Người sử dụng đất quy định tại Thông tư 28/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường liên quan đến tổ chức như sau: Các tổ chức trong nước bao gồm: cơ quan n
Trang 11.1 Cơ sở khoa học về đất đai và vai trò của đất đai đến phát triển kinh tế
1.1.1 Đất đai đối với sự phát triển kinh tế, xã hội 4 1.1.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc sử dụng đất 4 1.1.3 Các khái niệm liên quan đến quản lý, sử dụng đất của các tổ chức 5
1.1.5 Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc sử dụng đất của các tổ chức
Trang 21.3.4 Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức
1.4.1 Hiện trạng sử dụng đất đai tỉnh Hưng Yên năm 2014 28 1.4.2 Tình hình sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn tỉnh Hưng Yên 31 1.4.3 Đánh giá thực trạng công tác quản lý, sử dụng đất của các tổ chức 33
2.4.1 Phương pháp điều tra thu thập thông tin, tài liệu, số liệu 38
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Văn Lâm có ảnh hưởng đến quá trình quản lý sử dụng đất của các tổ chức kinh tế 41
3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của huyện
3.2 Hiện trạng quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Văn Lâm 52
3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất đai năm 2014 của huyện Văn Lâm 54 3.2.3 Đánh giá chung về tình hình quản lý, sử dụng đất đai 60 3.3 Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trên
3.3.1 Hiện trạng sử dụng đất theo mục đích sử dụng đất của các tổ chức
Trang 33.3.2 Tình hình giao sử dụng đất và cho thuê đất: 63 3.3.3 Đánh giá tình hình quản lý sử dụng đất của các tổ chức kinh tế: 64 3.4 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất của các
tổ chức kinh tế trên địa bàn huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên 76
3.4.4 Giải pháp về tăng cường quản lý, sử dụng đất của các tổ chức
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH - HĐH : Công nghiệp hoá- Hiện đại hóa
UBND : Ủy ban Nhân dân
WTO : Tổ chức Thương Mại Thế giới
Trang 5DANH MỤC BẢNG
1.1 Tình hình đất chưa sử dụng của các tổ chức sử dụng đất ở nước ta 27
3.1 Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế giai đoạn 2005 - 2014 45 3.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2014 của huyện Văn Lâm 55 3.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2014 của huyện Văn Lâm (tiếp) 56 3.3 Diện tích, cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp năm 2014 57 3.4 Diện tích, cơ cấu sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2014 58 3.5 Hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức kinh tế theo mục đích sử
3.6 Hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức kinh tế phân theo đơn vị
3.7 Phân loại các tổ chức kinh tế trên địa bàn huyện Văn Lâm 63
3.9 Tình hình quản lý, sử dụng đất thuê của các tổ chức kinh tế 65 3.10 Tình hình cho thuê, cho mượn, chuyển nhượng không đúng mục
3.11 Các tổ chức kinh tế chưa đưa diện tích đất vào sử dụng trên địa bàn
3.11 Các tổ chức kinh tế chưa đưa diện tích đất vào sử dụng trên địa bàn
3.12 Các tổ chức kinh tế lấn chiếm đất tập thể ở huyện Văn Lâm 70 3.13 Những nguyên nhân chính của các tổ chức kinh tế sử dụng đất
không đúng mục đích được thuê ở huyện Văn Lâm 72 3.14 Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của một số tổ
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Biểu đồ 3.1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2014 huyện Văn Lâm 57
Hình ảnh 4 Công ty cổ phần xây dựng công trình giao thông 1 93
Hình ảnh 6 Công ty TNHH sản xuất dịch vụ và thương mại Tùng Dương 94
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên, tài sản quốc gia quý báu, là địa bàn để phân bố dân cư và các hoạt động kinh tế, xã hội quốc phòng, an ninh, là nguồn nội lực để xây dựng và phát triển bền vững quốc gia
Sau hơn 20 năm đổi mới với nhiều nỗ lực, nền kinh tế nước ta đã và đang trên đà phát triển nhưng so với các nước trong khu vực thì nền kinh tế còn tụt hậu rất nhiều Là một nước đang phát triển, Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức khi gia nhập môi trường cạnh tranh quốc tế Ý thức sâu sắc vấn đề này, Đảng và Nhà nước ta đã từng bước đưa ra những quyết sách đúng đắn, phù hợp Một trong những chính sách lớn là chương trình hành động do Chính phủ đưa ra nhằm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Chương trình hành động này xác định nhiệm vụ của các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương và địa phương, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhằm tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức, đưa nước ta bước vào giai đoạn phát triển mới, nhanh và bền vững Chính phủ đã chỉ rõ 12 nhóm nhiệm vụ chủ yếu cần được triển khai thực hiện và bảo vệ môi trường, phát triển bền vững là một trong những nhiệm vụ quan trọng
Trong mỗi nhiệm vụ được cụ thể hoá bằng các đề án, kế hoạch, chính sách cần được xây dựng và thực hiện Các công việc cụ thể này được đề cập chi tiết đến nội dung, cơ quan chịu trách nhiệm và thời gian hoàn thành Đối với mảng thị trường đất đai và bất động sản, công việc cần được triển khai thực hiện ngay
từ năm 2007 là tổng kiểm kê quỹ đất, quỹ nhà ở, trụ sở làm việc của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội
Ở nước ta, quỹ đất của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất là rất lớn Tuy nhiên, hiện nay diện tích này quản lý chưa được chặt chẽ, sử dụng chưa
Trang 8thực sự hiệu quả, trong việc quản lý còn để xảy ra nhiều tiêu cực, đó là bỏ hoang không sử dụng trong thời gian dài, sử dụng không đúng mục đích, lấn chiếm và bị lấn chiếm, chuyển nhượng, cho thuê không đúng luật,
Nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn khách quan, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg ngày 14 tháng 12 năm 2007 về việc kiểm kê quỹ đất đang quản lý, sử dụng của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất đến ngày 01 tháng 4 năm 2008 Đây là việc làm có ý nghĩa thiết thực trong việc tăng cường vai trò quản lý Nhà nước đối với nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng về đất đai nói chung và diện tích đất đang giao cho các tổ chức quản lý sử dụng nói riêng
Huyện Văn Lâm có 1 vị trí chiến lược rất quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Hưng Yên Nơi đây có các tuyến đường giao thông quan trọng như đường sắt Hà Hải, đường bộ, đường thuỷ, nối liền với các tỉnh phía bắc Chính những yếu tố thuận lợi như vậy thúc đẩy huyện Văn Lâm phát triển nhanh, mạnh và bền vững về kinh tế - xã hội, là huyện đi đầu trong việc thực hiện CNH - HĐH của tỉnh
Do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội có xu hướng ngày càng gia tăng, quỹ đất dành cho công nghiệp được mở rộng và thu hút doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn huyện ngày một nhiều nên công tác quản lý và sử dụng đất của huyện có nhiều vướng mắc, trở ngại đang cần được khắc phục nhất là tình hình quản lý sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trên địa bàn huyện Vậy hiệu quả quản lý sử dụng đất của các tổ chức kinh tế đạt được như thế nào, nguyên nhân của việc quản lý sử dụng đất còn vướng mắc là do đâu? Giải pháp thúc đẩy công tác quản
lý ra sao? là các câu hỏi cần phải được giải đáp để đưa ra hướng giải quyết
thích hợp trong giai đoạn tới Xuất phát từ thực trạng đó, tôi chọn đề tài: "Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất của một số tổ chức kinh tế trên địa bàn huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên" được đặt ra với mong
muốn đưa ra những giải pháp thiết thực và tích cực nhằm tăng cường vai trò quản
lý chặt chẽ quỹ đất của Nhà nước
Trang 92 Mục đích và yêu cầu nghiên cứu
2.2 Yêu cầu của đề tài
- Chỉ rõ được những thuận lợi, khó khăn, tồn tại về công tác quản lý, sử dụng
quỹ đất của một số tổ chức kinh tế được Nhà nước giao theo mục đích sử dụng (diện tích đất được giao, được thuê, diện tích đất sử dụng sai mục đích, diện tích đất chuyển nhượng, cho thuê không đúng mục đích, diện tích đất chưa đưa vào sử dụng ) làm căn cứ đề xuất giải pháp khắc phục trong tương lai
- Các thông tin, số liệu, tài liệu điều tra phản ánh đúng thực trạng sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trên địa bàn nghiên cứu dựa trên cơ sở của Luật đất đai và các Văn bản hướng dẫn thi hành
- Đề xuất một số giải pháp thiết thực, phù hợp với đặc điểm của địa phương nhằm nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trên địa bàn nghiên cứu
- Kết quả nghiên cứu đảm bảo cơ sở khoa học và thực tiễn
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học về đất đai và vai trò của đất đai đến phát triển kinh tế
xã hội
1.1.1 Đất đai đối với sự phát triển kinh tế, xã hội
Đất đai có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội sâu sắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Điều đó đã được khẳng định trong Luật đất đai
Chúng ta đều biết rằng, không có đất thì không thể sản xuất, cũng như không có sự tồn tại của con người Đất là sản phẩm của tự nhiên, xuất hiện trước con người và tồn tại ngoài ý muốn của con người Đất tồn tại như một vật thể lịch
sử - tự nhiên
Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế, xã hội, khi mức sống của con người còn thấp, công năng chủ yếu của đất là tập trung vào sản xuất vật chất, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp Khi xã hội phát triển ở mức độ cao hơn, công năng của đất được từng bước mở rộng, sử dụng đất cũng phức tạp hơn Đất đai không chỉ cung cấp cho con người các tư liệu vật chất để sinh tồn và phát triển
mà còn cung cấp các điều kiện cần thiết để hưởng thụ và đáp ứng nhu cầu cho cuộc sống nhân loại (Nguyễn Thị Vòng và các cộng sự, 2008)
1.1.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc sử dụng đất
1.1.2.1 Nhân tố điều kiện tự nhiên
Trong nhân tố điều kiện tự nhiên, điều kiện khí hậu là nhân tố hạn chế hàng đầu của việc sử dụng đất đai, sau đó là điều kiện đất đai (chủ yếu là địa hình, thổ nhưỡng) và các nhân tố khác
- Điều kiện tự nhiên khí hậu: Các yếu tố khí hậu, thủy văn ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và điều kiện tự nhiên sinh hoạt của con người
- Điều kiện đất đai (địa hình và thổ nhưỡng): Địa hình, địa mạo và độ dốc ảnh hưởng đến phương thức sử dụng đất nông nghiệp, đặt ra yêu cầu quy hoạch, xây dựng đồng ruộng để thủy lợi hóa và cơ giới hóa Điều kiện thổ nhưỡng quyết định rất lớn đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp
Đối với đất phi nông nghiệp, địa hình phức tạp sẽ ảnh hưởng tới giá thành
Trang 11xây dựng công trình và gây khó khăn cho việc đưa đất vào sử dụng
Đặc thù của nhân tố điều kiện tự nhiên mang tính khu vực Vị trí địa lý của vùng với sự khác biệt về điều kiện tự nhiên ánh sáng, nhiệt độ nguồn nước và các điều kiện tự nhiên khác sẽ quyết định khả năng, công dụng và hiệu quả sử dụng đất đai Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế nhằm đạt được hiệu ích cao nhất về xã hội, môi trường và
kinh tế (Nguyễn Thị Vòng và các cộng sự, 2008)
1.1.2.2 Nhân tố kinh tế - xã hội
Bao gồm các yếu tố như chế độ, dân số và lao động, thông tin và quản lý, chính sách môi trường và chính sách đất đai, yêu cầu quốc phòng, sức sản xuất
và trình độ phát triển của kinh tế hàng hóa, cơ cấu kinh tế và phân bố sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông, vận tải,
sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, điều kiện
và trang thiết bị vật chất cho công tác phát triển nguồn nhân lực, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Nhân tố kinh tế - xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với
việc sử dụng đất đai (Nguyễn Thị Vòng và các cộng sự, 2008)
1.1.2.3 Nhân tố không gian
Trong thực tế, mọi ngành sản xuất vật chất và phi vật chất (như các ngành nông nghiệp, công nghiệp, khai thác, xây dựng, mọi hoạt động kinh tế và hoạt động xã hội) đều cần đến đất đai như điều kiện không gian để hoạt động Không gian bao gồm cả vị trí mặt bằng Đặc tính cung cấp không gian của đất đai là yếu
tố vĩnh hằng của tự nhiên ban phát cho xã hội loài người Vì vậy, không gian trở thành một trong những nhân tố hạn chế cơ bản nhất của việc sử dụng đất
Đối với đất xây dựng đô thị, đất dùng cho công nghiệp, xây dựng công trình, nhà xưởng, giao thông mặt bằng không gian và vị trí của đất đai có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng và đem lại giá trị kinh tế (Nguyễn Thị Vòng và các
cộng sự, 2008)
1.1.3 Các khái niệm liên quan đến quản lý, sử dụng đất của các tổ chức
Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 tại Chương II, Điều 18 quy định: "Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo
Trang 12quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài"
Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 tại Chương III, Điều 53 quy đinh: "Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý"
Việc quản lý, sử dụng nguồn tài nguyên đất đai đúng mục đích, hợp lý, có hiệu quả, bảo vệ cảnh quan và môi trường sinh thái sẽ phát huy tối đa nguồn lực của đất đai, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Theo Luật Đất đai năm 2003, một số khái niệm liên quan đến các tổ chức quản lý, sử dụng đất được hiểu như sau:
Nhà nước giao đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất đai bằng quyết định hành chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất
Theo Luật đất đai năm 2013 thì Nhà nước giao đất là việc Nhà nước ban hành Quyết định để trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất
Nhà nước cho thuê đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng hợp đồng cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất
Theo Luật đất đai năm 2013 thì Nhà nước cho thuê đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất thông qua hợp đồng cho thuê đất
Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng ổn định là việc Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho người đó
Nhận chuyển quyền sử dụng đất là việc xác lập quyền sử dụng đất do
được người khác chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật thông qua các hình thức chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất mà hình thành pháp nhân mới
Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng
Trang 13đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai
Người sử dụng đất quy định tại Thông tư 28/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng
6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường liên quan đến tổ chức như sau:
Các tổ chức trong nước bao gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế - xã hội, tổ chức sự nghiệp công, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức khác theo quy định của Chính phủ (sau đây gọi chung là tổ chức) được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất; tổ chức kinh tế nhận chuyển quyền sử dụng đất;
Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất
Tổ chức nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo pháp luật về đầu tư được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất
Theo Nghị định 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, một số khái niệm liên quan đến các tổ chức quản lý, sử dụng đất được hiểu như sau:
Sử dụng đất không đúng mục đích là hành vi sử dụng đất không đúng với mục đích được giao, loại đất ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyết định giao đất, quyết định cho thuê đất, quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất hoặc giấy tờ khác về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản
1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai
Lấn đất là việc người đang sử dụng đất tự chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất
Chiếm đất là việc sử dụng đất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc chủ sử dụng đất cho phép sử dụng hoặc việc sử dụng đất do được Nhà nước tạm giao hoặc mượn đất nhưng hết thời hạn tạm giao, mượn đất
Trang 14mà không trả lại đất
1.1.4 Khái quát chung về quỹ đất các tổ chức
Quỹ đất đang quản lý, sử dụng của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất được kiểm kê bao gồm quỹ đất thuộc cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế - xã hội, tổ chức sự nghiệp công, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, tổ chức nước ngoài đầu
tư vào Việt Nam
- Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của
tổ chức liên chính phủ được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất;
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo pháp luật về đầu
tư được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất
- Tổ chức sự nghiệp công là tổ chức do các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập, có chức năng thực hiện các hoạt động dịch vụ công do ngân sách nhà nước chi trả
Theo Thông tư số 08/2007/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 02 tháng 8 năm 2007 và Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm
kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất, quỹ đất của các tổ chức trên địa bàn toàn quốc được thống kê phân theo các loại: giao đất không thu tiền
sử dụng đất; giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất
- Cơ quan, đơn vị của Nhà nước là các tổ chức trong nước sử dụng đất bao
gồm: cơ quan của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội (trừ các cơ
quan cấp xã); tổ chức sự nghiệp công; đơn vị quốc phòng, an ninh
- Tổ chức kinh tế là tổ chức trong nước (kể cả trường hợp người Việt Nam
định cư ở nước ngoài lựa chọn hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm) được thành lập theo Luật Doanh nghiệp, Luật
Trang 15Hợp tác xã sử dụng đất vào mục đích sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ Quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất, cho thuê đất được quy định cụ thể tại điều 174,175 Luật đất đai năm 2013
Theo Điều 22, Luật Đầu tư năm 2005 nhà đầu tư được đầu tư để thành lập các tổ chức kinh tế sau đây:
a) Doanh nghiệp tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp;
b) Tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, quỹ đầu tư và các tổ chức tài chính khác theo quy định của pháp luật;
c) Cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục, khoa học, văn hóa, thể thao và các cơ sở dịch vụ khác có hoạt động đầu tư sinh lợi;
d) Các tổ chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật
- Uỷ ban nhân dân cấp xã là người sử dụng đất được Nhà nước giao đất sử
dụng vào các mục đích: đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích công ích; đất làm trụ sở Uỷ ban nhân dân, Hội đồng nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội của cấp xã; đất được Nhà nước giao cho Uỷ ban nhân dân cấp xã xây dựng các công trình công cộng về văn hoá, giáo dục, y tế, thể dục - thể thao, vui chơi giải trí, chợ, nghĩa trang, nghĩa địa và các công trình công cộng khác của địa phương
Đối với các công trình công cộng do các tổ chức được công nhận là pháp nhân hoặc do hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng thì không thống kê vào đối tượng Uỷ ban
nhân dân cấp xã sử dụng
- Tổ chức khác là các tổ chức trong nước sử dụng đất bao gồm: Tổ chức
xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, cơ sở tôn giáo và các tổ chức khác không phải là cơ quan, đơn vị của Nhà nước, không phải là tổ chức kinh tế
- Tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài là nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ
chức nước ngoài có chức năng ngoại giao được Nhà nước cho thuê đất; bao gồm doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2013)
1.1.5 Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc sử dụng đất của các tổ chức kinh tế
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt trong nông - lâm nghiệp, đồng thời cũng là nơi xây dựng các công
Trang 16trình, đáp ứng nhu cầu về mặt bằng để phát triển kinh tế - xã hội, dân sinh, an ninh quốc phòng
Cùng với sự phát triển của xã hội, dân số tăng lên, quá trình đô thị hóa diễn
ra với tốc độ nhanh thì nhu cầu của con người đối với đất đai cũng ngày càng gia tăng Có nghĩa cung là cố định còn cầu luôn có xu hướng gia tăng Điều này dẫn đến những mâu thuẫn giữa những người sử dụng đất và giữa các mục đích sử dụng đất khác nhau Vì vậy để sử dụng đất có hiệu quả và bền vững, quản lý đất đai được đặt ra như một nhu cầu cấp bách và cần thiết
Quản lý đất đai đảm bảo nguyên tắc tập trung thống nhất trong cả nước Việc quản lý nhằm kết hợp hiệu quả giữa sở hữu và sử dụng đất trong điều kiện hệ thống pháp luật nước ta quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và Nhà nước thống nhất quản lý về đất đai Mặt khác, quản lý đất đai còn có vai trò quan trọng trong việc kết hợp hài hòa các nhóm lợi ích của Nhà nước, tập thể và cá nhân nhằm hướng tới mục tiêu phát triển Công tác quản lý đất đai dựa trên nguyên tắc quan trọng nhất là sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững
Do đó quản lý, sử dụng đất đai là một trong những hoạt động quan trọng nhất của công tác quản lý hành chính Nhà nước nói chung và quản lý, sử dụng đất của các tổ
chức nói riêng
1.2 Cơ sở pháp lý liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất của các tổ chức
Trước đây nền kinh tế nước ta còn nghèo nàn, lạc hậu nhưng qua quá trình phát triển nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến đáng kể Nền kinh tế tự cung, tự cấp đã dần chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần với định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế ngày càng phát triển dẫn đến sự đa dạng hóa các thành phần kinh tế và các hình thức sản xuất Từ chỗ kinh tế quốc doanh chiếm
đa số thì đến nay kinh tế tư nhân, liên doanh liên kết phát triển đóng vai trò không thể thiếu trong nền kinh tế quốc dân
Nhờ có chính sách đổi mới đó mà đời sống người dân ngày càng cải thiện Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực đó thì vấn đề đặt ra với cơ quan quản lý đất đai là làm thế nào để đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất ngày càng gia tăng của các ngành sản xuất và của đời sống nhân dân Đây là vấn đề được Đảng và
Trang 17Nhà nước hết sức quan tâm, chú trọng giải quyết Sự quan tâm đó được thể hiện qua Luật Đất đai và hàng loạt các văn bản của Chính phủ và các Bộ, Ngành có liên quan qua các thời kỳ Cụ thể như:
- Luật Đất đai năm 1993 quy định hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất đối với đất ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp và giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với đất sản xuất nông nghiệp cho hộ gia đình cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, tổ chức trong nước sử dụng không vì mục đích lợi nhuận Hình thức cho thuê đất đối với các đối tượng như: tổ chức kinh tế trong nước; tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao
- Luật Đất đai sửa đổi bổ sung năm 1998, có bổ sung hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất cho tổ chức kinh tế trong nước đối với các dự án xây dựng kinh doanh nhà ở và các dự án sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng
- Luật Đất đai năm 2003, quy định cụ thể về hình thức cho thuê đất như sau: tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài được lựa chọn giữa thuê đất trả tiền một lần và trả tiền hàng năm Đối với chính sách giao đất không thu tiền sử dụng đất, Điều 33, mục 3, chương 2 của Luật Đất đai năm 2003 quy định 07 trường hợp được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, trong đó phần lớn diện tích đất giao tập trung vào 2 đối tượng sau: các tổ chức được giao đất nông nghiệp nghiên cứu thí nghiệm, thực nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp và đất chuyên dùng giao cho các tổ chức xây dựng trụ sở cơ quan công trình sự nghiệp, quốc phòng, an ninh và các mục đích công cộng không có mục tiêu lợi nhuận
- Luật đất đai năm 2013 quy định các đối tượng được giao đất có thu tiền
sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:
+ Hộ gia đình, cá nhân được giao đất ở;
+ Tổ chức kinh tế được giao đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở
để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê;
+ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được giao đất để thực hiện các dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê;
+ Tổ chức kinh tế được giao đất thực hiện dự án đầu tư hạ tầng nghĩa trang, nghĩa địa để chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với hạ tầng
Trang 18Theo quy định tại điều 56 Luật đất đai năm 2013 thì việc Nhà nước cho thuê đất theo hai hình thức cho thuê thu tiền sử dụng đất hàng năm hoặc cho thuê thu tiền sử dụng đất một lần cho cả thời gian thuê
+ Nhà nước cho thuê đất thu tiền sử dụng đất hàng năm trong các trường hợp sau đây:
Hộ gia đình, cá nhân thuê đất dể sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối
Hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu tiếp tục sử dụng diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức được giao trước ngày 01/01/1999 mà thời hạn sử dụng đã hết
Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức giao đất từ ngày 01/01/1999 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ diện tích đất
hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê; hoạt động khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm
Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao thuê đất để xây dựng trụ sở làm việc
+ Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê trong các trường hợp sau đây:
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất để thực hiện dự án đầu tư sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối, làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh, xây dựng kết
Trang 19cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê, hoạt động khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm, xây dựng nhà ở để bán hoặc cho thuê
Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao thuê đất để xây dựng trụ sở làm việc
Để cụ thể hóa những nội dung trên Chính phủ và các Bộ đã ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể như sau:
- Nghị định số 85/CP của Chính phủ ngày 17 tháng 12 năm 1996 quy định việc thi hành pháp lệnh về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức trong nước được Nhà nước giao đất, cho thuê đất và Chỉ thị số 245/TTg ngày 22 tháng 4 năm 1996;
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 về thi hành Luật Đất đai năm 2003;
- Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 quy định việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng
10 năm 2004 về thi hành Luật Đất đai năm 2003;
- Nghị định số 142/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước;
- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
- Nghị định số 69/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định
bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư
- Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
- Nghị định số 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất;
- Nghị định số 121/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ về về
Trang 20sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 142/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước;
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai;
- Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định
về giá đất;
- Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định
về thu tiền sử dụng đất;
- Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định
về tiền thuê đất, thuê mặt nước;
- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định
về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
Bên cạnh các văn bản của Chính Phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính cũng ban hành các Thông tư hướng dẫn thực hiện các điều của Luật đất đai và các Nghị định của Chính Phủ
Để thực hiện các văn bản của Chính phủ, các bộ, UBND tỉnh Hưng Yên cũng ban hành Quyết định số 09/QĐ-UBND ngày 01/6/2009 quy định, trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, chuyển hình thức sử dụng đất và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn tỉnh Hưng Yên; Quyết định số 14/QĐ-UBND ngày 27/10/2014 ban hành quy định một số trường hợp cụ thể về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
Trong thực tế hiện nay một phần không nhỏ diện tích đất trên đã bị các tổ chức sử dụng vào các mục đích khác hoặc không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất như: cho thuê, bỏ hoang không sử dụng hoặc bị tổ chức, cá nhân lấn chiếm, chiếm dụng,…
Để từng bước khắc phục tình trạng trên, ngày 14 tháng 12 năm 2007 Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg về việc kiểm kê quỹ đất đang quản lý, sử dụng của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất với mục tiêu tổng hợp và đánh giá thực trạng việc quản lý, sử dụng quỹ đất được nhà nước giao đất, cho thuê đất trên cả nước; trên cơ sở đó đưa ra những giải
Trang 21pháp quản lý sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả hơn đối với quỹ đất này (Chính phủ, 2007)
1.3 Tổng quan về tình hình quản lý, sử dụng đất liên quan đến việc quản lý
sử dụng đất của các tổ chức trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Tình hình quản lý, sử dụng đất của một số nước trên thế giới
Hiện nay trên thế giới ngoài ý thức và tính pháp chế thực thi pháp luật của chính quyền nhà nước và mọi công dân, chính sách pháp luật về lĩnh vực đất đai của các quốc gia đang ngày càng được hoàn thiện Trên cơ sở chế độ sở hữu về đất đai, ở quốc gia nào cũng vậy, nhà nước đều có những chính sách, nguyên tắc nhất định trong việc thống nhất chế độ quản lý, sử dụng đất đai Một trong những chính sách lớn được thực hiện tại nhiều quốc gia là chính sách giao đất cho người
sử dụng đất nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bình ổn chính trị, tạo sự công bằng trong xã hội, cụ thể tình hình quản lý, sử dụng đất của một số nước trên thế giới như sau:
1.3.1.1 Liên bang Nga
Sau khi Liên bang Xô Viết tan rã, năm 1991 Liên bang Nga tiến hành công cuộc cải tổ sở hữu đất đai, công nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai song song với sở hữu Nhà nước Giai đoạn cải tổ đất đai hiện nay ở Liên bang Nga gắn liền với kế hoạch chuyển sang phương pháp quản lý đất đai bằng kinh tế Với tiêu chí quản chặt quỹ đất của Nhà nước, chính sách đất đai của liên bang Nga vẫn tồn tại việc giao đất không thu tiền sử dụng đất với thời hạn "lâu dài" cho các
Tổ chức dùng để xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp, các công trình
công cộng, phúc lợi xã hội, (Điều 20, 21, Chương 4, Luật đất đai Liên bang Nga năm 2001) tuy nhiên hình thức này hiện không được khuyến khích và gần
như không tiếp tục thực hiện Nhà nước mở rộng cho thuê đất như là một hình thức sử dụng đất đặc biệt đối với đất ở đô thị (Tôn Gia Huyên, Nguyễn Đình
Bồng, 2007)
1.3.1.2 Trung Quốc
Theo khoản 4 Điều 10 Hiến pháp 1982 Trung Quốc, không tổ chức, cá nhân nào được phép chiếm đoạt, mua, bán, cho thuê hay chuyển nhượng đất đai dưới bất kỳ hình thức nào Như vậy, không khác gì thời kỳ kinh tế tập trung của
Trang 22Việt Nam, ở Trung Quốc lúc bấy giờ không hề tồn tại cơ chế thị trường nào cho người SDĐ để họ có thể trao đổi đất đai như một loại hàng hóa Hậu quả là đất đai bị sử dụng một cách không hiệu quả và lãng phí Quy định hạn chế nói trên rõ ràng đi ngược lại với quy luật khách quan của sự phát triển kinh tế - xã hội cho nên chỉ phát huy được hiệu lực trong một thời gian ngắn
Người SDĐ trên thực tế vẫn tiến hành trao đổi đất đai như một loại hàng hóa Chính vì vậy, thị trường đất đai “không chính thức” - còn gọi là “chợ đen” (black market) nhưng năng động đã bắt đầu xuất hiện ở Trung Quốc Ở đó, nhiều nông dân, hợp tác xã đã lén lút bán hoặc cho thuê đất của mình cho các doanh nghiệp có nhu cầu Đây chính là nhân tố tạo đà cho quá trình thực hiện cải cách chính sách đất đai ở nước này Việc đưa đất đai vào quan hệ thị trường khởi nguồn từ những cải cách trong hệ thống SDĐ cuối những năm 1980 Từ việc cho thuê đất ở Thượng Hải dưới sự đồng ý của Chính phủ và việc đấu giá quyền sử dụng đất (QSDĐ) đầu tiên ở Thẩm Quyến theo Hiến pháp sửa đổi của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1988, hệ thống phân phối đất đai không thu tiền và không xác định thời hạn đã bị chấm dứt, đất đai chính thức được tham gia vào thị trường như một loại hàng hóa
Luật Quản lý nhà nước về đất đai năm 1986 đã quy định cơ cấu SDĐ thông qua việc giao và cho thuê có đền bù, từ đây đã tạo nền tảng cho việc hình thành thị trường đất đai Vào tháng 11/1987, Hội đồng Nhà nước Trung Quốc đã ban hành quyết định cải cách đất đai ở một số thành phố lớn như Thượng Hải, Thẩm Quyến, Quảng Châu Đặc khu Kinh tế Thẩm Quyến là thành phố đầu tiên ở Trung Quốc thừa nhận giá trị hàng hóa của đất đai
Vào 01/12/1987, Thẩm Quyến đã bán đấu giá QSD đất 8.588 m2 với thời hạn 50 năm, 44 doanh nghiệp ở đây đã cạnh tranh quyết liệt để có QSD đất và người chiến thắng đã phải trả 5.250.000 Nhân dân tệ Như vậy, tại Thẩm Quyến, QSD đất tham gia vào thị trường như các tài sản khác lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc và đã khởi xướng cho việc chuyển giao QSD đất của Nhà nước bằng phương thức đấu thầu và đấu giá
Sau đó, vào tháng 4/1988, Quốc hội nước này đã sửa đổi Hiến pháp, trong
đó bổ sung quyền chuyển nhượng QSD đất theo quy định của pháp luật và hủy bỏ
Trang 23quy định cấm cho thuê đất Cùng với việc sửa đổi Hiến pháp, Hội đồng nhà nước Trung Quốc đã ban hành Quy chế tạm thời về việc giao và chuyển nhượng QSD đất của Nhà nước tại đô thị, trong đó quy định rõ rằng QSD đất có thể chuyển nhượng bằng hợp đồng, đấu thầu và đấu giá (Tôn Gia Huyên, Nguyễn Đình Bồng, 2007)
1.3.1.3 Indonesia
Indonesia gồm khoảng 17.000 hòn đảo, khoảng 6.000 trong số đó không
có người ở Các hòn đảo nằm rải rác ở cả hai phía đường xích đạo Dân số nước này là 237 triệu người, đứng thứ 4 trên thế giới về dân số Với diện tích 1.919.440 km2, Inđonesia là nước đứng thứ 16 trên thế giới về diện tích đất liền Theo Luật đất đai số 2/2012 của nước này quy định: Đất đai, khoáng sản, khoảng không trên đất được xác định thuộc sở hữu toàn dân Do vậy Indonesia thực hiện việc giao đất cho các tổ chức, cá nhân với chế độ sở hữu đất đai như: Bán cho cá nhân thuộc công dân Indonesia theo hình thức sở hữu tuyệt đối (Free hold land); cho thuê đất có thời hạn và lâu dài (Lease hold); giao để sử dụng (Allocate for use) Những quyền này đều được xác định cụ thể trên giấy chứng nhận quyền sở hữu về đất đai do cơ quan đăng ký đất đai ký cấp
Bên cạnh đó chế độ sở hữu đất đai của nước này còn quy định rất chặt chẽ đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài thì không được quyền sở hữu đất tại Indonesia mà chỉ có quyền thuê đất để thực hiện các dự án đầu tư, nhưng thời hạn thuê tối đa cũng không quá 25 năm Khi hết thời hạn được gia hạn thuê thêm nhưng tối đa cũng không được quá hai lần ra hạn
Quyền sở hữu đất của Indonesia cũng chỉ được thế chấp tại các ngân hàng Indonesia và ngân hàng nước ngoài được phép hoạt động tại Indonesia, không cho phép thế chấp tại ngân hàng nước ngoài
Đối với việc quản lý đất đai/bất động sản: Việc lập quy hoạch tổng thể phân bổ sử dụng đất được lập cho toàn lãnh thổ một lần và chỉ điều chỉnh khi có biến động lớn Chính phủ Indonesia xác định 18 nhóm dự án được ưu tiên lập quy hoạch sử dụng đất và Nhà nước thực hiện thu hồi đất, bồi thường tái định cư Việc đăng ký đất đai là bắt buộc đối với mọi thửa đất Tuy nhiên với
Trang 24khoảng 85 triệu thửa đất mới chỉ có gần 45triệu thửa đất được đăng ký Việc cấp giấy chứng nhận do cơ quan quản lý đất đai đảm nhiệm, kể cả phần xác định nghĩa vụ tài chính và thu các loại thuế, phí Tuy nhiên để phục vụ cho nhân dân ở vùng sâu, vùng xa không có điều kiện đến đăng ký ở cơ quan đăng ký cấp huyện nên Tổng cục quản lý đất đai thành lập Văn phòng đăng ký đất đai lưu động
Hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai của nước này được xây dựng từ năm 1997
và thiết kế theo một hệ thống thống nhất nhất là khi Luật về Hạ tầng không gian
ra đời năm 2011 Mặc dù vậy dữ liệu đất đai của Indonesia vẫn được lưu trữ dưới dạng giấy các văn bản gốc và giấy tờ pháp lý có liên quan Việc quét và số hóa các văn bản này được tiến hành phục vụ mục đích tra cứu và cung cấp thong tin qua mạng (Tôn Gia Huyên, Nguyễn Đình Bồng, 2007)
1.3.1.4 Cộng hòa Pháp
Chế độ sở hữu đất đai ở cộng hòa Pháp: Luật đất dai/bất động sản thuộc nhánh Luật lục địa (Continental Law) bắt nguồn từ Luật La Mã Theo quy định của luật này thì Nhà nước được sở hữu những vùng đất nhất định vì mục đích quốc gia hoặc công cộng Sở hữu đất đai của Nhà nước được hình thành thông qua những hình thức chủ yếu như: Quyền ưu tiên mua đất; trưng dụng đất…Còn
sở hữu tư nhân thì phần lớn đất đai ở nước này thuộc sở hữu tư nhân Người dân
có quyền đối với đất đai Hiến pháp quy định quyền sở hữu tài sản là thiêng liêng
và bất khả xâm phạm; không ai có quyền buộc người khác phải nhường quyền sở hữu cho mình trừ trường hợp vì mục đích công cộng
Việc quản lý đất công được xây dựng trên một số nguyên tắc chỉ đạo qui hoach không gian, bao gồm cả chỉ đạo việc quản lý sử dụng đất đai và hình thành các công cụ quản lý đất đai
+ Nguyên tắc thứ nhất là phân biệt không gian công cộng và không gian
tư nhân: Không gian công cộng bao gồm đất đai và tài sản trên đất thuộc sở hữu Nhà nước và của tập thể địa phương, nó khác hẳn với không gian tư nhân thuộc
sở hữu tư nhân Tài sản công cộng có khuynh hướng đảm bảo lợi ích công cộng,
nó có đặc điểm là không thể chuyển nhượng và không thể mất hiệu lực Không gian công cộng dễ nhận biết là không gian đường sá, không gian ấy dành cho mọi
Trang 25người, và có thể dùng vào nhiều hoạt động như thành cửa hàng buôn bán hay sân bán cà phê để có thể trở thành nguồn thu phụ Nguyên tắc phân biệt này được thể hiện rõ trong các bản đồ địa chính mà các nhà quy hoạch sử dụng
+ Nguyên tắc thứ hai là phải thu hồi tiền phí tổn đầu tư trang thiết bị: Nguyên tắc này bắt các chủ sử dụng, người ở, người sở hữu phải hoàn lại bằng cách đóng thuế địa phương và nộp lệ phí khi sử dụng thiết bị
+ Nguyên tắc thứ ba: Qui hoạch phải phục vụ lợi ích công cộng song song với việc phân biệt giữa lợi ích chung và lợi ích riêng Ở Pháp lợi ích công cộng được ưu tiên Quyền sở hữu tài sản là bất khả xâm phạm và thiêng liêng, có nguyên tắc là không ai có quyền buộc người khác phải nhường sở hữu cho mình Chỉ có lợi ích công cộng mới có thể vi phạm điều ấy Quyền sở hữu tài sản cá nhân phải lui bước trước lợi ích công cộng, phải chịu trưng dụng Trưng dụng vì lợi ích công cộng và có bồi thường thiệt hại công bằng và tiên quyết cho người bị trưng thu Tuy nhiên khái niệm công cộng chỉ là tương đối Nó tùy thuộc vào thứ bậc của các giá trị đã được xã hội công nhận và tùy theo những vị có quyền pháp luật trong tay
Trong qui hoạch, các bản đồ địa chính dung để chỉ ranh giới phân biệt không gian công cộng và không gian tư nhân, xác định ranh giới các tài sản tư nhân, ranh giới các công trình và nhận dạng các chủ sở hữu
Đối với việc mua bán đất ở Pháp có riêng một cơ quan giám sát việc mua bán để kiểm soát các hoạt động này Cơ quan giám sát đồng thời làm nhiệm vụ môi giới và trực tiếp tham gia mua đất
Chế độ pháp lý về đăng ký bất động sản được Pháp đưa vào bộ luật dân sự
từ năm 1804 Năm 1895 việc đăng ký tất cả các quyền đối với bất động sản đã được Luật hóa thành một hệ thống thống nhất và được chỉnh sửa, bổ sung nhiều lần bởi nhiều văn bản cụ thể (Tôn Gia Huyên, Nguyễn Đình Bồng, 2007)
1.3.1.4 Ôxtraylia (Úc)
Tuy có những đặc thù riêng về mặt lịch sử và phát triển pháp luật, nhưng nhìn chung Pháp luật đất đai của Úc chịu ảnh hưởng sâu sắc của hệ thống pháp luật Anh Luật Anh không công nhận quan điểm về sở hữu tuyệt đối đối với đất
Trang 26đai Luật này đặt trọng tâm vào quyền chiếm hữu chứ không phải là quyền sở hữu tuyệt đối
là đối tượng của sở hữu tư nhân, đất đai phải được sử dụng có hiệu quả nhất thong qua thị trường và thực tế đã khẳng định xu hướng này
Chế độ sở hữu đất đai tư nhân: Sở hữu tư nhân về đất đai được thiết lập tương ứng với khái niệm về tài sản mà học thuyết về tài sản thì tài sản là khái niệm trừu tượng được đặt giữa đất đai và người sử dụng đất Như vậy nhiều người có thể có lợi trên cùng một mảnh đất Hơn nữa các lợi ích có thể phân theo thời gian
và ứng với nó có những loại tài sản khác nhau được thiết lập Theo phương thức này thì chủ thể được cấp đất được đảm bảo lợi ích tuyệt đối về đất còn Vương quyền chỉ là danh nghĩa, tài sản không được thừa kế và các tài sản khác theo phương thức thuê
Quyền đất đai của người bản xứ: Luật về quyền đất đai của người bản xứ ban hành năm 1993 trên cơ sở quyết định của tòa án tối cao Úc tại Mabo công nhận quyền của người bản xứ đối với đất đai phù hợp với pháp luật của họ như các quyền cư trú trên đất, quyền bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, quyền duy trì, sử dụng, quản lý đất đai…
- Quyền của người sử dụng đất: Các chủ sở hữu về đất đai đều có quyền chuyển nhượng, cho thuê (cho thuê lại) và thế chấp, riêng quyền thừa kế chỉ áp dụng đối với đất tư
Úc đưa ra hệ thống Torrens nhằm đảm bảo cho những người tham gia các giao dịch về đất đai hoàn toàn được bảo đảm và có thể tiếp cận được những thông
tin đầy đủ và chính xác (Tôn Gia Huyên, Nguyễn Đình Bồng, 2007)
Nhìn chung, việc quản lý, sử dụng đất nói chung và đất của các tổ chức
Trang 27kinh tế nói riêng ở các nước phát triển dựa trên cơ chế thị trường nhưng có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước, nhà nước chủ yếu thực hiện trao quyền sử dụng đất, quyền sở hữu đất thông qua bán đấu giá đất và cho thuê đất theo giá thị trường Nhờ có giá đất sát giá thị trường nhà nước mới có kết quả tính toán tài chính đúng liên quan đến đất đai và qua đó dùng công cụ tài chính (đánh thuế) để điều khiển
sự vận động lưu thông đất đai theo kế hoạch vĩ mô của mình, người sử dụng đất có
cơ sở để tính toán những bài toán kinh tế của mình trên giá cả đất đai sát với giá thị trường Nhờ đó đất đai được vận động, tự động phân phối vào các quy trình khai thác hợp lý, có hiệu quả, sự vận động này là sự vận động tự giác điều tiết qua cơ chế thị trường nhưng có sự điều khiển quản lý vĩ mô của nhà nước
1.3.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức ở Việt Nam
Theo kết quả kiểm kê quỹ đất của các tổ chức đang quản lý, sử dụng được nhà nước giao đất, cho thuê đất theo Chỉ thị số 31/2008/CT-TTg ngày 14/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ:
1.3.2.1 Tình hình sử dụng theo mục đích được giao, được thuê đất:
Năm 2008, cả nước có 141.812 tổ chức sử dụng đúng mục đích được giao, được thuê với diện tích 7.148.536,47 ha, chiếm 91,26% Trường hợp tổ chức sử dụng đất để cho thuê trái phép, cho mượn hoặc sử dụng sai mục đích, đất bị lấn chiếm tỷ lệ 2,74%
- Cơ quan nhà nước có 15.189 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 33.838,42 ha, đạt 95,63% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; diện tích đất cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép đối với các cơ quan nhà nước không nhiều nhưng vẫn có tình trạng xảy ra (cả nước có 235 cơ quan nhà nước cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích là 190,42 ha, trong đó chủ yếu là diện tích cho thuê trái pháp luật)
- Tổ chức chính trị có 1.439 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích 2.390,00 ha, đạt 75,30% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các tổ chức chính trị có số lượng tổ chức có diện tích đất cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép không nhiều 42/1.439 tổ chức, nhưng diện tích
vi phạm tương đối nhiều (306,40 ha), chiếm đến 9,65% tổng số diện tích đang
Trang 28quản lý, sử dụng
- Tổ chức xã hội có 952 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích 1.373,87 ha, đạt 96,47% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các tổ chức
xã hội có 15 tổ chức cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích là 1,12 ha
- Tổ chức chính trị - xã hội có 1.131 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích 3.687,04 ha, đạt 75,40% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các tổ chức chính trị - xã hội có 26 tổ chức cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích là 74,91 ha
- Tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp có 610 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 697,99 ha, đạt 96,78% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp có 13 tổ chức cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích là 0,42 ha
- Tổ chức sự nghiệp công có 55.456 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 394.201,53 ha, đạt 75,94% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các tổ chức sự nghiệp công có 810 tổ chức cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích 242,27 ha, trong đó chủ yếu là diện tích đất cho mượn (chiếm 88,36%)
- Tổ chức ngoại giao có 41 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 16,74 ha đạt 78,41% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các tổ chức ngoại giao có 01 tổ chức cho thuê trái pháp luật với diện tích 0,07 ha
- Tổ chức kinh tế có 49.723 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 458.179,32 ha, đạt 90,42% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các tổ chức kinh tế có 992 tổ chức cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích 1.608,56 ha, trong đó chủ yếu là diện tích cho thuê và cho mượn trái pháp luật (diện tích đất cho thuê trái pháp luật chiếm 21,60% tổng diện tích cho thuê trái pháp luật của cả nước, diện tích đất cho mượn chiếm 12,31% tổng số diện tích đất cho mượn của cả nước)
- Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, sử dụng có 10.970 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 319.042,97 ha, đạt 97,40% so với tổng diện tích đang quản
Trang 29lý, sử dụng; tuy nhiên UBND cấp xã của nhiều địa phương vẫn để xảy ra tình trạng cho thuê, cho mượn thậm chí chuyển nhượng trái pháp luật, đặc biệt là tình trạng cho thuê trái pháp luật của khối tổ chức UBND cấp xã chiếm đến 50,72% tổng số diện tích cho thuê trái pháp luật của cả nước và chiếm 15,49% diện tích đất cho mượn trái pháp luật của cả nước Đối với những tổ chức cho thuê đất trái phép ở các
tổ chức là UBND xã, phường, thị trấn thường xảy ra tình trạng lấy đất nông nghiệp (sử dụng vào mục đích công ích), đất phi nông nghiệp (đã giao cho UBND xã, phường, thị trấn sử dụng vào mục đích công cộng của địa phương) cho hộ gia đình,
cá nhân thuê nhưng không làm các thủ tục thuê đất theo đúng quy định pháp luật đất đai Hoặc cho hộ gia đình, cá nhân thuê phần diện tích đất của đơn vị không có nhu cầu sử dụng, hay chưa sử dụng để sản xuất kinh doanh
- Nông, lâm trường có 653 tổ chức với diện tích sử dụng đúng mục đích là 5.615.419,13 ha, đạt 92,05% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các nông lâm trường có 42 tổ chức cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích 5.006,21 ha, trong đó chủ yếu là diện tích đất cho mượn chiếm 66,26% tổng số diện tích đất cho mượn của cả nước (tập trung chủ yếu ở các nông - lâm trường của các tỉnh Tuyên Quang, Tây Ninh, Bắc Giang, Lai Châu, ), diện tích đất cho thuê trái pháp luật chiếm 13,49% tổng diện tích cho thuê trái pháp luật của
cả nước (phần lớn tập trung ở các nông - lâm trường thuộc tỉnh Phú Thọ, Hải Phòng, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh, )
- Quốc phòng, an ninh có 8.118 tổ chức với diện tích sử dụng đúng mục đích là 319.689,47 ha, đạt 95,78% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng các tổ chức
sử dụng đất vào mục đích an ninh quốc phòng có 13 tổ chức cho mượn trái phép với
diện tích là 8,68 ha (Tổng Cục Quản lý Đất đai, 2014)
1.3.2.2 Sử dụng vào mục đích khác
Tình trạng sử dụng sai mục đích được giao, được thuê xảy ra ở hầu hết các loại hình tổ chức, cả nước có 3.311 tổ chức sử dụng không đúng mục đích được giao, được thuê với diện tích là 25.587,82 ha, trong đó chủ yếu là các tổ chức sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp (1.527 tổ chức với diện tích 21.499,68 ha, chiếm 84,02%), số tổ chức sử dụng vào mục đích làm nhà ở là
Trang 301.828 tổ chức với diện tích 4.088,24 ha Trong số diện tích sử dụng vào mục đích làm nhà ở chủ yếu xây dựng nhà ở cho cán bộ công nhân viên của các tổ chức kinh
tế (57,98%), các nông - lâm trường (32,67%), tổ chức sự nghiệp công (5,34%), riêng đối với UBND cấp xã (2,73%) phần lớn là diện tích đất của một số địa phương chia cho dân xây dựng nhà ở không đúng thẩm quyền; diện tích đất sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp chủ yếu của các nông - lâm trường (90,82%), tổ chức kinh tế (6,06%), UBND cấp xã (2,03%) (Tổng Cục Quản lý Đất đai, 2014)
1.3.2.3 Tình hình tranh chấp, lấn chiếm
Tổng diện tích đất của các tổ chức đang có tranh chấp, lấn chiếm là 313.969,03 ha, trong đó đất có tranh chấp có 1.184 tổ chức với diện tích 34.232,63
ha, đất lấn chiếm có 4.077 tổ chức với 25.703,21 ha và đất bị lấn, bị chiếm có 3.915
tổ chức với diện tích 254.033,19 ha (Tổng Cục Quản lý Đất đai, 2014)
- Diện tích đất đang tranh chấp, lấn chiếm chủ yếu xảy ra trong các loại hình
tổ chức như tổ chức kinh tế, quốc phòng an ninh, nông lâm trường, UBND cấp xã,
tổ chức sự nghiệp công Như vậy qua kiểm kê đã cho thấy, số tổ chức có diện tích đất đang tranh chấp có số lượng không nhỏ Nguyên nhân chủ yếu do khi thực hiện giao đất cho các tổ chức, hồ sơ lập chưa đầy đủ, không chặt chẽ, mô tả ranh giới, mốc giới không rõ ràng, cụ thể; một số khu đất đã có mốc giới nhưng qua quá trình xây dựng các công trình làm thất lạc mốc hoặc có sự dịch chuyển vị trí ngoài ý muốn Do vậy khi phát sinh tranh chấp, việc giải quyết gặp rất nhiều khó khăn
- Diện tích đất bị lấn, bị chiếm: tình trạng sử dụng không hiệu quả, sử dụng chưa hết diện tích được giao ở hầu hết các loại hình tổ chức đã dẫn đến một phần diện tích bị lấn, bị chiếm diện tích trong đó tập trung chủ yếu các loại hình tổ chức như: Tổ chức sự nghiệp công, UBND cấp xã, tổ chức kinh tế, quốc phòng an ninh, nông lâm trường Nguyên nhân của tình trạng này là do việc sử dụng đất của các
tổ chức không được kiểm tra thường xuyên; việc lập hồ sơ và lưu giữ các giấy tờ
để theo dõi, quản lý không được quan tâm đúng mức Mặt khác các mốc ranh giới khu đất đã được giao không được quản lý chặt chẽ, chưa xây dựng tường rào hoặc căm mốc giới để phân định với đất của người dân Mặt khác thời gian giao
Trang 31đất trước đây đã quá lâu, thủ tục không đầy đủ; thay đổi thủ trưởng đơn vị nhiều lần và không bàn giao cho người sau để tiếp tục quản lý, Xuất phát từ nhiều nguyên nhân cho nên trong suốt quá trình sử dụng, các tổ chức đã để cho người dân lấn, chiếm, cá biệt có tổ chức không biết ranh giới đất của đơn vị mình sử dụng đến đâu, nên khi kiểm kê hiện trạng rất khó khăn, phải mất rất nhiều thời gian mới xác định được diện tích đất được giao
Một số tổ chức do quản lý đất không chặt chẽ, diện tích đất sử dụng không hết, Bên cạnh đó, ở các địa phương nhiều tổ chức sử dụng đất đầu tư xây dựng hoàn thành đã đưa vào sử dụng (một số điểm trường học) nhưng sau một thời gian vì nhiều lý do phải dời đi nơi khác, nhưng tổ chức và chính quyền địa phương không báo cáo để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi và quản lý, mà bỏ hoang không sử dụng, từ đó người dân đã lấn, chiếm để sản xuất hoặc làm nhà ở Ngoài ra, còn có nguyên nhân do thiếu kiên quyết trong xử lý các trường hợp lấn chiếm, giải quyết tranh chấp kéo dài hoặc tái chiếm đất đã bồi thường
1.3.2.4 Tình hình đất chưa đưa vào sử dụng của các tổ chức
Tổng diện tích đất của các tổ chức được giao, được thuê của các tổ chức nhưng chưa sử dụng là 299.719,46 ha do 4.120 tổ chức quản lý, trong đó diện tích đã đưa vào sử dụng nhưng còn để hoang hoá là 250.862,79 ha do 2.455 tổ chức quản lý và diện tích đất đầu tư, xây dựng chậm là 48.888,90 ha do 1.681 tổ chức quản lý (tập trung chủ yếu là các trường học và những dự án phát triển khu
đô thị mới, dự án xây dựng các khu công nghiệp, các dự án này đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư nhưng không triển khai được hoặc triển khai chậm do có nhiều khó khăn, vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư,… Một số dự án tiến độ thực hiện chậm do các chủ đầu tư thiếu vốn để thực hiện) Diện tích đất chưa sử dụng của các tổ chức theo loại hình tổ chức cụ thể như sau:
- Cơ quan nhà nước có 293 tổ chức với diện tích là 863,42 ha;
- Tổ chức chính trị có 32 tổ chức với diện tích là 21,64 ha;
- Tổ chức xã hội có 12 tổ chức với diện tích là 12,46 ha;
Trang 32- Tổ chức chính trị - xã hội có 24 tổ chức với diện tích là 1.081,05 ha;
- Tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp có 17 tổ chức với diện tích là 12,95 ha;
- Tổ chức sự nghiệp công có 856 tổ chức với diện tích là 120.345,44 ha;
- Tổ chức ngoại giao có 05 tổ chức với diện tích là 4,42 ha;
- Tổ chức kinh tế có 1.922 tổ chức với diện tích là 20.619,90 ha;
- UBND cấp xã có 812 tổ chức với diện tích là 2.603,57 ha;
- Quốc phòng, an ninh có 18 tổ chức với diện tích là 228,47 ha;
- Nông - lâm trường có 129 tổ chức với diện tích là 153.926,13 ha (Tổng Cục Quản lý Đất đai, 2014)
1.3.2.5 Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức
Đến nay, cả nước đã có 52.004 tổ chức được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, đạt 35,99% số tổ chức cần cấp giấy, số lượng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp là 83.299 giấy và diện tích đã cấp là 3.100.040,38 ha, đạt 39,58% diện tích cần cấp giấy (Tổng Cục Quản lý Đất đai, 2014)
Phần lớn diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là của các tổ chức nông - lâm trường, tổ chức kinh tế, quốc phòng an ninh, tổ chức
sự nghiệp công và đất của UBND cấp xã
Kết quả nghiên cứu tình hình quản lý, sử dụng đất đai của các tố chức trong thời gian qua cho thấy có một số vấn đề còn tồn tại trong việc sử dụng đất của các tổ chức được Nhà nước giao, cho thuê như sau: Sử dụng không đúng mục đích được giao, được thuê; cho mượn, cho thuê, chuyển nhượng trái phép,
sử dụng không phù hợp với quy hoạch, kế hoạch, bỏ hoang không sử dụng hoặc
bị tổ chức cá nhân chiếm dụng, Về phía các cơ quan quản lý nhà nước cũng còn những điều bất cập như: diện tích đất trong quyết định giao đất, cho thuê đất không trùng với diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho tổ chức,
tỷ lệ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn khá thấp, khả năng chuẩn hóa dữ liệu để quản lý bằng phần mềm chuyên ngành còn gặp rất nhiều khó khăn,
Việc sử dụng quỹ đất này không phù hợp đã gây lãng phí trong việc sử dụng
Trang 33tài nguyên đất, thất thu cho ngân sách nhà nước, tạo nhiều tiêu cực trong quản lý sử dụng đất và gây khiếu kiện trong nhân dân
1.3.3 Tình hình đất chưa đưa vào sử dụng của các tổ chức ở nước ta
Tổng diện tích đất của các tổ chức được giao, được thuê của các tổ chức nhưng chưa sử dụng là 299.719,46 ha do 4.120 tổ chức quản lý, trong đó diện tích đã đưa vào
sử dụng nhưng còn để hoang hoá là 250.862,79 ha do 2.455 tổ chức quản lý và diện tích đất đầu tư, xây dựng chậm là 48.888,90 ha do 1.681 tổ chức quản lý (tập trung chủ yếu là các trường học và những dự án phát triển khu đô thị mới, dự án xây dựng các khu công nghiệp, các dự án này đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu
tư nhưng không triển khai được hoặc triển khai chậm do có nhiều khó khăn, vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư,… Một số dự án tiến
độ thực hiện chậm do các chủ đầu tư thiếu vốn để thực hiện) Diện tích đất chưa sử dụng của các tổ chức theo loại hình tổ chức cụ thể như sau:
Bảng 1.1 Tình hình đất chưa sử dụng của các tổ chức sử dụng đất ở nước ta
(Nguồn: Tổng Cục Quản lý Đất đai, 2014)
Trang 341.3.4 Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức sử dụng đất
Hiện nay, cả nước đã có 52.004 tổ chức được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, đạt 35,99% số tổ chức cần cấp giấy, số lượng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp là 83.299 giấy và diện tích đã cấp là 3.100.040,38 ha, đạt 39,58% diện tích cần cấp giấy
Phần lớn diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là của các tổ chức nông - lâm trường, tổ chức kinh tế, quốc phòng an ninh, tổ chức
sự nghiệp công và đất của UBND cấp xã
Tuy nhiên nếu so sánh tỷ lệ diện tích đã được cấp giấy chứng nhận với tổng diện tích cần cấp của từng loại hình sử dụng đất thì tổ chức chính trị xã hội
- nghề nghiệp chiếm tỷ lệ diện tích đã cấp cao nhất (395,48 ha, chiếm 54,83% diện tích đang quản lý, sử dụng); tổ chức kinh tế (237.868,55 ha, chiếm 46,94%); nông - lâm trường (2.736.185,70 ha chiếm 44,85%); tổ chức xã hội (520,38 ha, chiếm 36,54%); cơ quan nhà nước (11.331,93 ha, chiếm 32,03%); quốc phòng, an ninh (92.708,11 ha, chiếm 27,78%); tổ chức xã hội (740,83 ha, chiếm 23,34%); tổ chức ngoại giao (3,01 ha, chiếm 14,10%); tổ chức chính trị
xã hội (367,65 ha, chiếm 7,52%) và đất do UBND cấp xã quản lý (2.397,91 ha, chiếm 0,73%)
1.4 Tình hình sử dụng đất đai của tỉnh Hưng Yên
Hưng Yên được coi là tỉnh thuần nông nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng Trước khi tách tỉnh thủ phủ của tỉnh Hải Hưng (cũ) nằm ở tỉnh Hải Dương bây giờ, mọi chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá tập trung hết ở khu vực tỉnh Hải Dương nên khi tách tỉnh (năm 1996) Hưng Yên trở thành một tỉnh nghèo của cả nước Sau gần 20 năm tách tỉnh nền kinh tế của tỉnh
đã có những bước nhảy vọt đáng kể, đó là do có những chính sách phát triển kinh
tế hợp lý, khai thác tốt nguồn tài nguyên đất để phát triển công nghiệp
1.4.1 Hiện trạng sử dụng đất đai tỉnh Hưng Yên năm 2014
Theo số liệu thống kê đất đai đến ngày 01/01/2014, diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 92.602,89 ha
Trang 35Bảng 1.2 Thống kê các loại đất tỉnh Hưng Yên năm 2014
(ha)
Tỷ lệ (%)
2.5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng SMN 4.880,88 5.27
(Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hưng Yên, 2014)
Trang 36Qua bảng 1.2 cho thấy: Trên địa bàn cả tỉnh, diện tích đất đang được khai thác sử dụng vào các mục đích nông nghiệp và phi nông nghiệp là 92.202,85 ha, chiếm 99,57% diện tích đất tự nhiên; đất chưa sử dụng còn 400,04 ha, chiếm 0,43% diện tích đất tự nhiên Diện tích các loại đất đang được sử dụng vào các mục đích chính như sau:
- Đất nông nghiệp: Tổng diện tích là 58.085,76 ha chiếm 62,73% so với
tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó:
+ Đất sản xuất nông nghiệp: 53.039ha chiếm 91,31% đất nông nghiệp và 57,28% so với tổng diện tích tự nhiên của tỉnh, cụ thể:
Đất trồng cây hàng năm: có 47.190,59 ha, chiếm 88.97% diện tích đất sản xuất nông nghiệp và bằng 50.96% diện tích đất tự nhiên của tỉnh nằm ở các huyện nhưng tập trung nhiều nhất là ở huyện Khoái Châu, huyện Văn Giang
• Đất trồng lúa: có 41.383,64 ha (trong đó, đất chuyên trồng lúa nước có 41170,94 ha, còn lại 805.685 ha là đất trồng lúa nước còn lại và đất trồng lúa nương), chiếm 78.02% diện tích đất sản xuất nông nghiệp và bằng 44.69% diện tích đất tự nhiên của tỉnh Diện tích đất trồng lúa chủ yếu tập trung ở các huyện phía nam, đông nam của tỉnh như huyện Phù Cừ, huyện Tiên Lữ, huyện Ân Thi
• Đất trồng cây hàng năm khác: có 5806,95 ha, chiếm 12.31% đất trồng cây hàng năm và bằng 10.95% diện tích đất sản xuất nông nghiệp của cả tỉnh nằm rải rác ở tất cả các huyện trong tỉnh
• Đất trồng cây lâu năm: có 5848,41 ha, chiếm 11.03% đất sản xuất nông nghiệp của cả tỉnh tập trung chủ yếu ở các huyện như Kim Động, Thành phố Hưng Yên, Tiên Lữ
+ Đất nuôi trồng thủy sản: 4819,46ha chiếm 8,29% diện tích đất nông nghiệp và 5,2% so với tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh
+ Đất nông nghiệp khác: 227,30ha chiếm 0,39% diện tích đất nông nghiệp
và 0,25% so với tổng diện tích tự nhiên của tỉnh
- Đất phi nông nghiệp: có 34.117,09 ha, chiếm 36.84% tổng diện tích đất
tự nhiên Trong đó:
Trang 37+ Đất ở (đất ở tại nông thôn và đất ở tại đô thị) diện tích: 10.035,11ha chiếm 29,41% đất phi nông nghiệp và chiếm 10,84% so với tổng diện tích tự nhiên của tỉnh
+ Đất chuyên dùng diện tích: 17.958,04ha, chiếm 52,64% đất phi nông nghiệp và chiếm 19,39% so với tổng diện tích tự nhiên của tỉnh, cụ thể:
• Đất quốc phòng: có 72,36 ha, chiếm 0,08% so với tổng diện tích tự nhiên của tỉnh;
• Đất an ninh: có 22,95 ha, chiếm 0,02% so với tổng diện tích tự nhiên của tỉnh;
• Đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp: có 2.958,82 ha, chiếm 8,67% so với diện tích đất phi nông nghiệp, chiếm 3,19% so với tổng diện tích tự nhiên;
• Đất có mục đích công cộng: có 14635,88 ha, chiếm 15,80% diện tích đất
+ Đất phi nông nghiệp khác diện tích: 4,95ha, chiếm 0,01% diện tích đất phi nông nghiệp và chiếm 0,01% so với tổng diện tích tự nhiên của tỉnh
- Đất chưa sử dụng: diện tích đất 400,04 chiếm 0,43% tổng diện tích tự
nhiên toàn tỉnh
1.4.2 Tình hình sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
Theo kết quả kiểm kê quỹ đất của các tổ chức đang quản lý, sử dụng được nhà nước giao đất, cho thuê đất theo Chỉ thị số 31/2008/CT-TTg ngày 14/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ:
Tổng diện tích các tổ chức sử dụng đất trong cả tỉnh được Nhà nước giao đất, cho thuê đất là 11.775,19ha, chiếm 23,65% tổng diện tích tự nhiên của cả tỉnh với 2.424 tổ chức và 3.932 thửa đất, khu đất, trong đó:
Trang 38Trong tổng số 11.775,19 ha đất do các tổ chức sử dụng đất chủ yếu là diện tích đất của UBND xã (chiếm 74,52% tổng diện tích của các tổ chức sử dụng đất), các tổ chức sự nghiệp công (chiếm 4,42% tổng diện tích của các tổ chức sử dụng đất), tổ chức kinh tế (chiếm 19,07%) Trong khối tổ chức là cơ quan nhà nước (cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công) thì tổ chức sự nghiệp công sử dụng đất là chủ yếu (chiếm đến 80,34%)
Diện tích quản lý, sử dụng đất của các tổ chức là 11.775,19 ha được phân theo các hình thức sử dụng chủ yếu giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cụ thể như sau:
- Tình hình giao đất của các tổ chức
Theo kết quả kiểm kê đối với diện tích được nhà nước giao thì diện tích đất giao cho các loại hình tổ chức sử dụng trên phạm vi toàn tỉnh 900,40 ha, chiếm 7,65% tổng diện tích của các hình thức do các loại hình tổ chức sử dụng
và chiếm 0,97% so với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, trong đó giao đất không thu tiền 801,89 ha và giao đất có thu tiền 98,52 ha Như vậy, diện tích sử dụng đất của các tổ chức chủ yếu được nhà nước giao đất (giao đất không thu tiền), trong đó cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền;
tổ chức sự nghiệp công được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất với diện tích 233,01ha, giao đất có thu tiền sử dụng đất 2,8ha
- Tình hình thuê đất của các tổ chức
Diện tích đất do các loại hình tổ chức thuê sử dụng trên phạm vi toàn tỉnh 1.741,75 ha, chiếm 14,79% tổng diện tích đất của các tổ chức và chiếm 1,88% tổng diện tích tự nhiên của toàn tỉnh, trong đó thuê đất trả tiền một lần 78,14 ha
và thuê đất trả tiền hàng năm 1.663,61ha chủ yếu đều là các công ty
- Công nhận quyền sử dụng đất
Tổng diện tích đất do các loại hình tổ chức sử dụng đất được công nhận quyền sử dụng đất là 9.009,80 ha, chiếm 77,21% tổng diện tích của các hình thức do các loại hình tổ chức sử dụng, trong đó được công nhận quyền sử dụng đất không
Trang 39thu tiền 9.009,70 ha và được công nhận quyền sử dụng đất có thu tiền 0.1 ha
Trong tổng diện tích được công nhận quyền sử dụng đất không thu tiền 9.009,19 ha thì diện tích sử dụng tập trung chủ yếu ở UBND cấp xã 8.711,22 ha, chiếm 96,69%, tổ chức sự nghiệp công 284,74 ha, chiếm 3,16%, các loại hình tổ chức còn lại chiếm tỷ lệ rất thấp, dưới 1%
Diện tích được công nhận quyền sử dụng đất có thu tiền 0,1 ha chiếm tỷ lệ rất thấp tập trung chủ yếu ở tổ chức kinh tế
- Chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tiền trả có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước
Tổng diện tích đất do các loại hình tổ chức chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tiền trả có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước là 1,28 ha, chiếm tỷ lệ rất thấp so với tổng diện tích của các hình thức do các loại hình tổ chức sử dụng
1.4.3 Đánh giá thực trạng công tác quản lý, sử dụng đất của các tổ chức
1.4.3.1 Tình hình sử dụng theo mục đích được giao, được thuê
Cả tỉnh có 3.275 tổ chức sử dụng đúng mục đích được giao, được thuê với diện tích 11.647,22 ha, chiếm 98,91% Trường hợp tổ chức sử dụng đất để cho thuê trái phép, cho mượn hoặc sử dụng sai mục đích, đất bị lấn chiếm tỷ lệ 1,09%
- Cơ quan nhà nước có 355 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 90,56 ha, đạt 99,03% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; diện tích đất cho mượn, diện tích bị lấn, bị chiếm hoặc sử dụng vào mục đích khác đối với các
cơ quan nhà nước không nhiều nhưng vẫn có tình trạng xảy ra (cả tỉnh có 02 cơ quan nhà nước cho mượn với diện tích là 0,11 ha, diện tích bị lấn, bị chiếm 12 tổ
Trang 40chức với diện tích 0,09ha, diện tích sử dụng vào mục đích khác là 0,11ha)
- Tổ chức chính trị có 25 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích 19,67
ha, đạt 96,04% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các tổ chức chính trị có số lượng tổ chức có diện tích đất cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép không nhiều 3/25 tổ chức, diện tích vi phạm 2 tổ chức với diện tích 0,01ha
- Tổ chức xã hội có 05 tổ chức, diện tích sử dụng 4,47 ha, trong đó diện tích sử dụng đúng mục đích là 4,47ha đạt 100% so với tổng diện tích đang quản
lý, sử dụng
- Tổ chức chính trị - xã hội có 06 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích 7,15 ha, đạt 99,86% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các tổ chức chính trị - xã hội có 01 tổ chức lấn, chiếm trái pháp luật với diện tích 0,01 ha
- Tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp có 12 tổ chức, cả 12 tổ chức đều sử dụng đúng mục đích với diện tích là 3.49 ha, đạt 100% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng
- Tổ chức sự nghiệp công có 917 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích
là 513,24 ha, đạt 99,09% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các tổ chức
sự nghiệp công có 19 tổ chức lấn chiếm trái pháp luật với diện tích 1,39ha, 01 tổ chức đang tranh chấp với diện tích 0.01ha
- Tổ chức kinh tế có 927 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 2139,46
ha, đạt 94,64% so với tổng diện tích đang quản lý, sử dụng; các tổ chức kinh tế có 11
tổ chức cho thuê trái pháp luật, cho mượn, chuyển nhượng trái phép với diện tích 4,72 ha, trong đó chủ yếu là diện tích cho thuê trái pháp luật Có 56 tổ chức chưa sử dụng đất với diện tích 87,33ha, trong đó 6 tổ chức đã đưa vào sử dụng nhưng còn để hoang với diện tích 8,55 ha, 50 tổ chức xây dựng đầu tư chậm với diện tích 78,77ha Diện tích lấn, chiếm là 157 tổ chức với diện tích 16,72 ha
- Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, sử dụng có 1.028 tổ chức, diện tích sử dụng đúng mục đích là 8869,18 ha, đạt 99,99% so với tổng diện tích đang quản lý,
sử dụng; diện tích đất chưa sử dụng và lấn chiếm là 0,41ha