology, 79. pp:173 -186 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pasteurella multocida
Tác giả: Prince
Năm: 1969
50. Prince. G. H and Smith. J. E (1966). Antigenic studies on Pasteurella multocida using immunodiffusion techniques I. Identification and nomenclature of the soluble antigens of a lovine Haemorrhagic Septicaemia, Journal of Comparative Pathology, 76. pp: 303 - 314 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pasteurella multocida
Tác giả: Prince. G. H and Smith. J. E
Năm: 1966
52. Rimler R.B and Rhoades.K.R (1987). Serogroup. F, a new capsule Serogroup of Pasteurella multocida, Journal of Clinical Microbiology 25, pp: 615 - 618 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pasteurella multocida
Tác giả: Rimler R.B and Rhoades.K.R
Năm: 1987
1. Cục Thú y và Thuỷ sản Bô Nông - Lâm nghiệp Viêng Chăn - Lào (2003). Tài liệu báo cáo dịch bệnh đàn gia súc trong cả nước Khác
2. Đỗ Văn Được (1999). Tìm hiểu ảnh hưởng của khí hậu đến tình hình dịch bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở Lạng Sơn, KHKT Thú y, 6 (3). Hà Nôi, tr: 52 - 56 Khác
3. Nguyễn Thanh Hà (1991). Phương pháp kỹ thuật khoanh giấy kháng sinh khuyếch tán Kỹ thuật xét nghiệm vi sinh vật y học, NXB Văn Hoá, Hà Nội, tr: 328 Khác
4. Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ, Đỗ Ngọc Thúy, Lê Văn Lãnh( 2012). Giáo trình Bệnh truyền nhziễm thú y, Nxb Đại học nông nghiệp Hà Nội Khác
5. Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ, Đỗ Ngọc Thúy, Lê Văn Lãnh, Bạch Quốc Thắng, Nguyễn Viết Không, Lê Văn Phan, Đặng Hữu Anh (2013). Bệnh truyền nhiễm của động vật nuôi và biện pháp khống chế. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội 6. Sinh Khăm (1993). Bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở miền Nam Lào, Nxb Nôngnghiệp Lào Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tình hình bệnh Tụ huyết trùng trâu bò trên thế giới giai đoạn - tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò tại tỉnh sekong   chdcnd lào và ứng dụng một số phác đồ điều trị bệnh
Bảng 1.1. Tình hình bệnh Tụ huyết trùng trâu bò trên thế giới giai đoạn (Trang 15)
Bảng 3.2. Tình hình bệnh trâu, bò ở tỉnh Sê Kong từ năm 2011 đến 2015 - tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò tại tỉnh sekong   chdcnd lào và ứng dụng một số phác đồ điều trị bệnh
Bảng 3.2. Tình hình bệnh trâu, bò ở tỉnh Sê Kong từ năm 2011 đến 2015 (Trang 44)
Hình 3.2. Tỷ lệ ốm của trâu, bò nuôi tại tỉnh Sê Kong - tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò tại tỉnh sekong   chdcnd lào và ứng dụng một số phác đồ điều trị bệnh
Hình 3.2. Tỷ lệ ốm của trâu, bò nuôi tại tỉnh Sê Kong (Trang 45)
Bảng 3.3. Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở tỉnh Sê Kong từ năm 2011 đến 2015 - tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò tại tỉnh sekong   chdcnd lào và ứng dụng một số phác đồ điều trị bệnh
Bảng 3.3. Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở tỉnh Sê Kong từ năm 2011 đến 2015 (Trang 46)
Hình 3.3. Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở Sê Kong 2011-2015 - tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò tại tỉnh sekong   chdcnd lào và ứng dụng một số phác đồ điều trị bệnh
Hình 3.3. Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở Sê Kong 2011-2015 (Trang 47)
Bảng 3.4. Tình hình bệnh Tụ huyết trùng ở trâu nuôi tại tỉnh Sê Kong năm 2011 – 2015 theo lứa tuổi - tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò tại tỉnh sekong   chdcnd lào và ứng dụng một số phác đồ điều trị bệnh
Bảng 3.4. Tình hình bệnh Tụ huyết trùng ở trâu nuôi tại tỉnh Sê Kong năm 2011 – 2015 theo lứa tuổi (Trang 48)
Hình 3.4. Tỷ lệ trâu mắc tụ huyết trùng theo lứa tuổi - tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò tại tỉnh sekong   chdcnd lào và ứng dụng một số phác đồ điều trị bệnh
Hình 3.4. Tỷ lệ trâu mắc tụ huyết trùng theo lứa tuổi (Trang 49)
Bảng 3.5. Tình hình bệnh Tụ huyết trùng ở bò nuôi tại tỉnh Sê Kong năm 2011 – 2015 theo lứa tuổi - tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò tại tỉnh sekong   chdcnd lào và ứng dụng một số phác đồ điều trị bệnh
Bảng 3.5. Tình hình bệnh Tụ huyết trùng ở bò nuôi tại tỉnh Sê Kong năm 2011 – 2015 theo lứa tuổi (Trang 50)
Bảng 3.6. Tình hình tiêm phòng vacxin bệnh Tụ huyết trùng trâu bò tại tỉnh Sê - tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò tại tỉnh sekong   chdcnd lào và ứng dụng một số phác đồ điều trị bệnh
Bảng 3.6. Tình hình tiêm phòng vacxin bệnh Tụ huyết trùng trâu bò tại tỉnh Sê (Trang 52)
Bảng 3.7. Kết quả phân lập Pasteurella multocida ở trâu tại tỉnh Sê kong - tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò tại tỉnh sekong   chdcnd lào và ứng dụng một số phác đồ điều trị bệnh
Bảng 3.7. Kết quả phân lập Pasteurella multocida ở trâu tại tỉnh Sê kong (Trang 53)
Bảng 3.8. Kết quả phân lập Pasteurella multocida ở bò tại tỉnh Sê kong - tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò tại tỉnh sekong   chdcnd lào và ứng dụng một số phác đồ điều trị bệnh
Bảng 3.8. Kết quả phân lập Pasteurella multocida ở bò tại tỉnh Sê kong (Trang 54)
Bảng 3.9. Kết quả kiểm tra một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập được ở trâu - tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò tại tỉnh sekong   chdcnd lào và ứng dụng một số phác đồ điều trị bệnh
Bảng 3.9. Kết quả kiểm tra một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập được ở trâu (Trang 56)
Bảng 3.12. Phác đồ điều trị bệnh Tụ huyết trùng trâu bò ở tỉnh Sê kong - tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò tại tỉnh sekong   chdcnd lào và ứng dụng một số phác đồ điều trị bệnh
Bảng 3.12. Phác đồ điều trị bệnh Tụ huyết trùng trâu bò ở tỉnh Sê kong (Trang 59)
Hình 2: Vi khuẩn Pasteurella phân lập được nuôi cấy trên thạch máu. - tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò tại tỉnh sekong   chdcnd lào và ứng dụng một số phác đồ điều trị bệnh
Hình 2 Vi khuẩn Pasteurella phân lập được nuôi cấy trên thạch máu (Trang 67)
Hình 1: Vi khuẩn Pasteurella nhuộm Gram - tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò tại tỉnh sekong   chdcnd lào và ứng dụng một số phác đồ điều trị bệnh
Hình 1 Vi khuẩn Pasteurella nhuộm Gram (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w