Kết quả xác định thành phần, tính mẫn cảm với một số thuốc kháng sinh thông dụng của các vi khuẩn phân lập được từ dịch viêm tử cung bò.. Nguyên nhân ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của
Trang 1MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt và ký hiệu vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Danh mục biểu đồ ix
MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu khả năng sinh sản 3
1.2 Một số đặc điểm sinh lý sinh sản của bò cái 3
1.2.1 Đặc điểm cấu tạo và chức năng của cơ quan sinh dục 3
1.2.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục của bò cái 5
1.3 Một số chỉ tiêu sinh lý lâm sàng 9
1.3.1 Thân nhiệt 9
1.3.2 Hiện tượng sốt 10
1.3.3 Tần số mạch đập 10
1.3.4 Tần số hô hấp 10
1.4 Một số hiểu biết về quá trình viêm 11
1.4.1 Khái niệm viêm 11
1.4.2 Hậu quả của phản ứng tuần hoàn và tế bào trong viêm 11
1.5 Bệnh viêm tử cung ở trâu bò cái 12
1.5.1 Viêm tử cung 12
1.5.2 Viêm cổ tử cung (Cervitis) 19
1.6 Một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm tử cung ở bò sữa 19
1.6.1 Mùa vụ 19
Trang 21.6.2 Vệ sinh thú y 20
1.6.3 Phương pháp phối giống 20
1.6.4 Quá trình đẻ 20
1.6.5 Lứa đẻ 20
1.7 Tình hình nghiên cứu bệnh viêm tử cung trên thế giới và Việt Nam 21
1.7.1 Trên thế giới 21
1.7.2 Tại Việt Nam 22
1.8 Tác dụng và ứng dụng Prostaglandin F2α (PGF2α) trong lĩnh vực sinh sản gia súc 23
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu 25
2.2 Nội dung nghiên cứu 25
2.2.1 Khảo sát thực trạng bệnh viêm tử cung 25
2.2.2 Xác định một số biến đổi của một số chỉ tiêu lâm sàng khi bò bị viêm tử cung 25
2.2.3 Xác định sự biến đổi của một số vi khuẩn hiếu khí thường gặp trong dịch viêm tử cung 25
2.2.4 Thử nghiệm biện pháp phòng trị 26
2.3 Phương pháp nghiên cứu 26
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 26
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 Kết quả khảo sát thực trạng bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa tại địa phương nghiên cứu 27
3.1.1 Kết quả khảo sát tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên bò sữa 27
3.1.2 Kết quả khảo sát ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ đến tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm tử cung 28
3.1.3 Kết quả khảo sát tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm tử cung theo các lứa đẻ 30
3.1.4 Kết quả khảo sát tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung bò sữa ở các giai đoạn khác nhau 31
Trang 33.1.5 Kết quả khảo sát tỷ lệ mắc các thể viêm tử cung ở bò sữa 33
3.2 Kết quả khảo sát sự thay đổi một số chỉ tiêu lâm sàng của bò mắc viêm tử cung 35
3.3 Kết quả xác định thành phần, tính mẫn cảm với một số thuốc kháng sinh thông dụng của các vi khuẩn phân lập được từ dịch viêm tử cung bò 37
3.3.1 Kết quả phân lập và giám định thành phần vi khuẩn trong dịch đường sinh dục bò bình thường và bệnh lý 37
3.3.2 Kết quả xác định tính mẫn cảm của các vi khuẩn phân lập được từ dịch viêm đường sinh dục bò với một số thuốc kháng sinh thông dụng 39
3.4 Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung 42
3.5 Kết quả thử nghiệm các bước phòng bệnh viêm tử cung ở bò sữa 45
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
Kết luận 49
Kiến nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
E coli Escherichia coli
PGF2α Prostaglandin F2 alpha
Trang 5DANH MỤC BẢNG STT Tên bảng Trang
1.1 Các chỉ tiêu chẩn đoán phân biệt các thể viêm tử cung 18
3.1 Tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm tử cung ở một số địa phương thuộc khu vực Ba Vì – Hà Nội 27
3.2 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung bò sữa theo các mùa trong năm 29
3.3 Kết quả khảo sát tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm tử cung qua các lứa đẻ 30
3.4 Tỷ lệ viêm tử cung ở 2 giai đoạn chờ phối và sau đẻ 32
3.5 Tỷ lệ mắc các thể viêm tử cung bò sữa (n=96) 34
3.6 Kết quả theo dõi sự thay đổi một số chỉ tiêu lâm sàng của bò mắc bệnh viêm nội mạc tử cung 35
3.7 Thành phần vi khuẩn có trong dịch âm đạo, tử cung bò bình thường và bệnh lý 37
3.8 Kết quả xác định tính mẫn cảm của các vi khuẩn phân lập được từ dịch viêm đường sinh dục bò với một số thuốc kháng sinh thông dụng 41
3.9 Kết quả thử nghiệm điều trị viêm nội mạc tử cung và khả năng sinh sản của bò cái sau khi lành bệnh 43
3.10 Các bước phòng bệnh viêm tử cung ở bò sữa 46
3.11 Kết quả thử nghiệm các bước phòng bệnh viêm tử cung cho bò sữa 47
Trang 6DANH MỤC HÌNH STT Tên hình Trang
1.1 Viêm nội mạc tử cung (Ba Vì, 24/10/2014) 13
1.2 Viêm cơ tử cung ( Ba Vì, 24/10/2014) 15
1.3 Viêm tương mạc tử cung (Ba Vì, 24/10/2014) 17
3.1 Bò bị viêm tử cung 36
3.2 Ảnh kháng sinh đồ của Streptococcus 42
3.3 Ảnh kháng sinh đồ của Escherichia coli và Staphylococcus 42
3.4 Ảnh kháng sinh đồ của Salmonella 42
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ STT Tên biểu đồ Trang
3.1 Tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm tử cung ở một số địa phương thuộc
khu vực Ba Vì – Hà Nội 28
3.2 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung bò sữa theo các mùa trong năm 29
3.3 Tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm tử cung qua các lứa đẻ 31
3.4 Tỷ lệ bò sữa mắc bệnh viêm tử cung theo giai đoạn 32
3.5 Tỷ lệ mắc các thể viêm tử cung ở bò sữa 34
3.6 Tỷ lệ thành phần vi khuẩn có trong dịch âm đạo, tử cung bò bình thường và bệnh lý 38
3.7 Kết quả thử nghiệm điều trị bệnh viêm nội mạc tử cung và khả năng sinh sản của bò cái sau khi lành bệnh 44
3.8 Kết quả thử nghiệm các bước phòng bệnh viêm tử cung cho bò sữa 47
Trang 8MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong khi chăn nuôi lợn, gà gặp rất nhiều khó khăn do giá thức ăn tăng cao, dịch bệnh cùng với giá bán xuống thấp thì chăn nuôi bò sữa vẫn mang lại thu nhập khá ổn định cho người nông dân
Chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam có lịch sử phát triển trên 50 năm, nhưng bò sữa thực sự phát triển nhanh từ năm 2001 sau khi có quyết định số 167/2001/QĐ-TTg, ngày 26/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ, về một số biện pháp và chính sách phát triển đàn bò sữa Việt Nam thời kì 2001 – 2015 Tổng đàn bò sữa nước
ta đã tăng từ 41 ngàn con năm 2001 lên trên 275 ngàn con năm 2015 (Tổng cục thống kê 2015) Số lượng bò sữa tăng nhanh tập trung chủ yếu ở 7 tỉnh; Sơn La, Tuyên Quang, Nghệ An trong đó có Hà Nội
Nhu cầu về sữa tươi sản xuất trong nước tăng cao, là cơ hội tốt để phát triển nhanh hơn đàn bò sữa để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Giá thu mua sữa bò tươi tăng đã kích thích người chăn nuôi đầu tư phát triển đàn bò sữa Theo Trung tâm Phát triển chăn nuôi Hà Nội, toàn thành phố hiện có hơn 3.300 hộ chăn nuôi bò sữa, tổng đàn hơn 15.000 con Trong đó, thành phố đã hình thành
12 vùng chăn nuôi bò sữa trọng điểm tại các huyện Ba Vì, Quốc Oai, Đan Phượng, Gia Lâm, Đông Anh, Phúc Thọ với 2.517 hộ, số lượng nuôi 12.325 con, chiếm 81,5% tổng đàn bò sữa toàn thành phố (Theo Công ty cổ phần sữa quốc tế IDP 2015)
Tuy nhiên, thực trạng chăn nuôi bò sữa còn phân tán ở các nông hộ, trang trại nhỏ với điều kiện nuôi dưỡng khác nhau dẫn đến các chỉ tiêu sản xuất khác nhau, đặc biệt chỉ tiêu về sinh sản thường không ổn định Nguyên nhân ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của bò sữa có rất nhiều như: Con giống, thức ăn, nuôi dưỡng, kỹ thuật nuôi và phải nói đến các bệnh ở cơ quan sinh dục, trong đó phải kể đến bệnh viêm tử cung
Viêm tử cung là bệnh thường xuyên xảy ra ở đàn bò sữa và hậu quả của
nó thường dẫn tới hiện tượng rối loạn sinh sản, chậm sinh, vô sinh, mất sữa…gây tổn thất về kinh tế cho người chăn nuôi và đây cũng là một trong những nguyên
Trang 9nhân gây cản trở sự phát triển đàn bò sữa cả về số lượng và chất lượng Vì vậy việc nghiên cứu tìm ra nguyên nhân và đề ra các biện pháp phòng trị hữu hiệu góp phần làm giảm thiệt hại do bệnh viêm tử cung bò sữa là việc làm cần thiết; đồng thời bổ sung vào các tài liệu nghiên cứu về bệnh sinh sản nói chung và bệnh viêm tử cung của bò sữa nói riêng
Để góp phần bảo vệ, phát triển đàn bò sữa tại Ba Vì, hạn chế dịch bệnh, tăng hiệu quả trong chăn nuôi bò sữa cho bà con và xuất phát từ thực tế đó,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng bệnh viêm tử cung trên đàn
bò sữa nuôi tại khu vực Ba Vì thành phố Hà Nội và thử nghiệm phòng, trị”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được thực trạng bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa nuôi tại khu vực Ba Vì thành phố Hà Nội
- Đánh giá được được sự biến đổi một số chỉ tiêu lâm sang và vi khuẩn học khi bò mắc bệnh viêm tử cung
- Đưa ra được biện pháp phòng, trị hữu hiệu bệnh viêm tử cung bò sữa
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Cung cấp, bổ sung thêm những thông tin và bằng chứng thực tiễn về tình hình bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa nuôi tại một số địa phương thuộc khu vực Ba Vì thành phố Hà Nội
- Kết quả nghiên cứu là một phần quan trọng để tổng hợp và khuyến cáo
về thực trạng bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa cũng như những biến đổi về một
số chỉ tiêu lâm sàng, vi khuản học và biện pháp phòng trị, từ đó giúp người chăn nuôi, người quản lý, các thú y cơ sở khoa học trong việc chẩn đoán bệnh cũng như áp dụng biện pháp phòng, tri thích hợp nhằm giảm thieur tác hại do bệnh gây
ra góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi
- Kết quả của công trình nghiên cứu là tài liệu tham khảo dùng cho các, nhà chuyên môn, các thú y cơ sở và người chăn nuôi phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứuvà ứng dụng trong lĩnh vực bệnh sinh sản gia súc nói chung và bệnh sinh sản của bò sữa nói riêng
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu khả năng sinh sản
Sinh sản là một chức năng trọng yếu của sự sống, đó là quá trình sinh học phức tạp và tinh túy nhằm đáp ứng sự phát triển , duy trì và bảo tồn nòi giống, sự sinh sôi nảy nở của mọi sinh vật Các nhà chăn nuôi từ lâu đã quan tâm tìm hiểu
và nghiên cứu về cấu tạo hoạt động của các cơ quan trong cơ thể, trong đó có cơ quan sinh dục của gia súc cái
Ở gia súc cái thực hiện chức năng sinh sản là cơ quan sinh dục do vậy việc nghiên cứu về đặc điểm, chức năng của bộ phận này để ứng dụng và phát huy đầu tư mạnh vào sinh sản thì đó là việc làm cần thiết nhất và đúng đắn nhất để góp phần nâng cao khả năng sinh sản của vật nuôi
1.2 Một số đặc điểm sinh lý sinh sản của bò cái
1.2.1 Đặc điểm cấu tạo và chức năng của cơ quan sinh dục
Giống như các loài gia súc khác, đường sinh dục bò cái được chia thành 2
bộ phận: Bộ phận sinh dục bên ngoài và bộ phận sinh dục bên trong
Bộ phận sinh dục bên ngoài gồm: Âm môn, âm vật, tiền đình
Bộ phận sinh dục bên trong gồm: Âm đạo, tử cung, buồng trứng, ống dẫn trứng
a, Bộ phận sinh dục bên ngoài:
+ Âm môn (Vulva) hay còn gọi là âm hộ: Nằm dưới hậu môn, bên ngoài
có 2 môi (Labia vulvae) bờ trên hai môi có nhiều tuyến tiết chất nhờn trắng và
mồ hôi
+ Âm vật (Clitoris): Giống như dương vật thu nhỏ lại, bên trong có các
thể hổng, trên âm vật có lớp da tạo ra mũ âm vật, giữa âm vật bẻ gập xuống dưới
+ Tiền đình (Vestibule vaginae sinus inogenitalis): là giới hạn giữa âm
môn và âm đạo Trong tiền đình có màng trinh, trước là âm đạo Màng trinh gồm các sợi cơ đàn hồỉ ở giữa và do 2 lớp niêm mạc giáp lại thành một nếp Tiền đình
có một số tuyến xếp chéo hướng về âm đạo
Trang 11b Bộ phận sinh dục trong:
*Âm đạo (Vagina)
Là một cái ống tròn, trước âm đạo có cổ tử cung, phía sau là tiền đình, có màng trinh (Hymen) Cấu tạo của âm đạo chia thành 3 lớp:
tử cung, tinh thanh, phần lớn chúng được thải ra ngoài và hấp thụ qua âm đạo
Âm đạo còn là cái ống để thai đi ra ngoài khi sinh đẻ và cũng là ống thải các chất dịch trong tử cung ra
* Tử cung(Uterus)
Tử cung bò thuộc nhóm tử cung hai sừng (Uterus bicornus), nó có hình sừng cừu gồm một thân tử cung ngắn, hai sừng tử cung dài và cùng một cổ tử cung Bò cái tơ toàn bộ tử cung nằm trong xoang chậu, khi đã đẻ nhiều lần thì tử cung nằm trong xoang bụng, tử cung là nơi làm tổ của hợp tử, hợp tử (sau này là thai) phát triển được là nhờ chất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ thông qua lớp niêm mạc
tử cung, cung cấp Giai đoạn đầu hợp tử sống được một phần nhờ vào noãn hoàng, một phần dựa vào sữa mẹ thông qua cơ chế thẩm thấu Sau này giữa mẹ và thai hình thành hệ thống nhau thai Niêm mạc tử cung và dịch tử cung giữ vai trò cực
kỳ quan trọng trong sinh sản và vận chuyển tinh trùng và trứng, tham gia điều hoà chức năng của thể vàng, đảm nhận sự làm tổ, mang thai và đẻ Tử cung của bò có
3 phần từ ngoài vào trong là: Cổ tử cung, thân tử cung và sừng tử cung
- Cổ tử cung: Là phần ngoài cùng của tử cung, cổ tử cung bò hình tròn thông với âm đạo, dài khoảng 6-10 cm, đường kính từ 3-6 cm Cổ tử cung luôn luôn đóng, chỉ mở khi nào hưng phấn cao độ hoặc khi sinh đẻ hoặc khi bị bệnh
Trang 12lý Niêm mạc cổ tử cung gấp nếp nhiều lần làm cho thành cổ tử cung không đồng đều tạo thành những thuỳ gọi là thuỳ hoa nở, có từ 3-5 lần hoa nở Thuỳ ngoài cùng nhô vào âm đạo khoảng 0,5-1,0cm nhìn bên ngoài tựa như hoa cúc dại Có
sự khác biệt về cổ tử cung giữa bò già và bò trẻ, giữa bò đẻ ít và bò đẻ nhiều, giữa các giống bò, giữa bò đẻ bình thường và bò đẻ không bình thường
- Thân tử cung: Ở bò thân tử cung rất ngắn, chỉ khoảng từ 2-4 cm, thân tử cung nối giữa cổ tử cung với sừng tử cung
- Sừng tử cung: Bò cái có 2 sừng tử cung gồm sừng trái và sừng phải, độ dài của sừng khoảng 20-25cm, đường kính phần dưới sừng tử cung 3-4cm, phần ngọn chỉ khoảng 0,5-0,8cm Hai sừng tử cung của bò cái phần gắn với thân tử cung dính lại với nhau tạo thành một lõm hình lòng máng, phía trên của tử cung gọi là rãnh giữa tử cung dài 3-5cm, rãnh này dễ dàng nhận thấy khi khám qua trực tràng để chẩn đoán gia súc có thai và bệnh lý ở tử cung
1.2.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục của bò cái
Đặc điểm sinh lý sinh dục của gia súc cái nói chung và loài bò nói riêng đặc trưng cho loài, có tính ổn định với từng giống vật nuôi Nó được duy trì qua các thế hệ và luôn củng cố, hoàn thiện qua quá trình chọn lọc Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của một số yếu tố như: Ngoại cảnh, điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc, chế độ khai thác sử dụng,…vv Để đánh giá đặc điểm sinh lý sinh dục của bò cái người ta thường tập trung nghiên cứu, theo dõi các chỉ tiêu sau đây:
1.2.2.1 Sự thành thục về tính
Khi đường sinh dục của gia súc cái phát triển đến mức độ hoàn thiện, buồng trứng có noãn bào chín, có trứng rụng và trứng có khả năng thụ thai, tử cung cũng biến đổi theo và đủ điều kiện cho thai phát triển trong tử cung, Những dấu hiệu động dục xuất hiện đối với gia súc ở tuổi như vậy gọi là thành thục về tính Trong thực tế, thành thục về tính thường đến sớm hơn thành thục về thể vóc Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, gia súc, ngoại cảnh và mức độ nuôi dưỡng Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt thì sự sinh trưởng được thúc đẩy và thành thục về tính sẽ đến sớm hơn Bò sữa thành thục tính dục khi thể trọng đạt từ 30-40% thể trọng lúc trưởng thành, còn bò thịt với mức độ cao hơn 45-50% Theo
Trang 13Trần Tiến Dũng (2002): Bò sữa thành thục tính vào khoảng 12-14 tháng tuổi, bò Zebu thành thục tính muộn hơn bò cái có nguồn gốc châu Âu từ 6-12 tháng
Bò cái nếu nuôi dưỡng tốt thì thành thục lúc 12 tháng tuổi, còn tầm vóc để bảo đảm cho sự phối giống phải từ 18 tháng trở lên Theo Khuất Văn Dũng (2005) đối với bò lang trắng, đen Hà Lan cho ăn đầy đủ, chăm sóc tốt thì thành thục lúc 10-12 tháng tuổi, chăm sóc kém có thể kéo dài tới 16-18 tháng tuổi
1.2.2.2 Chu kì động dục
Khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của bò được diễn ra liên
tục và có tính chu kì Các noãn bào trên buồng trứng phát triển lớn dần đến độ chín, nổi cộm lên trên bề mặt buồng trứng gọi là nang Graf Khi nang Graf vỡ, trứng rụng, gọi là sự rụng trứng Mỗi lần rụng trứng con vật có những biểu hiện tính dục bên ngoài gọi là động dục Thời gian từ lần rụng trước đến lần rụng trứng sau gọi chu kỳ sinh dục (chu kỳ tính) bò và lợn thông thường là 21 ngày (dao động 17-24 ngày), của trâu là 25 ngày (Trần Tiến Dũng và cs 2002), những gia súc cái có chu kỳ động dục ngắn hơn 17 ngày hoặc dài hơn 24 ngày thường
có tỷ lệ thụ thai thấp Quá trình trứng phát triển chín và rụng đều chịu sự điều hoà chặt chẽ của hormone Trên cơ sở đó nhiều tác giả đã phân chia chu kỳ động dục thành 2 pha:
- Pha Folliculin: Gồm toàn bộ biểu hiện trước khi trứng rụng
- Pha Lutein: Là những biểu hiện sau khi trứng rụng và hình thành thể vàng Chu kỳ động dục của bò nhiều tác giả đã đề cập đến các đợt sóng nang (Follicular wave)
Sóng nang là sự phát triển đồng loạt của một số bao noãn ở cùng một thời gian Các công trình nghiên cứu, theo dõi sự phát triển của buồng trứng Invivo bằng phương pháp nội soi và siêu âm được nhiều tác giả công bố Các tác giả cho thấy ở bò trong một chu kỳ thường có 2-3 đợt sóng nang phát triển (một số ít có 4 đợt) Đợt một bắt đầu diễn ra sau khi rụng trứng, vào ngày thứ 3-9 của chu kỳ Đợt 2 vào ngày 11-17 và đợt 3 vào ngày 18-20 Mỗi đợt sóng nang có thể huy động tới 15 nang kích thước từ 5-7mm phát triển Sau này có một số nang phát triển mạnh hơn gọi là nang trội (nang khống chế), kích thước của nang khống chế
Trang 14ở đợt 1, 2, 3 có thể đạt tới 12-15mm và các kích thước nang tương ứng quan sát thấy vào các ngày 6, 13, 21
Đặc điểm quan trọng trong các đợt phát triển nang là sự phát triển có tính
tự điều khiển và cạnh tranh giữa các nang Một đợt có 1-2 nang trội, vài nang lớn phát triển và sự phát triển của các nang còn lại bị kìm hãm Tuy vậy, khi thể vàng còn tồn tại, nang khống chế và nang lớn sẽ bị thoái hoá, chỉ có đợt cuối cùng khi thể vàng không còn thì nang khống chế mới phát triển tới chín và rụng trứng xảy
ra Do đặc điểm này các đợt phát triển nang gọi là sóng phát triển Trong mỗi đợt sóng như vậy sự tồn tại của các nang không phải nang khống chế, dao động 5-6 ngày (Bierschwal B J, (USA)1980) Riêng nang khống chế có thể phát triển nhanh sau ngày 18 của chu kỳ, tốc độ phát triển của nang khống chế ở thời điểm này có thể đạt 1,6mm/ngày (Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương, 1997) Theo Trần Tiến Dũng (2002), bò chu kỳ động dục thường kéo dài 21 ngày, thời gian động dục thường kéo dài 25-36 giờ, chu kỳ động dục ở gia súc mang tính đặc trưng theo loài
Chu kỳ động dục của bò được chia làm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn trước động dục (Preoestrus)
- Giai đoạn động dục (Oestrus)
- Giai đoạn sau động dục (Postoestrus)
- Giai đoạn cân bằng sinh học (An-Di-oestrus)
1.2.2.3 Quá trình thụ tinh
Sự thụ tinh là một qua trình đồng hoá và dị hoá lẫn nhau một cách phức tạp giữa hai tế bào trứng và tinh trùng Kết quả của sự thụ tinh là sinh ra một tế bào mới gọi là hợp tử, sau này là phôi và phát triển thành một cơ thể mới khác với bố mẹ nhưng mang đặc điểm di truyền của bố, mẹ cùng với đặc điểm di truyền của loài
Người ta thường phân chia quá trình thụ tinh của động vật có vú ra 4 giai đoạn nhỏ: Sự chuẩn bị của tế bào trứng, tinh trùng và tế bào trứng, sự hình thành tiền hạch đực và tiền hạch cái, sự kết hợp giữa hai tiền hạch
Trang 151.2.2.4 Quá trình mang thai
Sự phát triển của thai là hiện tượng sinh lý đặc biệt của cơ thể, nó được bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh cho đến khi đẻ xong Trong thực tế sự có thai của
bò được tính ngay từ ngày phối giống cuối cùng cho đến ngày đẻ Thời gian mang thai phụ thuộc nhiều vào các yếu tố như: Tuổi của mẹ, điều kiện nuôi d-ưỡng, chế độ khai thác và sử dụng, số lượng thai, đôi khi còn phụ thuộc vào lứa
đẻ và tính biệt của thai Thời gian mang thai của bò dao động trong khoảng
và các sản phẩm trung gian ra ngoài gọi là quá trình sinh đẻ Để giải thích quá trình sinh đẻ ta có thể dựa vào các học thuyết sau
- Học thuyết áp lực
Khi bào thai ở trong tử cung cơ thể mẹ sinh trưởng và phát triển đến thời
kỳ cuối Thai to tiếp giáp chặt vào thành tử cung, đè mạnh vào đuờng sinh dục, các hoạt động của thai ngày càng tăng lên làm cho áp lực trong đường sinh dục cái thay đổi đồng thời cũng là vật kích thích cơ giới làm cho dường sinh dục cái tăng cường hưng phấn Khi áp lực và kích thích cơ giới đạt đến một mức độ nhất định sẽ gây ra phản xạ co bóp ở tử cung và cổ tử cung làm cổ tử cung mở ra gây
ra quá trình đẻ
- Học thuyết về kích tố
Ở thời gian có thai kỳ cuối hàm lượng Progesteron trong máu hạ xuống hàm lượng oestrogen tăng lên làm cho các thụ quan hoá học trong tử cung mẫn cảm với các kích thích sinh ra phản ứng mạnh với các chất Acetylcholin Oestrogen đi vào trong máu làm tăng cường tổng hợp Acetylcholin và ức chế
Trang 16men có tác dụng phá huỷ hormone tuyến yên Đồng thời hormone tuyến yên lại
ức chế men Cholinesteaza (men có tác dụng phá huỷ Acetylcholin trong cơ thể) Tất cả các yếu tố trên làm cho tử cung xuất hiện những cơn co bóp, cổ tử cung
mở ra gây ra quá trình đẻ
- Học thuyết biến đổi nhau thai
Khi bào thai đã phát triển thành thục, quan hệ sinh lý giữa nhau mẹ và nhau con trở lên không cần thiết nữa do đó màng thai bắt đầu biến thành sơ Chính vì thế quan hệ giữa mẹ và con bị đứt bào thai trở thành một dị vật do đó bị
tử cung cơ thể mẹ co bóp và tống ra ngoài
Quá trình sinh đẻ của gia súc nói chung và bò nói riêng bao gồm các giai
đoạn sau:
- Giai đoạn mở cổ tử cung: Được tính từ khi con mẹ có triệu chứng rặn
đẻ đến khi cổ tử cung mở hoàn toàn Đặc điểm của giai đoạn này là những cơn rặn của con mẹ còn yếu và thưa, càng về cuối giai đoạn này cường độ những cơn rặn mạnh dần lên, thời gian nghỉ giữa 2 lần rặn rút ngắn dần lại Cuối giai đoạn
này sảy ra hiện tượng vỡ ối
- Giai đoạn sổ thai: Được tính từ khi vỡ ối đến khi bào thai cuối cùng
được đẩy ra khỏi cơ thể mẹ Đặc điểm của giai đoạn này là gia súc mẹ tập trung tất cả sức lực để rặn để đẩy bào thai ra ngoài thời gian giai đoạn này dài ngắn phụ
thuộc vào từng loài gia súc ở bò là bò 20 phút đến 3 giờ
- Giai đoạn bong nhau: Tính từ khi sổ bào thai cuối cùng đến khi toàn bộ
nhau thai con được đẩy ra khỏi cơ thể mẹ, thời gian này ở bò 4-6 giờ Quá thời gian
kể trên mà nhau thai con không được đẩy ra ngoài thì được gọi là bệnh sát nhau
1.3 Một số chỉ tiêu sinh lý lâm sàng
Trang 17chiều (16 - 18 giờ) Mùa hè, trâu bò làm việc nhiều dưới trời nắng gắt, thân nhiệt có thể cao hơn bình thường 1,0 - 1,80C Thân nhiệt dao động trong vòng
10C (Hồ Văn Nam, Nguyễn Thị Đào Nguyên, Phạm Ngọc Thạch, 1997)
Theo Hồ Văn Nam và cs (1997) thân nhiệt bình thường của bò là 37,5 - 39,50C
số thuốc như nước muối, glucoza ưu trương đều có thể gây sốt
Khi bắt đầu cơn sốt, có tăng cường các quá trình sinh nhiệt như co mạch, dựng lông, bài tiết adrenalin, run cơ Khi hết cơn sốt có các quá trình tăng thải nhiệt như giãn mạch, ra mồ hôi
1.3.3 Tần số mạch đập
Tần số mạch là số lần mạch đập trong một phút Theo Hồ Văn Nam và
cs 1997) tần số mạch đập ở bò cái trưởng thành là 60 - 80 lần/phút, ở bò đực trưởng thành là 36 - 60 lần/phút, ở bê là 100 - 120 lần/phút
Mạch đập liên quan chặt chẽ với hoạt động của phổi; tần số mạch đập và tần số hô hấp tỷ lệ với nhau, nếu tỷ lệ này thay đổi nhiều là triệu chứng bệnh (Hồ Văn Nam và cs 1997)
1.3.4 Tần số hô hấp
Tần số hô hấp là số lần thở/phút Tần số hô hấp phụ thuộc vào cường độ trao đổi chất, lứa tuổi, tầm vóc Gia súc non có cường độ trao đổi chất mạnh nên tần số hô hấp cao hơn Động vật nhỏ cũng có tần số hô hấp cao hơn so với động vật lớn Ngoài ra trạng thái sinh lý, vận động, nhiệt độ môi trường cũng ảnh hưởng đến nhịp thở Tần số hô hấp của bò là 10 - 30 lần/phút (Nguyễn Xuân Tịnh và cs 1996)
Trang 181.4 Một số hiểu biết về quá trình viêm
1.4.1 Khái niệm viêm
Hiện tượng sưng, nóng, đỏ, đau của viêm đã được đề cập tới trong y học
cổ đại và những khái niệm về viêm cũng được hình thành từ rất sớm song lại rất khác nhau Theo Vũ Triệu An và cs (1990) viêm là một phản ứng bảo vệ của
cơ thể mà nền tảng của nó là phản ứng tế bào Phản ứng này hình thành và phát triển phức tạp dần trong quá trình tiến hoá của sinh vật
Viêm là một quá trình phức tạp, luôn luôn thay đổi, có nhiều tính chất bảo vệ, nhằm duy trì sự hằng định nội môi Phản ứng này hình thành trong quá trình tiến hoá của sinh giới và bao gồm ba hiện tượng đồng thời tồn tại và liên quan chặt chẽ với nhau: Rối loạn tuần hoàn, Rối loạn chuyển hoá - tổn thương
mô bào và Tế bào tăng sinh
Theo Nguyễn Hữu Nam (2004): Viêm là một phản ứng toàn thân chống lại mọi kích thích có hại, thể hiện ở cục bộ mô bào
1.4.2 Hậu quả của phản ứng tuần hoàn và tế bào trong viêm
Khi cơ thể bị viêm thì tại ổ viêm xảy ra phản ứng tuần hoàn và phản ứng
tế bào gây nên các rối loạn chủ yếu như sau:
+ Rối loạn chuyển hoá
Tại ổ viêm quá trình oxy hoá tăng mạnh, nhu cầu oxy tăng nhưng vì có rối loạn tuần hoàn nên khả năng cung cấp oxy không đủ, gây rối loạn chuyển hoá gluxit, lipid và protein gây ra hiện tượng tăng độ axit, xeton, lipid, albumoza, polipeptid và các axit amin tại ổ viêm
+ Tổn thương mô bào
Các tế bào bị tổn thương tại ổ viêm giải phóng các enzym cũng làm trầm trọng thêm quá trình huỷ hoại mô bào và phân huỷ các chất tại vùng viêm, chúng tạo ra các chất trung gian có hoạt tính sinh lý cao và hạ thấp độ pH của ổ viêm
Theo Nguyễn Hữu Nam (2004) ngoài tính chất bảo vệ thì tổn thương mô bào còn tạo ra nhiều chất có hại tham gia vào thành phần của dịch rỉ viêm, chính các chất này đã góp phần hình thành và phát triển vòng xoắn bệnh lý trong viêm
Trang 19+ Dịch rỉ viêm
Dịch rỉ viêm là sản phẩm được tiết ra tại ổ viêm bao gồm nước, thành phần hữu hình và các chất hòa tan như nước, muối, albumin, globulin, fibrinogen, bạch cầu, hồng cầu, tiểu cầu có tác dụng tạo vành đai ngăn cản viêm lan Đặc biệt là các chất có hoạt tính sinh lý như histamin, serotonin, axetincholin có tác dụng làm giãn mạch và tăng tính thấm thành mạch gây đau
+ Tăng sinh mô bào
Là hiện tượng tăng lên về số lượng các tế bào trong ổ viêm, các tế bào này có thể từ máu tới hoặc các tế bào tại chỗ sinh sản phát triển ra Trong quá trình viêm, giai đoạn đầu chủ yếu tăng sinh bạch cầu đa nhân trung tính Sự tăng sinh và phát triển của các loại tế bào phụ thuộc vào mức độ tổn thương của ổ viêm cũng như tình trạng phản ứng của cơ thể (Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp, 1997)
+ Các tế bào viêm
Các tế bào tăng sinh trong ổ viêm được gọi chung là các tế bào viêm, bao gồm: bạch cầu đa nhân trung tính, bạch cầu ưa toan, bạch cầu ưa kiềm, bạch cầu đơn nhân lớn Chúng có chức năng thực bào, ẩm bào hay tạo ra những kích thích tại các ổ viêm và giữ vai trò quan trọng giúp cơ thể chống lại sự xâm nhập của các tác nhân lạ từ môi trường
1.5 Bệnh viêm tử cung ở trâu bò cái
Trong số các bệnh ở đường sinh dục trâu bò cái, bệnh thường gặp và gây thiệt hại về kinh tế lớn nhất là bệnh ở tử cung Chúng bao gồm: viêm tử cung và viêm cổ tử cung
1.5.1 Viêm tử cung
Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, là nơi làm tổ của thai đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển Bệnh viêm tử cung đã được nhiều tác giả tập trung nghiên cứu Roberts S.J., (1980) đã khảo sát các trạng thái bất thường của tử cung bò; (Dawson F.L.M, 1983) nghiên cứu về hệ vi khuẩn trong tử cung bò; (Kopecky K.E et al, 1977) đã theo dõi các hiện tượng nhiễm trùng tử cung do bệnh lao bò gây ra Mọi quá trình bệnh lý ở tử
Trang 20cung đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản Theo Đặng Đình Tín, (1985) viêm tử cung có thể chia ra ba thể: viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung
1.5.1.1 Viêm nội mạc tử cung (Endometritis)
Theo Black W.G., (1983) viêm nội mạc tử cung là viêm lớp niêm mạc của tử cung Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm khả năng sinh sản của gia súc cái
Viêm nội mạc tử cung phổ biến và chiếm tỷ lệ cao nhất trong các thể viêm ở tử cung (Samad A et al 1977) theo dõi 17.2293 trâu mắc bệnh đường sinh dục, rối loạn sinh sản cho biết: tỷ lệ trâu bị viêm nội mạc tử cung là cao nhất và chiếm 35,9% Bệnh viêm nội mạc tử cung thường xảy ra sau khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong những trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ làm niêm mạc tử cung bị xây sát, tổn thương Sau đó là do sự tác động
của các vi khuẩn Streptococcus, Staphylococcus, E.coli, Salmonella, Brucella,
roi trùng gây viêm nội mạc tử cung (Arthur, 1964) , Settergreen , 1986) Căn cứ vào tính chất, trạng thái của quá trình bệnh lý, viêm nội mạc tử cung có thể chia
ra làm hai loại: viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ và viêm nội mạc
tử cung có màng giả
Hình 1.1: Viêm nội mạc tử cung (Ba Vì, 24/10/2014)
Trang 21* Viêm nội mạc tử cung thể Cata cấp tính có mủ (Endomestritis Puerperalis)
Bệnh này gặp nhiều ở bò sau sinh đẻ, niêm mạc cổ tử cung và âm đạo bị tổn thương, xây sát dẫn đến nhiễm khuẩn nhất là khi gia súc bị sát nhau, đẻ khó phải can thiệp
Khi bị bệnh, gia súc biểu hiện một số triệu chứng chủ yếu: thân nhiệt tăng nhẹ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, đôi khi cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh Từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức chết Khi con vật nằm, dịch viêm thải ra càng nhiều, xung quanh âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm có khi nó khô lại hình thành từng đám vẩy, màu trắng xám Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch viêm thải ra nhiều Cổ tử cung hơi mở và có mủ chảy qua cổ tử cung Niêm mạc âm đạo bình thường, kiểm tra qua trực tràng có thể phát hiện được một hay cả hai sừng tử cung sưng
to, hai sừng tử cung không cân xứng nhau, thành tử cung dày và mềm hơn bình thường Khi kích thích nhẹ lên sừng tử cung thì mức độ phản ứng co lại của chúng yếu ớt Trường hợp trong tử cung tích lại nhiều dịch viêm, nhiều mủ thì
có thể phát hiện được trạng thái chuyển động sóng
* Viêm nội mạc tử cung màng giả
Thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử Vết thương đã ăn sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử, lúc này con vật xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ: Thân nhiệt lên cao, lượng sữa giảm có khi hoàn toàn mất sữa,
kế phát viêm vú, con vật ăn uống kém và không nhai lại, biểu hiện trạng thái đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch: Dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử, niêm dịch
1.5.1.2 Viêm cơ tử cung (Myometritis Puerperalis)
Theo Settergreen, (1986) viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung, niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tử cung làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương mạch quản và lâm ba quản Từ đó làm cho các lớp cơ và một ít lớp tương mạc
Trang 22tử cung bị hoại tử Trường hợp này có thể dẫn đến hiện tượng nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ Có khi vì lớp cơ và lớp tương mạc tử cung bị phân giải, bị hoại tử mà tử cung bị thủng hay bị hoại tử từng đám
Ở thể viêm này, gia súc biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt tăng cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, sản lượng sữa giảm hay mất hẳn Con vật
kế phát chướng bụng đầy hơi, viêm vú, có khi viêm phúc mạc Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu, lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh thối Kiểm tra qua âm đạo bằng mỏ vịt thấy cổ tử cung mở, hỗn dịch càng chảy ra ngoài âm đạo nhiều hơn, phản xạ đau của con vật càng rõ hơn Khám qua trực tràng thì tử cung to hơn bình thường, hai sừng tử cung to nhỏ không đều nhau, thành tử cung dày và cứng Khi kích thích lên tử cung, con vật rất mẫn cảm, đau nên càng rặn mạnh hơn, từ tử cung thải ra nhiều hỗn dịch bẩn
Hình 1.2: Viêm cơ tử cung ( Ba Vì, 24/10/2014)
Trang 231.5.1.3 Viêm tương mạc tử cung (Perimetritis Puerperalis)
Theo Arthur, (1964); Đặng Đình Tín, (1985) viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ thể viêm cơ tử cung Thể viêm này thường cấp tính cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình và nặng Lúc đầu lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển thành màu đỏ sẫm rồi trở nên sần sùi mất tính trơn bóng Sau đó các tế bào bị hoại tử và bong ra, dịch thẩm xuất tăng tiết Trường hợp viêm nặng, lớp tương mạc ở một số vùng có thể dính với các tổ chức xung quanh, gây nên tình trạng viêm mô tử cung (Parametritis) và dẫn đến viêm phúc mạc Thân nhiệt tăng cao, mạch đập nhanh, con vật ủ rũ, uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn, hiện tượng nhai lại giảm hay ngừng Lượng sữa còn rất ít hay mất hẳn, thường kế phát viêm vú Con vật luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ âm
hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có màu nâu và mùi thối khắm
Kiểm tra qua trực tràng thấy thành tử cung dày, cứng, hai sừng tử cung mất cân đối, khi kích thích con vật biểu hiện đau đớn càng rõ và càng rặn mạnh hơn Trường hợp một số vùng của tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì có thể phát hiện được trạng thái thay đổi về vị trí và hình dáng của tử cung, có khi không tìm thấy một hoặc cả hai buồng trứng Thể viêm này thường dẫn đến kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ
Trang 24Hình 1.3: Viêm tương mạc tử cung (Ba Vì, 24/10/2014)
1.5.1.4 Chẩn đoán viêm tử cung
Theo F.madec và C.Neva (1995), xuất phát từ quan điểm lâm sang thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kì tiền động dục, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không
ổn định, từ vài ml cho tới 200ml hoặc hơn nữa tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màu máu cá Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính, viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kì cho sữa hiện tượng chảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghĩ đến viêm nội mạc tử cung
Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có những mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhừng lại có thể là chất kết dính của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ bò còn có thể là
do viêm bàng quang có mủ gây ra
Trang 25Khi bò cái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ chảy
ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động dục thì có thể
bị nhầm lẫn
Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tường đối Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủ nên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặt khác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của bò cái để chẩn đoán cho chính xác
Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm từ đó đưa
ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất
Để chẩn đoán người ta dựa vào những triệu chứng điển hình ở cục bộ cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân Có thể dựa vào các chỉ tiêu ở bảng sau:
Bảng 1.1 Các chỉ tiêu chẩn đoán phân biệt các thể viêm tử cung
Thể viêm
Viêm tương mạc
Hồng, nâu đỏ Tanh thối
Nâu rỉ sắt Thối khắm
Chẩn đoán viêm tử cung cần rất cẩn thận, phải theo dõi thường xuyên vì
mủ chảy ra ở âm hộ chỉ mang tính chất thời điểm và có khi viêm tử cung nhưng không sinh mủ
Trang 261.5.2 Viêm cổ tử cung (Cervitis)
Cổ tử cung được cấu tạo bởi các lớp cơ rắn chắc và lớp niêm mạc có nhiều gấp nếp Nó là hàng rào bảo vệ tử cung Cổ tử cung luôn đóng, chỉ hé mở khi động dục và mở hoàn toàn khi sinh đẻ (Trần Tiến Dũng và cs 2002)
Bệnh viêm cổ tử cung ở gia súc thường là hậu quả của những sai sót về kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, do thao tác đỡ đẻ nhất là các trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hay sử dụng dụng cụ không phù hợp làm cổ tử cung bị xây sát Viêm cổ tử cung còn do kế phát từ viêm âm đạo, (Trần Tiến Dũng và cs 2002) Hậu quả của viêm cổ tử cung làm cổ tử cung bị tắc, khi gia súc động dục niêm dịch không thoát ra ngoài được Dùng mỏ vịt và đèn soi khám qua âm đạo: cổ tử cung mở đường kính 1– 2 cm thấy niêm mạc xung huyết hoặc phù rõ, cá biệt có vết loét, dính mủ (Nguyễn Văn Thanh, 1999)
Kiểm tra qua trực tràng: cổ tử cung sưng to và cứng do tổ chức tăng sinh (Đặng Đình Tín, 1985)
1.6 Một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm tử cung ở bò sữa
1.6.1 Mùa vụ
Khí hậu Việt Nam bao gồm bốn mùa với các đặc tính thời tiết khác nhau: xuân, hạ, thu, đông Song thể hiện sự phân hoá rõ hơn là xuân - hạ và thu - đông
Trong mùa xuân hạ thời tiết mưa nhiều, nhiệt độ cao, độ ẩm trong không khí cao là điều kiện thuận lợi để các vi sinh vật gây bệnh phát triển Nhiệt độ cao làm cho khả năng thu nhận thức ăn giảm, sức khoẻ, sức đề kháng của con vật giảm nên tỷ lệ mắc bệnh của bò sữa rất cao, đặc biệt là bệnh ở đường sinh dục
Ngược lại, thời tiết trong giai đoạn thu đông thì nhiệt độ mát mẻ làm sức
đề kháng của con vật được nâng cao Mặt khác có những thời điểm nhiệt độ hạ thấp xuống rất thấp gây sự bất lợi cho các vi khuẩn gây bệnh phát triển Vì thế
mà các bệnh xảy ra trên đàn bò sữa cũng giảm Điều đó cho thấy tỷ lệ bệnh viêm
tử cung ở hai thời điểm khác nhau có sự khác nhau rõ rệt
Trang 271.6.2 Vệ sinh thú y
Công tác vệ sinh thú y đối với bò sữa là một yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến bệnh viêm tử cung Vệ sinh thú y bao gồm vệ sinh môi trường và vệ sinh trong quá trình sinh sản Vệ sinh thú y tốt được đánh giá bởi các yếu tố:
- Vệ sinh môi trường bao gồm: Cọ rửa máng ăn hàng ngày, thu dọn phân, rác trong chuồng hàng ngày, rửa chuồng hàng ngày, phun sát trùng định kỳ 1 tuần
1 lần
- Vệ sinh trong quá trình sinh sản bao gồm: vệ sinh các dụng cụ thụ tinh,
vệ sinh bò sữa trong quá trình thụ tinh, vệ sinh khai thác tinh, dụng cụ phối, vệ sinh trước và sau khi đẻ…
1.6.3 Phương pháp phối giống
Phương pháp phối giống cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung Thụ tinh nhân tạo ở bò cái dễ gây xây xát do đưa dụng cụ phối vào con cái, con cái dịch chuyển trong khi phối gây xây xát niêm mạc, dụng cụ phối không được vô trùng… rất dễ gây viêm
1.6.4 Quá trình đẻ
Bò sữa đẻ bình thường sẽ làm khả năng nhiễm bệnh đường sinh dục thấp hơn khi bò đẻ phải can thiệp Tuy nhiên thời gian đẻ kéo dài và có một số yếu tố khác dẫn đến cần sự can thiệp của công nhân Công nhân dùng tay hoặc dây và các thiết bị hỗ trợ khác để đưa thai ra gây xây xát niêm mạc và dễ gây nhiễm vi khuẩn vào gây viêm
Theo Đặng Đình Tín (1985), phương pháp đỡ đẻ thô bạo, không đúng kỹ thuật là nguyên nhân chính gây bệnh viêm tử cung Đặc biệt các trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay và dụng cụ
1.6.5 Lứa đẻ
Bệnh viêm tử cung ở bò cái bị ảnh hưởng rất nhiều bới các lứa đẻ khác nhau Bò cái ở lứa đẻ thứ nhất thường có tỉ lệ mắc bệnh viêm tử cung cao hơn các lứa sau do bò chưa thuần, xương chậu chưa thích nghi, hoocmone sinh sản chưa hoàn thiện nên phải can thiệp nhiều gây xây sát đường sinh dục
Từ lứa thứ 2 đến lứa thứ 4 bò có sức đề kháng tốt hơn, quá trình sinh đẻ dễ
Trang 28dàng hơn, quá trình phối giống cũng dễ dàng hơn, bò đã thích nghi nên tỷ lệ viêm
tử cung ít hơn Từ lứa thứ 5 trở đi, sức đề kháng của bò giảm, sức rặn yếu, sự co bóp tử cung cũng giảm, thời gian đóng kín cổ tử cung cũng chậm hơn do đó tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập qua cổ tử cung gây viêm Mặt khác do khai thác nhiều, sức đề kháng kém, các hoạt động sinh dục giảm vì vậy việc can thiệp vào quá trình sinh sản dẫn đến viêm tử cung lại tăng lên
1.7 Tình hình nghiên cứu bệnh viêm tử cung trên thế giới và Việt Nam
1.7.1 Trên thế giới
Chăn nuôi bò là một nghề chiếm tỷ trọng cao trong ngành chăn nuôi ở nhiều nước trên thế giới Nhằm khai thác hiệu quả giá trị dinh dưỡng và sinh khối của loài, các nước phát triển trên thế giới không ngừng đầu tư cải tạo giống và
áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng sinh sản của chúng Trong đó các vấn đề về bệnh sinh sản của gia súc cũng là chủ đề được các nhà thú y đặc biệt quan tâm Hàng năm các chương trình đào tạo quốc tế về sinh sản gia súc được tổ chức tại một số Trường Đại học thú y, Trung tâm Khoa học quốc tế về Nông nghiệp của các nước có ngành chăn nuôi phát triển như Pháp, Thủy Điển, Úc, Ai Cập…Nội dung của các khóa đào tạo chủ yếu về nghiên cứu phương pháp chẩn đoán phát hiện và điều trị các bệnh sinh sản, vì hàng năm các bệnh sinh sản đã gây tổn thất rất lớn trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi bò sữa nói riêng
Trong các bệnh của cơ quan sinh dục cái thì bệnh ở tử cung đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Ở các nước có ngành chăn nuôi bò phát triển (Pháp,
Úc, Hà Lan, Mỹ, Canada), để hạn chế các bệnh sản khoa, nhiều công trình nghiên cứu đã tập trung giải quyết đã có kết quả cao trong việc khống chế các bệnh sản khoa (Andriamarga S et al 1984) đã nghiên cứu vấn đề dịch tễ với sự quan tâm đặc biệt đến chu kỳ tính để hạn chế bệnh viêm tử cung ở bò sữa Các tác giả Chuffaux SY et al (1987) đã tiến hành sinh thiết niêm mạc tử cung bò bị bệnh sản khoa để tìm hiểu quá trình sinh bệnh cho biết: hậu quả của thụ tinh nhân tạo thô bạo, sai nguyên tắc đã làm tăng tỷ lệ bệnh viêm tử cung trong chăn nuôi bò sữa
Trang 291.7.2 Tại Việt Nam
Hơn 10 năm trở lại đây, phong trào chăn nuôi bò sữa tại Việt Nam đang phát triển mạnh về số lượng ở trang trại cũng như trong nông hộ Tình hình dịch bệnh cũng không ngừng tăng lên, đặc biệt là các bệnh sản khoa một số tác giả đã
có những nghiên cứu về lĩnh vực sinh sản và bệnh sinh sản của bò nói chung và bệnh viêm tử cung ở bò sữa nói riêng
Theo Nguyễn Văn Thanh (1999), bệnh Viêm tử cung ở đại gia súc nói chung và bò sữa nói riêng là một quá trình bệnh lý phức tạp được thể hiện dưới nhiều thể khác nhau Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới rối loạn sinh sản, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của gia súc cái
Nguyễn Văn Thanh, Trần Tiến Dũng (2007) đã tiến hành khảo sát tỷ lệ mắc và thử nghiệm điều trị bệnh viêm tử cung ở đàn bò sữa nuôi tại một số địa phương ngoại thành Hà Nội và Bắc Ninh cho biết: tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn bò sữa nuôi tại một số địa phương thuộc huyện Gia lâm thành phố Hà Nội và huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh là khá cao trung bình 21,32% có địa phương lên tới 25,71% Đồng thời các tác giả cũng cho biết: khi bò sữa mắc bệnh viêm tử cung dùng PGF2α tiêm dưới da với liều 25mg/con, tiêm 1 lần kết hợp thụt vào tử cung dung dịch Lugol và kháng sinh cho kết quả khỏi bệnh cao và nhanh chóng hồi phục khả năng sinh sản
Nguyễn Văn Thanh và cs (2007) nghiên cứu về thành phần các loài vi khuẩn trong dịch viêm tử cung âm đạo của bò sữa và tính mẫn cảm với một số thuốc kháng sinh thông dụng cho biết: trong dịch tử cung âm đạo bò khoẻ mạnh
sau đẻ 12-24 giờ có 88,89% số mẫu bệnh phẩm phát hiện thấy E.coli; 83,33% có Staphylococcus; 77,78% có Streptococus và 55,56% phát hiện thấy Salmonella
Khi tử cung âm đạo bị viêm, 100% số mẫu bệnh phẩm xuất hiện các vi khuẩn kể
trên ngoài ra con xuất hiện thêm 02 loại vi khuẩn Pseudomonas với tỷ lệ 22,27%
và Corynebacterium với tỷ lệ 18,18% Các loại vi khuẩn kể trên mẫn cảm không
cao với các thuốc thú y thông dụng
Phạm Trung Kiên (2012) nghiên cứu thực trạng bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa nuôi tại khu vực đồng bằng sông Hồng thông báo: tỷ lệ mắc bệnh
Trang 30viêm tử cung ở đàn bò sữa nuôi tại một số địa phương thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng là khá cao, trung bình 22,88% giao động từ 20,52% đến 26,07% Bệnh thường mắc ở những bò đẻ lứa đầu và những bò đã đẻ nhiều lứa Tỷ lệ mắc bệnh ở các mùa là khác nhau, cao nhất vào mùa hè 29,46% và thấp nhất là mùa thu 17,28 %, tỷ lệ bệnh ở giai đoạn sau khi sinh cao hơn nhiều so với giai đoạn chờ phối
1.8 Tác dụng và ứng dụng Prostaglandin F 2α (PGF 2α ) trong lĩnh vực sinh sản gia súc
Prostaglandin là một nhóm Lipoid được tiết ra từ nội mạc ống sinh dục (tử cung, âm đạo) của con cái Prostaglandin có nhiều loại nhưng có hoạt tính mạnh nhất là PGF2α PGF2α và các chất tổng hợp có hoạt tính tương tự được coi là những hoạt chất có hiệu lực nhất trong việc gây động dục của loài nhai lại Những chất này làm thoái hóa thể vàng, làm giảm hàm lượng Progesteron trong máu, kích thích bài tiết Gonadotropin, kích thích noãn bao phát triển nhanh chóng, gây ra hiện tượng động dục và rụng trứng (Nguyễn Xuân Trạch và Mai Thị Thơm, 2004)
Trong kỹ thuật điều khiển sinh sản của gia súc, việc sử dụng kích dục đóng vai trò quyết định sự thành công của công nghệ sinh sản Do vậy việc sử dụng PGF2α như một công cụ kĩ thuật đặc biệt của công nghệ sinh sản trong chăn nuôi gia súc, nhất là với gia súc lớn Prostagladin tham gia vào quá trình hồi phục của tử cung do vậy khi bò đẻ xong ta tiêm PGF2α thì sẽ rút ngắn thời gian phục hồi của tử cung đồng thời làm giảm khá lớn tỷ lệ viêm tử cung
PGF2α được các nhà khoa học thế giới rất quan tâm và nghiên cứu sâu và
đã nghiên cứu ra được liều lượng và cách sử dụng PGF2α
Tervit (1973) đã tiêm PGF2α từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 4 của chu kì động dục thì không thấy ảnh ưởng gì đến thể vàng, khi tiêm từ ngày thứ 5 đến ngày thứ 17 của chu kì động dục thì thấy có tác dụng rất tốt trong việc phá vỡ thể vàng Ông nhận xét rằng: Hầu hết các thí nghiệm tiêm PGF2α trong 3 ngày thì gia súc động dục
Gây động dục cho bò tơ bằng cách tiêm PGF2α hai lần cách nhau 12 ngày