1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng bệnh viêm vú ở bò sữa trên địa bàn huyện duy tiên – tỉnh hà nam và thử nghiệm điều trị

71 448 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khi các nghành khác nông dân đang gặp khó khăn với hàng loạt những diễn biến phức tạp của dịch bệnh thì chăn nuôi bò sữa trở thành một ngành có khả năng sản xuất cao theo hướng côn

Trang 1

MỤC LỤC

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục iv

Danh mục các chữ viết tắt vii

Danh mục bảng viii

Danh mục hình ix

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

1.1 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

1.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU BỆNH VIÊM VÚ Ở BÒ SỮA 3

1.1 Cấu trúc bầu vú bò sữa 3

1.1.1 Tuyến sữa 3

1.1.2 Bầu vú bò sữa: 4

1.2 Sữa và thành phần của sữa bò 6

1.2.1 Quá trình tạo sữa ở bầu vú bò 6

1.2.2 Chu kì tiết sữa 6

1.2.3 Phản xạ tiết sữa 7

1.2.4 Thành phần của sữa 9

1.3 Bệnh viêm vú bò sữa: 9

1.3.1 Khái niệm về bệnh viêm vú ở Bò sữa 9

1.3.2 Phân loại viêm vú bò sữa 10

1.3.3 Những yếu tố có ảnh hưởng đến bệnh viêm vú 14

1.3.4 Chẩn đoán bệnh Viêm vú 24

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 30

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30

2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 30

Trang 2

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 30

2.1.4 Địa điểm nghiên cứu 30

2.2 Nội dung nghiên cứu 30

2.3 Phương pháp nghiên cứu 31

2.3.1 Khảo sát tỷ lệ bò mắc bệnh viêm vú: 31

2.3.2 Đánh giá hiệu quả của vacxin phòng bệnh viêm vú bằng phương pháp CMT 31

2.3.3 Xác định vi khuẩn gây bệnh viêm vú bò sữa bằng phương pháp phân lập vi khuẩn 32

2.3.4 Xác định sự mẫn cảm với kháng sinh của các loại vi khuẩn gây bệnh viêm vú 32

2.3.5 Xử lý số liệu 32

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33

3.1 Khảo sát tình hình chăn nuôi bò sữa và tỷ lệ bò mắc bệnh viêm vú tại huyện Duy Tiên – Tỉnh Hà Nam 33

3.1.1 Cơ cấu đàn bò sữa tại huyện Duy tiên những năm qua (2010 – 2014) 33

3.1.2 Cơ cấu giống đàn bò sữa tại huyện Duy Tiên 34

3.1.3 Kết quả khảo sát tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm vú lâm sàng tại huyện Duy Tiên – Tỉnh Hà Nam 35

3.2 Nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm vú bò sữa 38

3.2.1 Khảo sát tỷ lệ bò mắc bệnh viêm vú theo mùa tại huyện Duy Tiên – Tỉnh Hà Nam 38

3.2.2 Ảnh hưởng của lứa đẻ đến bệnh viêm vú bò sữa tại huyện Duy Tiên 39

3.2.3 Ảnh hưởng của giống bò sữa tới bệnh viêm vú tại huyện Duy Tiên 40

3.2.4 Kết quả xác định sự liên quan giữa vị trí lá vú đến tỷ lệ viêm vú bò sữa tại huyện Duy Tiên 41

3.3 Khảo sát tỷ lệ bò mắc bệnh viêm vú cận lâm sàng 43

Trang 3

3.3.1 Tỷ lệ và mức độ viêm vú cận lâm sàng 43

3.3.2 Kết quả xác định số lượng lá vú bị viêm 45

3.4 Kết quả giám định thành phần và tính mẫn cảm với một số thuốc kháng sinh của các vi khuẩn trong sữa bò mắc bệnh viêm vú 47

3.4.1 Kết quả xác định số giống vi khuẩn phân lập được trong một mẫu sữa bình thường và sữa bò bị viêm vú 48

3.4.2 Kết quả xác định thành phần vi khuẩn trong mẫu sữa dương tính 49

3.4.3.Kết quả xác định tính mẫn cảm của các vi khuẩn phân lập được từ sữa bò bị viêm vú với một số thuốc kháng sinh 50

3.4.4 Kết quả xác định tính mẫn cảm của tập đoàn vi khuẩn có trong sữa bò viêm vú với một số thuốc kháng sinh và hoá học trị liệu 52

3.5 Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh viêm vú 54

3.6 Quy trình phòng, trị bệnh viêm vú bò sữa 56

3.6.1.Quy trình phòng bệnh viêm vú 56

3.6.2 Quy trình điều trị bệnh viêm vú bò sữa 59

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 61

Kết luận 61

Đề nghị 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

Trang 4

SCC Số lượng tế bào bản thể ( Somatic Cell Count)

CMT California Mastitis Test

Mg/kg P Mg/kg thể trọng

Trang 5

DANH MỤC BẢNG STT Tên bảng Trang

3.1 Cơ cấu đàn bò sữa tại huyện Duy Tiên (2010 – 2014) 33

3.2 Cơ cấu giống của đàn bò sữa 34

3.3 Kết quả khảo sát tỷ lệ bò mắc bệnh viêm vú lâm sàng tại các xã năm 2014 35

3.4 Kết quả khảo sát tỷ lệ bò sữa bị bệnh viêm vú theo mùa 38

3.5: Tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm vú theo lứa đẻ 39

3.6: Bệnh viêm vú bò sữa tại Duy Tiên – Hà Nam theo giống 40

3.7 Kết quả xác định vị trí các lá vú của bò bị viêm bằng phương pháp CMT 41

3.8: Kết quả khảo sát tỷ lệ bò mắc bệnh viêm vú cận lâm sàng 44

3.9 Kết quả xác định số lượng lá vú của bò bị viêm bằng phương pháp CMT 46

3.10 Số giống vi khuẩn phân lập được trong một mẫu sữa 48

3.11: Thành phần vi khuẩn có trong sữa bò bình thường và sữa bò viêm vú 49

3.12 : Tính mẫn cảm của các vi khuẩn phân lập được từ sữa bò viêm vú với một số thuốc kháng sinh 51

3.13 Tính mẫn cảm của một số vi khuẩn có trong có trong sữa bò viêm vú với một số thuốc kháng sinh 53

3.14: Kết quả điều trị bệnh viêm vú lâm sàng ở bò sữa 54

Trang 6

DANH MỤC HÌNH STT Tên hình Trang

1.1 Bầu vú bò sữa 4

1.2 Nang tuyến tiết sữa 4

1.3 Cấu trúc tuyến vú và nang tuyến 6

1.4 Chu kỳ tiết sữa ở bò sữa 7

1.5 Phản xạ tiết sữa ở bò 8

2.1 Dụng cụ và thuốc thử CMT 31

2.2 Vắt sữa vào khay 31

2.3 Cho thuốc thử vào 32

2.4 Đọc kết quả 32

3.1: Tỷ lệ (%) bò sữa mắc bệnh viêm vú lâm sàng theo từng khu vực 36

3.2 Bầu vú bị sưng to, nóng, đỏ 37

3.3 Bầu vú bò bị teo 37

3.4 Núm vú bị viêm 37

3.5 Chuồng trại bẩn là nguyên nhân gây ra bệnh viêm vú bò sữa 37

3.6 Tỷ lệ (%) bò sữa mắc bệnh viêm vú theo mùa 38

3.7: Kết quả xác định vị trí lá vú bò bị viêm 42

3.9 Số giống vi khuẩn phân lập trong một mẫu sữa 48

3.10 Kết quả điều trị bệnh viêm vú lâm sàng ở bò sữa 55

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Việt Nam là đất nước đang phát triển theo con đường công nghiệp hóa hiện đại hóa Hòa chung vào công cuộc đổi mới của các ngành, ngành nông nghiệp vốn chiếm gần 80% dân số cũng đang từng bước đi lên Chăn nuôi bò sữa xuất hiện ở Việt nam từ những năm đầu của thế kỉ XX, dưới thời Pháp thuộc Ngay sau khi hòa bình lập lại, từ năm 1954 đến năm 1960 nhà nước ta bắt đầu quan tâm đến phát triển chăn nuôi, trong đó có bò sữa Tuy nhiên chăn nuôi bò sữa thực sự phát triển nhanh từ năm 2001 sau khi có chủ trương đẩy mạnh phát triển ngành sữa của Việt Nam thông qua Quyết định167/2001/QĐ/TTgs của Chính Phủ về chính sách phát triển chăn nuôi bò sữa trong giai đoạn 2001/2010 Tổng đàn bò sữa của nước ta đã tăng từ 41 nghìn con lên 137 nghìn con năm

2010 và năm 2011 tổng đàn bò sữa của cả nước là trên 167 nghìn con (theo số liệu của Cục Chăn nuôi) Những năm gần đây chăn nuôi bò sữa trở thành ngành xóa đói giảm nghèo cho nông dân Trong khi các nghành khác nông dân đang gặp khó khăn với hàng loạt những diễn biến phức tạp của dịch bệnh thì chăn nuôi bò sữa trở thành một ngành có khả năng sản xuất cao theo hướng công nghiệp không chỉ chăn nuôi trang trại phát triển mà chăn nuôi nông hộ được hình thành

và ngày càng phát triển, phục vụ đời sống con người Mức sống tăng lên nhu cầu của người tiêu dùng cũng tăng lên Sữa là sản phẩm không thể thiếu được trong mỗi gia đình vì giá trị dưỡng nó đem lại nâng cao sức khỏe dân trí và văn minh

xã hội Nắm bắt được tầm quan trọng của vấn đề này, các công ty thu mua và chế biến sữa ra đời như công ty sữa quốc tế IDP, Công ty sữa Vinamik

Vì với lợi thế là vùng đồng bằng ven sông Hồng, diện tích rộng có nguồn đất trồng cỏ, thuận lợi giao thông là mạch nối giữa Hà Nội và các tỉnh Với lợi thế và tiềm năng sẵn có Duy Tiên đang hoàn thiện các mô hình chăn nuôi tiến tới xây dựng huyện nông thôn mới Để góp phần xây dựng nông thôn mới mà trong đó nông nghiệp, nông dân, nông thôn đóng vai trò quan trọng được Đảng

và nhà nước ta đặc biệt quan tâm và đã có nhiều cơ chế chính sách Xuất phát từ

Trang 8

thực tế trên, để góp phần phát triển đàn bò tại Duy Tiên, phòng chống dịch bệnh, tăng năng suất trong chăn nuôi, phát triển kinh tế cho bà con nông dân Chúng tôi

tiến hành nghiên cứu đề tài: ‘Thực trạng bệnh viêm vú ở Bò sữa trên địa bàn

huyện Duy Tiên – Tỉnh Hà Nam và thử nghiệm điều trị”

1.1 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Xác định được thực trạng đàn bò sữa trên địa bàn huyện Duy Tiên – Tỉnh Hà Nam mắc bệnh viêm vú

- Đề xuất giải pháp phòng, trị bệnh viêm vú bò sữa tại địa bàn huyện Duy Tiên – Tỉnh Hà Nam

1.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Cung cấp những số liệu thực tế về tình hình bò sữa bị mắc bệnh viêm vú tại huyện Duy Tiên – Hà Nam làm tài liệu và cơ sở nghiên cứu khoa học cho những nghiên cứu tiếp theo

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho việc điều trị lâm sàng, đồng thời đề tài giúp người chăn nuôi bò sữa có những kỹ thuật cơ bản trong công tác phòng và trị bệnh viêm vú, giảm thiểu thiệt hại do bệnh gây ra góp phần góp phần sản xuất sữa sạch, an toàn cho người tiêu dùng, nâng cao năng suất của đàn

bò sữa và thu nhập của người chăn nuôi

Trang 9

Hay còn gọi là tuyến vú, là cơ quan sản xuất ra sữa Tuyến sữa bao gồm

mô tuyến, mô liên kết, hệ cơ, các mạch máu, thần kinh

- Hệ thống ống dẫn sữa là hệ thống phân nhánh hình cành cây, bắt đầu từ xoang tiết (ống dẫn tuyến bào) rồi tập hợp vào ống dẫn trung bình và ống dẫn lớn Các ống dẫn lớn này đổ về bể sữa

- Bể sữa phân làm 2 phần: phần trên là bể tuyến, phần dưới là bể bầu vú Giữa hai bể có nếp nhăn niêm mạc vòng Cuối cùng là lỗ đầu vú Cuối núm vú có hệ thống cơ thắt đầu núm vú ngăn không không cho sữa tự chảy ra ngoài

1.1.1.2 Mô liên kết:

Có chức năng định hình, bảo vệ cơ học và sinh học Chúng bao gồm các

tổ chức sau: Da, mô liên kết mỏng, mô liên kết dày, màng treo bầu vú, các tổ chức liên kết đệm

- Da: Bao bọc bên ngoài và hỗ trợ sự định hình của tuyến

- Mô liên kết mỏng : Nằm ngay bên dưới lớp da

Trang 10

- Mô liên kết dày: Nằm ngay bên dưới lớp mô liên kết mỏng gắn phần da

và tuyến thể bằng một lớp liên kết đàn hồi

- Màng treo bầu vú gồm có màng treo bên và màng treo giữa

- Các tổ chức liên kết đệm (mô mỡ)

1.1.1.3 Hệ cơ:

- Nằm xung quanh các nang tuyến, giúp co bóp đẩy sữa từ nang tuyến vào ống dẫn sữa

- Nằm xung quanh các ống dẫn sữa và bể sữa có hệ thống các cơ trơn

- Phía đầu núm vú có hệ cơ vòng gọi là cơ thắt bầu vú

Trang 11

Hình 1.3: Cấu tạo tuyến sữa

(Nguồn: http://www.dairyvietnam.com/vn)

Bầu vú bò gồm: có 4 vú phân biệt, 2 vú trước và 2 vú sau Hai vú sau thường lớn hơn 2 vú trước và chứa đến 60% tổng lượng sữa Giữa các vú có các vách ngăn bằng mô liên kết chạy theo chiều ngang và dọc do đó chia bầu vú thành 4 phần độc lập với nhau

Núm vú có các hình dạng khác nhau như dạng hình trụ tròn hoặc hình nón cụt, ngắn dài tuỳ giống, tùy cá thể

Một bầu vú của bò sữa cao sản thường có những đặc điểm như:

- Bầu vú phát triển rộng và sâu, các vú tương đối đồng đều

- Các núm vú to vừa phải, có chiều dài vừa phải (7 -10cm), thẳng đứng và khoảng cách tương đối rộng và tương đồng

- Các dây chằng bầu vú chắc chắn, vú không quá xệ (núm vú không quá khuỷu chân sau của bò)

- Hệ thống tĩnh mạch phát triển, khoằn khoèo và nổi rõ

- Bầu vú lớn vừa phải Bởi bầu vú quá lớn thường làm yếu sự gắn kết với

cơ thể Vú là vú da bởi vú da thì nhiều tế bào mô tuyến nên cho nhiều sữa Vú da sau khi vắt thì teo lại, nhiều nếp nhăn và kích thước bầu vú trước và sau khi vắt

Trang 12

sữa thay đổi rõ rệt Vú thịt thì ít tế bào mô tuyến nên cho ít sữa hơn Khối lượng

và thể tích bầu vú tăng dần qua các lứa đẻ cho đến khi trưởng thành

1.2 Sữa và thành phần của sữa bò

1.2.1 Quá trình tạo sữa ở bầu vú bò

Sữa được tạo ra từ các nang tuyến Sữa chảy từ nang tuyến vào các ống dẫn sữa nhỏ rồi tập hợp vào các ống dẫn sữa lớn, các ống sữa lớn chảy vào bể sữa Bể sữa là nơi chứa sữa Bầu vú bò có 4 bể sữa tách biệt, không thông nhau

Cơ vòng ở đầu núm vú trong điều kiện bình thường giữ cho sữa không tự chảy ra ngoài được Giúp ngăn ngừa các tác nhân gây bệnh xâm nhập và phát triển

Sữa được tổng hợp từ các nguyên liệu trong máu Trung bình cứ khoảng

540 lít máu chảy qua hệ thống mạch máu bầu vú thì 1 lít sữa được tạo ra Tuyến

vú ở bò sữa chỉ chiếm 2 -3% thể trọng bò nhưng nó tạo ra lượng sữa với một lượng vật chất khô hằng năm lớn hơn trọng lượng bò.Vì vậy, cần phải cung ứng đầy đủ dinh dưỡng cho nhu cầu sản xuất sữa của bò, bên cạnh đó còn có nhu cầu duy trì và nhu cầu nuôi thai

Hình 1.3 Cấu trúc tuyến vú và nang tuyến

(nguồn : http://www.dairyvietnam.com)

1.2.2 Chu kì tiết sữa

Sau khi đẻ, tuyến sữa bắt đầu tiết sữa liên tục cho đến khi cạn sữa chuẩn

bị cho kỳ đẻ kế tiếp Thời gian đó gọi là chu kỳ tiết sữa Một chu kỳ tiết sữa ở bò sữa thường kéo dài 10 tháng (305 ngày) Sau chu kì này các tuyến sữa ngừng hoạt động một thời gian ngắn để chuẩn bị cho chu kỳ tiếp theo Thời kỳ này gọi

là giai đoạn cạn sữa, thường kéo dài từ 45 -60 ngày

Trang 13

Xét trong một chu kỳ tiết sữa, lượng sữa thường đạt cao nhất vào tháng thứ 2 -3 rồi giảm dần Trong điều kiện bình thường ước chừng lương sữa giảm khoảng 10% Khi bò có thai, lượng sữa giảm nhanh, đặc biệt là từ tháng có thai thứ 5 trở đi

Xét trong một ngày, lượng sữa cũng khác nhau giữa buổi sang và buổi chiều tuỳ theo giống và cá thể Thông thường sữa buổi sáng thường chiếm 60% lượng sữa trong ngày Trong một đời bò sữa, bò thường đạt năng suất cao nhất vào chu kỳ thứ 3 Ở chu kỳ 1, năng suất của bò chỉ chiếm 75% so với thời điểm đạt cao nhất Ở chu kỳ 2 là khoảng 85%

Hình 1.4 Chu kỳ tiết sữa ở bò sữa

(nguồn: www.delava.com)

1.2.3 Phản xạ tiết sữa

Sữa được tiết theo cơ chế phản xạ Phản xạ tiết sữa được điều khiển bởi thần kinh và thể dịch Khi bò nhận được các tác nhân kích thích như xoa bóp bầu vú,… thông qua hệ thần kinh các kích thích sẽ được dẫn truyền tới vỏ đại não

Từ đây sẽ phát các xung thần kinh đến các cơ quan và hệ thống thể dịch để thực hiện việc tiết sữa: như kích thích hệ thống cơ trơn của ống dẫn, bể sữa và tiết oxytocin

Trang 14

Sức ép và co thắt đẩy sữa tác động bởi oxytocin, nếu vắt không kịp và lượng oxytocin giảm hoặc hết thì những hệ thống ống chứa sữa nhỏ và những kênh nhỏ này sẽ đóng lại.và sữa sẽ tồn lại trong các hệ thống ống dẫn nhỏ Oxytocin sẽ ngừng tiết sau khoảng 6 đến 8 phút Do đó thời gian vắt sữa một con

bò chỉ nên kéo dài khoảng 7 phút

Tuy nhiên, trong điều kiện những hộ chăn nuôi nhỏ, không có nơi vắt sữa chuyên biệt, khi tiến hành vắt sữa một con thì những con khác cũng đã bắt đầu bị kích thích và khi con này được vắt xong thi mới đến lượt con khác thì cũng gây ảnh hưởng đến phản xạ tiết sữa Vì vậy cần phải bố trí một nơi vắt sữa chuyên biệt để việc kích thích một con bò này không ảnh hưởng đến phản xạ tiết sữa của con khác Các tác nhân kích thích bao gồm:

- Thị giác: nhìn thấy bê, người vắt sữa, máy vắt sữa, chỗ vắt sữa

- Thính giác: nghe tiếng bê kêu, tiếng máy vắt sữa hoạt động, tiếng xô vắt sữa, tiếng người vắt sữa…

- Khứu giác: mùi người vắt sữa, mùi thuốc sát trùng bầu vú

- Xúc giác: xoa bóp, massage bầu vú

Hình 1.5 Phản xạ tiết sữa ở bò

(nguồn: www.babcock.cals.wisc.edu)

Trang 15

1.2.4 Thành phần của sữa

Sữa đầu: Sữa được tiết ra ngay sau khi đẻ (còn được gọi là sữa non, sữa máu) Sữa đầu chỉ được tiết ra trong vài ngày đầu tiên của chu kì tiết sữa Sữa đầu có hàm lượng vật chất khô rất cao, trong đó quan trọng nhất là các Globulin miễn dịch (Immunoglobulin) Chúng có tác dụng bảo vệ bê sơ sinh chống lại các tác nhân gây bệnh trong thời gian đầu Cần phải cho bê sơ sinh uống sữa đầu càng sớm càng tốt vì hàm lượng Globulin miễn dịch trong sữa và khả năng hấp thu chúng của ruột non giảm dần Ngoài ra sữa đầu còn có chứa nhiều chất dinh dưỡng khác ở nồng độ cao như đạm sữa, năng lượng, vitamin A, E

Sữa thường: là sữa tiết về sau trong 1 chu kì tiết sữa (khoảng từ ngày thứ 3 trở đi) Sữa thường không có chứa Globulin miễn dịch, hàm lượng vật chất khô trong sữa nhỏ hơn sữa đầu

Thành phần sữa có thể thay đổi theo giống, chế độ dinh dưỡng, môi trường, tình trạng bệnh tật của bò …

1.3 Bệnh viêm vú bò sữa:

1.3.1 Khái niệm về bệnh viêm vú ở Bò sữa

Bệnh viêm vú bò sữa là một trong những bệnh phổ biến gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi bò sữa không những ở Việt Nam mà ngay cả

ở những nước chăn nuôi bò sữa phát triển, bệnh gây nên do nhiều yếu tố

Theo Tolle (1975) viêm vú bò là một bệnh phức tạp gây nên bởi sự tương tác qua lại giữa bò, vi khuẩn và môi trường

Năm 1975, Liên hiệp sữa quốc tế đã đưa ra định nghĩa “viêm vú bò sữa là quá trình viêm tuyến vú với sự hiện diện của một hay nhiều (2 hoặc tối đa 3) loài

vi khuẩn trong mô vú, dẫn đến sự gia tăng số lượng tế bào bản thể (somatic cell counts: SCC) trong sữa, đặc biệt là tế bào bạch cầu, đồng thời làm thay đổi tính chất vật lý và hóa học của sữa” Viêm vú dẫn đến hậu quả giảm sản lượng sữa, đặc biệt có trường hợp gây chết bò

Viêm vú là phản ứng phòng vệ của cơ thể chống lại các tác nhân gây tổn thương mô bầu vú, những tổn thương này có thể do tác động cơ học hay do các loại vi khuẩn

Trang 16

1.3.2 Phân loại viêm vú bò sữa

Viêm vú bò sữa có 2 dạng là viêm vú lâm sàng và viêm vú tiềm ẩn

1.3.2.1 Viêm vú lâm sàng

Viêm vú lâm sàng là sự nhiễm trùng của bầu vú thể hiện rõ triệu chứng lâm sàng như sự thay đổi tính chất của sữa (sữa bị vón, loãng, màu sắc và mùi khác thường), hình dạng bầu vú (bầu vú sung huyết, sưng to…) và một số trường hợp có triệu chứng toàn thân (sốt, kém hay bỏ ăn…)

Viêm vú lâm sàng được phân chia thành các loại sau:

1.3.2.1.1 Theo thời gian

* Viêm vú thể quá cấp tính

Viêm vú thể quá cấp tính có đặc điểm là bệnh xảy ra đột ngột, bầu vú viêm sưng lớn, cứng, nóng, đỏ, đau Sữa có các chất tiết bất thường Viêm vú quá cấp tính có thể dẫn đến mất sữa Sự viêm là kết quả tác động của vi khuẩn và độc

tố của chúng hay những sản phẩm của bạch cầu Những triệu chứng toàn thân do nhiễm trùng huyết hoặc nhiễm độc huyết bao gồm: xáo trộn hô hấp, tuần hoàn, sốt, biếng ăn, suy nhược, giảm nhu động dạ cỏ, tiêu chảy, mất nước, trường hợp nặng có thể làm chết bò Triệu chứng toàn thân thường xảy ra trước những thay đổi ở bầu vú và sữa

* Viêm vú thể cấp tính

Viêm thể cấp tính cũng có đặc điểm là xảy ra đột ngột Bầu vú viêm có biểu hiện sưng, nóng, đau ở mức trung bình tới nặng, giảm sản lượng sữa; sữa có chứa sợi huyết, sữa vón cục và các chất tiết bất thường trong tuyến vú Những dấu hiệu của xáo trộn toàn thân (trở ngại cơ năng) như sốt, suy nhược, biếng ăn

và suy yếu Tuy nhiên, những triệu chứng này không nghiêm trọng bằng thể quá cấp tính

* Viêm vú thể bán cấp tính

Đặc điểm của viêm vú lâm sàng bán cấp tính là viêm nhẹ Mặc dù có thể không có thay đổi nào ở bầu vú nhưng vẫn xuất hiện các chất tiết bất thường từ tuyến vú và sữa có màu khác thường Không có dấu hiệu rối loạn toàn thân

Trang 17

* Viêm vú thể mãn tính

Thường có những ổ mủ bên trong bầu vú, to nhỏ tùy mức độ Bầu vú có thể mềm bình thường nhưng có thể sưng kéo dài trong nhiều ngày, nhiều tháng thậm chí nhiều năm Bệnh có thể làm cho thùy vú bị xơ cứng hay teo lại Thể bệnh này là hậu quả của việc không phát hiện kịp thời hay điều trị không triệt để khi bò bị viêm vú

bộ tuyến vú sưng to Sờ nhẹ không đau nhưng ấn mạnh con vật đau và phản ứng Lượng sữa của thùy vú viêm giảm rõ, chất lượng sữa lúc đầu biến đổi không rõ, sau loãng, lợn cợn Ngoài các triệu chứng cục bộ, có thể thú còn có triệu chứng toàn thân như kém ăn, sốt cao, ủ rủ Bệnh nhẹ thì sau 7 - 9 ngày hiện tượng viêm giảm nhưng dễ trở thành mãn tính Khi tổ chức tuyến vú bị tổn thương nghiêm trọng thì bầu vú có thể bị xơ cứng

1.3.2.1.2.2 Viêm vú thể cata

Triệu chứng cục bộ không rõ, nhìn bên ngoài không thấy có thay đổi nơi bầu vú nhưng lượng sữa giảm Lúc đầu sữa loãng, khi bệnh tiến triển trong sữa thấy có lợn cợn hay cục vón Đôi khi cục sữa vón làm tắc đầu vú Con vật không

có biểu hiện triệu chứng toàn thân

1.3.2.1.2.3 Viêm vú có mủ

Gồm 2 thể là viêm cata có mủ và viêm vú thể áp- xe

* Thể viêm cata có mủ

Vi trùng gây bệnh đa số là Staphylococcus, ngoài ra còn có Streptococcus,

E coli và các vi khuẩn gây mủ khác Ở bò bệnh, bể sữa, ống tiết sữa, tuyến vú bị

Trang 18

viêm làm cho dịch thẩm xuất và mủ chảy vào bể sữa và các ống dẫn sữa Bệnh dễ lây sang bò khỏe

Bệnh có 2 thể cấp tính và mãn tính

- Cấp tính: Bò sốt cao, ủ rủ, kém ăn Thùy vú bị viêm sưng, đỏ, nóng, đau Sữa loãng, màu hồng nhạt, vị đắng, trong sữa có mủ lợn cợn, hạch lâm ba vú sưng to

- Mãn tính: Sau 3 - 4 ngày tiếp theo, hiện tượng viêm giảm dần, nhưng sữa vẫn loãng, nhớt màu vàng nhạt hay màu vàng do lẫn mủ Cuối cùng tuyến vú bị teo và các tổ chức tăng sinh làm tắc ống dẫn sữa Do đó, điều trị không có kết quả

và nếu để bệnh kéo dài sẽ lây sang các thùy vú khác Thường trường hợp này phải

xử lý thùy vú cho teo đi và làm cho vú mất khả năng tiết sữa

1.3.2.1.2.4 Viêm vú có máu

Bệnh gây các tổ chức của ống tiết sữa bị xuất huyết Thường gặp ở bò sau khi sanh vài ngày Thú sốt đến 41oC, ủ rủ, kém ăn hay bỏ ăn Vú viêm sưng rõ rệt, bề mặt xuất hiện những đám đỏ Khi vắt sữa, con vật tỏ ra đau đớn Sữa loãng, màu hồng hay đỏ như máu

1.3.2.1.2.5 Viêm vú hoại tử

Bò có những dấu hiệu toàn thân rất rõ ràng: sốt, suy nhược do nhiễm trùng huyết, biếng ăn…Lúc đầu, bầu vú viêm sưng rất lớn, đỏ và bò tỏ ra rất đau Sau đó, bề mặt bầu vú xuất hiện những đám màu tím hồng, hạch lâm ba vú sưng to Cuối cùng, những đám này vỡ ra, ấn tay vào có dịch màu hồng hay mủ chảy ra Sữa viêm lẫn mủ, máu, các mảnh mô vú hoại tử và có mùi thối

Trang 19

1.3.2.2 Viêm vú tiềm ẩn

Theo Quinn et al (1994); Gianneechini et al (2002), viêm vú tiềm ẩn là sự

nhiễm trùng không lộ rõ của bầu vú, không có triệu chứng đặc trưng Viêm vú tiềm ẩn được phát hiện bởi sự gia tăng tổng số bạch cầu trong sữa hoặc bằng phương pháp gián tiếp khác như phương pháp thử CMT (California Mastitis Test), nuôi cấy vi sinh vật, tính dẫn điện của sữa, sự thay đổi nồng độ các enzyme… Thường tỉ lệ viêm vú tiềm ẩn nhiều hơn viêm vú lâm sàng và luôn luôn xảy ra trước dạng viêm vú lâm sàng Viêm vú tiềm ẩn làm giảm sản lượng sữa cũng như ảnh hưởng đến chất lượng sữa, có thể chuyển thành dạng viêm vú lâm sàng Viêm vú được gọi là tiềm ẩn khi chưa có dấu hiệu viêm trên lâm sàng, nghĩa là số lượng tế bào bản thể trong sữa cao nhưng không có bất kỳ sự bất thường rõ ràng nào trong sữa hoặc bầu vú

Một số biến chứng của bệnh Viêm vú

* Teo bầu vú

Khi bò sữa bị viêm vú, nếu không được phát hiện và xử lí kịp thời, thích hợp thì các mô sinh sữa sẽ bị tổn thương, có hiện tượng sẹo hoá dẫn đến cơ năng tiết sữa không phục hồi Thể tích thùy vú mắc bệnh nhỏ hơn bình thường, khả năng tiết sữa của tuyến vú giảm hoặc mất hẳn Sau khi bị teo các thùy vú lành phải tiết sữa bù nên thể tích nhiều hơn

* Xơ cứng bầu vú

Các chức năng sinh lý bị ảnh hưởng và bầu vú bị cứng lại, còn tổ chức tuyến

vú bị teo đi Sờ vào thấy cứng hoặc ấn mạnh tuyến vú thấy những cục cứng hoặc cứng toàn bộ Sau khi vắt sữa thể tích thùy vú không giảm Lượng sữa giảm, nếu sơ cứng một phần tuyến vú thì sữa loãng màu xám và có cục vón lợn cợn

* Bầu vú hoại tử

Bầu vú thối loét và phân hủy do vi khuẩn gây hoại tử xâm nhập vào tuyến

vú qua đường tiết sữa, vết thương hoặc mạch máu Lúc đầu bề mặt bầu vú có những đám màu hồng tím, cứng, đau, về sau loét và hoại tử có mủ Toàn bộ thùy

vú sưng to, ấn vào thấy nước hồng chảy ra Hạch lâm ba vú sưng to, đau, nóng,

có triệu chứng bại huyết

Trang 20

1.3.3 Những yếu tố có ảnh hưởng đến bệnh viêm vú

1.3.3.1 Vật chủ

1.3.3.1.1 Giống

Mỗi một giống bò có nguồn gốc xuất xứ khác nhau và thích nghi với điều kiện khí hậu cũng như điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng đặc trưng của vùng đó Khi di chuyển hay thay đổi môi trường sống, bò có thể không thích nghi được hoặc bị xáo trộn nặng dẫn đến giảm sức đề kháng Từ đó, những nguyên nhân gây bệnh có cơ hội xâm nhập và gây bệnh cho bò Những giống bò sữa cao sản thường dễ bị viêm vú hơn

1.3.3.1.2 Tuổi

Detilleux et al (1995); Martin at al (2002); Haas et al (2004) nhận thấy

viêm vú gia tăng theo tuổi của bò hay số kỳ cho sữa do sức đề kháng của bò giảm theo tuổi và cơ vòng đầu núm vú giảm sự đàn hồi

1.3.3.1.3 Giai đoạn cho sữa

Badinand (1999) nhận thấy bệnh viêm vú lâm sàng xuất hiện ở bất kỳ giai đoạn cho sữa nào, nhưng tần số bệnh cao nhất vào tháng cho sữa đầu tiên và ở

thời kỳ cạn sữa

Theo Tillard et al (trích dẫn Phạm Bảo Ngọc, 2002), viêm vú lâm sàng

hay xảy ra ở giai đoạn đầu của chu kỳ cho sữa, do lúc này sức đề kháng của

bò giảm Qua khảo sát, các tác giả ghi nhận 30% viêm vú lâm sàng xảy ra

trong những tháng đầu tiên của chu kỳ cho sữa Menzies et al (2001) nhận xét

rằng sự tăng áp lực xoang vú do tồn đọng sữa có thể là nguyên nhân gây rò rỉ sữa, từ đây vi khuẩn xâm nhập qua kênh vú và nhân lên trong tuyến vú Ngoài

ra, việc tăng thể tích sữa trong bầu vú làm cho nồng độ những yếu tố đề kháng

tự nhiên của cơ thể giảm như lactoferin, immunoglobulin, tế bào thực bào Thời kỳ đầu của giai đoạn cạn sữa có nhiều yếu tố bất thường tác động lên tuyến vú Do sữa không được vắt trong khi tuyến vú vẫn tiếp tục tiết sữa làm cho bầu vú rất căng, bò khó chịu Những nghiên cứu cho rằng thời kỳ đầu cạn sữa và

Trang 21

khoảng 2 - 3 tuần trước khi sinh ước tính có 40 - 50% tổng số thùy vú bị nhiễm trùng mới

Ruegg (2002) cho rằng ở giai đoạn cạn sữa, viêm vú xảy ra cao nhất vào những tuần lễ đầu tiên và trong 15 ngày trước khi sinh Những tuần đầu tiên của thời kỳ cạn sữa bầu vú nhạy cảm với sự nhiễm trùng gấp nhiều lần so với thời kỳ cho sữa trước đó và hơn 80% sự nhiễm trùng ở kỳ cạn sữa tồn tại đến khi sinh

1.3.3.1.4 Cấu trúc bầu vú

Cấu trúc của bầu vú có liên quan đến sự xâm nhập của những mầm bệnh gây viêm vú Sự mất cân bằng bầu vú là một trong những tác nhân của nguy cơ gây viêm vú Một bầu vú được định nghĩa là cân đối khi tất cả 4 núm vú đều nằm trên cùng một mặt phẳng nằm ngang

Dingwell et al (2004) cho biết những núm vú bị nứt nẻ có tỉ lệ nhiễm

trùng cao hơn 1,7 lần so với những vú lành Những vết nứt, tổn thương ở vú

thường bị nhiễm vi khuẩn Staphylococcus aureus và Streptococcus dysgalactiae Menzies et al (2001) cho biết những núm vú có đường kính lớn dễ dẫn đến

viêm vú lâm sàng Những núm vú quá lớn không vừa với lỗ máy vắt sữa làm tăng nguy cơ bầm dập khi vắt sữa Những núm vú hình lăng trụ, phạm vi tác động của máy vắt sữa lớn hơn và tỉ lệ bị bệnh viêm vú cũng cao hơn núm vú hình nón Những núm vú quá dài dễ bị xây xát do va chạm Những bò có đầu mút núm vú dạng nhọn hay tròn ít bị viêm vú hơn những bò có dạng lõm vào như cái phễu, vì đầu núm vú lõm vào thường xuyên có một giọt sữa ở đầu mút của núm vú sau khi vắt sữa và đó là điều kiện thuận tiện cho việc vấy nhiễm vi sinh vào vú

Đường kính của lỗ núm vú hay kênh vú và sức co (tính đàn hồi) của cơ vòng đầu vú ảnh hưởng đến tốc độ vắt sữa Khi tốc độ vắt sữa tăng lên thì nguy cơ nhiễm trùng vú cũng tăng Những bò thường có dòng sữa chảy ra trước khi vắt sữa thường bị viêm vú cao hơn những bò khác cùng đàn

Sự đóng lại của lỗ núm vú có liên quan mật thiết với bệnh viêm vú, cơ vòng đầu núm vú bị hở là một nguy cơ gia tăng số lượng tế bào bản thể trong sữa

Trang 22

so với những thùy vú không hở cơ vòng đầu núm vú và là nguy cơ dẫn đến viêm

vú lâm sàng trên bò sữa

Dingwell (2004) nghiên cứu 300 bò sữa ở Canada sau khi cạn sữa đã ghi nhận 23% lỗ núm vú hình thành nút keratin đóng lại trong tuần đầu tiên của giai đoạn cạn sữa, 23% số núm vú vẫn còn mở sau 6 tuần Ở mức độ toàn đàn, 68%

số núm vú đóng kín lại trong 3 tuần đầu Tuy nhiên, có 3 - 5% số núm vú không bao giờ đóng kín trong suốt thời gian khô sữa Những bò có ít nhất một núm vú

hở thì tỉ lệ nhiễm trùng vú cao gấp 2,5 lần so với những bò không có núm vú hở

Badinand (1999), Menzies et al (2001) cho rằng những thùy vú sau của

bầu vú nhạy cảm với sự nhiễm trùng hơn những thùy vú trước do diện tích da bề mặt quá lớn nên dễ bị lạnh, chấn thương hoặc bị vấy nhiễm vi khuẩn từ phân và sản dịch

1.3.3.2 Nguyên nhân vi sinh vật

Đây là nhóm nguyên nhân chính yếu gây bệnh viêm vú bò sữa, bao gồm nhiều tác nhân

1.3.3.2.1 Vi khuẩn

Theo Schalm et al (1971), có trên 130 loài vi khuẩn khác nhau gây viêm

vú bò sữa Dựa vào nguồn gốc khu trú và tính chất lây lan, chúng được phân chia thành hai nhóm lớn gồm nhóm mầm bệnh gây viêm vú truyền lây và nhóm mầm bệnh môi trường

1.3.3.2.1.1 Nhóm vi khuẩn gây bệnh viêm vú truyền lây

Đây là nhóm mầm bệnh sống kí sinh và nhân lên trong cơ thể vật chủ, đặc biệt là trong tuyến vú, xung quanh núm vú và bầu vú bị tổn thương Chúng thường gây viêm vú dạng tiềm ẩn, làm tăng số lượng tế bào bản thể trong sữa,

số ít biểu hiện dấu hiệu lâm sàng Nhóm này phổ biến nhất là Staphylococcus

aureus và Streptococcus agalactiae, ngoài ra còn có Mycoplasma spp và

Corynebacterium bovis Chúng lây lan từ bò này sang bò khác trong quá trình

vắt sữa thông qua máy vắt sữa, tay người vắt sữa, khăn lau vú hoặc truyền lây

do bê con bú

Trang 23

1.3.3.2.1.2 Nhóm vi khuẩn có nguồn gốc từ môi trường

Bao gồm những loài Staphylococcus khác, Streptococcus uberis, S

dysgalactiae , coliforms, Pseudomonas spp Những vi khuẩn này sống ở lông,

da bò và ngoài môi trường

Badinand (1999) phân chia mầm bệnh theo mức độ gây bệnh của vi sinh

vật ra làm các nhóm: nhóm gây bệnh chính (nặng) gồm S aureus, S agalactiae,

S dysgalactiae, S uberis, E coli, Klebsiella spp và Mycoplasma spp.; nhóm hiếm gặp gồm Actinomyces pyogenes, Bacillus cereus, Norcadia, Candida; nhóm gây bệnh nhẹ gồm Staphylococcus có phản ứng coagulase âm tính (Coagulase-negative Staphylococcus - CNS), các loại Streptococcus khác,

Corynebacterium bovis, và Bacillus

* Staphylococcus spp

Staphylococcus spp hiện nay được xác định là nguyên nhân gây bệnh viêm vú quan trọng nhất trên bò sữa Sau khi xâm nhập vào trong bể sữa,

Staphylococcus lan rất nhanh trong bầu vú Viêm vú do Staphylococcus có thể ở

dạng quá cấp, cấp, bán cấp hoặc mãn tính Dạng viêm mãn tính thường gặp hơn

Trong những ca này, Staphylococcus có thể hiện diện bên trong tế bào biểu mô, bạch cầu trung tính và đại thực bào Ngoài ra, Staphylococcus còn gây viêm vú

tiềm ẩn

* Streptococcus

Trong bệnh viêm vú bò sữa, Streptococcus spp chỉ định vị trên bề mặt

màng nhầy Chúng rất nhạy cảm với penicillin và bị giới hạn bởi các yếu tố môi

trường khi sống bên ngoài bầu vú Streptococcus gây viêm vú lâm sàng thể quá

cấp, thể bán cấp, thể mãn tính và viêm vú tiềm ẩn

* Nhóm coliforms

Coliforms là những trực khuẩn Gram âm như E.coli, Enterobacter,

Klebsiella có nguồn gốc từ phân Coliforms chỉ gây bệnh khi cơ thể giảm sức đề kháng Do điều kiện vệ sinh chuồng trại và vệ sinh vắt sữa kém, vi khuẩn xâm nhập vào tuyến vú thông qua kênh đầu vú Coliforms không bám dính vào ống dẫn sữa và những tế bào biểu mô tiết mà nhân lên nhanh chóng trong sữa và sản xuất

Trang 24

độc tố Độc tố được hấp thu vào máu Kết quả là nhiễm trùng do coliforms sẽ dẫn đến viêm vú lâm sàng thể cấp tính Nhiệt độ cơ thể bò có thể tăng lên hơn 40oC Thùy vú viêm sưng lớn, nhạy cảm với những kích thích từ bên ngoài Coliforms có thể đã bị loại bỏ khỏi cơ thể bò nhưng độc tố vẫn còn tồn tại nên không xác định được nguyên nhân gây bệnh bằng phương pháp nuôi cấy vi khuẩn

Những ca viêm vú do E coli có đặc điểm số lượng tế bào bản thể tăng lên

rất cao trong thời gian ngắn Số lượng tế bào bản thể trong sữa tăng tới mức cao nhất vào ngày thứ 2 của thời gian ủ bệnh và trở lại mức bình thường sau 3 - 4

tuần Pseudomonas spp

Pseudomonas spp có khắp nơi trong môi trường Tình trạng chuồng trại

và chất lót chuồng không vệ sinh có thể liên quan đến sự bùng phát dịch viêm

vú do P aeruginosa Chúng gây viêm vú khi bò yếu hoặc những mô vú hoặc

bầu vú bị tổn thương Những dụng cụ vắt sữa không hợp chức năng có thể làm

tăng nguy cơ nhiễm P aeruginosa mới và những vi khuẩn khác Viêm vú lâm sàng do Pseudomonas thường liên quan đến những bò có sản lượng sữa cao và

thường vào giai đoạn đầu kỳ cho sữa Sự nhiễm trùng có thể xảy ra đột ngột ở thể quá cấp

* Corynebacterium spp

Phần lớn các loài Corynebacterium sống hoại sinh, một số ít gây bệnh Chúng có khoảng 30 loài khác nhau C bovis là loài gây bệnh viêm vú phổ biến

nhất Bệnh lây lan từ bò này sang bò khác trong quá trình vắt sữa Bò không cho

sữa, bò cái tơ hay bò đang cho sữa đều bị nhiễm trùng vú C bovis không thể đơn

lẻ khởi đầu cho quá trình viêm mà phải kết hợp với những vi khuẩn khác, nhất là những bầu vú bị tổn thương cơ học

* Mycoplasma spp

Gonzalez and Wilson (2003) cho rằng Mycoplasma bovis là nguyên nhân quan trọng nhất trong dịch bệnh viêm vú nổ ra do Mycoplasma Mycoplasma

thường gây viêm vú lâm sàng thể cấp tính Tuy nhiên, bệnh có thể ở dạng tiềm ẩn

và nhiễm trùng thùy vú mãn tính kéo dài dai dẳng từ đầu kỳ sữa tới cuối kỳ hoặc

từ kỳ sữa này sang kỳ sữa khác

Trang 25

Bệnh có đặc điểm là xuất hiện bất ngờ Tuyến vú sưng, cứng, đau Có khi kết hợp viêm khớp Mẫu sữa phân lập vi khuẩn cho kết quả âm tính và điều trị cho kết quả kém, tốc độ lây lan giữa các thùy vú của một cá thể và trong đàn cao

* Đường xâm nhiễm vi khuẩn gây viêm vú

Theo Badinand (1999), vi khuẩn gây viêm vú có thể xâm nhập vào vú qua các đường sau:

- Theo đường hướng xuống

Vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể bằng đường máu hoặc đường bạch huyết

và định vị ban đầu ở một vài mô và cơ quan đích Sau đó từ những nơi này chúng

sẽ sinh sản và phân tán đến vú Những vi khuẩn này cũng được sinh sản trong đường máu hoặc đường bạch huyết

- Theo đường hướng lên

Đây là trường hợp vi khuẩn từ môi trường xâm nhiễm vào tuyến vú qua ống dẫn sữa của núm vú

- Theo đường da tổn thương

Do có sự tổn thương của da trên thùy vú hoặc các núm vú, sự nhiễm trùng xảy ra và lan dần đến các phần của tuyến vú

1.3.3.2.2 Nấm

Nấm men và nấm mốc là những vi sinh vật môi trường Chúng có ở khắp nơi trong môi trường và có cả trên cơ thể bò khỏe mạnh, bên trong và ngoài chuồng bò Bào tử nấm tồn tại trong không khí, chất lót chuồng, thức ăn Chúng

có thể gây bệnh viêm vú nếu nhốt chung một lượng lớn bò trong cùng một chuồng quá chật chội Phần lớn nấm men và nấm mốc sống hoại sinh và có tính gây bệnh yếu, hiếm khi là nguyên nhân gây bệnh nguy hiểm trên bầu vú bò

Cryptococcus neoformans là nguyên nhân gây viêm vú chủ yếu của nhóm nấm

mốc Ngoài ra bệnh do nấm men Candida, Geotrichum, Trichosporum thường kế

phát sau khi điều trị viêm vú bằng kháng sinh, đặc biệt nếu những loại kháng sinh đó thích hợp cho sự phát triển của chúng Việc sử dụng kháng sinh có nguồn gốc từ nấm để điều trị bệnh viêm vú do nấm không có hiệu quả

Trang 26

1.3.3.2.3 Virus

Tình trạng nhiễm bệnh do virus hướng thượng bì trên bò làm tổn thương

da của núm vú cũng như bầu vú Chúng không phải là nguyên nhân trực tiếp gây viêm vú, nhưng bệnh làm da vú bị lở loét (tổn thương) và làm cho cơ thể vật chủ

giảm sức đề kháng với bệnh Từ đó, những vi khuẩn cơ hội nhất là nhóm

staphylococci và streptococci bám vào và nhân lên ở những vết thương và xâm nhập vào tuyến vú, hậu quả gây viêm vú bò sữa

1.3.3.3 Nguyên nhân do ngoại cảnh

1.3.3.3.1 Thời tiết

Mỗi mùa trong năm thích hợp cho sự phát triển của một số nguyên nhân

gây bệnh viêm vú khác nhau Những nghiên cứu của các tác giả Myllys et al (1993), Wilson et al (1997) khảo sát trên những đàn bò sữa vùng Wiscosin (Mỹ)

đã kết luận tỉ lệ bò bị bệnh viêm vú ở mùa hè và mùa đông cao hơn so với mùa xuân và mùa thu

Ở New York, bệnh viêm vú lâm sàng do Mycoplasma xảy ra thường

xuyên ở mức độ cao vào những tháng mùa đông Bệnh bắt đầu từ cuối thu, đỉnh cao là tháng giêng và giảm xuống vào giữa mùa xuân

Ở những nước thuộc bắc bán cầu, vào mùa đông, vú bò thường bị nứt nẻ

do thời tiết giá lạnh và khô Từ những vết nứt này, vi khuẩn môi trường cũng như

vi khuẩn truyền lây đặc biệt là Staphylococcus aureus và Streptococcus

agalactiae nhân lên và xâm nhập vào tuyến vú trong thời gian vắt sữa gây nhiễm trùng bầu vú

1.3.3.3.2 Phương thức chăn nuôi

Bệnh viêm vú xảy ra nhiều trên bò trong giai đoạn nuôi nhốt suốt trong chuồng hơn là trong giai đoạn chăn thả trên đồng cỏ Trong nuôi nhốt mà bò bị cột xích thì vết thương ở núm vú cao 2 - 5 lần so với nuôi nhốt mà bò được thả tự do 1.3.3.3.3 Chuồng trại

Chuồng trại chật hẹp, nhất là nuôi nhốt tự do mật độ bò quá lớn, nền chuồng trơn trợt hay vách ngăn chuồng quá ngắn dễ dẫn đến gây tổn thương vú làm gia tăng bệnh viêm vú

Trang 27

* Chất độn chuồng

Chất độn chuồng là nơi cư trú chủ yếu của vi khuẩn họ

Enterobacteriaceae (E coli, Enterobacter spp., Klebsiella), nhóm streptococci (S uberis, S faecalis, S faecium, S bovis) Chất độn chuồng thường xuyên ẩm

ướt là điều kiện làm bệnh viêm vú gia tăng

Smith et al (2002) cho biết có mối liên quan giữa khẩu phần ăn với tỉ lệ mắc

bệnh viêm vú Khẩu phần bò cho sữa cần cung cấp đủ và cân bằng về năng lượng, protein, béo, chất xơ, khoáng (đồng, selenium, sắt), vitamin như vitamin A, E, C, D… và β-caroten Thiếu những loại khoáng và vitamin này, bò giảm số lượng tế bào bạch cầu, giảm khả năng đáp ứng miễn dịch dẫn đến tăng tính nhạy cảm với những nguyên nhân gây viêm vú

Trong một nghiên cứu trên những đàn bò ở New York, Goff và Kimura Kayoko (1997) đã xác định có sự liên quan rất mật thiết giữa bệnh sốt sữa (thiếu calci và magnésium huyết) với bệnh viêm vú Những bò bị sốt sữa có tỉ lệ viêm

vú cao hơn gấp 8,1 lần so với bò bình thường, sự phát triển bệnh viêm vú do coliforms cũng cao hơn Oltenacu and Ekesbo (1994) khảo sát ở Thụy Điển ghi nhận bệnh xê – ton (ketose) huyết làm nguy cơ viêm vú cao gấp 2 lần

Một số chất khoáng và vitamin cần thiết

* Selenium: Weiss et al (1990) cho rằng có sự liên quan giữa selenium và

vitamin E đến tình trạng sức khỏe của bầu vú Grasso et al (1990) bổ sung 0,1

Trang 28

ppm selenium vào khẩu phần bò Kết quả cho thấy hiệu lực diệt khuẩn gây bệnh viêm vú của bạch cầu trung tính ở những bò này cao hơn bò không được bổ sung

Erskine et al (1987) cho rằng tốc độ xâm nhập của bạch cầu trung tính từ máu

vào bể sữa nhanh hơn ở những bò được bổ sung thêm selenium vào khẩu phần

* Kẽm (Zn): Khẩu phần của bò sữa thiếu kẽm có liên quan tới tăng tỉ lệ

mắc bệnh viêm vú Bổ sung kẽm - methionin làm giảm tổng số tế bào bản thể trong sữa khoảng 22% Thiếu kẽm làm cho khả năng thực bào và giết chết vi khuẩn giảm, giảm lượng tế bào lympho trong máu Thiếu kẽm gây bất triển lách

và tuyến thymus, giảm khả năng hoạt động của lympho T, lympho B và cytokin

* Đồng (Cu): Thiếu đồng làm lympho T, lympho B và bạch cầu trung tính

giảm số lượng cũng như giảm sức họat động của những yếu tố diệt khuẩn làm cho bệnh viêm vú gia tăng

* Vitamin E: Kết quả nghiên cứu của Hogan et al (1992), Politis et al

(1996) (trích dẫn bởi Smith et al., 2002) cho biết việc bổ sung vitamin E vào

trong khẩu phần ăn của bò sữa hoặc cung cấp qua đường tiêm đều làm tăng khả năng diệt vi khuẩn của tế bào bạch cầu

* Vitamin A : Vitamin A rất quan trọng cho chức năng của hệ miễn dịch

Sự thiếu hụt vitamin A hoặc β-caroten làm giảm sự thực bào của đại thực bào và bạch cầu đa nhân trung tính, giảm sự sản xuất kháng thể, tăng sự nhạy cảm với những tác nhân gây nhiễm Vitamin A cần thiết cho sự tiết IgA chống lại sự nhiễm trùng trên bề mặt lớp tế bào biểu mô tuyến vú Ngoài ra, khi thiếu vitamin

A làm ngăn trở quá trình tái tạo của lớp biểu mô tuyến vú, gây hiện tượng sừng hóa, cản trở sự hình thành chất nhầy mucoprotein bảo vệ lớp niêm mạc tạo kẽ hở cho vi khuẩn, virus xâm nhập gây viêm vú

* Vitamin C : Nếu thiếu vitamin C, sự đáp ứng của cơ thể với vi khuẩn

xâm nhập giảm, tạo điều kiện cho những vi khuẩn này phát triển và gây bệnh viêm vú Vì vậy, khi cơ thể bị stress nhu cầu vitamin C rất cao Ngoài ra, vitamin

C còn có tác dụng giảm lượng kích thích tố glucocorticoid trong máu, mà kích thích tố này là tác nhân ức chế chức năng hoạt động của bạch cầu trung tính

Trang 29

* Sodium chloride (NaCl) : Sandholm et al (1995) cho rằng nồng độ

muối trong thức ăn và tỉ lệ bò thủy thũng bầu vú có liên quan với nhau Khi nồng

độ muối (NaCl) tăng trong khẩu phần làm tăng tỉ lệ bò cái tơ bị thủy thũng bầu

vú, nhưng bò cái già thì ảnh hưởng không rõ ràng Tương tự, tăng mức bicarbonat trong khẩu phần cho bò vào thời kỳ cạn sữa cũng làm tăng nguy cơ thủy thũng bầu vú ở lứa đẻ kế tiếp Khi bị thủy thũng, sự lưu thông máu kém, khó khăn khi vắt sữa và thùy vú dễ bị tổn thương do vắt sữa hoặc do bê con bú, cuối cùng dẫn đến viêm vú

1.3.3.3.5 Vệ sinh

* Vệ sinh bầu vú

Neave et al (1966); Galton (1982); Gutebock (1984); Pankey (1989);

Schreiner and Ruegg (2003) cho rằng mức độ vệ sinh của bầu vú ảnh hưởng đến

số lượng và loại vi sinh vật hiện diện trên bề mặt vú và tỉ lệ bệnh viêm vú

* Vệ sinh dụng cụ

Bệnh viêm vú do mầm bệnh truyền lây thường phát tán trong đàn thông qua những dụng cụ vắt sữa Tay người vắt sữa cũng là một yếu tố mang truyền cơ học những vi khuẩn gây viêm vú

Máy vắt sữa có thể làm lây lan vi khuẩn bằng nhiều đường khác nhau nếu không thực hiện tốt công tác vệ sinh

1.3.3.3.6 Kỹ thuật vắt sữa

Badinand (1999); Dodd (1951); Menzies et al (2001) cho biết thời gian

vắt sữa và kỹ thuật vắt sữa ảnh hưởng đến tình trạng của bầu vú và bệnh viêm vú Thời gian vắt sữa nhanh buộc người vắt sữa phải tăng tốc độ hoạt động của máy, nghĩa là phải tăng áp lực hút của máy Kết quả lượng sữa thải xuống bể sữa không kịp và bị tồn đọng sữa trong ống dẫn sữa, hoặc lực hút quá mạnh gây tổn thương mô vú

Trang 30

những yếu tố gây stress cho bò Ẩm độ cao cũng làm tăng những nguy cơ xâm nhập của vi sinh vật trong không khí đến thùy vú và trong chất độn chuồng ẩm ướt Điều này dẫn đến sự gia tăng quần thể vi khuẩn trong chất độn chuồng Sự thông gió tốt tạo nên một yếu tố quan trọng cho tất cả các hình thức nuôi trong chuồng, cũng như đảm bảo tiện nghi của bò nhằm hạn chế sự tiếp xúc với vi khuẩn gây bệnh viêm vú

Ngoài ra một số trường hợp khác cũng có liên quan đến bệnh viêm vú

Nghiên cứu ở Thụy Điển cho thấy nguy cơ viêm vú gia tăng trên những

bò bị sót nhau, bò sinh đôi, bò rối loạn sinh sản, què chân

Kiểm tra bằng mắt nhìn: Người chăn nuôi quan sát sự đối xứng của các lá

vú gồm 2 lá vú trước (bên phải, trái), 2 lá vú sau (phải, trái); kích thước, hình dạng bầu vú, lá vú, núm vú; phía mặt ngoài da của bầu vú như độ căng, đàn hồi, nhăn nheo, chổ sưng chứa bọc mủ, máu, mục cóc, da sừng hóa và màu sắc của da bầu

vú (đỏ, hồng, trắng bóng….); hình dạng các núm vú, đầu núm vú và lổ tiết sữa; sự phát triển hệ thống mạch máu trên bầu vú; tình trạng và hình dạng của hạch lâm ba vú; kiểm tra các phần phụ như: viêm hạch lâm ba phía sau bầu vú, nhạy cảm ánh nắng; phần trước bầu vú như: phù, da có mủ, các mục cóc, hay các bọc máu; kiểm tra bên hông bầu vú như: phần sát đùi nóng, sưng, da đỏ hay có mủ

Kiểm tra bằng biện pháp sờ nắn bầu vú: sờ nắn bầu vú được thực hiện khi

đã vắt hết sữa trong bầu vú ra, xác định được tình trạng của bầu vú như trạng thái, kích thước đều đặn và rắn chắc bầu vú; tình trạng bên trong ống dẫn sữa của núm vú (sừng hóa, dầy cứng, mềm mại); xoang sữa dưới gốc núm vú; di động giữa da vú với các phần mềm dưới da vú, xem độ đàn hồi, chắc chắn của da vú;

Trang 31

kiểm tra các chùm mô tuyến vú và các nang, khối u trong bầu vú, các vùng thú bị đau hay vùng có nhiệt độ cục bộ cao; sự thay đổi về hình dáng và kích thước hạch sau vú

Sữa và dịch tiết được kiểm tra trên các cơ sở

- Màu sắc: Sữa bình thường có màu trắng, sữa có màu hồng hay đỏ, màu

xanh của mủ khi viêm vú

- Mùi: Mùi sữa có mùi đặc trưng dễ chịu và thay đổi khi bị viêm vú như:

mùi trứng thối(vi khuẩn sinh mủ), mùi chua (vi khuẩn yếm khí), mùi chua của trái cây (vi khuẩn E.coli)

- Độ nhớt: Tăng độ nhớt ở giai đoạn tiết sữa non hay cuối thời kỳ cho

sữa Độ nhớt thay đổi khi nhiễm trùng trong sữa hay lẫn mủ máu, dịch tiết viêm (mủ đông vón các cục sữa làm mất tính đồng nhất – kiểm tra qua dòng chảy trên nền đen)

- Kiểm tra lượng sữa: Giảm nhẹ đến mạnh tùy mức độ viêm vú lâm sàng

hay tiềm ẩn Khi lượng sữa trở lại bình thường là biểu hiện sự hồi phục bệnh

1.3.4.2 Chẩn đoán dựa trên các phản ứng hoá lý

1.3.4.2.1 Phát hiện sữa viêm bằng giấy chỉ thị màu

Giấy chỉ thị màu được sử dụng nhằm để xác định 1 hay nhiều lá vú bị viêm, xác định được vị trí cần điều trị Đây là một phương pháp đơn giản cho người sử dụng nhất là người chăn nuôi ít kinh nghiệm dựa trên nguyên tắc thay đổi độ pH của sữa bò bị viêm Hiện nay trên thị trường có nhiều công ty sản xuất giấy chỉ thị màu dùng cho chẩn đoán bệnh viêm vú Một loại giấy chỉ màu tương đối phổ biến là giấy chỉ thị màu có tên Bovivet (công ty Kruuse), là loại giấy thấm gồm 4 ngăn để xét nghiệm 4 lá vú Giấy được tẩm bromothymol, nitragine

và đổi màu như sau:

- pH từ 6.0 –7.6: màu xanh bromothymol phân giải thành màu vàng sang xanh

- pH từ 6.4 –6.8: màu nitragine phân giải thành màu vàng sang xanh lục

(Sữa bình thường có độ pH từ 6,5 – 6,7)

Trang 32

Chú ý trong kết quả thử sữa:

- Các trường hợp sữa bị thay đổi do sinh lý sẽ bị sai lệch Bò khỏe mạnh cũng có thể thay đổi pH trong sữa theo giai đoạn tiết sữa

- Sữa đầu có tính acid hơn

- Cuối giai đoạn cho sữa thì độ pH của sữa bò cao hơn hay bằng 6,8

- Viêm vú do Streptococcus agalactiae sẽ làm cho sữa chua do chuyển hóa đường lactoza thành acid lactic (sẽ có phản ứng âm tính giả)

Thao tác thử nghiệm

- Bóp bỏ vài tia sữa đầu; sau đó, cho tia sữa lên ô giấy thử Tiếp tục thực hiện cho các núm vú khác

- Kết quả được đọc sau 1 –2 phút:

- Bò khỏe: Giấy thử có màu vàng lục (pH 6,5 – 6,7)

- Bò bệnh: Giấy thử chuyển từ màu vàng lục sang màu xanh (pH gần bằng 7) Nguyên nhân do lượng đường lactose giảm đi song song với lượng muối kiềm tăng lên trong sữa

- Sự tăng pH trong sữa là dấu hiệu của bệnh viêm vú

1.3.4.2.3 Phương pháp thử nghiệm Blue Methylen (Blue Methylen Test)

Phần lớn các vi sinh vật gây ô nhiễm sữa khi phát triển làm thay đổi hiệu thế oxy hoá khử Nếu cho chất màu vào sữa chất màu sẽ thay đổi, tuỳ theo thời gian đổi màu có thể ước tính độ nhiễm vi sinh của sữa

Dung dịch Blue Methylen pha như sau: Blue Methylen 5ml, nước cất vừa

đủ 100cc tạo dung dịch Blue Methylen, ống nghiệm sấy tiệt trùng có nút đậy, Pipete 10ml và 1ml.Tiến hành thử: thử nghiệm trong điều kiện vô trùng, cho vào

Trang 33

ống nghiệm 10ml sữa, Blue Methylene 1ml Nút ống lại cẩn thận, lắc nhẹ cho dung dịch trộn đều sau đó để vào tủ ấm 37oC Sau mổi giờ lắc nhẹ 1 lần và xác định độ mất màu trong thời gian như sau: lúc vừa cho vào tủ ấm, sau 10 phút, sau

1 giờ, sau 3 giờ

- Nếu mất màu trước 15 phút: sữa nhiễm vi sinh rất nhiều

- Nếu mất màu sau 15 phút đến 1 giờ: sữa bị nhiễm nặng

- Nếu mất màu sau 1 giờ đến 3 giờ: sữa bị nhiễm nhẹ

- Nếu mất màu sau hơn 3 giờ: sữa được coi như đạt tiêu chuẩn

1.3.4.2.4 Phát hiện sữa viêm bằng thuốc thử CMT (California Mastitis Test) Nguyên tắc của phướng pháp này là nhằm phát hiện bệnh viêm vú qua số lượng tế bào bạch cầu trong 1 ml sữa Tỷ lệ xét nghiệm: 1-1 (giữa dung dịch CMT và sữa)

- Thao tác: Sau khi vắt sữa rửa sạch núm vú, lấy sữa trên từng lá vú cho vào đĩa

Pétri hay cốc đựng, lấy 2ml lượng vừa đủ để xét nghiệm Bơm 2ml thuốc thử CMT vào đĩa Pétri có chứa 2ml sữa Xoay tròn đĩa, đặt đĩa Pétri trên nơi hơi tối để quan sát, đọc kết quả ngay dựa trên sự đóng vón và thay đổi màu sắc của hổn hợp

Thành phần hoá chất thuốc thử gồm: Chất màu đỏ xẩm bromocrésol 1/10.000 và dung dịch teepol10% Sự đông vón phụ thuộc vào mật độ các tế bào bạch cầu trong sữa với các mức độ đo lường tình trạng viêm nhiễm

- Kết quả :

Bò mạnh khoẻ: dưới 300.000 tế bào/ ml

Bò bị nhiễm: trên 800.000 tế bào/ ml

Dù theo các tác giả nào để thử, khi đọc kết quả cần các chú ý như sau:

- Kết quả âm tính hay nghi ngờ khi thử CMT thì phải xem xét và cân nhắc cẩn thận Kết quả âm tính cũng không có nghĩa hoàn toàn là không có bệnh

- Đây là phương pháp đọc kết quả có tính chủ quan người đọc và bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác

- Khi để kết quả khá lâu có thể sẽ thấy âm tính giả vì gen trong đĩa bị biến mất

- Sử dụng sữa mới vắt cho kết quả chính xác hơn sữa bảo quản hơn 24 giờ

Trang 34

- Chú ý dụng cụ chứa sữa để thử và yếu tố nhiễm khuẩn bên ngoài gây acid hóa sẽ làm kết quả âm tính

- Hàm lượng chất béo trong sữa cao ảnh hưởng đến sự chuyển màu đỏ

bromocresol Theo Daniel et al chứng minh kết quả CMT còn tùy thuộc vào đàn

gia súc đang có hàm lượng chất béo cao hay thấp, từ đó sẽ gây phản ứng dương tính hay âm tính

- Số lượng tế bào có thay đổi và dao động nhiều trong chu kỳ cho sữa, thời gian vắt sữa, trạng thái sức khỏe bầu vú và tùy loại vi khuẩn gây bệnh

1.3.4.2.5 Nuôi cấy mẫu sữa

Các mẫu sữa được lấy từ các vú riêng biệt hoặc lấy từ mẫu chung của bón bầu

vú của một cá thể bò Đặc biệt chú ý tới dụng cụ lấy mẫu phải đảm bảo sach sẽ, tránh nhiễm tạp khuẩn quá trình lấy mẫu phải đảm bảo thao tác kĩ thuật Mẫu đem về được nuôi cấy trên các môi trường thích hợp để phân lập vi khuẩn nhằm xác định các vi khuẩn gây viêm vú Ngoài ra phương pháp nuôi cấy mẫu sữa còn có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đưa ra các phác đồ điều trị hay loại thải bò

1.3.4.2.6 Chẩn đoán dựa trên các thiết bị đặc hiệu

Nguyên tắc hoạt động của máy là phát hiện sự thay đổi điện trở của sữa bò khi bò bị bịnh viêm vú tiềm ẩn Khi bò bị viêm vú tiềm ẩn, hàm lượng muối khoáng trong sữa sẽ tăng lên làm thay đổi điện trở của sữa

- Cách sử dụng: Bỏ một lượng sữa nhỏ vào cốc và bấm nút đo và chờ đọc

kết quả hiển thị trên màn hình của thiết bị

- Kết quả : Điện trở càng thấp khả năng bò bị viêm vú tiềm ẩn càng cao

Bên cạnh đó tỷ lệ béo trong sữa cũng ảnh hưởng đến kết quả Mức độ 300 là trung bình Thấp hơn là bò bắt đầu bị viêm vú tiềm ẩn

1.3.4.2.7 Thiết bị đo số lượng tế bào thân (Somatic Cell Counter)

- Nguyên lý hoạt động

Số lượng tế bào thân trong sữa là một vấn đề được quan tâm thường xuyên bởi vì tính chất phức tạp của nó và mối liên hệ của nó với chất lượng sữa, sức khoẻ của bò, khả năng sản xuất Người chăn nuôi bò sữa cần phải biết và hiểu rỏ tầm quan trọng của yếu tố này trong chăn nuôi bò sữa Cơ thể bò sữa là một hệ thống

Trang 35

phức hợp nội tại mà cho phép nó có thể bảo vệ cơ thể chống lại nhiều yếu tố bất lợi

từ bên ngoài xâm nhập vào, chẳng hạn như các vi trùng gây bệnh Ví dụ, cơ thể nó

có khả năng huy động các tế bào “chiến đấu” đến bầu vú nếu các vi trùng gây bệnh bắt đầu xâm nhập vào bộ phận này Các tế bào này chiến đấu này chính là tế bào thể (tế bào sinh dưỡng hay bạch cầu) sẽ di chuyển đến các mô, các bộ phận bị nhiễm trùng và bắt đầu những hành động để hạn chế sự nhiễm và tiến đền tiêu diệt những tác nhân gây nhiễm Tế bào thân được trang bị nhiều công cụ để thực hiện nhiệm vụ này của nó

- Máy đo số lượng tế bào thể

Đặc điểm hoạt động của máy :

+ Đếm trực tiếp trên số lượng tế bào

+ Thời gian thực hiện dưới 45 giây

+ Qui trình tinh chỉnh đã được mặc định sẵn không phải thực hiện lại ở mỗi lần đo

+ Thao tác trên bàn phím, lưu trữ, tìm kiếm, theo dõi diễn tiến tình hình sức khoẻ của đàn bò

+ Hoạt động bằng pin và sử dụng ở bất cứ đâu

Ngày đăng: 17/02/2017, 11:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Brouillet P., Faroult B., 2003 (Thanh Thuận dịch). Điều trị bệnh viêm vú lâm sàng. Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y số 4/2003: 72-81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y
2. Tô Minh Châu, Trần Thị Bích Liên, 2001. Vi khuẩn và nấm gây bệnh trong thú y. Khoa Chăn Nuôi Thú Y, trường Đại học Nông Lâm Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi khuẩn và nấm gây bệnh trong thú y
3. Dương Thanh Liêm, Bùi Huy Như Phúc, Dương Duy Đồng, 2002. Thức ăn và dinh dưỡng động vật. Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thức ăn và dinh "dưỡng động vật
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
4. Phạm Bảo Ngọc, 2002. Xác định vi khuẩn chủ yếu gây bệnh viêm vú bò sữa. Tính kháng thuốc của chúng và biện pháp phòng trị. Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định vi khuẩn chủ yếu gây bệnh viêm vú bò sữa. Tính "kháng thuốc của chúng và biện pháp phòng trị
5. Nguyễn ngọc Nhiên cs., 1996 - 1999 ( trích theo http://www.dairyvietnam.com/vn/Cac-benh-thuong-gap-bo-sua-va-cach-dieu-tri/Benh-viem-vu-bo-sua.html) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn ngọc Nhiên cs., 1996 - 1999
6. Nguyễn Vĩnh Phước, 1978. Vi sinh vật thú y III. Nhà xuất bản đại học và trung học chuyên nghiệp Hà Nội, trang 3 - 262 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi sinh vật thú y III
Nhà XB: Nhà xuất bản đại học và trung học chuyên nghiệp Hà Nội
7. Nguyễn Văn Thành, 2002. Giáo trình sản khoa gia súc. Trường Đại Học Nông Lâm Tp.HCM, trang 120-140.Tài liệu tiếng nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sản khoa gia súc
8. Badinand F., 1999. Reproduction et production laitiere. Ecole Nationale Vétérinaire d’Alfort,153-168 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reproduction et production laitiere
9. Barkema, H.W., Schukken, Y.H., Lam, T.J.G.M., Beiboer, M.L., Wilmink, H., Benedictus, G., Brand, A., 1998. Incidence of clinical mastitis in dairy herds grouped in three categories by bulk milk somatic cell count. Journal of Dairy Science, 81, 411 – 419 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Dairy "Science
10. Detilleux J.C, Kehrli M.E., Freeman A.E., Fox L.K., and Kelley D.H., 1995. Mastitis of periparturient Holstein cattle: a phenotypic and genetic studies.Journal of Dairy Science. 78, pp. 2285-2293 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Dairy Science
11. Dodd, F.H., Neave, F.K., 1951. Machine milking rate and mastitis. Journal of Dairy Research 18: 240 - 245 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of "Dairy Research
12. Dingwell R.T., 2004. Association of cow and quarter-level factors at drying-off with new intramammary infections during the dry period. Department of Health Management, Atlantic veterinary college, university of Prince Edward Island, university Avenue, Charlottetown, Prince Adward Island, Canada Sách, tạp chí
Tiêu đề: Association of cow and quarter-level factors at drying-off "with new intramammary infections during the dry period
13. Erskine, R.J., Eberhart, R.J., Hutchinson, L.J. and Scholz, R.W. 1987. Blood selenium concentrations and Glutathion peroxidase activities in dairy herds with high and low somatic cell count J. Amer. Veterinary Medicine Association. 178: 704 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Veterinary Medicine "Association
14. Galton và ctv, 1982. A comprehensive mastitis control program will effectively control infections caused by environmental and contagious pathogens.Extension agricultural engineer livestock systems Sách, tạp chí
Tiêu đề: A comprehensive mastitis control program will effectively "control infections caused by environmental and contagious pathogens
16. Goff J.P., Kayoko K., 1997. Interactions between metabolic disease and the immune system: Why cows are likely to develop mastitis at feshening. Periparturient diseases of cattle research unit, national animal disease center, USDA-agricultural research service, Ames, IA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Interactions between metabolic disease and the immune "system: Why cows are likely to develop mastitis at feshening
17. Gonzalez R.N., Wilson D. J., 2003. Mycoplasmal mastitis in dairy herds. Veterinary clinical food animal, 19:199 – 221 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Veterinary clinical food animal
18. Grasso P., R.W.Scholz, R.J.Erskine, and R.J. Eberhart, 1990. Phagocytosis, bactericidal activity, and oxidative metabolism of mammary neutrophil from dairy cows fed selenium - adequate and selenium-deficient diets. American Journal Veterinary Resource. 51:269-277 Sách, tạp chí
Tiêu đề: American "Journal Veterinary Resource
19. Gutebock W.M., 1984. Practical aspects of mastitis control in large dairy herds. Part II. Milking hygiene. Comp. Con. Edu. Prac. Vet. 6:651-658 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comp. Con. Edu. Prac. Vet
20. Haas Y de; R.F. Veekamp; H.W. Barkema; Y.T. Grohn và Y.H. Schukken, 2004. Associations between pathogen – specific cases of clinical mastitis and somatic cell count patterns. Department of Health Management, Atlantic Veterinary college, Canada, 95 – 105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Associations between pathogen – specific cases of clinical mastitis and somatic cell "count patterns
21. Heeshen W., 1975. Determination of somatic cells in milk. Institute fur hygiene der bundesanstalt fur Mi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determination of somatic cells in milk

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Bầu vú bò sữa - Thực trạng bệnh viêm vú ở bò sữa trên địa bàn huyện duy tiên – tỉnh hà nam và thử nghiệm điều trị
Hình 1.1. Bầu vú bò sữa (Trang 10)
Hình 1.3: Cấu tạo tuyến sữa - Thực trạng bệnh viêm vú ở bò sữa trên địa bàn huyện duy tiên – tỉnh hà nam và thử nghiệm điều trị
Hình 1.3 Cấu tạo tuyến sữa (Trang 11)
Hình 1.4. Chu kỳ tiết sữa ở bò sữa - Thực trạng bệnh viêm vú ở bò sữa trên địa bàn huyện duy tiên – tỉnh hà nam và thử nghiệm điều trị
Hình 1.4. Chu kỳ tiết sữa ở bò sữa (Trang 13)
Hình 2.3. Cho thuốc thử vào  Hình 2.4. Đọc kết quả - Thực trạng bệnh viêm vú ở bò sữa trên địa bàn huyện duy tiên – tỉnh hà nam và thử nghiệm điều trị
Hình 2.3. Cho thuốc thử vào Hình 2.4. Đọc kết quả (Trang 38)
Hình 3.1: Tỷ lệ (%) bò sữa mắc bệnh viêm vú lâm sàng theo từng khu vực - Thực trạng bệnh viêm vú ở bò sữa trên địa bàn huyện duy tiên – tỉnh hà nam và thử nghiệm điều trị
Hình 3.1 Tỷ lệ (%) bò sữa mắc bệnh viêm vú lâm sàng theo từng khu vực (Trang 42)
Hình 3.2. Bầu vú bị  sưng to, nóng, đỏ  Hình 3.3. Bầu vú bò bị teo - Thực trạng bệnh viêm vú ở bò sữa trên địa bàn huyện duy tiên – tỉnh hà nam và thử nghiệm điều trị
Hình 3.2. Bầu vú bị sưng to, nóng, đỏ Hình 3.3. Bầu vú bò bị teo (Trang 43)
Hình 3.4. Núm vú bị viêm  Hình 3.5. Chuồng trại bẩn là nguyên nhân - Thực trạng bệnh viêm vú ở bò sữa trên địa bàn huyện duy tiên – tỉnh hà nam và thử nghiệm điều trị
Hình 3.4. Núm vú bị viêm Hình 3.5. Chuồng trại bẩn là nguyên nhân (Trang 43)
Bảng 3.4. Kết quả khảo sát tỷ lệ bò sữa bị bệnh viêm vú theo mùa  Mùa  Số con theo dõi  Số con bị viêm  Tỷ lệ nhiễm (%) - Thực trạng bệnh viêm vú ở bò sữa trên địa bàn huyện duy tiên – tỉnh hà nam và thử nghiệm điều trị
Bảng 3.4. Kết quả khảo sát tỷ lệ bò sữa bị bệnh viêm vú theo mùa Mùa Số con theo dõi Số con bị viêm Tỷ lệ nhiễm (%) (Trang 44)
Hình 3.7: Kết quả xác định vị trí lá vú bò bị viêm - Thực trạng bệnh viêm vú ở bò sữa trên địa bàn huyện duy tiên – tỉnh hà nam và thử nghiệm điều trị
Hình 3.7 Kết quả xác định vị trí lá vú bò bị viêm (Trang 48)
Bảng 3.9. Kết quả xác định số lượng lá vú của bò bị viêm bằng phương pháp CMT - Thực trạng bệnh viêm vú ở bò sữa trên địa bàn huyện duy tiên – tỉnh hà nam và thử nghiệm điều trị
Bảng 3.9. Kết quả xác định số lượng lá vú của bò bị viêm bằng phương pháp CMT (Trang 52)
Hình 3.8: Kết quả xác định số lượng lá vú bò bị viêm - Thực trạng bệnh viêm vú ở bò sữa trên địa bàn huyện duy tiên – tỉnh hà nam và thử nghiệm điều trị
Hình 3.8 Kết quả xác định số lượng lá vú bò bị viêm (Trang 53)
Bảng 3.10. Số giống vi khuẩn phân lập được trong một mẫu sữa - Thực trạng bệnh viêm vú ở bò sữa trên địa bàn huyện duy tiên – tỉnh hà nam và thử nghiệm điều trị
Bảng 3.10. Số giống vi khuẩn phân lập được trong một mẫu sữa (Trang 54)
Bảng 3.12 : Tính mẫn cảm của các vi khuẩn phân lập được từ sữa bò viêm vú với một số thuốc kháng sinh - Thực trạng bệnh viêm vú ở bò sữa trên địa bàn huyện duy tiên – tỉnh hà nam và thử nghiệm điều trị
Bảng 3.12 Tính mẫn cảm của các vi khuẩn phân lập được từ sữa bò viêm vú với một số thuốc kháng sinh (Trang 57)
Bảng 3.13. Tính mẫn cảm của một số vi khuẩn có trong có trong sữa bò viêm vú với một số thuốc kháng sinh - Thực trạng bệnh viêm vú ở bò sữa trên địa bàn huyện duy tiên – tỉnh hà nam và thử nghiệm điều trị
Bảng 3.13. Tính mẫn cảm của một số vi khuẩn có trong có trong sữa bò viêm vú với một số thuốc kháng sinh (Trang 59)
Hình 3.10. Kết quả điều trị bệnh viêm vú lâm sàng ở bò sữa - Thực trạng bệnh viêm vú ở bò sữa trên địa bàn huyện duy tiên – tỉnh hà nam và thử nghiệm điều trị
Hình 3.10. Kết quả điều trị bệnh viêm vú lâm sàng ở bò sữa (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w