Để đáp ứng nhu cầu về sữa ngày một tăng, từng bước chủ động nguồn nguyên liệu trong nước thay dần sữa nhập nhằm tiết kiệm ngoại tệ, đồng thời tạo được việc làm cho người dân, chính phủ đ
Trang 1MỤC LỤC
Lời cam đoan .ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình .viii
Danh mục các chữ viết tắt ix
MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Khái niệm vể bệnh viêm vú bò sữa 4
1.2 Phân loại viêm vú bò sữa 4
1.2.1 Viêm vú lâm sàng 4
1.2.2Viêm vú cận lâm sàng 7
1.3 Những yếu tố có ảnh hưởng đến bệnh viêm vú bò sữa 7
1.3.1Vật chủ 7
1.3.2 Nguyên nhân vi sinh vật 10
1.3.3 Ngoại cảnh 13
1.4 Tính chất và giá trị dinh dưỡng của sữa 18
1.4.1 Tính chất vật lí 18
1.4.2 Thành phần hoá học của sữa 18
1.4.3 Hệ vi sinh vật trong sữa 19
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sữa 20
1.5.1 Ảnh hưởng của giống tới chất lượng sữa 21
1.5.2.Chế độ nuôidưỡng và chăm sóc 22
1.5.3.Tuổi của gia súc 23
Trang 21.5.6 Kỹ thuật vắt sữa 25
1.5.7 Điều kiện khí hậu 25
1.5.8 Điều kiện bảo quản 26
1.6 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 26
1.6.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 26
1.6.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 27
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG – NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tượng 29
2.2 Nội dung 29
2.3 Địa điểm nghiên cứu 29
2.4 Nguyên liệu 29
2.4.1 Mẫu sữa 29
2.4.2 Các loại môi trường sử dụng 29
2.4.3 Thiết bị, dụng cụ thí nghiệm 29
2.5 Phương pháp nghiên cứu 30
2.5.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu 30
2.5.2 Phương pháp chẩn đoán bò viêm vú 30
2.5.3 Các phương pháp đánh giá chất lượng sữa tại các trung tâm thu gom 31
2.5.4 Phương pháp đánh giá chất lượng sữa dựa vào thành phần các chất trong sữa 33
2.5.5 Phương pháp xác định tổng số vi khuẩn hiếu khí trong 1ml sữa (FAO,1992) 33
2.5.6 Phương pháp xác định tổng số E.coli (FAO, 1992) 34
2.5.7 Phương pháp phát hiện Salmonella trong sữa (FAO, 1992) 35
2.5.8 Phương pháp phát hiện Staphylococcus aureus trong sữa (FAO, 1992) 36
2.6 Phương pháp xử lý số liệu 37
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38
3.1.Kết quả khảo sát tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm vú tại xã Phù Đổng – Gia lâm – Hà nội 38
Trang 33.1.1 Kết quả khảo sát tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm vú lâm sàng 38
3.1.2 Kết quả khảo sát tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm vú cận lâm sàng 40
3.2 Khai thác sữa và các kênh tiêu thụ sữa của nông hộ tại xã phù đổng 47
3.2.1 Khai thác sữa 47
3.2.2.Quá trình tiêu thụ sữa bò tươi tại Phù Đổng 47
3.2.3.Thực trạng vệ sinh tại các cơ sở thu gom sữa 52
3.3 Khảo sát một số chỉ tiêu chất lượng sữa, vệ sinh sữa trên đàn bò đang nuôi tại các nông hộ xã phù đổng 53
3.3.1.Kết quả kiểm tra độ tươi của sữa bằng phương pháp cảm quan và thử cồn 75° 53
3.3.2.Kết quả đánh giá độ nhiễm khuẩn của sữa bằng phản ứng hoàn nguyên xanh methylen 55
3.3.3 Kết quả kiểm tra một số chỉ tiêu: mỡ sữa, protein, vật chất khô không mỡ và tỷ trọng sữa 56
3.3.4 Kiểm tra mức độ nhiễm vi khuẩn trong sữa tại các nông hộ, cơ sở thu gom sữa trên địa bàn xã Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội 60
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 70
1.Kết luận 70
2.Đề nghị 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
STT bảng Tên Bảng trang
1.1 Thành phần hóa học của sữa bò 18
1.2 Ảnh hưởng của giống đến thành phần sữa 22
2.1.Đọc phản ứng và đánh giá kết quả CMT 31
3.1.Kết quả khảo sát tỷ lệ bò mắc bệnh viêm vú lâm sàngtại các địa điểm nghiên cứu năm 2014 - 2015 38
3.2.Kết quả khảo sát tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm vú lâm sàng theo lứa đẻ 39
3.3.Kết quả khảo sát tỷ lệ bò mắc bệnh viêm vú cận lâm sàng theo tháng 41
3.4.Tỉ lệ viêm vú cận lâm sàng theo phương thức vắt sữa 42
3.5.Kết quả khảo sát mức độ viêm vú cận lâm sàng 45
3.6 Sản lượng sữa các trạm thu gom sữa năm 2014 50
3.7 Kiểm tra độ tươi của sữa 54
3.8 Kết quả đánh giá độ nhiễm khuẩn của sữa bằng phản ứng hoàn nguyên xanh methylen 56
3.9 Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu: Mỡ sữa, protein, vật chất khô không mỡ và tỷ trọng sữa của 3 nhóm bò: F1, F2, F3 57
3.10 Kết quả kiểm tra tổng số vi khuẩn hiếu khí trong sữa 61
3.11 Kết quả kiểm tra vi khuẩn E.coli trong sữa 64
3.12 Kết quả kiểm tra vi khuẩn Salmonella trong sữa 65
3.13 Kết quả kiểm tra vi khuẩn Staphylococcusaureus trong sữa 66
3.14 Tổng hợp so sánh kết quả kiểm tra chỉ tiêu vi sinh vật trong sữa (Vi khuẩn hiếu khí, E.coli, Salmonella, Staphylococcus aureus) 68
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
STT hìnhTên hình trang
3.1.Tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm vú cận lâm sàng theo tháng 42 3.2.Kết quả khảo sát mức độ viêm vú cận lâm sàng 46 3.3 Các kênh tiêu thụ sữa tươi tại xã Phù Đổng 48 3.4 Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu: Mỡ sữa, protein, vật chất khô không mỡ và tỷ trọng sữa 57 3.5.Kết quả kiểm tra chỉ tiêu vi sinh vật trong sữa tươi 69
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
cs : Cộng sự
ATP : Adenosine triphosphate
CFU : Colony forming unit Đơn vị khuẩn lạc
CMT : California mastitis test Thử viêm vú theo phương pháp
California CNS Coagulase-negative Staphylococcus Staphylococcus có phản ứng
coagulase âm tính DNA Deoxyribo Nucleic Acid Phân tử Acis Nucleic mang thông
tin di truyền FMD : Foot and Mouth disease Bệnh lở mồm long móng
IV : Intravenous injection Tiêm tĩnh mạch
MIC : Minimal inhibitory concentration Nồng độ ức chế tối thiểu
Trang 7Để đáp ứng nhu cầu về sữa ngày một tăng, từng bước chủ động nguồn nguyên liệu trong nước thay dần sữa nhập nhằm tiết kiệm ngoại tệ, đồng thời tạo được việc làm cho người dân, chính phủ đã có chủ trương phát triển chăn nuôi bò sữa trong nước bằng những chính sách như hỗ trợ vốn cho nông dân, nhập bò và tinh bò sữa cao sản từ các nước có nền chăn nuôi bò sữa phát triển, quy hoạch và khuyến khích các vùng có điều kiện phát triển chăn nuôi bò sữa với mục tiêu cụ thể của chương trình phát triển đàn bò sữa Việc nuôi bò sữa đòi hỏi người chăn nuôi phải có kiến thức chuyên môn, nhưng đại đa số người chăn nuôi chưa am hiểu hết về kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc, khai thác sữa và phòng trị bệnh cho
bò Bên cạnh đó, đặc điểm của giống bò sữa cao sản được nhập vào nuôi thuần chủng hay lai tạo có sức đề kháng bệnh không cao so với các giống bò địa phương nên bò sữa rất dễ bị mắc bệnh Trong đó viêm vú được xem là một trong những bệnh quan trọng nhất, gây nhiều thiệt hại cho ngành chăn nuôi bò sữa, mà trực tiếp là người chăn nuôi Có những trường hợp các nhà máy thu mua chế biến sữa hạ giá thu mua hoặc không thu mua sữa của người chăn nuôi do nguyên nhân xuất phát từ bệnh viêm vú của bò
Trang 8Hơn nữa bệnh viêm vú bò sữa còn có nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người tiêu dùng do vi khuẩn và độc tố của chúng hoặc sự tồn dư kháng sinh trong sữa Nhiều sản phẩm từ sữa bị hỏng mà nguyên nhân xuất phát từ việc sử dụng nguyên liệu sữa của bò bị bệnh viêm vú, các quy trình kỹ thuật, đặc biệt các quy trình vệ sinh phòng bệnh cho bò sữa với người chăn nuôi còn hạn chế nhiều nên các bệnh về sản khoa, ký sinh trùng, truyền nhiễm còn xảy ra khá phổ biến làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả chăn nuôi gây thiệt hại lớn đến ngành chăn nuôi bò sữa Việt Nam nói chung, ở thành phố Hà Nội nói riêng Bệnh xảy ra gây thiệt hại lớn về kinh tế, làm giảm sản lượng, chất lượng sữa, điều trị tốn kém và khả năng phải loại thải bò Bên cạnh đó bệnh ở dạng cận lâm sàng còn gây kế phát các bệnh truyền nhiễm, bệnh sản khoa làm ảnh hưởng lớn đến hiệu quả chăn nuôi, gây tâm lý lo lắng không yên tâm đầu tư sản xuất cho người chăn nuôi
Bên cạnh đó,sữa tươi do không được kiểm soát chặt chẽ hoặc do không được xử lý theo quy định vệ sinh thú y trong quá trình thu gom, bảo quản, chế biến, bày bán trên thị trường là nguồn gây ô nhiễm nhiều loại vi sinh vật ảnh hưởng đến sức khoẻ người tiêu dùng
Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Thực trạng bệnh viêm vú bò sữa Đánh giá chất lượng sữa tươi của đàn bò sữa nuôi tại các nông hộ xã Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội”
2 Mục đích của đề tài
Xác định tình hình bệnh viêm vú bò sữa được nuôi tại thành phố Hà Nội
và vùng phụ cận
Đánh giá ảnh hưởng của bệnh viêm vú cận lâm sàng đến chất lượng sữa để có
cơ sở khuyến cáo người chăn nuôi và các cơ quan chức năng quan tâm giải quyết Đánh giá được chất lượng sữa bò tươi tại trung tâm thu gom sữa, các nông
hộ chăn nuôi bò sữa xã Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội
Xác định được sự ô nhiễm một số vi khuẩn trong sữa tươi
Trang 93 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Cung cấp những số liệu thực tế về tình hình bò sữa bị mắc bệnh viêm vú tại thành phố Hà Nội và những luận chứng khoa học nhằm chứng minh mức độ nghiêm trọng của bệnh viêm vú bò sữa, đặc biệt là viêm vú cận lâm sàng
Xác định được sự ô nhiễm sữa từ đó có biện pháp khắc phục yếu tố gây
ô nhiễm
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái niệm vể bệnh viêm vú bò sữa
Bệnh viêm vú bò sữa là một trong những bệnh phổ biến gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi bò sữa không những ở Việt Nam mà ngay cả
ở những nước chăn nuôi bò sữa phát triển, bệnh gây nên do nhiều yếu tố Theo Tolle, 1975 đã chỉ rõ “viêm vú bò là một bệnh phức tạp gây nên bởi sự tương tác qua lại giữa bò, vi khuẩn và môi trường”
Năm 1987, Liên hiệp sữa quốc tế đã đưa ra định nghĩa “viêm vú bò sữa là quá trình viêm tuyến vú với sự hiện diện của một hay nhiều (2 hoặc tối đa 3) loài
vi khuẩn trong mô vú,dẫn đến sự gia tăng số lượng tế bào bản thể (somatic cell counts: SCC) trong sữa, đặc biệt là tế bào bạch cầu, đồng thời làm thay đổi tính chất vật lý và hóa học của sữa” Viêm vú dẫn đến hậu quả giảm sản lượng sữa, đặc biệt có trường hợp gây chết bò
Viêm vú là phản ứng phòng vệ của cơ thể chống lại các tác nhân gây tổn thương mô bầu vú, những tổn thương này có thể do tác động cơ học hay do các loại
vi khuẩn
1.2 Phân loại viêm vú bò sữa
Viêm vú bò sữa có 2 dạng là viêm vú lâm sàng và viêm vú cận lâm sàng
1.2.1 Viêm vú lâm sàng
Viêm vú lâm sàng là sự nhiễm trùng của bầu vú thể hiện rõ triệu chứng lâm sàng như sự thay đổi tính chất của sữa (sữa bị vón, loãng, màu sắc và mùi khác thường), hình dạng bầu vú (bầu vú sung huyết, sưng to…) và một số trường hợp có triệu chứng toàn thân (sốt, kém hay bỏ ăn…)
Viêm vú lâm sàng được phân chia thành các loại sau:
1.2.1.1 Theo thời gian
Trang 11hay những sản phẩm của bạch cầu Những triệu chứng toàn thân do nhiễm trùng huyết hoặc nhiễm độc huyết bao gồm: xáo trộn hô hấp, tuần hoàn, sốt, biếng ăn, suy nhược, giảm nhu động dạ cỏ, tiêu chảy, mất nước, trường hợp nặng có thể làm chết bò Triệu chứng toàn thân thường xảy ra trước những thay đổi ở bầu vú và sữa
(2) Viêm vú thể cấp tính
Viêm thể cấp tính cũng có đặc điểm là xảy ra đột ngột Bầu vú viêm có biểu hiện sưng, nóng, đau ở mức trung bình tới nặng, giảm sản lượng sữa; sữa có chứa sợi huyết, sữa vón cục và các chất tiết bất thường trong tuyến vú Những dấu hiệu của xáo trộn toàn thân (trở ngại cơ năng) như sốt, suy nhược, biếng ăn và suy yếu Tuy nhiên, những triệu chứng này không nghiêm trọng bằng thể quá cấp tính
(3) Viêm vú thể bán cấp tính
Đặc điểm của viêm vú lâm sàng bán cấp tính là viêm nhẹ Mặc dù có thể không có thay đổi nào ở bầu vú nhưng vẫn xuất hiện các chất tiết bất thường từ tuyến vú và sữa có màu khác thường.Không có dấu hiệu rối loạn toàn thân
(4) Viêm vú thể mãn tính
Thường có những ổ mủ bên trong bầu vú, to nhỏ tùy mức độ Bầu vú có thể mềm bình thường nhưng có thể sưng kéo dài trong nhiều ngày, nhiều tháng thậm chí nhiều năm Bệnh có thể làm cho thùy vú bị xơ cứng hay teo lại Thể bệnh này là hậu quả của việc không phát hiện kịp thời hay điều trị không triệt để khi bò bị viêm vú
bộ tuyến vú sưng to Sờ nhẹ không đau nhưng ấn mạnh con vật đau và phản ứng Lượng sữa của thùy vú viêm giảm rõ, chất lượng sữa lúc đầu biến đổi không rõ,
Trang 12giảm nhưng dễ trở thành mãn tính.Khi tổ chức tuyến vú bị tổn thương nghiêm trọng thì bầu vú có thể bị xơ cứng
(2) Viêm vú thể cata
Triệu chứng cục bộ không rõ, nhìn bên ngoài không thấy có thay đổi nơi bầu vú nhưng lượng sữa giảm.Lúc đầu sữa loãng, khi bệnh tiến triển trong sữa thấy có lợn cợn hay cục vón Đôi khi cục sữa vón làm tắc đầu vú.Con vật không
có biểu hiện triệu chứng toàn thân
(3) Viêm vú có mủ
Gồm 2 thể là viêm cata có mủ và viêm vú thể áp- xe
• Thể viêm cata có mủ
Vi trùng gây bệnh đa số là Staphylococcus, ngoài ra còn có Streptococcus,
E coli và các vi khuẩn gây mủ khác Ở bò bệnh, bể sữa, ống tiết sữa, tuyến vú bị viêm làm cho dịch thẩm xuất và mủ chảy vào bể sữa và các ống dẫn sữa Bệnh dễ lây sang bò khỏe
cơ quan nội tạng khác như phổi, thận
Trang 13(4) Viêm vú có máu
Bệnh gây các tổ chức của ống tiết sữa bị xuất huyết.Thường gặp ở bò sau khi sanh vài ngày Thú sốt đến 41oC, ủ rủ, kém ăn hay bỏ ăn Vú viêm sưng rõ rệt, bề mặt xuất hiện những đám đỏ Khi vắt sữa, con vật tỏ ra đau đớn.Sữa loãng, màu hồng hay đỏ như máu
1.2.2 Viêm vú cận lâm sàng
Theo Quinn và cs (1994); Gianneechini và cs (2002), viêm vú cận lâm sàng là sự nhiễm trùng không lộ rõ của bầu vú, không có triệu chứng đặc trưng Viêm vú cận lâm sàng được phát hiện bởi sự gia tăng tổng số bạch cầu trong sữa hoặc bằng phương pháp gián tiếp khác như phương pháp thử CMT (California Mastitis Test), nuôi cấy vi sinh vật, tính dẫn điện của sữa, sự thay đổi nồng độ các enzyme… Thường tỉ lệ viêm vú cận lâm sàng nhiều hơn viêm vú lâm sàng và luôn luôn xảy ra trước dạng viêm vú lâm sàng Viêm vú cận lâm sàng làm giảm sản lượng sữa cũng như ảnh hưởng đến chất lượng sữa, có thể chuyển thành dạng viêm vú lâm sàng
Viêm vú được gọi là cận lâm sàng khi chưa có dấu hiệu viêm trên lâm sàng, nghĩa là số lượng tế bào bản thể trong sữa cao nhưng không có bất kỳ sự bất th-ường rõ ràng nào trong sữa hoặc bầu vú
1.3 Những yếu tố có ảnh hưởng đến bệnh viêm vú bò sữa
1.3.1 Vật chủ
* Giống
Mỗi một giống bò có nguồn gốc xuất xứ khác nhau và thích nghi với điều
Trang 14xáo trộn nặng dẫn đến giảm sức đề kháng Từ đó, những nguyên nhân gây bệnh có
cơ hội xâm nhập và gây bệnh cho bò Những giống bò sữa cao sản thường dễ bị viêm vú hơn
* Tuổi
Detilleux và cs (1995); Martin và cs (2002); Haas và cs (2004) nhận thấy viêm vú gia tăng theo tuổi của bò hay số kỳ cho sữa do sức đề kháng của bò giảm theo tuổi và cơ vòng đầu núm vú giảm sự đàn hồi
* Giai đoạn cho sữa
Badinand (1999)nhận thấy bệnh viêm vú lâm sàng xuất hiện ở bất kỳ giai đoạn cho sữa nào, nhưng tần số bệnh cao nhất vào tháng cho sữa đầu tiên và ở
thời kỳ cạn sữa
Theo Phạm Bảo Ngọc (2002), viêm vú lâm sàng hay xảy ra ở giai đoạn đầu của chu kỳ cho sữa, do lúc này sức đề kháng của bò giảm Qua khảo sát, các tác giả ghi nhận 30% viêm vú lâm sàng xảy ra trong những tháng đầu tiên của chu kỳ cho sữa Menzies và cs (2001) nhận xét rằng sự tăng áp lực xoang vú do tồn đọng sữa có thể là nguyên nhân gây rò rỉ sữa, từ đây vi khuẩn xâm nhập qua kênh vú và nhân lên trong tuyến vú Ngoài ra, việc tăng thể tích sữa trong bầu vú làm cho nồng độ những yếu tố đề kháng tự nhiên của cơ thể giảm như lactoferin,immunoglobulin, tế bào thực bào
Thời kỳ đầu của giai đoạn cạn sữa có nhiều yếu tố bất thường tác động lên tuyến vú Do sữa không được vắt trong khi tuyến vú vẫn tiếp tục tiết sữa làm cho bầu vú rất căng, bò khó chịu Những nghiên cứu cho rằng thời kỳ đầu cạn sữa và khoảng 2 – 3tuần trước khi sinh ước tính có 40 - 50% tổng số thùy vú bị nhiễm trùng mới
Ruegg (2002) cho rằng ở giai đoạn cạn sữa, viêm vú xảy ra cao nhất vào những tuần lễ đầu tiên và trong 15 ngày trước khi sinh Những tuần đầu tiên của thời kỳ cạn sữa bầu vú nhạy cảm với sự nhiễm trùng gấp nhiều lần so với thời kỳ cho sữa trước đó và hơn 80% sự nhiễm trùng ở kỳ cạn sữa tồn tại đến khi sinh
Trang 15* Cấu tạo bầu vú
Cấu trúc của bầu vú có liên quan đến sự xâm nhập của những mầm bệnh gây viêm vú Sự mất cân bằng bầu vú là một trong những tác nhân của nguy cơ gây viêm vú Một bầu vú được định nghĩa là cân đối khi tất cả 4 núm vú đều nằm trên cùng một mặt phẳng nằm ngang
Dingwell và cs (2004) cho biết những núm vú bị nứt nẻ có tỉ lệ nhiễm trùng cao hơn 1,7 lần so với những vú lành Những vết nứt, tổn thương ở vú
thường bị nhiễm vi khuẩn Staphylococcus aureus và Streptococcus dysgalactiae
Menzies và cs (2001) cho biết những núm vú có đường kính lớn dễ dẫn đến viêm vú lâm sàng Những núm vú quá lớn không vừa với lỗ máy vắt sữa làm tăng nguy cơ bầm dập khi vắt sữa Những núm vú hình lăng trụ, phạm vi tác động của máy vắt sữa lớn hơn và tỉ lệ bị bệnh viêm vú cũng cao hơn núm vú hình nón Những núm vú quá dài dễ bị xây xát do va chạm Những bò có đầu mút núm vú dạng nhọn hay tròn ít bị viêm vú hơn những bò có dạng lõm vào như cái phễu, vì đầu núm vú lõm vào thường xuyên có một giọt sữa ở đầu mút của núm vú sau khi vắt sữa và đó là điều kiện thuận tiện cho việc vấy nhiễm vi sinh vào vú
Đường kính của lỗ núm vú hay kênh vú và sức co (tính đàn hồi) của cơ vòng đầu vú ảnh hưởng đến tốc độ vắt sữa Khi tốc độ vắt sữa tăng lên thì nguy
cơ nhiễm trùng vú cũng tăng Những bò thường có dòng sữa chảy ra trước khi vắt sữa thường bị viêm vú cao hơn những bò khác cùng đàn
Sự đóng lại của lỗ núm vú có liên quan mật thiết với bệnh viêm vú, cơ vòng đầu núm vú bị hở là một nguy cơ gia tăng số lượng tế bào bản thể trong sữa
so với những thùy vú không hở cơ vòng đầu núm vú và là nguy cơ dẫn đến viêm
vú lâm sàng trên bò sữa
Dingwell (2004) nghiên cứu 300 bò sữa ở Canada sau khi cạn sữa đã ghi nhận 23% lỗ núm vú hình thành nút keratin đóng lại trong tuần đầu tiên của giai đoạn cạn sữa, 23% số núm vú vẫn còn mở sau 6 tuần Ở mức độ toàn đàn, 68%
số núm vú đóng kín lại trong 3 tuần đầu Tuy nhiên, có 3 - 5% số núm vú không
Trang 16Badinand (1999), Menzies và cs (2001) cho rằng những thùy vú sau của bầu vú nhạy cảm với sự nhiễm trùng hơn những thùy vú trước do diện tích da bề mặt quá lớn nên dễ bị lạnh, chấn thương hoặc bị vấy nhiễm vi khuẩn từ phân và sản dịch
1.3.2 Nguyên nhân vi sinh vật
Đây là nhóm nguyên nhân chính yếu gây bệnh viêm vú bò sữa, bao gồm nhiều tác nhân
a Vi khuẩn
Theo Schalm và cs (1971), có trên 130 loài vi khuẩn khác nhau gây viêm vú
bò sữa Dựa vào nguồn gốc khu trú và tính chất lây lan, chúng được phân chia thành hai nhóm lớn gồm nhóm mầm bệnh gây viêm vú truyền lây và nhóm mầm bệnh môi trường
(1) Nhóm vi khuẩn gây bệnh viêm vú truyền lây
Đây là nhóm mầm bệnh sống kí sinh và nhân lên trong cơ thể vật chủ, đặc biệt
là trong tuyến vú, xung quanh núm vú và bầu vú bị tổn thương Chúng thường gây viêm vú dạng cận lâm sàng, làm tăng số lượng tế bào bản thể trong sữa, số ít biểu hiện
dấu hiệu lâm sàng Nhóm này phổ biến nhất là Staphylococcus aureus và Streptococcus agalactiae , ngoài ra còn có Mycoplasma sppvà Corynebacteriumbovis
Chúng lây lan từ bò này sang bò khác trong quá trình vắt sữa thông qua máy vắt sữa, tay người vắt sữa, khăn lau vú hoặc truyền lây do bê con bú…
(2) Nhóm vi khuẩn có nguồn gốc từ môi trường
Bao gồm những loài Staphylococcus khác,Streptococcusuberis,S dysgalactiae , coliforms, Pseudomonas spp Những vi khuẩn này sống ở lông, da
bò và ngoài môi trường
Badinand (1999) phân chia mầm bệnh theo mức độ gây bệnh của vi sinh
vật ra làm các nhóm: nhóm gây bệnh chính (nặng) gồm S aureus, S.agalactiae,
S dysgalactiae, S uberis, E coli,Klebsiella spp và Mycoplasma spp.; nhóm hiếm gặp gồm Actinomyces pyogenes, Bacillus cereus, Norcadia, Candida; nhóm gây bệnh nhẹ gồm Staphylococcus có phản ứng coagulase âm tính (Coagulase-negative Staphylococcus - CNS), các loại Streptococcus khác, Corynebacterium bovis, và Bacillus
Trang 17• Staphylococcus spp
Staphylococcus spp hiện nay được xác định là nguyên nhân gây bệnh viêm vú quan trọng nhất trên bò sữa Sau khi xâm nhập vào trong bể sữa,
Staphylococcus lan rất nhanh trong bầu vú Viêm vú do Staphylococcus có thể ở
dạng quá cấp, cấp, bán cấp hoặc mãn tính Dạng viêm mãn tính thường gặp
hơn.Trong những ca này,Staphylococcus có thể hiện diện bên trong tế bào biểu
mô, bạch cầu trung tính và đại thực bào Ngoài ra, Staphylococcus còn gây viêm
vú cận lâm sàng
• Streptococcus
Trong bệnh viêm vú bò sữa, Streptococcus spp chỉ định vị trên bề mặt
màng nhầy.Chúng rất nhạy cảm với penicillin và bị giới hạn bởi các yếu tố môi
trường khi sống bên ngoài bầu vú.Streptococcus gây viêm vú lâm sàng thể quá
cấp, thể bán cấp, thể mãn tính và viêm vú cận lâm sàng
• Nhóm coliforms
Coliforms là những trực khuẩn Gram âm như E.coli, Enterobacter, Klebsiella có nguồn gốc từ phân.Coliforms chỉ gây bệnh khi cơ thể giảm sức đề kháng Do điều kiện vệ sinh chuồng trại và vệ sinh vắt sữa kém, vi khuẩn xâm nhập vào tuyến vú thông qua kênh đầu vú Coliforms không bám dính vào ống dẫn sữa và những tế bào biểu mô tiết mà nhân lên nhanh chóng trong sữa và sản sinh độc tố Độc tố được hấp thu vào máu Kết quả là nhiễm trùng do coliforms sẽ dẫn đến viêm vú lâm sàng thể cấp tính Nhiệt độ cơ thể bò có thể tăng lên hơn 40oC Thùy vú viêm sưng lớn, nhạy cảm với những kích thích từ bên ngoài Coliforms có thể đã bị loại bỏ khỏi cơ thể bò nhưng độc tố vẫn còn tồn tại nên không xác định được nguyên nhân gây bệnh bằng phương pháp nuôi cấy vi khuẩn
Những ca viêm vú do E coli có đặc điểm số lượng tế bào bản thể tăng lên
rất cao trong thời gian ngắn Số lượng tế bào bản thể trong sữa tăng tới mức cao nhất vào ngày thứ 2 của thời gian ủ bệnh và trở lại mức bình thường sau 3 - 4 tuần
• Pseudomonas spp
Trang 18do P aeruginosa.Chúng gây viêm vú khi bò yếu hoặc những mô vú hoặc bầu vú
bị tổn thương Những dụng cụ vắt sữa không hợp chức năng có thể làm tăng nguy
cơ nhiễm P aeruginosa mới và những vi khuẩn khác Viêm vú lâm sàng do Pseudomonas thường liên quan đến những bò có sản lượng sữa cao và thường vào giai đoạn đầu kỳ cho sữa Sự nhiễm trùng có thể xảy ra đột ngột ở thể quá cấp
• Corynebacterium spp
Phần lớn các loài Corynebacterium sống hoại sinh, một số ít gây bệnh Chúng có khoảng 30 loài khác nhau C bovis là loài gây bệnh viêm vú phổ biến
nhất Bệnh lây lan từ bò này sang bò khác trong quá trình vắt sữa Bò không cho
sữa, bò cái tơ hay bò đang cho sữa đều bị nhiễm trùng vú C bovis không thể đơn
lẻ khởi đầu cho quá trình viêm mà phải kết hợp với những vi khuẩn khác, nhất là những bầu vú bị tổn thương cơ học
Bệnh có đặc điểm là xuất hiện bất ngờ Tuyến vú sưng, cứng, đau Có khi kết hợp viêm khớp Mẫu sữa phân lập vi khuẩn cho kết quả âm tính và điều trị cho kết quả kém, tốc độ lây lan giữa các thùy vú của một cá thể và trong đàn cao
(3) Đường xâm nhiễm vi khuẩn gây viêm vú
Theo Badinand (1999), vi khuẩn gây viêm vú có thể xâm nhập vào vú qua các đường sau:
- Theo đường hướng xuống
Vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể bằng đường máu hoặc đường bạch huyết
và định vị ban đầu ở một vài mô và cơ quan đích Sau đó từ những nơi này chúng
sẽ sinh sản và phân tán đến vú Những vi khuẩn này cũng được sinh sản trong đường máu hoặc đường bạch huyết
Trang 19- Theo đường hướng lên
Đây là trường hợp vi khuẩn từ môi trường xâm nhiễm vào tuyến vú qua ống dẫn sữa của núm vú
- Theo đường da tổn thương
Do có sự tổn thương của da trên thùy vú hoặc các núm vú, sự nhiễm trùng xảy ra và lan dần đến các phần của tuyến vú
b Nấm
Nấm men và nấm mốc là những vi sinh vật môi trường Chúng có ở khắp nơi trong môi trường và có cả trên cơ thể bò khỏe mạnh, bên trong và ngoài chuồng bò Bào tử nấm tồn tại trong không khí, chất lót chuồng, thức ăn Chúng
có thể gây bệnh viêm vú nếu nhốt chung một lượng lớn bò trong cùng một chuồng quá chật chội Phần lớn nấm men và nấm mốc sống hoại sinh và có tính gây bệnh yếu, hiếm khi là nguyên nhân gây bệnh nguy hiểm trên bầu vú bò
Cryptococcus neoformans là nguyên nhân gây viêm vú chủ yếu của nhóm nấm
mốc Ngoài ra bệnh do nấm men Candida, Geotrichum, Trichosporum thường kế
phát sau khi điều trị viêm vú bằng kháng sinh, đặc biệt nếu những loại kháng sinh
đó thích hợp cho sự phát triển của chúng Việc sử dụng kháng sinh có nguồn gốc
từ nấm để điều trị bệnh viêm vú do nấm không có hiệu quả
c Virus
Tình trạng nhiễm bệnh do virus hướng thượng bì trên bò làm tổn thương
da của núm vú cũng như bầu vú Chúng không phải là nguyên nhân trực tiếp gây viêm vú, nhưng bệnh làm da vú bị lở loét (tổn thương) và làm cho cơ thể vật chủ giảm sức đề kháng với bệnh Từ đó, những vi khuẩn cơ hội nhất là nhóm
staphylococci và streptococci bám vào và nhân lên ở những vết thương và xâm
nhập vào tuyến vú, hậu quả gây viêm vú bò sữa
1.3.3 Ngoại cảnh
a Thời tiết
Mỗi mùa trong năm thích hợp cho sự phát triển của một số nguyên nhân
Trang 20sữa vùng Wiscosin (Mỹ) đã kết luận tỉ lệ bò bị bệnh viêm vú ở mùa hè và mùa đông cao hơn so với mùa xuân và mùa thu
Ở New York, bệnh viêm vú lâm sàng do Mycoplasma xảy ra thường
xuyên ở mức độ cao vào những tháng mùa đông Bệnh bắt đầu từ cuối thu, đỉnh cao là tháng giêng và giảm xuống vào giữa mùa xuân
Ở những nước thuộc bắc bán cầu, vào mùa đông, vú bò thường bị nứt nẻ
do thời tiết giá lạnh và khô Từ những vết nứt này, vi khuẩn môi trường cũng như
vi khuẩn truyền lây đặc biệt là Staphylococcus aureus và Streptococcus agalactiae nhân lên và xâm nhập vào tuyến vú trong thời gian vắt sữa gây nhiễm trùng bầu vú
b Phương thức chăn nuôi
Bệnh viêm vú xảy ra nhiều trên bò trong giai đoạn nuôi nhốt suốt trong chuồng hơn là trong giai đoạn chăn thả trên đồng cỏ Trong nuôi nhốt mà bò bị cột xích thì vết thương ở núm vú cao 2 - 5 lần so với nuôi nhốt mà bò được thả tự do
c Chuồng trại
Chuồng trại chật hẹp, nhất là nuôi nhốt tự do mật độ bò quá lớn, nền chuồng trơn trợt hay vách ngăn chuồng quá ngắn dễ dẫn đến gây tổn thương vú làm gia tăng bệnh viêm vú
• Chất độn chuồng
Chất độn chuồng là nơi cư trú chủ yếu của vi khuẩn họ
Enterobacteriaceae (E coli, Enterobacter spp.,Klebsiella), nhóm streptococci(S uberis, S faecalis, S faecium, S bovis) Chất độn chuồng thường xuyên ẩm ướt
là điều kiện làm bệnh viêm vú gia tăng
Trang 21vú thường xuyên cộng với gió lùa làm mất nhiệt của da bầu vú và giảm lượng máu tuần hoàn làm sức đề kháng của bầu vú giảm
d Dinh dưỡng
Smith và cs (2002) cho biết có mối liên quan giữa khẩu phần ăn với tỉ lệ mắc bệnh viêm vú Khẩu phần bò cho sữa cần cung cấp đủ và cân bằng về năng lượng, protein, béo, chất xơ, khoáng (đồng, selenium, sắt), vitamin như vitamin
A, E, C, D… và β-caroten Thiếu những loại khoáng và vitamin này, bò giảm số lượng tế bào bạch cầu, giảm khả năng đáp ứng miễn dịch dẫn đến tăng tính nhạy cảm với những nguyên nhân gây viêm vú
Trong một nghiên cứu trên những đàn bò ở New York, Goff và Kimura Kayoko (1997) đã xác định có sự liên quan rất mật thiết giữa bệnh sốt sữa (thiếu calci và magnésium huyết) với bệnh viêm vú Những bò bị sốt sữa có tỉ lệ viêm
vú cao hơn gấp 8,1 lần so với bò bình thường, sự phát triển bệnh viêm vú do coliforms cũng cao hơn Oltenacu và Ekesbo (1994) khảo sát ở Thụy Điển ghi nhận bệnh xê – ton (ketose) huyết làm nguy cơ viêm vú cao gấp 2 lần
Một số chất khoáng và vitamin cần thiết
• Selenium: Weiss và cs (1990) cho rằng có sự liên quan giữa selenium
và vitamin E đến tình trạng sức khỏe của bầu vú Grasso và cs (1990) bổ sung 0,1 ppm selenium vào khẩu phần bò Kết quả cho thấy hiệu lực diệt khuẩn gây bệnh viêm vú của bạch cầu trung tính ở những bò này cao hơn bò không được bổ sung Erskine và cs (1987) cho rằng tốc độ xâm nhập của bạch cầu trung tính từ máu vào bể sữa nhanh hơn ở những bò được bổ sung thêm selenium vào khẩu phần
• Kẽm (Zn): Khẩu phần của bò sữa thiếu kẽm có liên quan tới tăng tỉ lệ
mắc bệnh viêm vú Bổ sung kẽm - methionin làm giảm tổng số tế bào bản thể trong sữa khoảng 22% Thiếu kẽm làm cho khả năng thực bào và giết chết vi khuẩn giảm, giảm lượng tế bào lympho trong máu Thiếu kẽm gây bất triển lách
và tuyến thymus, giảm khả năng hoạt động của lympho T, lympho B và cytokin
Trang 22• Đồng (Cu): Thiếu đồng làm lympho T, lympho B và bạch cầu trung
tính giảm số lượng cũng như giảm sức họat động của những yếu tố diệt khuẩn làm cho bệnh viêm vú gia tăng
• Vitamin E: Kết quả nghiên cứu bởi Smith và cs (2002) cho biết việc
bổ sung vitamin E vào trong khẩu phần ăn của bò sữa hoặc cung cấp qua đường tiêm đều làm tăng khả năng diệt vi khuẩn của tế bào bạch cầu
• Vitamin A: Vitamin A rất quan trọng cho chức năng của hệ miễn dịch
Sự thiếu hụt vitamin A hoặc β-caroten làm giảm sự thực bào của đại thực bào và bạch cầu đa nhân trung tính, giảm sự sản xuất kháng thể, tăng sự nhạy cảm với những tác nhân gây nhiễm Vitamin A cần thiết cho sự tiết IgA chống lại sự nhiễm trùng trên bề mặt lớp tế bào biểu mô tuyến vú Ngoài ra, khi thiếu vitamin A làm ngăn trở quá trình tái tạo của lớp biểu mô tuyến vú, gây hiện tượng sừng hóa, cản trở sự hình thành chất nhầy mucoprotein bảo vệ lớp niêm mạc tạo kẽ hở cho vi khuẩn, virus xâm nhập gây viêm vú
• Vitamin C: Nếu thiếu vitamin C, sự đáp ứng của cơ thể với vi khuẩn
xâm nhập giảm, tạo điều kiện cho những vi khuẩn này phát triển và gây bệnh viêm vú Vì vậy, khi cơ thể bị stress nhu cầu vitamin C rất cao Ngoài ra, vitamin
C còn có tác dụng giảm lượng kích thích tố glucocorticoid trong máu, mà kích thích tố này là tác nhân ức chế chức năng hoạt động của bạch cầu trung tính
● Sodium chloride (NaCl): Sandholm và cs (1995) cho rằng nồng độ
muối trong thức ăn và tỉ lệ bò thủy thũng bầu vú có liên quan với nhau Khi nồng
độ muối (NaCl) tăng trong khẩu phần làm tăng tỉ lệ bò cái tơ bị thủy thũng bầu
vú, nhưng bò cái già thì ảnh hưởng không rõ ràng Tương tự, tăng mức bicarbonat trong khẩu phần cho bò vào thời kỳ cạn sữa cũng làm tăng nguy cơ thủy thũng bầu vú ở lứa đẻ kế tiếp Khi bị thủy thũng, sự lưu thông máu kém, khó khăn khi vắt sữa và thùy vú dễ bị tổn thương do vắt sữa hoặc do bê con bú, cuối cùng dẫn đến viêm vú
Trang 23e Vệ sinh
• Vệ sinh bầu vú
Neave và cs (1966); Galton và cs (1982); Gutebock (1984); Pankey (1989); Schreiner và Ruegg (2003) cho rằng mức độ vệ sinh của bầu vú ảnh hưởng đến số lượng và loại vi sinh vật hiện diện trên bề mặt vú và tỉ lệ bệnh viêm vú
• Vệ sinh dụng cụ
Bệnh viêm vú do mầm bệnh truyền lây thường phát tán trong đàn thông qua những dụng cụ vắt sữa Tay người vắt sữa cũng là một yếu tố mang truyền cơ học những vi khuẩn gây viêm vú
Máy vắt sữa có thể làm lây lan vi khuẩn bằng nhiều đường khác nhau nếu không thực hiện tốt công tác vệ sinh
f Kỹ thuật vắt sữa
Badinand (1999); Menzies và cs (2001) cho biết thời gian vắt sữa và kỹ thuật vắt sữa ảnh hưởng đến tình trạng của bầu vú và bệnh viêm vú Thời gian vắt sữa nhanh buộc người vắt sữa phải tăng tốc độ hoạt động của máy, nghĩa là phải tăng áp lực hút của máy Kết quả lượng sữa thải xuống bể sữa không kịp và
bị tồn đọng sữa trong ống dẫn sữa, hoặc lực hút quá mạnh gây tổn thương mô vú
Trang 24Ngoài ra một số trường hợp khác cũng có liên quan đến bệnh viêm vú Nghiên cứu ở Thụy Điển cho thấy nguy cơ viêm vú gia tăng trên những bò bị sót nhau, bò sinh đôi, bò rối loạn sinh sản, què chân
1.4 Tính chất và giá trị dinh dưỡng của sữa
1.4.1 Tính chất vật lí
Sữalàchấtlỏngmàutrắng đụcánhxanhhoặcvàngnhạt,nhớt gấphai lầnsovớinước,mùithơmđặctrưng,vịhơingọt.Tỷtrọngsữabiếnthiêntừ 1,026 – 1,033,
Ph sữabiếnthiêntừ6,5–6,8.Sữabịđôngvónởkhoảnggiátrị5,0– 5,3dướinhiệtđộphòng,hoặcpH=6,0thìsữabịđôngvónkhiđunsôi,pH sữa = 6,3 sẽ bị đôngvónkhi đunđếnnhiệt độ 120°C Độacidlactic:0,13–0,16%,độchua củasữabiếnthiêntừ16–22°T
1.4.2 Thành phần hoá học của sữa
Sữa bao gồm các thành phần sau: Nước, mỡ sữa, protein, khoáng, vitamin
và đường lactose Mỗi thành phần chiếm một tỷ lệ nhất định trong sữa Tỷ lệ đó phụ thuộc vào giống, thời kỳ tiết sữa, chế độ dinh dưỡng, sức khỏe của bò, mùa
* Nước
Nước chiếm khoảng 88% thành phần của sữa.Thiếu nước uống cho bò sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới sản lượng sữa.Sản lượng sữa có thể giảm ngay trong ngày nếu không cung cấp đủ nước cho bò uống Đây là một trong những lý do tại sao
Trang 25tại khu chăn nuôi luôn phải có đủ nước uống cho bò
* Protein
Trong nhóm thành phần vật chất khô có trong sữa, protein có cấu trúc lớn thứ hai sau mỡ sữa.Nhóm protein cơ bản trong sữa là casein Casein chiếm 80% tổng lượng protein Protein là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng sữa Sữa có càng nhiều protein thì giá trị dinh dưỡng càng cao
* Đường lactose
Đường lactose là loại đường chỉ có trong sữa Đây cũng là một nguồn năng lượng lớn bên cạnh chất béo Đường lactose không ngọt như các loại đường khác (kém ngọt hơn đường mía 30 lần)
* Khoáng
Sữa bò có chứa một số chất khoáng trong đó canxi và phốt pho là hai loại
khoáng chính Cả hai đều cần thiết cho quá trình phát triển xương và mô ở động vật
Ngoài ra, sữa bò còn chứa các khoáng khác Lượng muối trong sữa không cố định Càng về cuối chu kỳ tiết sữa hay trong các trường hợp bò mắc bệnh ở bầu vú, lượng muối trong sữa tăng, làm sữa có vị mặn
* Vitamin
Sữa bò có hầu hết các vitamin quan trọng, trong đó phổ biến nhất là vitamin A, B1, B2, D, E, K
1.4.3.Hệ vi sinh vật trong sữa
Sữa là một sản phẩm chứa nhiều chất dinh dưỡng Sữa mới vắt ra có nhiệt độ khoảng 35 – 360C Trong thực tế, cho dù chúng ta có thực hiện các biện
Trang 26các vi khuẩn này sinh sôi, phát triển Chính vì vậy, trong điều kiện nhiệt đới nóng
ẩm của nước ta phải hết sức chú trọng đến việc bảo quản sữa Nếu không, chỉ sau
5 – 6 giờ là sữa có thể bị chua và không dùng được nữa Tốt nhất sau khi vắt nên đưa đi chế biến hoặc bảo quản ở kho lạnh 3 – 50C càng sớm càng tốt
Các dạng hưhỏngcủasữatươithườnggặp:táchlớp, bịchua, bị nhớt Nguyên nhân chủ yếulàdovisinhvật xâm nhập vào Bởivìsữatươirấtgiàu dinhdưỡng,mặtkháctrongthànhphầnlạichứa đến80– 90%nướcnêntrở thànhmộtmôitrườngthuậnlợichovisinhvậtpháttriển.Vìvậy, sữarấtdễ bịnhiễmkhuẩn.Thậmchísữasaukhixửlýtiệttrùng vẫncóthể bịnhiễm khuẩn nếu bảoquản không tốt
Bình thường, với điều kiện vệ sinh tốt thì trong sữa vẫn chứa một lượng lớn vi khuẩn (khoảng từ 100.000 đến 200.000 VK/ml sữa) và có hệ vi sinh vật rất
đa dạng Hệ vi sinh vật trong sữa bao gồm vi khuẩn, nấm men, nấm mốc Nhóm
vi khuẩn lactic là nhóm quan trọng nhất Chúng bao gồm các liên cầu khuẩn
Streptococcus lactic, S.diaxetylactic, S paracitrovorus; các trực khuẩn
Lactobacillus bulgaricum, L Acidophilum, L Lactic, L Helveticum Các vi khuẩn lactic này có vai trò đặc biệt quan trọng trong sản xuất các sản phẩm lên men, tạo axit lactic và các chất thơm như diaxetyl, các axit bay hơi, este trong
sữa còn có thể gặp một số vi khuẩn như E Coli aerogenes, vi khuẩn butyric Nấm men trong sữa thuộc các giống Saccharomyces, Murcoderma, Torula
Quá trình vắt sữa, thu nhận vận chuyển và bảo quản sữa có thể làm thay đổi hệ vi sinh vật vốn có của sữa tươi Sự thay đổi này phụ thuộc vào thành phần ban đầu, nhiệt độ và thời gian bảo quản (Lâm Xuân Thanh, 2003)
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sữa
Bò sữa là con vật rất nhạy cảm với các yếu tố tác động từ bên ngoài, chăn nuôi bò sữa đòi hỏi kỹ thuật cao và người chăn nuôi phải rất nghiêm túc trong quá trình chọn giống, nuôi dưỡng và chăm sóc bò sữa Năng suất và chất lượng sữa phụ thuộc vào nhiều yếu tố: giống bò sữa, trình độ chăn nuôi, điều kiện thời tiết khí hậu…
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng sữa có ý nghĩa
Trang 27rất lớn nhằm đưa ra các giải pháp phù hợp trong chăn nuôi bò sữa để tăng năng suất, chất lượng sữa, giảm giá thành và tăng hiệu quả trong chăn nuôi bò sữa
Sữa bò là một hỗn hợp phức tạp gồm nước 87,3%; lactose 4,8%; mỡ 3,76%; protein 3,5% và một số thành phần nhỏ khác Khoảng 90% protein sữa được tổng hợp từ tuyến vú, phần còn lại có nguồn gốc từ máu Các giống bò khác nhau thì thành phần protein, mỡ sữa cũng khác nhau và có những đặc thù riêng (Murphy và O’Mara (1993) và Jenness (1979)) Đánh giá chất lượng sữa người ta phân tích các thành phần dinh dưỡng trong sữa như vật chất khô, protein, mỡ… Năng suất, chất lượng sữa phụ thuộc vào các yếu tố được đề cập dưới đây
1.5.1 Ảnh hưởng của giống tới chất lượng sữa
Trong chăn nuôi bò sữa, giống quyết định 60% sự thành bại Trong quá trình phát triển chăn nuôi bò sữa, mỗi một nước đã chọn lọc, nhân thuần, lai tạo
ra những giống bò sữa phù hợp với điều kiện của từng nước đảm bảo tiêu chí năng suất và hiệu quả trong chăn nuôi bò sữa Song giống bò chuyên cho sữa trên thế giới cũng không nhiều và mỗi giống cũng cho năng suất và chất lượng sữa rất khác nhau
Nguyễn Văn Thiện (1995) cho biết hệ số di truyền của tỷ lệ mỡ sữa bò lai hướng sữa Việt Nam là 0,60 – 0,78; của tỷ lệ protein trong sữa là 0,50 – 0,70; tỷ
lệ đường trong sữa là 0,36
Tỷ lệ mỡ sữa phụ thuộc vào giống, các giống bò sản lượng sữa thấp thường có tỷ lệ mỡ sữa cao hơn giống cao sản Nguyễn Kim Ninh (1994) cho biết
tỷ lệ mỡ sữa của bò lai Sind và các bò lai giữa bò lai Sind nuôi ở Ba Vì tương ứng là: 4,85 – 5,89% và 3,89 – 4,68% Theo Trần Quang Hạnh, Đặng Vũ Bình (2007) tỷ lệ mỡ sữa của bò HF nuôi tại Lâm Đồng là 3,47%
Đặng Thị Dung và cs (2002) cho rằng, có sự sai khác đáng kể về chất lượng sữa của bò HF thuần với các giống bò lai 1/2HF, 3/4HF, 7/8HF, tương quan chất lượng sữa giữa bò có máu lai HF hoặc máu lai Sind là tương quan âm (r = -0,338) Các nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Xuân Trạch (2004), Hạ
Trang 28Bảng 1.2 Ảnh hưởng của giống đến thành phần sữa
Thành phần Hà Lan thuần (HF) Jersey Zebu Ayrhire Brown Swiss
mỡ 5,89% và tỷ lệ protein 3,47% Con lai F1 (50% HF) có tỷ lệ mỡ 4,83%, tỷ lệ protein đạt 3,37% (Nguyễn Xuân Trạch, Mai Thị Thơm, 2004)
1.5.2.Chế độ nuôidưỡng và chăm sóc
Thành phần của sữa phụ thuộc chặt chẽ vào mức độ dinh dưỡng của khẩu phần thức ăn Khi khẩu phần ăn không cân đối, đặc biệt là thiếu protein trong khẩu phần thường dẫn tới sự giảm thấp hàm lượng vật chất khô, mỡ, protein và các thành phần khác trong sữa Khi không đủ nhu cầu về mỡ trong khẩu phần, tỷ
lệ mỡ trong sữa giảm đi chút ít Khi giảm thấp lượng cỏ khô cho ăn, tỷ lệ mỡ trong sữa cũng giảm thấp Khẩu phần cân bằng về dinh dưỡng trong giai đoạn cạn sữa sẽ kích thích nâng cao tỷ lệ mỡ trong sữa ở kỳ tiết sữa sau Đối với bò trưởng thành, trong thời gian tiết sữa các chất dinh dưỡng trong thức ăn đảm bảo hai yêu cầu sinh lý của cơ thể là: thức ăn cho duy trì cơ thể và thức ăn cho sản suất sữa và nuôi thai Căn cứ vào lượng sữa thu được hàng ngày, từng giai đoạn và thành phần dinh dưỡng của nó mà ta điều chỉnh khối lượng và chất lượng thức ăn cho phù hợp với sức sản xuất, khai thác được tiềm năng sinh học, khả năng cho sữa cao nhất của chúng Nếu không đảm bảo số lượng và chất lượng thức ăn theo giai đoạn, không cung cấp đủ nước uống, không những làm giảm nghiêm trọng năng suất và chất lượng sữa, mà còn dẫn
Trang 29đến kéo dài khả năng phục hồi sau khi đẻ, làm bò gầy yếu dễ mắc bệnh, làm giảm khả năng sinh sản và thậm chí dẫn đến chết Khi sữa giảm, việc khôi phục lại rất khó, nếu được cũng mất thời gian dài
Các loại khoáng trong khẩu phần thức ăn rất quan trọng Thiếu phốt pho làm cho buồng trứng nhỏ lại và noãn bào ít đi, ảnh hưởng đến khả năng sinh sản; thiếu canxi và phốt pho có ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sữa vì đây là các yếu tố có thành phần ổn định trong sữa và trong xương của bò
Muối và nước uống là điều kiện cần và đủ cho khẩu phần ăn của bò sữa Thông thường người ta đưa vào thức ăn hỗn hợp cho bò sữa với tỷ lệ 1-2% muối Nước uống cung cấp đầy đủ và thường xuyên là nhu cầu bắt buộc trong nuôi dưỡng bò sữa Bò cần tối thiểu 3 lít nước để tạo ra 1 lít sữa và cần 5 lít nước để tiêu hoá, hấp thu 1kg trong thức ăn Như vậy mỗi con bò cao sản cần 150 lít nước một ngày Vùng khí hậu nóng và khô lượng nước này cần cao hơn Nếu không đạt được mức đó sản lượng sữa sẽ giảm ngay Ví dụ, khi lượng nước bò uống giảm 40% sản lượng sữa giảm 25%
Nếu bò được cung cấp khẩu phần thức ăn không cân đối, khi thiếu protein thường làm giảm hàm lượng VCK, mỡ, protein trong sữa
Khẩu phầnnhiềuthứcănthô, sữacótỉlệ chấtbéocao.Khẩu phần nhiềuthứcăntinh,sữacótỉlệchấtbéothấp.Hàmlượngđạmtrongkhẩu
phầncaosẽnângcaotỉlệ đạmtrongsữa.Khitrời nắng nóng, cungcấpthiếunướcchobòsữathìsảnlượngsữasẽgiảm.Nếu sảnlượngsữa cao thì tỉ lệ chất béo thấp (Nguyễn Xuân Trạch, Mai Thị Thơm, 2004)
1.5.3.Tuổi của gia súc
Sản lượng sữa đạt cao nhất của bò ở lứa thứ 4 và lứa thứ 5, ổn định trong vòng 2 – 3 năm Khi già sản lượng sữa giảm xuống Bò có cơ thể tốt và được chăm sóc hợp lý có thể sản lượng sữa cao tới lứa đẻ thứ 12, thậm chí đến lứa đẻ thứ 17 (Nguyễn Xuân Trạch, 2002)
Bò cái có thể sinh đẻ 8 – 10 lứa/đời, nhưng sản lượng sữa/ chu kỳ bắt đầu
Trang 30Hàm lượng mỡ sữa giảm dần mỗi chu kỳ từ 0,025 – 0,029% Người ta nghiên cứu thấy rằng sữa bò ở chu kỳ thứ 5 và thứ 6 là tốt nhất về hàm lượng các chất dinh dưỡng và giá trị sinh học so với sữa bò ở chu kỳ đầu và bò già (sau chu
kỳ thứ 8) (Lê Văn Liễn, 2003)
1.5.4 Trạng thái sức khoẻ và đặc điểm cá thể vật nuôi
Trạng thái sức khoẻ có ảnh hưởng lớn đến số lượng và chất lượng sữa Bò đang tiết sữa nếu nuôi dưỡng không tốt để bò gầy yếu, động dục sau đẻ chậm, chu kỳ sinh sản chậm ảnh hưởng tới khả năng cho sữa của bò Bò có tầmvóc lớn sản xuất sữa cao hơn bò có tầmvóc nhỏ.Tìnhtrạng sức khoẻ tốt sau khi sinh thì sự sản xuất sữa sẽ cao và kéo dài hơn
Khi bò mắc bệnh thường kém ăn, gầy sản lượng sữa thấp Đặc biệt nếu bò mắc bệnh sản khoa sẽ giảm khả năng sinh sản và sức sản xuất sữa Nếu bị bệnh viêm vú thì khả năng cho sữa và chất lượng sữa cũng giảm rõ rệt, nếu trường hợp
bị bệnh nặng không điều trị kịp thời có thể gây hỏngbầu vú
Bò có thể mắc phải các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đến sức khoẻ người tiêu dùng sữa như: bệnh lao hoặc vật mang vi trùng sẽ truyền mầm bệnh cho sữa và người vắt sữa hoặc ảnh hưởng đến chất lượng và sản lượng sữa
Vệsinhthânthể kém lúc vắtsữa, môi trường vắtsữa và dụngcụ vắt sữakémvệsinh,khôngvệsinhbầuvútrướckhivắtlànhữngđiềukiện thuận lợichovikhuẩntừ môi trường xâm nhập vào sữa
1.5.5.Giai đoạn trong chu kỳ tiết sữa
Bò có chu kỳ tiết sữa dài 300 ngày Lượng sữa tăng dần lên tuần thứ 6 – 7 của chu kỳ sau đó giảm dần đến khi cạn sữa
Hàm lượng mỡ sữa thường thay đổi trong chu kỳ vắt sữa Sữa đầuchukìthìtỉlệbéocao,sau đó giảmdầnvàcuốichukìtăng dầnlên.Thôngthườngtỉlệchấtbéocaovàothángthứnhất,nhìvàthángthứ 9, 10 của chu
kì tiết sữa (Kỹ thuật nuôi dưỡng bò sữa, 1998)
Mỡ sữa và protein đều có xu hướng tăng lên kể từ ngày thứ 70 sau khi sinh, nhưng protein chỉ tăng đáng kể nếu bò mẹ có chửa trở lại Trong giai đoạn tiếp theo của chu kỳ tiết sữa sau khi bò mẹ đã mang thai trở lại, lượng mỡ sữa và
Trang 31protein đều tăng nhanh hơn so với các thành phần khác
Lượng đường có trong sữa đầu thấp nhưng sẽ tăng nhanh sau đó và đạt mức cao nhất vào khoảng 2 tuần đầu tiên của chu kỳ tiết sữa, và tiếp tục duy trì trong khoảng 4 tuần tiếp theo rồi giảm dần cho tới cuối chu kỳ tiết sữa (Quản lý chất lượng sữa, Dự án bò sữa Việt - Bỉ)
Cả 3 phẩm giống bò 1/2HF, 3/4HF, 7/8HF đều có năng suất sữa tăng dần
từ khi đẻ đến tháng thứ 2, sau đó giảm dần đến hết chu kỳ vắt sữa, trong quá trình tiết sữa thành phần và tính chất của sữa thay đổi nhiều, mỡ sữa và protein sữa giảm dần ở giai đoạn từ tháng thứ 2 đến tháng thứ 5 hoặc 6 của chu kỳ tiết sữa, sau đó cao hơn chút ít Hàm lượng đường không thay đổi nhiều, hàm lượng canxi và phốt pho tăng lên vào giai đoạn cuối chu kỳ.Vào những ngày cuối của chu kỳ trước khi cạn sữa trong sữa có các chất protein, mỡ sữa tăng lên, giảm hàm lượng đường, các chất khoáng dẫn đến bất lợi trong công nghệ sản xuất sữa Vì vậy người ta chỉ dùng sữa ở giai đoạn sau 7-20 ngày sau khi sinh đến trước cạn sữa 10 – 15 ngày để chế biến các sản phẩm từ sữa (Triệu Quốc Đạt, 1999)
1.5.6 Kỹ thuật vắt sữa
Do quá trình vắt sữa dựa trên cung phản xạ thần kinh thể dịch nên khi vắt sữa không đúng kỹ thuật sẽ làm ức chế quá trình thải sữa Nếu thời gian vắt sữa kéo dài làm cho lượng oxytocin hết hiệu lực trước khi vắt hết sữa trong bầu vú tăng tỷ lệ sót sữa gây viêm vú Ngoài ra thời gian vắt sữa, cách vắt sữa, người vắt sữa, địa điểm vắt sữa cũng nên cố định để không làm thay đổi phản xạ tiết sữa
Vì đây là phản xạ có điều kiện Nếu khôngloại bỏnhữngtiasữa đầu, vắtkhông kiệtsữasẽlàmảnh hưởng chấtlượng Nhữngtia sữa đầu vắt ra từbầuvúcótỉlệchấtbéorất thấp,tráilạinhữngtiasữa cuối chất béo rất cao (6 - 7%)
Thành phần sữa trong thời gian vắt sữa khác nhau cũng khác nhau Sữa của lần vắt trước có mỡ sữa kém hơn những lần vắt sau, nên cần chú ý vắt thật hết sữa mỗi lần để có kết quả tổng thể tốt hơn về chất lượng sữa
Trang 32quyển, lượng mưa đều có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sức sản xuất sữa, sinh sản của bò Các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp qua kích thích thần kinh hormon điều chỉnh duy trì thân nhiệt, hệ thống enzym và các hormon khác gây ảnh hưởng gián tiếp thông qua năng suất và phẩm chất của thức ăn Do đó ở nước
ta năng suất và chất lượng sữa thường giảm trong vụ Đông xuân do thiếu cỏ, khả năng sinh sản lại giảm vào mùa hè do ảnh hưởng của nhiệt độ cao
Sức sản xuất sữa chịu ảnh hưởng rõ rệt của nhiệt độ và độ ẩm môi trường,
ở bò sản lượng sữa không ảnh hưởng trong phạm vi nhiệt độ 0 – 210C, nhiệt độ thấp hơn -50C và từ 26 – 270C sản lượng sữa giảm từ từ, khi nhiệt độ lên trên
270C sản lượng sữa giảm rõ rệt Tỷ lệ mỡ sữa giảm trong nhiệt độ môi trường từ
21 – 270C, nhiệt độ > 270C tỷ lệ mỡ sữa có xu hướng tăng trong khi đó vật chất khô không mỡ luôn giảm thấp Nhiệt độ cao cũng làm giảm axit xitric và canxi trong giai đoạn đầu của kỳ cho sữa Điều kiện khí hậu khác nhau cũng có ảnh hưởng đến tỷ lệ mỡ trong sữa (Hội Chăn nuôi Việt Nam, 2000)
Một vài thành phần của sữa có xu hướng tăng khi nhiệt độ và độ ẩm môi trường tăng, ví dụ: nitơ phi protein, palmetic, axit stearic Còn các thành phần khác có xu hướng giảm thấp chẳng hạn như: mỡ sữa, vật chất khô không mỡ, nitơ tổng số, lactose, axít béo mạch ngắn và axít olêic (Nguyễn Xuân Trạch và Mai Thị Thơm, 2004)
1.5.8 Điều kiện bảo quản
Thờigiankhaithácvàthusữakéodàitrongđiềukiệnnhiệtđộthời tiết nắng nóng
sẽ tạo điều kiện tốt cho vi khuẩn trong sữa phát triển Bảo quảnlạnh ứcchế sựpháttriểncủavikhuẩntrongsữa,nên đảm bảo chất lượng sữa trước khiđến nhà máy Bằng cách hạ nhiệt độ của sữa xuống 3 – 5ºC có thể giữ sữa tươi được 1 – 2 ngày
1.6 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.6.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Theo F.Harding (1999) có nhiều loại vi khuẩn có thể xâm nhập vào sữa tươi và gây ô nhiễm sữa, bao gồm:
+ Vi khuẩn ưa lạnh: Là những vi khuẩn phát triển tốt nhất ở nhiệt độ thấp(0 – 150C) Chúng có thể phát triển ở sữa tươi trong quá trình bảo quản lạnh
Trang 33với số lượng >3triệu vi khuẩn/ml chúng có thể sản sinh enzym làm hỏng mùi sữa
Áp dụng phương pháp tiệt trùng có thể làm vô hoạt những vi khuẩn này
+ Vi khuẩn phát triển ở nhiệt độ trung bình: Là những vi khuẩn phát triển tốt nhất ở nhiệt độ 20 – 400C Sự phát triển của chúng làm sữa bị chua và đông vón khi bảo quản ở nhiệt độ thông thường Vi khuẩn này sản sinh lactolacilli phân huỷ đường lactose trong sữa thành acid lactic
+ Vi khuẩn chịu nhiệt: Là những vi khuẩn sống được ở nhiệt độ 45 –
550C,vi khuẩn này có thể sống sót sau khi tiệt trùng
Nhiều công trình nghiên cứu bổ sung các chất dinh dưỡng khác nhau đã làm tăng thành phần các chất trong sữa: Murphy (1999), Contarini (1996), Sawal
và Kurar (1998), Schwab (1996)…
1.6.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Giống bò Vàng nước ta có đặc tính quý như: Khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, thích nghi lâu đời với điều kiện khí hậu nhiệt đới, chịu đựng được các điều kiện kham khổ về thiếu thốn thức ăn, sức chống chịu bệnh tật tốt Nhược điểm là tầm vóc nhỏ bé, khối lượng thấp, chậm thành thục tính dục, năng suất sữa và thịt đều thấp… Chu kỳ cho sữa khoảng 6 – 7 tháng, sản lượng sữa từ 300 – 400kg/ chu
kỳ Vì vậy để tạo ra con lai có tầm vóc lớn hơn và sức sản xuất tốt hơn, từ lâu đã
có nhiều công trình lai tạo giữa bò địa phương và bò nhập ngoại
Để giải quyết vấn đề sữa, nước ta đã nhập bò hoặc tinh bò sữa ôn đới như: Lang trắng đen Bắc Kinh, HF, Brown Swiss, Jersey và phát triển bằng cách nhân thuần tại hai vùng Mộc Châu – Sơn La, Đức Trọng – Lâm Đồng Đến nay đã có nhiều thế hệ bò HF được sinh ra, tuy nhiên bò sữa ôn đới chỉ thích hợp với những vùng khí hậu mát mẻ, nhiệt độ bình quân dưới 210C như các vùng nói trên Nếu chỉ dựa vào việc nhập bò sữa ôn đới thì chỉ nuôi được ở một số vùng nhất định và ngành chăn nuôi bò sữa sẽ không đáp ứng được nhu cầu về sữa Vì thế phải có những nghiên cứu tạo ra giống bò sữa Việt Nam bằng con đường lai tạo giữa bò sữa ôn đới với bò Vàng Việt Nam đã có máu bò Zebu (Nguyễn Văn Thưởng, 1987)
Trang 34Hà Nội, Mộc Châu – Sơn La…ở phía bắc, Lâm Đồng, Đắk Lăk ở Tây Nguyên, TP
Hồ Chí Minh…
Lê Đăng Đảnh và Đặng Quan Điện (1985), nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và sản xuất sữa của các nhóm bò lai vùng Đông Nam bộ Nguyễn Kim Ninh (1997) nghiên cứu trên đàn bò vắt sữa hạt nhân nuôi trong nông hộ tại Ba Vì cho biết nếu được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, chế độ dinh dưỡng đầy đủ bò lai F1, F2
có tỷ lệ mỡ sữa là: 4,3% và 3,98%; protein sữa là 3,54% và 3,46%
Đỗ Kim Tuyên và Bùi Duy Minh (2004), Nguyễn Quốc Đạt (1999) nghiên cứu một số đặc điểm về giống của đàn bò cái lai (Holstein Friesian x lai Sind) hướng sữa nuôi tại TP Hồ Chí Minh Nguyễn Quốc Đạt và Nguyễn Thanh Bình (2002) nghiên cứu khả năng sinh sản và sức sản xuất của bò Holstein Friesian thuần nhập nội nuôi tại khu vực TP Hồ Chí Minh Các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về ảnh hưởng của các yếu tố dinh dưỡng đối với năng suất và chất lượng sữa như: Lê Trọng Lạp (1996, 1999) Nguyễn Văn Hải và cs (2006) Trần Quang Hạnh và Đặng Vũ Bình (2007) nghiên cứu một số chỉ tiêu tăng năng suất và chất lượng sữa của bò Holstein Friensian nuôi tại tỉnh Lâm Đồng
Phạm Bảo Ngọc và cs (2009) nghiên cứu về chất lượng sữa trên địa bàn
Hà Nội cho thấy 41% mẫu sữa lấy ở các hộ nông dân và 54% mẫu sữa lấy tại các
cơ sở thu gom không đạt tiêu chuẩn vệ sinh Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Hạnh và Lưu Quỳnh Hương (2003) sữa lấy trực tiếp từ bò nuôi tại các nông
hộ có tỷ lệ đạt tiêu chuẩn vệ sinh là 83,3%, và 100% mẫu sữa thu gom chưa qua
xử lý đều không đạt tiêu chuẩn, có số vi khuẩn hiếu khí cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn cho phép (5,16x105 – 3,75x107)
Trang 35Chương 2 ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG – NGUYÊN LIỆU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Đánh giá một số chỉ tiêu vệ sinh sữa trên đàn bò sữa đang nuôi tại xã
Phù Đổng: Tổng số vi khuẩn hiếu khí, vi khuẩn Salmonella, vi khuẩn Staphylococcus , vi khuẩn E.coli
2.3 Địa điểm nghiên cứu
- Xã Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội
- Trung tâm Vệ sinh thú y Trung ương
2.4 Nguyên liệu
2.4.1 Mẫu sữa
Mẫu sữa được lấy từ xô chứa của từng con bò sữa và tại các điểm thu gom
2.4.2 Các loại môi trường sử dụng
Các môi trường nuôi cấy, sinh hoá, hoá chất thuốc thử do hãng Merck cung cấp
2.4.3 Thiết bị, dụng cụ thí nghiệm
-Nồi hấp tiệt trùng
- Máy làm nhuyễn mẫu (Stomacher), cùng phụ kiện
Trang 36với sự phát triển của từng loại vi khuẩn
- Các loại dụng cụ thuỷ tinh cần thiết: Bình tam giác có dung tích 500ml, 250ml; hộp lồng (d = 9cm); pipet (dung tích 10ml, 5ml, 2ml, 1ml); ống nghiệm, đĩa lồng, cốc đong…
- Các loại que cấy vòng, que cấy láng…
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu
Thu thập số liệu bằng các phương pháp điều tra thường quy
2.5.2 Phương pháp chẩn đoán bò viêm vú
Khảo sát tỉ lệ bò bị viêm vú lâm sàng, viêm vú cận lâm sàng và phân tích một số yếu tố có liên quan đến viêm vú cận lâm sàng
Chúng tôi áp dụng các phương pháp thường quy đang được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn sản xuất và trong phòng thí nghiệm Tiến hành kiểm tra tỷ lệ
bò sữa bị viêm vú lâm sàng và cận lâm sàng tại xã Phù Đổng thuộc huyện Gia Lâm Các thôn nghiên cứu thí điểm mỗi thôn 100 con và ghi số liệu trên bò được nuôi tại các xã được nghiên cứu
a Xác định bò bị viêm vú lâm sàng
Để xác định bò bị viêm vú lâm sàng, chúng tôi theo dõi đàn bò cho sữa hàng ngày và dựa vào những biểu hiện trên lâm sàng khi bò bị viêm vú như vú viêm sưng nóng, đỏ, đau, xơ cứng, sữa ít hoặc mất sữa; có khi kèm theo triệu chứng toàn thân như sốt, kém ăn, kém vận động và dựa vào sự thay đổi tính chất của sữa như lợn cợn, loãng, màu sắc khác thường, mùi hôi bằng cách kiểm tra những tia sữa đầu khi vắt sữa
b Xác định viêm vú thể cận lâm sàng
Để biết được tỉ lệ và mức độ viêm vú cận lâm sàng, hàng tháng đến các cơ
sở chăn nuôi bò sữa lấy mẫu sữa trên mỗi thùy vú bò của tất cả bò đang cho sữa (trừ những bò mới sinh trong 2 tuần lễ đầu và những bò sắp cạn sữa) để thử CMT tại chỗ với thuốc thử Leucocytest
Cách thực hiện: Vắt bỏ vài tia sữa đầu, lấy 2ml sữa của từng thùy vú cho vào khay thử theo ô quy định (thùy vú trái trước, thùy vú phải trước, thùy vú trái
Trang 37sau, thùy vú phải sau), sau đó cho thêm vào mỗi ô 2 ml thuốc thử Leucocytest, xong đảo nhẹ cho sữa và thuốc thử trộn lẫn rồi dựa vào độ quánh và màu sắc của hỗn hợp để đánh giá phản ứng (theo bảng 2.1)
- Trạng thái sữa không đổi
- Giữ nguyên màu thuốc thử < 200.000
- Sữa đóng quánh lại, không bị trôi
khi nghiêng đĩa >5.000.000
(Nguồn: Sandholm và cs.)
Kết quả kiểm tra ở mỗi bò phải được ghi lại để tham khảo sau này Khi ghi lại như vậy và cùng với các lần khác, ta có thể tìm ra các trường hợp nhiễm bệnh cận lâm sàng, các trường hợp nhiễm bệnh cận lâm sàng này ta sẽ không biết trước cho tới khi bệnh nặng hơn Tuy nhiên, phương pháp CMT sẽ không xác định được một cách chính xác là bò nào cần được điều trị bởi vì chỉ có 60% bò với lượng tế bào thân lớn hơn 500.000/1ml sữa là thực sự nhiễm bệnh viêm vú
Do đó, để có kết quả chính xác bò cần điều trị, người ta cần phải áp dụng nhiều phương pháp chẩn đoán khác và tiếp tục theo dõi mới có thể khẳng định được
2.5.3 Các phương pháp đánh giá chất lượng sữa tại các trung tâm thu gom
Trang 382.5.2.1 Phương pháp cảm quan
Xác định trạng thái: Rót 200 – 250ml sữa tươi vào nồi đun sữa, đun tới khi bắt đầu sôi thì quan sát trạng thái của dịch sữa: Trạng thái sữa phải đồng nhất, không phân lớp, không tủa là đạt
Xác định mùi vị: Rót sữa vào cốc, làm nguội dịch sữa xuống 30 -400C, ngửi, nếm xác định mùi vị đặc trưng của sữa, không có mùi vị lạ
Xác định màu sắc: Để cốc sữa dưới ánh sáng đèn, quan sát màu sắc của dịch sữa có màu trắng hoặc vàng kem là đạt
Kết quả: Quan sát dòng chảy trên thành ống nghiệm/ cốc thuỷ tinh của súng cồn:
Dòng chảy trong, đồng nhất là sữa không bị tủa cồn
Dòng chảy tạo thành các chấm nhỏ trắng như bông tuyết, sữa bị tủa cồn Sữa bị tủa cồn chia làm 3 mức như sau:
+ : Sữa có gạn nhỏ bám vào thành ống nghiệm ++ : Sữa tủa nặng hơn, các gợn bám nhiều vào thành ống nghiệm +++: Sữa đông vón thành cục
Trường hợp có nghi ngờ thì lặp lại các bước trên bằng cách cho 2ml sữa vào ống nghiệm đựng 4ml cồn và quan sát
2.5.3.3 Phương pháp thử xanhmethylen
Chuẩn bị: Dung dịch xanhmethylen 0,0044%, mẫu sữa
Trang 39Lấy vào ống nghiệm 1ml xanhmethylen Cho 10ml sữa vào ống nghiệm
đó, đậy nắp ống nghiệm và lắc 2 – 3 lần, dịch trong ống nghiệm có màu xanh Đặt giá để ống nghiệm vào bồn cách thuỷ/ thùng giữ nhiệt chứa nước ở nhiệt độ 370C, nước trong bồn cách thuỷ/ thùng giữ nhiệt phải cao hơn mức sữa trong ống nghiệm
Sau 30 phút lắc ống nghiệm 1 lần, ghi lại giờ dịch sữa chuyển hoàn toàn sang màu trắng Thời gian mất màu xanhmethylen được tính từ lúc bắt đầu ủ dịch mẫu đến khi dịch mẫu mất màu hoàn toàn
2.5.4 Phương pháp đánh giá chất lượng sữa dựa vào thành phần các chất trong sữa
* Phương pháp lấy mẫu
Mẫu sữa được lấy ở từng lần vắt trong ngày và phân tích riêng từng con trong từng lần vắt Sữa được khuấy đều từ dưới lên trên khoảng 20 lần, sau đó dùng ống thuỷ tinh nhúng đến đáy và hút sữa cho vào cốc đong dung tích tối thiểu 50ml, tối đa 300ml
* Phương pháp phân tích các chỉ tiêu
Để sữa ổn định và phân tích các chỉ tiêu chất lượng sữa gồm: hàm lượng protein, mỡ, vật chất khô không mỡ, tỷ trọng bằng máy EKOMILK của Mỹ
* Chúng tôi nghiên cứu chỉ tiêu này tại 60 hộ chăn nuôi bò sữa thuộc xã Phù Đổng, tổng cộng là 158 con cho 3 nhóm: F1, F2, F3 (29 hộ nuôi 2con/hộ, 24
hộ nuôi 3con/hộ, 7 hộ nuôi 4con/hộ)
2.5.5 Phương pháp xác định tổng số vi khuẩn hiếu khí trong 1ml sữa (FAO,1992)
* Chuẩn bị môi trường:
Thạch đếm (Plate Count Agar) được pha theo hướng dẫn của nhà sản xuất, hấp 121o/15phút
Buffer Pepton Water pha theo hướng dẫn của nhà sản xuất, hấp
121o/15phút
Trang 40nhất mẫu với môi trường bằng máy dập mẫu (Stomacher) trong 1 phút với tốc độ
230 vòng/ phút được dung dịch có độ pha loãng là 10-1 Tiếp tục pha loãng mẫu với các nồng độ 10-2, 10-3, 10-4…
Mỗi nồng độ pha loãng được cấy vào 2 đĩa petri, mỗi đĩa petri 1 ml (đĩa petri đã được sấy tiệt trùng có đường kính 9 cm)
Thạch đếm được làm tan chảy để nguội khoảng 50-550C Rót 15 - 20 ml thạch vào các đĩa petri đã được cấy mẫu Lắc đĩa petri để trộn đều hỗn dịch pha loãng mẫu và thạch Đặt đĩa petri trên mặt phẳng ngang cho thạch đông lại Các đĩa petri mẫu được lật sấp, ủ ở nhiệt độ 30 ± 10C
Sau 48 – 72 giờ nuôi cấy mang ra đọc kết quả Chọn tất cả các đĩa từ 15 đến 300 khuẩn lạc để tính kết quả Sự phân bố khuẩn lạc trên đĩa phải hợp lý
Số khuẩn lạc trong 1 ml sữa được tính theo công thức sau:
N =
∑ C (n1 + 0,1n2) x d
Ghi chú:
N: là số khuẩn lạc vi khuẩn hiếu khí trong 1 ml sữa
C: là số khuẩn lạc trên các đĩa được cấy mẫu ở 2 đậm độ pha loãng liên tiếp đã chọn để đếm số
n1 và n2: là số đĩa chọn để đếm số
d: hệ số pha loãng của đậm độ ban đầu
2.5.6 Phương pháp xác định tổng số E.coli (FAO, 1992)
* Chuẩn bị môi trường
Buffer Pepton Water pha theo hướng dẫn của nhà sản xuất, hấp