DANH MỤC BẢNG Số bảng Tên bảng Trang 3.1 Diện tích tự nhiên theo mục đích sử dụng đất của huyện Lục Nam 43 3.3 Giá trị sản xuất của các ngành trên địa bàn huyện Lục Nam 47 4.1 Diện tích
Trang 1MỤC LỤC
Trang
2.1 Lý luận về quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện 5
2.2.1 Tình hình quản lý đất đai ở một số nước trên thế giới 28
Trang 23.2 Phương pháp nghiên cứu 49
4.1 Thực trạng quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh
4.1.2 Thực trạng quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Lục Nam 55 4.1.3 Đánh giá kết quả, hạn chế trong quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn
4.3 Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Lục
4.3.3 Các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về đất đai 92
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Số bảng Tên bảng Trang 3.1 Diện tích tự nhiên theo mục đích sử dụng đất của huyện Lục Nam 43
3.3 Giá trị sản xuất của các ngành trên địa bàn huyện Lục Nam 47
4.1 Diện tích đất đai theo mục đích sử dụng của huyện Lục Nam 53 4.2 Diện tích đất đai theo đơn vị hành chính trên địa bàn huyện 54 4.3 Diện tích đất đai theo đối tượng sử dụng của huyện Lục Nam năm 2014 55 4.4 Đội ngũ cán bộ phục vụ công tác quản lý đất đai của huyện Lục
4.9 Kết quả cho thuê đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp huyện
4.10 Kết quả thu hồi đất thực hiện các dự án trên địa bàn huyện Lục Nam 70 4.11 Kết quả Đăng ký, cấp GCNQSDĐ của huyện Lục Nam từ năm
4.13 Tổng hợp việc thực hiện một số quyền của người sử dụng đất trên
4.14 Kết quả thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
4.15 Kết quả giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai
4.16 Kết quả điều tra thăm dò ý kiến người dân về hệ thống các văn bản
4.17 Đội ngũ cán bộ phục vụ công tác quản lý nhà nước về đất đai của
4.18 Kết quả thăm dò, lấy ý kiến người dân về năng lực của cán bộ làm
Trang 5DANH MỤC SƠ ĐỒ
Số sơ đồ Tên sơ đồ Trang
4.1 Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về đất đai huyện Lục Nam 56
DANH MỤC HÌNH
Số hình Tên hình Trang
Trang 6PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của thiên nhiên ban tặng, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng Tuy nhiên, đất đai là tài nguyên có hạn về số lượng, có vị trí cố định trong không gian, không thể thay thế và di chuyển được theo ý muốn chủ quan của con người Mặt khác, thời gian sử dụng đất có thể là vô hạn nếu con người biết sử dụng theo hướng tích cực và hiệu quả và ngược lại đất có thể bị hủy hoại nhanh nếu chúng ta sử dụng không hợp lý Vì vậy, việc quản lý và sử dụng tài nguyên quý giá này một cách hợp lý không những có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của nền kinh tế đất nước mà còn đảm bảo cho mục tiêu chính trị và phát triển xã hội Việc quản lý đất đai luôn là mục tiêu của mọi quốc gia, mọi vùng lãnh thổ nhằm cập nhật các thông tin về đất đai, hướng đất đai phục vụ theo yêu cầu và sử dụng đất đai tiết kiệm và có hiệu quả Chính vì vậy, quản lý và sử dụng đất đai ở nước ta cũng như các nước khác trên thế giới đều được quy định trong hiến pháp
và pháp luật
Ở nước ta, những năm trước đây, khi chưa nhận thức hết tầm quan trọng của công tác quản lý và sử dụng đất, việc quản lý quỹ đất còn bị buông lỏng khiến không đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất đai trong thời kỳ đổi mới Đã xảy
ra nhiều hiện tượng tiêu cực và sử dụng đất kém hiệu quả, ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội
Huyện Lục Nam là huyện miền núi, nằm về phía Đông của tỉnh Bắc Giang, trong quá trình chuyển đổi cơ chế và thực hiện luật đất đai của Nhà nước, hoạt động quản lý đất đai là vấn đề hết sức quan trọng đang được sự quan tâm của Đảng ủy, UBND huyện và các cấp, ban, ngành có liên quan Sau khi Luật Đất đai 2003 được ban hành, và mới đây là áp dụng Luật Đất đai năm 2013, các hoạt động về quản lý đất đai trên địa bàn huyện đã đạt được một số kết quả đáng
Trang 7kể, như việc việc ban hành các văn bản đã tạo nên một hệ thống pháp luật đồng
bộ, giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai Tuy nhiên, trong quản lý đất đai còn gặp nhiều vấn đề nảy sinh dẫn đến các tồn tại cần được giải quyết như việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) có thời gian bị giãn đoạn khi thực hiện cấp theo mẫu mới, các hiện tượng như sử dụng đất trái pháp luật, lấn chiếm, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép vẫn xảy ra phổ biến, đặc biệt là hiện tượng tranh chấp đất đai ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp Tình trạng đất nông nghiệp bị hoang hóa, sử dụng kém hiệu quả trên địa bàn các xã ,thị trấn còn diễn ra phổ biến Hơn nữa, quá trình đô thị hoá nhanh, không theo quy hoạch dẫn đến tình trạng mất đất sản xuất nông nghiệp, gây khó khăn cho công tác quản lý đất đai của các cấp có thẩm quyền Trước thực tế đó, yêu cầu đặt ra là phải rút kinh nghiệm từ thực tế trong quá trình quản lý đất đai để tìm ra những giải pháp hữu hiệu đưa công tác quản lý nhà nước về đất đai sớm đi vào nề nếp
Các nghiên cứu trước đây về quản lý và sử dụng đất trên địa bàn huyện Lục Nam đã có như: Nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất và quy hoạch
sử dụng đất trên địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang” của Thạc sĩ Vũ Văn Sơn; Nghiên cứu “Đánh giá việc thực hiện các quyền sử dụng đất tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2005-2012” của Thạc sĩ Nguyễn Thị Cảnh… Còn
đi sâu vào công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Lục Nam thì chưa có đề tài nghiên cứu nào Các câu hỏi đặt ra cho lãnh đạo huyện Lục Nam là: Thực trạng quản lý nhà nước về đất đai của huyện Lục Nam ra sao ? Ưu điểm, hạn chế là gì ? Yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về đất đai là gì ? Để tăng cường quản lý nhà nước về đất đai thì cần có giải pháp gì ? Để góp phần làm rõ
các câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tăng cường quản
lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là đánh giá thực trạng, thuận lợi,
Trang 8nhà nước về đất đai nhằm sử dụng đầy đủ và hợp lý đất đai trên địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về đất đai, được thể hiện như sau:
- Các loại đất trên địa bàn huyện: Đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất chưa
sử dụng, đất các khu công nghiệp…
- Các đơn vị sử dụng đất: Hộ nông dân, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp
- Cơ quan quản lý đất đai trên địa bàn huyện: UBND huyện, phòng Tài nguyên và Môi trường, UBND các xã, thị trấn
- Các văn bản pháp lý có liên quan: Luật đất đai và các Thông tư, Nghị định ban hành kèm theo
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi về không gian
- Đề tài được triển khai nghiên cứu trên địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
- Một số nội dung chuyên sâu sẽ khảo sát ở một số xã đại diện
Trang 9- Các giải pháp đề suất sẽ áp dụng năm 2015-2020
1.3.2.3 Về nội dung
Đề tài tập trung làm rõ thực trạng quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện, phân tích những tồn tại vướng mắc, các yếu tố ảnh hưởng trong quản lý nhà nước về đất đai của huyện Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm tăng
cường quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
(1) Quản lý nhà nước về đất đai bao gồm những nội dung nào ? Sử dụng các công cụ và phương pháp gì ?
(2) Kinh nghiệm quản lý nhà nước về đất đai ở một số nước trên thế giới, ở Việt Nam và một số tỉnh, huyện như thế nào ?
(3) Quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Lục Nam được thực hiện như thế nào ?
(4) Những thuận lợi, khó khăn, hạn chế vướng mắc trong quản lý nhà nước về đất đai ở huyện Lục Nam là gì ?
(5) Giải pháp nào cần đề xuất nhằm tăng cường quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Lục Nam trong thời gian tới ?
Trang 10PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Lý luận về quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện
2.1.1 Lý luận cơ bản về đất đai
2.1.1 1 Khái niệm đất đai
Khái niệm chung về đất đai: Đất là một loại tài nguyên tự nhiên, một loại tài nguyên sản xuất, bao gồm cả lục địa và mặt nước trên bề mặt trái đất
Luật Đất đai năm 2003 quy định: "Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặt biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng" (Quốc hội, 2003)
Theo FAO, đất đai là một khu vực được xác định của bề mặt mặt đất của trái đất, bao gồm tất cả các thuộc tính của sinh quyển ngay trên hoặc dưới bề mặt này, bao gồm cả khí hậu gần bề mặt, đất và địa hình, chế độ thủy văn bề mặt (bao gồm cả
hồ cạn, sông và đầm lầy…), các lớp trầm tích gần bề mặt và nước ngầm liên quan đến dự trữ, các quần thể thực vật và động vật, mô hình định cư và kết quả vật lý của hoạt động con người trong quá khứ và hiện tại (ruộng bậc thang, lưu trữ nước hoặc các công trình thoát nước, đường giao thông, các tòa nhà, … ) (FAO, 1995)
Theo quan điểm kinh tế học thì đất đai không chỉ bao gồm mặt đất còn bao gồm cả tài nguyên dưới đất và tất cả mọi thứ sinh sôi trên mặt đất và dưới đất không do lao động và con người làm ra, tức là bao gồm mặt đất và nước ngầm, thổ nhưỡng, thực vật và động vật Với nghĩa chung nhất, đó là lớp bề mặt của trái đất, bao gồm đồng ruộng, đồng cỏ, bãi chăn thả, cây rừng, bãi hoang, mặt nước, đầm lầy và bãi đá Với nghĩa hẹp thì đất đai biểu hiện khối lượng và tính chất của quyền lợi hoặc tài sản mà một người có thể chiếm đối với đất Nó có thể bao gồm lợi ích trên đất về mặt pháp lý cũng như những quyền theo tập quán không thành văn (Hồ Thị Lam Trà, 2005)
Trang 112.1.1.2 Đặc điểm của đất đai
Đất đai có các đặc điểm: Có vị trí cố định, có hạn về diện tích, tính năng lâu bền và chất lượng khác nhau
- Có vị trí cố định: Chúng ta không thể di chuyển đất đai theo ý muốn, vị trí
cố định đã quy định tính chất vật lý, hoá học, sinh thái của đất đai Các nhân tố cá biệt như nham thạch, thổ nhưỡng, thực bì của đất đai có thể biến đổi nhưng đất đai được hoà hợp với nhân tố tự nhiên, vị trí không gian của nó là cố định, không thể di dời Tính cố định của vị trí đất đai yêu cầu con người sử dụng đất tại chỗ Vì vậy mỗi mảnh đất có đặc điểm riêng về vị trí, tính chất đất, khả năng sử dụng vào mục đích khác nhau, do đó chúng có giá trị riêng
- Có hạn về diện tích: Đất đai do lịch sử tự nhiên hình thành, diện tích có tính bất biến Hoạt động của loài người có thể cải tạo tính chất của đất, cải biến tình trạng đất đai, nhưng không thể tăng giảm diện tích đất đai theo ý muốn của con người Tính hữu hạn về diện tích đất đai yêu cầu phải tiết kiệm đất, sử dụng đất có hiệu quả Diện tích đất có hạn, quỹ đất đai dùng vào các mục đích khác nhau ngày càng trở nên khan hiếm do nhu cầu ngày càng cao về đất đai của việc đô thị hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựng nhà ở để đáp ứng với dân số ngày càng tăng
- Tính năng lâu bền: Đất đai có tính năng có thể sử dụng vĩnh cửu Trong điều kiện sử dụng và bảo vệ hợp lý, độ phì nhiêu của đất nông nghiệp có thể nâng cao không ngừng, đất nông nghiệp có thể quay vòng sử dụng Tính lâu bền của đất đai đề ra yêu cầu và khả năng khách quan sử dụng và bảo vệ hợp lý đất đai
- Chất lượng khác nhau: Điều kiện bản thân đất đai (địa chất, địa mạo, thổ nhưỡng, thực bì, nước ) và điều kiện khí hậu tương ứng (chiếu sáng, nhiệt độ, lượng mưa ) tồn tại tính khác nhau lớn về tự nhiên Tính khác nhau này trong đất
sử dụng cho nông nghiệp có thể làm cho sản lượng và phẩm chất nông sản khác nhau; đất dùng cho xây dựng đô thị có thể làm cho lực chịu tải của nền đất khác nhau Tính khác nhau của chất lượng đất đòi hỏi phải sử dụng đất hợp lý để thu hiệu quả sử dụng cao nhất Như vậy, trong quá trình khai thác và sử dụng đất nếu con người biết cách sử dụng hợp lý thì chất lượng của đất được nâng lên không ngừng
Trang 122.1.1.3 Phân loại đất đai
Theo quy định tại Điều 10, Luật Đất đai 2013: Căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai được phân loại như sau:
- Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây:
+ Đất trồng cây hàng năm gồm: Đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; + Đất trồng cây lâu năm;
- Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây:
+ Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị;
+ Đất xây dựng trụ sở cơ quan;
+ Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh;
+ Đất xây dựng công trình sự nghiệp gồm: Đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp; đất xây dựng cơ sở văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, ngoại giao và công trình sự nghiệp khác;
+ Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm: Đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất; đất thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm;
+ Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm: Đất giao thông (gồm cảng hàng không, sân bay, cảng đường thủy nội địa, cảng hàng hải, hệ thống đường
Trang 13sắt, hệ thống đường bộ và công trình giao thông khác); thủy lợi; đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; đất sinh hoạt cộng đồng, khu vui chơi, giải trí công cộng; đất công trình năng lượng; đất công trình bưu chính, viễn thông; đất chợ; đất bãi thải, xử lý chất thải và đất công trình công cộng khác; + Đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng;
+ Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng;
+ Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng;
+ Đất phi nông nghiệp khác gồm: đất làm nhà nghỉ, lán, trại cho người lao động trong cơ sở sản xuất; đất xây dựng kho và nhà để chứa nông sản, thuốc bảo
vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đất xây dựng công trình khác của người sử dụng đất không nhằm mục đích kinh doanh mà công trình đó không gắn liền với đất ở
- Nhóm đất chưa sử dụng gồm các loại đất chưa xác định mục đích sử dụng (Quốc hội, 2013)
2.1.1.4 Vai trò của đất đai
- Đất đai là tặng vật quý giá mà thiên nhiên ban tặng, phục vụ nhu cầu thiết yếu của con người
- Lịch sử phát triển của nhân loại luôn gắn liền với đất đai Tất cả các cuộc chiến tranh trên Thế giới và các cuộc đấu tranh dựng nước, giữ nước đều có liên quan đến đất đai bởi đất đai là yếu tố cấu thành lên mỗi quốc gia, là điều kiện không thể thiếu đối với môi trường sống và mọi ngành kinh tế
- Đất đai là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, có đất đai mới có các hoạt động sống diễn ra Đất đai ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh thái của con người và các sinh vật trên trái đất
- Đất đai là địa bàn phân bố dân cư, địa bàn sản xuất của con người Trong công nghiệp, đất đai có vai trò là nền tảng, cơ sở, địa điểm để tiến hành các thao tác, hoạt động sản xuất kinh doanh Trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất đai có vai trò đặc biệt, không những là địa điểm thực hiện quá trình sản xuất mà nó còn là tư liệu lao động để con người khai thác và sử dụng
- Trong mọi nền kinh tế - xã hội thì lao động, tài chính, đất đai và các
Trang 14nguồn tài nguyên là ba nguồn lực đầu vào và đầu ra là sản phẩm hàng hóa Ba nguồn lực này phối hợp với nhau, tương tác lẫn nhau, chuyển đổi qua lại để tạo nên một cơ cấu đầu vào hợp lý, quyết định tính hiệu quả trong phát triển kinh tế Ngày nay, đất đai trở thành nguồn nội lực quan trọng, nguồn vốn to lớn của mọi quốc gia
Như vậy, có thể nói đất đai là một tài sản của quốc gia do tự nhiên ban tặng và nó có vai trò quan trọng đối với tất cả sinh vật trên trái đất
2.1.2 Lý luận quản lý nhà nước về đất đai
2.1.2.1 Các khái niệm cơ bản
a) Quản lý
Quản lý là sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thông nào đó nhằm trật
tự hóa và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người quản lý (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007)
b) Quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007)
c) Quản lý nhà nước về đất đai
Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất đai (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007)
Quản lý nhà nước về đất đai tại Việt Nam chính là quản lý vốn đất đai và những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý và sử dụng đất Quá trình quản lý đất đai tại Việt Nam là quá trình tác động một cách có tổ chức và
Trang 15định hướng bằng quyền lực nhà nước đến đất đai và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của các chủ thể quản lý đất và các đối tượng sử dụng đất nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của xã hội (Đỗ Thị Đức Hạnh, 2013)
2.1.2.2 Vai trò của quản lý nhà nước về đất đai
- Bảo đảm sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả Thông qua chiến lược sử dụng đất, xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Nhà nước điều tiết
để các chủ sử dụng đất sử dụng đúng mục đích, đúng quy hoạch nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược đã đề ra
- Thông qua đánh giá, phân loại, phân hạng đất đai, Nhà nước nắm được quỹ đất tổng thể và cơ cấu từng loại đất Trên cơ sở đó có những biện pháp thích hợp để sử dụng đất đai có hiệu quả cao nhất
- Việc ban hành các chính sách, các quy định về sử dụng đất đai tạo ra một hành lang pháp lý cho việc sử dụng đất đai, tạo nên tính pháp lý cho việc bảo đảm lợi ích chính đáng của người sử dụng đất đồng thời cũng bảo đảm lợi ích của Nhà nước trong việc sử dụng, khai thác quỹ đất
- Thông qua việc kiểm tra, giám sát, quản lý và sử dụng đất đai, Nhà nước nắm bắt tình hình biến động về sử dụng từng loại đất, đối tượng sử dụng đất Từ đó, phát hiện những mặt tích cực để phát huy, điều chỉnh và giải quyết những sai phạm
- Việc quản lý nhà nước về đất đai còn giúp Nhà nước ban hành các chính sách, quy định, thể chế, đồng thời bổ sung, điều chỉnh những chính sách, nội dung còn thiếu, không phù hợp, chưa phù hợp với thực tế và góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống
2.1.2.3 Đặc điểm của quản lý nhà nước về đất đai
Quản lý nhà nước về đất đai do Nhà nước thực hiện thông qua bộ máy các cơ quan nhà nước dựa trên cơ sở quyền lực nhà nước (quyền lực công hay còn được gọi
là công quyền) Trong quá trình quản lý đất đai, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật đất đai buộc các đối tượng chịu sự quản lý là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất phải tuân theo
Phạm vi của hoạt động quản lý nhà nước về đất đai là lãnh thổ của từng
Trang 16cấp đơn vị hành chính và toàn bộ vốn đất đai nằm trong đường biên giới quốc gia Hoạt động quản lý nhà nước về đất đai mang tính vĩ mô thể hiện ở việc xây dựng, hoạch định chiến lược, chính sách về quản lý và sử dụng đất chứ không hướng vào các hoạt động sử dụng đất mang tính tác nghiệp cụ thể
2.1.2.4 Nguyên tắc của quản lý nhà nước về đất đai
Quản lý nhà nước về đất đai được thực hiện trên cơ sở 4 nguyên tắc căn bản sau:
a) Đảm bảo sự quản lý tập trung và thống nhất của Nhà nước
Đất đai là tài nguyên của quốc gia, là tài sản chung của toàn dân Vì vậy, không thể có bất kỳ một cá nhân hay một nhóm người nào chiếm đoạt tài sản chung thành tài sản riêng của mình được Vấn đề này được quy định tại Điều 18, Hiến pháp 1992: "Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả" (Quốc hội, 1992) và được cụ thể hơn tại Điều 5, Luật Đất đai 2003: "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu", "Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai", "Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất thông qua các chính sách tài chính về đất đai" (Quốc hội, 2003)
b) Đảm bảo sự kết hợp giữa quyền sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất đai
Từ khi Hiến pháp 1980 ra đời, quyền sở hữu đất đai ở nước ta chỉ nằm trong tay Nhà nước còn quyền sử dụng đất đai vừa có ở Nhà nước, vừa có ở trong từng chủ sử dụng cụ thể Vấn đề này được thể hiện ở Điều 5, Luật Đất đai 2003 "Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng ổn định; quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất" (Quốc hội, 2003)
c) Ðảm bảo sự kết hợp hài hoà các lợi ích
Ðảm bảo sự kết hợp hài hoà các lợi ích nhằm phát huy khả năng của các chủ
sử dụng cũng như tiềm năng sẵn có của đất đai
Quan hệ đất đai phản ánh một cách khá rõ ràng mối quan hệ và lợi ích cá nhân tập thể và lợi ích cộng đồng xã hội Ðối với các tổ chức kinh tế, đất đai là yếu
tố sản xuất; tổ chức chính trị xã hội đất đai là cơ sở, nền móng để tồn tại và phát
Trang 17nó phản ánh lợi ích chung của xã hội Lợi ích về đất đai không chỉ liên quan đến lợi ích cá nhân mà còn quan hệ với lợi ích tập thể, lợi ích toàn xã hội
d) Tiết kiệm và hiệu quả
Tiết kiệm và hiệu quả là nguyên tắc của quản lý kinh tế Thực chất quản lý đất đai cũng là một dạng của quản lý kinh tế nên cũng phải tuân theo nguyên tắc này Tiết kiệm là cơ sở, là nguồn gốc của hiệu quả Nguyên tắc này trong quản lý đất đai được thể hiện bằng việc:
- Xây dựng các phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, có tính khả thi cao
- Quản lý và giám sát việc thực hiện các phương án quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất
2.1.2.5 Nội dung quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện
a) Ban hành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về quản lý nhà nước về đất đai
Để đạt được mục tiêu “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý”, bảo vệ lợi ích hợp pháp của tổ chức, gia đình, cá nhân cũng như công tác quản lý đất đai có hiệu quả thì việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đất đai là vô cùng quan trọng Luật đất đai và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) dưới Luật hợp thành những quy phạm chuẩn mực pháp lý để Nhà nước tiến hành quản lý tình hình sử dụng đất thông qua bộ máy chính quyền của mình
Trong quá trình quản lý, Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất QLNN về đất đai trong toàn quốc, Nhà nước đã quy định rất cụ thể thẩm quyền ban hành VBQPPL trong lĩnh vực đất đai cho một
số cơ quan thường xuyên thực hiện quyền hạn và trách nhiệm đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, thực hiện nhiệm vụ thống nhất QLNN về đất đai như: Quốc Hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, và các Bộ có liên quan trực tiếp đến lĩnh vực đất đai Tại địa phương, thẩm quyền ban hành VBQPPL trong lĩnh vực này được trao cho HĐND và UBND
- Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập Hiến và lập Pháp Điều này
Trang 18bổ sung năm 2007 Vì vậy, Quốc hội là cơ quan duy nhất có thẩm quyền ban hành Hiến pháp và Luật Trong lĩnh vực đất đai, Quốc hội ban hành Luật đất đai
và sửa đổi, bổ sung Luật đất đai Theo đó, Quốc Hội ban hành các VBQPPL trong lĩnh vực đất đai khi thực hiện các chính sách về đất đai của Nhà nước, các quyết định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Nhà nước cũng như trong quá trình thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việc quản lý và sử dụng đất đai trong phạm vi cả nước
- Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội, có thẩm quyền ban hành pháp lệnh và nghị quyết để giải quyết những nhiệm vụ mà Quốc hội giao Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính nói chung trong đó có cả lĩnh vực đất đai để trên cơ sở đó Chính phủ ban hành nghị định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
- Chính Phủ có thẩm quyền ban hành các nghị định thi hành và quy định chi tiết Luật đất đai để thực hiện nhiệm vụ thống nhất QLNN về đất đai Chính phủ ban hành các VBQPPL trong lĩnh vực đất đai khi đưa ra các quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh, thành phố thuộc trung ương và quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh; thống nhất QLNN về
đất đai trong phạm vi cả nước
- Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền ban hành các quyết định cần thiết
để giải quyết những vấn đề quan trọng trong lĩnh vực đất đai
- Bộ trưởng Bộ TN&MT và các Bộ trưởng các Bộ có liên quan có thẩm quyền ban hành VBQPPL dưới hình thức thông tư, nghị định trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến hoạt động QLNN về đất đai
- HĐND các cấp thực hiện quyền giám sát việc thi hành pháp luật về đất đai tại địa phương
- UBND các cấp ban hành các quyết định, chỉ thị trong lĩnh vực đất đai trong quá trình thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai và QLNN về đất
đai trong đơn vị mình quản lý
b) Quản lý hồ sơ đất đai
(1) Xác định địa giới hành chính
Trang 19Địa giới hành chính là ranh giới các đơn vị hành chính kèm theo địa danh
và một số yếu tố chính về tự nhiên, kinh tế, xã hội Địa giới hành chính được xác định bằng các mốc giới cụ thể, thể hiện toạ độ vị trí đó Hiện nay nước ta được chia thành 4 cấp hành chính là: Cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Giữa các đơn vị hành chính các cấp này đều có ranh giới được thể hiện bằng các mốc địa giới có toạ độ của vị trí các mốc đó
Việc xác định địa giới hành chính được quy định tại Điều 16, Luật Đất đai 2003: "Chính phủ chỉ đạo việc xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính các cấp trong phạm vi cả nước Bộ Nội vụ quy định về trình
tự, thủ tục xác định địa giới hành chính, quản lý mốc địa giới và hồ sơ địa giới hành chính Bộ TN&MT quy định về kỹ thuật và định mức kinh tế trong việc cắm mốc địa giới hành chính, lập hồ sơ địa giới hành chính các cấp UBND các cấp tổ chức thực hiện việc xác định địa giới hành chính trên thực địa, lập hồ sơ địa giới hành chính trong phạm vi địa phương" (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007)
(2) Lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính
Hồ sơ địa giới hành chính là hồ sơ phục vụ QLNN đối với địa giới hành chính Hồ sơ địa giới hành chính bao gồm tài liệu dạng giấy, dạng số thể hiện thông tin về việc thành lập, điều chỉnh đơn vị hành chính và các mốc địa giới, đường địa giới của đơn vị hành chính đó
Hồ sơ địa giới hành chính cấp dưới do UBND cấp trên trực tiếp xác nhận; hồ sơ địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Bộ Nội vụ xác nhận
Hồ sơ địa giới hành chính cấp nào được lưu trữ tại UBND cấp đó và UBND trên, Bộ Nội vụ, Bộ TN&MT (Quốc hội, 2013)
Trang 20trọng trong hồ sơ địa chính để quản lý đất đai ở các địa phương Nó là một trong bốn loại tài liệu của hồ sơ địa chính
Bản đồ địa chính được lập theo lưới toạ độ quốc gia để phục vụ cho công tác QLNN về đất đai nên được thể hiện chi tiết đến từng thửa đất Vì vậy, tùy theo khu vực cụ thể mà bản đồ địa chính được xây dựng theo các tỷ lệ: 1:500, 1:1000, 1:2000, l:5000 Yêu cầu của bản đồ địa chính là tất cả những thửa đất
có diện tích ≥10 mm2 theo tỷ lệ bản đồ phải được thể hiện trên bản đồ (Nguyễn Thanh Trà, 1999)
Hiện nay, theo quy định của Luật đất đai việc khảo sát, đo đạc, xây dựng
và quản lý bản đồ địa chính trong toàn quốc đều do Bộ TN&MT chỉ đạo; việc khảo sát, đo đạc, xây dựng bản đồ địa chính ở các địa phương do UBND cấp tỉnh trực tiếp tổ chức thực hiện (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007)
(4) Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất
- Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất: Trên cơ sở này, nhà nước mới nắm chắc được toàn bộ vốn đất đai về cả số lượng lẫn chất lượng để từ đó mới có phương hướng và các chính sách sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất đai có hệ thống, có căn cứ khoa học trên phạm vi từng vùng, từng địa phương
+ Việc khảo sát, đo đạc đất đai được thực hiện thống nhất từ Trung ương đến địa phương Các cơ quan quản lý đất đai và các cơ quan thuộc hệ thống Nhà nước thực hiện quá trình khảo sát, đo đạc, và nghiên cứu thực địa để nắm chắc toàn bộ số lượng đất đai (tổng hợp diện tích tự nhiên) và từng loại đất đai (đất nông nghiệp, đất ở…) của toàn quốc, cũng như của từng địa phương
+ Đánh giá và phân hạng đất đai thực chất là đánh giá chất lượng của đất đai và trên cơ sở đó xác định giá trị kinh tế từng loại hạng đất theo chất lượng + Phân hạng đất đai do cơ quan QLNN có thẩm quyền thực hiện dựa trên
cơ sở chất lượng đất đai đã khảo sát, vị trí, địa hình, mục đích sử dụng
+ Phương pháp đánh giá và phân hạng đất được cơ quan quản lý đất đai ban hành dưới dạng quy trình, quy phạm làm cho hệ thống yếu tố kỹ thuật giống
Trang 21Bộ TN&MT chịu trách nhiệm chỉ đạo thực hiện nội dung này trên phạm vi
cả nước UBND địa phương lập bản đồ hiện trạng và bản đồ quy hoạch sử dụng đất của địa phương (Quốc hội, 2003)
(5) Lập và quản lý hồ sơ địa chính
Hồ sơ địa chính là tài liệu phục vụ QLNN về sử dụng đất, được lập theo đơn vị hành chính cấp xã và được lập chi tiết đến từng thửa đất
Theo Điều 47, Luật Đất đai năm 2003 quy định:
"Hồ sơ địa chính bao gồm: Bản đồ địa chính; Sổ địa chính; Sổ mục kê đất đai; Sổ theo dõi biến động đất đai
Nội dung hồ sơ địa chính bao gồm các thông tin về thửa đất: Số hiệu, kích thước, hình thể, diện tích, vị trí; Người sử dụng thửa đất; Nguồn gốc, mục đích, thời hạn sử dụng đất; Giá đất, tài sản gắn liền với đất, nghĩa vụ tài chính về đất đai đã thực hiện và chưa thực hiện; GCNQSDĐ, quyền và những hạn chế về quyền của người sử dụng đất; Biến động trong quá trình sử dụng đất và các thông tin khác có liên quan
Bộ TN&MT quy định về hồ sơ địa chính, hướng dẫn việc lập, chỉnh lý và quản lý hồ sơ địa chính" (Quốc hội, 2003)
c) Quản lý sử dụng đất
Trang 22(1) Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp lý của nhà nước về tổ chức sử dụng, quản lý đất đai một cách đầy
đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc tính toán phân bổ quỹ đất cho các ngành, các mục đích sử dụng, các tổ chức và cá nhân sử dụng đất nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội và tạo điều kiện bảo vệ đất đai môi trường sinh thái
Theo Điều 3 của Luật Đất đai 2013: "Quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ
và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế
- xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên
cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định"
"Kế hoạch sử dụng đất là việc phân chia quy hoạch sử dụng đất theo thời gian để thực hiện trong kỳ quy hoạch sử dụng đất" (Quốc hội, 2013)
(2) Giao đất, cho thuê đất, thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất
Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất là một khâu quan trọng trong nội dung QLNN về đất đai, nó phản ánh cụ thể chính sách của Nhà nước trong việc điều chỉnh các quan hệ đất đai trong thời kỳ đổi mới Mục đích giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất là phân phối lại quỹ đất của Nhà nước, thực hiện phân bổ đất đai hợp lý, công bằng vì lợi ích của Nhà nước, của mọi tổ chức, cá nhân sử dụng đất
Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép người sử dụng đất chuyển mục đích sử dụng đất đều là các hoạt động trao quyền sử dụng đất từ Nhà nước cho người sử dụng hoặc đồng ý cho người đang sử dụng đất chuyển sang sử dụng vào mục đích khác Các hoạt động này đều nhằm:
- Đảm bảo cho đất đai được phân phối và phân phối lại cho các đối tượng
sử dụng được sử dụng hợp pháp, đúng mục đích mà Nhà nước đã quy định, đạt hiệu quả cao, thúc đẩy nền kinh tế phát triển
- Đáp ứng được nhu cầu của mọi đối tượng sử dụng đất, kể cả trong nước
Trang 23- Xác lập mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước với người sử dụng làm cơ
sở để giải quyết mọi mối quan hệ về đất đai và người sử dụng yên tâm thực hiện các quyền của mình trên diện tích đất đó (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007)
(3) Thống kê, kiểm kê đất đai
Thống kê, kiểm kê đất đai là việc làm thường kỳ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm nắm chắc về số lượng đất đai và diễn biến đất đai trong quá trình quản lý và sử dụng
Theo Khoản 21 và 22, Điều 4, Luật Đất đai 2003 quy định: "Thống kê đất đai là việc Nhà nước tổng hợp, đánh giá trên hồ sơ địa chính về hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm thống kê và tình hình biến động đất đai giữa hai lần thống kê"; "Kiểm kê đất đai là việc Nhà nước tổng hợp, đánh giá trên hồ sơ địa chính
và trên thực địa về hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm kiểm kê và tình hình biến động đất đai giữa hai lần kiểm kê"
Nội dung thống kê, kiểm kê đất đai: Thu thập số liệu về diện tích đất đai theo mục đích sử dụng và theo đối tượng sử dụng; số liệu về đối tượng sử dụng đất; số liệu về việc chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn từng đơn vị hành chính Xử lý các số liệu thu thập được để có các số liệu tổng hợp, từ đó rút ra kết luận về cơ cấu sử dụng đất (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007)
d) Đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Những trường hợp đòi hỏi chủ sử dụng đất phải có trách nhiệm đăng kí đất đai tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền:
Trang 24+ Khi nhà nước giao quyền sử dụng đất
+ Khi chuyển mục đích sử dụng đất
+ Khi thực hiện việc chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê quyền
sử dụng đất
(2) Quản lý cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Cấp GCNQSDĐ được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, nhằm quản lý đến từng thửa đất, từng chủ sử dụng đất, tạo điều kiện để người sử dụng đất thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, từng bước hình thành và phát triển thị trường bất động sản có sự quản lý của Nhà nước GCNQSDĐ là cơ sở để thiết lập hồ sơ địa chính, là công cụ để chính quyền các cấp quản lý, nắm chắc được quỹ đất, đăng ký chỉnh lý biến động, đồng thời phục
vụ cho công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương phù hợp với hiện trạng sử dụng đất
Theo Khoản 20, Điều 4, Luật Đất đai 2003: "GCNQSDĐ là giấy chứng nhận do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất"
Pháp luật đất đai quy định GCNQSDĐ do Bộ TN&MT phát hành và được cấp cho người sử dụng đất theo một mẫu thống nhất trong cả nước đối với mọi loại đất
Quản lý việc cấp GCNQSDĐ được pháp luật đất đai quy định bằng việc quản lý cấp phát phôi GCNQSDĐ QLNN về cấp GCNQSDĐ đòi hỏi người làm công tác này phải nắm được các quy định trong pháp luật đất đai về những nội dung như: Quy trình cấp GCNQSDĐ; Thẩm quyền GCNQSDĐ; Những trường hợp nào được cấp GCNQSDĐ (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007)
e) Quản lý tài chính về đất đai
Quản lý tài chính về đất đai là một trong những biện pháp của nhà nước ban hành ra nhằm phân phối lại lợi ích của các bên tham gia trong các mối quan
hệ liên quan đến đất đai, đây còn là nguồn thu tương đối lớn cho ngân sách nhà nước Quản lý tài chính về đất đai bao gồm quản lý giá đất và quản lý các nguồn thu ngân sách từ đất đai Theo Luật Đất đai 2003:
Trang 25Giá đất thực chất là giá quyền sử dụng đất là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất Giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định Nguồn thu ngân sách nhà nước từ đất đai bao gồm: tiền sử dụng đất; tiền thuế từ đất; tiền lệ phí đối với các công việc liên quan đến đất; tiền phạt đối với các hoạt động vi phạm pháp luật về đất đai (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007) f) Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về đất đai
(1) Theo dõi, giám sát, điều chỉnh việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
Để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất thì chức năng theo dõi, giám sát và điều chỉnh trong công tác QLNN về đất đai là hết sức quan trọng
và cần thiết Luật đất đai quy định các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đồng thời, để các quyền và nghĩa vụ này được thực hiện đúng, pháp luật đất đai còn quy định trách nhiệm của cơ quan QLNN về đất đai các cấp là phải quản lý, giám sát người sử dụng xem trong quá trình sử dụng họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ này như thế nào; quy định việc xử lý các trường hợp người sử dụng và người quản lý vi phạm pháp luật đất đai
Luật Đất đai năm 2003 quy định các quyền của người sử dụng đất: Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất (Quốc hội, 2003)
(2) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai, xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
Thanh tra đất đai là việc điều tra, xem xét để làm rõ việc vi phạm pháp luật đất đai và kiến nghị biện pháp xử lý Kiểm tra đất đai là việc xem xét tình hình thực tế về quản lý, sử dụng đất đai để đánh giá, nhận xét
Thanh tra đất đai là thanh tra nhà nước theo chuyên ngành về đất đai Bộ TN&MT chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện thanh tra đất đai trong cả
Trang 26thanh tra đất đai tại địa phương (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007)
Trong công tác QLNN nói chung và QLNN về đất đai nói riêng, chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát là rất quan trọng Thông qua việc thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai nhằm mục đích phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật đất đai; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động QLNN về đất đai; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng đất
(3) Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý xử dụng đất
Trong quản lý sử dụng đất đai không tránh khỏi những tranh chấp, khiếu nại, tố cáo Đặc biệt, đất đai là lĩnh vực nhạy cảm, xảy ra nhiều tranh chấp, khiếu nại, tố cáo hơn các lĩnh vực khác Hiện nay một trong những vấn đề nổi cộm của công tác QLNN về đất đai là giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai
Giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai đóng vai trò quan trọng trong công tác QLNN đối với đất đai, là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ các tổ chức,
hộ gia đình và cá nhân tham gia quan hệ đất đai để tìm ra các giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm phục hồi lại các quyền lợi bị xâm phạm, đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm luật đất đai
2.1.2.6 Công cụ và phương pháp quản lý nhà nước về đất đai
a) Công cụ
(1) Công cụ pháp luật
Pháp luật là công cụ quản lý không thể thiếu được của một Nhà nước Từ xưa đến nay, Nhà nước nào cũng luôn thực hiện quyền cai trị của mình trước hết bằng pháp luật Nhà nước dùng pháp luật tác động vào ý chí con người để điều chỉnh hành vi của con người
Pháp luật có những vai trò chủ yếu đối với công tác quản lý đất đai như
Trang 27Trong hoạt động xã hội, vấn đề đất đai gắn chặt với lợi ích vật chất và tinh thần của mọi chủ thể sử dụng đất nên vấn đề này dễ nảy sinh nhiều mâu thuẫn Trong các mâu thuẫn đó có những vấn đề phải dùng đến pháp luật mới xử lý được
Trang 28Pháp luật là công cụ bắt buộc các tổ chức và cá nhân thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước và các nghĩa vụ khác Trong sử dụng đất đai, nghĩa vụ nộp thuế là nghĩa vụ bắt buộc, nhưng không phải lúc nào nghĩa vụ đó cũng được thực hiện một cách đầy đủ có rất nhiều trường hợp phải dùng biện pháp cưỡng chế và bắt buộc thì nghĩa vụ đó mới được thực hiện
Pháp luật là công cụ mà qua đó Nhà nước bảo đảm sự bình đẳng, công bằng giữa những người sử dụng đất Nhờ những điều khoản bắt buộc, thông qua các chính sách miễn giảm, thưởng, phạt cho phép Nhà nước thực hiện được sự bình đẳng cũng như giải quyết tết mối quan hệ về lợi ích trong lĩnh vực đất đai giữa những người sử dụng đất Pháp luật là công cụ tạo điều kiện cho các công cụ quản
lý khác, các chế độ, chính sách của Nhà nước được thực hiện có hiệu quả hơn Trong hệ thống pháp luật của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có các công cụ pháp luật liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quản lý đất đai cụ thể như: Hiến pháp, Luật đất đai, Luật dân sự, các pháp lệnh, các nghị định, các quyết định, các thông tư, các chỉ thị, các nghị quyết của Nhà nước, của Chính phủ, của các bộ, các ngành có liên quan đến đất đai một cách trực tiếp hoặc gián tiếp và các văn bản quản lý của các cấp, các ngành ở chính quyền địa phương (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007)
(2) Công cụ kỹ thuật
Các công cụ kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong QLNN về đất đai Nhờ có các cải tiến kỹ thuật mà nhà nước quản lý đất đất đai một cách khoa học và hiệu quả hơn Một số thành quả của công nghệ kỹ thuật trong công tác quản lý đất đai như: + Bản đồ số: Với bộ cơ sở dữ liệu này, chỉ cần cử chỉ nhấp chuột là chúng ta có thể tìm được đối tượng cần tìm kiếm như loại đất, thửa đất, diện tích đất cụ thể như thế nào Nếu như trước đây mỗi khi có biến động ở mỗi thửa đất, cán bộ địa chính thường phải tiến hành công việc đo lại thửa đất đó rồi vẽ lại trên bản đồ thì nay chỉ cần cập nhật thông tin nguyên nhân có sự thay đổi là xong Điều này giúp cho người làm công tác quản lý đất đai nắm được thông tin cụ thể, chi tiết để đưa ra những quyết định hợp lý và giúp cho
Trang 29+ Bản đồ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giúp cho việc sử dụng các loại đất được bố trí, sắp xếp một cách hợp lý Nhà nước kiểm soát được mọi diễn biến về tình hình đất đai Từ đó, ngăn chặn được việc sử dụng đất sai mục đích, lãng phí Đồng thời, thông qua quy hoạch, kế hoạch buộc các đối tượng sử dụng đất chỉ được phép sử dụng trong phạm vi ranh giới của mình (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007)
(3) Công cụ tài chính
Tài chính là tổng hợp các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính của các chủ thể kinh tế - xã hội Các công cụ tài chính và vai trò của nó trong QLNN đối với đất đai:
- Thuế và lệ phí: là công cụ tài chính chủ yếu được sử dụng rộng rãi trong công tác quản lý đất đai Theo Luật Đất đai năm 2003, Nhà nước ban hành các loại thuế chủ yếu trong lĩnh vực đất đai như sau: Thuế sử dụng đất; thuế chuyển quyền
sử dụng đất; thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất (có thể có) Các loại lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai như lệ phí trước bạ, lệ phí địa chính
- Giá cả: Đối với đất đai hiện nay, Nhà nước đã ban hành khung giá chung cho các loại đất cụ thể được quy định tại Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ để làm cơ sở chung cho UBND tỉnh làm căn cứ tính giá đất và thu thuế sử dụng đất; thu tiền khi giao đất, khi cho thuê đất, khi cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất
- Ngân hàng: là công cụ quan trọng của quan hệ tài chính Ngoài nhiệm vụ kinh doanh tiền tệ nói chung nó còn được hình thành để cung cấp vốn cho các công lệnh về khai hoang, cải tạo đất… (Trịnh Đình Thắng, 2002)
b) Phương pháp quản lý nhà nước đất đai
(1) Phương pháp thống kê đất đai
Tiến hành điều tra, khảo sát, tổng hợp và sử dụng các số liệu trên cơ sở đã tính toán các chỉ tiêu Qua số liệu thống kê phân tích sử dụng đất, nguyên nhân, tồn tại, hạn chế trong quá trình sử dụng đất, để nắm được tình hình số lượng, chất lượng đất đai, nắm bắt đầy đủ các thông tin về đất đai cho phép các cơ quan có
kế hoạch về quản lý đất đai
Trang 30(2) Phương pháp hành chính
Phương pháp quản lý hành chính về đất đai là cách thức tác động trực tiếp của Nhà nước đến các chủ thể trong quan hệ đất đai, bao gồm các chủ thể là cơ quan quản lý đất đai của Nhà nước và các chủ thể là người sử dụng đất (các hộ gia đình, các cá nhân, các tổ chức) bằng các biện pháp, các quyết định mang tính mệnh lệnh bắt buộc Nó đòi hỏi người sử dụng đất phải chấp hành nghiêm chỉnh, nếu vi phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật
(3) Phương pháp giao quyền sử dụng đất
Phương pháp giao quyền sử dụng đất là cách thức tác động một cách gián tiếp vào đối tượng bị quản lý, thông qua các lợi ích kinh tế để đối tượng bị quản lý
tự lựa chọn phương án hoạt động của mình sao cho có hiệu quả nhất
2.1.2.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về đất đai
a) Hệ thống văn bản pháp luật
Các cơ quan quản lý theo đúng pháp luật quy định để thực hiện, sẽ không trở ngại nào nếu văn bản pháp luật đó mang tính khoa học và cụ thể Một hệ thống pháp luật đồng bộ, rõ ràng, cụ thể giúp cho công tác quản lý được hiệu quả
và thuận lợi Pháp luật xác lập, củng cố và hoàn thiện những cơ sở pháp lý của nhà nước, đặc biệt là trong lĩnh vực QLNN về đất đai nhằm phát huy cao nhất hiệu lực của cơ quan QLNN Trong quản lý đất đai để đạt được hiệu quả sử dụng đất, bảo vệ lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân giúp cho công tác QLNN về đất đai có hiệu quả thì việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn bản chính sách, pháp luật đất đai là vô cùng quan trọng
b) Bộ máy tổ chức
Bộ máy tổ chức là một trong những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý của nhà nước Việc tổ chức tốt một bộ máy triển khai có tính quyết định đến việc thực thi và hoàn thành các nhiệm vụ được giao Vai trò của bộ máy
tổ chức thể hiện qua các văn bản chỉ đạo, công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nội dung quản lý Thông qua kiểm tra giám sát việc thực hiện các chủ trương chính sách, có hướng chỉ đạo mà hiệu quả làm việc, kết quả thực hiện được đảm bảo, nhờ đó kịp thời phát hiện, xử lý những sai phạm, tránh được
Trang 31Trong quản lý đất đai một bộ máy quản lý đồng bộ, thống nhất giữa các cấp, ngành sẽ giúp cho việc quản lý và giải quyết các vụ việc được thuận lợi và nhanh tróng, không ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân, góp phần tích cực trong công tác QLNN về đất đai
c) Năng lực cán bộ
Đội ngũ cán bộ thực hiện QLNN về đất đai có vai trò quan trọng trong quản lý, giám sát, thực hiện các nội dung quản lý đất đai ở địa phương Năng lực, trình độ chuyên môn của cán bộ sẽ ảnh hưởng đến kết quả đạt được trong công tác quản lý sử dụng đất Việc phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở phải luôn gắn chặt với vai trò của đội ngũ cán bộ cơ sở, vì cán bộ chính quyền cơ sở là
bộ phận quan trọng trong đội ngũ cán bộ của hệ thống tổ chức bộ máy chính quyền nước ta
d) Cơ sở vật chất kĩ thuật
Ngày nay công tác quản lý đất đai đang phát triển theo hướng hiện đại hóa trên cơ sở mô hình tổ chức tiến tiến và ứng dụng công nghệ hiện đại Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, sự ra đời và hoàn thiện của các thiết
bị công nghệ số đã làm thay đổi toàn diện phương thức quản lý đất đai từ điều tra, khảo sát thu thập thông tin tới xử lý số liệu, quản lý, vận hành và khai thác
dữ liệu xây dựng hệ thống hồ sơ đất đai; trao đổi, cung cấp thông tin cũng như thực hiện các giao dịch và thủ tục hành chính về đất đai… Điều kiện cơ sở vật chất tốt, đáp ứng được các yêu cầu trong quản lý đất đai sẽ giúp cho công tác QLNN về đất đai đạt hiệu quả và ngược lại
e) Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
Đặc điểm tự nhiên địa hình, địa mạo, phân bố các loại đất tác động đến công tác quản lý sử dụng đất Yếu tố kinh tế - xã hội như: chế độ xã hội, mật độ dân số và lao động, vấn đề việc làm và tốc độ phát triển của kinh tế, trình độ quản lý, điều kiện và trang thiết bị vật chất cho công tác phát triển nguồn nhân lực…tác động, gây ảnh hưởng đến công tác QLNN về đất đai của địa phương
Trang 322.1.2.8 Các chủ trương, chính sách của Việt Nam về quản lý nhà nước về đất đai
về đất đai
Ở Việt Nam, Nhà nước là chủ thể duy nhất giữ vai trò đại diện sở hữu đất đai Vai trò đại diện chủ sở hữu được xác lập trên cơ sở Hiến pháp năm 1980 Nhà nước thể hiện quyền năng sở hữu của mình bằng việc xác lập các chế độ pháp lý về quản lý và sử dụng đất của các cơ quan quyền lực trên cơ sở những đặc điểm kinh tế
xã hội chính trị của đất nước
Cơ sở pháp lý của các hoạt động quản lý, sử dụng đất được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể hiện thông qua hệ thống các VBQPPL
do Nhà nước ban hành có liên quan đến lĩnh vực đất đai như Hiến pháp, Luật và các văn bản pháp luật dưới Luật Các nội dung về chế độ quản lý đất đai, chế độ
sử dụng các loại đất, nghĩa vụ, quyền lợi của người sử dụng đất… đã được quy định cụ thể trong Luật Đất đai
Từ năm 1980 đến nay, nhà nước ta đã ban hành Luật Đất đai 1987; Luật Đất đai 1993; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai 1993 năm 1998, năm 2001; Luật Đất đai 2003, Luật sửa đổi, bổ cung một số điều của Luật Đất đai năm
2003 năm 2009 và mới đây ngày 26 tháng 11 năm 2013 Quốc hội thông qua Luật Đất đai 2013, thay thế Luật Đất đai năm 2003 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2014
Cùng với Hiến pháp và Luật Đất đai, để Nhà nước nắm chắc, quản chặt quỹ đất cùng với Luật đất đai, Nhà nước ban hành một loạt các VBQPPL dưới Luật như Nghị định, Thông tư… để cụ thể hóa các quy định quản lý đất đai trong Hiến pháp và Luật Đất đai Thống kê từ khi Luật Đất đai năm 1987 được ban hành đến khi Luật Đất đai năm 2013 ra đời đã có hơn 200 VBQPPL được cơ quan nhà nước ban hành về quản lý và sử dụng đất đai
Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, Nhà nước ta luôn đặc biệt chú trọng đến công tác quản lý sử dụng đất Ứng với mỗi thời kỳ, Nhà nước ban hành một hệ thống văn bản pháp luật về đất đai phù hợp với chế độ chính trị và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, từng bước triển khai và hoàn thiện công tác quản lý và
sử dụng đất nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên quốc gia, phù hợp và góp phần tích cực
Trang 332.2 Cơ sở thực tiễn quản lý nhà nước về đất đai
2.2.1 Tình hình quản lý đất đai ở một số nước trên thế giới
2.2.1.1 Trung Quốc
Luật Đất đai của Trung Quốc được xây dựng vào các năm 1954, 1975,
1978 và 1982 Trong đó, Luật Đất đai năm 1982 là bộ luật hoàn chỉnh nhất Từ năm 1982 Luật Đất đai Trung Quốc đã được sửa đổi 4 lần (qua các năm 1988,
1993, 1999 và năm 2004) Việc sử dụng Luật Đất đai lần này được tiến hành từ năm 2003 nay đã hoàn thành việc sửa đổi, tại thời điểm đoàn công tác tại Trung Quốc thì dự thảo sửa đổi này đang được trình Quốc vụ viện Trung Quốc để xem xét Nội dung cơ bản của Luật Đất đai sửa đổi lần này gồm 7 nội dung sau: (1) Duy trì việc bảo vệ đất nông nghiệp
(2) Quy định về sử dụng đất công trình ngầm
(3) Công khai quy hoạch
(4) Việc cải tạo lại đất đã khai thác khoáng sản xong
(5) Hạn chế việc lợi dụng sử dụng đất đai
(6) Chế độ giám sát đất đai
(7) Chế độ bảo vệ đất nông nghiệp
- Luật Đất đai hiện hành của Trung quốc có nội dung quy định mang tính nguyên tắc (gần giống với Luật Đất đai năm 1987 của Việt Nam); trong đó đối với những nội dung quan trọng và có vai trò quyết định chi phối các nội dung khác được quy định cụ thể và mang tính pháp chế cao, những nội dung khác chỉ quy định nguyên tắc chung có tính mở và giao Chính phủ quy định để các địa phương thực hiện hoặc chính quyền tỉnh, thành phố quy định cụ thể
Ưu điểm là những nội dung quy định nguyên tắc trong luật được áp dụng trong một thời gian dài nhiều năm và thực hiện tại nhiều địa phương có đặc điểm, điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội khác nhau vẫn phù hợp; căn cứ vào nguyên tắc quy định của luật, Chính phủ thông qua ban hành các nghị định quy định cụ thể hơn, các nguyên tắc với mức độ điều chỉnh khác nhau phù hợp
Trang 34với từng thời kỳ, giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và việc sửa đổi quy định cụ thể bảo đảm kịp thời đáp ứng được yêu cầu trong thực tế phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đặt ra; đồng thời UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ vào quy định của Chính phủ để quy định các nội dung
cụ thể hơn để áp dụng và thực hiện phù hợp với đặc điểm, điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế, xã hội tại địa phương
- Trong luật và quy định của chính phủ về quản lý đất đai có quy định rõ
và tách bạch nội dung giám sát quản lý đất đai và kiểm tra việc sử dụng đất, gắn với các quy định về chế tài xử lý đã bảo đảm việc quản lý được tăng cường trách nhiệm và hạn chế những sai phạm phát sinh về quản lý đất đai trong các cơ quan nhà nước, đồng thời có căn cứ xử lý triệt để đối với các trường hợp quản lý sai quy định hoặc sử dụng đất vi phạm pháp luật
- Quy định chỉ giao đất ở cho các tổ chức đầu tư kinh doanh nhà ở và không giao đất ở cho hộ gia đình cá nhân sử dụng tại đô thị có nâng cao hiệu quả
sử dụng đất, nhưng chưa tạo điều kiện thuận lợi và điều kiện về chỗ ở cho các hộ gia đình có mức thu nhập thấp hoặc gia đình có nhiều thế hệ sinh sống, chính sách, cơ chế thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất chưa được quy định rõ và đầy đủ giữa các địa phương thực hiện còn có sự khác nhau
- Quy định thu hồi đất và cơ chế bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có ưu điểm là được Chính phủ kiểm soát (phê duyệt) và giám sát chặt việc thu hồi đất
đã bảo đảm việc sử dụng đất theo quy hoạch; cơ chế bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã thực hiện công khai, minh bạch và cho người bị thu hồi đất, bị thiệt hại về tài sản được trao đổi trực tiếp (thỏa thuận) về giá, mức bồi thường với cơ quan, đơn vị lập phương án thực hiện bồi thường Tuy nhiên còn có nhược điểm
là chưa phân cấp được thẩm quyền và trách nhiệm cho UBND cấp tỉnh; tăng thủ tục hành chính và thời gian giải quyết; việc thỏa thuận giá trị bồi thường giữa người dân với cơ quan nhà nước là không khách quan; mức giá trị bồi thường và
Trang 35các khoản hỗ trợ cho người bị thu hồi đất, thiệt hại tài sản chưa bảo đảm quyền lợi, ổn định đời sống và sản xuất
- Quy định giá đất của Chính phủ chỉ khống chế mức giá tối thiểu và cách xác định giá đất chuẩn của từng vùng đơn giản, trong việc thực hiện xác định giá thuận tiện, nhưng còn hạn chế là giá Nhà nước quy định có khoản chênh lệch lớn
so với giá thực tế trên thị trường, chưa bảo đảm để làm cơ sở quyết định giá đất khi giao đất hoặc để thỏa thuận mức bồi thường hay xác định giá trị đất để thế chấp, góp vốn
- Quy định của Chính phủ và các địa phương về một số giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng và khai thác nguồn lực từ đất xây dựng, đã có ưu điểm phát huy được những lợi thế của địa phương, của từng vùng, từng khu vực phục vụ cho mục tiêu và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của địa phương đạt kết quả; đồng thời thông qua đó thúc đẩy các lĩnh vực khác phát triển và thu được cả lợi ích về kinh tế và xã hội
- Công tác giám sát của Trung Quốc đối với việc quản lý đất đai của cơ quan nhà nước được thực hiện khá toàn diện và có hiệu quả Giúp cho công tác quản lý nhà nước về đất đai được thực hiện tốt và đạt được nhiều thành tựu
- Công tác thanh tra có những nội dung gần giống với pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, quy định về việc xử lý vi phạm phát hiện qua thanh tra cụ thể và nghiêm khắc hơn Luật Đất đai của Việt Nam
- Công tác giải quyết tranh chấp đất đai của Trung Quốc luôn luôn nhấn mạnh vai trò của công tác thương lượng và hòa giải, đặc biệt là sự tham gia của các cơ quan quản lý nhà nước đã làm cho công tác giải quyết tranh chấp đất đai của Trung Quốc được giải quyết nhanh chóng, kịp thời tránh tiêu tốn thời gian và tiền bạc của nhân dân
- Công tác giải quyết tranh chấp đất đai luôn có sự tham gia của cơ quan quản lý đất đai trước khi vụ việc được đưa ra Tòa án (Lào Cai, 2014)
2.2.1.2 Pháp
Trang 36Ở Pháp chính sách quản lý sử dụng đất canh tác rất chặt chẽ để đảm bảo sản xuất nông nghiệp bền vững và tuân thủ việc phân vùng sản xuất Việc chuyển đất canh tác sang mục đích khác, kể cả việc làm nhà ở cũng phải xin phép chính quyền cấp xã quyết định Nghiêm cấm việc xây dựng nhà trên đất canh tác để bán cho người khác Khuyến khích việc tích tụ đất nông nghiệp bằng cách tạo điều kiện thuận lợi để các chủ đất có nhiều mảnh đất ở các vùng khác nhau có thể đàm phán với nhau nhằm tiến hành chuyển đổi ruộng đất, tạo điều kiện tập trung các thửa đất nhỏ thành các thửa đất lớn Việc mua bán đất đai không thể tự thực hiện giữa người bán và người mua, muốn bán đất phải xin phép cơ quan giám sát việc mua bán Việc bán đất nông nghiệp phải nộp thuế đất và thuế trước bạ Đất này được ưu tiên bán cho những người láng giềng để tạo ra các thửa đất có diện tích lớn hơn Ở Pháp có cơ quan giám sát việc mua bán đất để kiểm soát hoạt động mua bán, chuyển nhượng đất đai Cơ quan giám sát đồng thời làm nhiệm vụ môi giới và trực tiếp tham gia quá trình mua bán đất Văn tự chuyển đổi chủ sở hữu đất đai có Tòa án Hành chính xác nhận trước và sau khi chuyển đổi Đối với đất đô thị mới, khi chia cho người dân thì phải nộp 30% chi phí cho các công trình xây dựng hạ tầng, phần còn lại là 70% do kinh phí địa phương chi trả Ngày nay, đất đai ở Pháp ngày càng có nhiều luật chi phối theo các quy định của các cơ quan hữu quan như quản lý đất đai, môi trường, quản lý đô thị, quy hoạch vùng lãnh thổ và đầu tư phát triển (Nguyễn Kim Sơn, 2000)
2.2.2 Tình hình quản lý đất đai ở trong nước
2.2.2.1 Tình hình quản lý đất đai ở Việt Nam
a) Hệ thống tổ chức cơ quan quản lý đất đai
- Cơ cấu tổ chức: Hệ thống tổ chức cơ quan quản lý đất đai Việt Nam
được thành lập thống nhất từ Trung ương đến cơ sở gắn với quản lý tài nguyên
và môi trường, có bộ máy tổ chức cụ thể như sau:
+ Cơ quan QLNN về đất đai ở Trung ương là Bộ TN&MT
+ Cơ quan quản lý đất đai ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là Sở
Trang 37- Nhiệm vụ quản lý: Bộ TN&MT chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ hướng
dẫn cụ thể về tổ chức bộ máy của Sở TN&MT, Phòng TN&MT; hướng dẫn việc
bổ nhiệm và miễn nhiệm cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn; quy định nhiệm
vụ và tiêu chuẩn của cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có trách nhiệm xây dựng tổ chức bộ máy quản lý đất đai tại địa phương và bố trí cán
bộ địa chính xã, phường, thị trấn bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ
b) Tình hình quản lý đất đai
Trang 38Ngày 18/12/1980, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Hiến pháp sửa đổi quy định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa… đều thuộc sở hữu toàn dân và Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung” Đây là cơ sở pháp lý vô cùng quan trọng để thực thi công tác quản lý đất đai trên phạm vi cả nước Khởi đầu cho công cuộc chuyển đổi ở Việt Nam là các chính sách, pháp luật đất đai trong nông nghiệp nông thôn được đánh dấu từ Chỉ thị 100, năm
1981 của Ban Bí thư hay còn gọi là “Khoán 100” với mục đích là khoán sản phẩm đến người lao động đã tạo ra sự chuyển biến tốt trong sản xuất nông nghiệp Sau kết quả khả quan của “Khoán 100” năm 1988, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đã có bước đột phá quan trọng khi lần đầu tiên thừa nhận các hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ
Đại hội Đảng VI, tháng 12 năm 1986 đã đánh dấu bước ngoặc phát triển trong đời sống kinh tế-xã hội ở Việt Nam Sự đổi mới trong tư duy kinh tế góp phần chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tạo nên diện mạo mới của đất nước, con người Việt Nam hôm nay Văn bản đầu tiên do Nhà nước ban hành về đất đai và ruộng đất thể hiện tinh thần đổi mới của Đại hội VI là Luật Đất đai năm 1987 Sau Luật Đất đai năm 1987, Thông tư liên bộ số 05-TT/LB ngày 18/12/1991 của Bộ Thủy sản và Tổng cục Quản lý ruộng đất hướng dẫn giao những ao nhỏ, mương rạch trong vườn nằm gọn trong đất thổ cư cho hộ gia đình; ao lớn, hồ lớn thì giao cho một nhóm hộ gia đình Với những mặt nước chưa sử dụng có thể giao cho tổ chức, cá nhân không hạn chế
Ngày 15/07/1992, Chủ tịch HĐBT ra Quyết định số 327/CT chính sách sử dụng ruộng đất đồi núi trọc, rừng, bãi bồi ven biển và mặt nước với nội dung: lấy
hộ gia đình làm đơn vị sản xuất để giao đất rừng, giao đất bãi bồi với những điều kiện rộng rãi: mỗi hộ được giao đất rừng tùy khả năng trong đó có 5000 m2 kinh tế vườn (nếu là đất rừng), 300 m2 (nếu là đất trồng cây công nghiệp), 700 m2 (nếu là đất bãi bồi) Nhà nước dành 60% vốn dự án để xây dựng kết cấu hạ tầng, 40% còn lại
Trang 39được phép chuyển quyền sử dụng đất canh tác, đất thổ cư để lấy tiền làm vốn Trong Quyết định này Chủ tịch HĐBT cũng khuyến khích các doanh nghiệp, các công ty tư nhân trong nước và nước ngoài bỏ vốn đầu tư dưới hình thức đồn điền,
trang trại (Đặng Bá Hướng, 2011)
Hiến pháp năm 1992 ra đời đánh dấu điểm khởi đầu của công cuộc đổi mới chính trị Tại điều 17 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật”
Luật đất đai 1993 được thông qua, chính thức có hiệu lực từ ngày 15/10/1993 Đến năm 2001 tiếp tục bổ sung một số điều của Luật đất đai 1993 Hệ thống pháp luật về đất đai thời kỳ này đã đánh dấu một mốc quan trọng về sự đổi mới chính sách đất đai của Nhà nước ta với những thay đổi quan trọng như: đất đai
có giá và giá đất do Nhà nước quy định; hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có 5 quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê, thế chấp đối với đất đai và quy định 7 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai (Nguyễn Tấn Phát, 2006)
Ngày 26/11/2003, Quốc hội đã thông qua Luật đất đai năm 2003 đã vận dụng cũng như kế thừa những chính sách mang tính đổi mới, tiến bộ của hệ thống pháp Luật đất đai trước đây đồng thời tiếp thu, đón đầu những chính sách pháp Luật đất đai tiên tiến, hiện đại, phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội, chính trị của đất nước
Cùng với Luật đất đai năm 2003, Nhà nước đã ban hành các Nghị định, Thông tư, Chỉ thị… đã tạo ra một hành lang pháp lý cho công tác quản lý đất đai
Hệ thống văn bản pháp Luật đất đai với những nội dung quy định cụ thể: về xử lý
vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất; về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; về thu tiền sử dụng đất; về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất; hướng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính; hướng dẫn lập, điều chỉnh
và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Trang 40sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai Đây được coi là Nghị định mang tính đột phá, giải quyết được nhiều tồn tại, bất cập trong quá trình quản lý sử dụng đất
2.2.2.2 Tình hình quản lý đất đai của tỉnh Bắc Giang
Trong những năm gần đây, Tỉnh Bắc Giang đã có những bước phát triển mạnh mẽ và sâu sắc Bắc Giang hiện có 09 huyện và 01 thành phố, trong đó có
06 huyện miền núi và 01 huyện vùng cao (Sơn Động); 230 xã, phường, thị trấn (207 xã, 7 phường, và 16 thị trấn) Địa giới hành chính rộng lớn với đặc điểm dân
cư đa dạng, phong phú khiến công tác quản lý nhà nước nói chung cũng như công tác quản lý đất đai trên địa bàn tỉnh gặp những khó khăn, thách thức nhất định Tuy nhiên đó cũng là tiền đề, động lực để tỉnh xây dựng những chiến lược phát triển phù hợp với tình hình thực tế
Những năm qua, công tác QLNN về đất đai trên địa bàn tỉnh nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của lãnh đạo tỉnh do đó công tác này đã đạt được nhiều kết quả đáng kể
(1) Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai
và tổ chức thực hiện
Công tác ban hành các văn bản pháp quy trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đã được HĐND và UBND Tỉnh đặc biệt quan tâm, nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong điều kiện thực tiễn của Tỉnh HĐND, UBND tỉnh đã ban hành các văn bản pháp quy, quy định về trình tự thủ tục trong lĩnh vực quản lý tài nguyên đất đai và môi trường, đồng thời, cũng đã chỉ đạo rà soát và huỷ bỏ những văn bản không còn hiệu lực Tuy nhiên, số lượng văn bản ban hành vẫn còn chưa nhiều:
- Ngày 31/10/2008, UBND tỉnh Bắc Giang ban hành Quyết định số 111/2008/QĐ-UBND quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ