v 3.3.2 Kiểm tra một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập được ở trâu, bò tại tỉnh Sê Kong 453.4 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHOUVONG BOUPHAPHANH
TÌNH HÌNH BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG TRÂU BÒ TẠI TỈNH SEKONG - CHDCND LÀO VÀ ỨNG DỤNG MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHOUVONG BOUPHAPHANH
TÌNH HÌNH BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG TRÂU BÒ TẠI TỈNH SEKONG - CHDCND LÀO VÀ ỨNG DỤNG MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
PHOUVONG BOUPHAPHANH
Trang 4ii
LỜI CÁM ƠN
Luận văn này được thực hiện và hoàn thành , tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới PGS TS.Nguyễn Bá Hiên, Bộ môn Vi sinh vật - Truyền nhiễm, Khoa Thú y- HọcViện Nông Nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành tốt luận văn
Tôi xin ghi nhận sự giúp đỡ qúy báu của tập thể các thầy, cô giáo Bộ môn
Vi sinh vật - Truyền nhiễm, Khoa Thú y , Ban chủ nhiệm Khoa Thú y, Ban Quản
lý đào tạo - Học Viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và hoàn thành luận văn đúng tiến độ
Luận văn này được thực hiện với sự hỗ trợ của lãnh đạo, cán bộ của Sở Nông- Lâm Nghiệp và cán bộ chi cục thú y, phòng Nông- Lâm Nghiệp của các Huyện Tỉnh Sê Kong CHDCND- Lào giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong qúa trình thực hiện luận văn Tôi xin trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ qúy bấu đó
Trong thời gian nghiên cứu đề tài tôi cũng nhận được sự hỗ trợ và giúp đỡ tận tình từ lãnh đạo đến cán bộ phòng thí nghiệm khám chứa bệnh gia súc gia cầm Thành phố Pak Sê Tinh Chăm Pa Sắk CHDCND - Lào, Sự giúp đỡ nhiệt tình của của lãnh đạo và cán bộ Thú y Thủ Đô Viêng Chăn CHDCND-Lào đã tạo điều kiện thuận lợi và thời gian giúp đỡ tôi trong qúa trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tôi xin trân thành cảm ơn
Hà Nội, Ngày tháng Năm 2015
Tác giả luận văn
PHOUVONG BOUPHAPHANH
Trang 51.1 Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò trên thế giới và ở chdcnd lào 31.1.1 Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò trên thế giới 31.1.2 Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò ở CHDCND Lào 5
1.2.1 Vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng trâu bò 71.2.2 Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng trâu bò 151.2.3 Triệu chứng và bệnh tích bệnh tụ huyết trùng trâu bò 18
1.2.5 Phòng và điều trị bệnh tụ huyết trùng 22CHƯƠNG 2 NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
2.2.1 Điều tra tình hình chăn nuôi trâu bò ở tỉnh Sê Kong 252.2.2 Điều tra tình hình bệnh và tiêm phòng vacxin tụ huyết trùng
Trang 62.2.3 Phân lập vi khuẩn Pasteurella multocida ở trâu, bò tại tỉnh
2.2.4 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tụ huyết trùng trâu, bò
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học 27
2.4.3 Phương pháp phân lập vi khuẩn Pasteurella multocida 282.4.4 Kiểm tra tính mẫn cảm của vi khuẩn với kháng sinh 292.4.5 Phương pháp thử nghiệm phác đồ điều trị 30
3.1 Tình hình chăn nuôi trâu, bò ở tỉnh sê kong 313.1.1 Một số điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Sê Kong 313.1.2 Tình hình chăn nuôi trâu bò, ở tỉnh Sê Kong 333.2 Tình hình bệnh và tiêm phòng vacxin tụ huyết trùng trâu, bò ở
3.2.1 Tình hình bệnh trên đàn trâu bò nuôi tại tỉnh Sê Kong 333.2.2 Tình hình bệnh tụ huyết trùng trên đàn trâu, bò nuôi tại tỉnh
3.2.3 Tình hình tiêm phòng vacxin bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại
3.3 Phân lập vi khuẩn Pasteurella multocida ở trâu, bò nuôi tại tỉnh
3.3.1 Phân lập vi khuẩn Pasteurella multocida ở trâu, bò ở tỉnh
Trang 7v
3.3.2 Kiểm tra một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Pasteurella
multocida phân lập được ở trâu, bò tại tỉnh Sê Kong 453.4 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại tỉnh
3.4.1 Xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của vi khuẩn
3.4.2 Thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh tụ huyết trùng trâu
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ADN Acid deoxyribonucleic
AGPT Agar gel precipitation test
ARN Acid ribonucleic
B trehalosi Bibersteinia trehalosi
CHDCND Cộng hòa Dân chủ Nhân dân
ELISA Enzyme-Linked ImmunoSorbent Assay
FAO Food and Agricultural Organization
HS Haemorrhagic Septicaemia
IHA Indirect Haemaglutination test
M haemolytica Mannheimia haemolytica
OIE Office International des Epizooties PCR Polymerase chain reaction
P multocida Pasteurella multocida
Trang 9DANH MỤC BẢNG
1.1 Tình hình bệnh Tụ huyết trùng trâu bò trên thế giới giai đoạn 2005-2015 5
1.2 Phân biệt một số Pasteurella và Mannheimia gây bệnh chính 13
3.1 Tình hình chăn nuôi trâu bò ở tỉnh Sê Kong năm 2011 - 2015 33
3.2 Tình hình bệnh trâu, bò ở tỉnh Sê Kong từ năm 2011 đến 2015 34
3.3 Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở tỉnh Sê Kong từ năm 2011
3.4 Tình hình bệnh Tụ huyết trùng ở trâu nuôi tại tỉnh Sê Kong năm
3.5 Tình hình bệnh Tụ huyết trùng ở bò nuôi tại tỉnh Sê Kong năm
3.6 Tình hình tiêm phòng vacxin bệnh Tụ huyết trùng trâu bò tại tỉnh
3.7 Kết quả phân lập Pasteurella multocida ở trâu tại tỉnh Sê kong 43
3.8 Kết quả phân lập Pasteurella multocida ở bò tại tỉnh Sê kong 44
3.9 Kết quả kiểm tra một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Pasteurella
3.10 Kết quả kiểm tra một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Pasteurella
3.11 Kết quả kiểm tra tính mẫn cảm với kháng sinh của vi khuẩn
3.12 Phác đồ điều trị bệnh Tụ huyết trùng trâu bò ở tỉnh Sê kong 49
3.13 Kết quả điều trị bệnh Tụ huyết trùng ở trâu tại tỉnh Sê Kong 50
3.14 Kết quả điều trị bệnh Tụ huyết trùng ở bò tại tỉnh Sê Kong 50
Trang 10DANH MỤC HÌNH
1.1 Tình hình bệnh Tụ huyết trùng trâu bò ở Lào năm 2011 và 2015 6
3.3 Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở Sê Kong 2011-2015 37
3.6 Tỷ lệ phân lập vi khuẩn Pasteurella multocida ở trâu 43
3.7 Tỷ lệ phân lập vi khuẩn Pasteurella multocida ở bò 44
Trang 111
MỞ ĐẦU
Đặt vấn đề
Bệnh tụ huyết trùng (Pasteurellosis) là môt bệnh truyền nhiễm cấp tính
gây bệnh cho nhiều loài gia súc, gia cầm Trong đó có trâu, bò bị bệnh với những biểu hiện sốt cao, mệt mỏi, khó thở, giảm ăn hoặc bỏ ăn, chướng bụng gây những thiệt hại đáng kể cho nền kinh tế nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng
Chăn nuôi trâu, bò đang là môt ngành quan trọng trong nền nông nghiệp Lào Chăn nuôi trâu, bò hàng năm cung cấp một lượng sức kéo và lượng phân bón cho trổng trọt, cung cấp rất lớn nguổn thực phẩm như: thịt, sữa có chất lượng
và giá trị dinh dưỡng cao cho xã hội tiêu dùng
Chăn nuôi trâu, bò muốn phát triển tốt và cho hiệu quả kinh tế, ngoài công tác giống, thức ăn, quản lý chăm sóc thì công tác phòng chống dịch bệnh
là rất quan trọng Do đặc điểm của từng vùng, từng khu vực và từng địa phương, do nhiều yếu tố và nguyên nhân khác nhau nên vẫn còn một số bệnh truyền nhiễm xẩy ra như bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đã gây thiệt hại lớn về kinh tế cho nhân dân
Ở Lào, bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đã được xác định có mặt ở hầu hết các địa phương trong cả nước (Cục Thú y và Thủy sản, 2003) Chính vì vậy bệnh này luôn được xác định là đối tượng nghiên cứu của ngành thú y trong những năm qua, hiện tại và những năm tiếp theo
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh tụ huyết trùng và phân lập vi
khuẩn Pasteurella nhưng nó chỉ mang tính chất vùng, miền đại diện cho khu vực
chứ chưa đại diện chung cho toàn bộ được
Do đặc điểm dịch tễ học của bệnh phức tạp, nguồn gieo rắc mầm bệnh là động vật khoẻ mang trùng vẫn chưa được làm sáng tỏ, gặp điều kiện thuận lợi bệnh phát ra ồ ạt hoặc phát ra lẻ tẻ theo từng địa phương Bởi vậy việc nghiên cứu tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu, bò trên cả nước và phân lập vi khuẩn
Trang 12ốm, chết số lượng đáng kể trâu, bò của địa phương và đã trở thành vấn đề bức
xúc, cần được nghiên cứu Vì lẽ đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò tại tỉnh Sekong - CHDCND Lào và ứng dụng một số phác đồ điều trị bệnh”
Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định một được số đặc điểm dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng trâu bò tại tình Sekong – CHDCND Lào
- Phân lập và xác định được một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Pasteurella gây bệnh tụ huyết trùng trâu bò
- Ứng dụng một số phác đồ điều trị bệnh tụ huyết trùng trâu, bò có hiệu quả
Trang 133
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò trên thế giới và ở CHDCND- lào
1.1.1 Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò trên thế giới
Bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đã được Bollinger phát hiện trong năm 1878 tại nước Đức Năm 1885, Kitt đã phân lập vi khuẩn tụ huyết trùng ở bò, nghiên cứu vi khuẩn gây bệnh ở các loài gia súc, thấy sự giống nhau về tính chất gây bệnh, nhưng tương đổng về kháng nguyên ở các loài có khác nhau và đặt tên là
Pasteurella để ghi nhớ công lao của người đầu tiên nghiên cứu phát hiện ra loại
vi khuẩn
Theo Luis Pasteur, người có nhiều đóng góp vào nghiên cứu phát hiện ra loại vi khuẩn này, năm 1887 Trevisan đã đề nghị đặt tên cho vi khuẩn là
Pasteurella (De Alwis, 1992) Do Pasteurella gây bệnh cho nhiều loài gia súc,
gia cầm nên tên của vi khuẩn, theo những năm trước đây, được gắn liền với tên của loài vật mà chúng gây bệnh vi khuẩn gây bệnh phân lập từ bò được gọi tên
là Pasteurella boviseptica, từ lợn là Pasteurella suiseptica Rosenbush and Merchant (1939) đề nghị đặt tên cho vi khuẩn là Pasteurella multocida, và tên này được gọi cho đến nay Bệnh do Pasteurella multocida gây ra thường ở hai
thể chủ yếu nhiễm trùng máu - xuất huyết (Haemorrhagic Septicaemia - HS) và viêm phổi ở bò (Bovine Pneumonia) Thể nhiễm trùng máu - xuất huyết thấy ở
trâu, bò các nước châu Á và châu Phi (Bain et al, 1982)
Từ năm 1887 đến nay bệnh đã được phát hiện ở nhiều nước trên thế giới thuộc khắp các châu lục
Châu Phi: Theo những báo cáo trước đây, tụ huyết trùng xẩy ra không lớn bởi số lượng trâu, bò ít Theo De Alwis (1999), bệnh tụ huyết trùng đã có ở vùng Bắc Phi, Trung Phi, Đông châu Phi và cả Nam châu Phi Những năm gần đây, bệnh được phát hiện ở nhiều nước thuộc châu lục này Tại Đông Phi, bệnh xuất hiện ở Eritrea vào tháng 6/2009 Tại Nam Phi, bệnh xuất hiện ở South Africa vào tháng 11/2011 Tại Tây Phi, bệnh xuất hiện ở Ghana, Niger và Sierra Leone vào
Trang 144
tháng 10/2010, tháng 12/2013 và tháng 12/2014 Bệnh cũng đã xuất hiện ở trâu
bò hoang dã tại Sierra Leone vào tháng 12/2014 (OIE, 2015a)
Châu Mỹ: bệnh xẩy ra ở bò rừng tại các công viên quốc gia trong các năm
1912, 1922, 1966, 1967; ở bò sữa năm 1969 và ở bò thịt vùng California năm
1993 Cùng năm 1993, ổ dịch tụ huyết trùng xẩy ra ở bò tại Canada Bệnh xẩy ra tại một số nước Nam Mỹ, nơi có mât độ trâu cao và các điều kiện tự nhiên tương
tự như các vùng nhiệt đới của châu Á Bệnh xuất hiện ở Colombia vào tháng 10/2007 (OIE, 2015a)
Châu Á: bệnh tụ huyết trùng đã xẩy ra ở trâu bò nuôi tại các nước Nam Á
và Đông Nam Á:
Nam Á: Theo FAO (1991), những vụ dịch xẩy ra lớn ở Ấn Độ, vào các năm từ 1936 - 1974 hằng năm có tới vài trăm ổ dịch tụ huyết trùng, hơn 40 nghìn gia súc chết mỗi năm, năm 1950 số gia súc chết rất lớn lên đến gần 60 ngàn con Tại Iran bệnh được thông báo năm 1930 Dulta và cộng sự (1990) đánh giá 4 thâp
kỷ đối với Ấn Độ, bệnh tụ huyết trùng đã làm chết 46 - 55% trong tổng số bò chết do các loại bệnh gây cho đàn trâu, bò De Alwis (1999), Dulta và cộng sự (1990) đã phân tích tình hình dịch bệnh xẩy ra ở đàn trâu, bò của Ấn Độ từ năm
1974 - 1986 cho thấy bệnh tụ huyết trùng có tỷ lệ chết cao nhất và lây lan thứ hai khi so sánh với các bệnh khác như lở mồm long móng, nhiệt thán, ung khí thán Đông Nam Á: bao gồm Indonesia, Philippin, Thái Lan và Malaysia Bệnh cũng đã xuất hiện ở Malaysia vào tháng 6/2012 Thái Lan số lượng trâu bò rất lớn nhưng dịch phát ra ở mức độ thấp
Philippin, trong năm 1990 đã có 1057 con bò chết trong tổng số 14.331 con mắc bệnh tụ huyết trùng trên tổng số đàn bò là 1,67 triệu con Số trâu chết
1725 con trong số 17.720 con mắc bệnh tụ huyết trùng, trên tổng số đàn trâu là 2,66 triệu con
Châu Âu những năm gần đây cũng đã phát hiện những ổ dịch tụ huyết trùng trâu bò cả ở trâu bò nuôi lẫn trâu bò hoang dã Bệnh đã xuất hiện ở Latvia tháng 12/2102, tại Azerbaijan trên trâu bò hoang dã vào năm 2009 và xuất hiện ở
Trang 155
trâu bò nuôi vào tháng 6/2014 Tại Ý, bệnh xuất hiện ở trâu bò nuôi vào 6/2007
và trên trâu bò hoang vào 6/2014
Bảng 1.1 Tình hình bệnh Tụ huyết trùng trâu bò trên thế giới giai đoạn
2005-2015
Trâu bò nuôi Trâu bò hoang dã
(Nguồn: OIE, 2015a http://www.oie.int/wahis_2/public/wahid.php/Diseaseinformation/statuslist)
1.1.2 Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò ở CHDCND Lào
Bệnh tụ huyết trùng trên gia súc ở Lào được phát hiện từ những năm cuối thế kỷ 20 bởi các nhà nghiên cứu người Ấn Độ Misra R.P (1987) đã thông báo
về bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở các tỉnh miền Bắc, miền Trung và miền Nam giai đoạn1979 - 1986 Bệnh xảy ra ở các tỉnh miền Bắc như: Siêng Khuang, Say Nha Bu Ly, Luang Năm Tha, Luang Pha Bang các hàng năm trâu, bò chết trung bình 80 - 120 con / năm trên toàn miền Bắc Lào
Bệnh xảy ra các tỉnh miền Trung vào các năm1982 - 1985, hàng năm có nhiều trâu, bò chết 80 - 90 con/ năm, theo Som May (1986) Sinh Khăm (1998) cho biết bệnh xảy ra ở các tỉnh miền Trung vào các năm 1982 - 1985, hàng năm
Trang 16Theo Bun Mi (2005), bệnh tụ huyết trùng xảy ra ở tỉnh Xay Nha Bu Ly vào các năm 2003 - 2004 có nhiều trâu, bò chết (175 con /năm)
Theo Bun Lom (2005), ở tỉnh Siêng Khoang từ năm 2004 bệnh tụ huyết trùng xảy ra làm trâu, bò chết (96 con /năm)
Theo Khăm Phon (1996), bệnh thường xảy ra ở những vùng ẩm thấp, khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, đặc biệt là vào đầu mùa mưa hoặc sau những trận mưa rào đột ngột và vào các giai đoạn chuyển mùa Tại Việt Nam Đỗ Văn Được (1999) nghiên cứu ở Lạng Sơn cho thấy vùng núi đất, có độ dốc lớn, nhiệt độ thấp, độ ẩm cao, tập quán chăn nuôi còn lạc hậu, chăn thả tự do tỷ lê trâu, bò nhiễm bệnh và chết do bệnh viêm phổi cao Các nghiên cứu ở miền Bắc tỉnh Xay Nha Bó Ly của Bun Lom (2003) cho biết ở vùng đổi núi thấp, tỷ lê trâu bò nhiễm bệnh tụ huyết trùng và chết cao Các kết quả nghiên cứu trên thế giới và Lào đều cho thấy rằng bệnh tụ huyết trùng mang tính chất vùng miền (vùng địa lý) rất rõ Ở Lào, các nghiên cứu cũng cho thấy bệnh tụ huyết trùng trâu, bò thường xẩy ra ở những vùng đất trũng, khí hậu nóng và ẩm ướt, theo Cục Thú y và Thuỷ sản (2003)
Hình 1.1 Tình hình bệnh Tụ huyết trùng trâu bò ở Lào năm 2011 và 2015
(Nguồn: OIE Disease distribution map, 2015b)
Trang 171.2 Bệnh tụ huyết trùng trâu bò
Bệnh tụ huyết trùng trâu bò (Pasteurellosis bovum) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính ở trâu, bò do cầu trực khuẩn Pasteurella multocida (P multocida)
thuộc các typ A, B, D, E gây ra Các biểu hiện đặc trưng: tụ huyết và xuất huyết
ở những vùng đặc biệt trên cơ thể, vi khuẩn thường xâm nhập vào máu gây bại huyết; vì vậy tên bệnh còn được gọi là bệnh bại huyết - xuất huyết
(Haemorrhagic septicaemia - HS) ở trâu, bò
1.2.1 Vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng trâu bò
1.2.1.1 Phân loại
Họ Pasteurellaceae gồm 15 chi, 7 chi trong số đó là những vi khuẩn rất quan trọng đối với thú y: Actinobacillus, Avibacterium, Haemophilus,
Histophilus, Mannheimia, Pasteurella và Bibersteinia (Quinn và cộng sự, 2011)
Những chi họ này có một số đặc điểm chung, một vài vi khuẩn được tái phân loại
dựa vào những nghiên cứu giải trình tự gen 16s RNA Pasteurella trehalosi ( trước đây được gọi là Pasteurella haemolytica biotype T) đã được xếp loại lại thành Bibersteinia trehalosi (Blackall và cộng sự, 2007) Những chủng vi khuẩn
P haemolytica được phân lập trước đây và từng cho là thuộc nhóm biotype A thì
đã được xếp vào một nhánh mới và đặt tên lại là Mannheimia
haemolytica (Sneath and Stevens, 1990) Pasteurella multocida, B trehalosi và M haemolyticaare là những chủng gây bệnh chính cho động vật Các chi họ Actinobacillus, Histophilus và Haemophilus cũng có một số vi khuẩn gây bệnh cho động vật Một vài Pasteurella và Mannheimia khác được
phân lập từ động vật nuôi và người
Pasteurella multocida serotype B:2 gây bệnh ở khu vực châu Á, Trung
Trang 188
Đông và một số khu vực thuộc Nam Âu trong khi serotype E:2 gây bệnh ở châu Phi Tuy nhiên những năm gần đây serotype E ít được phát hiện ở châu Phi mà
thấy có sự lưu hành của type B (Dziva et al., 2008)
Quinn và cộng sự (2011) đã tổng hợp và phân loại một số vi khuẩn thuộc
họ Pasteurellaceae gây bệnh cho trâu bò Trong đó chủ yếu là P multocida type
A, B và E gây bệnh cho trâu bò nhưng type A liên quan nhiều với bệnh viêm
phổi địa phương, Mannheimia haemolytica gây bệnh cho trâu bò ở dạng viêm
phổi Ngoài ra có một số khác cũng gây bệnh cho trâu bò nhưng hiếm gặp như:
M granulomatis và P lymphangitidis
1.2.1.2 Đặc điểm hình thái
P.multocida là vi khuẩn gram âm, trong môi trường nuôi cấy mới và tổ chức động vật vi khuẩn bắt màu lưỡng cực đặc trưng khi nhuộm với Leishman hoặc xanh methylene Nếu nuôi cấy trong môi trường nhân tạo thì ít thấy tính chất này Manniger (1919) giải thích tính lưỡng cực của vi khuẩn là do tế bào vi khuẩn đang ở giai đoạn sinh sản, trước khi phân chia các tế bào phát triển trong động vật hay trong môi trường nuôi cấy; để lâu vi khuẩn tăng lên về kích thước, nguyên sinh chất tập trung ở hai đầu tế bào nên khi nhuộm thấy dạng khuẩn lưỡng cực, phần thân tế bào không bắt màu
Vi khuẩn P.multocida là loài hiếu khí hay yếm khí tuỳ tiên có dạng cầu
trực khuẩn bắt màu gram âm và có kích thước nhỏ (0,2 x 1-2 µm) Vi khuẩn có giáp mô không sinh nha bào và bắt màu lưỡng cực, vi khuẩn có thể đứng riêng lẻ hoặc đứng thành đôi Theo Smith (1959) kích thước và hình thái của vi khuẩn có
sự thay đổi phụ thuộc vào nguổn gốc của chúng
Vi khuẩn phân lập từ bò có kích thước đồng nhất 0,5 µm - 1,2 µm Carter (1967) cho rằng tính đa dạng của vi khuẩn liên quan đến điều kiện nuôi cấy thiếu oxy Vi khuẩn thường đổng nhất trong máu đông vật, trong môi trường nuôi cấy
vi khuẩn thường có nhiều hình dạng như hình trứng, hình cầu
Theo Rosenbush và Merchant (1939) khi nuôi cấy vi khuẩn trong môi trường có thêm cacbon vi khuẩn thường mọc thành chuỗi, hình thái của vi khuẩn
Trang 199
còn thay đổi theo hình thái của nó, kích thước của vi khuẩn có giáp mô còn lớn hơn vi khuẩn không giáp mô
1.2.1.3 Đặc tính nuôi cấy của vi khuẩn trên các môi trường
Vi khuẩn P.multocida có thể nuôi cấy ở nhiều loại môi trường: thể lỏng,
thể đặc hoặc bán cố thể, môi trường có thể cho thêm chất kích thích
P.multocida phát triển ức chế các loại vi khuẩn khác, tuỳ vào mục đích nghiên cứu mà cho thêm vào môi trường các loại đường, axit amin và các hoá chất khác nhau để đánh giá vi khuẩn
Trong môi trường nước thịt Hotinger hoặc Martin sau khi nuôi cấy 24 giờ,
P.multocida phát triển làm đục nhẹ môi trường, khi lắc nhẹ có vẩn đục như sương mù sau đó mất dần Nếu để quá 24 giờ dưới đáy có lắng cặn nhầy và bên trên có màng mỏng
Carter (1952) cho biết trong môi trường nước thịt Hotinger hoặc Martin
sau khi nuôi cấy 24 giờ P.multocida mọc tốt làm đục môi trường, tạo mùi đặc
trưng, khi nuôi cấy vi khuẩn lâu, mùi tanh này mất dần Vi khuẩn thoái hoá nhanh sau khi phân lập và nuôi giữ trên môi trường dinh dưỡng Carter (1967) Moriss (1959) đã đưa ra một môi trường chọn lọc có cho thêm neomycine (2,5 mg/l) để nuôi cấy và phân lập vi khuẩn từ các mẫu bị tạp khuẩn Neomycine có
tác dụng ngăn chặn sự phát triển của P pseudotuberculosis mà vẫn cho phép P
mutocida phát triển
Theo Namioka và Murata (1961a) môi trường nuôi cấy tốt nhất cho vi
khuẩn P multocida là môi trường YPC (Yeast extract Pepton, L.cystine) có thêm
Sucrose và Sodium sunfate Đây cũng là môi trường giúp tái tạo mô của vi khuẩn Prince (1969) cũng cho rằng tính chất kháng nguyên của vi khuẩn tăng lên rõ ràng khi được nuôi cấy ở môi trường YPC này có bổ xung thêm máu Nhưng Jordan (1982) lưu ý rằng máu có thể được thay thế bằng Hematin, Sodium sunfat Để làm tăng số lượng khuẩn lạc trên môi trường rắn có thể cho thêm Pantothenate, Thiamin và L.cystine Moriss (1959) đã đưa ra một môi trường chọn lọc để nuôi cấy và phân lập vi khuẩn từ các mẫu tạp khuẩn và cho thêm kháng sinh
Neomycine có tác dụng ngăn chặn sự phát triển của P pseudotubecculosis để vi
Trang 20khuẩn P.multocida phát triển
Theo Namioka và Murata (1961b) môi trường để phân lập, nuôi giữ và thu hoạch kháng nguyên, môi trường giữ giống tươi và đông khô dùng cho vi khuẩn
P.multocida như sau: Môi trường phân lập, môi trường thạch có thêm 5% - 10% huyết thanh thỏ hoặc ngựa
Môi trường nuôi cấy và thu hoạch kháng nguyên: môi trường YPC thạch, môi trường này giúp phục hổi những khuẩn lạc thoái hoá và thu được những kháng nguyên có chất lượng dùng trong các phản ứng sinh hoá và định type vi khuẩn Khi giữ giống tươi có thể dùng môi trường này đậy nút kín ở 40C giữ được 2 - 3 tuần
Để đông khô giữ giống: dùng môi trường YPC không cho thạch mà cho thêm 1,0 gam sucarose 1,0 gam sodium glutamic, vi khuẩn ở dạng đông khô có thể giữ được10 năm trong điều kiên 40C
Trong quá trình nuôi cấy vi khuẩn ở môi trường lỏng, người ta có thể dùng phương pháp sục khí, để tăng cường sự phát triển của vi khuẩn
P.multocida. Khi so sánh 2 phương pháp nuôi: sục khí và cấy tĩnh thấy số lượng
vi khuẩn tăng lên gấp 20 lần ở cùng loại môi trường, người ta áp dụng phương pháp nuôi cấy này để tăng số lượng vi khuẩn trong 1ml canh trùng và để rút ngắn thời gian nuôi cấy trong sản xuất vacxin phòng bênh
Theo Carter (1952), trong môi trường nước thịt, vi khuẩn P.multocida
mọc tốt tạo mùi tanh đặc trưng, mùi tanh đặc trưng này thể hiên rõ nhất ở pha phát triển nhanh Sau khi nuôi cấy lâu, mùi tanh này mất dần
Nuôi cấy trên môi trường thạch thường ở 370C sau 24 giờ vi khuẩn
P.multocida phát triển thành các dạng khuẩn lạc sau:
- Dạng S (Smooth) khuẩn lạc có mặt vổng trơn bóng loáng, dung quang sắc cầu vổng, đôc lực mạnh, vi khuẩn thuôc dạng khuẩn lạc này, thường tạo lớp giáp mô nhiều hơn loại xù xì
- Dạng M (Mucoid) khuẩn lạc nhầy ướt, kích thước to nhất dung quang sắc cầu vổng, đôc lực yếu hơn dạng S
- Dạng R (Rough) khuẩn lạc dẹt rìa nhám, xù xì, dung quang màu xanh, dạng này đôc lực yếu
Trang 21vi khuẩn P.multocida Khi nuôi cấy vi khuẩn P.multocida phát triển thành khuẩn
lạc nhỏ, rìa gọn, xung quanh mép rìa khuẩn lạc có hiên tượng phát huỳnh quang Khuẩn lạc dạng S có dung quang màu xanh lơ chiếm tỷ lệ 2/3, còn lại là khuẩn lạc R có dung quang vàng Theo Hudson (1954), nhiệt độ thích hợp nhất cho vi
khuẩn P.multocida phát triển là 370C với pH từ 7,2 - 7,6 Nhiệt độ với pH < 6 hoặc pH > 8,5 vi khuẩn mọc kém, nếu muốn vi khuẩn mọc tốt cho thêm vào môi trường 5% - 10% huyết thanh đông vật Hoàng Đạo Phấn (1986) cho biết vi khuẩn mọc tốt trong môi trường nước thịt pepton, sau môt ngày đêm vi khuẩn làm đục môi trường nhưng vài ngày nước thịt trở nên trong, đáy có cặn lắc khó tan Tác giả cho rằng để giữ giống tươi, cần cấy chuyển vi khuẩn qua môi trường thạch máu, vì vi khuẩn mới được phân lập mọc tốt trong các môi trường nuôi cấy thông thường, nhưng khi nuôi cấy tiếp sẽ mọc yếu, vì vậy phải cho thêm vào môi trường nuôi cấy một lượng huyết thanh
Theo Nguyễn Như Thanh (2001), độc lực của vi khuẩn giảm dần từ dạng
S đến dạng R Theo Carter (1952) và Rimler (1992) khuẩn lạc của vi khuẩn P
multocida tập trung ở 2 dạng chính: khuẩn lạc có dung quang sắc cầu vồng và khuẩn lạc có dung quang màu xanh Dung quang của khuẩn lạc liên quan đến vỏ nhầy của vi khuẩn, vi khuẩn có khuẩn lạc dung quang sắc cầu vồng đứng riêng lẻ hoặc từng đôi có vỏ nhầy và rất độc, thường gây bệnh thể cấp tính, khuẩn lạc có dung quang màu xanh kém độc lực hơn dạng S, thường gặp ở những gia súc bị bênh theo tính chất vùng dịch địa phương (Rimler and Rohoades, 1987)
Theo Hedleston (1996), những khuẩn lạc của vi khuẩn mới phân lập có dung quang không đồng đều và có xu hướng dính vào nhau Dung quang của khuẩn lạc cũng thay đổi khi cấy chuyển nhiều lần qua môi trường dinh dưỡng hoặc tiêm truyền qua động vật thí nghiêm khuẩn lạc có thể chuyển từ dạng S sang dạng M hoặc dạng R và ngược lại Rosenbush and Merchant (1939) cho
rằng khi cấy vi khuẩn P multocida trên thạch máu hay tiêm truyền qua động vật
Trang 22thí nghiêm, khuẩn lạc của vi khuẩn được tăng cường độ dung quang Tác giả giải thích rằng hiên tượng dung quang của khuẩn lạc vi khuẩn có liên quan đến tính chất của một số hợp chất có khả năng hấp thụ những tia ánh sáng nhất định có trong vi khuẩn Vi khuẩn nuôi cấy lâu ngày hoặc cấy chuyển nhiều lần thì khuẩn lạc có sự thay đổi
1.2.1.4 Đặc tính sinh vật hoá học
Có nhiều công trình nghiên cứu đặc tính sinh hoá của vi khuẩn
P.multocida và dựa vào các đặc tính và các phản ứng sinh hoá này của vi khuẩn
P.multocida để xác định và phân biệt với các loài vi khuẩn khác và chủng vi khuẩn có nguồn gốc từ các loài động vật khác nhau
Carter (1955) đã cho rằng các chủng P.multocida type A phân giải
Arabinose và Dullitol, không phân giải Xylose Các type B và type C phân giải xylose nhưng không phân giải Arabinose và Dulcitol Chúng còn phân giải Glerecose, Inositol, Dextrin và tinh bột Một số chủng phân giải yếu Sorbitol, Glycorol và Fructose tạo thành axít
Lignieres (1990) cho biết vi khuẩn P.multocida làm tan chảy gelatin, không phân giải lactose, không sinh Indol và đã chia vi khuẩn P.multocida làm 3 nhóm:
- Nhóm 1: gồm các nhóm phân giải lactose, maltose, glucose, mannit, gây dung huyết
- Nhóm 2: gồm các vi khuẩn phân giải glucose, sacharose, mannit, không phân giải lactose, maltose, không dung huyết
- Nhóm 3: gồm các vi khuẩn phân giải glucose, sacharose, mannit, lactose, maltose, không dung huyết
Tác giả còn cho thấy rằng khi nuôi cấy lâu trong phòng thí nghiêm vi khuẩn mất khả năng phân giải Arabinose và xylose Tất cả các chủng nghiên cứu trên đều sinh Indol không di động, không dung huyết và không phân giải Urea
Abdullahi Mz et al (1990) nghiên cứu khả năng dung huyết của các chủng P.multocida và kết luận rằng tất cả đều không gây dung huyết, khi nghiên cứu về phản ứng Indol của các chủng P.multocida đã xác định là P.multocida sản
sinh Indole
Mỗi loại vi khuẩn có sự trao đổi chất riêng của nó, quá trình trao đổi chất
Trang 23là quá trình hấp thụ chất dinh dưỡng để sống và phát triển, đổng thời cũng đào thải những chất không cần thiết cho tế bào vi khuẩn và những chất thải của nó ra ngoài Những chất đào thải đó ở mỗi loại vi khuẩn có khác nhau, do đó sự trao đổi chất khác nhau của vi khuẩn dẫn đến sự khác nhau về tính chất sinh hoá của từng loại vi khuẩn Dựa trên sự khác nhau về tính chất sinh hoá, để ứng dụng vào việc chẩn đoán phân lập vi khuẩn, những phản ứng sinh hoá này của vi khuẩn
P.multocida được xác định để phân biệt với các loài vi khuẩn khác, dùng để xác định các chủng vi khuẩn từ các loài động vật khác nhau và dùng để phân biệt các
loài vi khuẩn khác thuộc giống Pasteurella
Quinn và cộng sự (2011) đã đưa ra bảng so sánh một số đặc tính sinh vật
hóa học của những chủng Pasteurella và Mannheimia gây bệnh chính
Bảng 1.2 Phân biệt một số Pasteurella và Mannheimia gây bệnh chính
Ghi chú: (+): Dương tính
(-): Âm tính (v): Không ổn định, lúc dương tính, lúc âm tính
Trang 241.2.1.5 Đặc tính kháng nguyên và giáp mô của Pasteurella multocida
* Kháng nguyên của Pasteurella multocida
Kháng nguyên của vi khuẩn P.multocida rất phức tạp, cấu trúc từng loại
kháng nguyên thay đổi Cho đến nay các nhà khoa học đã xác định được kháng
nguyên của P.multocida có 2 loại là kháng nguyên vỏ (K) và kháng nguyên thân
(O) Kháng nguyên vỏ (K) chính là lớp vỏ bao xung quanh vi khuẩn, che cho kháng nguyên O khỏi bị tác dụng của kháng thể O Do đó muốn phát hiện kháng nguyên O phải phá huỷ kháng nguyên K hoặc dùng phương pháp nuôi cấy cho vi khuẩn hình thành kháng nguyên giáp mô K, kháng nguyên giáp mô K chỉ có ở vi khuẩn tụ huyết trùng tạo khuẩn lạc S và không bao giờ gặp ở vi khuẩn tạo khuẩn lạc dạng nhầy M và xù xì dạng R
Prince và Smith (1966) dùng phương pháp miễn dịch điện di đã tách được
16 kháng nguyên Bằng phương pháp khác nhau các tác giả đã xác định cấu trúc các loại kháng nguyên và gọi chúng theo bản chất cấu trúc: kháng nguyên protein, kháng nguyên lypopolysaccharid, polysaccharid và và axit amin
Carter và Chengapa (1991) cho rằng cần phải kết hợp 2 hệ thống là phản ứng ngưng kết hổng cầu gián tiếp và phản ứng khuếch tán trên thạch sẽ xác định
serotype của P.multocida Hai hệ thống định type của P.multocida được dùng là:
- Namioka và Murata (1961a) - Carter (1955)
- Carter (1955) – Heddleston (1972)
Trong đó hệ thống Carter - Heddleston được dùng phổ biến
Pheng Phet, Thong Phun và Yoshikasu Iritani (2004) cho biết ở Lào, bệnh
tụ huyết trùng trâu, bò cũng gặp các chủng thuộc typ B
* Giáp mô của vi khuẩn Pasteurella multocida
Nhiều tác giả nghiên cứu độc lực của vi khuẩn P.multocida đã khẳng định độc lực của vi khuẩn P.multocida liên quan chặt chẽ với giáp mô của vi khuẩn
Vi khuẩn P.multocida sản sinh trong điều kiện nhất định sẽ sinh ra giáp mô bao
quanh tế bào Manninger (1919) đã xác định những vi khuẩn có giáp mô thì thấy
có độc lực và những vi khuẩn không có giáp mô thì thấy không có độc lực Theo
Caster (1967), những vi khuẩn P.multocida phân lập được từ động vật mắc bệnh
Trang 25cấp tính sẽ thấy có giáp mô và có độc lực Khi nuôi cấy vi khuẩn này lâu trong môi trường nhân tạo, giáp mô của vi khuẩn sẽ mất và vi khuẩn không còn độc lực Nhưng ta lại cấy tiếp vi khuẩn mất giáp mô này trong môi trường cho thêm
máu hay tiêm truyền qua động vật thí nghiệm thì vi khuẩn P.multocida tái tạo lại
giáp mô và thể hiện độc lực Caster còn cho rằng khi nuôi cấy vi khuẩn ở 370C trong môi trường nhân tạo qua một đêm thấy vi khuẩn phát triển giáp mô đầy đủ, sau đó mất dần đi Điều này chứng tỏ giáp mô chỉ tổn tại ở những vi khuẩn non
Theo tác giả thì khả năng xâm nhập và sự phát triển của vi khuẩn ở trong
ký chủ là nhờ sự có mặt của giáp mô Một chủng mất khả năng tái tạo giáp mô cũng sẽ không còn độc lực Nhiều chủng khi phân lập có giáp mô rõ ràng nhưng độc lực lại ít, vì độc lực của vi khuẩn có thể phụ thuộc vào cấu trúc hoá học của giáp mô hơn là sự có mặt của chúng Có thể nhuộm được lớp vỏ giáp mô của vi khuẩn bằng phương pháp nhuộm Hiss và phương pháp nhuộm Anthony
1.2.2 Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng trâu bò
1.2.2.1 Loài vật và lứa tuổi mắc bệnh
Trong thiên nhiên: trâu, bò cảm thụ mạnh nhất Trâu, bò rừng cũng mắc bệnh Bệnh từ trâu, bò có thể lây sang ngựa, chó và lợn vì vậy trong ổ dịch tụ huyết trùng trâu, bò cần chú ý phòng bệnh cho các loài động vật này Bê, nghé đang bú mẹ ít mắc, trâu bò 2 - 3 tuổi mắc bệnh hơn trâu, bò già Trâu dường như thường mẫn cảm và mắc bệnh nặng hơn bò với thời gian nung bệnh ngắn hơn Trong phòng thí nghiệm: thỏ cảm nhiễm nhất, tiêm vi khuẩn vào dưới da hoặc tĩnh mạch chỉ sau 1 - 2 ngày thỏ chết Bệnh tích thể hiện: chỗ tiêm có nước,
tụ máu, lồng ngực tích nước; phổi và khí quản viêm xuất huyết, ruột xuất huyết (Nguyễn Bá Hiên và cs., 2013)
Trang 26phát triển của mầm bệnh trong môi trường sinh sống ở đông vật cảm nhiễm
Tính chất mùa vụ của bệnh tụ huyết trùng cũng được các nhà khoa học Lào nghiên cứu và có khí hậu nóng, ẩm, mưa nhiều nên bệnh xảy ra rải rác quanh năm nhưng tập trung vào các tháng mưa nhiều Khăm Phon (1996) cho biết ở tỉnh Viêng Chăn bệnh xảy ra mạnh từ tháng 2 đến tháng 6, 7 và bệnh xảy
ra đối với các gia súc chưa tiêm phòng vacxin tụ huyết trùng Ở miền Bắc bệnh xảy ra quanh năm, các tháng mưa nhiều từ tháng 6 đến tháng 10 số ổ dịch chiếm tới 65% số ổ dịch trong năm
Như vậy, các kết quả đã nghiên cứu về ảnh hưởng của mùa vụ đến bệnh, đều thống nhất là bệnh tụ huyết trùng có tính chất mùa vụ rõ rệt Bệnh xẩy ra nhiều vào những thời gian có nhiệt đô cao, nóng ẩm, mưa nhiều
1.2.2.3 Phương thức truyền lây
Bệnh lây lan trực tiếp từ con ốm sang con khỏe thông qua tiếp xúc, qua thức ăn, nước uống, nhốt cùng chuồng, chăn cùng bãi chăn thả hoặc dùng chung các dụng cụ chăn nuôi
Bệnh có thể lan xa do việc mổ thịt súc vật ốm, phân tán thịt, da Chó, mèo, chuột, côn trùng hút máu như ruồi, mòng cũng là vật trung gian để truyền bệnh
Bệnh xảy ra rải rác quanh năm ở các vùng nóng ẩm nhưng thường tập trung vào mùa mưa từ tháng 6 - 9
1.2.2.4 Cơ chế sinh bệnh
Bệnh tụ huyết trùng thường phát sinh ở các vùng nóng ẩm Vào mùa mưa,
vi khuẩn sẵn có trong đất được nước đưa lên mặt đất, dính vào rơm cỏ và nước uống nếu trâu, bò ăn phải sẽ mắc bệnh
Sau khi vào đường tiêu hoá, vi khuẩn qua niêm mạc nhờ các vết xây xát nhỏ do rơm, cỏ cứng và dị vật, chúng xâm nhập vào máu đến hệ thống lympho ruột, hạch sau hầu làm hạch này sưng rất to Từ đó, vi khuẩn xâm nhập vào các hạch lympho khác như hạch trước vai, hạch trước đùi làm cho các hạch này cũng sưng to và bị thuỷ thũng Bởi vậy trâu, bò bị bệnh tụ huyết trùng thường có biểu hiện đặc trưng là sưng hạch hầu
Trong điều kiện bình thường, ở đa số trâu, bò khoẻ vi khuẩn tụ huyết
Trang 27trùng thường sống ký sinh trên niêm mạc đường hô hấp và tiêu hoá Có tới 80%
số trâu, bò khỏe mang vi khuẩn nhưng chúng không gây bệnh, giữa vi khuẩn và súc vật có sự cân bằng sinh học Khi gặp các yếu tố ngoại cảnh bất lợi như: thời tiết thay đổi đột ngột, thiếu thức ăn, làm việc nặng nhọc làm sức đề kháng của con vật giảm sút, thế cân bằng sinh học bị phá vỡ, vi khuẩn tăng cường độc lực, xâm nhập vào máu và phủ tạng để gây bệnh
1.2.2.5 Hiện tượng mang trùng ở trâu bò đối với bệnh tụ huyết trùng
Vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng tồn tại ở trâu, bò khoẻ và cư trú ở hầu, họng, ở ruột và môt vài vị trí khác của trâu, bò Singh (1948) đã chứng minh sự
có mặt của vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng trong đường hô hấp của trâu, bò khoẻ Wijewanda and Karunaratne (1992) đã phát hiện động vật mang trùng khi khảo sát ở lò giết mổ gia súc chiếm tỷ lệ khoảng 15% Các cuộc khảo sát sau này cho thấy, hiện tượng mang trùng của động vật trong đường hô hấp trên có liên quan tới các vụ dịch Theo Gupta (1962), ở môt vụ dịch có 7,5% gia súc khoẻ mang trùng ở đường hô hấp Mustafa và cs (1978), phát hiện có 44% số con khoẻ ở đàn bò trong ổ dịch có mang trùng trong đường hô hấp, trong 3 đàn khác nhau không liên quan đến ổ dịch thì tỷ lệ mang trùng ở đường hô hấp là 0%; 3,8%; 5,5% De Alwis phát hiện 22,7% con vật mang trùng trong đường hô hấp ở
4 đàn nơi có bệnh tụ huyết trùng xẩy ra Những phát hiện này cho thấy tỷ lệ mang trùng ở đường hô hấp có liên quan tới tỷ lệ mắc bệnh của đàn trâu, bò Các nghiên cứu khẳng định có thể phát hiện đông vật mang trùng bằng cách lấy bênh phẩm ở đường hô hấp trên để nuôi cấy phân lập vi khuẩn Singh (1948), Wijewanda và cs (1992), đã phân lập vi khuẩn bằng cách nuôi cấy dịch tiết ở mũi, hầu và các hạch lympho của trâu, bò lấy từ lò mổ De Alwis cho rằng có một tỷ lê thấp trâu, bò mang vi khuẩn ở hầu, họng, mũi và tuyến Amidan Ở những con vật này có hiệu giá kháng thể cao so với con vật không mang trùng và
vi khuẩn thông qua dịch tiết niêm mạc mũi bài tiết ra ngoài gây cảm nhiễm cho
gia súc khác Theo Ackermann và cs., (1994), hạch Amidan là nơi cư trú của P
multocida Chúng có vai trò bệnh nguyên gây ra viêm khí quản, viêm màng phổi Saharee và cs., (1992), đã phân lập từ đàn bò ở Malaysia và cho rằng trong những khoảng thời gian khác nhau thì sự xuất hiện của vi khuẩn tụ huyết trùng
Trang 28trâu, bò ở các vị trí trên cũng khác nhau Theo De Alwis (1986) việc lấy mẫu được nhắc lại ở các thời điểm khác nhau, đã phát hiện những con vật khác nhau mang trùng ở những ngày lấy mẫu cũng khác nhau và tỷ lệ động vật mang trùng
ở hầu và họng ít nhất dao động từ 12 - 40%
Có nhiều tác giả nghiên cứu và kết luận hạch Amidan của động vật mang
trùng là vị trí ký sinh của vi khuẩn P multocida Wijewanda và cs (1992), đã
kiểm tra 103 hạch Amidan của trâu, bò từ lò giết mổ trong một vùng có dịch địa
phương và đã phân lập được 49 chủng P.multocida Ở điều kiện tự nhiên vi
khuẩn tụ huyết trùng cư trú ở hạch Amidan không bị các kháng sinh nhạy cảm tiêu diệt De Alwis (1999) đã phát hiện ra điều này bằng điều trị những con vật mang trùng, những con vật mang trùng ẩn được điều trị 3 ngày với Oxytetracyline, Chloramphenycol hoặc Sulfadimidine và được giết mổ một tuần sau đó Kết quả phân lập vi khuẩn được từ amidan là dương tính Chứng tỏ rằng kháng sinh đã không có tác dụng với vi khuẩn trong hạch Amidan Các nhà
nghiên cứu đã làm rõ vị trí cư trú của vi khuẩn P.multocida trong hạch amidan
bằng cách đã sử dụng các phương pháp hoá sinh miễn dịch để kiểm tra những phần của hạch amidan, của các động vật mang trùng ẩn cho thấy, vi khuẩn không tổn tại trong mô hạch Amidan nhưng tổn tại trong hốc hạch amidan như vậy là nó vẫn tổn tại mặc dù có liệu pháp kháng sinh
Ở Lào, tài liệu của Sinh Khăm (1998) cho biết kết quả phân lập từ dịch ngoáy mũi thấy có 6,52% vật mang trùng ở trâu, bò khoẻ, kết quả ghi rõ có nằm trong vùng dịch hay không Khăm Phon (1996) phân lập được vi khuẩn từ 8,36% trâu bò khỏe mạnh từ dịch ngoáy mũi ở vùng miền Trung và miền Bắc
Các kết qủa nghiên cứu đã khẳng định trạng thái mang trùng có liên quan
đến khả năng mắc bệnh của trâu, bò khoẻ mang trùng thì vì khuẩn P multocida
tổn tại trong hầu, họng và hạch Amidan
1.2.3 Triệu chứng và bệnh tích bệnh tụ huyết trùng trâu bò
1.2.3.1 Triệu chứng
* Thể ác tính (thể quá cấp tính)
Thể này thường ít gặp Trâu, bò phát bệnh rất nhanh, con vật đột nhiên lên cơn sốt cao 41- 420C và trở nên hung dữ, điên loạn, đập đầu vào tường và chết
Trang 29trong vòng 24 giờ Với bê nghé 3 - 18 tháng có thể hiện triệu chứng thần kinh: giãy giụa ngã vật xuống rồi chết, có khi con vật đang ăn bỗng chạy lồng lên, điên loạn, run rẩy, ngã xuống rồi lịm đi
* Thể cấp tính
Thể này xảy ra phổ biến ở trâu, bò Thời gian nung bệnh ngắn từ 1 - 3 ngày, con vật không nhai lại, mệt lả, bứt rứt, sốt cao đột ngột 40 - 420C Các niêm mạc mắt, mũi đỏ sẫm rồi tái xám Nước mắt trâu, bò nước mũi chảy liên tục Các lạch lympho đều sưng, đặc biệt là hạch dưới hầu sưng rất to, làm cho con vật lè lưỡi ra, thở khó khăn, người ta thường gọi là "bệnh lưỡi đòng" hay bệnh "trâu bò hai lưỡi" Hạch lympho trước vai, trước đùi sưng, thủy thũng làm cho con vật đi lại khó khăn Vật bệnh thể hiện hội chứng hô hấp, thở mạnh và khó khăn do viêm màng phổi, tràn dịch màng phổi, có tụ huyết và viêm phổi cấp Một số rất ít trâu, bò bị bệnh thể đường ruột lúc đầu phân táo bón sau đó
đi ỉa chảy, phân có lẫn máu và niêm mạc ruột Bụng con vật chướng to do viêm phúc mạc và có tương dịch trong xoang bụng
Lúc sắp chết, con vật nằm liệt, đái ra máu, thở rất khó khăn, có nhiều chấm xuất huyết đỏ sẫm ở các niêm mạc Bệnh tiến triển 3 - 5 ngày Tỷ lệ chết 90 - 100% Nếu bệnh chuyển sang nhiễm trùng máu thì con vật sẽ chết trong thời gian
từ 24 - 36 giờ
* Thể mạn tính
Con vật mắc bệnh ở thể cấp tính, nếu không chết, bệnh sẽ chuyển thành mạn tính Vật bệnh thể hiện viêm ruột mạn tính: lúc ỉa chảy, lúc táo bón, viêm khớp làm cho con vật đi lại khó khăn, viêm phế quản và viêm phổi mạn tính
Bệnh tiến triển trong vài tuần Con vật có thể khỏi bệnh, các triệu chứng nhẹ dần, nhưng thường con vật gầy rạc và chết do kiệt sức
Trang 301.2.4.1 Chẩn đoán lâm sàng
Dựa vào triệu chứng, bệnh tích đặc trưng sa
+ Ở thể cấp tính hoặc quá cấp tính con vật chết nhanh trong vòng 8 giờ đến 24 giờ Trạng thái đờ đẫn, sốt 41 đến 420C Con vật ho, thể trạng giảm sút,
có triệu chứng chảy nước dãi, chảy nước mắt, chảy nước mũi, phù thũng, sưng to
từ họng đến cổ và ức, suy hô hấp khó thở và chết trong vài giờ
+ Mổ khám: Thấy toàn thân sung huyết, xuất huyết lấm tấm, phù thũng, thuỷ dịch màu vàng rơm ở vùng thuỷ thũng, bao tim xoang ngực chứa lẫn dịch máu, xuất huyết lấm tấm tại các hạch vùng hầu và cổ, viêm phổi thường không tập trung
1.2.4.2 Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm
- Nuôi cấy: Bệnh phẩm là máu tim hoặc tuỷ xương hay dịch ngoáy mũi
trâu, bò, hạch amidan, các hạch lympho của trâu, bò cần chẩn đoán pha loãng hay ria trực tiếp trên môi trường thạch máu
Nếu bệnh phẩm đảm bảo không bị nhiễm các mầm bệnh khác thì có thể quan sát được khuẩn lạc sau 24 giờ nuôi cấy trên đĩa thạch, có thể lấy các khuẩn lạc này để tiến hành các phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính Dựa vào hình thái của khuẩn lạc hoặc hình thái của vi khuẩn được phết kính trực tiếp từ môi trường nuôi cấy và kết quả dương tính đối với phản ứng nhanh trên phiến kính có thể chẩn đoán trong phòng thí nghiệm là dương tính Nếu bệnh phẩm bị nhiễm tạp mà đó là các trường hợp rất phổ biến thì trước hết cần thu được canh trùng thuần khiết bằng cách tiêm truyền qua chuột và nuôi cấy máu chuột Nuôi
Trang 31cấy máu chuột và tiến hành phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính với canh trùng đó có thể khẳng định được bệnh Trong vòng 24 - 48 giờ đã có thể có kết quả chẩn đoán trong phòng thí nghiệm khi đã trở thành thường quy
+ Phương pháp chẩn đoán vi sinh vật thường quy: Nhuộm tiêu bản phết
máu và soi kính, phết kính máu của động vật chết nghi tụ huyết trùng, nhuộm bằng xanh methylen hoặc Leishman hoặc nhuộm Gram sẽ thấy các trực khuẩn ngắn, lưỡng cực, gram âm Phương pháp này chưa đủ để khẳng định đó là vi
khuẩn P multocida vì rất nhiều vi khuẩn gram âm có dạng lưỡng cực
- Phương pháp phản ứng sinh vật học: Phương pháp phân lập tốt nhất là
tiêu dưới da chuột với liều tiêm khoảng 0,1 - 0,2 ml dung dịch máu tuỷ xương
hoà nước muối sinh lý Nếu đúng vi khuẩn P.multocida chuột sẽ chết trong vòng
24 giờ Hút lấy máu tim chuột đem nhuộm gram sẽ thấy nhiều vi khuẩn gram âm lưỡng cực, đồng thời máu chuột đem nuôi cấy sẽ phân lập được vi khuẩn type B
có độc lực rất cao đối với chuột Phương pháp này rất hữu dụng khi mẫu bệnh phẩm có rất ít vi khuẩn sống thậm chí có lẫn nhiều tạp khuẩn
1.2.4.3 Chẩn đoán huyết thanh học
Phương pháp chẩn đoán huyết thanh học để xác định serotyp của
P.multocida, dựa vào việc tìm kiếm kháng nguyên vỏ và kháng nguyên thân của
vi khuẩn Có rất nhiều phương pháp và kỹ thuật để định type kháng nguyên vỏ và kháng nguyên thân theo các phương pháp sau đây:
+ Phương pháp ngưng kết nhanh trên phiến kính định loại kháng nguyên
vỏ Đây là phương pháp chẩn đoán thường quy phòng thí nghiêm dựa vào kỹ thuật của Namioka và Murata (1961a) để định type kháng nguyên vỏ
+ Phản ứng ngưng kết gián tiếp hồng cầu (IHA: Indirect Haemagglution test) để xác định kháng nguyên vỏ Đây là phản ứng được dùng phổ biến trong chẩn đoán dựa trên kỹ thuật của Caster (1955)
+ Phản ứng kết tủa trên thạch (AGPT: agar gel precipitation test) để định type kháng nguyên thân Theo phương pháp của Heddleston và cs (1972)
+ Phương pháp ELISA: Phương pháp ELISA có đô chính xác cao và độ nhạy lớn dùng để chẩn đoán vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng nhưng không thể
Trang 32định type P.multocida Phản ứng này dùng cho chẩn đoán bệnh tụ huyết trùng
nhanh và chính xác
1.2.4.4 Các kỹ thuật sinh học phân tử
Với những thành tựu về kỹ thuật phân tử hiện nay đã có nhiều kỹ thuật mới có thể phân tích bộ gen của các cơ thể sống Một số kỹ thuật đã được áp dụng để chẩn đoán bệnh tụ huyết trùng trâu bò Các kỹ thuật này phân biệt được các chủng trong cùng một serotype
- Phương pháp PCR (polymerase chain reaction): Phương pháp PCR
làm tăng lượng bản sao DNA có mặt trong mẫu bệnh phẩm và cho phép phát hiện chính xác các trình tự gen đặc hiệu, phương pháp PCR đã được ứng dụng trong chẩn đoán bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đã được nhiều nhà nghiên cứu vào ứng dụng (De Alwis, 1999)
- Phương pháp giải trình tự gen: Hiện tại hầu hết vi khuẩn đều được giải
trình tự gen 16s RNA Sau khi nhân gen 16s RNA lên bằng phản ứng PCR, phân đoạn gen sẽ được giải trình tự và so sánh với ngân hàng sữ liệu gen Kết quả thu được có độ chính xác rất cao, định danh được cả tên của loài vi khuẩn
1.2.5 Phòng và điều trị bệnh tụ huyết trùng
Bệnh tụ huyết trùng do vi khuẩn gram âm gây ra nên có thể sử dụng nhiều loại kháng sinh hiện có để điều trị Nhưng bệnh tụ huyết trùng thường hay mắc ở thể cấp tính và quá cấp tính khiến con vật chết nhanh nên cần phát hiện sớm điều trị kịp thời mới cho kết quả tốt Như vậy biện pháp phòng bệnh cần được chú trọng trong công việc kiểm soát và khống chế bệnh tụ huyết trùng
Tăng cường sức đề kháng cho con vật bằng cách vệ sinh thức ăn, nước
Trang 33uống, ăn đủ, uống đủ; chăm sóc, sử dụng và khai thác hợp lý
Khi có dịch xảy ra phải phát hiện kịp thời gia súc ốm để cách ly điều trị, tránh làm lây lan bệnh, công bố dịch, cấm không cho vận chuyển và mổ thịt trâu,
bò Trâu, bò chết phải chôn sâu có đổ vôi bột vào hố chôn Toàn bộ chuồng trại, bãi chăn phải được vệ sinh, tẩy uế triệt để Đốt rác thải và ủ phân có trộn vôi bột
1.2.5.2 Điều trị bệnh tụ huyết trùng
Bệnh tụ huyết trùng có thể điều trị với hiệu quả cao nếu phát hiện kịp thời
và có phác đồ điều trị hợp lý
Theo De Alwis, điều trị bằng Streptomycin cho hiệu quả tốt Ngoài ra việc
sử dụng Tetracyclin để điều trị bệnh tụ huyết trùng trâu, bò bằng đường tiêm bắp thấy loại kháng sinh này cho kết quả tốt, với số ngày điều trị ngắn hơn Chanda -
A (1989) đã cho biết Ampicilin có hiệu quả tốt hơn trong việc điều trị nhiễm
trùng do P.multocida Bandopadhyay và cộng sự (1991) đã kiểm tra khả năng kháng kháng sinh của 16 chủng P.multocida phân biệt được từ các ổ dịch khác
nhau ở Ấn Độ với 19 loại kháng sinh và cho biết tất cả các chủng đều nhạy cảm với Penicillin, Ampicilin, Erythromicine, Caphalercin, Colistin và Chloramphenicol để điều trị tụ huyết trùng cho kết quả tốt
Phạm Sỹ Lăng, Lê Thị Tài (1994) cho rằng cần phối hợp các loại kháng sinh tuỳ theo từng loại vi khuẩn để tăng hiệu quả sử dụng thuốc Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2000) đã nêu một số thuốc kháng sinh phối hợp có thể điều trị tụ huyết trùng là: Ampi - kana, Genta - sunmet, Genta - tylo Trong khi
Trang 34sử dụng các kháng sinh điều trị, các tác giả đề nghị phải dùng thêm các thuốc trợ lực trợ tim và các loại vitamin Những hóa dược hỗ trợ khác cho phác đồ điều trị nhằm mục địch trợ sức, trợ lực cho con vật là: Cafein, Anagil và các vitamin B, vitamin C Trong trường hợp cần thiết có thể truyền dịch để tăng sức đề kháng cho con vật
Nguyễn Bá Hiên và cs (2013) cho biết có thể dùng kháng huyết thanh tụ huyết trùng đơn giá hoặc đa giá để chữa bệnh đặc hiệu Tuy nhiên, trường hợp bệnh ở thể cấp tính cần phải tiêm sớm mới có hiệu quả Liều điều trị có thể từ
100 – 250 ml/con