Để vừa có thể tạo thu nhập, ổn định cuộc sống cho những người dân lại vừa có thể tăng cường công tác trồng rừng, bảo vệ rừng thì Việt Nam cũng đã có nhiều chính sách nhằm tăng cường sức
Trang 1MỤC LỤC
2.1.2 Sự cần thiết sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng 13 2.1.3 Tính ưu việt của cộng đồng tham gia quản lý rừng 14 2.1.4 Vai trò sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng 15 2.1.5 Đăc điểm quản lý rừng có sự tham gia của cộng đồng 15 2.1.6 Nội dung sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng 17 2.1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của công đồng trong quản lý rừng 21
2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về cộng đồng tham gia quản lý rừng 23
Trang 23.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 50
3.3.2 Chỉ tiêu kết quả, hiệu quả cộng đồng tham gia quản lý rừng 52
4.1 Thực trạng cộng đồng tham gia quản lý rừng trên địa bàn huyện Ngọc Lặc,
4.1.1 Tổng quan về quản lý rừng và cộng đồng tham gia quản lý rừng trên địa
4.1.2 Thực trạng cộng đồng tham gia quản lý rừng trên địa bàn huyện Ngọc Lặc,
4.1.3 Hiệu quả của cộng đồng tham gia quản lý rừng 76 4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến cộng đồng tham gia quản lý rừng trên địa bàn
4.2.1 Các yếu tố bên ngoài tác động sự tham gia của cộng đồng trong quản lý
4.2.2 Các yếu tố bên trong tác động đến sự tham gia của cộng đồng trong quản
4.3 Giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng trên
4.3.4 Giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng trên
Trang 42.3 Rừng và đất lâm nghiệp, được chính quyền địa phương giao cho
2.4 Rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp do cộng đồng
nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng mới rừng của các
3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Ngọc Lặc qua 3 năm (2011 - 2013) 43 3.2 Tình hình dân số, lao động trên địa bàn huyện Ngọc Lặc (2011 – 2013) 45 3.3 Tình hình phát triển kinh tế của huyện Ngọc Lặc trong 3 năm (2011 - 2013) 47 4.1 Tóm tắt hiện trạng sử dụng các loại đất chính năm 2013 53 4.2 Trình độ văn hóa của các chủ hộ được điều tra trên xã Thạch Lập 57 4.3 Khái quát mô hình cộng đồng tham gia quản lý rừng xã Thạch Lập 59 4.4 Trình độ văn hóa của các chủ hộ được điều tra 60 4.5 Bảng mô hình cộng đồng tham gia quản lý rừng ở xã Mỹ Tân 60 4.6 Mô hình cộng đồng tham gia quản lý rừng ở xã Phùng Giáo 62 4.7 Sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng quy hoạch, kế hoạch bảo
vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa 63
4.10 Diện tích rừng cộng đồng tham gia quản lý trên địa bàn huyện Ngọc
4.11 Cộng đồng tham gia vào công tác tuần tra bảo vệ rừng 69 4.12 Số vụ vi phạm trên địa bàn huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa 70
Trang 5Số bảng Tên bảng Trang 4.13 Kết qua cộng đồng tham gia trồng rừng trên địa bàn huyện Ngọc Lặc 71 4.14 Tình hình tập huấn phòng chống cháy rừng cho cộng đồng trên địa
4.15 Cộng đồng tham gia khai thác gỗ phục vụ nhu cầu gia dụng của các
hộ trên địa bàn huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa 73 4.16 Kết quả khai thác gỗ thương mại trong ba năm (2011-2013 ) của
cộng đồng trên địa bàn huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa 74 4.17 Cộng đồng thôn tham gia hoạt động kiểm tra, giám sát, đánh giá
4.18 Tình hình mua sắm tài sản của hộ gia đình ở 3 xã điều tra 78
4 19 Độ che phủ của rừng trên địa bàn huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa 80 4.20 Đánh giá tinh thần đoàn kết của cộng đồng tham gia quản lý rừng 81 4.21 Trình độ văn hóa và điều kiện kinh tế hộ trên địa bàn huyện Ngọc
4.22 Mức độ hài lòng của cộng đồng đối với cách làm của chính quyền
Trang 6DANH MỤC SƠ ĐỒ
Số sơ đồ Tên sơ đồ Trang 4.1 Cây vấn đề về nguyên nhân cộng đồng không tham gia quy hoạch
Trang 7PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Rừng có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của con người Rừng vừa
là nguồn tài nguyên quý giá cung cấp nguyên liệu phục vụ cho quá trình sản xuất của con người, rừng lại giữ vai trò quan trọng trong điều hòa khí hậu, chống xói mòn, cung cấp oxy đảm bảo cho sự sống Thế nhưng hiện nay hiện tượng suy thoái rừng lại đang diễn ra mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng Diện tích suy giảm từ 43% xuống còn 28,2% ở năm 1943 - 1995 (Nguyễn Bá Ngãi, 2009) Mặc dù gần đây Việt Nam đã có các chương trình, dự án nhằm phủ xanh đồi trọc, trồng rừng thì diện tích rừng có tăng lên nhưng diện tích rừng nguyên sinh không còn nhiều Nhận thấy rõ vai trò cũng như tầm quan trọng của rừng như vậy nhà nước ta luôn coi trọng công tác trồng rừng và bảo vệ rừng, và đưa rừng trở thành một trong những yếu tố phát triển kinh tế
Có rất nhiều tổ chức cũng như đơn vị sự nghiệp của nhà nước tham gia quản lý rừng, trách nhiệm và vai trò của họ là rất lớn Nhưng không thể không nhắc đến cộng đồng Có thể thấy nước ta với đặc thù là có 54 dân tộc trong đấy
có tới hơn 50 dân tộc thiểu số Chủ yếu các dân tộc này lại sống ở các vùng cao, niềm núi, cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn Nhiều cộng đồng dân tộc này còn
có cuộc sống phụ thuộc vào rừng (Cả về nơi ở, cuộc sống sinh hoạt hằng ngày cũng như là hoạt động sản xuất) Bởi lẽ như vậy vì hầu hết các dân tộc thiểu số đều sống ở vùng rừng núi, rừng núi đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của họ Phần lớn để có được cuộc sống mưu sinh thì họ thường chặt phá rừng làm rẫy, khai thác một cách không hợp lý các sản phẩm từ rừng và những đối tượng buôn bán gỗ, lâm sản trái phép thường thuê mướn người dân bản địa khai thác thác rừng trái phép Để vừa có thể tạo thu nhập, ổn định cuộc sống cho những người dân lại vừa có thể tăng cường công tác trồng rừng, bảo vệ rừng thì Việt Nam cũng đã có nhiều chính sách nhằm tăng cường sức mạnh từ cộng đồng trong việc quản lý rừng như chính sách giao đất giao rừng, hay luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004
Trang 8Huyện Ngọc Lặc là một huyện niềm núi nằm ở phía tây của tỉnh Thanh Hóa Có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Cuộc sống của họ còn gặp nhiều khó khăn Nhận thấy vai trò của quản lí bảo tồn và phát triển rừng dựa vào cộng đồng có ý nghĩa hết sức quan trọng và là một trong số những biện pháp bảo
vệ rừng có tính bền vững và hiệu quả cao nên tôi chọn đề tài “ Sự tham gia của
cộng đồng trong quản lý rừng trên địa bàn huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Cộng đồng tham gia quản lý rừng như thế nào?
- Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng trên thế giới và Việt Nam như thế nào?
- Trên địa bàn các chủ trương, chính sách và hoạt động trồng rừng và bảo
vệ rừng cũng như công tác kiểm tra giám sát của cộng đồng trong những năm qua như thế nào?
- Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng như thế nào?
Trang 9- Những giải pháp nào nhằm tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng trên địa bàn huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề về sự tham gia của cộng đồng vào quản lý rừng, chủ thể mà đề tài tập trung hướng tới là sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng trên địa bàn huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đánh giá thực trạng sự tham gia của cộng đồng trong quản
lý rừng trên địa bàn huyện Ngọc Lặc từ đó đưa ra các giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng trên địa bàn huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa
- Phạm vi về không gian: Đề tài được thực hiện trên địa bàn huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa
- Về thời gian:
+ Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 03/2014 – 05/2015
+ Các số liệu điều tra và phân tích được lấy từ năm 2011 đến 2013
Trang 10Cộng đồng là một thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức (chặt chẽ hoặc không chặt chẽ), là một nhóm người cùng chia sẻ và chịu ràng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên (Tô Duy Hợp và cs, 2000)
Trong lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng ở nước ta hiện nay thì cộng đồng
có thể hiểu theo hai quản điểm sau:
Thứ nhất: Cộng đồng chính là tập hợp một nhóm người sống gắn bó với
nhau thành một xã hội nhỏ có những tương đồng với nhau về các mặt như: văn hóa, kinh tế, xã hội, phong tuc tập quán, truyền thống, có các quan hệ trong sản xuất và đời sống và thường có ranh giới không gian trong một nhóm thôn bản Hay nói cách khác cộng đồng chính là “ cộng đồng dân cư thôn bản”
Thứ hai: Trong quản lý tài nguyên rừng khi nói đến cộng đồng chính là
nói đến nhóm người có các mối quan hệ sản xuất và đời sống gắn bó với nhau Như vậy cộng đồng có thể là cộng đồng toàn làng bản, cộng đồng sắc tộc trong thôn, cộng đồng dòng họ, cộng đồng các nhóm hộ Còn có ý kiến cho rằng cộng đồng có thể là hợp tác xã, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở cấp làng bản (Dương Viết Tình và Trần Hữu Nghị, 2012)
Cộng đồng dân cư thôn là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương (Quốc hội, 2004)
Trang 11Như vậy: Cộng đồng theo thực thể xã hội nước ta có thể hiểu một cách tổng quát nhất là bao gồm toàn thể những người sống thành một xã hội có những điểm giống nhau và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Tuy tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về cộng đồng nhưng phần lớn các ý kiến đều cho rằng thuật ngữ được dùng trong quản lý tài nguyên rừng chính là nói đến cộng đồng dân cư làng bản Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài thì cộng đồng được hiểu theo quan điểm thứ hai
2.1.1.2 Lý luận về quản lý và cộng đồng tham gia quản lý rừng
a, Lý luận về quản lý
Quản lý được xem là quá trình “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”, đó là sự kết hợp giữa tri thức và lao động trên phương diện điều hành Dưới góc độ chính trị: Quản lý được hiểu là hàng chính, là cai trị; nhưng dưới góc độ xã hội: quản lý là điều hành, điều khiển, chỉ huy Dù dưới góc
độ nào đi chăng nữa, quản lý vẫn phải dựa những cơ sở, nguyên tắc đã được định sẵn và nhằm đạt được hiệu quả của việc quản lý, tức là mục đích của quản lý (Đỗ Văn Toàn và Mai Văn Bưu, 2008)
Quản lý là sự tác động có mục đích đã được đề ra theo đúng ý chí của chủ thể quản lý đối với các đối tượng chịu sự quản lý Theo quan niệm này thì quản
lý phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất một đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý tạo
ra và các khách thể khác chịu sự tác động gián tiếp từ chủ thể quản lý
Tóm lại, quản lý là sự điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo đúng ý muốn của người quản lý nhằm đạt được mục đích đã đặt ra từ trước Là yếu tố thiết yếu quan trọng, quản lý không thể thiếu được trong đời sống xã hội Xã hội càng phát triển thì vai trò của quản lý càng lớn và nội dung càng phức tạp (Đỗ Văn Toàn và Mai Văn Bưu, 2008)
Trang 12Muốn quản lý thành công trước tiên phải xác định rõ chủ thể, đối tượng và khách thể quản lý Phải có định hướng đúng để xác định đúng mục tiêu, đây là căn
cứ để chủ thể tạo ra các tác động Chủ thể phải biết tác động, phải hiểu đối tượng
và điều khiển đối tượng một cách có hiệu quả (Trường Đại học Đà Nẵng, 2006)
b, Lý luận về cộng đồng tham gia quản lý
Sự tham gia của cộng đồng có nghĩa là cộng đồng cùng thực hiện một hoạt động nào đó
Hay nói cách khác, chung nhất sự tham gia của cộng đồng là sự gắn kết một cách lâu dài, chủ động và có vai trò ngày càng cao của cộng đồng vào sự phát triển của một vấn đề nào đó Và sự tham gia này bắt đầu từ giai đoạn đầu tiên là xác định vấn đề cho đến lập kế hoạch, thực hiện, giám sát, kiểm tra, đánh giá các hoạt động nhằm nâng cao đời sống cộng đồng và đảm bảo sự phân chia công bằng các lợi ích trong xã hội (Trương Văn Tuyển, 2007)
* Các cấp độ tham gia của cộng đồng:
Tham gia thụ động: Người trong cộng đồng sẽ được người ngoài cộng đồng cho biết những cái gì sẽ, đang và sẽ xảy ra Cho nên đây chỉ là những thông báo đơn phương từ các cơ quan hành chính nhà nước và các phản hội của cộng đồng sẽ không được ghi nhận
Tham gia bằng cách cung cấp thông tin: Người dân tham gia trả lời các câu hỏi của các nghiên cứu viên hoặc người của dự án Vậy nên người dân sẽ không có cơ hội ảnh hưởng đến quá trình thực hiện vì họ không được tham gia hoạt động cũng như giám sát các hoạt động
Tham gia bằng cách được tham vấn: Người dân sẽ được chia sẽ những khó khăn cũng như mong muốn của họ Tuy nhiên các ý kiến này chỉ mang tính chất tham khảo, các quyết định, phương án hành động, giải pháp vẫn do người của dự án, nghiên cứu viên quyết định
Tham gia bằng động cơ (Thúc đẩy) vật chất hay theo hợp đồng: người dân tham gia bằng cách đổi các tài nguyên sẵn có để lấy lương thực hoặc các vật chất khác Tuy nhiên người ngoài vẫn là người quyết định toàn bộ các vấn đề, cộng đồng chỉ tham gia như những nhà cung cấp nguyên liệu và lao động
Trang 13Tham gia theo chức năng:
Tham gia theo kiểu tương tác: có nghĩa là cùng phân tích kết quả và cùng tham gia các hành động
Tự huy động: Có nghĩa là người dân tự tìm tòi xác định vấn đề, suy nghĩ, sáng tạo tìm các biện pháp giải quyết và người ngoài chỉ đóng vai trò hỗ trợ giúp
đỡ, xúc tác cho các hoạt động của cộng đồng
* Cộng đồng tham gia quản lý rừng
Cộng đồng tham gia quản lý rừng cũng có thể được hiểu như lâm nghiệp cộng đồng
Theo FAO thì lâm nghiệp cộng đồng là một thuật ngữ nhằm diễn tả sự gắn kết của người dân với rừng, các sản phẩm từ rừng và việc phân chia các lợi ích này
Ở Việt Nam thì lâm nghiệp cộng đồng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và chưa có một định nghĩa chính thức nào được công nhận Tuy nhiên theo các chuyên gia cũng như ở các hội thảo thống nhất chung ở Việt Nam có hai hình thức quản lý rừng cộng đồng (Bộ NN&PTNT, 2006)
Thứ nhất: Quản lý rừng cộng đồng
Đây là hình thức mà mọi thành viên trong cộng đồng tham gia quản lý cũng như hưởng lợi từ rừng thuộc quyền quản lý, sở hữu, sử dụng khu rừng hoặc khu rừng hoăc khu rừng thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng
Rừng cộng đồng là rừng đã được quản lý theo truyền thống trước đây, rừng trồng của các hợp tác xã, rừng trồng tự nhiên đã được giao cho các hợp tác
xã trước đây mà sau khi chuyển đổi hoặc giải thể thì hợp tác xã sẽ giao lại quyền quản lý cho các thôn hoặc các xã Những khu rừng này có thể chưa được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc cộng nhận quyền sử dụng đất cho cộng đồng (Bộ NN&PTNT, 2006)
Như vậy, thực chất của quản lý rừng cộng đồng là cộng đồng dân cư thôn,
xã quản lý rừng có quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng chung của cộng đồng, và các khu rừng này được hình thành chủ yếu qua các chính sách giao đất giao, giao rừng cho cộng đồng của nhà nước
Trang 14Hay nói cách khác hình thức quản lý này gồm có các trường hợp sau:
- Cộng đồng trực tiếp quản lý những khu rừng hoặc sản phẩm từ rừng của
họ từ lâu đời
- Cộng đồng quản lý những khu rừng mà họ được nhà nước giao cho
- Các hoạt động mang tính chất lâm nghiệp khác do cộng đồng tổ chức mà
nó phục vụ cho lợi ích trực tiếp cho cộng đồng
Tuy nhiên theo luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 có quy định nếu được giao rừng tự nhiên thì cộng đồng chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền
sở hữu Nếu cộng đồng được quản lý rừng trồng được hình thành bằng nguồn vốn tự có thì cộng đồng có quyền sở hữu (Bộ NN&PTNT, 2006)
Thứ hai: Quản lý rừng dựa vào cộng đồng
Là hình thức cộng đồng tham gia quản lý các khu rừng không thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu chung của họ mà thuộc quyền quản lý, sử dụng của các thành phần kinh tế khác, nhưng các khu rừng này lại có mối quan hệ trực tiếp đến cuộc sống của cộng đồng (Bộ NN&PTNT, 2006)
Hình thức này có thể chia làm hai đối tượng:
- Rừng của hộ gia đình, nhưng cá nhân người trong gia đình lại thuộc cộng đồng Và cộng đồng tham gia quản lý với tính chất hợp tác, hỗ trợ nhau, chia sẽ lợi ích cho nhau Điều này có thể tăng thêm sức mạnh để bảo vệ rừng, hỗ trợ, đổi công trong các hoạt động lâm nghiệp
- Rừng thuộc quyền quản lý của các nhà nước và tổ chức tư nhân khác Cộng đồng tham gia các hoạt động lâm nghiệp như bảo vệ rừng, trồng rừng, khai thác rừng với tư cách là làm thuê thông qua các hợp đồng khoán và hưởng lợi theo các điều khoản trong hợp đồng
Như vậy, cộng đồng tham gia quản lý rừng là nói đến các hoạt động gắn kết người dân trong cộng đồng vào quản lý, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp Hay nói cách khác đây chính là một hình thức tiếp cận để đạt được mục tiêu bảo vệ nguồn tài nguyên rừng hiện có và cho phép người dân địa phương có quyền quản
lý, sử dụng lâu dài các nguồn tài nguyên rừng, lợi ích thu được thuộc về người dân và sử dụng cho sự phát triển cộng đồng (Bộ NN&PTNT, 2006)
Trang 152.1.1.3 Nguồn gốc cộng đồng tham gia quản lý rừng
Rừng cộng đồng đã tồn tại từ lâu đời, nó gắn với lợi ích cuộc sống của người dân, gắn với tâm linh, tự do tín ngưỡng của cộng đồng Những năm gần đây, thực hiện chính sách của Nhà nước về quản lý rừng, một số địa phương đã triển khai giao đất giao rừng cho cộng đồng quản lý và sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp Cộng đồng còn được tham gia nhận giao khoán quản lý, bảo
vệ rừng, khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh, làm giàu rừng và trồng rừng Mô hình quản
lý rừng dựa vào cộng đồng sống gần rừng cho thấy có hiệu quả, nó phù hợp với tập quán của đông đảo đồng bào các dân tộc (Hoàng Đình Quang, 2010)
Ở Việt Nam, cộng đồng tham gia quản lý rừng là thực tiễn có từ lâu đời và đang trở thành một phương thức quản lý rừng có hiệu quả được nhà nước quan tâm, khuyến khích phát triển Phương thức quản lý rừng này rất sinh động, phong phú mang lại hiệu quả trong quản lý rừng và phát triển cộng đồng vùng cao (Nguyễn Bá Ngãi, 2009)
Bảng 2.1 Hiện trạng diện tích rừng do cộng đồng tham gia quản lý
100,00 68,61 31,39
2 Loại rừng theo nguồn gốc:
-Rừng tự nhiên
- Rừng trồng
2.792.946,3 2.681.228,4 111.717,9
100,00 96,00 4,00
3 Loại rừng theo chủng loại:
- Rừng phòng hộ, đặc dụng
- Rừng sản xuất
2.792.946,3 1.982.991,9 809.954,4
100,00 71,00 29,00
Nguồn: Cục Lâm nghiệp, 2008
Tính đến 31 tháng 12 năm 2007 cả nước có 10.006 cộng đồng dân cư thôn, chủ yếu là các cộng đồng các đồng bào dân tộc ít người, đang quản lý và sử dụng 2.792.946,3 ha rừng và đất trống đồi trọc (gọi chung là đất lâm nghiệp) để xây
Trang 16dựng và phát triển rừng, trong đó: 1.916.169,2 ha đất có rừng (chiếm 68,6%) và 876.777,1 ha đất trống đồi trọc (chiếm 31,4%) (Nguyễn Bá Ngãi, 2009)
Diện tích đất lâm nghiệp do cộng đồng quản lý nêu trên chiếm 17,20% diện tích đất quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp trên toàn quốc (16,24 triệu ha); diện tích đất lâm nghiệp có rừng do cộng đồng quản lý chiếm 15% tổng diện tích rừng của cả nước (12.873.815 ha) Trong diện tích đất lâm nghiệp có rừng do cộng đồng quản lý và sử dụng thì rừng tự nhiên chiếm tuyệt đai đa số lên đến 96%, rừng trồng chỉ chiếm có 4% Cộng đồng quản lý chủ yếu rừng phòng hộ, đặc dụng (71%), rừng sản xuất chỉ chiếm 29% (Nguyễn Bá Ngãi, 2009)
Ở các nước trên thế giới thì có nhiều nguyên nhân cộng đồng tham gia quản lý rừng Nhưng chủ yêu là do phong tục tập quán của các dân tộc, họ có cuộc sống phụ thuộc nhiều vào rừng Ở Việt Nam nguồn gốc hình thành rừng và đất rừng do cộng đồng tham gia quản lý được hình thành từ nhiều nguồn gốc khác nhau nhưng có thể phân chia thành 3 loại sau:
Rừng và đất rừng do cộng đồng tự công nhận và quản lý theo truyền thống
tự nhiên từ nhiều đời nay
Rừng và đất rừng được chính quyền địa phương giao cho cộng đồng Rừng và đất rừng do các tổ chức, cơ quan nhà nước, các nông lâm trường giao cho cộng đồng (Phạm Trương Hương Giang, 2009)
* Rừng và đất rừng do cộng đồng tự công nhận và quản lý theo truyền thống từ nhiều đời đến nay
Những khu rừng được quản lý như thế này chủ yếu bởi cộng đồng các dân tộc thiểu số Mặc dù những khu rừng này xét về mặt pháp lý thì các quyền sở hữu, sử dụng chưa được sử dụng, nhưng nó lại được quản lý, duy trì bởi các luật tục, phong tục truyền thống của chính cộng đồng có từ xa xưa Bởi một lẽ theo phong tục của những vùng miền, dân tộc thiểu số thì thôn, bản đã trở thành đơn
vị độc lập cao nhất Ở mỗi thôn đều có ranh giới lãnh địa nhất định bao gồm cả đất, rừng, nguồn nước suối…Và đều được phân biệt ranh giới với các cộng đồng thôn bên cạnh Trong phạm vi thì lạnh địa của mình thì tất cả những gì thuộc vào lãnh địa thì đều thuộc quyền sử dụng của cộng đồng thôn Trong thôn, bản thì vai trò của ngừơi già làng, già bản hay trưởng thôn rất quan trọng Họ là những
Trang 17người có tiếng nói nhất Và cũng chính họ cũng chính là người đứng đầu trong việc điều hành bộ máy tự quản của cộng đồng Thông qua các quy ước, hương ước, hay luật tục để duy trì quản lý tất cả các hoạt động của thôn Việc quản lý rừng cũng được tuân thủ theo những quy ước này Một điều quan trọng là rừng ở đây là một phần không thể thiếu đối với các cộng động thôn bản Bởi vì rừng không chỉ là tài sản, mang lại lợi ích kinh tế mà rừng ở đây còn là tín ngưỡng là tâm linh đối với họ Vậy nên phần lớn họ tham gia quản lý rừng không vì mục đích kinh tế mà vì tâm linh, tín ngưỡng và vì sự sinh tồn của họ (Phạm Trương Hương Giang, 2009)
Bảng 2.2 Rừng và đất rừng do cộng đồng quản lý theo truyền thống
từ nhiều đời nay
1 Tổng diện tích rừng và đất rừng 247.029,5 ha
rừng thổ công;
- Rừng mó nước, rừng phòng hộ xóm làng, bãi chăn thả;
- Rừng trồng, rừng tự nhiên của hợp tác xã giao lại cho thôn
cho cộng đồng;
- Cung cấp lâm sản truyền thống cho cộng đồng;
- Chống sạt lở, đá lăn
Nguồn: Cục Lâm Nghiệp, 2008
* Rừng và đất sử dụng vào mục đích lâm nghiêp được chính quyền địa phương giao cho cộng đồng quản lý, sử dụng lâu dài
Việc này đã được thể hiện trong Nghị định số 02/ND - CP và được thay thế bằng nghị định 163/1999/NĐ-CP đã quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình và các cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
Trang 18Đối với phần diện tích đất và rừng mà cộng đồng được giao thì họ sẽ cùng nhau đầu tư, quản lý và hưởng lợi trên tinh thần tự nguyện và cùng hưởng lợi giữa các thành viên trong cộng đồng Cộng đồng sẽ thành lập tổ, nhóm tham gia các hoạt động quản lý rừng từ khâu bảo vệ, cung cấp đầu vào, tổ chức sản xuất, tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra và phân phối lợi ích cho các thành viên trong cộng đồng
Với mô hình này đang ngày càng chứng minh tính ưu việt của mình trong việc quản lý rừng Ở nhiều địa phương mô hình nay đang được quan tâm và nhân rộng Nhiều tổ chức, dự án đã hỗ trợ người dân về vốn, kỹ thuật trong việc tham gia quản lý rừng
Không những được cộng đồng, các tổ chức ủng hộ tin tưởng vào mô hình này Mà về mặt pháp lý tại điều 30 của luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2014
đã quy định cộng đồng được giao rừng, được hướng dẫn về kỹ thuật, hỗ trợ về vốn theo chính sách của nhà nước, được hưởng lợi do các công trình bảo vệ, cải tạo rừng mang lại Chính điều này đã từng bước tạo khuôn khổ pháp lý bảo đảm các quyền cho cộng đồng khi tham gia vào hoạt động quản lý rừng
Bảng 2.3 Rừng và đất lâm nghiệp, được chính quyền địa phương giao cho
cộng đồng quản lý, sử dụng ổn định lâu dài
-Đất trống đồi trọc để trồng rừng hoặc khoanh nuôi xúc tiến tái sinh;
- Ít có trường hợp được giao những diện tích rừng giàu
Nguồn: Cục Lâm nghiệp, năm 2008
Trang 19* Rừng và đất sử dụng vào mục đích lâm nghiệp do cộng đồng nhận khoán bảo
vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng mới rừng của các tổ chức
Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng ở đây thực chất chỉ là cộng đồng làm thuê cho chủ rừng Cộng đồng sẽ thực hiện những công việc được thỏa thuận trong hợp đồng nhận khoán Do tiền khoán mà cộng đồng nhận được là thấp nên cộng đồng không thực sự tổ chức bảo vệ, cho nên có nhiều khu rừng mà cộng đồng nhận khoán đang có nguy cơ bị tàn phá vẫn có thể xảy ra
Bảng 2.4 Rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp do cộng đồng nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng mới rừng của các tổ chức
Nguồn: Cục Lâm nghiệp, 2008
2.1.2 Sự cần thiết sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng
Cộng đồng cùng tham gia quản lý rừng là một thực tiễn không thể phủ định, dù được thể chế hóa hoặc không thừa nhận thì nó vẫn tồn tại bởi đây là đặc trưng cơ bản của văn hoá và quan hệ cộng đồng vùng cao đã có từ lâu đời Do
đó, việc thừa nhận cộng đồng là một chủ thể có pháp nhân luôn có lợi cho công tác quản lý rừng Vấn đề này cần được nghiên cứu và bổ sung vào các bộ luật để từng bước khẳng định cộng đồng dân cư thôn có đủ pháp nhân trong quản lý, bảo
vệ, sử dụng và kinh doanh rừng
Cộng đồng dân tộc thiểu số sống gắn bó với rừng, rừng là nơi cung cấp đất canh tác, cung cấp gỗ củi, lâm sản phụ, lương thực, thực phẩm, dược liệu…Vì vậy nếu phát huy tốt vai trò của họ thì sẽ tạo thêm sức mạnh đối với quản lý bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng, phục vụ trước hết cho lợi ích của cộng đồng, đồng
Trang 20thời góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế, xã hội miền núi, thực hiện các các
chương trình quan trọng của nhà nước (Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, xoá đói
giảm nghèo…), bảo đảm phòng hộ môi trường, an ninh chính trị, quốc phòng…
Cộng đồng tham gia quản lý rừng sẽ phù hợp với tập quán truyền thống
của đồng bào dân tộc thiểu số miền núi, có tính cộng đồng cao, có nhiều kiến
thức bản địa tốt, đặc biệt cộng đồng có mặt hầu khắp mọi nơi, mọi lúc trong vùng
núi, đây là một lợi thế mà các thành phần kinh tế khác không có Lợi thế này giúp
cho việc quản lý bảo vệ rừng được thuận lợi hơn (Đinh Ngọc Lan và cs, 2002)
2.1.3 Tính ưu việt của cộng đồng tham gia quản lý rừng
Cộng đồng tham gia quản lý rừng có tính ưu việt sau
- Sẽ có thông tin nhiều hơn về nhu cầu/ vấn đề/ khả năng/ kinh nghiệm
của địa phương Điều này có lợi cho việc lập kế hoạch và thực hiện các hoạt
động có hiệu quả
- Động viên được nguồn lực đóng góp nhiều hơn trong quản lý rừng
những quyết định và giải pháp mà chính họ đề ra
- Có sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng sẽ phát huy được năng
lực quản lý và quản trị trong khu vực nông thôn và nếu những năng lực này được
phát huy sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển nông thôn mạnh hơn, bổ sung thêm
nguồn lực cho khu vực Nhà nước
- Khi người dân được tham gia, nghĩa là dân chủ được mở rộng thì sự ủng
hộ về chính trị cũng sẽ lớn hơn, lòng tin đối với Nhà nước cũng cao hơn
- Quản lý rừng có hiệu quả, ít tốn kém thông qua trách nhiệm và sự cam
kết tự nguyện của người dân trước cộng đồng
- Bảo đảm nhu cầu tối thiểu về lâm sản của người dân mà nhà nước không
phải đầu tư quản lý, bảo vệ
- Bảo đảm tính công bằng trong chia sẻ lợi ích, từ đó bảo đảm sự đoàn kết
trong cộng đồng và giữa các cộng đồng, góp phần ổn định xã hội (Dương Viết
Tình và Trần Hữu Nghị, 2012)
Trang 212.1.4 Vai trò sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng
Rừng là một tài nguyên quan trọng, quản lý rừng là một vấn đề cấp bách trong mọi giai đoạn phát triển của đất nước Với từng thời kỳ phát triển thì phương pháp hay cách thức quản lý rừng lại thay đổi khác nhau để phù hợp Có thể nói sự tham gia của cộng động trong quản lý rừng đang ngày càng chứng tỏ hiệu quả cũng như tính ưu việt của nó Vai trò của cộng đồng trong quản lý rừng đang có ý nghĩa quan trọng đến chất lượng rừng được cải thiện trong những năm gần đây
Thứ nhất, sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng giúp phát huy
được nội lực cộng đồng trong việc huy động nguồn lực: nhân lực, trí lực, vật lực tham gia trong quản lý rừng Cộng đồng là đối tượng tham gia trực tiếp quản lý tài nguyên rừng mà quá trình phát triển phải dựa vào đó Ngoài ra, kỹ năng, yếu
tố truyền thống, kiến thức và năng lực của họ chính là tiềm năng chính để phát triển Trong điều kiện nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước cho phát triển khu vực nông thôn còn hạn chế, thì sự đóng góp của các nhóm cộng đồng là vô cùng cần thiết, giảm bớt gánh nặng nguồn nhân lực nhà nước (Phan Thanh Xuân, 1998)
Thứ hai, do được tham gia vào các hoạt động trong quản lý rừng nên sẽ
khơi dậy tiềm thức tư duy tư duy và nâng cao năng lực của người dân và các cộng đồng địa phương, từ đó tạo ra động lực để họ có thể đứng ra làm chủ việc phát triển kinh tế, xã hội và môi trường trên địa bàn Đồng thời, nó giúp phát huy được tính của cộng đồng trong việc đoàn kết, chung tay góp sức thực hiện các nội dung
Thứ ba, khi có sự tham gia, nó sẽ gắn trách nhiệm của cộng đồng với các
hoạt động mà họ tham gia Và vì thế người dân và cán bộ cơ sở sẽ có trách nhiệm
và nhiệt tình hơn Họ sẽ làm chủ được các hoạt động phát triển Đồng thời, người dân có điều kiện giám sát việc thực hiện, giảm thiểu việc sử dụng sai mục đích ở các cấp khác nhau
2.1.5 Đăc điểm quản lý rừng có sự tham gia của cộng đồng
Tùy thuộc vào vị trí địa lý, điều kiện kinh tế xã hôi của từng vùng, phong tục tập quán của các cộng đồng là khác nhau nên ở mỗi nơi cộng đồng cũng có
Trang 22các hình thức tham gia quản lý rừng khác nhau, nhưng nhìn chung có thể khái quát thành các đặc điểm sau:
Thứ nhất: Quyền sử dụng đất và quyền sử dụng rừng phải thuộc về cộng đồng Tức là được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất, quyền sử dụng một cách hợp pháp Mặt khác phải được nhà nước giao đất giao rừng và sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
Thứ hai: Về mục đích sử dụng khu rừng: Khi có sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng thì mục đích sử dụng của rừng không chỉ dừng lại ở các mục đích đơn thuần như bảo vệ nguồn nước, chống xói mòn đất, hay điều hòa khí quyển, là nơi cư trú giúp cho công tác bảo tồn các loại động, thực vật quý hiếm Rừng ở đây còn đáp ứng những nhu cầu cần thiết của cộng đồng cả về sản phẩm, môi trường sinh thái và xã hội Đó chính là cung cấp gỗ gia dụng của cộng đồng dân cư thôn, đặc biệt là những thôn bản ở vùng sâu, vùng xa, nơi kinh tế chưa phát triển Đó chính là nhu cầu thiết yếu như gỗ và lâm sản để làm nhà mới, sửa chữa nhà, lấy củi, măng, chăn thả gia súc Ngoài ra rừng còn là nơi cộng đồng lưu giữ những bản sắc, phong tục, tập quán của dân tộc
Thứ ba: Đặc điểm về sử dụng lao động và nguồn lực để quản lý rừng: Sử
dụng nguồn vốn và lao động hiện có của cộng đồng là chủ yếu kết hợp với sự giúp
đỡ tài chính của Nhà nước và các tổ chức phi chính phủ trong nước và ngoài nước
Thứ tư: Cách thức quản lý rừng: Ngoài những quy định chung của pháp luật khi cộng đồng tham gia quản lý rừng còn có các quy ước, hương ước được xây dựng với sự tham gia của toàn thể cộng đồng và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận Thông thường nội dung trong bản quy ước, hương ước quy định quyền lợi và nghĩa vụ của mọi thành viên trong cộng đồng trong việc bảo vệ và phát triển rừng, kể cả khai thác, mua bán, vận chuyển gỗ và các sản phẩm lâm nghiệp khác
Thứ năm: Về hình thức tổ chức nhìn chung tương đối linh hoạt, mềm mỏng nhằm thu hút sự tham gia của cả cộng động Thông thường là thành lập tổ chuyên trách bảo vệ rừng, các hộ trong cộng đồng luân phiên tuần tra rừng, huy
Trang 23động các tổ chức đoàn thể ở cấp cộng đồng như đoàn thanh niên, hội phụ nữ tích cực tham gia
Thứ sáu: Liên quan đến vai trò của cộng đồng trong quá trình quản lý tài
nguyên rừng: Cộng đồng ra các quyết định và tổ chức thực hiện các quyết định quản lý rừng Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào công tác quản lý rừng
là cần thiết ngay từ những bước ban đầu của quá trình lập kế hoạch và ra quyết định cho tới khi thực thi Ngoài ra cộng đồng tự chịu trách nhiệm về các chi phí,
sự may rủi và hưởng lợi ích từ rừng theo quy định của pháp luật và theo quy ước/ hương ước của họ
Thứ bảy: Hoạt động quản lý rừng: Hoạt động quản lý rừng tương đối linh hoạt, chủ yếu tập trung vào việc bảo vệ, khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh tự nhiên rừng Các hoạt động thực tiễn này chủ yếu trong phạm vi cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng thôn Nó được thể hiện thông qua hệ thống trang trại nông lâm nghiệp
hộ gia đình, rừng cộng đồng, chế biến sản phẩm, dịch vụ trong phạm vi thôn và
hộ gia đình Ngoài ra còn bao gồm các hoạt động phục vụ cho phát triển cộng đồng như: phát triển cơ sở hạ tầng trong phạm vi thôn, chuyển giao kỹ thuật, phổ cập lâm nghiệp
Thứ tám: Vai trò của người dân: Người dân giữ vai trò trung tâm, họ vừa
là nhân tố hành động vừa là người hưởng lợi, các nhà chuyên môn chỉ đóng vai trò tư vấn, không có vai trò thực hiện và chịu trách nhiệm (Lâm nghiệp cộng đồng, 2013)
2.1.6 Nội dung sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng
2.1.6.1 Cộng đồng tham gia quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng Xây dựng hương ước, quy ước của cộng đồng về quản lý rừng
* Xây dựng quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng
Xuất phát từ nội dung của bản quy hoach bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng có thể tham gia vào các nội dung:
Nghiên cứu, tổng hợp, phân tích tình hình về điều kiện tự nhiên, kinh tế -
xã hội, quốc phòng, an ninh, quy hoạch sử dụng đất, hiện trạng tài nguyên rừng;
Trang 24Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng kỳ trước, dự báo các nhu cầu về rừng và lâm sản;
Xác định phương hướng, mục tiêu bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng trong kỳ quy hoạch;
Xác định diện tích và sự phân bố các loại rừng trong kỳ quy hoạch;
Xác định các biện pháp quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển các loại rừng; Xác định các giải pháp thực hiện quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng;
Dự báo hiệu quả của quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng quản lý rừng cộng đồng (Bộ NN&PTNT, 2008)
*Xây dựng kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng:
Căn cứ vào nội dung của bản kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng
Phân tích, đánh giá việc thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng kỳ trước; Xác định nhu cầu về diện tích các loại rừng và các sản phẩm, dịch vụ lâm nghiệp; Xác định các giải pháp, chương trình, dự án thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng;
Triển khai kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng 5 năm đến từng năm Cộng đồng có thể tham gia vào:
- Đánh giá tài nguyên rừng;
- Xây dựng mục tiêu quản lý cho từng khu rừng cộng đồng;
- Thiết lập các giải pháp kỹ thuật quản lý và phát triển rừng;
- Xây dựng quy chế quản lý rừng dựa vào cộng đồng;
- Xây dựng cơ chế về nghĩa vụ và quyền hưởng lợi;
- Lập kế hoạch thực hiện, giám sát và đánh giá (Bộ NN&PTNT, 2008)
2.1.6.2 Cộng đông tham gia bàn bạc, ra quyết định về giao đất rừng và trồng rừng
Việc giao đất lâm nghiệp là một hoạt động mang tính xã hội sâu sắc, do đó chỉ thiết kế từ bên ngoài mang tính chủ quan của cán bộ quản lý, kỹ thuật sẽ kém thích ứng với điều kiện của người dân, cộng đồng do đó sẽ kém hiệu quả và không bền vững Vì vậy giao đất lâm nghiệp cần tiến hành theo cách tiếp cận có sự tham gia trực tiếp của người dân, thôn bản trong suốt tiến trình từ chuẩn bị cho đến khi tổ chức giao trên thực địa (Dương Viết Tình và Trần Hữu Nghị, 2012)
Trang 25Trước tiên, cộng đồng sẽ được tham gia cuộc họp thôn đầu tiên Cuộc họp này rất quan trọng vì nó liên quan đến các vấn đề như xác định nhu cầu và nguyện vọng của cộng đồng trong nhận đất nhận rừng trên cơ sở được giải thích rõ ràng các quyền lợi và nghĩa vụ trong nhận đất lâm nghiệp; đồng thời thống nhất kế hoạch làm việc trong thôn bản để đánh giá nông thôn và tiến hành các bước lập phương án có sự tham gia Sau khi cuộc họp thôn lần 1 kết thúc với các kết quả đạt được cùng với việc kết hợp các công cụ đánh giá nông thôn có sự tham gia PRA theo chủ đề quản lý rừng
Ngoài ra một số thành viên nòng cốt trong cộng đồng tiếp tục tham gia tiến hành điều tra rừng Các công cụ thường được sử dụng như phân loại rừng dựa vào kiến thức địa phương, phân chia đặt tên và đo đếm diện tích các lô rừng, tổng hợp dữ liệu các lô rừng Với việc điều tra này sẽ mang lại hai kết quả chủ yếu đó là bản đồ phân chia rừng của địa phương và các thông tin tài nguyên của các lô rừng phục vụ cho việc giao rừng
Khi có kết quả về phần các lô rừng, khu rừng cần giao thì sẽ tổ chức cuộc họp thôn lần thứ 2 Cuộc họp thôn lần này nhằm mục đích cho cộng đồng có quyết định và thống nhất giải pháp giao đất lâm nghiệp Cũng trong cuộc họp này các nội dung sau được làm rõ:
Các thông tin về kinh tế xã hội, quản lý tài nguyên, tổ chức của thôn bản
từ kết quả PRA được báo cáo và lấy ý kiến chỉnh sửa, bổ sung ;
Thống nhất phương thức giao đất giao rừng;
Thống nhất lại vị trí giao đất theo hộ, nhóm hộ, cộng đồng;
Thống nhất về phương hướng quản lý sử dụng đất lâm nghiệp được giao; Sau khi làm rõ cũng như thống nhất các điểm cơ bản trong giao đất lâm nghiệp, phổ biến mẫu đơn xin nhận đất lâm nghiệp và thông báo cho hộ, nhóm
hộ, cộng đồng làm đơn theo hướng dẫn
Thảo luận về phương án tổ chức quản lý rừng trong cộng đồng
2.1.6.3 Cộng đồng tham gia bảo vệ, chăm sóc rừng
Trong việc tuần tra: Tổ chức, luân phiên nhau và phối hợp với các tổ chức khác trong việc tuần tra rừng
Trang 26Cộng đồng tham gia bảo vệ và phát triển rừng: phát dây leo, bụi rậm, chặt tỉa cây phi mục đích, tiến hành khoanh mới, xúc tiến tái sinh
Tham gia trong công tác phòng chống cháy rừng: hàng năm cộng đồng được tham gia tập huấn các lớp về kỹ năng phòng cháy, chữa cháy rừng Chính cộng đồng cũng là những tuyên truyền viên cho công tác này (Võ Văn Thoan và Nguyễn Bá Ngãi, 2002)
2.1.6.4 Cộng đồng tham gia khai thác, hưởng lợi từ rừng
Hành động của con người sẽ được thúc đẩy thực hiện thông qua động lực Người ta cũng thường nói khi thực hiện các hoạt động đó nhằm mang lại lợi ích Lợi ích lợi ích chính là cái đáp ứng nhu cầu Nếu trước kia nhà nước ta với cách thức nhà nước trực tiếp quản lý rừng, mọi lợi ích đều thuộc về nhà nước Vai trò của cộng đồng, của người dân sống ven rừng, sống gần rừng chỉ tham gia với tinh thần trách nhiệm mà không được hưởng lợi ích nào từ rừng thì đã để lại hậu quả vô cùng lớn; hàng trăm ha rừng bị chặt phá, các loại động vật có nguy cơ tuyệt chủng Đứng trước vấn đề lớn như vậy nhà nước đã có chính sách về khai thác và lợi ích từ rừng cho cộng đồng khi tham gia quản lý rừng Chỉ khi họ có quyền như một chủ rừng thực sự, được khai thác, được hưởng lợi ích từ rừng mang lại thì mới tạo động lực cho họ quản lý rừng Mặt khác khi thai thác rừng cũng trong một quy cũ, một quy trình mà không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của rừng, để rừng vẫn giữ được vai trò của mình trong vấn đề kinh tế, môi trường
và xã hội Khi cộng đồng tham gia quản lý rừng thì họ có các quyền lợi từ chính
các khu rừng đó mang lại như (Bảo Huy, 2006)
Cộng đồng được phép khai thác gỗ, được phép khai thác lâm sản ngoài gỗ, được phép khai thác củi đun, được phép trồng rừng trên diện tích đất chưa có rừng Tuy nhiên các quyền lợi trên phải đúng pháp luật và theo căn cứ của bản hương ước, quy ước mà cộng đồng đã xây dựng
Ngoài hưởng lợi từ việc khai thác trên cộng đồng còn được tham gia dự án: Trong trường hợp khu rừng của cộng đồng được tham gia vào các chương trình,
dự án về lâm nghiệp thì cộng đồng được nhận tiền, lương thực, vật tư theo quy định của các chương trình, dự án đó (Dương Viết Tình và Trần Hữu Nghị, 2012)
Trang 272.1.6.5 Cộng đồng tham gia kiểm tra, giám sát, đánh giá công tác quản lý rừng hằng năm
Các quy định hương ước, quy ước về quản lý rừng đã thể hiện rõ quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ và hưởng lợi của cộng đồng trong quản lý rừng Cộng đồng có trách nhiệm thực thi, và mỗi cộng đồng cũng có trách nhiệm giám sát, kiểm tra việc thực hiện
Hằng năm, có các buổi tổ chức với mục đích đánh giá công tác quản lý rừng Cộng đồng được tham gia nhằm đánh giá hiệu quả của việc quản lý rừng
Từ đó có những ý kiến để hoàn thiện công tác quản lý rừng (Dương Viết Tình và Trần Hữu Nghị, 2012)
2.1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của công đồng trong quản lý rừng
2.1.7.1 Các yếu tố bên ngoài tác động đến quản lý rừng cộng đồng
* Điều kiện tự nhiên: Nhóm yếu tố tự nhiên bao gồm các yếu tố: đất đai, khí hậu, địa hình, các nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào sẵn có tác động tích cực đến việc huy động người dân tham gia vào các hoạt động lâm nghiệp; điều kiện sản xuất khó khăn, môi trường suy thoái…cản trở sự tham gia của người dân
* Các chính sách, chủ trương của Đảng và nhà nước về quản lý rừng: Nhóm yếu tố kinh tế thị trường bao gồm các yếu tố: Cơ cấu ngành nghề, mức sống của người dân, nhu cầu lâm sản, cơ sở hạ tầng, hệ thống sản xuất, giao lưu kinh tế, thị trường sản phẩm…Nhóm yếu tố này tạo ra các điều kiện và sự hỗ trợ cho người dân tham gia vào các hoạt động của cộng đồng có thể thực hiện thông qua các hình thức sau:
- Can thiệp thông qua hệ thống pháp luật và chính sách
- Can thiệp thông qua hệ thống hỗ trợ, khuyến khích và dịch vụ
- Can thiệp thông qua việc nâng cao dân trí và nhận thức cho người dân Nhóm yếu tố văn hoá - xã hội bao gồm các yếu tố: Tập quán sản xuất truyền thống lâu đời như du canh, du cư, luật lệ cổ truyền, phương thức sử dụng sản phẩm rừng, cấu trúc và chức năng của gia đình, trình độ văn hoá, sự nghèo khổ, thiếu việc làm; thể chế chính trị, quyền tự do dân chủ, bình đẳng nam nữ, dân tộc…tác động đến ý thức và sự tự giác của người dân vào các hoạt động lâm nghiệp (Phạm Trương Hương Giang, 2009)
Trang 282.1.7.2 Các yếu tố bên trong cộng đồng
Đặc điểm của cộng đồng: Tập quán quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên của dân tộc như các tập tục canh tác truyền thống lâu đời, các kỹ thuật canh tác truyền thống, những luật lệ cổ truyền, phương thức sử dụng sản phẩm rừng Lịch sử và hoàn cảnh hình thành nơi cư trú của cộng đồng: Nhiều cộng đồng sống trong và gần rừng đã có truyền thống quản lý rừng cộng đồng từ lâu đời, cuộc sống của họ dựa vào rừng là chủ yếu, nguồn thu từ rừng không thể thiếu được đối với họ hàng ngày Vấn đề này đã tác động không nhỏ tới việc bảo
vệ và phát triển rừng Người dân và cộng đồng địa phương đó có thể trở thành nhân tố tích cực trong việc quản lý rừng cộng đồng nếu có các chính sách hợp lòng dân ngược lại họ có thể là nhân tố tác động xấu tới rừng
Năng lực của cộng đồng: Các kinh nghiệm quản lý của cộng đồng, sự hiểu biết về các chính sách của cộng đồng cũng tác động đến sự tham gia của cộng đồng Nếu như những yếu tố trên cộng đồng có thì sẽ làm cho năng lực quản lý của cộng đồng tốt hơn Khi cộng đồng có năng lực quản lý tốt thì sẽ thúc đẩy họ tham gia vào quản lý rừng
Nhận thức và cách làm của chính quyền địa phương: Đây chính là nhân tố quan trọng Bởi lẽ khi chính quyền địa phương nhận thức được tầm quan trong của rừng và bảo vệ rừng là một việc làm cần thiết, cấp bách và liên tục Ngoài ra các cấp chính quyền địa phương còn phải nhận thức được vai trò to lớn của cộng đồng trong việc quản lý rừng Không chỉ nhận thức được những vấn đề trên mà chính quyền còn có những hành động và cách làm đúng đắn và phù hợp với lòng dân Như vậy nếu chính quyền địa phương nhận thức đúng và có cách làm phù hợp thì sẽ giúp cộng đồng tích cực tham gia vào quản lý rừng
Nhận thức và ý thức của cộng đồng về quản lý và bảo vệ rừng: Đây chính
là yếu tố quan trọng quyết định đến sự tham gia của cộng đồng không những quản lý rừng mà còn trong quản lý các nội dung khác Nếu như cộng đồng nhận thức hay ý thức đúng về việc quản lý và bảo vệ rừng là một việc làm cần thiết và quan trọng Chính sự tham gia của họ không những giúp họ phần nào tạo thêm thu nhập, ổn định về kinh tế, mang lại hiệu quả về mặt môi trường không chỉ cho cộng đồng họ mà cho toàn xã hội Không những thế sự tham gia đó còn góp phần
Trang 29gìn giữ những phong tục tập quán từ lâu đời trải qua bao thế hệ đã gắn bó với từng tấc đất, từng khu rừng Vậy nên cộng đồng nhận thức được điều này thì họ
sẽ tích cực tham gia và ngược lại (Lâm nghiệp cộng đồng, 2013)
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về cộng đồng tham gia quản
lý rừng
2.2.1.1 Thực trạng sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng trên thế giới
Trên thế giới cộng đồng tham gia quản lý rừng đã có từ rất lâu đời Đặc biệt được thông qua các dự án phát triển rừng cộng đồng được mở rộng vào những thập kỷ 80 với các vùng như Ấn Độ, Nêpanl Tên gọi về rừng cộng đồng cũng có những thay đổi khác nhau như cùng quản lý rừng, lâm nghiệp xã hội, quản lý rừng dựa vào cộng đồng…Tuy nhiên về bản chất của các hoạt động quản
lý cộng đồng vẫn không thay đổi, đó là quá trình lấy người dân làm trung tâm quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Cuối những năm 80 và thập kỷ 90 các nhà khoa học tập trung nhiều hơn về nghiên cứu thể chế trong quản lý rừng cộng đồng, kể cả những thể chế truyền thống và thể chế của nhà nước, nhằm tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển rừng cộng đồng Trong giai đoạn này các khái niệm về quyền sở hữu được đưa ra để thảo luận một cách rộng rãi, bao gồm sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân, sở hữu cộng đồng và sử dụng tự do Đã có lúc khái niệm rừng cộng đồng bị phê phán một cách kịch liệt theo cách nhìn nhận của Hardin (1968) trong “bi kịch của sở hữu chung” rằng phương thức sở hữu cộng đồng về rừng là đồng nghĩa với sử dụng tự do Đó là hình thức sử dụng mà mọi thành viên đều muốn lợi dụng của chung để tối đa hoá lợi ích cho mình, vì thế rừng bị khai thác một cách kiệt quệ Mặc dù vậy, cho đến nay cộng đồng tham gia quản lý rừng đã được chấp nhận rộng rãi và nó được xem như là một chiến lược quan trọng trong quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng (Dương Viết Tình và Trần Hữu Nghị, 2012)
Về vai trò của rừng cộng đồng phải là một hợp phần không thể thiếu trong phát triển nông thôn, mà mục tiêu chủ yếu là giúp đỡ những cộng đồng nghèo tự duy trì và phát triển cuộc sống của họ…Vì thế, rừng cho phát triển cộng đồng
Trang 30phải là rừng của người dân, cho người dân và phải có sự tham gia của người dân trong quản lý và phát triển
Herb (1991) đã lập luận ủng hộ quản lý rừng cộng đồng là: “quản lý rừng bởi cộng đồng tạo ra những cớ hội để tìm kiếm các giải pháp mà ở hệ thống tập trung quyền lực không có được Cộng đồng là nơi mà các hoạt động được thực tế diễn ra và kế hoạch được xác lập hàng ngày Quá trình lập kế hoạch và hành động được lồng ghép một cách có trách nhiệm bởi vì chúng được thực hiện ở tại một nơi và bởi cùng một cộng đồng” (Phạm Trương Hương Giang, 2009)
Nhìn nhận về hiệu quả cộng đồng tham gia quản lý rừng của Burda (1997): “Những người dân sống lâu đời ở trong rừng có những kiến thức đặc biệt
về sinh thái bản địa và những ảnh hưởng dài hạn về mặt xã hội, môi trường của rừng đến cuộc sống của họ Sự tập trung quyền lực trong hệ thống quản lý quan liêu thiếu đi sự linh động và khả năng thích ứng với điều kiện địa phương Trong khi đó quản lý rừng dựa vào cộng đồng giúp cho con người sống gần gũi hơn với thiên nhiên và từ đó lập ra những thiết chế, kế hoạch nhằm quản lý và sử dụng rừng một cách hiệu quả hơn Quản lý rừng dựa vào cộng đồng đã tạo ra một hệ thống nhạy bén để nhanh chóng đưa ra những quyết định và hành động nhằm thích ứng với những thay đổi của điều kiện cụ thể Các quyết định này nhằm đáp ứng lợi ích của toàn thể cộng đồng, những người chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc đưa ra những quyết định đó (Phạm Trương Hương Giang, 2009)
Trong giai đoạn hiện nay quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng đang được xem như là một giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, hỗ trợ giải quyết tình trạng suy thoái tài nguyên Đã có không ít những mô hình quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng thành công ở Thái Lan, Malaysia, Nepanl…Đây sẽ là những bài học quý báu cho quá trình xây dựng những giải pháp quản lý bền vững tài nguyên rừng trên cơ sở cộng đồng ở Việt Nam
Quản lý rừng cộng đồng có những phương thức rất công phu cần phải có
sự kết hợp hài hoà giữa vấn đề kỹ thuật với vấn đề xã hội, trong đó đặc biệt chú ý phát huy kiến thức bản địa và các tổ chức quần chúng của địa phương Những người dân bản xứ cùng cộng đồng của họ và những cộng đồng địa phương có
Trang 31một vai trò quan trọng trong quản lý rừng và bảo vệ môi trường, bởi lẽ họ đã được tích luỹ vốn kiến thức truyền thống cùng với những kinh nghiệm thực tế qua nhiều năm chính phủ các nước cần nhận ra và khuyến khích sự tham gia của
họ trong chiến lược quản lý tài nguyên và phát triển bền vững Vì vậy, con đường tốt nhất hiện nay để giảm tình trạng suy thoái tài nguyên rừng là phải dựa vào những người dân sống trong rừng, gần rừng và gắn bó với rừng Do vậy, cần thực hiện chính sách phân quyền và cho quyền cho họ trong việc quản lý phục hồi các nguồn tài nguyên quý báu ấy Nhiều cuộc hội thảo quốc tế về CF (quản lý cộng đồng) chung về yếu tố cơ bản đảm bảo cho sự thành công của CF, một trong những yếu tố đó là:
- Chính phủ các nước phải đưa ra những cam kết về mặt pháp lý ổn định, lâu dài như quyền sử dụng đất và các chủ trương phát triển nông thôn, miền núi dưới dạng các luật và các văn bản dưới luật để mọi người yên tâm đầu tư và sử dụng mảnh đất của mình một cách lâu dài Các chính sách về quản lý rừng mọi khi ban hành phải thu hút sự tham gia đông đảo của người dân địa phương, đặc biệt là các gia đình nghèo lâu nay sống bằng nghề rừng
- Việc hoạch định chính sách quản lý rừng phải thông qua đàm thoại và khảo sát thực tế tại các cộng đồng địa phương để tìm rõ nhu cầu và khả năng của người dân, tránh các chủ trương gò ép, duy ý chí được đưa từ trên xuống (Nguyễn
Bá Ngãi, 2009)
- Các cấp quản lý trực tiếp có vai trò đặc biệt quan trọng vì nó liên quan trực tiếp đến việc động viên và huy động các nguồn lực của người dân, đến việc quản lý và sử dụng đất rừng, đến việc giải quyết tranh chấp hay xung đột trong nội bộ cộng đồng Cho tới nay, cấp thôn bản ở một số nước trong đó có Việt Nam vẫn chưa chính thức được công nhận nằm trong bộ máy hành chính nhà nước, tuy nhiên nó là một tổ chức tự quản của người dân, do dân bầu ra cùng nhau bàn bạc và ra quyết định Chính vì vậy nhà nước làm sao phát huy hết vai trò to lớn nội tại của tổ chức này (Nguyễn Bá Ngãi, 2009)
Trang 322.2.1.2 Kinh nghiệm cộng đồng tham gia quản lý rừng ở một số nước trên thế giới
Ở Nêpan, LNCĐ mới xuất hiện nổi bật là sự tham gia của người dân vào quản lý rừng Ngày nay LNCĐ trở thành nguồn thu nhập và cơ hội tạo việc làm, cải thiện đời sống của các cộng đồng nông thôn Với sự hỗ trợ tài chính và kỹ thuật của nhiều tổ chức phi chính phủ và tổ chức tài trợ quốc tế, chương trình này
đã được thực thi ở toàn quốc và phần lớn chương trình đã thành công trong giai đoạn này (Lâm nghiệp cộng đồng, 2013)
Ở Ấn Độ, hình thức “đồng quản lý rừng” đang được mở rộng nhanh chóng bởi cải cách thể chế trong chính sách về rừng đang được thực thi với dấu hiệu rõ nhất là phi tập trung hóa và dân chủ hóa quản lý nguồn tài nguyên D’Silva (1997) tin rằng chương trình “đồng quản lý rừng” tuy còn ở giai đoạn đầu - giai đoạn chuyển việc bảo vệ rừng từ sự kiểm soát của Nhà nước sang việc kiểm soát của cộng đồng Ấn Độ đang thực hiện bước cải cách thể chế tổ chức mặc dù các vấn đề đặt ra cho việc cải cách thì còn xa mới đạt tới
Ở Bănglađét, vấn đề xây dựng chiến lược, thể chế với sự trợ giúp của lâm nghiệp xã hội đã nổi lên từ những năm 1967 Sự phản ứng rất hạn chế của Chính phủ về xác định quyền sử dụng đất và tài nguyên thiên nhiên, cái chính là không
an toàn một cách phổ biến, đã làm suy yếu quản lý lâm nghiệp cộng đồng Những vấn đề pháp lý không tìm được câu trả lời như quyền chiếm hữu không chắc chắn
và mâu thuẫn giữa tư nhân và sở hữu công về rừng, đất rừng, quyền quản lý đất đai theo truyền thống xảy ra bởi sự kiện những người sống về đất, những người thiếu đất và việc dân chủ hóa là nguyên nhân chính của việc phá hoại nguồn tài nguyên rừng và mất đa dạng sinh học Sự thiếu tin tưởng giữa người dân địa phương với cơ quan lâm nghiệp, thiếu chính sách minh bạch để thực thi quản lý
xã hội và quản lý rừng có người dân tham gia cũng là nguyên nhân dẫn đến mất rừng (Lâm nghiệp cộng đồng, 2013)
Tại Srilanka, từ năm 1982 đến 1988 pha 1 của Dự án LNCĐ do ADB tài trợ cho Cục Lâm nghiệp Srilanka đã tạo cơ hội tiếp cận kinh nghiệm có người dân tham gia trong quản lý rừng Quá trình này được thực thi không đem lại lợi ích nào về kiến thức địa phương và sự phản ứng hạn chế tới nguồn tài nguyên địa
Trang 33phương, nhận biết nhu cầu và các ưu tiên Sự thiếu vắng tổ chức cộng đồng được
ủy quyền để quyết định việc giao đất rừng cho trồng trọt và với một số lượng rất hạn chế của cán bộ Bộ Lâm nghiệp đã dẫn đến việc kiểm soát lỏng lẻo việc chuyển đổi đất rừng sang đất nông nghiệp trong toàn quốc Năm 1995, Chính phủ Srilanka đã đưa ra một kế hoạch tổng quan lâm nghiệp mới, trong đó đề ra việc tăng độ che phủ rừng, tăng năng suất nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại và tương lai, nâng cao mức sống, kinh tế của người dân địa phương cũng như toàn dân tộc Rừng thuộc sở hữu Nhà nước phải quản lý theo nguyên tắc bền vững về sinh thái Ngày nay các chương trình đồng quản lý rừng thông qua sự tham gia của người dân đang được thực thi (Lâm nghiệp cộng đồng, 2013)
Tại Philipin, việc chuyển đổi lâm nghiệp công đồng của Philipin có thể chia làm 3 giai đoạn Giai đoạn đầu tiên là khai phá (1971-1980); giai đoạn thứ hai là củng cố và hợp nhất (1982-1989) và giai đoạn thứ 3 là mở rộng và thể chế hóa Trong giai đoạn khai phá về quản lý lâm nghiệp cộng đồng, trồng rừng và trồng cây công cộng là khuynh hướng chính của LNCĐ thông qua sự tham gia của người dân địa phương Việc hợp nhất chương trình LNXH và LNCĐ là chương trình chủ yếu trong giai đoạn thứ 2 và tăng trưởng rừng cộng đồng trong giai đoạn 3
Người dân trở thành đối tác, người quản lý và người chủ của các nguồn tài nguyên rừng Quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng là thông qua hợp đồng thuê quyền sử dụng bằng việc tăng cường bảo vệ, quản lý, phục hồi và phát triển rừng Các tổ chức của người dân đang làm việc trên diện tích này với quyền sử dụng an toàn trong 25 năm Quyền 25 năm với rừng tạo ra cơ hội để bảo vệ, quản lý và bán các sản phẩm rừng ở các rừng cộng đồng của họ (Lâm nghiệp cộng đồng, 2013)
2.2.2 Thực tiễn quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam
2.2.2.1 Khái quát chung
Ở Việt Nam các hoạt động quản lý rừng cộng đồng đã và đang được công nhận ở rất nhiều nơi cả về phương diện lý thuyết và thực tế Diện tích rừng của Việt Nam tập trung chủ yếu ở các vùng cao đặc biệt là các vùng dân tộc thiểu số
Trang 34vì vậy mà rừng cộng đồng cũng được quản lý thông qua các khu “rừng thiêng”,
“rừng ma”, “rừng nhóm hộ”… Ở các khu rừng này được người dân quản lý, bảo
vệ một cách khá chặt chẽ và có hiệu quả đảm bảo cho phát triển bền vững nông nghiệp và phát triển nông thôn Luật Quản lý và phát triển rừng ra đời vào năm
1991 đã nêu cao vai trò của các cá nhân, hộ gia đình và các tổ chức trong quản lý bảo vệ rừng Tuy nhiên, từ khi Luật bảo vệ và phát triển rừng được sửa đổi, bổ sung năm 2004 thì khái niệm rừng cộng đồng mới được nhận dạng trong quản lý
và phát triển rừng Tuy còn nhiều tranh cãi xung quanh thuật ngữ này, nhưng đây
đã được coi là một thành công lớn về xác nhận vai trò của cộng đồng trong quản
lý và bảo vệ rừng (Đinh Ngọc Lan và cs, 2002)
Ngày nay Việt Nam chúng ta hình thức quản lý rừng theo hình thức cộng đồng đã được coi là một trong những biện pháp hiệu quả giúp cho tất cả người dân trong cộng đồng đều được tham gia vào quá trình phân tích đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân và hình thành giải pháp để phát huy mọi nguồn lực của địa phương cho phát triển và sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên thiên nhiên
vì sự phồn thịnh của mỗi gia đình và cộng đồng
Khái niệm “Phát triển bền vững” được biết đến ở Việt Nam vào khoảng cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 Mặc dù xuất hiện ở Việt Nam khá muộn nhưng nó lại sớm được thể hiện ở nhiều cấp độ
Về mặt học thuật, thuật ngữ này được giới khoa học nước ta tiếp thu nhanh Đã có hàng loạt công trình nghiên cứu liên quan mà đầu tiên phải kể đến
là công trình do giới nghiên cứu môi trường tiến hành như “Tiến tới môi trường bền vững” (1995) của Trung tâm tài nguyên và môi trường, Đại học Tổng hợp
Hà Nội Công trình này đã tiếp thu và thao tác hoá khái niệm phát triển bền vững theo báo cáo Brundtland như một tiến trình đòi hỏi đồng thời trên bốn lĩnh vực: Bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt nhân văn, bền vững về mặt môi trường, bền vững về mặt kỹ thuật “Nghiên cứu xây dựng tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia ở Việt Nam - giai đoạn I” (2003) do Viện Môi trường và phát triển bền vững, Hội Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam tiến hành Trên cơ sở tham khảo bộ tiêu chí phát triển bền vững của Brundtland và kinh
Trang 35nghiệm các nước: Trung Quốc, Anh, Mỹ, các tác giả đã đưa ra các tiêu chí cụ thể
về phát triển bền vững đối với một quốc gia là bền vững kinh tế, bền vững xã hội
và bền vững môi trường Đồng thời cũng đề xuất một số phương án lựa chọn bộ tiêu chí phát triển bền vững cho Việt Nam “Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững” (2000) do Lưu Đức Hải và cộng sự tiến hành đã trình bày hệ thống quan điểm lý thuyết và hành động quản lý môi trường cho phát triển bền vững Công trình này đã xác định phát triển bền vững qua các tiêu chí: bền vững kinh
tế, bền vững môi trường, bền vững văn hóa, đã tổng quan nhiều mô hình phát triển bền vững như mô hình 3 vòng tròn kinh kế, xã hội, môi trường giao nhau của Jacobs và Sadler (1990), mô hình tương tác đa lĩnh vực kinh tế, chính trị, hành chính, công nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội của WCED (1987), mô hình liên
hệ thống kinh tế, xã hội, sinh thái của Villen (1990), mô hình 3 nhóm mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường của Worl Bank (Phạm Trương Hương Giang, 2009) Các hệ thống tổ chức và quản lý lâm nghiệp ở Việt Nam được chia làm 3 giai đoạn sau:
- Thời kỳ 1993 đến nay:
Ngành lâm nghiệp chuyển từ khai thác lợi dụng rừng là chính sang lâm nghiệp xây dựng phát triển rừng, nông lâm kết hợp, từ lâm nghiệp lấy quốc doanh làm chính sang lâm nghiệp xã hội gắn liền với phát triển kinh tế nhiều thành phần đi lên sản xuất hàng hoá Trong báo cáo chiến lược phát triển lâm nghiệp đã khẳng định quan điểm: Phát triển lâm nghiệp xã hội, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia kinh doanh rừng, tổ chức cho đồng bào dân tộc sống ở trong và gần rừng
Trang 36có đời sống ổn định, chuyển họ từ người phá rừng có đời sống ổn định, chuyển họ từ người phá rừng thành người bảo vệ rừng
Quá trình giao đất giao rừng của nước ta đã tạo cơ sở cho rừng có chủ thực
sự, tạo ra nhiều hình thức sở hữu rừng, tạo điều kiện khai thác tiềm năng, đất đai, lao động, tiền vốn tại chỗ Công tác trồng rừng được đảm bảo với tỷ lệ thành rừng cao, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của nhân dân, một bộ phận dân cư đã giàu lên từ nghề rừng, mở ra hướng sản xuất hàng hoá gắn với thị trường tiêu thụ ở nhiều nơi, góp phần xoá đói giảm nghèo, từng bước góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi (Bộ NN&PTNT, 2006)
2.2.2.2 Một số chính sách chủ yếu liên quan đến quản lý rừng cộng đồng
* Chính sách giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn
Về giao đất cho cộng đồng:
Luật Đất đai năm 2003, với tư cách là văn bản pháp lý quan trọng quy định các quan hệ liên quan đến đất đã quy định cộng đồng dân cư thôn được Nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp với tư cách là người sử dụng đất Điều 9, khoản 3 ghi: “Cộng đồng dân cư sinh sống trong cùng một địa bàn thôn… được Nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất” Khoản 7, Điều
33 quy định Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất cho cộng đồng dân cư sử dụng đất nông nghiệp Khoản 2, Điều 66 quy định đất nông nghiệp do cộng đồng dân cư sử dụng có thời hạn ổn định lâu dài (Lâm nghiệp cộng đồng, 2013)
Luật Đất đai năm 2003 còn quy định rõ, UBND cấp huyện quyết định giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cộng đồng Cộng đồng dân cư thôn được giao đất nông nghiệp, được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất; được Nhà nước hướng dẫn, giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp; được Nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình Văn bản này còn quy định, cộng đồng dân cư được giao đất nông nghiệp có trách nhiệm bảo vệ diện tích được giao, được sử dụng đất kết hợp với mục đích sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản, không được chuyển sang sử dụng vào mục đích khác, không được chuyển
Trang 37đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng quyền sử dụng đất, không được thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất
Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm
2003 quy định giao đất rừng phòng hộ cho cộng đồng dân cư thôn để quản lý
Điều 29 còn quy định rõ những khu rừng được giao cho cộng đồng dân cư
là những khu rừng hiện cộng đồng dân cư thôn đang quản lý, sử dụng có hiệu quả; những khu rừng giữ nguồn nước phục vụ trực tiếp cho cộng đồng, phục vụ lợi ích chung khác của cộng đồng mà không thể giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân; những khu rừng giáp ranh giữa các thôn, xã, huyện không thể giao cho các
tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mà cần giao cho cộng đồng để phục vụ lợi ích của cộng đồng
Điều 30 quy định cộng đồng dân cư thôn được giao rừng có các quyền sau đây:
- Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng rừng
ổn định, lâu dài phù hợp với thời hạn giao rừng;
- Được khai thác, sử dụng lâm sản và các lợi ích khác của rừng vào mục đích công cộng và gia dụng cho thành viên trong cộng đồng, được sản xuất lâm nghiệp - nông nghiệp - ngư nghiệp kết hợp;
- Được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên diện tích được giao;
Trang 38- Được hướng dẫn về kỹ thuật, hỗ trợ về vốn theo chính sách của Nhà nước để bảo vệ và phát triển rừng và được hưởng lợi ích do các công trình công cộng bảo vệ và cải tạo rừng mang lại;
- Được bồi thường thành quả lao động, kết quả đầu tư để bảo vệ và phát triển rừng theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan khi Nhà nước có quyết định thu hồi rừng
Điều 30 còn quy định cộng đồng dân cư thôn được giao rừng có nghĩa vụ sau đây:
- Xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng phù hợp với quy định của pháp luật, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện;
- Tổ chức bảo vệ và phát triển rừng, định kỳ báo cáo cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền về diễn biến tài nguyên rừng và các hoạt động liên quan đến khu rừng theo hướng dẫn của ủy ban nhân dân xã;
- Thực hiện nghĩa vụ tài chính và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật;
- Giao lại rừng khi Nhà nước có quyết định thu hồi rừng hoặc khi hết thời hạn sử dụng rừng;
- Không được phân chia rừng cho các thành viên trong thôn, không được chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng, cho thuê, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn kinh doanh bằng giá trị quyền sử dụng rừng được giao
Như vậy, theo tinh thần Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, cộng đồng dân cư thôn là chủ rừng, được Nhà nước bảo hộ lợi ích hợp pháp trong quá trình bảo
vệ và phát triển rừng Tuy nhiên, cộng đồng chỉ là chủ thể quản lý rừng hạn chế (đặc thù) vì không được hưởng toàn bộ những quyền như các chủ rừng khác
Trang 39năm, rừng sản xuất theo chu kỳ kinh doanh Cũng theo văn bản này, người chịu trách nhiệm pháp lý trước Nhà nước đối với diện tích đất được giao vẫn là các tổ chức Nhà nước (bên giao khoán), còn người nhận khoán (tổ chức, hộ gia đình, cá nhân) chỉ chịu trách nhiệm quản lý rừng và đất theo hợp đồng ký kết với bên giao khoán Như vậy đối với việc nhận khoán bảo vệ rừng thì khái niệm về "tổ chức"
có thể được mở rộng hơn và cộng đồng dân cư thôn được nhận khoán bảo vệ rừng Cộng đồng dân cư tham gia nhận khoán rừng với tư cách như một hộ nhận khoán (Lâm nghiệp cộng đồng, 2013)
*Chính sách đầu tư
Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 quy định cộng đồng được Nhà nước giao rừng phòng hộ được hưởng chính sách đầu tư như ban quản lý rừng phòng hộ Nhưng xét về mặt pháp lý đến nay chưa có văn bản nào quy định cụ thể cộng đồng được hưởng chính sách đầu tư đó như thế nào
Tuy nhiên, có thể vận dụng Quyết định 661/TTg ngày 29 tháng 7 năm
1998 của Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng để đầu tư hỗ trợ cho cộng đồng đã được Nhà nước giao đất, giao rừng hoặc tham gia nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh và trồng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng
Văn bản này quy định rõ, vốn đầu tư của Nhà nước tiếp tục dành cho hoạt động bảo vệ rừng đặc dụng, rừng phòng hộ Người tham gia bảo vệ rừng được hưởng tiền công bảo vệ là 50.000 đ/ha/năm Thời gian trả tiền công bảo vệ không quá 5 năm Tiền công khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng bổ sung không quá 1 triệu đ/ha với thời hạn không quá 6 năm Nhà nước hỗ trợ bình quân 2 triệu đ/ha cho các đối tượng tự bỏ vốn trồng rừng sản xuất là các loại cây gỗ đặc biệt quý hiếm có chu kỳ trên 30 năm Suất đầu tư hỗ trợ trồng rừng phòng hộ là 4 triệu đồng/ ha (Lâm nghiệp cộng đồng, 2013)
*Chính sách khai thác, sử dụng rừng và hưởng lợi từ rừng
Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 quy định cộng đồng được giao đất, giao rừng được khai thác, sử dụng lâm sản và các lợi ích khác của rừng vào mục đích công cộng và gia dụng cho thành viên trong cộng đồng Tuy nhiên, xét
Trang 40về khía cạnh pháp lý, đến nay chưa có văn bản nào quy định cộng đồng được khai thác, sử dụng rừng và hưởng lợi từ rừng được giao như thế nào
Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn trong khi chưa có chính sách quy định
cụ thể, có thể vận dụng Quyết định 08/2001/QĐ-TTg ngày 11 tháng 1 năm 2001
và Quyết định 178/2001/QĐ-TTg ngày 03 tháng 9 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về quy chế quản lý 3 loại rừng và chính sách hưởng lợi từ rừng để giải quyết việc khai thác, sử dụng rừng và hưởng lợi từ rừng cộng đồng
Các văn bản này quy định đối với rừng phòng hộ là rừng tự nhiên sẽ được phép khai thác tận dụng cây đổ gẫy, cây sâu bệnh, nơi có mật độ cây quá dầy được phép khai thác tỉa với cường độ không quá 20% Rừng tre nứa khi đã đạt yêu cầu phòng hộ (có độ che phủ trên 80%) được phép khai thác với cường độ tối
đa 30% và được khai thác măng Nếu rừng phòng hộ là rừng trồng do Nhà nước đầu tư thì được phép khai thác các loại cây phù trợ và tỉa thưa, khi rừng trồng có mật độ lớn hơn mật độ quy định được khai thác với cường độ khai thác không quá 20% Đối với rừng sản xuất là rừng tự nhiên, các văn bản này quy định được khai thác sản phẩm tận dụng trong quá trình nuôi dưỡng làm giàu và tỉa thưa rừng, được khai thác tận dụng cây chết đứng, tận thu gỗ nằm v.v
Hiện nay ở một số địa phương, những khu rừng tự nhiên do cộng đồng dân cư tự quản lý (mặc dù chưa được pháp luật thừa nhận), các cộng đồng thường xây dựng hương ước nội bộ với những điều khoản qui định về quản lý, bảo vệ rừng, khai thác và hưởng lợi các sản phẩm từ rừng như: khai thác gỗ phục
vụ cho nhu cầu chung của cộng đồng, hộ gia đình có nhu cầu làm nhà mới để tách hộ hoặc thay thế nhà cũ, sửa chữa lớn nhà ở được cộng đồng cho phép khai
gỗ trên rừng của cộng đồng; người dân trong thôn được khai thác các loại lâm sản ngoài gỗ (Lâm nghiệp cộng đồng, 2013)
2.2.2.3 Kinh nghiệm cộng đồng tham gia quản lý rừng của một số địa phương trong nước
Kinh nghiệm về cộng đồng tổ chức quản lý rừng rất đa dạng và phong phú Mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc có những kinh nghiệm riêng, phù hợp với truyền thống, văn hoá của cộng đồng Sau đây là một số thực tiễn đã thực hiện tốt
ở Việt Nam