Tính mẫn cảm của các vi khuẩn phân lập được từ dịch Viêm tử cung ở lợn nái ngoại với một số thuốc kháng sinh và hóa học trị liệu 56 3.3.3.. Tính mẫn cảm của các vi khuẩn phân lập được từ
Trang 11.5 Thuốc kháng sinh trong phòng và điều trị bệnh sinh sản 22
Trang 21.7 Tình hình nghiên cứu bệnh Viêm tử cung trên thế giới và Việt Nam 27
2.2.1 Xác định tỷ lệ mắc bệnh Viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại 30 2.2.2 Xác định ảnh hưởng của bệnh Viêm tử cung đến một số chỉ tiêu sinh
2.2.3 Sự biến đổi về vi khuẩn học trong dịch tử cung của lợn nái ngoại 30 2.2.4 Thử nghiệm điều trị bệnh Viêm tử cung bằng các phác đồ điều trị 31
3.1 Tình hình mắc bệnh Viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại các trang
3.1.1 Tình hình mắc bệnh Viêm tử cung ở lợn nái ngoại tại các trang trại
3.1.2 Tình hình mắc bệnh Viêm tử cung của lợn nái ngoại qua các lứa đẻ 40 3.1.3 Tình hình mắc bệnh Viêm tử cung của lợn nái ngoại ở các giai đoạn sinh sản 43 3.2 Ảnh hưởng của bệnh Viêm tử cung đến một số chỉ tiêu sinh sản trên đàn
Trang 33.3 Một số nghiên cứu về vi khuẩn học trong dịch tử cung của lợn nái ngoại 54 3.3.1 Thành phần vi khuẩn trong dịch tử cung lợn nái ngoại bình thường và
3.3.2 Tính mẫn cảm của các vi khuẩn phân lập được từ dịch Viêm tử cung ở lợn nái ngoại với một số thuốc kháng sinh và hóa học trị liệu 56 3.3.3 Thử nghiệm điều trị đàn lợn nái ngoại mắc Viêm tử cung thể viêm nội mạc 58
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Folliculo Stimuling hormone
Giờ
FSH
h Gonadotropin - Reseasing hormone GnRH Hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa MMA
Trang 5DANH MỤC BẢNG
2.1 Kháng sinh chuẩn với tính mẫn cảm của vi khuẩn 32 3.1 Tỷ lệ đàn lợn nái ngoại mắc bệnh Viêm tử cung ở 4 trang trại 39 3.2 Tỷ lệ đàn lợn nái ngoại mắc bệnh Viêm tử cung theo lứa đẻ 41 3.3 Tỷ lệ đàn lợn nái ngoại mắc bệnh Viêm tử cung ở các giai đoạn sinh sản 43 3.4 Thời gian động dục lại và số lần phối giống của lợn nái ngoại bị Viêm tử cung 47 3.5 Khả năng sinh sản và chất lượng đàn con của lợn nái ngoại bị Viêm tử cung 50 3.6 Khả năng tăng trọng của đàn lợn con cai sữa được sinh ra từ lợn nái ngoại
3.7 Thành phần vi khuẩn có trong dịch tử cung lợn nái ngoại bình thường và
3.8 Tính mẫn cảm của các vi khuẩn phân lập được từ dịch viêm tử cung lợn nái ngoại với một số thuốc kháng sinh và hóa học trị liệu 57 3.9 Thử nghiệm điều trị Viêm nội mạc tử cung và khả năng sinh sản của lợn nái
Trang 6DANH MỤC HÌNH
1.1 Sơ đồ cơ chế thần kinh - thể dịch điều khiển quá trình đẻ 11
Trang 7MỞ ĐẦU
• Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi lợn là nghề sản xuất truyền thống đã có từ rất lâu đời, nó chiếm vị trí quan trọng trong tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi ở nước ta Do đời sống người dân ngày một tăng cao nên đòi hỏi ngành chăn nuôi lợn không những đáp ứng về số lượng mà phải đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về khẩu vị người tiêu dùng Để đáp ứng nhu cầu trên ngành chăn nuôi lợn có nhiều mô hình khác nhau, nhưng để đem lại hiệu quả kinh tế cao thì chúng ta phải kể đến mô hình chăn nuôi công nghiệp
Hải Dương là một tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, Việt Nam Hải Dương nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, khí hậu thời tiết thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Vùng đất Hải Dương đã luôn gắn bó với ngành chăn nuôi từ lâu, đặc biệt là ngành chăn nuôi lợn Từ xưa, chăn nuôi lợn chủ yếu được phát triển theo
mô hình chăn nuôi nhỏ lẻ, tận dụng các phế phẩm nông nghiệp Cho đến nay, chăn nuôi lợn dần được thay thế theo mô hình chăn nuôi tập trung tại các trang trại với số lượng lớn, kỹ thuật dần được nâng cao hơn Cùng với nhu cầu sử dụng thịt lợn ngày càng tăng cao, chăn nuôi lợn nái ngoại sinh sản cũng không ngừng phát triển nhằm đáp ứng đủ số lượng con giống
Tuy nhiên, trong chăn nuôi lợn nói chung và nuôi lợn nái ngoại nói riêng, dịch bệnh vẫn thường xuyên xảy ra gây thiệt hại lớn Hiện nay, trong số các bệnh thường gặp chúng tôi đặc biệt quan tâm đến bệnh Viêm tử cung trên lợn, bệnh đang khá phổ biến và ngày càng trở thành một nỗi lo đáng ngại, chúng gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, sức sinh sản, khả năng duy trì nòi giống và hiệu quả chăn nuôi
Bệnh Viêm tử cung không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của lợn mẹ mà còn gây mất sữa ở lợn mẹ, lợn con thiếu sữa sẽ còi cọc, dễ mắc các bệnh về đường hô hấp, tiêu hóa từ đó làm tăng tỷ lệ tử vong ở đàn lợn con Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, bệnh Viêm tử cung có thể dẫn đến các bệnh kế phát như Viêm vú, Rối loạn sinh sản, Chậm sinh, Vô sinh phải loại thải nái ngoại sinh sản
Trang 8Từ những vấn đề trên, việc nghiên cứu bệnh Viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại nuôi theo mô hình trang trại và tìm ra các biện pháp trị bệnh là rất cần thiết
Chính vì mục đích quan trọng đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Thực trạng bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái ngoại nuôi theo mô hình trang trại tại huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương và thử nghiệm điều trị"
- Xác định được thành phần vi khuẩn trong dịch rỉ viêm
- Đưa ra được một số phác đồ điều trị bệnh Viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn cái
Cơ quan sinh dục của lợn cái được chia thành hai bộ phận: Bộ phận sinh dục bên trong (buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo) và bộ phận sinh dục bên ngoài (tiền đình, âm hộ, âm vật)
1.1.1 B ộ phận sinh dục bên trong
a Buồng trứng (Ovarium)
Buồng trứng của lợn gồm một đôi nằm trong xoang chậu, được treo ở cạnh trước dây chằng rộng và các mạch quản nuôi dưỡng Buồng trứng bị giữ chặt lại ở đầu trước sừng tử cung nhờ một dây thừng gồm nhiều sợi cơ trơn gọi là dây chằng buồng trứng hay dây chằng tử cung - buồng trứng
Buồng trứng được bao bọc bởi một màng liên kết sợi chắc như màng bọc dịch hoàn Bên trong mô buồng trứng gồm hai miền: Miền vỏ và miền tủy Miền vỏ sinh ra các loại nang trứng (noãn bao) ở những giai đoạn phát triển khác nhau, mỗi nang trứng là một túi chứa tế bào trứng bên trong Miền tủy ở giữa buồng trứng gồm mô liên kết sợi xốp chứa các sợi cơ trơn, mạch máu, thần kinh và lâm ba (Phạm Thị Xuân Vân, 1982) Miền vỏ đặc biệt quan trọng đối với chức năng sinh dục, vì ở đó xảy ra quá trình trứng chín và rụng trứng Trên buồng trứng có các noãn bao ở các giai đoạn khác nhau, tầng ngoài cùng là những noãn bao sơ cấp phân bố tương đối đều, tầng trong là những noãn bao thứ cấp đang sinh trưởng, khi noãn bao chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng
Buồng trứng có hai chức năng cơ bản là tạo giao tử cái và tiết các hormon: oestrogen, progesterone, oxytoxin, relaxin và inhibin Các hormon này tham gia điều khiển chu kỳ sinh sản của lợn cái Oestrogen cần thiết cho sự phát triển của tử cung và hệ thống ống dẫn của tuyến vú Progesterone do thể vàng tiết ra duy trì sự mang thai do nó kích thích sự phân tiết của tử cung để nuôi dưỡng thai, ức chế sự co thắt của tử cung và phát triển nang tạo sữa của tuyến vú
Trang 10Oxytoxin được tiết chủ yếu bởi phần sau của tuyến yên nhưng cũng được tiết bởi thể vàng của buồng trứng khi lợn gần sinh, nó làm co thắt tử cung trong lúc sinh
đẻ và cũng làm co thắt cơ trơn của tuyến vú để thải sữa Ở lợn, relaxin do thể vàng tiết ra để gây giãn nở xương chậu, làm giãn và mềm cổ tử cung do đó mở rộng cơ quan sinh dục khi gần sinh Inhibin có tác dụng ức chế sự phân tiết FSH từ tuyến yên, do đó ức chế sự phát triển nang noãn theo chu kỳ (Trần Thị Dân, 2004)
b Ống dẫn trứng (Oviductus)
Theo Trần Tiến Dũng và cs., (2002), ống dẫn trứng còn gọi là vòi Fallop, nằm ở màng treo buồng trứng Một đầu của ống dẫn trứng thông với xoang bụng, gần sát buồng trứng có hình loa kèn, trên loa kèn hình thành một cái tán rộng và lô nhô không đều Đầu còn lại của ống dẫn trứng thông với mút sừng tử cung, là một cái ống nhỏ ngoằn ngoèo Cấu tạo ống dẫn trứng chia thành 3 lớp: lớp ngoài là lớp sợi liên kết, lớp giữa là lớp cơ, lớp trong là lớp niêm mạc
Ống dẫn trứng có đường kính rất nhỏ, chỉ to lên về kích thước vào thời kỳ con cái động dục và đón nhận trứng Phần loa kèn có chức năng hứng trứng khi trứng rụng và đưa vào trong ống dẫn trứng Ống dẫn trứng tiết ra dịch tiết; nhu động của lông mao ở thành ống dẫn trứng giúp tinh trùng và trứng tiến gần nhau, hoạt hoá hai tế bào ở đó Ống dẫn trứng là nơi thụ tinh (1/3 phần trên ống dẫn trứng) Khả năng nhu động của cơ thành ống dẫn trứng giúp trứng đã thụ tinh di chuyển đến tử cung và làm tổ ở đó
c Tử cung (Uterus)
Tử cung là nơi làm tổ của hợp tử, nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và niệu đạo trong xoang chậu Tử cung được cố định tại chỗ nhờ sự bám của âm đạo vào cổ tử cung và được giữ bởi các dây chằng
Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép, gồm 2 sừng thông với một thân và
cổ tử cung: sừng tử cung dài 50 - 1000cm, hình ruột non, thông với ống dẫn trứng
Thân tử cung rất ngắn chỉ dài 3 - 5cm Cổ tử cung lợn dài 10 - 18cm, có thành dày, hình trụ, có các cột thịt xếp theo kiểu cài răng lược, thông với âm đạo
Vách tử cung gồm 3 lớp từ ngoài vào trong: Lớp tương mạc, lớp cơ trơn, lớp nội mạc
Trang 11- Lớp tương mạc là lớp màng sợi dai, chắc, phủ mặt ngoài tử cung và nối tiếp vào hệ thống dây chằng
- Lớp cơ trơn gồm cơ vòng rất dày ở trong, cơ dọc mỏng hơn ở ngoài Giữa 2 tầng cơ chứa tổ chức liên kết sợi đàn hồi và mạch quản, đặc biệt là nhiều tĩnh mạch lớn Ngoài ra, các bó sợi cơ trơn đan vào nhau theo mọi hướng làm thành mạng vừa dày vừa chắc Cơ trơn là lớp cơ dày và khoẻ nhất trong cơ thể Do vậy, nó có đặc tính co thắt (Đặng Đình Tín, 1986)
Theo Trần Thị Dân (2004), trương lực co càng cao (tử cung trở nên cứng), khi có nhiều oestrogen trong máu và trương lực co giảm (tử cung mềm) khi có nhiều progesterone trong máu Vai trò của cơ tử cung là góp phần vào sự di chuyển của tinh trùng và chất nhày trong tử cung, đồng thời đẩy thai ra ngoài khi sinh đẻ Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của progesterone, nhờ vậy phôi thai có thể bám chắc vào tử cung
- Lớp nội mạc tử cung là lớp niêm mạc màu hồng được phủ bởi một lớp tế bào biểu mô hình trụ, xen kẽ có các ống đổ của các tuyến nhày tử cung Nhiều tế bào biểu mô kéo dài thành lông rung, khi lông rung động thì gạt những chất nhày tiết ra về phía cổ tử cung Trên niêm mạc có các nếp gấp Lớp nội mạc tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển và duy trì sự sống của tinh trùng trong thời gian di chuyển đến ống dẫn trứng Dưới ảnh hưởng của oestrogen, các tuyến tử cung phát triển từ lớp màng nhày, xâm nhập vào lớp dưới màng nhày và cuộn lại Tuy nhiên, các tuyến chỉ đạt được khả năng phân tiết tối đa khi có tác dụng của progesterone Sự phân tiết của tuyến tử cung thay đổi tuỳ theo giai đoạn của chu kỳ động dục
d Âm đạo (Vagina)
Là ống đi từ cổ tử cung đến âm hộ Đầu trước âm đạo dính vào cổ tử cung, đầu sau thông ra tiền đình, giữa âm đạo và tiền đình có nếp gấp niêm mạc gọi là màng trinh đậy lỗ âm đạo
Âm đạo là một ống tròn chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối, đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ và là ống thải các chất dịch từ tử cung
Trang 12Âm đạo có cấu tạo gồm 3 lớp:
- Lớp liên kết ở ngoài
- Lớp cơ trơn có cơ dọc bên ngoài, cơ vòng bên trong Các lớp cơ âm đạo liên kết với các cơ ở cổ tử cung
- Lớp niêm mạc âm đạo ở trên bề mặt có nhiều thượng bì gấp nếp dọc
Âm đạo là cơ quan giao cấu, nơi tinh dịch được phóng ra và đọng lại ở đó Theo Đặng Đình Tín (1986), âm đạo lợn dài 10-12cm
1.1.2 C ơ quan sinh dục bên ngoài
a Tiền đình (Vestibulum vaginae)
Là phần lõm phình ra ngăn cách giữa âm đạo và âm hộ Tiền đình bao gồm:
- Màng trinh là một nếp gấp gồm hai lá niêm mạc Ở giữa có sợi đàn hồi, ở trước nhìn vào âm đạo, ở sau liên quan với âm hộ
- Lỗ niệu đạo ở sau màng trinh
- Hành tiền đình là 2 tạng cương ở 2 bên lỗ niệu đạo, cấu tạo tương tự giống như thể hổng ở bao dương vật của con đực nhưng bị âm đạo tách ra làm đôi Ngoài
ra tiền đình còn có một số ít tuyến tiền đình ở phần bụng Tuyến này sắp thành hai hàng chéo hướng về âm vật
b Âm hộ (Vulva)
Âm hộ của lợn nằm dưới hậu môn và ngăn cách với nó bởi vùng hội âm, bao gồm hai môi lớn và hai môi nhỏ
Hai môi lớn nằm ngoài cùng, đối xứng về hai phía, hình trái tim hay lá trầu,
có sắc tố đen Vào thời kỳ động dục và khi sắp đẻ, hai môi lớn sung huyết, mọng nước, sưng to hơn bình thường và có màu hồng tươi Cuối thời kỳ động dục và khi
đã đẻ xong, hai môi lớn hết sung huyết, nhỏ dần và thâm lại Dưới niêm mạc của hai môi lớn có nhiều tuyến tiết mồ hôi và chất nhờn
Phía trong của hai môi lớn là hai môi nhỏ, luôn có màu hồng tươi tắn và sự mềm mại được giữ thường xuyên bởi dịch nhờn Phía trên của hai môi nhỏ thu hẹp dần, các nếp gấp xếp lại hình thành nên âm vật (Clitoris)
Khoảng giữa của âm hộ có lỗ thông với âm đạo gọi là âm môn (khe sinh dục, cửa mình)
Trang 13c Âm vật (Clitoris)
Âm vật có cấu tạo tương tự giống như dương vật nhưng thu nhỏ lại Dài khoảng 4-5 cm Trên âm vật có nếp da tạo thành mũ âm vật, phía dưới bẻ quặp xuống là nơi tập trung nhiều đầu mút dây thần kinh Âm vật được phủ bởi lớp niêm mạc có chứa các đầu mút thần kinh cảm giác, lớp thể hổng và tổ chức liên kết bao bọc gọi là mạc âm vật Về cấu tạo, âm vật có da, lớp tế bào và mạc âm vật
1.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn cái
Đặc điểm sinh lý sinh dục của gia súc nói chung và loài lợn nói riêng đặc trưng cho loài, có tính ổn định với từng giống vật nuôi Những đặc điểm đó được duy trì qua các thế hệ và luôn củng cố, hoàn thiện thông qua quá trình chọn lọc Ngoài
ra đặc điểm sinh lý sinh dục còn chịu ảnh hưởng của một số yếu tố như: Ngoại cảnh, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, sử dụng,…Để đánh giá đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái, người ta thường tập trung nghiên cứu các chỉ tiêu theo dõi sau đây:
1.2.1 S ự thành thục về tính
Thành thục về tính là tuổi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Lúc này cơ quan sinh dục như buồng trứng, tử cung, âm đạo,… của con cái đã phát triển tương đối hoàn chỉnh để bắt đầu bước vào hoạt động sinh sản Các đặc tính sinh dục phụ xuất hiện đầy đủ, trứng rụng lần đầu có khả năng thụ thai, lúc này con vật có phản xạ sinh dục hay xuất hiện động dục
Theo A.A Xuxoep (1985), sự thành thục về tính của gia súc được đặc trưng bởi hàng loạt những thay đổi bên trong và bên ngoài cơ thể, đặc biệt là sự biến đổi bên trong của cơ quan sinh dục Sự thành thục về tính có ý nghĩa rất lớn, là điều kiện cho sinh sản, một bản năng của gia súc cái
Tùy thuộc vào từng loài gia súc khác nhau mà thời gian thành thục về tính khác nhau Thời gian thành thục về tính của lợn cái khoảng 6 tháng, giới hạn giao động 4-8 tháng Ngoài ra thành thục về tính còn phụ thuộc vào giống, thời tiết khí hậu, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, cá thể,… và chịu sự chi phối điều khiển của thần kinh, thể dịch
Trang 14Mặt khác, tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi tuổi thành thục về thể vóc, nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớn lên Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi, không nên cho gia súc sinh sản quá sớm vì: Nếu phối giống sớm khi cơ thể mẹ chưa thành thục về thể vóc sẽ có ảnh hưởng xấu như trong thời gian có chửa có sự phân tán chất dinh dưỡng ưu tiên cho
sự phát triển bào thai, ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cơ thể mẹ do đó sự phát triển của bào thai cũng bị ảnh hưởng Kết quả mẹ yếu, con nhỏ Ngược lại cũng không nên cho gia súc phối giống quá muộn vì ảnh hưởng tới thế hệ sau của chúng
1.2.2 Sinh lý quá trình th ụ tinh
Khi gia súc đã thành thục về tính thì những biểu hiện về sinh dục của con đực và con cái ngày càng mạnh mẽ Quá trình thụ tinh xảy ra khi tế bào trứng gặp tinh trùng, tạo ra một sự kết hợp phức tạp giữa hai loại tế bào sinh dục đực và tế bào sinh dục cái Có hai hình thức thụ tinh là thụ tinh trực tiếp và thụ tinh nhân tạo Theo Trần Tiến Dũng và cs., (2002), thụ tinh trực tiếp là quá trình giao phối giữa gia súc đực và gia súc cái, tinh dịch của con đực đi vào đường sinh dục con cái để tế bào trứng và tinh trùng kết hợp với nhau ở 1/3 phía trên ống dẫn trứng tạo ra một tế bào mới là hợp tử Thụ tinh nhân tạo là trường hợp dùng tinh dịch của con đực đã pha loãng bơm vào đường sinh dục của con cái để tinh trùng kết hợp với trứng tạo thành hợp tử
Trong chăn nuôi, phương pháp thụ tinh nhân tạo đã cải tạo được giống gia súc, giảm số đầu giống vật nuôi, nâng cao hiệu suất sử dụng đực giống, phòng các bệnh truyền lây qua tiếp xúc Đây là biện pháp kỹ thuật hữu hiệu để thúc đẩy nghành chăn nuôi phát triển Tuy nhiên, nếu công tác chăm sóc thú y kém nó sẽ là con dao hai lưỡi
1.2.3 Sinh lý quá trình mang thai
Mang thai là một hiện tượng sinh lý đặc biệt của cơ thể cái, nó được bắt đầu
từ khi thụ tinh cho đến khi sinh đẻ xong
Sau khi thụ tinh, hợp tử làm tổ ở 2 sừng tử cung và phát triển thành thai Thời gian mang thai của lợn khoảng 110-118 ngày, trung bình là 114 ngày (Trần
Trang 15Tiến Dũng và cs., 2002) Cùng với quá trình phát triển của bào thai, nhau thai, thể vàng, cơ quan sinh dục nói riêng và toàn bộ cơ thể mẹ nói chung xuất hiện nhiều biến đổi sinh lý khác nhau Những biến đổi đó là điều kiện cần thiết để bào thai được hình thành, phát triển trong tử cung và quá trình sinh đẻ được bình thường
Khi gia súc có thai, kích tố của thể vàng và nhau thai làm thay đổi cơ năng hoạt động của một số tuyến nội tiết khác Trong quá trình bào thai phát triển, nhất là giai đoạn sau, nếu khẩu phần ăn của mẹ không đảm bảo đầy đủ đạm, khoáng, nguyên tố vi lượng, vitamin thì không những bào thai phát triển không bình thường
mà sức khoẻ con mẹ nói chung cũng giảm sút nhiều (Trần Tiến Dũng và cs., 2002)
Khi gia súc có thai, toàn bộ tử cung xuất hiện những thay đổi về cấu tạo, tính chất, vị trí, khối lượng, thể tích, Dây chằng tử cung được dài ra nên đầu mút sừng
tử cung và buồng trứng được đưa về phía trước và phía dưới Hệ tuần hoàn ở cơ quan sinh dục được tăng cường, lượng máu đến cung cấp cho niêm mạc tử cung rất nhiều nên niêm mạc được phát triển và dày lên Niêm mạc tử cung hình thành nhau
mẹ Khối lượng tử cung khi có thai tăng gấp 5-20 lần so với khi không có thai, kích thước và thể tích tăng gấp hàng trăm lần Mỗi một tế bào được phát triển dài thêm 7-11 lần và dày hơn 3-5 lần so với khi không có thai Ở lợn mức độ phát triển và tăng sinh của tử cung phụ thuộc vào số lượng của bào thai và thường là phát triển ở
cả hai sừng (Trần Tiến Dũng và cs., 2002)
Cổ tử cung có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ bào thai phát triển bình thường Cổ tử cung được khép kín hoàn toàn, niêm mạc và các nếp nhăn phát triển dày lên Những tế bào thượng bì đơn tiết tăng cường tiết dịch đặc, có tác dụng đóng nút cổ tử cung Niêm dịch này lúc đầu có màu trắng trong, về sau chuyển thành màu vàng nâu, số lượng và độ dính cũng được tăng dần, có phản ứng toan yếu Ngoài ra, trong thời gian có thai, ống dẫn trứng hầu như không được phát triển to lên, nó có tính chất đặc biệt là thay đổi về mặt cấu tạo tổ chức học, các nếp nhăn niêm mạc được co nhỏ lại, niêm mạc xung huyết và lòng ống được mở rộng
Trang 161.2.4 Sinh lý quá trình đẻ
Theo Trần Tiến Dũng và cs., (2002), gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tùy từng loài gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ, dưới tác động của hệ thống thần kinh - thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài, quá trình này gọi là quá trình sinh đẻ
Khi gần đẻ con cái sẽ có các triệu chứng biểu hiện: trước khi đẻ 1 - 2 tuần, nút niêm dịch ở cổ tử cung, đường sinh dục lỏng, sánh dính và chảy ra ngoài Trước khi đẻ 1 - 2 ngày, cơ quan sinh dục bên ngoài bắt đầu có những thay đổi: âm môn phù to, nhão ra và sung huyết nhẹ, đầu núm vú to, bầu vú căng to, sữa bắt đầu tiết
Quá trình sinh đẻ của gia súc cái do co bóp của tử cung, cơ thành bụng, sức rặn toàn thân đẩy thai, màng nhau thai cùng với nước thai ra ngoài Qúa trình sinh
đẻ được chia ra 3 thời kỳ
Thời kỳ mở cổ tử cung: Thời kỳ này bắt đầu từ khi tử cung có cơn co bóp đầu tiên đến khi cổ tử cung mở ra hoàn toàn Ở lợn nái, thời kỳ mở cổ tử cung kéo dài từ 3-4 giờ, đối với lợn nái đẻ lứa đầu thì thời kỳ mở cổ tử cung ngắn hơn
Thời kỳ đẻ: Bắt đầu từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn và kết thúc khi thai lọt ra ngoài Thời gian đẻ của lợn phụ thuộc vào khoảng cách các thai ra và số lượng thai trong tử cung gia súc mẹ
Thời kỳ sổ nhau: Khi thai đã thành thục thì quan hệ sinh lý giữa mẹ và nhau thai không còn cần thiết nữa, lúc này thai đã trở thành như một ngoại vật trong tử cung nên được đưa ra ngoài bằng động tác đẻ Sau khi thai lọt ra khỏi đường sinh dục gia súc mẹ một thời gian, con mẹ trở nên yên tĩnh nhưng tử cung vẫn co bóp và tiếp tục những cơn rặn, mỗi lần co bóp từ 1,5 - 2,0 phút, thời gian giữa 2 lần co bóp
là 2 phút, nhưng cường độ yếu hơn Sau khi sổ thai khoảng 2 - 3 giờ tử cung co nhỏ lại, thành tử cung dày, trên bề mặt có nhiều nếp nhăn Trong thời gian này tử cung tiếp tục co bóp và thu nhỏ dần về thể tích, nhưng màng niệu và màng nhung mao thì không co lại được nên tử cung đẩy ra ngoài Trong quá trình đẩy màng nhau thai ra,
do đặc tính của tử cung co bóp từ mút sừng tử cung cho đến thân tử cung, nên màng nhau thai bong ra sẽ được lộn trái, phần ở mút sừng tử cung ra trước sau đó bong
Trang 17dần xuống sừng tử cung, thân tử cung và ra ngoài Sau khi thai ra hết toàn bộ khoảng 10-15 phút nhau thai mới ra Sau khi đẻ một thời gian niêm mạc tử cung có hiện tượng tái sinh Trong vòng vài ngày đầu sau khi đẻ, sản dịch chảy ra có màu hồng rồi chuyển sang vàng nhạt sau cùng là trong suốt, sản dịch hết sau khi đẻ 2-3 ngày Lúc đầu sản dịch chảy ra không có vi khuẩn, về sau sản dịch chảy ra có vi khuẩn xâm nhập nhưng cơ thể mẹ không có biến đổi, nhưng nếu sản dịch chảy ra kéo dài thì tử cung sẽ bị bệnh
Sau khi đẻ thể tích tử cung nhỏ lại, thành tử cung dày lên, sự biến đổi này là
do các sợi cơ co lại, các tổ chức liên kết biến đổi Hai sừng tử cung buông thõng vào xoang bụng, độ cong của tử cung cũng không rõ như gia súc đẻ ít lần hoặc chưa
đẻ lần nào Do đó những gia súc già yếu, đẻ nhiều lần thì tử cung co lại rất kém
Thời gian đẻ kéo dài hay ngắn tùy từng loài gia súc, ở lợn thường từ 2 - 6 giờ,
nó được tính từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn đến khi bào thai cuối cùng ra ngoài
Cơ chế điều khiển quá trình đẻ được tóm tắt theo sơ đồ:
Hình1.1 Sơ đồ cơ chế thần kinh - thể dịch điều khiển quá trình đẻ
Ngoại cảnh kích thích Vỏ não Ngoại cảnh ức chế
Vùng dưới đồi Thùy trước tuyến yên
Trang 181.3 Bệnh Viêm tử cung ở lợn nái (Metritis)
1.3.1 Nguyên nhân c ủa bệnh Viêm tử cung
Theo Đặng Thanh Tùng (2006), viêm tử cung ở lợn nái là một trong những tổn thương cơ quan sinh dục của lợn nái sau khi sinh, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa, lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng, chậm phát triển Lợn nái chậm động dục trở lại, không thụ thai, có thể dẫn đến vô sinh, mất khả năng sinh sản
Cũng theo Đặng Thanh Tùng (2006), bệnh Viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau
- Thiếu sót về dinh dưỡng quản lý
+ Khẩu phần thiếu hay thừa protein trước hoặc trong thời kỳ mang thai ảnh hưởng đến viêm tử cung
+ Lợn nái sử dụng quá nhiều tinh bột, gây đẻ khó, phải can thiệp bằng tay gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng viêm tử cung kế phát
+ Ngược lại thiếu dinh dưỡng, lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm không chống lại được sự xâm nhập của vi trùng cũng gây viêm tử cung
- Tiểu khí hậu chuồng nuôi
+ Thời tiết quá nóng hay quá lạnh trong thời gian đẻ cũng dễ đưa đến viêm
tử cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs., (2002), viêm tử cung là một quá trình vật lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái
Theo các tác giả Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng (2000), bệnh Viêm tử cung xảy ra do các nguyên nhân sau
Trang 19- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây sát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được
vô trùng khi phối giống có thể đưa vi khuẩn từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm
- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho con khoẻ
- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau, xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung
- Do kế phát từ các bệnh truyền nhiễm như Sẩy thai truyền nhiễm, Phó thương hàn, bệnh Lao, gây viêm
- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước, trong và sau
đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện xâm nhập vào gây viêm
Ngoài các nguyên nhân trên viêm tử cung còn có thể là biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gian động dục (vì lúc đó
cổ tử cung mở), vi khuẩn xâm nhập vào tử cung theo đường máu và Viêm tử cung
là một trong những triệu chứng lâm sàng chung (Lê Văn Năm, 1997)
Theo F Mada và C Neva (1995), bệnh Viêm tử cung và các bệnh ở đường tiết niệu có mối quan hệ với nhau, vi khuẩn trong nước tiểu cũng phát triển trong
âm đạo và việc gây viêm ngược lên tử cung là rất dễ xảy ra Nhiễm khuẩn tử cung qua đường máu là do vi khuẩn sinh trưởng ở một cơ quan nào đó có kèm theo bại huyết, do vậy có trường hợp lợn hậu bị chưa phối đã bị Viêm tử cung
1.3.2 H ậu quả của bệnh Viêm tử cung
Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ và được đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản Hậu quả của Viêm tử cung làm cổ tử cung bị tắc, khi gia súc động dục niêm dịch không thoát ra được
Trang 20Theo Trần Tiến Dũng và cs., (2002); Trần Thị Dân (2004), khi lợn nái bị Viêm tử cung sẽ dẫn đến một số hậu quả sau
Sảy thai: Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai sự
co thắt của cơ tử cung giảm dưới tác dụng của progesteron, nhờ vậy phôi có thể bám chặt vào tử cung
Khi bị Viêm tử cung cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiều prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng
Thể vàng bị phá huỷ, không tiết progesteron nữa, do đó hàm lượng progesteron trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực cơ của tử cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai
- Lợn mẹ bị viêm tử cung, bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng progesteron giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung giảm, do đó bào thai nhận được ít, thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ mẹ nên phát triển kém hoặc thai chết lưu
- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường
sinh dục thường có mặt của vi khuẩn E coli Vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức
chế sự phân tiết kích tố tạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa thay đổi nên lợn con bị tiêu chảy, còi cọc
- Lợn nái bị viêm tử cung mạn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại Nếu tử cung bị viêm mạn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thể vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết progesteron
Progesteron ức chế thùy trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại được
Trang 21Theo F Madec và C Neva (1995), ảnh hưởng rõ nhất trên lâm sàng mà người chăn nuôi và bác sỹ thú y nhận thấy ở lợn Viêm tử cung lúc sinh đẻ là: chảy
mủ ở âm hộ, sốt, bỏ ăn Mặt khác, các quá trình bệnh lý xảy ra lúc sinh đẻ ảnh hưởng rất lớn tới năng suất sinh sản của lợn nái sau này Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Ngoài ra, viêm tử cung là một trong những nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con cai sữa thấp Đặc biệt, nếu Viêm tử cung kèm theo Viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng
1.3.3 Các th ể viêm tử cung
Theo Đặng Đình Tín (1986), bệnh Viêm tử cung thường được chia làm 3 thể: Viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung và thể viêm tương mạc tử cung
a Viêm nội mạc tử cung (Endometritis)
Theo Nguyễn Văn Thanh (1999); Black W.G (1983); Debois C.H.W (1989), viêm nội mạc tử cung là viêm tầng trong cùng, lớp niêm mạc của tử cung Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm khả năng sinh sản của gia súc cái, tăng các bệnh ở cơ quan sinh dục Bệnh viêm nội mạc tử cung thường xảy ra sau khi gia súc đẻ nhất là các trường hợp đẻ khó phải can thiệp làm cho niêm mạc
tử cung bị tổn thương Sau đó các vi khuẩn Streptococcus, Staphylococcus, E coli,
Brucella, Salmonella tác động gây viêm nội mạc tử cung
Theo Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (2000), bệnh Viêm nội mạc tử cung có thể chia làm 2 loại
Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ, chỉ gây tổn thương ở niêm mạc tử cung Ở thể viêm này thân nhiệt hơi cao, ăn kém, lượng sữa giảm Con vật
có trạng thái đau đớn nhẹ, có khi con vật cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh Từ
âm hộ chảy ra hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức chết Khi con vật nằm xuống dịch viêm thải ra ngày càng nhiều hơn
Trang 22- Viêm nội mạc tử cung thể màng giả, tổ chức niêm mạc đã bị hoại tử tổn thương lan sâu xuống dưới tầng cơ của tử cung và chuyển thành viêm hoại tử Ở thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử Con vật có triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt tăng cao, lượng sữa giảm, có khi hoàn toàn mất sữa, kế phát viêm vú, ăn uống giảm Con vật đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch: dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử, niêm dịch
b Viêm cơ tử cung (Myometritis puerperalis)
Viêm cơ tử cung là viêm tầng giữa, lớp cơ vòng và cơ dọc tử cung Bệnh thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung: Niêm mạc bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập, viêm phát triển sâu làm các tế bào tổ chức bị phân giải, hệ thống mạch quản và lâm ba quản bị tổn thương Các lớp cơ và một ít lớp tương mạc bị hoại tử
Theo Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (2000), lợn nái bị bệnh này thường biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: Thân nhiệt tăng cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm hoặc mất hẳn Mép âm đạo tím thẫm, niêm mạc âm đạo khô, nóng, màu đỏ thẫm Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu, lợn cợn mủ và những mảnh
tổ chức thối rữa nên có mùi tanh, thối Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ lần sau Có trường hợp điều trị khỏi nhưng gia súc vô sinh
c Viêm tương mạc tử cung (Perimetritis puerperalis )
Viêm tương mạc tử cung là viêm tầng ngoài cùng của tử cung, thường kế phát từ viêm cơ tử cung
Thể viêm này thường tiến triển cấp tính với các triệu chứng cục bộ và toàn thân điển hình Lúc đầu lớp tương mạc này có màu hồng rồi chuyển sang màu đỏ sẫm, rồi trở nên sần sùi, mất tình trơn bóng Các tế bào hoại tử bong ra, dịch thẩm xuất tăng tiết
Trang 23Trường hợp viêm nặng, lớp tương mạc dính với các tổ chức xung quanh dẫn đến viêm mô tử cung, viêm phúc mạc (Nguyễn Văn Thanh, 2009)
Theo Đặng Đình Tín (1986), lợn nái bị mắc thể bệnh này có biểu hiện triệu chứng toàn thân: Nhiệt độ tăng cao, mạch nhanh, con vật ủ rũ, mệt mỏi, uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn Lượng sữa rất ít hoặc mất hẳn, thường
kế phát viêm vú Con vật luôn biểu hiện trạng thái đau đớn khó chịu, lưng và đuôi cong rặn liên tục Từ âm hộ thải ra rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có màu nâu và mùi thối khắm, khi kích thích vào thành bụng thấy con vật phản xạ đau
rõ hơn, rặn nhanh hơn, từ âm hộ dịch chảy ra nhiều hơn Trường hợp một số vùng của tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì có thể phát hiện được trạng thái thay đổi về vị trí và hình dáng của tử cung, có khi không tìm thấy một hoặc hai buồng trứng
Thể viêm này thường kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm
mủ Nếu điều trị kịp thời thì bệnh thường chuyển thành thể viêm mạn tính, thành ngoài tử cung thường dính với các tổ chức xung quanh, vị trí các bộ phận của cơ quan sinh dục bị thay đổi, quá trình thụ tinh và sinh đẻ lần sau gặp nhiều khó khăn,
có thể dẫn đến tình trạng mất khả năng sinh sản
1.3.4 Ch ẩn đoán bệnh Viêm tử cung
Để chẩn đoán bệnh Viêm tử cung thường dựa vào những triệu chứng lâm sàng để chẩn đoán bệnh Ngoài ra, theo Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), lợn nái bị viêm tử cung còn có những biểu hiện mất sữa, âm đạo có những dịch tiết không bình thường 3-4 ngày sau khi đẻ Nếu sau khi đẻ, kiểm tra âm đạo sẽ thấy những miếng nhau thai sót hay thai chết lưu ở tử cung, mùi hôi đặc biệt
Theo F Madec và C Neva (1995), bệnh Viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động đực vì đây là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định, từ vài ml cho tới 200ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màu máu cá Người ta thấy rằng thời kỳ sau
Trang 24sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính, viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kỳ cho sữa Các hiện tượng chảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi bệnh viêm nội mạc tử cung
Tuy nhiên cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ đôi khi có những mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết tinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợn nái còn có thể do viêm bàng quang có mủ gây ra
Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ chảy ra thì có thể do Viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kì động đực thì có thể bị nhầm lẫn
Như vậy việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ ngoài việc kiểm tra mủ nên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặt khác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán cho chính xác Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu hậu quả do Viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm, từ đó đưa ra phác đồ điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất
Để chẩn đoán người ta dựa vào những triệu chứng điển hình ở cục bộ cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân như dịch viêm và thân nhiệt
Thân nhiệt là một trị số hằng định ở động vật cấp cao Theo Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), thân nhiệt của lợn bình thường trung bình là 39oC
Dịch viêm là sản phẩm được tiết ra tại ổ viêm bao gồm nước, thành phần hữu hình và các chất hòa tan
Trang 25Bảng 1.1 Các chỉ tiêu chẩn đoán Viêm tử cung
STT Các chỉ tiêu để
phân biệt Viêm nội mạc Viêm cơ
Viêm tương mạc
2 Màu dịch viêm Trắng xám, sữa Hồng, nâu đỏ Nâu, rỉ sắt
5 Phản ứng co cơ
tử cung Phản ứng co giảm
Phản ứng co rất yếu Phản ứng co mất
hoặc hoàn toàn
Bỏ ăn hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn Đối với lợn nái sau khi đẻ có thể dựa theo cách tính điểm dưới đây
Số ngày chảy mủ, được tính từ ngày đầu tới ngày thứ năm sau khi sinh, 1 ngày = 1 điểm
Bỏ ăn từ ngày đầu tới ngày thứ 5 sau khi sinh, 1 ngày = 1 điểm nếu bỏ ăn một phần tính ½ điểm
Ngưỡng thân nhiệt để tính sốt và số ngày bị sốt là 39,80C, 1ngày =1 điểm Tổng số điểm được dùng để đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh như sau Tổng số điểm < 1 điểm: không có vấn đề gì
Tổng số điểm từ 2-5 điểm: mắc bệnh nhẹ
Tổng số điểm > 6 điểm: bệnh nghiêm trọng
Do đó việc chẩn đoán bệnh Viêm tử cung đúng khoa học, thường xuyên phải theo dõi vì mủ chảy ra ở âm hộ chỉ mang tính chất thời điểm và có khi Viêm tử cung nhưng không sinh mủ
Trang 261.4 Một số vi khuẩn thường gặp ở dịch tử cung
Khi gia súc khỏe mạnh, cổ tử cung luôn đóng và ngăn chặn các quá trình nhiễm trùng từ bên ngoài xâm nhập vào cổ tử cung Sau khi đẻ, khi bị viêm, cổ tử cung thường mở Như vậy các vi khuẩn từ phía ngoài cơ quan sinh dục sẽ xâm nhập
vào bên trong tử cung lợn, lúc đó thường có mặt của các loại vi khuẩn E coli,
Staphylococcus, Streptococcus, Salmonella
1.4.1 Escherichia coli
* Đặc tính hình thái và tính chất bắt màu
E coli là trực khuẩn hình gậy ngắn, kích thước 2-3×0,6 µ Trong cơ thể có hình cầu trực khuẩn, đứng riêng lẻ đôi khi xếp thành chuỗi ngắn Có khi trong môi trường nuôi cấy thấy có những trực khuẩn dài 4-8µ, những loại này thường gặp trong canh khuẩn già
Phần lớn E coli di động do có lông ở xung quanh thân, nhưng một số không
thấy di động Vi khuẩn không sinh nha bào, có thể có giáp mô Vi khuẩn bắt màu Gram (–) (Nguyễn Như Thanh và cs., 2001)
* Đặc tính nuôi cấy
E coli là trực khuẩn hiếu khí và yếm khí tùy tiện, có thể sinh trưởng ở nhiệt
độ từ 5-400C, nhiệt độ thích hợp là 370C, pH thích hợp 7,2 - 7,4 phát triển được từ
pH =5,5-8
- Môi trường thạch thường: Sau 24h hình thành những khuẩn lạc tròn ướt, không trong suốt, màu tro trắng nhạt, hơi lồi, đường kính 2-3mm
- Môi trường Macconkey: Khuẩn lạc dạng S màu đỏ
- Môi trường Brilliant green agar: Khuẩn lạc dạng S có màu vàng chanh
1.4.2 Staphylococcus
* Hình thái và tính chất bắt màu
Staphylococcus là loại cầu khuẩn, bắt màu Gram (+), đường kính 0,7-1µ, không di động, không sinh nha bào và thường không có vỏ, không có lông
Trang 27- Môi trường thạch máu: Vi khuẩn mọc rất tốt, sau khi cấy 24h vi khuẩn hình thành những khuẩn lạc dạng S Nếu là tụ cầu gây bệnh sẽ gây hiện tượng dung huyết
- Môi trường thạch Sapman: Đây là môi trường đặc biệt dùng để nuôi cấy và phân lập tụ cầu Khi cấy tụ cầu vào môi trường thạch Sapman, nếu là tụ cầu gây bệnh sẽ lên men đường mannit làm pH thay đổi (pH=6,8); môi trường Sapman lúc này trở nên vàng Nếu là tụ cầu không gây bệnh sẽ không lên men đường mannit,
pH = 8,4 và môi trường Sapman sẽ có màu đỏ
- Môi trường gelatin: Cấy vi khuẩn theo đường cấy chích sâu, nuôi ở nhiệt độ
200oC, sau 2-3 ngày gelatin bị tan chảy trông giống dạng hình phễu
1.4.3 Streptococcus
* Hình thái và tính chất bắt màu
Streptococcus có hình cầu hoặc hình bầu dục, đường kính có khi 1µ, đôi khi
có vỏ bọc, bắt màu Gram (+), không di động Vi khuẩn đứng thành chuỗi, chiều dài của chuỗi tùy thuộc điều kiện môi trường (Nguyễn Như Thanh và cs., 2001)
* Đặc tính nuôi cấy
Là vi khuẩn hiếu khí hay yếm khí tùy tiện, thích hợp ở môi trường có nhiệt
độ 370C và pH = 7,2-7,6
Trang 28- Môi trường nước thịt: Vi khuẩn hình thành hạt hoặc những sợi bông, rồi lắng xuống đáy ống Vì vậy, sau 24h nuôi cấy môi trường trong, đáy ống có cặn
- Môi trường thạch thường: Vi khuẩn hình thành những khuẩn lạc dạng S, khuẩn lạc nhỏ tròn, lồi, bóng, màu hơi xám Khi làm tiêu bản liên cầu không xếp thành chuỗi dài mà xếp thành chuỗi ngắn
- Môi trường thạch máu: Khuẩn lạc có đường kính khoảng 1mm, gây dung huyết Trên môi trường này đặc điểm dung huyết khác nhau giữa các loại
Streptococcus phụ thuộc loại pepton sử dụng trong môi trường cơ bản
1.4.4 Salmonella
* Đặc tính hình thái và tính chất bắt màu
Là loại vi khuẩn hình gậy ngắn, 2 đầu tròn, kích thước 0,4-0,6×1-3µ, không
hình thành giáp mô và nha bào Đa số các loài Salmonella đều có khả năng di động
mạnh do có từ 7-12 lông xung quanh thân, bắt màu Gram (-) Khi nhuộm vi khuẩn bắt màu toàn thân hoặc đậm ở hai đầu
* Đặc tính nuôi cấy
Salmonella vừa hiếu khí, vừa kị khí không bắt buộc, dễ nuôi cấy, nhiệt độ thích hợp 370C nhưng có thể phát triển được từ 6-420C pH thích hợp = 7,6, phát triển được ở pH từ 6-9
- Môi trường nước thịt: Cấy vài giờ đã đục nhẹ, sau 18h đục đều, nuôi lâu ở đáy ống nghiệm có cặn, trên mặt môi trường có màng mỏng
- Môi trường thạch thường: Trên thạch thường vi khuẩn mọc thành các khuẩn lạc tròn, trong sáng hoặc xám, nhẵn bóng, hơi lồi lên ở giữa
- Môi trường brilliant agar: Khuẩn lạc dạng S màu đỏ
1.5 Thuốc kháng sinh trong phòng và điều trị bệnh sinh sản
Thuốc kháng sinh là những chất hữu cơ có cấu tạo hoá học phức tạp, phần lớn trong số đó lúc đầu do xạ khuẩn, vi khuẩn và nấm sản sinh ra Với các nồng độ thấp đã có tác dụng ức chế hay tiêu diệt sự sinh trưởng và phát triển của vi sinh vật gây bệnh, nhưng không hay rất ít gây độc cho người, gia súc, gia cầm
Trang 29Kháng sinh có thể làm thay đổi hình dạng, ức chế sự tổng hợp protein, kìm hãm sự tạo vách của vi khuẩn Ngược lại một số vi khuẩn có thể kháng với kháng sinh, thường do chúng đã tạo được các enzym huỷ kháng sinh Kháng sinh kìm khuẩn sẽ ức chế sự phát triển của vi khuẩn Kháng sinh diệt khuẩn sẽ huỷ hoại vĩnh viễn được vi khuẩn
Kháng sinh được phân loại theo nguồn gốc, theo hoạt phổ kháng khuẩn, theo mức độ tác dụng, theo cấu trúc hoá học Trong đó cách phân loại theo cấu trúc hoá học được sử dụng rộng rãi nhất vì hoạt phổ, mức độ, cơ chế tác dụng và cấu trúc hoá học gắn bó chặt chẽ với nhau Với cơ sở này, các loại kháng sinh được phân làm các nhóm sau
- Nhóm β-lactamin: Trong cấu trúc hoá học của nhóm này có một liên kết β
Lactamin Liên kết này rất yếu, dễ bị đứt bởi men penicillinaza và từ đó hoạt tính kháng sinh cũng giảm theo
Cơ chế tác dụng của kháng sinh thuộc nhóm này là tác dụng vào các quá trình cấu tạo nên vách tế bào vi khuẩn, các quá trình sinh tổng hợp nên các cấu tử của màng vi khuẩn, cụ thể là nó cản trở sự lắp ráp axit Diaminopimelic, cản trở sự
tiếp nhận Lizin Như vậy β-lactamin là nhóm kháng sinh vừa có tác dụng kìm
khuẩn, vừa có tác dụng diệt khuẩn
Nhóm này được phân thành hai phân nhóm chính: Penicilline và
Cephalosporin (Hoàng Tích Huyền, 1997); (Hoàng Thị Kim Huyền, 2001)
- Nhóm aminoglycosid (aminosid): Trong cấu trúc phân tử của kháng sinh thuộc nhóm này có đường đính theo nhóm amin Kích thước phân tử của nhóm này khá lớn, phân tử lượng trung bình 500-800 Do đó, khó hấp thu qua niêm mạc ruột vào máu Bởi vậy, cho uống có tác dụng điều trị bệnh nhiễm trùng đường ruột rất tốt nhưng nhiễm trùng máu hoặc các bộ phận khác của cơ thể thì phải tiêm
Cơ chế tác dụng của kháng sinh thuộc nhóm này là diệt khuẩn, ức chế sợ tổng hợp protein của vi khuẩn ở mức riboxom Ngoài ra còn các cơ chế khác nhau như: thay đổi tính thấm màng, hô hấp tế bào, đến DNA của vi khuẩn
Trang 30- Nhóm Chloramphenicol: Kháng sinh có hoạt phổ rộng tác dụng trên cả vi khuẩn Gram (-) và Gram (+)
Thuốc có tác dụng ức chế sự tổng hợp protein của vi khuẩn và hệ thống các
tế bào tự do Tuy nhiên hiện nay các kháng sinh thuộc nhóm này đã bị hạn chế sử dụng, 1 số cấm sử dụng do có khả năng gắn cả vào tiểu phần 70s của riboxom ở trẻ
sơ sinh gây còi cọc, chậm lớn, suy tuỷ không hồi phục ở gia súc non
- Nhóm tetracycline: Những chất có cấu tạo 4 vòng benzen, chỉ khác nhau ở các gốc gắn vào vòng
Cơ chế tác dụng của kháng sinh thuộc nhóm này là ức chế sự tổng hợp protein vi khuẩn gắn vào tiểu phần 30s, bao vây sự kết hợp của amino-acylt RNA vào vị trí nhận ở phức hợprRiboxom mRNA Tác dụng kìm khuẩn
- Nhóm polipeptid: Trong cấu trúc gồm các polipeptid
Cơ chế tác dụng của kháng sinh thuộc nhóm này là gắn vào lớp Phospholipid
ở màng vi khuẩn, làm các lớp màng của tế bào bị mất phương hướng Do vậy, chức năng làm hàng rào cản màng bị phá huỷ, cân bằng thẩm thấu thay đổi, các thành phần trong tế bào thoát ra làm vi khuẩn chết Hoạt phổ kháng khuẩn rộng, tuy nhiên khi sử dụng cần đề phòng độc với thận và suy hô hấp
- Nhóm macrolid: Nhóm kháng sinh có cấu trúc Aglycon, nhân Lacton, vòng gồm 12-19 carbon
Macrolid là nhóm kháng sinh vừa có tác dụng kìm khuẩn nhưng cũng có tác dụng diệt khuẩn với các chủng cầu khuẩn Gram (+) gây bệnh viêm nội tâm mạc,
nhiễm huyết cầu Nhóm macrolid còn đối kháng với nhóm β-lactamin và các kháng
sinh kìm khuẩn khác Thuốc ức chế tổng hợp Protein gắn vào tiểu phần 50s
Riboxom của vi sinh vật nhưng lại hiệp đồng với nhóm tetracyclin
Macrolid còn tạo ra “thời kỳ nghỉ của vi khuẩn” Sau khi tiếp xúc vài giờ với thuốc, macrolid sẽ tích luỹ trong nguyên sinh chất của vi khuẩn Lúc này vi khuẩn
sẽ không tiếp tục phát triển được nên mất khả năng gây bệnh
- Nhóm Sulphamid: Những loại thuốc hoá học trị liệu, bao gồm 1 nhóm có gốc chung là para-amino-benzen-sulfonamid
Trang 31Cơ chế tác động của nhóm này là cạnh tranh hoá học do cấu trúc hoá học và kích thước phân tử của chúng gần giống với PABA, do đó cạnh tranh với PABA ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp acid forlic (chất cần thiết cho quá trình phát triển của vi khuẩn) Nhóm này đối kháng với Novocain, tham gia vào phản ứng Axetyl hoá khi cho uống nên dễ gây sỏi thận
- Nhóm quinolon: Các kháng sinh loại quinolon gồm một nhóm thuốc có cấu trúc chung là dẫn xuất của acid 1,4-dihidro-4-oxo-3-quinolon cacboxylic
Cũng như các vi sinh vật khác, vi khuẩn cũng có khả năng thích nghi với các điều kiện sống, chính vì thế, việc sử dụng kháng sinh kéo dài và không đúng cách
đã tạo cho vi khuẩn có khả năng kháng thuốc Theo Bùi Thị Tho (2009), để phát huy tác dụng của kháng sinh trong điều trị, hạn chế các tác hại của thuốc, ngăn cản hiện tượng kháng thuốc cần tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc sau
- Chỉ sử dụng kháng sinh khi đã xác định căn nguyên gây bệnh là vi khuẩn hoặc trong trường hợp có nguy cơ nhiễm khuẩn cao (phẫu thuật)
- Phải biết lựa chọn kháng sinh hợp lý
- Phải nắm vững nguyên tắc khi cần thiết phải sử dụng phối hợp kháng sinh
- Phải sử dụng kháng sinh đúng thời gian và đủ liệu trình
- Cho thuốc sớm và dùng liều cao ngay từ đầu
Vậy nắm vững nguyên tắc khi sử dụng kháng sinh sẽ giúp cho quá trình điều trị lâm sàng trong việc lựa chọn và phối hợp kháng sinh khi kê đơn Đồng thời cũng góp phần không nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng và tiết kiệm thuốc
1.6 Sử dụng PGF2α trong điều trị viêm tử cung
Trong kỹ thuật điều khiển quá trình sinh sản ở gia súc, sử dụng các kích dục
tố đóng vai trò quyết định sự thành công của công nghệ sinh sản Một trong những kích dục tố đang thông dụng trên thế giới là prostaglandin F2α (PGF2α) Nhờ tác dụng kích thích trực tiếp đối với cơ quan sinh dục cũng như hệ thống điều kiển quá trình sinh sản của cơ thể gia súc mà PGF2α được sử dụng như một công cụ kỹ thuật đặc biệt của công nghệ sinh sản trong chăn nuôi gia súc, nhất là với gia súc lớn Trên thế giới PGF2α đã được nghiên cứu sử dụng một cách rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của công nghệ sinh sản và đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ
Trang 32Prostaglandin được phát hiện trong tinh dịch người vào năm 1935 bởi Eiler
Có giả thiết cho rằng nguồn gốc của prostaglandin từ tuyến tiền liệt (Prostaglandula) Sau đó với hàng loạt nghiên cứu, prostaglandin còn được phát hiện thấy trong nhiều tổ chức khí quan khác của cơ thể: nội mạc tử cung, các tuyến của tử cung, trong buồng trứng, tinh hoàn, trong nước ối của bào thai, trong mống mắt, trong đại não, tủy sống, thận, lá lách, phổi, thành ruột Do đó đến những năm gần đây, cái tên ban đầu hầu như không còn hàm nghĩa, nhưng do thói quen, thuật ngữ Prostaglandin vẫn được sử dụng
Công thức hóa học của PGF2α là C20H34O5 Tác dụng chính của PGF2α là
làm thoái hóa thể vàng, giảm hàm lượng progesterone trong máu, kích thích bài tiết gonadotrompin, kích thích phát triển nang trứng gây động dục và rụng trứng PGF2α không có hiệu lực khi dùng cho gia súc không có thể vàng Do đó, nó ít được dùng cho gia súc nuôi con vì phần lớn những gia súc này không có khả năng động dục trước ngày thứ 50 sau khi đẻ Những lợn nái bị viêm tử cung có thể dùng PGF2α để điều trị Nhờ tác động của PGF2α, tử cung nhu động, co bóp, tống chất bẩn trong tử cung ra ngoài, đồng thời giúp cho sự hoạt động của bộ máy sinh dục trở lại bình thường Tỷ lệ khỏi viêm đạt 70 - 90%, cũng có thể tiêm GnRH sau khi tiêm PGF2α được 48 giờ Từ năm 1966, PGF2α và các chất có tác dụng tương tự
đã được điều chế sản xuất và sử dụng rộng rãi ở các nước Anh, Mỹ, Hà lan,
Trang 331.7 Tình hình nghiên cứu bệnh Viêm tử cung trên thế giới và Việt Nam
1.7.1 Trên th ế giới
Qua các thời kỳ phát triển kinh tế đất nước, từng quốc gia trên thế giới đều tập trung chú trọng phát triển chăn nuôi Đặc biệt là chăn nuôi lợn, các nước không ngừng đầu tư cải tạo chất lượng đàn giống và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
để hạn chế dịch bệnh Trong đó hạn chế bệnh sinh sản là vấn đề đặt lên hàng đầu bởi có như vậy chất lượng đàn giống mới đạt kết quả tốt nhất
Viêm tử cung là một bệnh ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản của gia súc, do đó đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về bệnh Viêm tử cung và đã đưa ra các kết luận giúp người chăn nuôi lợn nái sinh sản hạn chế được bệnh này Tuy vậy, tỷ lệ viêm tử cung trên đàn lợn nái sinh sản vẫn rất cao
Theo A I Sobco và N.I Gadenko (1987), nguyên nhân của bệnh Viêm tử cung là do tử cung bị tổn thương, do hiện tượng sát nhau Bệnh phát triển là do nuôi dưỡng không đủ chất, do đưa vào đường sinh dục những chất kích thích đẻ, chúng phá hủy hoặc làm kết tủa chất nhày ở cơ quan sinh dục
Theo F Madec và C Neva (1995), hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lần động dục tiếp theo Có thể giải thích nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ từ đó giảm năng suất sinh sản
F Macdec khi nghiên cứu bệnh sinh thái 1991 trên số đàn lợn Brơ-ta-nhơ (pháp) với chủ đề bệnh lý sinh đẻ cho thấy 15% số lợn nái bị Viêm tử cung F Madec cho rằng, Viêm tử cung thường bắt đầu bằng sốt một vài giờ sau khi đẻ, chảy mủ ngày hôm sau và bệnh thường kéo dài từ 48-72h
Theo Mekay.W.M (1975), đo nhiệt độ lợn nái sau đẻ và đưa ra biện pháp phòng trị cho bất cứ lợn nái nào có nhiệt độ lớn hơn 39,5oC
1.7.2 T ại Việt Nam
Những năm gần đây, ngành chăn nuôi lợn ở nước ta phát triển mạnh mẽ, tăng nhanh về số đầu lợn, tuy nhiên, ngành chăn nuôi lợn còn gặp không ít khó khăn do dịch bệnh gây ra Trong đó có bệnh sinh sản, các công trình nghiên cứu về bệnh
Trang 34sinh sản, đặc biệt là viêm tử cung còn hạn chế do đó, tỷ lệ lợn nái mắc bệnh ngày càng gia tăng Do trình độ còn hạn chế, người chăn nuôi thường chủ quan với bệnh Theo Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002); PGS.TS Trần Thị Dân (2004) khi lợn nái bị bệnh Viêm tử cung sẽ dẫn tới một số
hậu quả chính sau
- Khi lợn bị bệnh Viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai
- Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt, khi mang thai, sự co thắt của
cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của progesterone, nhờ vậy phôi có thể bám chặt vào tử cung Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiều prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2αgây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng, làm chết tế bào và gây co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng, giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng, thể vàng
bị phá huỷ, không tiết progesterone, do đó hàm lượng progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai
Như vậy hậu quả của bệnh Viêm tử cung là rất lớn, để giảm tỷ lệ mắc bệnh, người chăn nuôi phải có những hiểu biết nhất định về bệnh, từ đó tìm ra biện pháp
để phòng và điều trị hiệu quả
Theo Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), bệnh Viêm tử cung ở lợn thường xảy ra sau khi đẻ, có thể xảy ra ở những lợn nái sau khi phối giống, rất ít xảy ra ở những lợn nái hậu bị
Theo Lê Xuân Cương (1986), lợn nái chậm sinh sản do nhiều nguyên nhân trong đó tổn thương bệnh lý sinh dục chiếm tỷ lệ đáng kể Đặc biệt các lợn nái đẻ khó cần áp dụng các thủ thuật ngoại khoa thì niêm mạc đường sinh dục rất dễ bị tổn thương và dẫn tới viêm tử cung
Theo Đặng Thanh Tùng (2006), hầu hết các trường hợp viêm tử cung đều có
sự xuất hiện của vi sinh vật cơ hội thường xuyên có mặt trong chuồng nuôi Lợi dụng lúc sinh sản, tử cung có nhiều sản dịch, vi trùng xâm nhập cơ quan sinh dục gây viêm tử cung
Trang 35Theo Nguyễn Văn Thanh (2003), tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung tương đối cao Bệnh thường tập trung ở đàn lợn nái đẻ lứa đầu hoặc đẻ nhiều lứa Khi thử nghiệm điều trị, tác giả nhận thấy răng PGF2α liều 25mg tiêm dưới da kết hợp với dung dịch lugol 0,1% thụt cho kết quả điều trị cao
Theo Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh (2010), tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại chủ yếu ở giai đoạn sau đẻ 57,14%, giai đoạn chờ phối 42,86%, thử nghiệm điều trị bằng tiêm dưới da amoxyl retart với liều 1ml/10kg thể trọng trước khi sinh và ngay sau khi sinh tiêm bắp oxytocin 2ml/con cho hiệu quả cao
Theo tác giả Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long và Nguyễn Văn Thanh (2002) khi gia súc bị bệnh Viêm tử cung ở thể viêm cơ, viêm tương mạc thì không nên tiến hành thụt rửa bằng các chất sát trùng với thể tích lớn Vì khi bị tổn thương nặng, cơ tử cung co bóp yếu, các chất bẩn không được đẩy ra ngoài, lưu cữu trong
đó làm cho bệnh nặng thêm Các tác giả đề nghị nên dùng oxytoxin hoặc PGF2α kết hợp với kháng sinh điều trị toàn thân và cục bộ
Theo Bùi Thị Tho, Trần Công Hoàn, Nguyễn Khắc Tích (1995), lợn Yorkshire, Landrace trong gia đoạn nuôi con chiếm tỷ lệ 15% Do chữa chạy kịp thời nên khỏi 100% xong đã ảnh hưởng xấu đến sức khỏe lợn nái, phần lớn là những trường hợp đẻ khó dẫn tới Viêm tử cung
Trang 36Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm nghiên cứu
Đàn lợn nái ngoại và đàn lợn con được sinh ra từ những lợn nái ngoại được nuôi ở các trang trại huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu 4 trang trại nuôi lợn nái ngoại Để tiện theo dõi và đánh giá chúng tôi quy định như sau:
- Trại A: Quy mô 150 nái; Chủ trại: Ông Hiển
Địa chỉ: Ấp dọn, xã Thái Dương, huyện Bình giang, tỉnh Hải Dương
- Trại B: Quy mô 120 nái; Chủ trại: Cô Lan
Địa chỉ: Mải Nhòi, thị trấn Phủ, huyện Bình giang, tỉnh Hải Dương
- Trại C: Quy mô 125 nái; Chủ trại: Ông Quỹ
Địa chỉ: Làng Cương, xã Thái Dương, huyện Bình giang, tỉnh Hải Dương
- Trại D: Quy mô 140 nái; Chủ trại: Ông Nhớ
Địa chỉ: Làng Toàn, xã Thúc Kháng, huyện Bình giang, tỉnh Hải Dương
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Xác định tỷ lệ mắc bệnh Viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại
- Tỷ lệ mắc bệnh chung
- Tỷ lệ mắc bệnh theo lứa đẻ
- Tỷ lệ mắc bệnh ở các giai đoạn sinh sản
2.2.2 Xác định ảnh hưởng của bệnh Viêm tử cung đến một số chỉ tiêu sinh sản của đàn lợn nái ngoại
2.2.3 S ự biến đổi về vi khuẩn học trong dịch tử cung của lợn nái ngoại
- Xác định thành phần các loại vi khuẩn trong dịch tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản bình thường và lợn nái ngoại mắc bệnh Viêm tử cung
- Làm kháng sinh đồ xác định tính mẫn cảm của các loại thuốc kháng sinh với các loại vi khuẩn có trong dịch viêm tử cung