Trong quá trình triển khai thực hiện các nội dung của Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới NTM, ở tất cả các địa phương đều thực hiện nguyên tắc chủ đạo là phát huy v
Trang 1MỤC LỤC
2.1.4 Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi
2.2.1 Kinh nghiệm Quốc tế về sự tham gia của cộng trong phát triển nông thôn 18
Trang 22.2.2 Kinh nghiệm một số địa phương về sự tham gia của cộng đồng trong
2.2.3 Bài học kinh nghiệm về xây dựng mô hình NTM thành công dựa vào
3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin 40
4.1 Thực trạng sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi trong Chương trình
4.1.1 Khái quát tình hình xây dựng NTM trên địa bàn huyện Nho Quan 43 4.1.2 Sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp 47
4.1.4 Sự tham gia của cộng đồng cấp thôn/bản 55 4.2 Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi trong Chương trình xây dựng NTM trên địa bàn huyện Nho Quan 81
4.2.2 Thực hiện quy chế dân chủ tại địa phương 84 4.2.3 Công tác thông tin, tuyên truyền của địa phương 85 4.2.4 Năng lực, trình độ của cán bộ cấp cơ sở 86 4.2.5 Cơ chế, chính sách xây dựng NTM tại địa phương 89 4.3 Giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi trong Chương trình xây dựng NTM trên địa bàn huyện Nho Quan 90
Trang 5DANH MỤC BẢNG
3.1 Tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật huyện Nho Quan 33 3.2 Danh mục, nguồn cung cấp và phương pháp thu thập các thông tin 37
4.1 Nguồn vốn huy động từ cộng đồng doanh nghiệp 48 4.2 Sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp trong xây dựng NTM 49 4.3 Sự tham gia của Hội Phụ nữ trong Chương trình xây dựng NTM 52 4.4 Sự tham gia trong các cuộc họp của các nhóm cộng đồng điều tra 57 4.5 Sự tham gia đóng góp ý kiến của cộng đồng thôn/bản trong cuộc họp 59 4.6 Sự tham gia của cộng đồng trong việc ra quyết định 60 4.7 Cộng đồng tham gia đóng góp nguồn lực xây dựng NTM 63 4.8 Cộng đồng người dân tham gia tập huấn kỹ thuật 70 4.9 Đóng góp nguồn lực để cải thiện điều kiện ở của cộng đồng 71 4.10 Cộng đồng thôn tham gia xây dựng NTM trong công tác văn hóa, giữ
4.14 Đánh giá mức độ hợp lý trong việc huy động nguồn lực xây dựng
4.15 Trình độ văn hóa và điều kiện kinh tế hộ tại 3 cộng đồng thôn điều tra 81 4.16 Đánh giá tinh thần đoàn kết và tổ chức cộng đồng cấp thôn/bản 83 4.17 Đánh giá việc thực hiện quy chế dân chủ tại địa phương 84 4.18 Các hình thức tuyên truyền trong Chương trình xây dựng NTM 86 4.19 Trình độ chuyên môn của cán bộ NTM cấp cơ sở 87 4.20 Mức độ hài lòng của cộng đồng đối với các cán bộ NTM 89
Trang 6DANH MỤC HÌNH
3.2 Cơ cấu kinh tế năm 2014 của huyện Nho Quan 31
4.2 Cơ cấu trình độ chuyên môn của BQL NTM cấp xã 87
Trang 7DANH MỤC HỘP
4.1 Doanh nghiệp xây dựng Xuân Quyết tham gia xây dựng NTM 49 4.2 Giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân 50 4.3 Hội Liên Hiệp phụ nữ huyện Nho Quan đóng góp xây dựng NTM 51 4.4 Hội phụ nữ vận động người dân tham gia xây dựng NTM 53 4.5 Hội viên Chi hội phụ nữ thôn Bái, xã Sơn Thành tham gia xây dựng NTM 54
4.7 Người dân xã Lạng Phong tham gia các cuộc họp 57 4.8 Người dân xã Phú Long tham gia xây dựng NTM 58 4.9 Trưởng BPT thôn vận động người dân hiến đất làm đường 66 4.10 Tiếp tục mở rộng diện tích trồng cây vụ đông 68 4.11 Sản xuất cây vụ đông mang lại hiệu quả kinh tế cao 68 4.12 Nâng cao tinh thần đoàn kết thôn Bái, xã Sơn Thành 75 4.13 Thắc mắc của người dân trong việc đóng góp tiền xây dựng NTM 80
Trang 8PHẦN I
MỞ ĐẦU
Phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện vẫn được coi là vấn đề then chốt, quyết định sự thành công của quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung và công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH) nói riêng của nhiều quốc gia Đặc biệt với Việt Nam, một nước có nền sản xuất nông nghiệp làm nền tảng, sự đóng góp của nông nghiệp, nông thôn vào sự phát triển chung của quốc dân càng to lớn Phát triển nông nghiệp, nông thôn là một quá trình tất yếu cải
thiện một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường (Trung tâm
thông tin và dự báo kinh tế - xã hội quốc gia, 2010)
Nhận thức được vấn đề này, đặc biệt đứng trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương chính sách nhằm đẩy nhanh quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Trong
đó, Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 Hội nghị lần thứ bẩy Ban Chấp hành Trương ương Đảng (khoá X) về “Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn” đã tạo một bước đột phá về việc chỉ ra đường lối, quan điểm, nhiệm vụ và các giải pháp lớn về CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn đến năm 2020 Thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP, ngày 28/10/2008, xác định “Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới”, và Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 4/6/2010 phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2010 - 2020
Đây là cuộc vận động lớn để các cộng đồng ở khu vực nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và
an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao; giúp cho họ có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh
Trang 9Nho Quan là một huyện miền núi của tỉnh Ninh Bình, có diện tích tự nhiên 457,2 km2 (bằng 1/3 diện tích của tỉnh Ninh Bình) có 26 xã và 01 thị trấn, với 286 thôn, bản, tổ dân phố, trong đó có 32 thôn, bản đặc biệt khó khăn, mật độ dân số trung bình 327 người/km2(UBND huyện Nho Quan, 2014) Trong những
năm qua, mặc dù cơ sở hạ tầng đã được đầu tư, nâng cấp nhưng vẫn còn thiếu, có dấu hiệu xuống cấp và chưa đồng bộ; các yếu tố phát triển kinh tế khu vực nông thôn chưa được phát huy dẫn đến đời sống vật chất, tinh thần của người dân chưa được cải thiện Vì vậy, mặc dù Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trên địa bàn đã rất nỗ lực và quyết tâm xây dựng nông thôn mới nhưng cho đến nay, toàn huyện mới chỉ có 03 xã thuộc nhóm 01, 02 đạt 19/19 tiêu chí; 09 xã thuộc nhóm 02 đạt từ
10 đến 14 tiêu chí và 14 xã thuộc nhóm 04 đạt từ 5 đến 9 tiêu chí, trong đó có 1 xã
đạt 6 tiêu chí (UBND huyện Nho Quan - VPĐP xây dựng nông thôn mới, 2014)
Trong quá trình triển khai thực hiện các nội dung của Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới (NTM), ở tất cả các địa phương đều thực hiện nguyên tắc chủ đạo là phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương, các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện Nguyên tắc này đã xác định xây dựng NTM là một
hoạt động “dựa vào cộng đồng”, phát huy sự tham gia, đóng góp của cộng đồng
là nguồn lực chính để thực hiện các nội dung xây dựng NTM
Tuy nhiên, theo đánh giá chung từ quá trình thí điểm xây dựng NTM ở một số địa phương cũng như ở huyện Nho Quan cho thấy chưa phát huy được hiệu quả nội lực của cộng đồng trong xây dựng NTM, một số thành viên của các nhóm cộng đồng hưởng lợi chưa thực sự tích cực tham gia, đóng góp và thực hiện các nội dung của chương trình, hoặc tham gia nhưng vẫn còn hời hợt, chưa quyết tâm, chưa phát huy hết sức mạnh nội lực của cộng đồng Một phần, vẫn là nhận thức của một bộ phận cán bộ Đảng viên và người dân về các nội dung xây dựng NTM chưa đầy đủ và toàn diện, dẫn đến còn tồn tại tâm lý ỷ lại, trông chờ vào Nhà nước Mặt khác việc xây dựng cơ chế, chính sách xây dựng NTM tại địa phương còn nhiều hạn chế, chưa khuyến khích sự tham gia của mọi thành phần trong xã hội Chính vì vậy, trong thời gian tới, huy động nguồn lực, tăng cường sự
Trang 10tham gia của mọi thành phần, tổ chức KT - XH, đặc biệt là sự tham gia của các nhóm cộng đồng hưởng lợi trong xây dựng NTM trên địa bàn huyện Nho Quan
là một yêu cầu, một nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Sự
tham gia của cộng đồng hưởng lợi trong Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình” để tìm hiểu thực trạng các
nhóm cộng đồng hưởng lợi đã tham gia như thế nào trong Chương trình xây dựng NTM trên địa bàn huyện? Các yếu tố nào ảnh hưởng tới sự tham gia? Và từ
đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của các nhóm cộng đồng hưởng lợi trong Chương trình xây dựng NTM trên địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi trong Chương trình xây dựng NTM, từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự tham gia của các nhóm cộng đồng hưởng lợi trên địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự tham gia của các nhóm cộng đồng hưởng lợi trong Chương trình xây dựng NTM trên địa bàn huyện Nho Quan trong thời gian tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là nghiên cứu sự tham gia của các nhóm cộng đồng hưởng lợi trong Chương trình xây dựng NTM trên địa bàn
huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
Trang 111.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung:
Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi trong Chương trình xây dựng NTM Trên cơ sở đó, nghiên cứu thực trạng sự tham gia của các nhóm cộng đồng hưởng lợi, phân tích một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự tham gia, và đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi góp phần xây dựng thành công mô hình NTM trên địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
Trang 122.1.1.1 Chương trình xây dựng nông thôn mới
Theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/TW của Trung ương, NTM là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế
và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất tinh thần của người
dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa (Đảng cộng sản
Việt Nam, 2008)
Với tinh thần đó, NTM có năm nội dung cơ bản Thứ nhất là nông thôn có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại Hai là sản xuất bền vững, theo hướng hàng hóa Ba là đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao Bốn là bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển Năm
là xã hội nông thôn được quản lý tốt và dân chủ
Để xây dựng NTM với năm nội dung đó, ngày 16/04/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg, ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM bao gồm 19 tiêu chí và được chia thành 5 nhóm cụ thể Bộ tiêu chí là căn
cứ để xây dựng nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM; chỉ đạo thí điểm xây dựng mô hình NTM trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; kiểm tra, đánh giá, công nhận xã, huyện, tỉnh đạt NTM
Theo đó, các tiêu chí được chia thành 5 nhóm: Nhóm tiêu chí về quy hoạch;
hạ tầng KT - XH; kinh tế và tổ chức sản xuất; văn hóa - xã hội - môi trường và hệ thống chính trị 19 tiêu chí bao gồm: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch, giao thông, thủy lợi, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, chợ nông thôn, bưu điện, nhà ở
Trang 13dân cư, thu nhập bình quân đầu người/năm, tỷ lệ hộ nghèo, cơ cấu lao động, hình thức tổ chức sản xuất, giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường, hệ thống tổ chức chính trị
xã hội vững mạnh và an ninh, trật tự xã hội
Trong đó, Bộ tiêu chí đưa ra chỉ tiêu chung cho cả nước và các chỉ tiêu cụ thể theo từng vùng: Trung du miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long
Mỗi tiêu chí trong 19 tiêu chí đều được quy định mức chỉ tiêu cụ thể đối với từng xã trong từng vùng để được công nhận là xã NTM Và một huyện được công nhận là huyện NTM thì phải có 75% số xã trong huyện đạt NTM, đối với tỉnh
phải có 80% số huyện trong tỉnh đạt NTM thì tỉnh đó đạt NTM (Chính phủ, 2009)
Dựa trên Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng NTM, ngày 04/06/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 800 QĐ/TTg về Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về NTM giai đoạn 2010 - 2020 Theo đó, Chương trình gồm
11 nội dung chính: Quy hoạch xây dựng NTM; phát triển hạ tầng KT - XH; chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập; giảm nghèo và an sinh
xã hội; phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn; xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn; cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn; giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn Mục tiêu, những yêu cầu chi tiết của từng nội dung được quy định cụ thể trong Quyết
định (Chính phủ, 2010)
Ngoài ra, Quyết định còn quy định cụ thể về nguồn vốn và huy động vốn, các giải pháp chủ yếu để thực hiện Chương trình Trong đó, Quyết định đã quy định cụ thể nguồn vốn huy động từ cộng đồng là 10% Mục tiêu chính là để chỉnh trang, sửa sang các công trình, đầu tư sản xuất của chính họ trên đất của họ, trong đó một số ít cũng tham gia vào các công trình công cộng Cũng có nơi huy động ngày công, có nơi hiến đất, cũng có nơi đóng tiền
Trang 14Như vậy, Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM đã xác định mục tiêu cuối cùng là vì lợi ích của cộng đồng dân cư nông thôn, và chính họ cũng sẽ là chủ thể chính trong công cuộc xây dựng NTM tại cấp cơ sở Vì thế, trong quá trình triển khai Chương trình, cần nhất quán thực hiện cơ chế dân chủ ở nông thôn Tạo mọi điều kiện để huy động, thu hút các chủ thể cộng đồng khu vực nông thôn tham gia tích cực trong mọi quá trình: quy hoạch, thiết kế, triển khai thực hiện, quản lý, điều hành các chương trình, dự án
Sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi trong xây dựng NTM được đánh giá là một trong những yếu tố cơ bản, là chìa khóa vàng để huy động nguồn lực, phát huy nội lực nhằm đạt được mục tiêu đề ra
2.1.1.2 Cộng đồng hưởng lợi
Cho đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu về cộng đồng trên thế giới theo các cách tiếp cận khác nhau đưa ra những khái niệm khác nhau Từ điển Bách khoa Wikipedia cho biết đến giữa thập niên 50 của thế kỷ trước đã có 94 định
nghĩa khác nhau về cộng đồng đã được đưa ra (Phạm Hồng Tung, 2009). Cụ thể:
Người đặt nền móng đầu tiên cho các lý thuyết xã hội về cộng đồng là nhà
xã hội học người Đức Ferdinand Toennies Trong cuốn “cộng đồng và hiệp hội” (Gemainschaft und Gesellschaft) Toennies cho rằng cộng đồng là một thực thể xã hội có độ gắn kết và bền vững hơn hiệp hội, được đặc trưng bởi sự đồng thuận về
ý chí của các thành viên trong cộng đồng (Toennies, 1887) Định nghĩa này cho thấy cộng đồng bản chất là một nhóm xã hội trong đó các thành viên gắn kết chặt chẽ với nhau và cùng có chung một ý chí Tính xã hội của cộng đồng được thể hiện ở khía cạnh các thành viên trong cộng đồng có mối liên hệ xã hội với nhau
(hàng xóm láng giềng, họ tộc (Phan Vũ Tuyết Mai, 2012)
Theo Gustav A Lundquist và Thomas Nixon Carver (1927) cộng đồng là một nhóm người sống cùng một nơi và làm việc cùng nhau để đạt được mục tiêu chung Nơi cộng đồng sinh sống là một khu vực xác định, có ranh giới, đủ gần để các thành viên trong cộng đồng có thể giao tiếp và phối hợp làm việc với nhau dễ dàng để đạt được mục tiêu chung Việc theo đuổi cùng một mục tiêu chung làm
cho các thành viên trong cộng gắn bó với nhau (Phan Vũ Tuyết Mai, 2012)
Trang 15Cộng đồng một đơn vị quần cư nhỏ, là cấu trúc xã hội đồng nhất, có chung một mục đích và quy tắc (Arunagrawal và Clack C Gibson (1999) Cộng đồng thường có quy mô nhỏ cả về dân số lẫn không gian sống Cộng đồng thường trong phạm vi một làng, sự gần gũi như vậy làm cho mọi người gắn bó với nhau Tính đồng nhất của cộng đồng có thể là sự giống nhau về ngôn ngữ, phong tục tập quán, tín ngưỡng, dân tộc Sự giống nhau này là yếu tố gắn kết các thành viên trong cộng đồng, làm họ xích lại gần nhau hơn, luôn giúp đỡ và hỗ trợ
lẫn nhau (Phan Vũ Tuyết Mai, 2012)
Ở Việt Nam, có nhiều tài liệu đưa ra khái niệm “cộng đồng” Từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, 1992 giải thích: “cộng đồng là toàn thể những người sống thành một xã hội, nói chung có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối” Đại từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 1999 giải thích: “cộng đồng là tập hợp những người có những điểm giống nhau làm thành một khối như một xã hội”
Theo Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang (2000) cộng đồng là một thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức (chặt chẽ hoặc không chặt chẽ), là một nhóm người cùng chia sẻ và chịu ràng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lâp thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên
Dù tiếp cận trên những phương diện khác nhau, dựa trên những lý thuyết khoa học khác nhau, nhưng tựu chung lại, có thể coi những dấu hiệu cốt yếu nhất
sau đây để nhận biết hay định nghĩa một cộng đồng (Phạm Hồng Tung, 2009):
- Cộng đồng phải tập hợp số đông người;
- Mỗi cộng đồng phải có một bản sắc, bản thể riêng;
- Các thành viên phải tự cảm thấy có sự gắn kết giữa các cộng đồng và giữa các thành viên với nhau;
- Có thể có nhiều yếu tố tạo nên bản sắc và sức bền gắn kết của cộng đồng, nhưng quan trọng là sự thống nhất về ý chí và chia sẻ về tình cảm tạo nên ý thức của cộng đồng;
- Mỗi cộng đồng sẽ có những tiêu chí bên ngoài để nhận biết về cộng đồng
và có những quy tắc, chế định và hoạt động và ứng xử chung của cộng đồng
Trang 16Trên thực tế, không có một cộng đồng thuần chất Trong một cộng đồng
có thể bao gồm cả những người giàu, người nghèo từ các giai tầng xã hội khác nhau, có trình độ kiến thức và nhu cầu cụ thể khác nhau, nhưng có cùng mối quan tâm và lợi ích chung Mặt khác, một cá nhân có thể đồng thời thuộc về vài cộng đồng tại cùng một thời điểm do bản thân họ có nhiều mối quan tâm, nhiều sở thích và chia sẻ lợi ích với nhiều nhóm người khác nhau; trong một cộng đồng số thành viên thường có xu hướng biến đổi Cộng đồng nông thôn gắn kết với nhau trên cơ sở tình làng nghĩa xóm truyền thống và quan hệ trong nội bộ dòng tộc
Cộng đồng hưởng lợi được hiểu là một cộng đồng, mà những người trong
cộng đồng đó là đối tượng được hưởng lợi từ một Chương trình hay một dự án nào đó trong một phạm vi thời gian và không gian nhất định
Đối tượng hưởng lợi là những người được dự án tác động đến khi triển khai Đối tượng này có thể là gián tiếp hoặc trực tiếp và thay đổi theo từng dự án:
Có thể là nhóm người trong xã hội hay cộng đồng
Tham gia - Participation được dịch thành 2 từ tham dự và tham gia Trong
đó, tham dự là tham gia ở mức thấp còn tham gia là tham dự ở mức cao Và phương pháp luận tham gia là phương pháp luận đi từ dưới lên tức là đi từ người
dân và trở thành khoa học (Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang, 2000)
Hai tác giả Cohen và Uphoff (1979) cho rằng: “liên quan đến phát triển nông thôn, sự tham gia bao gồm sự liên quan của người dân vào quá trình ra quyết định, vào việc thực hiện các chương trình, sự chia sẻ lợi ích có được từ chương trình phát triển; và/hoặc các cố gắng để đánh giá những chương trình như
vậy” (Bùi Minh Tân,2013)
Theo Clanrence Shubert, “Sự tham gia của cộng đồng” là quá trình trong
đó các nhóm dân cư của cộng đồng tác động vào quá trình quy hoạch, thực hiện, quản lý sử dụng hoặc duy trì một dịch vụ, trang thiết bị hay phạm vi hoạt động Các hoạt động cá nhân không có tổ chức sẽ không được coi là sự tham gia của
cộng đồng (Bùi Minh Tân,2013)
Trang 17Sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi là đảm bảo cho những người chịu
ảnh hưởng của chương trình được tham gia vào việc quyết định chương trình, là tìm cách và huy động các nguồn lực của cộng đồng, qua đó để tăng lợi ích cho cộng đồng dân cư giảm các chi phí, tăng hiệu quả kinh tế và hiệu quả chính trị cho nhà nước
Sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi trong Chương trình xây dựng NTM
là quá trình trong đó các thành viên trong cộng đồng hưởng lợi có sự tác động, tham gia, đóng góp vào quá trình xây dựng NTM tại địa phương Sự tham gia là phương tiện hữu hiệu để huy động nguồn lực, tài nguyên địa phương, tổ chức và tận dụng năng lực, sự khôn ngoan, tính sáng tạo của cộng đồng dân cư vào các hoạt động xây dựng NTM Trong nghiên cứu phát triển tham gia ở vùng nông
thôn Nigeria, Okarfo (1997) nhận thấy 4 lĩnh vực tham gia là: (1) tham gia vào
cuộc họp của dự án, (2) tham gia vào việc ra quyết định, (3) tham gia vào việc đóng góp vốn, (4) tham gia vào việc giám sát (Bùi Minh Tân,2013)
2.1.2 Vai trò sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi trong Chương trình xây dựng NTM
Xây dựng NTM là một chương trình lớn thể hiện sự quan tâm của Đảng
và Nhà nước đối với khu vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn Tuy nhiên, nó cũng là một quá trình khó khăn và lâu dài cần có sự chung tay, góp sức của mọi thành phần, tổ chức KT - XH, đặc biệt là sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi, đối tượng thụ hưởng chính của Chương trình Vì thế sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi trong Chương trình xây dựng NTM có vai trò vô cùng quan trọng, quyết định sự thành công và đạt được mục tiêu đề ra của Chương trình Họ biết
rõ nhất những khó khăn, nhu cầu của mình đồng thời sự cam kết của họ mang tính chất sống còn(nếu như họ không ủng hộ một kế hoạch nào, kế hoạch đó sẽ không thực hiện được)
Thứ nhất, sự tham gia giúp phát huy được nội lực cộng đồng trong việc
huy động nguồn lực: nhân lực, trí lực, vật lực tham gia trong quá trình xây dựng NTM tại địa phương Cộng đồng hưởng lợi trên địa bàn là đối tượng quản lý trực tiếp các nguồn tài nguyên như đất đai, nhà xưởng, sản phẩm địa phương,… mà
Trang 18quá trình phát triển phải dựa vào đó Ngoài ra, kỹ năng, yếu tố truyền thống, kiến thức và năng lực của họ chính là tiềm năng chính để phát triển Trong điều kiện nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước cho phát triển khu vực nông thôn còn hạn chế, thì
sự đóng góp của các nhóm cộng đồng là vô cùng cần thiết, giảm bớt gánh nặng
cho ngân sách nhà nước (Bùi Minh Tân,2013); (Nguyễn Văn Hiệu, 2011)
Thứ hai, do được tham gia vào các hoạt động xây dựng NTM nên sẽ khơi
dậy niềm tin của các cộng đồng hưởng lợi Nó sẽ có tác động trong việc đổi mới tư duy và nâng cao năng lực của người dân và các cộng đồng địa phương,
từ đó tạo ra động lực để họ có thể đứng ra làm chủ việc phát triển kinh tế, xã hội và môi trường trên địa bàn Đồng thời, nó giúp phát huy được tính của cộng đồng trong việc đoàn kết, chung tay góp sức thực hiện các nội dung Từ đó, các hoạt động trong Chương trình được thực hiện dễ dàng, hiệu quả và có tính bền
vững cao (Bùi Minh Tân,2013);(Nguyễn Văn Hiệu, 2011)
Thứ ba, khi có sự tham gia, nó sẽ gắn trách nhiệm của cộng đồng với các
hoạt động mà họ tham gia Và vì thế người dân và cán bộ cơ sở sẽ có trách nhiệm
và nhiệt tình hơn Họ sẽ làm chủ được các hoạt động phát triển Đồng thời, người dân có điều kiện giám sát việc thực hiện, giảm thiểu việc sử dụng sai mục đích ở
các cấp khác nhau (Bùi Minh Tân,2013);(Nguyễn Văn Hiệu, 2011)
2.1.3 Nội dung nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi trong Chương trình xây dựng NTM
2.1.3.1 Các tiêu chí đánh giá sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi
Sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi vào Chương trình xây dựng NTM được coi như nhân tố quan trọng, quyết định sự thành bại của việc áp dụng phương pháp tiếp cận phát triển dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ trong xây dựng NTM Do vậy trong quá trình xây dựng NTM cần quan tâm đến công tác huy động nguồn lực, nâng cao sự tham gia của cộng đồng vào quá trình xây dựng và phát triển NTM Khi xem xét quá trình tham gia của cộng đồng trong các hoạt động
xây dựng NTM, ta đánh giá qua các tiêu chí “Dân biết, dân bàn, dân đóng góp,
dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý và dân hưởng lợi” Những tiêu chí này toàn
phù hợp với quan điểm của Đảng ta “lấy dân làm gốc” Các nội dung đánh giá sự
Trang 19tham gia của cộng đồng trong Chương trình xây dựng NTM được xây dựng dựa
trên các tiêu chí sau:
- Dân biết: Dân biết là tiêu chí đầu tiên đo lường sự tham gia của cộng
đồng hưởng lợi trong Chương trình xây dựng NTM Để xây dựng thành công, trước hết người dân phải biết, hiểu và nắm được thông tin về các nội dung Chương trình xây dựng NTM, về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của họ trong quá trình xây dựng tại địa phương Những hiểu biết của người dân về những kiến thức bản địa cộng với sự hiểu biết trên, người dân sẽ tích cực tham
gia đóng góp vào Chương trình hơn (Nguyễn Văn Hiệu, 2011)
- Dân bàn: Người dân trong cộng đồng hưởng lợi được quyền tham gia
vào Chương trình xây dựng NTM trên địa bàn bằng cách tham gia các cuộc họp, đóng góp ý kiến liên quan đến việc lập kế hoạch phát triển thôn, kế hoạch phát triển sản xuất, đầu tư xây dựng công trình phúc lợi công cộng, các giải pháp thiết
kế, phương thức khai thác công trình, tổ chức quản lý công trình, các mức đóng góp và các định mức chi tiêu từ các nguồn thu, phương thức quản lý tài chính
trong nội bộ cộng đồng,…(Nguyễn Văn Hiệu, 2011)
- Dân đóng góp: Đây là tiêu chí đánh giá mức độ đóng góp của cộng đồng
không chỉ ở phạm trù vật chất mà còn về tinh thần Khi đã nắm bắt đầy đủ các thông tin về các nội dung trong Chương trình xây dựng NTM và thông suốt tư tưởng, người dân tích cực tham gia đóng góp tiền của, công lao động, vật tư tại chỗ
và cả trí tuệ để xây dựng làng, xã văn minh, giàu đẹp (Nguyễn Văn Hiệu, 2011)
- Dân làm: Tiêu chí này thể hiện sự tham gia lao động trực tiếp của cộng
đồng trong các hoạt động xây dựng NTM ở địa phương Người dân không chỉ đóng góp mà họ còn trực tiếp tham gia lao động thi công công trình như xây dựng đường giao thông nông thôn, quản lý và duy tu bảo dưỡng; tham gia tiến
hành triển khai các mô hình sản xuất kinh doanh, (Nguyễn Văn Hiệu, 2011)
- Dân kiểm tra: Cộng đồng tham gia kiểm tra, giám sát mọi hoạt động,
mọi quá trình triển khai Chương trình thể hiện quy chế dân chủ ở nông thôn
Ở những công trình có nhiều bên tham gia, sự kiểm tra, giám sát của cộng đồng hưởng lợi có tác động tích cực trực tiếp đến chất lượng công trình và
Trang 20tính minh bạch trong việc sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và của người dân vào xây dựng, quản lý và vận hành công trình Việc kiểm tra có thể được tiến hành ở tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư trên các khía cạnh kỹ
thuật cũng như tài chính (Nguyễn Văn Hiệu, 2011)
- Dân quản lý: Đó là các thành quả của các hoạt động mà người dân đã
tham gia; các công trình sau khi xây dựng xong cần được quản lý trực tiếp của một tổ chức do nông dân hưởng lợi lập ra để tránh tình trạng không rõ ràng về chủ sở hữu công trình Việc tổ chức của người dân tham gia duy tu, bảo dưỡng công trình nhằm nâng cao tuổi thọ và phát huy tối đa hiệu quả trong việc sử dụng
công trình (Nguyễn Văn Hiệu, 2011)
Cuối cùng, cộng đồng dân cư là những người được hưởng lợi trực tiếp từ các hoạt động của Chương trình mang lại như năng suất cây trồng tăng lên do thực hiện thâm canh, tăng vụ, áp dụng các giống mới, các kỹ thuật tiên tiến, phòng trừ dịch bệnh, từ đó đời sống vật chất của người dân cũng dần được cải thiện do tăng thu nhập; đời sống văn hóa tinh thần cũng không ngừng tăng lên do được đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ cho hoạt động này
2.1.3.2 Nội dung sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi
Dựa trên các tiêu chí đánh giá sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi trong Chương trình xây dựng NTM, nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng bao gồm các nội dung sau:
Thực hiện triệt để quy chế dân chủ ở nông thôn, người dân trong các cộng đồng hưởng lợi được tham gia vào mọi quá trình của Chương trình xây dựng NTM ở địa phương Đó là việc bàn bạc, đóng góp ý kiến trong các buổi họp để triển khai các nội dung của Chương trình như: Bầu ban phát triển (BPT) thôn, ban giám sát (BGS) cộng đồng,…
- Như vậy, thông qua hoạt động này, cộng đồng đã chủ động xây dựng kế hoạch phát triển cho chính nhu cầu mà mình quan tâm Từ đó sẽ khích lệ lòng dân, tham gia nhiệt tình vào công cuộc xây dựng thôn xóm ngày một giàu đẹp
Trang 21(2) Tham gia việc ra quyết định
Từ việc tham gia các cuộc họp, bàn bạc, đóng góp ý kiến, người dân sẽ lập được kế hoạch phát triển riêng cho cộng đồng của mình Trong đó, tùy thuộc vào điều kiện của từng cộng đồng mà họ sẽ sắp xếp những nhu cầu và các hoạt động theo thứ tự ưu tiên Từ đó, họ sẽ quyết định thực hiện hoạt động nào trước, hoạt động nào sau và thực hiện như thế nào cho phù hợp
- Mặt khác, cộng đồng còn tham gia quyết định vào các hoạt động kinh tế như: xây dựng “mỗi làng một nghề”, phát triển và nâng cao hơn các ngành nghề truyền thống của địa phương, hay quyết định nên sản xuất các mô hình kinh tế nào,… từ những hoạt động này góp phần làm nâng cao thu nhập và phát triển kinh tế của địa phương, tạo ra những khác biệt trong phát triển các ngành nghề, những thay đổi này tác động tới những tiêu chí về quy hoạch, về hạ tầng KT -
XH, về kinh tế và tổ chức sản xuất (Bùi Minh Tân, 2013); (Dương Thị Thủy,
Trong các hoạt động của Chương trình xây dựng NTM, cộng đồng hưởng lợi còn có vai trò rất quan trọng trong việc tham gia đóng góp tài sản tài chính, vật tư tại chỗ, trí tuệ, công lao động,… Việc người dân đóng góp cho các hoạt động xây dựng NTM dựa trên tinh thần tự nguyện Việc triển khai cũng như yêu cầu đối với việc huy động khả năng góp vốn, góp sức của dân đều được lấy ý kiến trực tiếp từ các hộ gia đình Đóng góp ở mức độ nào phụ thuộc vào khả năng kinh tế và điều kiện của từng cộng đồng
- Ngoài việc góp vốn, cộng đồng hưởng lợi còn trực tiếp bỏ công, bỏ sức lao động trực tiếp tham gia xây dựng các hạng mục như: xây dựng đường giao thông nông thôn, thu gom rác thải, tu sửa các công trình thủy lợi, kênh mương,… Hình thức này cũng làm nâng cao tinh thần trách nhiệm đồng thời đây là hình thức mà thu hút được sự tham gia của nhóm cộng đồng dân cư có thu nhập thấp
mà không thể đóng góp được về mặt tài chính Điều đó sẽ tạo ra sự đồng thuận
cao hơn, nâng cao tinh thần đoàn kết và trách nhiệm trong các hoạt động (Bùi
Trang 22(4) Tham gia triển khai thực hiện
- Tham gia thực hiện các hoạt động của Chương trình tại địa phương được thể hiện ở nhiều khía cạnh Sau khi họp, bàn bạc và đi đến thống nhất cuối cùng về kế hoạch thực hiện, người dân sẽ là đối tượng trực tiếp thực hiện triển khai các hoạt động đó như: Tiến hành đóng góp, ủng hộ vật tư, tài chính; trực tiếp tham gia làm đường, nạo vét kênh mương,…chủ động tu sữa nhà cửa, các công trình cá nhân; hay tham gia các lớp tập huấn đào tạo ứng dụng kỹ thuật trong mô hình sản xuất mới,… Việc trực tiếp tham gia thực hiện đảm bảo tính
minh bạch của Chương trình và thể hiện sự làm chủ của cộng đồng (Bùi Minh
Cộng đồng hưởng lợi tham gia giám sát, kiểm tra và đánh giá các hoạt động của địa phương trong khuôn khổ kế hoạch đã được xây dựng từ trước Tuy nhiên, cách thức mà mỗi cộng đồng lựa chọn trong việc giám sát, kiểm tra, duy tu bảo dưỡng công trình là không giống nhau Mỗi cộng đồng có thể sẽ đứng ra đảm nhận giám sát, kiểm tra từng khâu của các hoạt động
- Tổng kết cuối năm, mỗi cộng đồng sẽ tổ chức các cuộc họp để đánh giá các hoạt động đã thực hiện, có được diễn ra theo đúng kế hoạch không, các vấn
đề khác liên khác Từ đó có thể đưa ra các kinh nghiệm cho các hoạt động khác
sẽ được thực hiện theo mục tiêu trong những năm sau (Bùi Minh Tân, 2013);
2.1.4.1 Đặc điểm của cộng đồng
Yếu tố bên trong ở đây được thể hiện thông qua các đặc điểm của cộng đồng về kinh tế, tính của cộng đồng, tổ chức của cộng đồng, trình độ văn hóa, năng lực chuyên môn của các thành viên trong cộng đồng Cụ thể:
Trang 23- Nếu như các thành viên trong cộng đồng có điều kiện kinh tế tốt, thì họ
sẽ tích cực tham gia hơn trong việc triển khai thực hiện các hoạt động xây dựng NTM tại địa phương và ngược lại
- Tính của cộng đồng là ý thức và tình cảm gắn bó giữa các thành viên trong cộng đồng Ý thức của cộng đồng được thể hiện bằng việc tự nguyện tham gia vào các hoạt động của tập thể cộng đồng Một cộng đồng mà giữa các thành viên có sự đoàn kết, gắn bó và có tinh thần tập thể thì chắc chắn mức độ tham gia, đóng góp xây dựng NTM sẽ cao hơn so với những cộng đồng khác
- Tổ chức của cộng đồng: Các đặc điểm về chính trị và tổ chức của cộng đồng ảnh hưởng rất lớn đến sự tham gia của các thành viên trong các hoạt động xây dựng NTM Nói chung người lãnh đạo cộng đồng là do dân bầu, đó là người có vai trò quan trọng trong quản lý cộng đồng và huy động các nguồn lực
để xây dựng NTM Chính vì thế, một cộng đồng mà được tổ chức tốt, thì mọi việc của địa phương sẽ được thực hiện một cách dễ dàng, thống nhất và mang lại hiệu quả cao
- Điều kiện về trình độ học vấn, năng lực chuyên môn của các thành viên trong cộng đồng ảnh hưởng không nhỏ đến sự tham gia của họ trong chương trình xây dựng NTM của địa phương Nếu như các thành viên trong cộng đồng
có trình độ học vấn và năng lực chuyên môn cao, am hiểu các vấn đề xã hội thì nhận thức của họ về vấn đề sẽ đúng và sâu sắc hơn, từ đó họ sẽ tham gia nhiệt tình và có những đóng góp to lớn trong quá trình xây dựng NTM tại địa phương
(Dương Thị Thủy, 2012)
2.1.4.2 Việc thực hiện quy chế dân chủ tại địa phương
- Việc thực hiện quy chế dân chủ tại địa phương trong việc thực hiện triển khai các nội dung xây dựng NTM có một ảnh hưởng rất lớn tới sự tham gia của các cộng đồng hưởng lợi Nếu như địa phương nào thực hiện nhất quán nguyên tắc dân chủ, huy động tối đa sự tham gia và coi trọng ý kiến của các cá nhân trong quá trình xây dựng NTM thì sẽ phát huy được mạnh mẽ tinh thần tham gia của mọi tầng lớp dân cư trong xã hội, đặc biệt là sự tham gia của cộng đồng người dân sinh
sống tại địa phương (Bùi Minh Tân, 2013); (Dương Thị Thủy, 2012)
Trang 242.1.4.3 Công tác thông tin, tuyên truyền của địa phương
Việc phổ biến các chính sách về NTM được thực hiện từ Trung ương đến địa phương nhằm đạt được sự thống nhất trong nội dung thông tin tuyên truyền Khi chính sách được ban hành xuống cơ sở, trách nhiệm của cán bộ các cấp cần phải nắm rõ được nội dung trong văn bản chính sách để phối hợp cùng với các tổ chức và đoàn thể ở địa phương triển khai thực hiện một cách hiệu quả
Việc phổ biến chính sách có thể thực hiện thông qua các kênh thông tin như: loa, đài, báo, tờ rơi, bảng thông báo, hội nghị, hội thảo, họp thôn, xóm… Thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền sẽ góp phần hoàn thiện nhận thức, hiểu biết của các thành viên cộng đồng hưởng lợi về các nội dung trong xây dựng NTM, từ đó họ sẽ có sự tham gia, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng
NTM của địa phương (Dương Thị Thủy, 2012)
2.1.4.4 Năng lực, trình độ của cán bộ chuyên trách của địa phương
- Cán bộ các cấp, đặc biệt cấp địa phương là người trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn việc thực hiện chính sách NTM, là người trực tiếp triển khai các chương trình, hoạt động trong xây dựng NTM đến người dân Vì vậy khả năng, trình độ chuyên môn của họ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến việc nhận thức của người dân Vì vậy, chính họ trước hết cũng phải nhận thức một cách đầy đủ, toàn diện về những nội dung xây dựng NTM, từ đó thì mới triển khai, phổ biến, hướng dẫn cho người dân hiểu và làm đúng theo mục tiêu của chương trình đã đề ra Trình độ, năng lực của các cán bộ càng cao thì việc thực hiện triển khai chương trình càng thuận lợi Trình độ của các cán bộ không chỉ là trình độ kỹ thuật mà cần cả kiến thức thực tế, sự nhiệt tình, năng động để nắm bắt
được những quy luật, xu hướng, biến động của sự vật, hiện tượng (Bùi Minh Tân,
2013); (Dương Thị Thủy, 2012)
2.1.4.5 Cơ chế chính sách triển khai xây dựng NTM tại địa phương
Việc triển khai xây dựng NTM ngoài những văn bản quy định của cấp trên thì tùy vào từng điều kiện, hoàn cảnh của mỗi địa phương mà xây dựng những cơ chế, chính sách xây dựng NTM khác nhau Việc xây dựng những cơ chế, chính sách cụ thể, phù hợp với hoàn cảnh của mỗi địa phương sẽ giúp cho công cuộc
Trang 25xây dựng NTM diễn ra suôn sẻ đồng thời huy động được nguồn lực từ mọi thành
phần kinh tế trong xã hội (Bùi Minh Tân, 2013)
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm Quốc tế về sự tham gia của cộng trong phát triển nông thôn
2.2.1.1 Kinh nghiệm tại Hàn Quốc: “Phong trào đổi mới nông thôn”
Hàn Quốc vào đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX là một nước nghèo sau chiến tranh, GDP bình quân đầu người chỉ có 85 USD, không đủ lương thực và phần lớn người dân không đủ ăn Nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp nhưng hạn hán và lũ lụt thường xuyên xảy ra khắp đất nước Xã hội Hàn Quốc thời đó như nhận xét của người trong cuộc là “một xã hội thờ ơ, hỗn độn và vô vọng”
(Trường Cao đẳng Nông nghiệp Nam Bộ, 2010)
Xuất phát từ bối cảnh chung của đất nước và nhận ra rằng viện trợ của Chính phủ cũng là vô nghĩa nếu người dân không nghĩ cách tự cứu lấy mình Hơn thế nữa, khuyến khích người dân tự hợp tác và giúp đỡ nhau là điểm mấu chốt để phát triển nông thôn Ngày 22/4/1970 Tổng thống Park Chung Hy đã phát động phong trào “Saemaulundong” Vì phong trào bắt đầu từ nông thôn nên
“Saemaulundong” được hiểu là “Phong trào đổi mới nông thôn” (Trường Cao
đẳng Nông nghiệp Nam Bộ, 2010)
Phong trào Saemauludong (SU) không đơn thuần là một kế hoạch hành động mà còn là cả một cuộc cải tổ về ý thức dựa trên tinh thần của tất cả các thành viên trong xã hội Chính vì thế, ngay từ đầu Chính phủ đã tuyên truyền cho người dân ý thức “nhất định phải làm”, “đã làm là được”, “tất cả đều có thể làm được” Và nêu cao tinh thần cốt lõi chính của phong trào mới là: Thay đổi tư duy, phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; phát triển sản xuất để tăng thu nhập cho nông dân; phát huy dân chủ để phát triển nông
thôn; phát triển kinh tế hợp tác từ phát triển cộng đồng (Trường Cao đẳng Nông
Trang 26trong tổng số vốn đầu tư dự án, đóng góp của người dân chiếm phần lớn 49,4%;
hỗ trợ của Chính phủ chỉ 27,8%; phần còn lại là các khoản nông dân vay của các tổ chức tín dụng Nếu tính cả phần vốn vay, sự đóng góp của người dân là 72,2% Thực tế cho thấy sự hỗ trợ của chính phủ trong giai đoạn đầu là rất quan trọng, nhưng rõ ràng sự đóng góp của người dân mới quyết định thành công của các dự án
Trong 10 năm, các dự án đã làm được 61.797 km đường vào thôn (đạt 126% kế hoạch); 43.558 km đường trong thôn (166%); 37.012 nhà văn hóa (104%); 2.777.500 hộ nông thôn được cấp điện (98%); 717 xí nghiệp nông nghiệp (75%); 22.143 nhà kho (64%); 225.000 ngôi nhà được cải tạo (42%) và quy hoạch
mới cho 2.747 ngôi làng (Trường Cao đẳng Nông nghiệp Nam Bộ, 2010)
Theo đó, để huy động được sự tham gia của mọi thành viên cộng đồng, Hàn Quốc đã đúc kết thành những bài học sau đây:
Thứ nhất, phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng nông
thôn - phương châm là nhân dân quyết định và làm mọi việc, “nhà nước bỏ ra 1 vật tư, nhân dân bỏ ra 5 - 10 công sức và tiền của” Dân quyết định loại công trình, dự án nào cần ưu tiên làm trước, công khai bàn bạc, quyết định thiết kế và
chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình (Phạm Thị Thanh Thảo, 2013)
Thứ hai, đào tạo cán bộ phục vụ phát triển nông thôn Hàn Quốc, xác định
nhân tố quan trọng nhất để phát triển phong trào SU là đội ngũ cán bộ cơ sở theo tinh thần tự nguyện và do dân bầu Hàn Quốc đã xây dựng 3 trung tâm đào tạo quốc gia và mạng lưới trường nghiệp vụ của các ngành ở địa phương Nhà nước đài thọ, mở các lớp học trong thời gian từ 1 - 2 tuần để trang bị đủ kiến thức thiết
thực như kỹ năng lãnh đạo cơ bản, quản lý dự án, phát triển cộng đồng (Phạm Thị
Thanh Thảo, 2013)
Thứ ba, phát triển kinh tế hợp tác từ phát triển cộng đồng Hàn Quốc đã
thiết lập lại hợp tác xã (HTX) kiểu mới phục vụ trực tiếp nhu cầu của dân, cán bộ HTX do dân bầu chọn Phong trào SU là bước ngoặt đối với sự phát triển của HTX hoạt động đa dạng, hiệu quả trong dịch vụ tín dụng, cung cấp đầu vào cho sản xuất, tiếp thị nông sản, bảo hiểm nông thôn và các dịch vụ khác Dịch vụ HTX phát triển mạnh mẽ, hoạt động có hiệu quả huy động được tối đa sự tham
Trang 27gia của các thành viên, góp phần nâng cao đời sống của mọi tầng lớp nhân dân
trong xã hội (Phạm Thị Thanh Thảo, 2013)
Thứ tư, phát huy dân chủ để phát triển nông thôn Hàn Quốc thành lập hội
đồng phát triển xã, quyết định sử dụng trợ giúp của chính phủ trên cơ sở công khai, dân chủ, bàn bạc để triển khai các dự án theo mức độ cần thiết của địa phương Thành công ở Hàn Quốc là xã hội hóa các nguồn hỗ trợ để dân tự quyết
định lựa chọn dự án, phương thức đóng góp, giám sát công trình (Phạm Thị Thanh
Thảo, 2013)
2.2.1.2 Kinh nghiệm tại Nhật Bản “Mỗi làng một sản phẩm”
Từ thập niên 70 của thế kỷ trước, ở tỉnh Oita (miền tây nam Nhật Bản) đã hình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” (One Village One Product - OVOP), với mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung của cả nước Nhật Bản Trải qua gần 30 năm hình thành và phát triển, phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” ở đây đã thu được nhiều thắng lợi rực rỡ Sự thành công của phong trào này đã lôi cuốn sự quan tâm không chỉ của nhiều địa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, quốc gia khác trên thế giới
Có 3 nguyên tắc cơ bản để phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” là: Hành động địa phương nhưng tư duy toàn cầu; tự tin sáng tạo; và phát triển nguồn nhân lực
Nguyên tắc của mô hình “Mỗi làng một sản phẩm” trước hết là làm cho nông sản mang tính địa phương, lấy đặc trưng của sản phẩm là nhân tố chính Không dựa vào sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, người nông dân phải sáng tạo, tự chủ Vai trò của Nhà nước và chính quyền địa phương chỉ là hỗ trợ người nông dân nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, tổ chức cho nông dân bán sản phẩm, cải tạo và nâng cấp cơ sở hạ tầng… Theo Giáo sư Morihiko Hizamatsu, nông dân đã tập hợp lại thành các HTX để tự làm ra sản phẩm Từ việc đưa sản phẩm thô ra bán cho các thương lái (là đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất), người nông dân đã tự chế biến, sản xuất thành sản phẩm của riêng địa phương mình Kênh phân phối chính của OVOP Nhật Bản là các siêu thị Liên minh
Trang 28HTX quyết định giá bán và trong đó, siêu thị hưởng 8%; liên minh hưởng 12%; người sản xuất hưởng 80%
Trong 20 năm kể từ năm 1979-1999, phong trào "Mỗi làng một sản phẩm"
đã tạo ra được 329 sản phẩm với tổng doanh thu là 141 tỷ yên/ năm (trên 1.1 tỷ USD hay 19.000 tỷ đồng Việt Nam)
Bên cạnh đó, chương trình OVOP cũng rất chú trọng đến phát triển nguồn nhân lực Ở tỉnh Oita, người ta xây dựng 6 trường học để dạy nông dân cách làm
ăn Việc đào tạo này vừa quan tâm đến phổ biến kiến thức, kỹ năng; vừa nuôi dưỡng sự sáng tạo, cùng với tinh thần, đạo đức kinh doanh, trên cơ sở duy trì giá trị văn hóa truyền thống, làm cho người dân tin tưởng hơn vào chương trình
Như vậy, phong trào “Mỗi làng, một sản phẩm” khuyến khích nỗ lực của người dân địa phương trong việc tận dụng nguồn lực địa phương, phát huy sức mạnh cộng đồng, bảo tồn các làng nghề truyền thống và thu hẹp khoảng cách
giữa thành thị và nông thôn (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2013);
(Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2010)
2.2.2 Kinh nghiệm một số địa phương về sự tham gia của cộng đồng trong Chương trình xây dựng NTM
2.2.2.1 Bài học tại Quảng Nam
Xã Tam Phước (huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam) là một trong 11 xã của
cả nước, được Ban chỉ đạo Trung Ương chọn để xây dựng mô hình xã điểm NTM, đại diện cho khu vực Duyên hải miền Trung
Trước đây, Tam Phước là vùng căn cứ địa cách mạng, bị chiến tranh tàn phá nặng nề Sau khi nước nhà thống nhất, Đảng bộ và nhân dân địa phương tập trung tháo gỡ bom mìn, khai hoang phục hóa, tập trung phát triển sản xuất, xây dựng lại quê hương Là một xã đứng vào hàng trung bình của tỉnh, khi bắt tay xây dựng NTM, xã chưa đạt một tiêu chí nào về NTM Sau gần 2 năm triển khai xây dựng thí điểm mô hình NTM, với sự giúp đỡ, chỉ đạo kịp thời, có hiệu quả của Ban chỉ đạo Trung Ương và Tổ Công tác giúp việc BCĐ; sự hỗ trợ tích cực của các cấp, các ngành ở địa phương, đặc biệt là sự nỗ lực và quyết tâm cao của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Tam Phước; đến cuối tháng 6 năm 2011,
Trang 29xã Tam Phước đã đạt 12/19 tiêu chí NTM; 7 tiêu chí còn lại, trừ tiêu chí về tỉ lệ lao động trong nông nghiệp mới đạt 57,9% (quy định là 35%), còn 6 tiêu chí khác đang đạt ở mức cao và sẽ đạt chuẩn vào cuối năm 2011 Trong 12 tiêu chí đã đạt được, đáng mừng là có rất nhiều tiêu chí mang ý nghĩa quyết định đến sự phát triển kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng ở địa phương, như các tiêu chí về phát triển cơ sở
hạ tầng: giao thông, thuỷ lợi, điện, bưu điện, cơ sở y tế, nhà ở nhân dân
Ông Võ Thanh Anh, Chủ tịch UBND xã Tam Phước chia sẻ: “Từ thực tiễn triển khai thực hiện và kết quả đạt được trong quá trình thực hiện mô hình xã nông thôn mới đã rút ra một số kinh nghiệm, đó là: sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị ở cơ sở, phát huy vai trò chủ thể của nhân dân, dưới sự lãnh đạo tập trung của Đảng uỷ xã, cùng với sự giúp đỡ kịp thời có hiệu quả của cấp trên, sẽ là yếu tố quyết định cho sự thành công về xây dựng NTM Phát huy vai trò của cả
hệ thống chính trị và của toàn xã hội để xây dựng NTM, xem đây là nhiệm vụ trọng tâm, để không một ai đứng ngoài cuộc, phải thực hiện tốt quy chế dân chủ
cơ sở để “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và hưởng thụ” Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, vận động xây dựng NTM một cách thường xuyên, sâu rộng, thiết thực với nhiều hình thức để cán bộ và nhân dân, mọi người, mọi nhà hiểu được ý nghĩa, quyền lợi và trách nhiệm của mình, từ đó chung sức, chung lòng, bắt tay xây dựng NTM Xây dựng NTM là dự án phát triển toàn diện, nâng cao đời sống vật chất và tình thần của nhân, do đó công tác tuyên truyền vận động là quan trọng nhất, để nhân dân nhận thức được việc xây dựng NTM là việc làm của chính gia đình, bản thân mình để tự họ phấn đấu và chung tay góp sức xây dựng NTM Lựa chọn, xác định nhiệm vụ ưu tiên, triển khai thực hiện có hiệu quả tạo niềm tin cho nhân dân Xác định nhiệm vụ ưu tiên
có tính quyết định thành công của xây dựng nông thôn mới Trước hết là công tác quy hoạch Đồng thời chọn lựa những công việc có tính cấp bách, được nhân dân ủng hộ để tập trung triển khai Phải nhận thức sâu sắc và tập trung cho phát triển sản xuất bền vững, tăng thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân, xem đây là nhiệm
vụ hàng đầu, là nhân tố quyết định sự thành công của đề án Định hướng cho nhân dân xây dựng NTM “từ nhà ra vườn, từ đường ra đồng” tạo diện mạo mới cho từng làng quê và toàn xã Phải tranh thủ và huy động được nhiều nguồn lực
Trang 30đầu tư, lồng ghép các các chương trình, dự án, tạo ra nguồn lực tổng hợp đầu tư xây dựng nông thôn mới một cách đồng bộ, hiệu quả Nguồn vốn đầu tư xây dựng NTM là rất lớn, do đó phải đa dạng hoá nguồn lực đầu tư Phát huy nội lực địa phương là chính, tận dụng tối đa nguồn lực và lợi thế tại chỗ
Sau gần 2 năm triển khai xây dựng thí điểm mô hình NTM, xã Tam Phước huy động nhân dân và doanh nghiệp đóng góp trên 41,17 tỷ đồng chiếm 26,51%
và vốn tín dụng để xây dựng nông thôn mới 19,043 tỷ đồng chiếm 12,26%, tổng cộng nhân dân tham gia 60,213 tỷ đồng Vận động nhân dân để giải phóng mặt bằng, xây dựng các công trình Tất cả đường giao thông nông thôn, liên thôn liên xóm tối thiểu 4 mét được bê tông hoá Ông Võ Thanh Anh cho biết: Để làm được việc này; thứ nhất, giao cho một đoàn thể phụ trách một tuyến trên các trục đường chính; thứ hai, việc vận động giải phóng mặt bằng xây dựng giao thông nông thôn, giao thông chính gắn với các dự án khác tạo mối quan hệ dây chuyền
Dự án cải tạo vườn tạp, chỉnh trang nhà vườn, xây dựng 3 công trình vệ sinh, di dời chuồng trại gia súc ra sau nhà, xây dựng tường rào cổng ngõ đúng qui hoạch
để đạt hộ gia đình văn hóa - nông thôn mới Do đó tự họ dịch chuyển, hiến đất, Đảng viên, cán bộ, đoàn hội viên làm trước (bắt buộc) nhân dân làm sau
Về thăm xã điểm NTM Tam Phước, tiếp xúc với bà con nông dân đang sản xuất ở ngoài đồng, hay trong vườn nhà, chúng ta đều bắt gặp được nét mặt tự tin, hân hoan, phấn khởi, tin tưởng hoàn toàn vào chủ trương, chính sách xây dựng NTM của Đảng và Nhà nước Hình hài nông thôn mới nơi đây dần dần được hình thành rõ nét, bộ mặt nông thôn của xã Tam Phước đã có một diện
mạo mới(Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2013)
2.2.2.2 Bài học tại Lào Cai
Chương trình xây dựng nông thôn mới là chương trình khung cho 7 Chương trình trọng tâm với 27 Đề án giai đoạn 2011 - 2015 được Ban chỉ huy Đảng bộ thành phố Lào Cai thông qua và được chỉ đạo quyết liệt, triển khai đồng
bộ của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận hưởng ứng tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Lào Cai nên đã được kết quả khá toàn diện
Trang 31Sau gần 4 năm triển khai thực hiện chương trình diện mạo nông thôn mới
đã từng bước đổi thay, đến hết năm 2014 đã có 3 xã Vạn Hòa, Cam Đường, Hợp Thành hoàn thành 19/19 tiêu chí; 2 xã Tả Phời - Đồng Tuyển đạt 17-18 tiêu chí
Trong những năm qua các xã đã vận động nhân dân hiến trên 6,5 ha đất các loại để mở mới 8,19km đường giao thông nông thôn, xây dựng nhà văn hóa thôn, điểm trường mầm non; đã thực hiện việc kiên cố hóa được nhiều tuyến đường liên thôn, trục thôn, đường nội đồng Đến nay 100% các tuyến đường của 05 xã đã được bê tông hóa và đạt chuẩn đảm bảo phục vụ cho nhu cầu sản xuất, sinh hoạt của nhân dân Đây là những tuyến đường dài nhất, thi công trên địa hình khó khăn nhất, đi qua 8 thôn có 100% là đồng bào dân tộc thiểu số nhưng lại huy động được
sự đóng góp vào cuộc của các tầng lớp nhân dân và thi công với thời gian ngắn nhất; công tác thủy lợi rất được chú trọng trong 04 năm đã kiên cố hóa được 30km kênh mương, 100% các công trình đảm bảo đủ nước cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt cho nhân dân, 75% kênh mương nội đồng được kiên cố Thực hiện việc củng cố và xây dựng hệ thống điện đảm bảo cho sinh hoạt và đời sống của nhân dân, tỉ lệ hộ sử dụng điện an toàn thường xuyên đạt 97% Cơ sở vật chất phục vụ cho giáo dục đào tạo được đầu tư kịp thời đã xây mới 14 điểm trường, đến nay đã
có 4/5 xã đạt chuẩn tiêu chí cơ sở vật chất trường học Thực hiện tốt việc xây mới
và chỉnh trang nhà văn hóa và các công trình phục vụ sinh hoạt văn hóa thể thao ở công đồng dân cư, đã thực hiện xây dựng mới được 33 nhà văn hóa thôn trên địa bàn 05 xã, đến hết năm 2014 có 74/80 thôn có nhà văn hóa; 6 thôn sinh hoạt ghép
do đặc thù; sửa chữa nâng cấp, mua sắm trang thiết bị đối với 19 nhà văn hóa thôn, đến nay 5/5 xã đạt tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa 5/5 xã đạt tiêu chí chợ nông thôn Đầu tư cơ sở trang thiết bị cho 5/5 trạm y tế; cải tạo, nâng cấp trạm y tế 3 xã Cam Đường, Vạn Hòa, Đồng Tuyển; tất cả các xã có trạm y tế đạt chuẩn Quốc gia
và xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế; tỷ lệ người dân tham gia các hình thức BHYT đạt 85% Đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu, thực hiện tốt việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi trong sản xuất nông nghiệp nâng cao thu nhập cho nông dân đến hết năm 2014 có 5/5 xã đạt tiêu chí hộ nghèo
Qua 4 năm triển khai thực hiện, tuy còn một số khó khăn, hạn chế như: vẫn còn còn lúng túng trong xây dựng kế hoạch thực hiện các tiêu chí hàng
Trang 32năm, nhu cầu vốn phát triển cơ sở hạ tầng còn lớn, sự phối hợp giữa các cơ quan đơn vị và các xã có nơi chưa tốt,… nhưng cũng đủ rút ra một số kinh nghiệm bước đầu để làm cơ sở đẩy mạnh phong trào xây dựng NTM đó là:
1 Công tác tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức; đào tạo tập huấn nâng cao năng lực chuyên môn giữ vai trò hết sức quan trọng là giải pháp gốc Nên công tác này phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, kiên trì; tuyên truyền theo chuyên đề, tuyên truyền gắn kết, lồng ghép với các cuộc vận động của UBMTTQ và các Hội, đoàn thể và phải luôn đổi mới, nâng cao chất lượng và phương pháp tuyên truyền nhằm phát huy tính tự lực, tự giác và sự đồng thuận tham gia của người dân
2 Biết gắn kết lồng ghép nguồn vốn từ các chương trình, dự án khác để thực hiện xây dựng nông thôn mới Lấy phát triển kinh tế làm đòn bẩy để thúc đẩy phát triển kinh tế hộ gia đình, từ đó huy động đóng góp của người dân tham gia vào quá trình xây dựng nông thôn mới trong;
3 Lãnh đạo các cấp biết lắng nghe, thấu hiểu và quan tâm đúng mức đối với người dân, đặc biệt là dân nghèo Tạo được sự khích lệ dân tự giác, phấn đấu lao động sản xuất nâng cao thu nhập, tạo sự phát triển đồng đều ở nông thôn
4 Thực tiễn cho thấy ở địa phương, đơn vị, cơ sở nào đoàn kết nội bộ tốt, Đảng bộ trong sạch vững mạnh, người đứng đầu quyết liệt vào cuộc nơi đó có phong trào xây dựng nông thôn mới tốt nhất
5 Phải hết sức chú trọng công tác thi đua khen thưởng, đặc biệt là thi đua trong cộng đồng dân cư, khen thưởng cá nhân tiêu biểu, tạo được sự khích lệ, phấn khởi trong dân góp phần tích cực trong chuyển đổi nhận thức của người dân, nâng cao tính tự giác trong hưởng ứng, tham gia thực hiện Chương trình
Với tinh thần chỉ đạo quyết liệt của Thành ủy và UBND thành phố, sự hưởng ứng và tham gia tích cực của các ban ngành và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn thành phố nhất định thành phố Lào Cai sẽ hoàn thành chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới vào cuối năm 2015 góp phần chào mừng Đại hội đảng bộ thành phố Lào Cai lần thứ 22, thành phố anh hùng trong thời kỳ
đổi mới (UBND tỉnh Lào Cai, 2014)
Trang 332.2.3 Bài học kinh nghiệm về xây dựng mô hình NTM thành công dựa vào nhận thức của người dân
Chủ trương xây dựng NTM là nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn và phải được người dân đồng lòng tham gia thực hiện Kinh nghiệm từ Quốc tế và trong nước cho thấy những ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của nhà nước trên cơ sở phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân để phát triển khu vực này, có ý nghĩa
và vai trò hết sức quan trọng đối với việc CNH - HĐH thành công nông nghiệp - tạo nền tảng thúc đẩy quá trình công CNH - HĐH đất nước Muốn vậy, thì trước hết tư duy, nhận thức của người dân về NTM phải đầy đủ, toàn diện, sau đó mới
là tích cực và chủ động tham gia
Thứ nhất, kinh nghiệm tại Hàn Quốc các địa phương trong nước cho thấy
cần phải tăng cường hơn nữa và phát huy vai trò của công tác thông tin, tuyên truyền, vận động nhân dân trong xây dựng NTM: Đây được coi là bước quan trọng nhất trong triển khai xây dựng NTM để nâng cao nhận thức của người dân
Vì vậy, trước hết cần phải tập trung nội dung tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng về nhận thức mục tiêu, nhiệm vụ, chủ thể xây dựng NTM, về các tiêu chí, yêu cầu và nội dung xây dựng NTM hiện nay
Công tác tuyên truyền xây dựng NTM phải có kế hoạch dài hạn, chia thành nhiều giai đoạn và trong mỗi giai đoạn phải có các hình thức, phương pháp, nội dung tuyên truyền phù hợp Cần hướng dẫn cho nhân dân hiểu đúng nội dung, bảo đảm đơn giản, tránh lòng vòng và phù hợp với trình độ của người dân
Tổ chức công tác tuyên truyền, UBND các cấp cần quan tâm coi trọng với nhiều hình thức đa dạng, phong phú như thông qua hệ thống phát thanh, truyền hình, băng rôn, khẩu hiệu, panô, áp phích, truyền miệng phát động phong trào thi đua “Chung sức xây dựng nông thôn mới”
Phát huy vai trò của những người có uy tín trong cộng đồng dân cư trong quyết định những vấn đề phức tạp, tác động tâm lý gặp nhiều khó khăn Thông qua việc phát huy vai trò của người có uy tín góp phần vận động, thậm chí có thể
Trang 34là đả thông tư tưởng đối với những quần chúng còn nhiều vấn đề vướng mắc về tâm lý, tư tưởng nhằm đẩy mạnh sự tích cực của họ trong xây dựng NTM
Thứ hai, kinh nghiệm tại Hàn Quốc, Nhật Bản và Hà Tĩnh cho thấy, muốn
dân tin, dân làm theo thì phải chỉ cho dân thấy được cái hay, cái hiệu quả của mô hình Vì thế, có việc, phải cầm tay chỉ việc, đưa ra những mô hình cụ thể để người dân học tập và hướng dẫn, đào tạo họ… Chính quyền các cấp phải tổ chức, tạo điều kiện để các tổ chức chính trị - xã hội (đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, hội người cao tuổi…), các tổ chức xã hội, nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp cùng làm với dân Thực tiễn trong chỉ đạo cho thấy, địa phương nào làm tốt công tác tư tưởng để người dân hiểu rõ mục đích của xây dựng NTM, để họ tự lựa chọn, tự quyết định việc cần làm thì ở đó tạo được sự đồng thuận cao trong nhân dân
Thứ ba, để xây dựng thành công mô hình NTM thì không chỉ có sự hỗ trợ
từ ngân sách Nhà nước và sự đóng góp của nhân dân mà còn phải có đội ngũ cán
bộ ở cấp cơ sở biết, hiểu, thạo việc, tâm huyết và thực sự hy sinh vì cuộc sống của nhân dân Vì thế cần chú trọng trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cho các cán bộ, đảng viên có kinh nghiệm phát triển kinh tế, nhiệt tình, có trách nhiệm với cộng đồng, quê hương để noi gương cho dân chúng
Trang 35- Phía Bắc giáp tỉnh Hòa Bình;
- Phía Đông giáp huyện Gia Viễn và huyện Hoa Lư;
- Phía Nam giáp thị xã Tam Điệp;
- Phía Tây giáp tỉnh Thanh Hóa
Nguồn: UBND huyện Nho Quan, 2014
Hình 3.1 Sơ đồ hành chính huyện Nho Quan
Nho Quan là cửa ngõ quan trọng của tỉnh trong việc giao lưu phát triển
KT - XH với các tỉnh vùng Tây Bắc, vùng đồng bằng Bắc bộ và khu IV cũ Trên địa bàn huyện có nhiều tuyến giao thông quan trọng: Quốc lộ 12B chạy theo hướng Bắc Nam dài khoảng 24,0 km, quốc lộ 45 dài 9 km và các đường tỉnh lộ
477, 477C, 479, 479B, 479C, 491 chạy qua địa bàn nhiều xã trong huyện Ngoài
ra trên địa bàn huyện còn có mạng lưới sông ngòi khá dày chảy qua giúp cho
Nho Quan có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội
Trang 363.1.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng
Là huyện nằm trong khu vực tiếp giáp giữa vùng Đồng bằng sông Hồng và vùng Bắc Trung bộ Nho Quan có địa hình phức tạp mang tính chất đặc trưng của vùng núi cao và vùng bán sơn địa Nho Quan nằm trên địa bàn trung chuyển của các hệ thống tự nhiên ở phía Tây Nam đồng bằng sông Hồng, giáp với đồng bằng sông Mã qua vùng núi Cúc Phương, là vùng cuối cùng của vùng núi Tây Bắc trong khu đệm Hòa Bình - Thanh Hóa Địa hình của huyện nhìn chung không bằng phẳng
và được chia thành 3 tiểu vùng gồm: vùng núi đá vôi, vùng bán sơn địa và vùng
đồng bằng (UBND huyện Nho Quan, 2014)
3.1.1.3 Khí hậu, thủy văn
Nho Quan mang những đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm và mưa nhiều Nhiệt độ trung bình năm là 23,60C Tổng nhiệt độ trung bình năm từ 8.500 - 8.6000C, mùa đông nhiệt độ trung bình là 200C, tháng lạnh nhất là tháng 1 và tháng 2 Mùa hạ nhiệt độ trung bình là 270C tháng nóng nhất là tháng 7 và tháng 8
Tổng lượng mưa trung bình năm từ 1.850 - 1.970 mm (trung bình năm có 129 -
161 ngày mưa), lượng mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10 Do chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa nên huyện Nho Quan có độ ẩm không khí tương
đối cao, bình quân độ ẩm cả năm từ 84 - 86% (UBND huyện Nho Quan, 2014)
- Nhóm đất đen kết von nông ( LV – fel): Diện tích 3.345,28 ha, phân bố tập trung ở các xã Thạch Bình, Cúc Phương, Kỳ Phú, Sơn Lai Đất có thành phần
cơ giới thịt nhẹ đến trung bình, tầng đất dầy mỏng tùy thuộc vào từng khu vực cụ
Trang 37thể Hàm lượng các chất dinh dưỡng đạm, lân, kali tổng số và dễ tiêu ở mức nghèo và rất nghèo Hiện đang trồng 01 hoặc 02 vụ lúa
- Nhóm đất xám: Diện tích 8.661,92 ha Đất có thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt trung bình, tầng đất dày mỏng khác nhau, đất có phản ứng chua Diện tích này hiện đang trồng 02 vụ lúa, tập trung ở các xã: Xích Thổ, Lạc Vân,
Đức Long, Cúc Phương, Kỳ Phú, Phú Long, Phú Lộc, Quảng Lạc (UBND huyện
Nho Quan, 2014).
Tài nguyên rừng:
Tổng diện tích rừng, đất rừng trên địa bàn huyện: 17.539,93 ha chiếm 39,39% tổng diện tích tự nhiên của huyện, trong đó: rừng đặc dụng là 11.481,05 ha; rừng phòng hộ là 4.098,02 ha; rừng sản xuất là 1.960,86 ha Để phát huy lợi thế, trong những năm qua huyện thực hiện chủ trương chuyển đổi rừng phòng hộ ít xung yếu sang rừng sản xuất, nhằm phát huy các nguồn lực đầu tư cho sản xuất kinh doanh rừng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, tạo việc làm, cải thiện đời sống cho các hộ trồng rừng, đặc biệt đồng bào miền núi, thúc đẩy KT - XH phát triển, đồng thời duy trì tác dụng phòng hộ của rừng góp phần xoá đói, giảm nghèo và giảm thiểu
đến tác động các khu rừng phòng hộ, đặc dụng (UBND huyện Nho Quan, 2014) Khoáng sản:
Nho Quan có nguồn tài nguyên khoáng sản khá phong phú, trong đó quan trọng nhất là tài nguyên đá vôi, đất sét và đá đôlômít với trữ lượng lớn, chất lượng tốt, đảm bảo tiêu chuẩn phục vụ cho ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng và sản xuất xi măng Bên cạnh đó có các loại khoáng sản khác nhưng
trữ lượng không lớn như than bùn, than đá (UBND huyện Nho Quan, 2014) Tài nguyên nước:
Toàn huyện có 05 con sông lớn chảy qua: sông Bôi, sông Hoàng Long, sông Rịa, sông Bến Đang, sông Đập (Sông Na) có nhiệm vụ cung cấp nước ngọt cho sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân trong huyện Bên cạnh 05 con sông lớn còn có một hệ thống các hồ nước tự nhiên phân bố nhiều nơi trong huyện, đây là nguồn tài nguyên quý giá của huyện, không những đảm bảo cung cấp nước ngọt cho sản xuất và đời sống của nhân dân trong khu vực mà còn là
Trang 38tiềm năng để khai thác phát triển du lịch, nuôi trồng thủy sản Ngoài ra, ở huyện
Nho Quan còn có nguồn nước khoáng nóng Cúc Phương khá phong phú (UBND
huyện Nho Quan, 2014)
3.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Kết quả sản xuất kinh doanh
Nho Quan là huyện miền núi thuộc tỉnh Ninh Bình, là huyện nông nghiệp
do vậy sản xuất nông nghiệp luôn được Đảng bộ và nhân dân huyện nhà xác định
là chiến lược phát triển KT - XH và ra sức thực hiện nhằm đưa kinh tế huyện Nho Quan bắt kịp với xu hướng phát triển của đất nước, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân
Tốc độ tăng GDP của năm 2014 (theo giá so sánh năm 2010) tăng 9,83%
so với năm 2013 Trong đó, giá trị sản xuất khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đạt 1.344.357 triệu đồng với tốc độ tăng trưởng đạt 2,1%; giá trị sản xuất công nghiệp đạt 1.488.945 triệu đồng với tốc độ tăng đạt 17,8%; giá trị sản xuất thương mại -dịch vụ đạt 754.024 triệu đồng với tốc độ tăng trưởng là 9,5%
(UBND huyện Nho Quan, 2014)
Nguồn: UBND huyện Nho Quan, 2014
Hình 3.2 Cơ cấu kinh tế năm 2014 của huyện Nho Quan
Cơ cấu kinh tế của huyện đang chuyển dịch theo nâng cao tỷ trọng các ngành sản xuất, đặc biệt là khu vực công nghiệp - xây dựng Cơ cấu thành phần kinh tế năm 2014 của huyện như sau: nông nghiệp - lâm nghiệp - thuỷ sản:
Trang 3925,2%; công nghiệp - xây dựng: 40,1% ; dịch vụ - thương mại: 34,7% (UBND
huyện Nho Quan, 2014)
3.1.2.2 Đặc điểm dân số, lao động, việc làm và thu nhập
độ dân số phân bố không đều, dân chủ yếu sống tập trung ở khu vực thị trấn, thị tứ
và các trục đường giao thông chính Trên địa bàn huyện dân số khu vực đô thị có 8.674 người chiếm 5,87% tổng dân số, dân số khu vực nông thôn có 138.492 người,
chiếm 94,11% tổng dân số toàn huyện (UBND huyện Nho Quan, 2014)
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 6,14% Sự chênh lệch về tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giữa các khu vực không nhiều cho thấy cuộc vận động thực hiện chính sách dân số kế hoạch hoá gia đình được triển khai có hiệu quả và khá đồng đều trên địa bàn huyện
Lao động và việc làm:
Năm 2014, tổng số lao động trên địa bàn huyện là 93.998 người, chiếm
63,89% tổng dân số Trong đó: lao động nông nghiệp 70.526 người; lao động phi nông nghiêp 23.473 người Nguồn lao động của huyện khá dồi dào, nhưng số lao động hầu hết không được đào tạo về chuyên sâu, số ít lao động được đào tạo chủ yếu là cán bộ làm việc trong cơ quan quản lý Nhà nước và hoạt động trong các
ngành phi nông nghiệp (UBND huyện Nho Quan, 2014)
Thu nhập:
Huyện Nho Quan đã thực hiện đồng bộ, toàn diện và hiệu quả các chương trình, dự án xoá đói giảm nghèo; tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận các chính sách trợ giúp về hạ tầng phục vụ sản xuất, đất đai, tín dụng, dạy nghề, tạo việc làm, khuyến nông, khuyến lâm, tiêu thụ sản phẩm; tăng cường giáo dục nâng cao dân trí, làm thay đổi căn bản ý nghĩ về tự cung, tự cấp của nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc vùng cao, vùng xa Vì thế, năm 2014 tỷ lệ hộ nghèo đã giảm xuống
còn 9,0% Thu nhập bình quân đầu người đạt 20 triệu đồng năm 2014 (UBND
huyện Nho Quan, 2014)
Trang 403.1.2.3 Đặc điểm về cơ sở hạ tầng
Nho Quan có nền kinh tế ổn định và đang trên đà phát triển, nhất là trong
5 năm trở lại đây Cơ sở hạ tầng (CSHT) đang được xây dựng bổ sung và hoàn thiện, đáp ứng ngày càng tốt hơn cho sản xuất và đời sống nhân dân
Thể hiện qua bảng 3.1 cho thấy, CSHT của huyện trong những năm qua đã được đầu tư nâng cấp và đã phát huy được tác dụng:
Bảng 3.1 Tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật huyện Nho Quan
- Hệ thống hồ, đập (Hồ 32 chiếc) Chiếc 70 (20 triệu m3)
Nguồn: Phòng thống kê huyện Nho Quan, 2014
Hệ thống điện toàn huyện hiện nay do Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Điện lực Ninh Bình quản lý và bán điện trực tiếp đến các hộ dân Tỷ
lệ hộ dùng điện thường xuyên an toàn từ các nguồn đạt 96,6% Mức độ đáp ứng yêu cầu sản xuất đạt 76,35% Trong những năm qua, mặc dù đã quan tâm đầu tư nhưng nhìn chung hệ thống điện nông thôn chất lượng còn hạn chế, độ an toàn chưa cao, tổn thất điện năng lớn, mức độ tin cậy cung cấp điện còn thấp