Tuy nhiên trong quá trình trồng trọt thì trên cây đậu bắp lại bị nhiều loài sâu hại như rầy xanh hai chấm Amrasca devastans Distant, sâu khoang Spodoptera litura F., bọ trĩ Frankliniella
Trang 1MỤC LỤC
Lờı cam đoan i
Lờı cám ơn ii
Danh mục chữ vıết tắt trong luận văn vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình ảnh viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 3
2.1 Mục đích 3
2.2.Yêu cầu 3
3.Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 4
1.2.1 Thành phần sâu nhện hại cây đậu bắp 4
1.2.2 Phân bố ký chủ và tác hại của rầy xanh 2 chấm A devastans 5
1.2.3 Đặc điểm hình thái của rầy xanh 2 chấm A devastans 7
1.2.4 Đặc điểm sinh học của rầy xanh 2 chấm A devastans 7
1.2.5 Đặc điểm sinh thái học của rầy xanh 2 chấm A devastans 8
1.2.6 Biện pháp phòng chống rầy xanh 2 chấm A devastans 9
1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước 11
1.3.1.Thành phần sâu nhện hại cây đậu bắp 11
1.3.2 Những nghiên cứu về đặc điểm hình thái, tác hại, sinh học, của rầy xanh hai chấm A devastans hại bông 11
1.3.3 Những nghiên cứu về các loài thiên địch của rầy xanh hai chấm 13
1.3.4 Nghiên cứu biện pháp phòng trừ rầy xanh 2 chấm A.devastans 14
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
Trang 22.1 Địa điểm nghiên cứu 15
2.3 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu và dụng cụ thí nghiệm 15
2.5.1 Phương pháp điều tra thành phần sâu nhện hại và thiên địch của chúng trên cây đậu bắp 16 2.5.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của loài
rầy xanh hai chấm A devastans 16 2.5.3 Phương pháp điều tra diễn biến mật độ rầy xanh hai chấm A devastans
dưới ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái tại Quan Âm, Đông Anh, Hà Nội 18
2.5.4 Phương pháp nghiên cứu sự phân bố của rầy xanh hai chấm A devastans
2.5.5 Phương pháp đánh giá hiệu lực trừ rầy xanh hai chấm A devastans của một
số loại thuốc BVTV 20
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24
3.1 Thành phần sâu nhện hại và thiên địch trên đậu bắp vụ đông xuân 2014 – 2015 tại
3.1.2 Thành phần sâu và nhện hại trên đậu bắp năm 2014 – 2015 tại HTX Quan
3.1.3 Thành phần thiên địch trên cây đậu bắp trồng tại HTX Quan Âm năm 2014
3.2 Đặc điểm gây hại của rầy xanh hai chấm Amrasca devastans Distant trên cây đậu
Trang 33.3 Đặc điểm hình thái, sinh học của rầy xanh hai chấm Amrasca devastans Distant
3.3.1 Đặc điểm hình thái của rầy xanh hai chấm Amrasca devastans 31
3.3.2 Phân bố của rầy xanh hai chấm A devastans trên cây đậu bắp 33
3.3.3 Thành phần cây ký chủ của rầy xanh hai chấm A devastans 36
3.3.4 Thời gian phát triển các pha, vòng đời của rầy xanh hai chấm A
devastans 38
3.4 Diễn biến mật độ của rầy xanh hai chấm Amrasca devastans Distant dưới ảnh
hưởng của một số yếu tố sinh thái năm 2014 – 2015 tại Đông Anh, Hà Nội 42
3.4.1 Diễn biến số lượng rầy xanh hai chấm A devastans dưới ảnh hưởng của
3.4.2 Diễn biến số lượng rầy xanh hai chấm A devastans dưới ảnh hưởng của độ
3.5.2 Khảo sát hiệu lực trừ rầy xanh hai chấm A devastans của một số loại
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Các ký hiệu
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Thành phần sâu, nhện hại trên cây đậu bắp năm 2014 – 2015 tại HTX
Quan Âm, Đông Anh, Hà Nội 26
Bảng 3.2 Thành phần thiên địch trên cây đậu bắp năm 2014 – 2015 tại HTX
Quan Âm, Đông Anh, Hà Nội 28
Bảng 3.3 Triệu chứng gây hại của rầy xanh hai chấm A devastans trên lá đậu
bắp năm 2014 – 2015 tại Đông Anh, Hà Nội 30
Bảng 3.4 Kích thước các pha phát dục của rầy xanh hai chấm A devastans nuôi
trên lá đậu bắp tại nhiệt độ 23,58 ± 3,50C ẩm độ 87, 54 ± 3,55% 32
Bảng 3.5 Phân bố của rầy xanh hai chấm A devastans trên cây đậu bắp ở giai
đoạn phát triển thân lá năm 2014 tại Đông Anh, Hà Nội 34
Bảng 3.6 Phân bố của rầy xanh hai chấm A devastans trên cây đậu bắp ở giai
đoạn ra hoa – đậu quả năm 2014 – 2015 tại Đông Anh, Hà Nội 36
Bảng 3.7 Thành phần cây ký chủ của rầy xanh hai chấm A devastans năm 2014
- 2015 tại HTX Quan Âm, Đông Anh, Hà Nội 37
Bảng 3.8 Thời gian phát dục các pha của rầy xanh hai chấm A devastans nuôi
trên lá đậu bắp tại nhiệt độ 23,58 ± 3,5oC, ẩm độ 87,54 ± 3,55 % 39
Bảng 3.9 Sức sinh sản của rầy xanh hai chấm A devastans nuôi trên lá đậu bắp
ở nhiệt độ 24,07 ± 3,72oC, ẩm độ 90,85 ± 3,24 % 41
Bảng 3.10 Tỷ lệ đực:cái của rầy xanh hai chấm A devastans trên cây đậu bắp tại
HTX Quan Âm năm 2014 – 2015 41
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của công thức luân canh tới diễn biến mật độ rầy xanh hai
chấm A devastans trên cây đậu bắp tại HTX Quan Âm năm 2014 43
Bảng 3.12 Ảnh hưởng của chân đất trồng tới diễn biến mật độ của rầy xanh hai
chấm A devastans trên đậu bắp tại HTX Quan âm năm 2014 45
Bảng 3.13 Ảnh hưởng của vụ trồng đậu bắp tới diễn biến mật độ của rầy xanh
hai chấm A devastans 47
Bảng 3.14 Hiệu lực trừ rầy xanh hai chấm A devastans của 4 loại thuốc BVTV
trong phòng thí nghiệm 49
Bảng 3.15 Hiệu lực phòng trừ rầy xanh hai chấm A devastans của thuốc BVTV
tại HTX Quan Âm năm 2015 51
Trang 6DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Hình ảnh nuôi sinh học rầy xanh hai chấm trong phòng thí nghiệm 17
Hình 2.2 Hình ảnh thử thuốc trong phòng thí nghiệm trừ rầy xanh hai chấm hại cây đậu bắp 21
Hình 2.3 Sơ đồ ruộng thí nghiệm 22
Hình 2.4 Một vài hình ảnh thử thuốc ngoài đồng ruộng 23
Hình 3.1 Đặc điểm gây hại của rầy xanh hai chấm A devastans trên lá cây đậu
bắp 29
Hình 3.2 Hình thái các pha phát dục của rầy xanh hai chấm A devastans 33
Hình 3.3 Phân bố của rầy xanh hai chấm A devastans trên cây đậu bắp ở giai
đoạn phát triển thân lá năm 2014 tại Đông Anh, Hà Nội 35
Hình 3.4 Phân bố của rầy xanh hai chấm trên cây và trên lá đậu bắp 35
Hình 3.5 Phân bố của rầy xanh hai chấm A devastans trên cây đậu bắp ở giai
đoạn ra hoa – đậu quả năm 2014 – 2015 tại Đông Anh, Hà Nội 36
Hình 3.6 Diễn biến mật độ rầy xanh hai chấm A.devastans dưới ảnh hưởng của
yếu tố công thức luân canh 44
Hình 3.7 Ảnh hưởng của chân đất trồng tới diễn biến mật độ của rầy xanh hai
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây Đậu bắp (Abelmoschus esculentus) hay còn có tên gọi khác là mướp
tây Là cây dễ trồng, dễ chế biến và ăn ngon Đậu bắp chứa nhiều vitamin A, vitamin nhóm B (B1, B2, B6), vitamin C, các nguyên tố khoáng vi lượng như kẽm và Canxi Theo số liệu phân tích của Bộ Nông nghiệp Mỹ thì trong 100g đậu bắp tươi cung cấp năng lượng 31 kl.cal, canxi 81mg, kali 303 mg Đậu bắp là nguồn thực phẩm cung cấp nhiều chất xơ và là “bạn người có bầu” bởi rất giàu acid folic, loại vitamin rất cần thiết cho việc hình thành ống thần kinh của thai nhi Chất nhầy chất xơ trong đậu bắp giúp điều chỉnh lượng đường huyết Đậu bắp giúp cơ thể tái hấp thu nước, là thức ăn lý tưởng cho những người muốn giảm cân; giúp tổng hợp các vitamin nhóm B, có tác dụng ngang bằng với sữa chua, đậu bắp có tính nhuận tràng, có nhiều amino acid thiết yếu cho cơ thể như chất tryptophan tạo sự thoải mái tinh thần (Khuyết danh, 2015)
Ở nước ta, cây đậu bắp được trồng nhiều ở một số vùng như: Vĩnh Long, Sóc Trăng, Trà Vinh và diện tích đậu bắp trồng hiện đang được mở rộng Tại
Hà Nội, có rất ít những vùng trồng đậu bắp Cây đậu bắp được đưa vào trồng tại Đông Anh, Hà Nội từ những năm 1990 đậu bắp được trồng tập trung tại Hợp tác
xã Quan Âm, Bắc Hồng, Đông Anh, Hà Nội Tuy diện tích không lớn (khoảng 3 ha) chủ yếu là giống địa phương (giống đậu bắp xanh), nhưng cây đậu bắp là cây
dễ trồng, có giá trị kinh tế cao hơn nhiều so với cây lúa và các cây rau khác Diện tích tuy còn hạn chế nhưng có thể nhân rộng để trở thành vùng sản xuất tập trung
đủ cung cấp cho nhu cầu của các siêu thị, các nhà hàng, khách sạn trên địa bàn
Hà Nội Đậu bắp là cây trồng một lần trong năm và thu hoạch nhiều lần trong năm, sản lượng thu được rất đều trong các thời điểm, với giá bán 1kg đậu bắp thường giao động từ 10.000 đ – 20.000 đ/kg Thậm chí có thể lên tới 30.000 đ/kg Theo đánh giá của ban quản lý HTX Quan Âm so với các cây trồng khác hiệu quả kinh tế mà đậu bắp mang lại là rất cao: gấp 6,3 lần trồng lúa và gấp 1,75 lần so với trồng rau
Trang 8Tuy nhiên trong quá trình trồng trọt thì trên cây đậu bắp lại bị nhiều loài
sâu hại như rầy xanh hai chấm (Amrasca devastans Distant, sâu khoang (Spodoptera litura F.), bọ trĩ (Frankliniella intonsa Trybom)…trong đó loài gây hại thường xuyên nhất là loài rầy xanh hai chấm (Amrasca devastans Dist.),
chúng gây hại chủ yếu và xuất hiện thường xuyên trên đồng ruộng Trong những năm qua, việc phòng trừ sâu hại đậu bắp nói chung cũng như rầy xanh hai chấm nói riêng, người nông dân vẫn sử dụng chủ yếu là biện pháp hóa học Điều này không chỉ tốn kém về kinh tế mà còn ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người sản xuất, môi trường, làm mất cân bằng sinh học trong tự nhiên và giảm an toàn nông sản Để nhằm tăng năng suất, sản lượng của cây đậu bắp và góp phần hạn chế tác
hại của rầy xanh 2 chấm Amrasca devastans Distant, đồng thời khắc phục những
nhược điểm trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Thành phần sâu nhện
hại đậu bắp, đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp hóa học phòng chống
rầy xanh hai chấm Amrasca devastans Distant năm 2014 – 2015 tại Đông
Anh, Hà Nội”
Trang 92 Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích
Trên cơ sở điều tra thành phần sâu nhện hại và thiên địch của chúng trên cây đậu bắp tại địa điểm nghiên cứu, xác định đặc điểm hình thái, sinh học, sinh
thái của loài rầy xanh hai chấm A devastans và thử nghiệm một số loại thuốc
BVTV phòng chống chúng tại Đông Anh, Hà Nội làm cơ sở đề xuất biện pháp
quản lý rầy xanh hai chấm A devastans đạt hiệu quả
2.2 Yêu cầu
- Xác định thành phần sâu nhện hại và thiên địch của chúng trên cây đậu bắp tại Đông Anh, Hà Nội vụ Đông Xuân năm 2014 – 2015 và đánh giá tác hại
của rầy xanh hai chấm A devastans đối với cây đậu bắp
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học của loài rầy xanh hai chấm A
- Bổ xung thêm một số dẫn liệu về phân bố, tác hại đặc điểm sinh học,
sinh thái và biện pháp hóa học phòng chống rầy xanh hai chấm A devastans trên
cây đậu bắp
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Xác định được các ký chủ của rầy xanh hai chấm trên đồng ruộng, các yếu
tố ảnh hưởng tới diễn biến mật độ và sự phân bố của rầy xanh hai chấm từ đó đề xuất biện pháp quản lý tổng hợp rầy xanh hai chấm trên đồng ruộng nhằm hạn chế việc sử dụng thuốc BVTV của người nông môi trường
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Đậu bắp là cây trồng có giá trị dinh dưỡng cao, rất dễ trồng đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với các cây trồng khác như lúa, ngô Hiện nay ở nước ta diện tích trồng đậu bắp chủ yếu ở các tỉnh miền Nam, nhận thấy được lợi ích mà trồng đậu bắp đem lại mà trong những năm gần đây một số tỉnh khu vực miền bắc đã tập trung phát triển trồng cây đậu bắp nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân, đưa mặt hàng đậu bắp thành mặt hàng xuất khẩu như: Vĩnh Phúc, Hà Nam Tại Hà Nội diện tích trồng đậu bắp là không đáng kể chủ yếu ở khu vực Đông Anh, tại Đông Anh diện tích trồng cây đậu bắp còn nhỏ lẻ, chủ yếu do tự phát của người dân nên cây đậu bắp chưa thực sự phát huy được lợi ích cũng như lợi thế của nó so với các cây trồng khác
Trong sản xuất đậu bắp hiện nay, việc khó khăn nhất là phòng trừ các loài
sâu hại đặc biệt là loài rầy xanh hai chấm Amrasca devastans Distant Đây là loài
gây hại chủ yếu và khó phòng trừ nhất trên cây đậu bắp tại khu vực Đông Anh –
Hà Nội Vì vậy nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh thái của rầy xanh hai chấm trên cây đậu bắp nhằm tìm ra các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát sinh, phát triển của rầy xanh hai chấm trên đậu bắp, từ đó xây dựng biện pháp quản lý chúng một cách hiệu quả nhằm giảm số lần sử dụng thuốc BVTV mà vẫn đem lại hiệu quả về kinh tế và môi trường
1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.2.1 Thành phần sâu nhện hại cây đậu bắp
Ở Ấn Độ, trên đậu bắp đã phát hiện được 11 loài sâu gây hại, chúng thuộc
6 bộ, trong đó có các loài như: ruồi đục lá Liriomyza trifolii, bọ cánh cứng
Phyllotreta downsei , rầy xanh hai chấm Amrasca devastants, bọ phấn Bemisia
tabasi, rệp bông Aphis gossypii Trong đó loài rầy xanh hai chấm Amrasca
devastans xuất hiện sớm và gây hại trong suốt quá trình sinh trưởng của cây đậu
bắp (Sabyasachi et al., 2013) Ở Thái Lan, theo ghi nhận của Sorapong (2013),
có một số loài sâu nhện gây hại trên đậu bắp như: rệp Aphis gossypii Glover, bọ trĩ Thrips palmi Karny, rầy xanh hai chấm Amrasca devastans, bọ phấn Bemisia
Trang 11tabasi… các loài này gây hại trong 4 ->6 ->8 và 10 tuần đầu sau khi trồng đậu
bắp Ở Tây Phi vùng Burkina Faso, theo ghi nhận của Clementine et al (2009),
có một số loài sâu nhện gây hại trên đậu bắp như: bọ cánh cứng Podagrica sp., rệp bông Aphis gossypii, rầy xanh hai chấm Empoasca spp Trong đó loài rầy xanh hai chấm Empoasca spp gây hại chủ yếu trên lá trong suốt quá trình sinh
trưởng của cây đậu bắp
1.2.2 Phân bố ký chủ và tác hại của rầy xanh hai chấm 2 chấm A devastans
Loài rầy A devastans được gọi là rầy xanh hai chấm hay rầy Ấn Độ,
thuộc họ Cicadellidae, tổng họ Cicadelloidea, bộ phụ Auchenorrhyncha, bộ cánh đều Homoptera
Rầy xanh hai chấm được tác giả Distant mô tả lần đầu tiên vào năm 1918
với tên là Empoasca devastans Nhưng đến năm 1967, Ghauri lại xếp rầy xanh hai chấm vào giống Amrasca với tên Amrasca devastans Năm 1970, Dworakowska chuyển rầy xanh hai chấm vào giống Chlorita và đổi tên thành
Chlorita biguttula Ishida Hiện nay rầy xanh hai chấm được gọi tên là Amrasca
devastans Distant hoặc Amrasca biguttula Ishida (CABI, 2007)
Hiện nay cả ở nước ngoài cũng như trong nước chưa có nhiều tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về rầy xanh hai chấm hại trên cây đậu bắp Tất cả các nghiên cứu chính về rầy xanh hai chấm chủ yếu nghiên cứu chúng gây hại trên bông Trên cây bông rầy non và rầy trưởng thành sống ở mặt dưới lá và đều chích hút dịch cây Trong quá trình gây hại, rầy xanh hai chấm tiết ra một loại độc tố làm suy yếu khả năng quang hợp của cây, làm rìa lá vàng và cong xuống, điều này gây cản trở khả năng quang hợp và vận chuyển dinh dưỡng ở tầng libe
và từ lá đến mép lá Đầu tiên lá bị rầy xanh hai chấm hại trở nên tái xanh, sau đó chuyển màu vàng và cuối cùng là màu đỏ Khi rầy xanh hai chấm hại nặng, lá bông chuyển màu đỏ, không thể hồi phục được Sau đó lá khô và rụng Ở giai đoạn cây bông còn nhỏ, tác hại của rầy xanh hai chấm làm đình trệ sự sinh trưởng của cây Khi cây lớn, rầy xanh hai chấm gây hiện tượng rụng nụ, hoa và
quả non, làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng xơ bông (Michael et al.,
2004; Natarajan, 2007; Murugesan và Kavitha, 2010)
Trang 12Loài rầy xanh hai chấm thuộc nhóm chích hút là một trong những loài sâu gây hại nguy hiểm nhất trên nhiều cây trồng của nhiều nước trên thế giới Theo
CABI (2007), rầy xanh hai chấm Amrasca devastans phân bố và gây hại nghiêm trọng cho cây trồng như cây thầu dầu (Ricinus communis), thục quỳ (Althaea
rosea ), cà gai (Solanum melongena), khoai tây (Solanum tuberosum), dâm bụt (Hibiscus cannabinus), hướng dương (Helianthus annus), phổ biến ở các nước
thuộc Châu Á: Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Nepal, Myanmar, Philipine, Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam TheoManuelo and Ronaldo (2012), rầy
xanh hai chấm Amrasca devastans (Dist.) là loài dịch hại nguy hiểm nhất và gây
hại chủ yếu trên các cây họ đậu, bông Trong vụ khô, rầy tồn tại trên các cây ký
chủ phụ mọc hoang dại (Vennila et al., 2007)
Theo Murugesan and Kavitha (2009), trong những năm gần đây, phạm vi
gây hại của rầy xanh hai chấm Amrasca devastans ngày càng phổ biến chúng hại từ rau màu tới các loại cây trồng khác Trên cây cà tím rầy xanh hai chấm A
devastans đang trở thành loài dịch hại nguy hiểm thứ 2 gây ảnh hưởng trực tiếp
tới sinh trưởng của cây sau sâu đục quả (Sultana et al., 2012; Gopal and
Tarikul, 2014)
Tại Philipine, Manuelo and Ronaldo (2012), cho rằng rầy xanh hai chấm
Amrasca devastans là loài gây hại nghiêm trọng trên cây đậu bắp ở giai đoạn 60 ngày sau gieo và gây hại lớn trong mùa khô
Tại Pakistan, theo nghiên cứu của Jamshaid et al (2012), rầy xanh hai chấm Amrasca devastans là loài côn trùng chích hút chính, gây thiệt hại lớn nhất
trên đậu bắp Chúng gây hại từ khi ở giai đoạn cây con đến khi cây ra quả, chúng chích hút làm cho lá héo vàng và rụng ảnh hưởng tới sinh trưởng của cây, khi cây
ra hoa, quả chúng làm cho quả rụng, cây còi cọc ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất Sự gây hại của rầy xanh hai chấm ở giai đoạn cây con có thể làm ảnh hưởng đến 50% sản lượng và giảm dần khi cây ra hoa, đậu quả, rầy xanh hai chấm là dịch hại thường xuyên trên đậu bắp chúng có thể gây ra thiệt hại về sản lượng từ
54 – 66 % (Razaq et al., 2014) Khi đánh giá về ảnh hưởng của các giống đậu bắp tới sự gây hại của rầy xanh hai chấm Saif et al (2012), cho rằng giống bông
Trang 13Arka Anamika với mật độ 1,61 ± 0,31 con/lá có khả năng chống sự gây hại của rầy xanh hai chấm hơn trong khi đó giống Anokhi với mật độ 3,07 ± 0,56 con/lá lại rất mẫn cảm với rầy xanh hai chấm Sự khác nhau này do các đặc tính vật lý
và hình thái bề mặt trên lá đậu bắp của từng giống dẫn đến sự kháng của từng giống đối với sự gây hại của rầy xanh hai chấm
1.2.3 Đặc điểm hình thái của rầy xanh hai chấm 2 chấm A devastans
Theo CABI (2007), trứng có màu trắng, vàng nhạt, chiều dài 0,73 mm và chiều rộng 0,24 mm Các ấu trùng của rầy xanh hai chấm có màu vàng xanh với kích thước 5 tuổi lần lượt là 0,6; 1,03; 1,23;1,5 và 2,18 mm Trưởng thành có hai chấm đen ở phía cuối của cánh Màu sắc của trưởng thành có màu vàng – xanh sang màu vàng trong mùa hè Cánh trước có màu nâu và đôi chân có màu xanh Trứng rầy xanh hai chấm hình cong, dài màu vàng trắng Các ấu trùng có màu xanh nhạt hơi vàng Trưởng thành có chiều dài khoảng 3,5 mm, cơ thể màu
xanh lá cây nhạt, cánh trước và đỉnh cánh có đốm đen (Vennila et al., 2007) Theo Jayasimha et al (2012), trứng rầy xanh hai chấm A devastant có
hình bầu dục, màu vàng Ấu trùng các tuổi của rầy xanh hai chấm ấu trùng các tuổi có màu sắc vàng đến màu vàng xanh Trưởng thành có kích thước trung bình khoảng 2,28 mm cánh trước màu xanh lá cây, có hai chấm đen ở đỉnh cánh trước, đầu màu xanh nhạt, cánh có màu xanh óng ánh
1.2.4 Đặc điểm sinh học của rầy xanh hai chấm 2 chấm A devastans
1.2.4.1 Thời gian phát triển của các pha và vòng đời của rầy xanh hai chấm 2 chấm A devastans
Theo CABI (2007), ấu trùng rầy xanh hai chấm có 5 tuổi với thời gian phát dục của mỗi tuổi kéo dài 3-5 ngày Thời gian phát dục của trứng là 5 – 15 ngày, của ấu trùng 8 – 12 ngày và của trưởng thành 14 – 60 ngày Ở Ấn Độ thời gian phát dục của trứng trung bình khoảng từ 6,42 ± 0,37 ngày, của trưởng thành đực trung bình 22,85 ± 1,87 và của trưởng thành cái trung bình 26,66 ± 1,92 ngày, của rầy non trung bình 7,41 ± 0,48 ngày, vòng đời của rầy xanh hai chấm
trung bình khoảng 30,31 ngày (Jayasimha et al., 2012)
Trang 141.2.4.2 Sức sinh sản của rầy xanh hai chấm 2 chấm A devastans
Rầy xanh hai chấm A devastans đẻ trứng bên trong gân phần mặt dưới
lá, trứng hình bầu dục có mầu hơi vàng Mỗi rầy đẻ khoảng 17 – 38 trứng (CABI, 2007)
Theo Jayasimha et al (2012), ở Ấn Độ, mỗi rầy xanh hai chấm đẻ trứng
vào mô của tế bào tại các điểm như cuống lá, gân lá Mỗi rầy xanh hai chấm đẻ khoảng 14 – 20 trứng Những quả trứng hình bầu dục, màu hơi vàng Rầy xanh hai chấm đẻ khoảng 15 trứng, trứng hình cong, dài màu vàng trắng được đẻ trong
mô lá trên các gân chính ở mặt dưới của lá (Vennila et al., 2007)
1.2.5 Đặc điểm sinh thái học của rầy xanh hai chấm 2 chấm A devastans
Tại Pakistan nhiệt độ có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản, thời
gian phát dục và tuổi thọ của rầy trưởng thành (Mahmood et al., 1986; Mahmood
et al., 1988) Khi nghiên cứu về biến động số lượng của rầy xanh hai chấm cường
độ ánh sang đóng vai trò quan trọng quyết định được sự phân bố của rầy trên cây
bông (Atta et al., 2015) Khi nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến mật độ rầy xanh hai chấm, Selvaraj et al (2011), đã nhận xét rằng: ở Ấn Độ, vụ
gieo sớm vào đầu tháng 2 có mật độ rầy xanh hai chấm cao nhất, càng gieo muộn thì mật độ rầy xanh hai chấm càng giảm
Theo Manuelo and Ronaldo (2012), tác giả thực hiện nghiên cứu tại Philipines cho rằng việc trồng đậu bắp trong mùa khô sẽ bị rầy xanh hai chấm gây hại nặng và ảnh hưởng tới năng suất Nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh sản và phát triển của rầy xanh hai chấm Lượng mưa là một yếu tố gây tỷ lệ tử vong lớn đối với rầy xanh hai chấm (CABI, 2007)
*Thiên địch của rầy xanh hai chấm 2 chấm A devastans
Trong tự nhiên, rầy xanh hai chấm chủ yếu bị các loài bắt mồi ăn thịt tấn
công Nghiên cứu về thiên địch của rầy xanh hai chấm Amrasca devastans, nhận
xét rằng, ký sinh tự nhiên không có hiệu quả cao đối với rầy xanh hai chấm (dẫn theo Trần Thế Lâm, 2007)
Theo kết quả điều tra thu thập từ 26 tỉnh thành của Trung Quốc, trên cây bông có khoảng 659 loài côn trùng có ích, 256 loài côn trùng ăn thịt, 18 loài nhện
Trang 15lớn ăn thịt và 18 loài nhện nhỏ bắt mồi Trong đó, có 81 loài là thiên địch của rầy xanh hai chấm (1 loài là côn trùng ký sinh, 27 loài là côn trùng bắt mồi, 52 loài là nhện lớn bắt mồi) Cao Chi Yang (1986) khẳng định, cả rầy non và rầy trưởng thành đều bị các loài thiên địch tấn công, trong đó có loài nhện lớn bắt mồi Lycosidae (Aranecae) Barrion and Litsinger (1981), cho biết ở Pakistan loài bọ
xít Orius Albidipennis (Anthocoridae: Hemiptera) là loài bắt mồi chủ yếu của rầy
xanh hai chấm hại bông Ở Ấn Độ, 8 loài nhện bắt mồi được quan sát đóng vai
trò tích cực trong việc hạn chế rầy xanh hai chấm gây hại đó là: Thomisus
katrajghatus Tikader, Neoscona sp., Oxyopes javanus Thorell, Plexippus
paykullii (Aud.), Thomisus sp., Cheiracanthium melanostomum (Thorell),
Oxyopes sp., Peucetia viridana Stoliczka (Rao et al., 1981)
1.2.6 Biện pháp phòng chống rầy xanh hai chấm 2 chấm
1.2.6.1 Biện pháp canh tác
Việc trồng xen đậu bắp với ngô, hướng dương và đậu Hà Lan có ý nghĩa trong việc dẫn dụ rầy xanh hai chấm, giảm tác hại của rầy xanh hai chấm đối với
cây đậu bắp(Abdul et al., 2011; Mari, 2013)
Việc trồng xen bông với các cây trồng khác làm tăng tính đa dạng hệ sinh thái nông nghiệp, làm tăng tính đa dạng của khu hệ côn trùng và sẽ làm giảm áp
lực của rầy xanh hai chấm trên cây bông và cây họ đậu Theo Venkatesan et al
(1987), mật độ rầy xanh hai chấm trên cây bông trồng xen với đậu xanh, đậu đen hoa hướng dương thấp hơn so với bông trồng thuần
Bón phân hợp lý cũng làm tăng khả năng chống chịu của cây bông với rầy
xanh hai chấm Theo nghiên cứu của Baloch et al (2013), thì bón quá nhiều đạm
hoặc bón đạm kết hợp với lân sẽ tăng sự phát sinh gây hại của rầy xanh hai chấm trên đậu bắp so với khi sử dụng biện pháp không bón phân thì trong giai đoạn đầu rầy xanh hai chấm phát sinh chậm và ít gây hại hơn
1.2.6.2 Biện pháp sử dụng giống chống chịu rầy xanh hai chấm 2 chấm A devastans
Theo Saif et al (2012), việc sử dụng các giống đậu bắp có nhiều lông trên
mặt lá giúp ngăn cản sự đẻ trứng, hạn chế sự có mặt và gây hại của rầy xanh hai
Trang 16chấm 2 chấm trên đậu bắp Mật độ rầy xanh hai chấm tập trung nhiều trên các giống như Pusa Swani, đậu bắp 3 các giống bị nhiễm nhẹ hơn như giống Super
Star, Wonder xanh (Jamshaid et al., 2008)
Sử dụng giống kháng là một trong những biện pháp phổ biến được sử dụng rộng rãi trên thế giới để phòng trừ rầy xanh hai chấm Ngoài lợi ích về kinh
tế, sử dụng giống kháng được đặc biệt quan tâm vì nó phù hợp với những nguyên
lý mục tiêu của chiến lược phòng chống tổng hợp Dilbar et al (2014), cho rằng
đặc tính cơ bản của giống kháng rầy xanh hai chấm là ngăn cản sự đẻ trứng của trưởng thành, ngăn cản khả năng ăn và phát triển của ấu trùng Đối với giống bông những đặc điểm hình thái quan trọng như mật độ lông trên lá, mức độ dẻo của gân lá, độ dầy của phiến lá, đỉnh của lông đều liên quan đến tính kháng của giống với rầy xanh hai chấm
1.2.6.3 Biện pháp sinh học phòng chống rầy xanh hai chấm 2 chấm A devastans
Các kết quả nghiên cứu về vai trò của thiên địch của rầy xanh hai chấm cho rằng: thiên địch không có hiệu quả cao trong việc kìm hãm số lượng quần thể
rầy xanh hai chấm trên ruộng bông (Subba et al., 1968) Theo các tác giả này,
quần thể thiên địch của rầy xanh hai chấm thường bị giảm mạnh trong điều kiện
vụ khô nhưng rầy xanh hai chấm trong thời gian này có thể sống sót trên cỏ dại
và sau đó chuyển sang gây hại trên cây bông Trong khi đó, phản ứng của thiên địch thường chậm hơn so với sự gia tăng mât độ của rầy xanh hai chấm Do vậy, chúng không thể kìm hãm được số lượng của rầy xanh hai chấm
1.2.6.4 Biện pháp hóa học
Theo Alam et al (2010), đã xác định hiệu lực của 1 số loại thuốc trừ sâu
sinh học đối với rầy xanh hai chấm trên đậu bắp như: Karanja, Mahogoni, Neem, Admire ở các nồng độ khác nhau Kết quả đã chỉ ra rằng rầy xanh hai chấm bị chết nhiều nhất bởi dầu Admire L ở nồng độ 2,4% và hiệu lực đạt 97,92% và rầy xanh hai chấm bị chết thấp nhất khi sử dụng Neem 1% và hiệu lực là 65,07% Hiệu quả trừ rầy xanh hai chấm của thuốc thảo mộc và thuốc trừ sâu tổng hợp là: Dầu Admire cao hơn dầu Karajan cao hơn dầu Mahogani cao hơn dầu Neem
Trang 17Nghiên cứu về việc ứng dụng các loại thuốc thảo mộc trong phòng trừ rầy
xanh hai chấm trên đậu bắp Solangi et al (2013), đã tiến hành phòng trừ rầy
xanh hai chấm bằng một số loại thuốc như: Dầu Neem, bột Neem, lá thuốc lá, dầu neem với chủng vi khuẩn có lợi Kết quả đã chỉ ra rằng rầy xanh hai chấm bị chết nhiều nhất bởi dầu nem với chủng vi khuẩn có lợi có hiệu lực cao nhất đạt 78,47% và rầy xanh hai chấm bị chết thấp nhất khi sử dụng lá thuốc lá với hiệu lực đạt 63,15 % Hiệu quả trừ rầy xanh hai chấm của các loại thuốc thảo mộc là: Dầu Neem + Vi khuẩn cao hơn dầu neem cao hơn bột neem cao hơn lá thuốc lá Biện pháp hóa học là biện pháp chủ yếu để phòng chống rầy xanh hai chấm 2 chấm khi mật độ của chúng đạt tới ngưỡng phòng trừ Ở Nam Ấn Độ, các giai đoạn cây trồng mẫn cảm với rầy xanh hai chấm đòi hỏi cần phải phun phòng
trừ là 21 và 35 ngày sau khi mọc mầm Theo Muhammad et al (2012), đã đánh
giá hiệu lực của 2 thuốc trừ sâu sinh học Biosal và Spinosad với 3 loại thuốc có hóa chất thường dùng là Imidacloprid, Endosulfan và Profenofos Kết quả đã chỉ
ra rằng hiệu quả trừ rầy xanh hai chấm của các loại thuốc hóa học là: Imidacloprid cao hơn Profenofos cao hơn Endosulfan Hai loại thuốc sinh học có hiệu quả thấp hơn lần lượt là Biosal cao hơn Spinosad Tuy nhiên để đảm bảo hiệu quả cần sử dụng các loại thuốc sinh học và hóa học luân phiên nhau, tùy từng giai đoạn của cây trồng
1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.3.1.Thành phần sâu nhện hại cây đậu bắp
Hiện nay ở trong nước chưa có các nghiên cứu chuyên sâu về sâu hại trên cây đậu bắp, các tài liệu đã công bố liên quan đến sâu nhện hại trên đậu bắp còn hạn chế
1.3.2 Những nghiên cứu về đặc điểm hình thái, tác hại, sinh học, của rầy xanh hai chấm A devastans hại bông
*Tác hại của rầy xanh hai chấm
Ở Việt Nam, theo tác giả Vũ Công Hậu (1978), rầy xanh hai chấm xuất hiện và gây hại trên nhiều loài cây trồng và cỏ dại Trên cây bông, rầy xanh hai chấm gây hại từ khi mọc đến khi thu hoạch Mức độ gây hại của chúng khác
Trang 18nhau tùy theo giống, thời vụ, giai đoạn sinh trưởng của cây bông Kết quả nghiên cứu của Tôn Thất Trình (1974) cho thấy, khi chích hút dịch cây thì đồng thời rầy xanh hai chấm tiết chất độc làm lá uốn cong lại bên dưới, sau đó bìa lá đỏ và khô
đi, lá rụng làm giảm năng suất Rầy xanh hai chấm Amrasca devastans là loài
côn trùng đa thực, gây hại trên cây bông và 66 loài cây thuộc 29 họ thực vật khác nhau như: đậu bắp, cà, ớt, dâm bụt, cối xay, khoai tây, mướp tây, đậu, thuốc lá, khoai lang, lạc (Hồ Khắc Tín, 1982)
Theo mô tả của Trần Thế Lâm (2007), rầy xanh hai chấm gây hại trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển của cây bông từ khi cây có lá sò đến khi thu hoạch Cả rầy xanh hai chấm non và trưởng thành đều chích hút dịch cây Mức độ tác hại của chúng phụ thuộc vào gia đoạn sinh trưởng của cây bông và mật độ của nó Khi cây bông còn nhỏ bị rầy xanh hai chấm gây hại mép lá có màu vàng, trên lá bông có các chấm đen nhỏ li ti, gây hại nặng sẽ làm lá non héo trông giống như bị luộc, mép lá co lại, lá bị khô đen làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây bông Khi cây bông đã lớn, rầy xanh hai chấm gây hại nặng thì toàn lá có màu huyết dụ, với nhiều lá khô cháy gọi là hiện tượng “cháy rầy”, lá trở nên khô giòn và dễ rụng, cây không còn khả năng phục hồi Nghiên cứu về sự phát sinh, phát triển của rầy xanh hai chấm, Nguyễn Xuân Thành (1996) cho rằng rầy xanh hai chấm phát triển và gây hại trên bông vụ khô là nặng hơn trồng bông trong vụ mưa
Theo kết quả điều tra của Nguyễn Thị Hai (1996), rầy xanh hai chấm
Amrasca devastans là một đối tượng thường xuyên có mặt trên bông Rầy xanh hai chấm gây hại cho cây bông ở các vùng bông cả trong vụ khô lẫn vụ mưa Theo Lương Minh Khôi (1980), vào những thời kỳ bị rầy xanh hai chấm hại mạnh, tỷ lệ lá bị hại lên đến 100%; mật độ rầy lên tới 500 – 1200 con/100 lá Khi nghiên cứu về quan hệ giữa mật độ quần thể của rầy xanh hai chấm và mức độ gây hại, Nguyễn Thị Thanh Bình (1983) cho biết không có mối quan hệ âm hoặc dương rõ ràng Trong cùng điều kiện mùa vụ với mật độ quần thể của rầy xanh hai chấm cao, có giống bị hại vừa và cũng có giống bị hại nặng Ngược lại, có
Trang 19giống bông với mật độ quần thể của rầy xanh hai chấm ở mức vừa thì bị hại ở mức từ vừa đến nặng
Tác giả Nguyễn Hữu Bình (1990), cho biết, thiệt hại về năng suất bông do rầy xanh gây ra là tương đối nghiêm trọng, đối với giống nhiễm là 64,4% và với giống kháng trung bình là 53,6% Nghiên cứu của Lê Trọng Tình (2001), cũng chỉ ra rằng, giữa chỉ số cấp rầy hại thấp thì năng suất cao, ngược lạ chỉ số cấp rầy hại cao thì năng suất thấp Nguyễn Hữu Bình (1990) cho rằng, trong điều kiện đất xấu, thiếu ẩm, cây phát triển kém, khô hạn, ánh sáng mạnh, thích hợp cho rầy xanh hai chấm phát triển gây hại trầm trọng cho bông Trên những ruộng bông trồng dày, ít ánh sáng, rầy xanh hai chấm hoạt động kém hơn
Trứng rầy xanh hai chấm được đẻ trong mô của gân lá, và phần non của cây Trứng có dạng hình thoi dài, hơi nhọn ở hai đầu Dài từ 0,8 – 1,0 mm, trứng mới đẻ có màu trắng, khi sắp nở có màu vàng trong Ấu trùng có 5 tuồi, pha trứng có thời gian phát dục kéo dài trung bình 5,04 ngày; pha rầy non có 5 tuổi, thời gian phát triển trung bình 8,56 ngày, vòng đời của rầy xanh hai chấm kéo dài
từ 13 đến 20 ngày (trung bình 15,92 ngày), thời gian rầy trưởng trung bình 8,30 ngày) Số lượng rầy non nở ra từ một con trưởng thành cái trung bình 21,20 rầy non ở điều kiện nhiệt độ 27,08 oC và ẩm độ 69,4 % (Trần Thế Lâm, 2007)
1.3.3 Những nghiên cứu về các loài thiên địch của rầy xanh hai chấm
Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thế Lâm (2007), đã xác định được 14 loài thiên địch bắt mồi của rầy xanh hai chấm, trong đó bộ cánh cứng (Coleoptera) có 9 loài, bộ nhện lớn bắt mồi ăn thịt (Araneida) có 4 loài và một loài thuộc bộ cánh mạch (Neuroptera) Đến nay chưa phát hiện được loài ký sinh nào trên rầy xanh hai chấm
Thành phần thiên địch bắt mồi và nấm ký sinh rầy xanh hai chấm A
devastans trên bông có 31 loài, trong đó bộ nhện lớn có 14 loài, có 1 loài nhện nhỏ, bộ cánh thẳng có 2 loài, bộ cánh nửa có 5 loài, bộ cánh cứng có 5 loài, nấm
ký sinh côn trùng có 2 loài Trong đó bộ nhện lớn là loài có mật độ và tần suất xuất hiện là lớn nhất, bộ cánh nửa cũng là những đối tượng xuất hiện với mật độ lớn và thường xuyên (Nguyễn Văn Chính, 2012)
Trang 201.3.4 Nghiên cứu biện pháp phòng trừ rầy xanh hai chấm 2 chấm A devastans
1.3.4.1 Biện pháp canh tác
Theo Trần Thế Lâm (2007), việc trồng xen canh giữa cây bông và cây đậu xanh không có tác dụng trong việc hạn chế mật độ của rầy xanh hai chấm Phủ mặt luống bằng màng PE màu đen ánh bạc có tác dụng tốt trong việc hạn chế rệp muội bông, rầy xanh hai chấm và đặc biệt là bọ trĩ hại bông
Trồng gọn thời vụ, tưới tiêu hợp lý, tránh bón quá nhiều đạm, bón bổ sung kali có tác dụng tăng khả năng chống chịu rầy của cây bông
1.3.4.2 Biện pháp giống chống chịu rầy xanh hai chấm 2 chấm A devastans
Trong điều kiện áp lực rầy cao của Việt Nam, sử dụng các giống bông lá dày, lá nhiều lông (giống kháng rầy từ trung bình đến khá) có hiệu quả cao trong việc làm giảm tác hại của rầy xanh hai chấm và kéo dài thời gian phải phun thuốc đến 40 ngày sau gieo trở đi Trong khi nếu sử dụng giống bông lá nhẵn thì ngay giai đoạn cây bông con đã bị rầy xanh hai chấm hại nặng
Theo Trần Thế Lâm (2007), giống bông VN01- 02 có khả năng kháng rầy xanh hai chấm rất tốt và tốt hơn hẳn so với giống L18, VN15 đang được trồng đại trà ngoài sản xuất
1.3.4.3 Biện pháp hóa học
Đối với các giống bông kháng rầy trung bình và khá, việc phun thuốc hóa học trừ rầy chỉ được khuyến cáo sử dụng sau khi cây được 40 ngày tuổi (đối với bông vụ khô) và 60 ngày tuổi (đối với bông trồng vụ mưa) Một số loại thuốc được khuyến cáo sử dụng luân phiên để trừ rầy xanh hai chấm là các thuốc thuộc nhóm hoạt chất: Dinotefuran, Imidacloprid, Buprofezin (Phan Văn Tiêu, 2011)
Trang 21Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu trong phòng được thực hiện tại Trạm BVTV Đông Anh, Hà Nội, đo kích thước và chụp ảnh rầy tại phòng IPM nhện gié và nghiên cứu ngoài đồng ruộng được tiến hành tại HTX Quan Âm, Đông Anh, Hà Nội
2.2 Thời gian nghiên cứu
Các nội dung nghiên cứu được tiến hành từ tháng 10 /2014 – 6/2015
2.3 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu và dụng cụ thí nghiệm
*Đối tượng nghiên cứu
Sâu, nhện hại cây đậu bắp và thiên địch của chúng tại vùng nghiên cứu,
trong đó đi sâu nghiên cứu rầy xanh hai chấm 2 chấm A devastans
*Vật liệu nghiên cứu
Cây đậu bắp và một số loại thuốc BVTV: Kuraba 1.8EC, Mopride 20WP, Actara 25 WG, Chess 500 WG
*Dụng cụ nghiên cứu
Đĩa Petri (9 ×1,5 cm), kính lúp tay (độ phóng đại 10x), nhiệt ẩm kế (TH 600b), kính lúp soi nổi (Nikon), thước đo trên kính, bút lông, cồn 70%, lọ đựng mẫu, ống nghiệm (?), kéo, bút lông, kim cắm mẫu, vải màn cách ly, bình phun nước (1 lít), chậu trồng cây (Ø=20cm, cao 25 cm), sổ sách ghi chép số liệu…
2.4 Nội dung nghiên cứu
- Xác định thành phần sâu, nhện hại và thiên địch của chúng trên cây đậu bắp ở HTX Quan Âm, Đông Anh, Hà Nội
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, tác hại của loài rầy xanh hai
chấm A devastans trên cây đậu bắp
- Điều tra diễn biến số lượng rầy xanh hai chấm hai chấm A devastans
dưới ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái (luân canh, chân đất trồng, thời
vụ trồng)
- Thử nghiệm biện pháp sử dụng thuốc BVTV phòng trừ rầy xanh hai
chấm hai chấm A devastans
Trang 222.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp điều tra thành phần sâu nhện hại và thiên địch của chúng trên cây đậu bắp
Sử dụng phương pháp điều tra chung sâu bệnh hại do Cục BVTV quy định trong QC 01-38:2010/ BNNPTNT Toàn bộ mẫu sâu nhện hại và thiên địch bắt gặp trong quá trình điều tra cho vào túi nilông miệng kín sau đó ngâm vào cồn
700, phân loại dưới sự hướng dẫn các thầy cô trong bộ môn Côn trùng Các thông tin được ghi chép lại một cách đầy đủ ngày điều tra, địa điểm điều tra, tên thiên địch.Từ đó xác định được thành phần, độ thường gặp và quy ra mức độ phổ biến của các loài sâu hại và thiên địch qua các kỳ điều tra
- Chỉ tiêu theo dõi:
Số điểm bắt gặp cá thể của mỗi loài
Độ thường gặp OD(%) = - x 100 Tổng số điểm điều tra
2.5.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của
loài rầy xanh hai chấm A devastans
2.5.2.1 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh học rầy xanh hai chấm A devastans
Tiến hành thu các cá thể rầy xanh hai chấm trưởng thành ngoài đồng ruộng bằng cách: lồng túi nilong vào các lá có rầy rồi vỗ nhẹ 2 – 3 cái cho rầy nhảy sang túi, bỏ thêm các lá đậu bắp vào túi rồi sau đó mang về phòng thí nghiệm Chuyển rầy trưởng thành vào các lồng mica (các cây đậu bắp sau sạch được trồng sau 25 ngày cao từ 20 – 25 cm trồng trong lồng cách ly), chuyển mỗi lồng 10 trưởng thành Sau 24 giờ hút rầy trưởng thành ra và tiến hành soi dưới kính Các lá đậu bắp đã tiếp xúc với rầy được ghi ngày và giữ lại để theo dõi thời
Trang 23gian trứng nở để xác định được thời gian trứng Khi rầy non được nở ra, tách chúng nuôi cá thể bằng lá đậu bắp tươi trong hộp petri có lót giấy thấm nước không mùi để giữ ẩm Tiến hành quan sát ở nhiệt độ phòng (n=60 các thể) Mỗi một cá thể rầy được chuyển vào 1 hộp petri được đánh số cả nắp và đáy trong đó
có lá được quấn bông thấm nước vào cuống để giữ độ ẩm và đáy hộp có giấy thấm nước Hàng ngày quan sát xác lột để xác định tuổi rầy, hai ngày một lần thay lá mới và giấy lọc trong hộp petri Do trứng rầy xanh hai chấm có kích thước nhỏ, được đẻ trong mô và gân và cuống lá nên rất khó đếm Do đó để thuận tiện cho việc theo dõi mà không ảnh hưởng đến ý nghĩa của số liệu, chỉ tiến hành đếm số lượng rầy non tuổi 1 mới nở ra theo phương pháp của Khan và Saxena (1986) (dẫn theo Trần Thế Lâm (2007) Số liệu quan sát được ghi vào bảng nuôi sinh học để xác định được thời gian phát dục của các pha đời, vòng đời, sức sinh sản, tỷ lệ đực : cái cho đến hết đợt thí nghiệm
Để mô tả và đo kích thước các pha phát dục của rầy cũng tiến hành nuôi rầy theo phương pháp nuôi cá thể được trình bày ở phần trên
Chiều rộng được đo ở phần phình to nhất của cơ thể, chiều dài được đo từ đầu tới cuối cơ thể, đo ở thời điểm ngay sau ngày rầy lột xác chuyển tuổi, đo lặp lại n=30
(Nguồn: Lê Quang Khải – T4/2015)
Hình 2.1 Hình ảnh nuôi sinh học rầy xanh hai chấm trong phòng thí nghiệm
Trang 242.5.2.2 Phương pháp đánh giá tác hại của rầy xanh hai chấm hai chấm A.devastans trên cây đậu bắp
Nuôi rầy trong phòng thí nghiệm, khi rầy ở tuổi 3 tiến hành hút rầy xanh hai chấm bằng ống hút để lây thả trên các cây đậu bắp sạch ở giai đoạn 3 lá thật được trồng trong hộp mica
Công thức 1: Thả 10 rầy non tuổi 3 vào lồng mica có cây đậu bắp sạch Công thức 2: Thả 20 rầy non tuổi 3 vào lồng mica có cây đậu bắp sạch Công thức 3: Thả 30 rầy non tuổi 3 vào lồng mica có cây đậu bắp sạch Công thức 4: Đối chứng không có rầy xanh hại
Thí nghiệm lặp lại 3 lần Tiến hành quan sát sau 3, 5, 7, 10 ngày sau khi chuyển rầy xanh hai chấm
Chỉ tiêu theo dõi: Mô tả sự gây hại của rầy xanh hai chấm lên cây đậu bắp (quan sát sự thay đổi của lá cây đậu bắp sau thời gian thả rầy xanh hai chấm)
2.5.3 Phương pháp điều tra diễn biến mật độ rầy xanh hai chấm A devastans dưới ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái tại Quan Âm, Đông
Anh, Hà Nội
2.5.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng đến diễn biến mật độ rầy xanh hai chấm A devastans
Chọn ruộng đại diện cho cây đậu bắp xanh trồng trong 2 thời vụ: Vụ xuân
hè (trồng cuối tháng 2 – đầu tháng 3) và vụ thu đông (trồng cuối tháng 10 – đầu tháng11)
Điều tra định kỳ 7 ngày/ 1 lần trong suốt vụ cây trồng
Điều tra theo phương pháp 10 điểm trên 2 đường chéo góc, mỗi điểm điều tra 10 lá (3 lá non, 4 lá bánh tẻ và 3 lá già phân bố ở 4 hướng), quan sát cả mặt trên và mặt dưới lá; thời kỳ có hoa quả quan sát thêm 10 hoa, (quả)/ điểm
Chỉ tiêu điều tra: con/lá (hoa, quả) từ đó xác định thời vụ trồng nào bị rầy xanh hai chấm hại nặng hơn
2.5.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của chân đất trồng đậu bắp
Chọn ruộng đại diện cho 2 chân đất trồng đậu bắp: đó là chân đất vàn, và chân đất vàn trũng, đất ẩm hơn được trồng trong cùng 1 thời vụ, cùng giống
Trang 25Điều tra trong suốt vụ cây trồng (theo phương pháp được ghi ở phần trên) Chỉ tiêu điều tra: con/lá, (hoa, quả) từ đó xác định đậu bắp trồng trên chân đất nào bị rầy xanh hai chấm hại nặng hơn
2.5.3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của công thức luân canh
Chọn ruộng đại diện cho công thức luân canh cây đậu bắp
Công thức 1: Đậu bắp – đậu bắp
Công thức 2: Lúa – Đậu bắp
được trồng trong cùng 1 thời vụ, cùng giống đậu bắp
Điều tra trong suốt vụ cây trồng (theo phương pháp được ghi ở phần trên) Chỉ tiêu điều tra: con/lá, (hoa, quả) từ đó xác định đậu bắp luân canh hay không luân canh bị rầy xanh hai chấm hại nặng hơn
2.5.4 Phương pháp nghiên cứu sự phân bố của rầy xanh hai chấm hai chấm
A devastans trên cây đậu bắp
Tiến hành điều tra trên 1 ruộng đậu bắp từ giai đoạn cây con đến khi thu hoạch Điều tra theo các giai đoạn sinh trưởng của cây (cây con, phát triển thân
lá, hoa, quả non, quả già Điều tra theo phương pháp 10 điểm trên 2 đường chéo góc, mỗi điểm điều tra 30 lá: 10 lá non, 10 lá bánh tẻ, 10 lá già phân bố ở 4 hướng, quan sát ghi rõ rầy xanh hai chấm tồn tại ở mặt trên hay mặt dưới lá Thời
kỳ cây có hoa quả quan sát thêm 10 hoa, (quả)/điểm
Chỉ tiêu theo dõi: số lượng rầy xanh hai chấm tồn tại ở các bộ phận điều trên cây đậu bắp, ngoài tự nhiên rầy xanh hai chấm tồn tại ở mặt trên hay mặt dưới của lá đậu bắp
Trang 262.5.5 Phương pháp đánh giá hiệu lực trừ rầy xanh hai chấm hai chấm A devastans của một số loại thuốc BVTV
Các công thức thí nghiệm
STT Công Thức Tên Thương Mại Tên Hoạt Chất Liều Lượng
Sử Dụng
Thời gian cách ly
2.5.5.1 Phương pháp đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc BVTV phòng trừ rầy xanh hai chấm A devastans trong phòng
Bố trí thí nghiệm với 5 công thức với 3 lần nhắc lại, mỗi công thức bố trí
30 rầy non tuổi 3 Tiến hành phun nước lã (công thức đối chứng) hoặc nước thuốc ướt bề mặt lá sau đó thì dốc lá để cho thoát hết nước thuốc và thả rầy non vào lá đậu bắp (mỗi lần nhắc lại của 1 công thức thả 10 rầy xanh hai chấm tuổi 3)
Chỉ tiêu theo dõi: Số rầy sống sau thí nghiệm 12, 24, 48 giờ sau phun
* Trong phòng thí nghiệm hiệu lực của thuốc được tính theo công thức Abbott
100
Ca
Ta Ca H
H: Hiệu lực thuốc
Ta: Số lương rầy non sống ở công thức thí nghiệm sau phun thuốc
Ca: Số lượng rầy non sống ở công thức đối chứng sau khi phun nước lã
Trang 27
Hình 2.2 Hình ảnh thử thuốc trong phòng thí nghiệm trừ rầy xanh hai
chấm hại cây đậu bắp
2.5.5.2 Phương pháp đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc BVTV phòng trừ rầy xanh hai chấm A devastans ngoài đồng ruộng
* Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành trên 1 ruộng trồng đậu bắp Thí nghiệm gồm
các yếu tố chính là: Đậu bắp (Abelmoschus esculentus), rầy xanh hai chấm (A
Thuốc Mopride 20 Wp là loại thuốc hóa học có hoạt chất Acetamiprid 200g/kg Thuốc phòng trừ được rầy, rệp, bọ phấn, bọ trĩ, sâu khoang, sâu vẽ bùa, dòi đục lá, dưa, bắp, chè, cà phê, cây ăn quả Thuốc thuộc nhóm 3 Thời gian cách ly 7 ngày
Thuốc Actara 25 WG là loại thuốc hóa học có hoạt chất Thiamethoxam Thuốc phòng trừ được nhiều loại chích hút trên các cây trồng như Lúa, rau, cam quýt Thuốc thuộc nhóm 3 Thời gian cách ly 7 ngày
Trang 28Thuốc Chess 500 WG là loại thuốc hóa học có hoạt chất Pymetrozine
Thuốc trừ được nhiều loài chích hút đặc biệt là rầy nâu trên lúa Thuốc thuộc
nhóm 3 Thời gian cách ly 7 ngày
Các công thức được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ với 3 lần nhắc lại
Hình 2.3 Sơ đồ ruộng thí nghiệm
Tổng số ô thí nghiệm: 15 ô; dải bảo vệ rộng 1 m; rãnh rộng 0,3m
Diện tích ô thí nghiệm: 4m x 4m= 16m2 mỗi ô thí nghiệm
Mặt luống: 1m; Đáy luống: 1,2m; Rãnh 0,3 m
*Phương pháp xác định hiệu lực một số loại thuốc phòng trừ rầy xanh hai chấm
A.devastans
Các loại thuốc được sử dụng khi mật độ rầy xanh hai chấm ở mức phòng
trừ 1000 con/m2 (mỗi cây đậu bắp có từ 20 – 25 trung bình 23 lá Trên 1 m2 có
trung bình khoảng 6 cây đậu bắp khi mật độ rầy xanh hai chấm đạt mức 7,2
con/lá) tiến hành phun trên ruộng thí nghiệm Phương pháp, phun ướt bề mặt lá,
phun theo kiểu bao vây (từ ngoài vào trong và phun vòng quanh) Khi phun thuốc
cho nước vào rãnh ngập 2/3 rãnh
Chỉ tiêu theo dõi: Điều tra mật độ rầy xanh hai chấm (con/lá) vào các thời
điểm trước khi phun 1 ngày và sau khi phun: 1, 3, 5 ngày
Hiệu lực thuốc trừ sâu ngoài đồng ruộng tính theo công thức Henderson – Tilton:
100 1
Cb Ta H
Dải bảo vệ 1 m
NLại
INlại III
Trang 29H: Hiệu lực thuốc
Ta : Số cá thể sống ở công thức thí nghiệm sau khi xử lý thuốc
Tb : Số cá thể sống ở công thức thí nghiệm trước khi xử lý thuốc
Ca : Số cá thể sống ở công thức đối chứng sau khi xử lý thuốc
Cb : Số cá thể sống ở công thức đối chứng trước khi xử lý thuốc
(Nguồn: Lê Quang Khải – T5/2015)
Hình 2.4 Một vài hình ảnh thử thuốc ngoài đồng ruộng
2.6 Xử lý và bảo quản mẫu vật
Mẫu vật thu thập được sơ xử lý bằng cồn 30% trong 1 đến 2 ngày để chúng tiết hết chất thải, sau đó chuyển sang cồn 70% hoặc sấy khô (mẫu trưởng thành bộ cánh vảy) Tất cả các mẫu vật được bảo quản trong lọ cồn hoặc trong hộp petri chờ giám định
2.7 Giám định mẫu vật
Toàn bộ mẫu vật thu thập được đưa về Bộ môn Côn trùng giám định dưới
sự hướng dẫn và giúp đỡ của các thầy cô trong bộ môn Côn trùng
2.8 Phương thức tính toán và xử lý số liệu
Số liệu thu thập được xử lý trong Excell: đối với các thí nghiệm điều tra thành phần sâu hại, thiên địch diễn biến mật độ, phân bố của rầy xanh hai chấm, các thí nghiệm nuôi sinh học và phần mềm IRRISTAT : thí nghiệm xác định hiệu lực thuốc BVTV trừ rầy xanh hai chấm trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng Đo kích thước các pha phát dục được xử lý bằng phần mềm: Axio Vision Rel 4.8
Trang 30Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thành phần sâu nhện hại và thiên địch trên đậu bắp vụ Đông xuân 2014 – 2015 tại Đông Anh, Hà Nội
3.1.1 Tình hình sản xuất đậu bắp tại Đông Anh, Hà Nội
Qua điều tra chúng tôi được biết cây đậu bắp được đưa về sản xuất ở HTX Quan Âm, Bắc Hồng, Đông Anh từ những năm 90 của thế kỷ trước, ban đầu diện tích chỉ tập trung ở một vài hộ nông dân, sau đó được nhân rộng ra với diện tích
3 – 4 ha
HTX Quan Âm nói riêng cũng như xã Bắc Hồng nói chung là một trong những vùng trọng điểm trồng rau của huyện Đông Anh, với diện tích sản xuất rất lớn Các loại rau trồng chủ yếu như: Cây họ thập tự, cây họ cà, họ bầu bí, đậu bắp…
Cây đậu bắp được trồng chủ yếu và tập trung nhất ở Quan Âm, Bắc Hồng Ngoài ra còn rải rác tại một số HTX khác nhưng diện tích nhỏ không đáng kể Giống đậu bắp được trồng chủ yếu là giống đậu bắp xanh, giống địa phương (bà con tự để giống)
Theo điều tra từ các hộ sản xuất đậu bắp lâu năm và qua điều tra thực tế cho thấy trồng đậu bắp khá đơn giản, dễ thu hoạch cho hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên trên đậu bắp có nhiều loài sâu, bệnh hại Các loài sâu hại chủ yếu đó là: rầy xanh hai chấm hai chấm, bọ trĩ, sâu xanh, sâu khoang Theo bà con nông dân loài rầy xanh hai chấm là loài khó phòng trừ nhất, kể cả việc sử dụng thuốc hóa học
để phòng trừ cũng mang lại hiệu quả không cao Hiện nay các loại thuốc hóa học được bà con sử dụng chủ yếu để phòng trừ rầy xanh hai chấm là: Actara, Chess… Trên thực tế cho thấy bà con nông dân vẫn còn sử dụng thuốc một cách tràn lan và tùy tiện, thường phun định kỳ một lần/ tuần Khi thấy rầy hại nhiều thì phun tới 2 lần/ tuần Đậu bắp là cây rau lấy quả, quả đậu bắp thường được sử dụng trực tiếp không gọt vỏ, vì vậy việc khuyến cáo bà con trong việc sử dụng thuốc BVTV trên đậu bắp để đảm bảo an toàn thực phẩm, môi trường cho người trồng và sử dụng đang trở thành vấn đề cấp bách đối với những người làm và quản lý ngành nông nghiệp
Trang 313.1.2 Thành phần sâu và nhện hại trên đậu bắp năm 2014 – 2015 tại HTX Quan Âm, Đông Anh, Hà Nội
Người nông dân trồng đậu bắp phải đối mặt với nhiều loại sâu bệnh Chúng gây hại rất lớn cho người sản xuất Tùy theo loài mà mức độ gây hại khác nhau, có những loài gây hại ở mức độ thấp, có những loài gây ảnh hưởng đến năng suất rõ rệt
Kết quả điều tra trong vụ đông xuân 2014 – 2015 tại HTX Quan Âm, Đông Anh, Hà Nội chúng tôi đã thu được thành phần sâu hại được thể hiện ở bảng 3.1 Số loài sâu, nhện hại thu được bao gồm 11 loài thuộc 9 họ, 6 bộ (bộ cánh đều có 3 loài, bộ cánh tơ có 1 loài, bộ cánh cứng có 1 loài, bộ cánh vảy có 4 loài, bộ 2 cánh có 1 loài, bộ nhện nhỏ có 1 loài
Trong đó các loài có mức độ phổ biến cao hại trên đậu bắp ở vùng nghiên cứu là rầy xanh hai chấm, bọ trĩ…
Trang 32Bảng 3.1 Thành phần sâu, nhện hại trên cây đậu bắp năm 2014 – 2015 tại
HTX Quan Âm, Đông Anh, Hà Nội
Mức độ phổ biến
Ghi chú: -: Xuất hiện rất ít (OD≤ 5%); +: Xuất hiện ít (OD> 5 – 25%);
++: Xuất hiện trung bình (OD>25 – 50%); +++:Xuất hiện nhiều (OD>50%) Nhện đỏ hai chấm xuất hiện cục bộ tại một số điểm Chúng hút dịch của
lá, tạo nên những vết trắng lấm tấm Những ruộng bị nặng nhìn ở dưới gốc thấy tương đối thoáng do lá phía dưới đã bị rụng bớt, những ruộng này sẽ bị ảnh hưởng về năng suất
Trang 333.1.3 Thành phần thiên địch trên cây đậu bắp trồng tại HTX Quan Âm năm
2014 -2015
Thiên địch luôn có vai trò quan trọng và là lực lượng quan trọng trong tự nhiên để điều hòa số lượng các chủng quần dịch hại Qua quá trình điều tra bước đầu chúng tôi đã thu thập được 9 loài thiên địch trên ruộng đậu bắp thuộc 4 bộ Trong đó nhiều nhất là bộ cánh cứng (4 loài) và bộ nhện lớn (3 loài) còn các bộ khác chỉ thu được 1 loài Kết quả thu được trình bày ở bảng 3.2
Qua điều tra chúng tôi thấy loài bọ cánh cộc có mức độ phổ biến cao nhất, chúng thường ẩn mình dưới mặt sau lá và các búp lá Chúng ăn tạp ăn sâu non và trứng của sâu hại, ngoài ra loài bọ đuôi kìm chân khoang cũng xuất hiện tương đối nhiều
Các loài thiên địch khác chỉ xuất hiện ở mức trung bình, ít và rất ít
Đối với rầy xanh hai chấm, chúng bị chủ yếu các loài nhện lớn bắt mồi (3 loài), ngoài ra trứng và rầy non cũng bị bọ rùa đỏ và bọ cánh cộc ăn nhưng ít hơn dẫn theo Nguyễn Văn Chính (2012)
Trang 34Bảng 3.2 Thành phần thiên địch trên cây đậu bắp năm 2014 – 2015 tại HTX
Quan Âm, Đông Anh, Hà Nội
phổ biến
Ghi chú: -: Xuất hiện rất ít (OD≤ 5%); +: Xuất hiện ít (OD> 5 – 25%);
++: Xuất hiện trung bình (OD>25 – 50%); +++:Xuất hiện nhiều (OD>50%)
Trang 35
3.2 Đặc điểm gây hại của rầy xanh hai chấm Amrasca devastans Distant trên
cây đậu bắp
Rầy xanh hai chấm gây hại chủ yếu trên lá đậu bắp, chúng tập trung ở mặt
sau của lá Để tiến hành quan sát đặc điểm gây hại của rầy xanh hai chấm A
devastans chúng tôi tiến hành thả rầy xanh hai chấm vào mặt sau của lá, sau đó quan sát sự thay đổi hình dạng, màu sắc của lá đậu bắp Sau thời gian quan sát
chúng tôi nhận thấy, rầy xanh hai chấm A devastans chích hút làm cho hai mép
lá đậu bắp bị cong lại, lá chuyển từ màu xanh sang màu vàng rồi màu đỏ tái, dẫn đến héo và rụng Kết quả được thể hiện ở hình 3.1 và bảng 3.3
(Nguồn: Lê Quang Khải – Tháng 10/2014)
Hình 3.1 Đặc điểm gây hại của rầy xanh hai chấm A devastans trên lá cây
đậu bắp
Trang 36Bảng 3.3 Triệu chứng gây hại của rầy xanh hai chấm A devastans trên lá
đậu bắp năm 2014 – 2015 tại Đông Anh, Hà Nội Ngày
Hai mép lá cong xuống,
lá màu xanh
Lá không bị cong vẫn giữ màu xanh
Lá cong,
nhạt
Lá không bị cong vẫn giữ màu xanh
Lá màu hơi tái, lá cong
lá lại, lá màu xanh nhạt
Lá cong, biến màu vàng
Trên các công thức thả 30 con rầy tuổi 3 trên 1 cây Hiện tượng lá bị héo
khô sau 10 ngày Hai công thức thả 10 con rầy xanh hai chấm trên 1 cây và 20
con rầy xanh hai chấm trên 1 cây cũng xảy ra hiện tượng tương tự sau 20 và 15
ngày Trên các lá đậu bắp được thả rầy xanh hai chấm Chúng rất ít di chuyển,
rầy xanh hai chấm thường tập trung tại các gân lá Ban đầu khi mới được thả
Lá bị héo khô
Trang 37chúng chưa chích hút vào lá cây, tuy nhiên sau ngày thứ 3 chúng bắt đầu chích hút vào lá đậu bắp Khi chích hút chúng làm cho các lá đậu bắp ban đầu hơi héo hai mép lá cong dần vào gân lá, sau đó các lá bắt đầu chuyển sang màu tái xanh, màu vàng rồi lá bị héo khô Khi các lá bị chuyển sang vàng thì rầy xanh hai chấm bắt đầu di chuyển theo gân chính sang các cuống lá, chuyển sang các lá khác
3.3 Đặc điểm hình thái, sinh học của rầy xanh hai chấm Amrasca devastans
Distant trên cây đậu bắp năm 2014 – 2015 tại Đông Anh, Hà Nội
3.3.1 Đặc điểm hình thái của rầy xanh hai chấm
Tên khoa học: Amrasca devastans Distant
Tên khác: Empoasca devastans Distant
Họ: Cicadellidae Bộ: Homoptera
Rầy xanh hai chấm là loài biến thái không hoàn toàn Các pha phát dục của chúng gồm: trứng, rầy non, trưởng thành
Trưởng thành: Chiều dài của con đực trung bình 2,94 ± 0,08 mm, trong khi
đó con cái là 3,01 ± 0,08 mm Chiều rộng con đực trung bình 1,11 ± 0,05 mm, con cái trung bình 1,21 ± 0,08 mm (bảng 3.4) Trưởng thành có màu xanh nhạt, râu đầu có 9 đốt Phần đầu và ngực có màu xanh, phần bụng có màu hơi vàng Con đực bụng nhỏ hơn con cái đốt bụng cuối thắt lại có nhiều lông nhỏ, con cái bụng thon nhọn Phần đuôi trên cánh sau có 2 chấm màu đen
Trứng: có hình thoi, hơi nhọn ở hai đầu Kích thước chiều dài trung bình 0,94 ± 0,04 mm, chiều rộng trung bình 0,11 ± 0,01 mm (bảng 3.4) Trứng mới đẻ
ra có màu trắng, khi sắp nở chuyển màu vàng trong
Rầy non: có 5 tuổi, màu sắc, kích thước thay đổi tùy theo các tuổi Ở tuổi
1 chiều dài và chiều rộng trung bình lần lượt là: 1,21 ± 0,03 mm và 0,21 ± 0,008
mm Khi mới nở toàn bộ cơ thể có màu trắng trong Màu sắc của rầy non cũng thay đổi theo từng tuổi, ở tuổi 2 có thể có màu vàng trong, sang tuổi 3, 4 có phần bụng màu xanh vàng và mầm cánh nổi rõ, sang tuổi 5 cơ thể có màu xanh nhạt, kích thước của rầy non đẫy sức là chiều dài trung bình 2,78 ± 0,07 mm và chiều rộng trung bình là 0,74 ± 0,01 (bảng 3.4)
Trang 38Bảng 3.4 Kích thước các pha phát dục của rầy xanh hai chấm A devastans
nuôi trên lá đậu bắp tại nhiệt độ 23,58 ± 3,5 0C ẩm độ 87, 54 ± 3,55%
Trang 39Rầy non tuổi 5 Trưởng thành cái
(Nguồn: Lê Quang Khải – T5/2015)
Hình 3.2 Hình thái các pha phát dục của rầy xanh hai chấm A devastans
3.3.2 Phân bố của rầy xanh hai chấm A devastans trên cây đậu bắp
Qua điều tra chúng tôi nhận thấy khi cây đậu bắp ở giai đoạn nhỏ, đã bị
rầy xanh hai chấm hại Trong giai đoạn cây đậu bắp phát triển thân lá mạnh (giai
đoạn 30 – 60 ngày sau trồng), rầy xanh hai chấm bắt đầu phát sinh và gây hại
mạnh Kết quả được thể hiện ở bảng 3.5
Qua bảng 3.5 chúng ta nhận thấy ở giai đoạn cây đậu bắp phát triển thân
lá, rầy xanh hai chấm chủ yếu tập trung nhiều nhất ở các lá bảnh tẻ (mật độ 8
con/ lá), các tầng lá còn lại, ít thấy xuất hiện rầy xanh hai chấm hơn Trên lá rầy
xanh hai chấm chủ yếu tập trung dưới mặt sau của lá (rầy non), rất hiếm khi thấy
rầy xanh hai chấm ở mặt trên Rầy xanh hai chấm có xu hướng tập trung nhiều ở
các lá bánh tẻ gần ngọn hơn, phần gốc ít bắt gặp, các lá già màu chuyển xanh
đậm thì rất hiếm bắt gặp rầy non
Trang 40Bảng 3.5 Phân bố của rầy xanh hai chấm A devastans trên cây đậu bắp ở
giai đoạn phát triển thân lá năm 2014 tại Đông Anh, Hà Nội