1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi nội đồng trên địa bàn huyện thủy nguyên, thành phố hải phòng

102 472 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.3.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề liên quan đến quản lý và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi nội đồng Đối

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ

2.1.2 Vai trò của thủy lợi trong sản xuất nông nghiệp và trong nền kinh

2.1.5 Các nội dung trong quản lý và sử dụng công trình thủy lợi 11

Trang 2

2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý và sử dụng các công trình thủy lợi 15

2.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước liên quan đến khai

2.2.2 Thực trạng khai thác, sử dụng các công trình thủy lợi ở nước ta 20 2.2.3 Kinh nghiệm quản lý, sử dụng công trình thủy lợi ở một số quốc gia trên thế giới và địa phương ở Việt Nam 22 2.2.4 Bài học kinh nghiệm về quản lý khai thác công trình thủy lợi 25

3.2.1 Phương pháp tiếp cận và khung phân tích 31

4.1 Thực trạng quản lý, sử dụng công trình thủy lợi trên địa bàn huyện 38 4.1.1 Đặc điểm quản lý và sử dụng công trình thủy lợi của huyện

Trang 3

4.3.2 Nhóm yếu tố quản lý của chính quyền các cấp 72 4.3.3 Nhóm yếu tố về nhận thức của người dân 74 4.3.4 Nhóm yếu tố về sự hợp tác giữa chính quyền và người dân 75

4.4 Định hướng và đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý và sử dụng các công trình thủy lợi trên địa bàn huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng 79 4.4.1 Quan điểm về tăng cường quản lý và sử dụng các công trình thủy

4.4.2 Định hướng về tăng cường quản lý và sử dụng các công trình thủy

4.4.3 Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý và sử dụng công trình

Trang 4

Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên

Ủy ban nhân dân

Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Trang 5

3.4 Thang điểm đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng nhóm yếu tố đến

4.1 Chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị quản lý, sử dụng 40 4.2 Số lượng các công trình thủy lợi huyện Thủy Nguyên năm 2013 42 4.3 Diện tích tưới tiêu các cụm thủy nông của huyện năm 2013 46 4.4 Kết quả tưới tiêu của huyện Thủy Nguyên năm 2013 47 4.5 Kết quả tu bổ, nạo vét kênh mương, cống, xi phông huyện Thủy

4.14 Kết quả kiên cố hóa kênh mương của 3 xã nghiên cứu 2011-2013 70 4.15 Mức độ ảnh hưởng của nhóm yếu tố hệ thống chính sách 72 4.16 Mức độ ảnh hưởng của nhóm yếu tố quản lý của chính quyền các cấp 73 4.17 Mức độ ảnh hưởng của nhóm yếu tố nhận thức của người dân 74 4.18 Mức độ ảnh hưởng của nhóm yếu tố về sự hợp tác giữa chính quyền

4.19 Mức độ ảnh hưởng của nhóm yếu tố về kỹ thuật 77

Trang 6

DANH MỤC SƠ ĐỒ

2.2 Quy trình quản lý, vận hành hệ thống công trình thủy lợi 14

4.1 Hệ thống thủy lợi trên địa bàn huyện Thủy Nguyên 39 4.2 Nguyên nhân công trình thủy lợi xuống cấp 59 4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý và sử dụng công trình thủy lợi

DANH MỤC ẢNH

4.2 Hệ thống kênh đất chưa cứng hóa của huyện 44

4.5 Một đoạn kênh cấp IV bị sạt lở của xã Kỳ Sơn 58

DANH MỤC HỘP

4.1 Ý kiến về sự tham gia của người dân trong quy hoạch thủy lợi 53 4.2 Ý kiến của người dân về lý do nợ đọng thủy lợi phí 62

Trang 7

PHẦN I

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở Việt Nam, trong hoàn cảnh chiến tranh kéo dài, nông nghiệp nước ta vẫn phát triển với khoảng 70% dân số làm nghề nông “Nông suy, bách nghệ bại”, năm nào mất mùa thì năm ấy sự phát triển của xã hội lại bị kìm hãm Nông nghiệp Việt Nam luôn đóng vai trò và vị thế vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Các thành tựu đạt được sau hơn 25 năm đổi mới đã và đang được nhiều quốc gia trên thế giới thừa nhận Từ một nước luôn thiếu lương thực, nước ta đã trở thành một trong những nước dư thừa gạo để xuất khẩu Trọng tâm của sản xuất lương thực không thể thiếu vai trò của nước Kinh nghiệm bao đời đã được ông cha ta đã đúc kết thành câu: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” Do vậy nên dù là trong chiến tranh cũng như trong hòa bình, khi đất nước gặp nhiều khó khăn, công tác thủy lợi vẫn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm cùng sự đóng góp to lớn của nhân dân Với nhiều chủ trương chính sách về phát triển thủy lợi, đặc biệt là sau ngày đất nước thống nhất

và đổi mới, Việt Nam là một trong số ít quốc gia Đông Nam Á có hệ thống thủy lợi phát triển tương đối hoàn chỉnh, với hàng ngàn công trình lớn, vừa và nhỏ để nâng cấp, tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và cung cấp nước phục vụ sinh hoạt, phòng chống lũ lụt, úng ngập, hạn hán và góp phần bảo vệ môi trường (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2014)

Tuy vậy hiện nay công tác thủy lợi đang đứng trước nhiều khó khăn và thách thức Nguồn nước ngày càng khan hiếm do tác động của biến đổi khí hậu

và hệ quả của việc xây đập thủy điện tràn lan; tình trạng ô nhiễm nguồn nước ngày càng nghiêm trọng; thiên tai lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn xảy ra ngày càng khốc liệt; nhiều công trình thủy lợi chưa phát huy hết tiềm năng, hiệu quả theo thiết kế và đang dần xuống cấp do được xây dựng từ quá lâu Trong khi đó,

cơ chế trong lĩnh vực thủy lợi còn nhiều tồn tại, bất cập, mang nặng tính bao cấp; thiếu chính sách phù hợp để tạo động lực và phát huy sức mạnh của các thành

Trang 8

sử dụng tốt các công trình thủy lợi nội đồng tại huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng?

Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Quản lý

và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi nội đồng trên địa bàn huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở đánh giá thực trạng, đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác quản lý và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi nội đồng ở huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng

Trang 9

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề liên quan đến quản lý và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi nội đồng

Đối tượng khảo sát là các hộ nông dân sản xuất trên đồng ruộng và cán

bộ các cấp tham gia quản lý thủy lợi nội đồng trên địa bàn huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng

* Phạm vi nội dung

Đề tài nghiên cứu các vấn đề xoay quanh quản lý và sử dụng công trình thủy lợi tại huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý và sử dụng công trình thủy lợi nội đồng tại huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng trong thời gian tới

1.4 Câu hỏi nghiên cứu

- Thủy lợi, thủy lợi nội đồng, quản lý và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi nội đồng là gì?

- Thực trạng quản lý và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi nội đồng tại huyện Thủy Nguyên những năm gần đây như thế nào?

- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến công tác quản lý và sử dụng hệ thống

Trang 11

PHẦN II

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG HỆ

THỐNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI NỘI ĐỒNG

Đầu vào Đầu ra

- Nguồn nước tự nhiên

(nước ngầm, nước mưa, nước mặt)

- Nguồn lực

(lao động, vật tư, kỹ thuật )

- Nguồn nước theo nhu cầu sử dụng (sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp, năng lượng, đời sống sinh hoạt,…)

Sơ đồ 2.1 Khái quát bản chất của thủy lợi

Như vậy có thể hiểu, thủy lợi trong nông nghiệp là các hoạt động kinh tế - kỹ thuật liên quan đến tài nguyên nước được dùng trong nông nghiệp Điểm quan trọng của thủy lợi trong nông nghiệp là sử dụng một cách hợp lý nguồn nước để tăng năng suất cây trồng, vật nuôi

* Thủy lợi phí

Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2001) nêu rõ “Thủy lợi phí là phí dịch vụ về nước thu từ tổ chức, cá nhân sử dụng nước hoặc làm dịch vụ từ công trình thủy lợi cho mục đích sản xuất nông nghiệp để góp phần chi phí cho việc quản lý, duy

tu, bảo dưỡng và bảo vệ công trình thủy lợi”

Thủy lợi

Trang 12

* Công trình thủy lợi

Cũng theo Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2001), “Công trình thủy lợi là công trình thuộc kết cấu hạ tầng nhằm khai thác mặt lợi của nước; phòng, chống tác hại do nước gây ra; bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái, bao gồm: Hồ chứa, cống, trạm bơm, kênh, công trình trên kênh, bờ bao các loại” Theo đó công trình thủy lợi nội đồng được hiểu là những công trình thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Sản phẩm của công trình là nước tưới Nước tưới là yếu tố hàng đầu và không thể thiếu đối với sản xuất nông nghiệp Trong phạm vi của đề tài, tôi tập trung đi nghiên cứu các công trình thủy lợi nội đồng và gọi chung là công trình thủy lợi

* Hệ thống công trình thủy lợi nội đồng

Là tập hợp các công trình làm nhiệm vụ lấy nước từ nguồn nước, dẫn vào đồng ruộng tưới cho cây trồng và tiêu hết lượng nước thừa trên đồng ruộng Hệ thống công trình thủy lợi nội đồng bao gồm công trình lấy nước, công trình kênh mương dẫn nước tưới tiêu và các công trình phục vụ trên hệ thống đó (Nguyễn Thị Vòng, 2012) Hay nói một cách đơn giản, hệ thống công trình thủy lợi nội đồng là một hệ thống kênh, đập, trạm bơm, đê điều nhằm phục vụ việc tưới tiêu và thoát úng cho đồng ruộng

* Quản lý

Hoàng Mạnh Quân (2007) có nêu “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt mục đích đã đề ra và đúng với ý chí của người quản lý”

* Sử dụng các công trình thuỷ lợi nội đồng

Là một quá trình vận hành, khai thác các công trình thủy lợi nhằm đảm bảo cung cấp và tiêu thoát nước đúng kế hoạch tưới tiêu, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho khu vực tưới tiêu và cho xã hội

* Phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi

Trần Chí Trung (2009) có nêu “Phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi là sự phân công trách nhiệm từ các cơ quan quản lý công trình thủy lợi Trung ương cho các cơ quan, đơn vị cấp dưới và các tổ chức ở địa phương”

Trang 13

tế kỹ thuật có vị trí quan trọng Công tác thủy lợi được tiến hành với nhiều nội dung song có thể khái quát với hai nội dung cơ bản:

- Thủy lợi tiến hành trị thủy như đắp đập, đào sông để điều chỉnh dòng chảy, phòng chống lũ lụt, mưa bão nhằm khắc phục, giảm nhẹ thiên tai và bảo

vệ môi trường Việt Nam có đặc điểm là nền kinh tế nông nghiệp, độc canh lúa nước, phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên Nếu như thời tiết khí hậu thuận lợi thì đó là môi trường tốt để nông nghiệp phát triển nhưng khi gặp những thời kỳ

mà thiên tai khắc nghiệt như hạn hán, bão lụt thì sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với đời sống của nhân dân ta Vì vậy mà hệ thống các công trình thủy lợi luôn có vai trò tác động rất lớn đối với nền kinh tế của đất nước (Khuyết danh, 2014)

- Thủy lợi tiến hành công tác thủy nông như đào kênh, khơi nguồn, xây dựng cầu cống, mương máng, để phục vụ sản xuất nông nghiệp, phục vụ dân sinh và ngành kinh tế khác Đây là vai trò quan trọng hơn cả Viện nghiên cứu lúa quốc tế cho rằng, tiềm năng sản xuất nông nghiệp của trái đất rất lớn, chỉ cần đầu tư có hiệu quả vào nông nghiệp, trước hết là khâu tưới tiêu có thể đảm bảo nuôi sống 10 tỷ người Có thể thấy, vai trò của thủy lợi đối với sản xuất nông nghiệp là đặc biệt quan trọng và được biểu hiện cụ thể như sau (Khuyết danh, 2014):

- Thứ nhất: Thủy lợi là tiền đề mở rộng diện tích canh tác do việc phát

triển các hệ thống tưới tiêu tạo ra các vùng canh tác mới

- Thứ hai: Thủy lợi là tiền đề làm tăng vụ do đó tăng diện tích gieo trồng

trên diện tích canh tác, tăng vòng quay của diện tích đất nông nghiệp

Trang 14

- Thứ ba: Thủy lợi góp phần thâm canh tăng năng suất cây trồng, thay đổi

cơ cấu cây trồng, góp phần nâng cao giá trị tổng sản lượng Theo tài liệu của FAO, các loại giống mới có tưới tiêu hợp lý đạt 80 - 90% năng suất, nếu không chỉ đạt 30 - 40% Bên cạnh đó, thủy lợi còn cần dùng nước để cải tạo đất, thau chua, rửa mặn, (Khuyết danh, 2014)

- Thứ tư: Thủy lợi tạo điều kiện cho các ngành kinh tế quốc dân khác phát

triển Thực tiễn sản xuất trong thời gian qua đã khẳng định những hiệu quả mà các

hệ thống công trình thủy lợi mang lại là hết sức to lớn Ngoài phục vụ cho nông nghiệp và dân sinh, phát triển giao thông thủy, phát điện, nuôi cá, cải thiện môi trường sinh thái góp phần phát triển nông thôn toàn diện, xóa đói giảm nghèo

2.1.3 Đặc điểm công trình thủy lợi

Thủy lợi nói chung và thủy lợi nội đồng nói riêng luôn đòi hỏi phải có sự đồng bộ trong hoạt động giữa các công trình trong hệ thống nhằm phát huy hiệu quả cao nhất trong tưới tiêu Các công trình này có đặc điểm sau:

* Về đặc điểm đầu tư

Các công trình thủy lợi thường có vốn đầu tư ban đầu phục vụ xây dựng lớn, thời gian thu hồi vốn đầu tư trực tiếp thường chậm hoặc không thu hồi được, kinh doanh gần như không có lãi Nguồn vốn xây dựng được lấy từ ngân sách Nhà nước, vốn địa phương, vốn vay hoặc trích từ thuỷ lợi phí của các Công ty KTCTTL và nhân dân đóng góp, Công trình được hoàn thành sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao trong nếu được khai thác và quản lý tốt (Nguyễn Văn Sơn, 2008)

* Về đặc điểm kỹ thuật

- Các công trình thi công kéo dài, nằm dải rác trên diện rộng, có thể tại một hoặc nhiều địa phương khác nhau, phải thường xuyên chịu sự tác động của thiên nhiên và con người

- Công trình thủy lợi muốn phát huy hiệu quả phải được quy hoạch và thiết kế mang tính hệ thống, dựa trên cơ sở khoa học cùng với thực tế địa bàn Phải xây dựng kênh mương đồng bộ khép kín từ đầu nguồn cung cấp nước đến tận nơi sử dụng nước

Trang 15

* Về đặc điểm đối tượng phục vụ

Đối tượng phục vụ của các công trình thủy lợi là bộ phận nông dân có đời sống thu nhập thấp, có trình độ canh tác khác nhau, tập quán canh tác mang nặng tính chất sản xuất nhỏ Do vậy luôn tồn tại tư tưởng bảo thủ, bao cấp khó chấp nhận cái mới Đối tượng là ổn định nhưng nhu cầu dịch vụ thì thay đổi theo thời

vụ Lúc thấp điểm, nhàn rỗi không thể huy động năng lực dịch vụ thừa từ nơi khác để đáp ứng cho hệ thống khác và ngược lại lúc cao điểm căng thẳng cũng không thể huy động nguồn bổ sung từ các hệ thống khác

* Đặc điểm về tổ chức và sử dụng các công trình thủy lợi nội đồng

- Hoạt động của các hệ thống thủy lợi nội đồng phục vụ sản xuất nông nghiệp là hoạt động công ích, vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội

- Lao động phục vụ công tác khai thác sử dụng các công trình thủy lợi thường được bố trí dàn trải trên địa bàn rộng và hoạt động mang tính thời vụ rõ nét

- Hoạt động quản lý, khai thác công trình thủy lợi chịu sự chi phối lớn bởi các điều kiện tự nhiên nên kế hoạch sản xuất thường phải điều chỉnh và phụ thuộc vào tự nhiên

- Khai thác và sử dụng các công trình thủy lợi cần phải có sự kết hợp giữa những hộ đang dùng nước với những người quản lý để đảm bảo tưới tiêu chủ động Các hộ có trách nhiệm bảo vệ giữ gìn, mỗi người dân phải có ý thức hơn

và cũng có đơn vị quản lý thường xuyên kiểm tra, bảo dưỡng và bảo vệ các công trình thủy lợi được tốt hơn

- Khai thác và quản lý các công trình thủy lợi tốt sẽ nâng cao được hệ số sử dụng nước hữu ích, giảm bớt lượng nước rò rỉ, thẩm lậu, nâng cao tính bền vững của

hệ thống, giảm bớt chi phí tu sửa Mặt khác, khai thác và quản lý tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện kế hoạch dùng nước, thực hiện chế độ và kỹ thuật tưới phù hợp với yêu cầu kỹ thuật của nông nghiệp, ngăn ngừa được hiện tượng đất bị lầy hoá, tái mặn hoặc bị rửa trôi do tình trạng sử dụng nước bừa bãi gây nên

2.1.4 Phân loại công trình thủy lợi

Công trình thủy lợi có những đặc điểm khác nhau ở mỗi công trình, được xây dựng để phục vụ những mục đích khác nhau, do đó cũng có nhiều cách phân

Trang 16

- Công trình thủy điện: là những công trình khai thác năng lượng dòng nước để phát điện như nhà máy điện, ống dẫn nước, bể áp lực

- Công trình cấp thoát nước: phục vụ cho các thành phố, khu công nghiệp, vùng đông dân như cống, tháp chứa nước, trạm bơm, bể lọc,

- Công trình phục vụ giao thông vận tải thủy: phục vụ cho tàu thuyền đi lại như kênh vận tải, âu thuyền,

* Theo tác dụng của công trình

- Công trình lấy nước: Để lấy nước ở sông, hồ chứa, hệ thống kênh như cống, trạm bơm

- Công trình dùng nước: Dùng để chắn nước và dâng cao mực nước như đập, đê, cống điều tiết

- Công trình tháo nước: Để tháo nước lũ ở các hồ chứa, tháo nước thừa ở

hệ thống kênh như đập tràn, cống tháo

- Công trình chỉnh trị: Để điều chỉnh tác dụng của dòng nước đối với lòng sông, bờ sông, bờ biển, kè, mỏ hàn, công trình chống sạt

* Theo thời gian sử dụng

Theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 04 - 05: 2012/BNNPTNT, công trình thủy lợi phân loại theo thời gian sử dụng gồm:

- Công trình lâu dài: là những công trình sử dụng trong khoảng thời gian dài, thường từ 5 năm trở lên

- Công trình tạm thời: là những công trình chỉ sử dụng tạm thời trong thời gian thi công xây dựng hay sửa chữa các công trình lâu dài như đê quai, công trình dẫn, xả lưu lượng thi công,

Ngoài các tiêu chí phân cấp công trình thủy lợi như trên, việc phân loại công trình còn được dựa trên nhiều tiêu chí khác Tuy nhiên, dù phân loại dưới

Trang 17

11

hình thức nào, việc phân cấp các công trình thủy lợi cũng góp phần quan trọng để đưa ra các hình thức cũng như cách thức quản lý và sử dụng các công trình cho phù hợp với khả năng trình độ của từng cấp quản lý, cũng như để xác định các công trình thủy lợi như thế nào thì có thể huy động được cộng đồng tham gia

2.1.5 Các nội dung trong quản lý và sử dụng công trình thủy lợi

2.1.5.1 Các vấn đề chính trong quản lý và sử dụng công trình thủy lợi

Các công trình thủy lợi hiện nay ở nước ta được vận hành theo Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi Để quản lý và sử dụng một cách hiệu quả

nhất các công trình, các cơ quan quản lý cần chú trọng những vấn đề sau:

* Công tác quy hoạch, thiết kế xây dựng công trình

Đối với việc xây dựng hệ thống thuỷ lợi cần xem xét kỹ quy hoạch vùng sản xuất và tiến độ chuyển đổi cơ cấu sản xuất Trên cơ sở đó xây dựng quy hoạch hệ thống thuỷ lợi sao cho đồng bộ với hệ thống hiện có và phải đảm bảo phương hướng phát triển sản xuất trong tương lai Hệ thống thuỷ lợi phục vụ cho nuôi trồng thuỷ sản hay cây trồng đều có yêu cầu nghiêm ngặt trong vấn đề xử lý nước thải và tiêu thoát nước đảm bảo môi trường nước bền vững Do đó nhất thiết phải quan tâm đầy đủ đến quy hoạch và thiết kế

* Công tác duy tu nâng cấp, bảo dưỡng

Các công trình thủy lợi qua quá trình sử dụng do tác động của thời gian và các yếu tố thời tiết, khí hậu sẽ bị xuống cấp không còn khả năng tưới tiêu như lúc mới xây dựng Hệ quả tất yếu xảy ra là hiệu quả sử dụng thấp, chi phí duy tu, bảo dưỡng quá lớn vì thế cần phải tiến hành nâng cấp, cải tạo để đáp ứng được nhiệm

vụ của công trình, nâng cao được hiệu quả kinh tế

Việc nâng cấp có thể được thực hiện thông qua các biện pháp: Tu sửa, bảo dưỡng, lắp đặt thêm thiết bị, mở rộng thêm hệ thống, Cần thực hiện chế độ bảo dưỡng thường xuyên và định kỳ nhằm duy trì năng lực khai thác của hệ thống các công trình nhằm hạn chế thất thoát nước và những thiệt hại, xuống cấp của các công trình thủy lợi nội đồng do tác động của thiên tai và con người (Nguyễn Thị Vòng, 2012)

Trang 18

12

* Công tác bảo vệ công trình, xử lý vi phạm

Trong mùa mưa bão, cần tổ chức phòng chống, chuẩn bị đầy đủ các nguyên vật liệu cần thiết và chuẩn bị các phương án ứng cứu đối phó kịp thời với các sự cố xảy ra Bên cạnh đảm bảo an toàn công trình trước thiên tai, công tác

xử lý vi phạm, bảo vệ an toàn công trình trước tác động của con người cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong quản lý và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi Các vi phạm phổ biến thường gặp như: đập phá công trình, lấn chiếm hành lang công trình để phục vụ lợi ích cá nhân,

* Công tác khai thác sử dụng công trình

Quá trình sử dụng công trình cần chú trọng xây dựng một kế hoạch dùng nước cụ thể đảm bảo công trình làm việc đúng theo chỉ tiêu thiết kế, an toàn và kéo dài thời gian phục vụ, đồng thời gắn sử dụng nước với công tác quản lý hệ thống công trình vào nề nếp, tạo dựng tác phong làm việc theo kiểu công nghiệp

và nâng cao nghiệp vụ quản lý của cán bộ (Nguyễn Văn Sơn, 2008)

Tổ chức khai thác công trình thủy lợi một cách hiệu quả nhất đáp ứng nhu cầu tưới tiêu khoa học phục vụ sản xuất nông nghiệp nhằm tăng năng suất cây trồng, hạn chế sâu bệnh, điều hoà sinh thái tiến tới phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá bền vững

Quản lý toàn bộ các chi phí đầu vào như chi phí điện năng, chi phí nước tưới, nhiên liệu và các chi phí khác để tiết kiệm chi phí, hạ thấp giá thành dịch vụ nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho phát triển sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh

tế xã hội ở nông thôn (Nguyễn Thị Vòng, 2012)

Xác lập một hệ thống tổ chức điều hành có hiệu quả, thực hiện phân cấp

và quản lý các công trình thủy lợi một cách khoa học phù hợp với trình độ quản

lý trong từng giai đoạn Hệ thống quản lý trên phải đảm bảo nguyên tắc gọn nhẹ, hiệu quả đảm bảo yêu cầu vừa phục vụ tốt cho sản xuất vừa thu hồi được vốn đầu

tư và điều hoà được lợi ích giữa các bên liên quan (Nguyễn Văn Sơn, 2008)

2.1.5.2 Nguyên tắc tổ chức quản lý và sử dụng công trình thủy lợi

Theo Thông tư số 65/2009/TT-BNNPTNT, việc quản lý và sử dụng công trình thủy lợi dựa trên những nguyên tắc sau:

Trang 19

13

- Phải bảo đảm tính hệ thống của công trình, kết hợp quản lý theo địa giới hành chính, quản lý đồng bộ từ công trình đầu mối đến mặt ruộng Bảo đảm an toàn, ổn định, bền vững và khai thác có hiệu quả các công trình trong việc tưới tiêu, cấp nước phục vụ sản xuất

- Mô hình tổ chức quản lý, khai thác công trình thủy lợi phải phù hợp với tính chất, đặc điểm hoạt động, yêu cầu kỹ thuật quản lý, vận hành và điều kiện cụ thể của từng vùng, từng địa phương Bảo đảm mỗi hệ thống công trình phải do một tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lý, vận hành

- Việc quản lý, vận hành và bào vệ các công trình đầu mối lớn, công trình quan trọng, hệ thống kênh trục chính và các kênh nhánh có quy mô lớn, kỹ thuật vận hành phức tạp phải do doanh nghiệp có năng lực và kinh nghiệm trong quản

lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi thực hiện để bảo đảm vận hành công trình an toàn hiệu quả

- Tổ chức cá nhân được giao hoặc tham gia quản lý, khai thác và bảo vệ công trình phải có đủ năng lực, kinh nghiệm phù hợp với quy mô, tính chất, yêu cầu kỹ thuật của từng công trình, chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn về kết quả thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi được giao Thực hiện quản lý, khai thác công trình thủy lợi theo quy định của pháp luật về sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích

2.1.5.3 Quy trình quản lý, khai thác công trình thủy lợi

Căn cứ vào quy trình quản lý vận hành công trình thủy lợi có thể phân chia quá trình sản xuất thành 3 công đoạn chính là quản lý vận hành công trình đầu mối (sản xuất ra sản phẩm); quản lý vận hành kênh và các công trình trên kênh (lưu thông phân phối sản phẩm) và quản lý nước mặt ruộng (tiêu thụ sản phẩm) Trong mỗi công đoạn thường bao gồm 4 nhóm công việc chính đó là công tác quan trắc; công tác vận hành; công tác bảo dưỡng công trình và công tác kiểm tra bảo vệ Nội dung các công việc trong từng nhóm thực hiện theo quy phạm quản lý vận hành Quy trình quản lý vận hành công trình thủy lợi được minh họa như sơ đồ:

Công đoạn 1 (Công đoạn sản xuất): Quản lý vận hành công trình đầu mối

nhằm tạo ra nguồn nước tưới tiêu Công đoạn này bao gồm các công tác quản lý

Trang 20

14

vận hành công trình đầu mối như trạm bơm, hồ chưa, cống,…

Đối với hồ chứa là quá trình vận hành hồ để tích nước trong hồ theo quy trình Muốn tích được nước phải sử dụng phương tiện công cụ (cống, đập…) Khi có nhu cầu cấp nước thì mở cống đưa nước vào kênh lưu thông và phân phối xuống tới hộ dùng nước (Đoàn Thế Lợi và Trương Đức Toàn, 2009)

Công đoạn 2 (Công đoạn lưu thông - phân phối): Công đoạn này là cầu

nối giữa sản xuất và tiêu dùng Khâu lưu thông bắt đầu từ sau cửa lấy nước ở đầu kênh chính của hồ và trạm bơm Nước chảy qua kênh chính, kênh cấp 1, cấp 2 đến đầu kênh cấp 3, khi nước đến chân ruộng của hộ dùng nước thì kết thúc khâu lưu thông Công đoạn này bao gồm các công việc chính là công tác vận hành công trình, dẫn nước, điều tiết và phân phối nước (Đoàn Thế Lợi và Trương Đức Toàn, 2009)

- Nghiệm thu

Sơ đồ 2.2 Quy trình quản lý, vận hành hệ thống công trình thủy lợi

Công đoạn 3 (Công đoạn tiêu thụ sản phẩm): Quản lý nước mặt ruộng

Nước được chuyển giao từ bên cung ứng sang hộ tiêu dùng Khi nước về tới các vùng, các cánh đồng phải được quản lý phân phối tới đầu kênh cấp 2, đảm bảo tưới được nhiều diện tích và không gây lãng phí Công việc trên được các HTX địa phương quản lý và phân phối đến tận các hộ dùng nước Công đoạn này bao gồm các công tác nắm diện tích tưới tiêu, loại cây trồng, lập kế hoạch phân phối nước, ký kết hợp đồng dùng nước và nghiệm thu kết quả tưới tiêu (Đoàn Thế Lợi

VÀ CÔNG TRÌNH

QUẢN LÝ NƯỚC MẶT RUỘNG

Trang 21

15

2.1.5.4 Loại hình tổ chức quản lý, khai thác công trình thủy lợi

Theo Thông tư số 65/2009/TT-BNNPTNT ngày 12/10/2009 của Bộ NN&PTNT, tổ chức quản lý, khai thác công trình thủy lợi nội đồng bao gồm các loại hình sau:

- Doanh nghiệp:

Gồm Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nhà nước sở hữu 100% vốn; các công ty khác tham gia hoặc được giao nhiệm vụ quản lý, khai thác công trình thủy lợi

- Tổ chức hợp tác dùng nước theo quy định của Luật HTX hoặc bộ Luật Dân sự và các hướng dẫn hiện hành, không phân biệt tên gọi của các tổ chức đó

- Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi (theo hình thức đấu thầu hoặc giao khoán thí điểm)

- Trường hợp địa phương chưa có doanh nghiệp chuyên trách thực hiện nhiệm vụ quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, có thể tạm thời giao cho đơn vị sự nghiệp trên địa bàn thực hiện Đơn vị được giao phải tổ chức một

bộ phận chuyên trách về quản lý, khai thác công trình thủy lợi

2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý và sử dụng các công trình thủy lợi

* Hệ thống chính sách

Hệ thống chính sách về bất kỳ một vấn đề nào luôn có sự ảnh hưởng lớn đến môi trường quản lý Đối với công tác quản lý và sử dụng công trình thủy lợi, bên cạnh hai chính sách về miễn thủy lợi phí và phân cấp quản lý, khải thác công trình thủy lợi thì những chính sách về quy hoạch thủy lợi đối với sản xuất và chính sách huy động sự tham gia của người dân đang ngày thể hiện sự quan trọng trong phát triển kinh tế ở các địa phương, đặc biệt là các địa phương còn sản xuất nông nghiệp

* Yếu tố về kỹ thuật

Tác động của thiên nhiên và con người bao gồm các tác động của nước, sinh vật sống, thiên tai, Dòng nước có thể bào mòn công trình, đặc biệt khi dòng nước có lưu tốc lớn và nhiều bùn cát Các bộ phận làm bằng kim loại có thể

bị rỉ, phần bê tông có thể bị nước thấm xâm thực gây sói mòn Các sinh vật sống

Trang 22

16

có thể bám vào các công trình thủy lợi làm mục nát gỗ, bê tông, đá, làm rỗng thân và gây sập nền công trình Mặt khác, dưới tác động của biến đổi khí hậu, những hiện tượng cực đoan về thời tiết như: lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn thường xuyên xảy ra, đe dọa an toàn các cống, kênh mương, làm cho công tác bảo vệ các công trình ngày càng trở nên khó khăn (Phan Khánh, 1997)

Trước những tác động như vậy, công tác duy tu, sửa chữa hệ thống công trình thường xuyên là giải pháp khả dĩ nhất để duy trì khả năng hoạt động và kéo dài tuổi thọ sử dụng của công trình

Việc áp dụng công nghệ kỹ thuật cũng là yếu tố ảnh hưởng khá nhiều trong sử dụng hệ thống công trình Bên cạnh đó là trình độ thiết kế, thi công công trình bởi trên thực tế, các công trình thủy lợi vô cùng phức tạp, địa điểm xây dựng thường là ở ngay lòng sông, suối, nền đất yếu, luôn bị nước ngầm uy hiếp

* Hợp tác giữa chính quyền và người dân

Để công tác quản lý và sử dụng công trình đạt hiệu quả cao thì không chỉ riêng là công việc của các cấp lãnh đạo, những nhà quản lý mà còn là cả trách nhiệm và quyền lợi của người dân; cần có sự hợp tác, phối hợp nhịp nhàng trong công tác điều tiết nước và quản lý công trình Sự phản hồi thông tin giữa cán bộ quản lý và người dân cần được thống suốt để kịp thời phát hiện và xử lý các sự

cố của công trình trong quá trình hoạt động

* Nhận thức của người dân

Trong thực hiện bất kì một chủ trương chính sách nào, công tác định hướng và lãnh đạo thuộc về phía cán bộ quản lý, tuy nhiên việc thực hiện các chủ trương đó lại do người dân quyết định Mức độ hiệu quả phụ thuộc vào nhận thức của người dân về các chủ trương chính sách đó Nhận thức của người dân càng cao thì việc quản lý và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi càng dễ dàng

* Sự quản lý của chính quyền các cấp

Trình độ quản lý, năng lực chuyên môn và thái độ làm việc đội ngũ cán bộ

là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến công tác quản lý và sử dụng công trình Trên thực tế, nguồn nhân lực có kiến thức, kỹ năng tốt sẽ xây dựng được kế hoạch tưới tiêu, cấp thoát nước hợp lý, bên cạnh đó là làm chủ

Trang 23

17

được công nghệ, vận hành tốt các thiết bị máy móc, khai thác được tối đa hiệu

năng sử dụng của công trình, đem lại hiệu quả to lớn cho sản xuất nuôi trồng

Sự rõ ràng trong quy định chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị sẽ tạo điều kiện cho công tác quản lý công trình được thực hiện dễ dàng, tránh chồng chéo trong quản lý, việc phối hợp giải quyết công việc được nhanh chóng, hiệu quả Tuyên truyền, vận động người dân tham gia luôn là giải pháp đầu tiên trong tiến trình triển khai thực hiện một cơ chế, chính sách Vận động người dân tham gia vào quản lý và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi cũng không phải là ngoại lệ Thông qua các buổi tập huấn, các chương trình tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng sẽ giúp người dân cảm thấy mình có quyền sử hữu, được là chủ thể, được ra quyết định và có trách nhiệm trong quản lý công trình thủy lợi ở địa phương

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước liên quan đến khai thác, sử dụng công trình thủy lợi

Để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao trách nhiệm của các

cơ quan, tổ chức kinh tế, chính trị - xã hội và mọi cá nhân trong việc khai thác, bảo vệ công trình thủy lợi nhằm phục vụ sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, góp phần bảo đảm an toàn xã hội và an ninh quốc gia, ngày 04/4/2001, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 32/2001/PL-UBTVQH10 về việc khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi Xuyên suốt quá trình thực hiện Pháp lệnh nổi bật hai chính sách là chính sách về thủy lợi phí và phân cấp quản lý, khai thác công trình thủy lợi

2.2.1.1 Phân cấp quản lý, khai thác và bảo vệ các công trình thủy lợi

Phân cấp quản lý, khai thác là một trong những nội dung trọng tâm trong công tác quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi Việc phân cấp nhằm phát huy vai trò của các bên liên quan, đặc biệt là sự quan tâm của chính quyền các cấp, nhất là cấp cơ sở và người hưởng lợi Sự tham gia quản lý, khai thác của

họ sẽ đảm bảo công trình có chủ quản lý thực sự, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng của các công trình thủy lợi

Trang 24

18

Nội dung về phân cấp quản lý, khai thác công trình thủy lợi đã được quy định cụ thể trong các Văn bản quy phạm pháp luật ngành thủy lợi, bao gồm: Pháp lệnh số 32/2001/PL-UBTVQH10 về việc khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, Nghị định số 143/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ và Thông tư số 65/2009/TT-NNPTNT ngày 12/10/2009 của Bộ NN&PTNT

Sau hơn 5 năm thực hiện Thông tư 65 đã có 39/63 địa phương trên toàn quốc thực hiện phân cấp theo hướng dẫn của Bộ NN&PTNT Trong đó có 14 tỉnh xây dựng mới quy định về phân cấp, 14 tỉnh điều chỉnh quyết định cũ cho phù hợp với hướng dẫn, 11 tỉnh rà soát và đánh giá quy định đang thực hiện đã phù hợp với hướng dẫn của Bộ Một số địa phương do đặc thù hệ thống công trình thủy lợi (các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long) hoặc do lịch sử, tập quán trong quản lý, khai thác công trình thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp nên vẫn giữ nguyên hình thức quản lý, khai thác (Tổng cục thủy lợi, 2014)

Tại Hải Phòng - một trong những tỉnh, thành đi đầu đã mạnh dạn phân cấp, bàn giao công trình thủy lợi cho các tổ chức dùng nước quản lý Uỷ ban nhân dân (UBND) thành phố đã ban hành Quyết định số 1464/2009/QĐ-UBND ngày 31/7/2009 về việc phân cấp quản lý, khai thác, bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn Theo đó các Công ty KTCTTL có nhiệm vụ quản lý, sử dụng các cống qua đê, các tuyến kênh liên xã và trạm bơm tưới tiêu trên 500m3/h; các tổ hợp tác, hợp tác xã có trách nhiệm quản lý các tuyến kênh phục vụ trong phạm vi thôn, xã và trạm tưới tiêu từ 500m3/h trở xuống Song song với việc phân cấp quản lý, UBND thành phố cũng đã ra Chỉ thị số 17/CT-UBND ngày 29/10/2010

về việc kiểm tra, xử lý vi phạm Pháp lệnh số 32/2001/PL-UBTVQH10 và Quyết định số 1025/2013/QĐ-UBND ngày 10/6/2013 về việc ban hành Quy định về phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố Theo đó tăng cường đẩy mạnh kiểm tra, phát hiện các trường hợp vi phạm Pháp lệnh gây mất an toàn cho công trình, làm cản trở ách tắc dòng chảy, ô nhiễm nguồn nước; ban bố phạm

vi vùng phụ cận công trình để làm thước đo đánh giá mức độ vi phạm

2.2.1.2 Miễn thủy lợi phí

Để đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển thủy lợi phục vụ sự nghiệp

Trang 25

Đến năm 2007, Nghị định số 154/2007/NĐ-CP được ban hành thay thế cho Nghị định số 143/2003/NĐ-CP Nghị định 154 đã giảm được 80% tổng số phí mà nông dân phải trả trước đây Tuy nhiên, Nghị định chỉ áp dụng đối với những hệ thống thủy lợi được đầu tư bằng vốn ngân sách Nhà nước, còn diện tích tưới tiêu các công trình xây dựng bằng vốn không phải ngân sách thì không được miễn Ngoài ra, mức cấp bù thủy lợi phí cho các địa phương được căn cứ vào mức thu thủy lợi phí theo quy định của UBND tỉnh, thành phố theo quy định tại Nghị định số 143/2003/NĐ-CP nhưng khi thực hiện, các địa phương lại có quy định mức thu thủy lợi phí khác nhau

Xuất phát từ những tồn tại trên, năm 2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 115/2008/NĐ-CP ngày 14/11/2008 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 143/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi Sau hơn 4 năm triển khai, chính sách này đã đáp ứng được chủ trương giảm bớt một phần chi phí của người dân trong sản xuất; tạo ra nguồn kinh phí ổn định cho các địa phương Tuy vậy, Nghị định này vẫn còn một

số bất cập Quy định mức thu cấp bù phí chưa đồng đều giữa các vùng miền, chưa công bằng trong việc cấp bù cho hai loại hình tổ chức hợp tác doanh nghiệp quản lý công trình được đầu tư từ Nhà nước và từ vốn dân huy động dẫn đến mâu

Trang 26

20

thuẫn khi thực hiện phân cấp Bên cạnh đó, trong điều kiện biến động giá cả, lạm phát tăng nhưng mức kinh phí cấp bù và mức thu thủy lợi phí không được điều chỉnh hàng năm nên kinh phí duy tu bảo dưỡng công trình qua các năm ít dần Hệ quả tất yếu là các công trình bị xuống cấp nhưng hoạt động duy tu rất hạn chế

Để tháo gỡ bất cập còn phát sinh trong quá trình thực hiện chính sách miễn thủy lợi phí, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 67/2012/NĐ-CP sửa đổi

bổ sung một số điều của Nghị định số 143 Theo đó nội dung chính được sửa đổi

là tăng mức thu thủy lợi phí lên 1,5 lần để phù hợp với tình hình chi phí thực tế

2.2.2 Thực trạng khai thác, sử dụng các công trình thủy lợi ở nước ta

Nước ta là một nước có hệ thống thủy lợi tương đối phát triển, góp phần quan trọng để tăng diện tích gieo trồng, tăng thời vụ, cải tạo đất, góp phần đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu Theo thống kê năm 2012, tổng diện tích đất trồng lúa được tưới đạt trên 7,3 triệu ha (vụ Đông Xuân 2,99 triệu ha, Hè Thu 2,05 triệu ha, Mùa 2,02 triệu ha), góp phần đưa sản xuất lương thực tăng nhanh

và ổn định Ngoài ra, các hệ thống thủy lợi còn tưới cho 1,5 triệu ha rau màu, cây công nghiệp; tạo nguồn nước cho 1,3 triệu ha đất gieo trồng; cung cấp khoảng 6

tỷ m3 nước phục vụ sinh hoạt và công nghiệp; ngăn mặn cho 0,87 triệu ha; cải tạo chua phèn 1,6 triệu ha và tiêu nước cho trên 1,72 triệu ha đất nông nghiệp Các

hệ thống công trình thủy lợi đã hỗ trợ, tạo điều kiện phát triển đa dạng hóa cây trồng, chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp

Đến nay, trên cả nước đã xây dựng được hàng ngàn hệ thống công trình thủy lợi gồm: 6.648 hồ chứa các loại, khoảng 10.000 trạm bơm điện lớn, 5.500 cống tưới tiêu lớn, 234.000 km kênh mương, 25.960 km đê các loại Trong đó có

904 hệ thống thủy lợi phục vụ tưới tiêu từ 200 ha trở lên Nhiều hệ thống công trình thủy lợi lớn đã mang lại nhiều lợi ích lớn cho đất nước (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2014)

2.2.2.1 Về tổ chức quản lý nhà nước

Bộ máy quản lý nhà nước về thủy lợi ở nước ta tương đối đồng bộ và thống nhất từ Trung ương đến địa phương để thực hiện nhiệm vụ quản lý Ở Trung ương, đã thành lập Tổng cục Thủy lợi trực thuộc Bộ NN&PTNT thực hiện

Trang 27

21

chức năng quản lý nhà nước về thủy lợi Ở cấp tỉnh, có 62/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ưng thành lập Chi cục Thủy lợi Ở cấp quận/huyện, giao cho Phòng NN&PTNT hoặc Phòng Kinh tế thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2014)

2.2.2.2 Về tổ chức sử dụng, khai thác công trình thủy lợi

Để quản lý các hệ thống thủy lợi lớn, hệ thống thủy lợi liên xã trở lên, cả nước hiện có 96 tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi là doanh nghiệp trực thuộc tỉnh, 3 doanh nghiệp trực thuộc Bộ NN&PTNT, 7 đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh và 4 Chi cục Thủy lợi kiêm nhiệm

Về quản lý các công trình thủy lợi nhỏ và hệ thống kênh mương nội đồng,

cả nước có 16.238 tổ chức dùng nước, bao gồm các loại hình chủ yếu là: HTX làm dịch vụ thủy lợi (HTX dịch vụ nông nghiệp, HTX chuyên khâu thủy nông),

Tổ chức hợp tác (Tổ hợp tác, Tổ đội thủy nông) và Ban quản lý thủy nông Trong

đó HTX và Tổ hợp tác là hai loại hình chính, chiếm tới 90% Tổ chức dùng nước (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2014) Tuy nhiên, hệ thống tổ chức quản lý, khai khác công trình thủy lợi hiện còn nhiều bất cập, cần phải được nghiên cứu đổi mới và hoàn thiện, cụ thể là:

- Mô hình tổ chức và quản lý các hệ thống thủy lợi nội đồng đang tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau

Trong số 110 doanh nghiệp, có 4 công ty quản lý hệ thống thủy lợi liên tỉnh (3 công ty trực thuộc Bộ NN&PTNT), số còn lại quản lý các hệ thống thủy lợi liên huyện hoặc trong một huyện trực thuộc UBND tỉnh hoặc huyện Hiện nay các doanh nghiệp quản lý khai thác công trình thủy lợi được tổ chức theo 6 hình thức chủ yếu Việc thành lập các doanh nghiệp ở địa phương chủ yếu vẫn dựa vào địa giới hành chính mà không theo tính hệ thống của công trình như đã quy định tại Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi và tại Thông tư số 06/1998/TT-BNN-TCCB ngày 03/9/1998 của Bộ NN&PTNT Có những hệ thống thủy lợi nội đồng chỉ phục vụ tưới tiêu trong phạm vi một tỉnh cũng được phân chia cho nhiều chủ thể độc lập quản lý, nên việc phối kết hợp trong việc quản lý vận hành, điều tiết phân phối nước trên toàn hệ thống rất phức tạp, dẫn

Trang 28

2.2.3 Kinh nghiệm quản lý, sử dụng công trình thủy lợi ở một số quốc gia trên thế giới và địa phương ở Việt Nam

2.2.3.1 Trung Quốc

Đối với Trung Quốc, một quốc gia giáp với Việt Nam và nhìn chung cũng có tập quán sản xuất lúa nước giống Việt Nam, đang thực hiện chính sách thủy lợi phí rất thành công Cụ thể, Chính phủ ban hành chính sách về giá nước mang tính nguyên tắc (khung giá), giao quyền cho địa phương trực tiếp quản lý công trình quy định cụ thể cho phù hợp trên cơ sở lợi ích kinh tế và mức chi phí thực tế đã sử dụng, mức chi phí tính toán và ý kiến tham gia của người dân (Cục Thủy lợi, 2007)

Giá nước bao gồm các khoản mục như các loại khấu hao, chi phí quản lý vận hành, các loại thuế và lãi Cơ cấu giá nước đảm bảo cho chi phí đơn vị quản lý vận hành và đảm bảo tính công bằng, dùng nhiều trả nhiều, ít trả ít Giá nước cũng có chính sách riêng, được quy định cụ thể đối với từng đối tượng cần hỗ trợ như: vùng nghèo, mức sống thấp, khi có thiên tai mất mùa, (Cục Thủy lợi, 2007)

Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy từ khi bắt đầu thu thủy lợi phí, việc

sử dụng nước tiết kiệm hơn, đặc biệt là khi thủy lợi phí tính bằng m3 Nhưng điều này cũng là thách thức đối với các đơn vị quản lý, đòi hỏi phải có biện pháp giảm tổn thất để có nhiều nước bán cho nông dân theo yêu cầu và giảm thiểu chi phí (Cục Thủy lợi, 2007)

Tùy theo loại hình công trình, tự chảy hay động lực, điều kiện cụ thể của

hệ thống công trình để quy định mức thu và có chính sách hỗ trợ Cơ quan nào quyết định miễn giảm giá nước thì cơ quan đó có trách nhiệm cấp bù tài chính cho đơn vị quản lý và sử dụng công trình (Cục Thủy lợi, 2007)

Về vấn đề quản lý công trình thủy lợi, Trung Quốc quản lý theo hợp đồng theo nguyên tắc phân quyền quản lý và quyền sở hữu Trong thời gian này, đối

Trang 29

23

tượng tiêu dùng và các dịch vụ thủy nông cũng được chuyển đổi từ HTX sang cho hàng triệu hộ cá thể Cũng từ đây, trách nhiệm và nghĩa vụ của Trung ương cũng như địa phương được phân ra để quản lý công trình một cách rõ ràng (Cục Thủy lợi, 2007)

Với việc chủ yếu là các công trình nhỏ, phân tán, diện tích manh mún thì phân cấp quản lý đã phát huy được vai trò, trách nhiệm của các ban quản lý; từng bước khắc phục tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, đặc biệt là công tác quản lý sử dụng nguồn kinh phí cấp bù thủy lợi phí

Theo thống kê của Ban quản lý các công trình thủy lợi, từ năm 2012 đến nay, từ nguồn cấp bù thủy lợi phí và nguồn ngân sách của tỉnh, cùng với sức dân

đã có 730 công trình được sửa chữa, nâng cấp; kiên cố trên 47 km kênh mương… với tổng kinh phí 16,1 tỷ đồng Hệ thống kênh mương được đầu tư nâng cấp đã góp phần nâng tỷ lệ tưới chắc (Đoàn Thư, 2015)

2.2.3.3 Huyện Krông Nô, Đăk Nông

Hiện trên địa bàn huyện có 13 công trình thủy lợi lớn và hàng trăm hồ, đập nằm ở các xã, phục vụ tưới cho hơn 9.000 ha cây trồng các loại Nhờ quản lý, sử dụng tốt các công trình thủy lợi nên sản xuất nông nghiệp của huyện luôn đạt kết quả cao Năm 2010, năng suất lúa bình quân trên toàn huyện đạt 6,5 tấn/ha, sản lượng lương thực đạt hơn 120.000 tấn (Phạm Cường, 2011)

Trang 30

24

Trong nhiều năm qua, được sự quan tâm hỗ trợ của Nhà nước, huyện Krông Nô đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng xây dựng hệ thống thủy lợi trên địa bàn, phục vụ nhu cầu tưới, tiêu sản xuất nông nghiệp Để đạt được hiệu quả, huyện Đắk Nông đã trực tiếp chỉ đạo công tác phối hợp giữa Phòng NN&PTNT, Trạm Khai thác thủy lợi của các xã, thị trấn để nâng cao hiệu quả của các công trình

Cụ thể, huyện đã chỉ đạo các Trạm Khai thác công trình thủy lợi thường xuyên nạo vét, phát dọn, đắp cao bờ kè, duy tu, chống rò rỉ những công trình có nguy cơ xuống cấp, nhằm hạn chế tình trạng thất thoát nguồn nước; chú trọng phân cấp quản lý, giao quyền khai thác một số công trình thủy lợi cho các xã Bên cạnh đó, các địa phương cũng kiện toàn hoạt động của các tổ thủy nông để chủ động khai thác, điều tiết nguồn nước… (Phạm Cường, 2011)

Ngoài ra, Phòng NN&PTNT huyện Krông Nô còn cử cán bộ thủy nông về trực tiếp các xã, thôn, bản thống nhất lịch gieo cấy của mỗi trà lúa, phù hợp với thời gian xả nước của hồ thủy lợi, nhằm giúp bà con nâng cao ý thức chủ động đón nước, gieo cấy và chăm sóc cây trồng đúng thời vụ Nhờ quản lý, sử dụng tốt các công trình thủy lợi nên sản xuất nông nghiệp của huyện luôn đạt kết quả cao Năm 2010, năng suất lúa bình quân trên toàn huyện đạt 6,5 tấn/ha, sản lượng lương thực đạt hơn 120.000 tấn (Phạm Cường, 2011)

2.2.3.4 Huyện Thái Thụy, Thái Bình

Thái Bình là tỉnh đầu tiên thực hiện phân cấp quản lý trong hoạt động khai thác công trình thủy lợi Toàn tỉnh có 02 Công ty KTCTTL là Công ty KTCTTL Bắc Thái Bình và Công ty KTCTTL Nam Thái Bình cùng với 8 xí nghiệp trực thuộc tại 8 huyện thị (Nguyễn Thị Xuân Lan, 2010)

Việc phân cấp quản lý công trình thủy lợi được tiến hành thí điểm đầu tiên

ở huyện Thái Thụy Huyện đã tiến hành bàn giao 37 trạm bơm quy mô 1 thôn, 1

xã (công trình nhỏ) do Xí nghiệp KTCTTL huyện quản lý cho 31 HTX DVNN quản lý, sau khi đã tu bổ, sửa chữa hoặc cải tạo nâng cấp Xí nghiệp thủy nông chỉ giữ lại 3 trạm bơm quy mô lớn phục vụ liên huyện, liên xã Trong 3 năm đầu sau khi bàn giao, xí nghiệp thủy nông cử công nhân xuống giúp HTX vận hành (xí nghiệp vẫn trả lương), đồng thời hỗ trợ HTX đào tạo đội ngũ công nhân vận hành trạm bơm để thay thế Hàng năm, doanh nghiệp thủy nông trích lại 10-15%

Trang 31

2.2.4 Bài học kinh nghiệm về quản lý khai thác công trình thủy lợi

Qua kinh nghiệm quản lý, sử dụng và bảo vệ công trình thủy lợi của các địa phương có thể rút ra một số điểm cần chú ý, cụ thể:

- Việc phân cấp quản lý sử dụng công trình thủy lợi là cần thiết đặc biệt là với những địa phương có diện tích lớn, nhiều công trình trải dài trên diện tích rộng Đây là cơ sở để thực hiện chuyển giao trách nhiệm quản lý công trình thủy lợi cho các tổ chức hợp tác dùng nước, phù hợp với cách làm của thế giới về quản lý công trình thủy lợi, đảm bảo cho các hệ thống công trình thủy lợi phục

vụ sản xuất nông nghiệp một cách tốt nhất Bên cạnh đó, công tác bảo vệ công trình không còn phức tạp như trước do việc đảm bảo an toàn công trình đã được các tổ chức địa phương đảm nhận

- Hiệu quả sử dụng nước sẽ tốt hơn nếu được áp dụng cơ chế công tư kết hợp (PPP) Với sự tham gia của người dân hay các tổ chức kinh tế, hiệu quả quản

lý và sử dụng công trình sẽ được cải thiện Chi phí nhà nước bỏ ra để đầu tư vào thủy lợi sẽ được giảm đi nhưng hiệu quả xã hội được nâng cao; tiết kiệm được nguồn nước, điện năng trong quá trình sử dụng

- Quá trình khai thác cần kết hợp với duy tu, bảo dưỡng công trình, thiết bị; tiến hành bê tông hóa, nạo vét kênh mương, khơi thông dòng chảy để đảm bảo

hệ thống không xuống cấp, sử dụng được lâu dài và tránh thất thoát nguồn nước

- Trong quá trình sản xuất, giữa Công ty KTCTTL và các HTX tại các địa phương cần có sự thống nhất về lịch gieo cấy của mỗi trà lúa, thời gian lấy - xả nước vào kênh và đồng ruộng tại từng địa phương, giúp người dân chủ động trong gieo cấy từ đó nâng cao được hiệu quả sử dụng công trình thủy lợi

Trang 32

26

PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên

3.1.1.1 Đặc điểm địa lý, địa hình

* Vị trí địa lý

Thuỷ Nguyên nằm ở phía Bắc Thành phố Hải Phòng, có giới hạn địa lý từ

20o52' đến 21o01' vĩ độ Bắc và 106o31' đến 106o46' kinh độ đông Thuỷ Nguyên

là một huyện ven biển của Thành phố Hải Phòng thuộc vùng châu thổ sông Hồng được bao bọc 4 mặt bởi sông và biển Huyện Thuỷ Nguyên có 35 xã và 2 thị trấn với tổng diện tích tự nhiên là 24.279,9 ha, chiếm 15,6% diện tích thành phố

Ảnh 3.1 Bản đồ huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng

Trang 33

27

Huyện Thuỷ Nguyên nằm ở vị trí tiếp giáp giữa 2 vùng địa lý tự nhiên lớn: vùng Đồng bằng sông Hồng và vùng đồi núi Đông Bắc Vị trí địa lý của Thuỷ Nguyên rất thuận lợi, nối thành phố Hải Phòng với vùng công nghiệp phía đông - bắc của vùng Kinh tế trọng điểm Bắc bộ Thuỷ Nguyên nằm trên trục giao thông quốc lộ 10 nối các tỉnh duyên hải Bắc Bộ (Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, Quảng Ninh ) với thành phố Hải Phòng Hiện nay Thuỷ Nguyên đã được xác định sẽ là vùng kinh tế động lực, một trung tâm du lịch sinh thái quan trọng của thành phố Đây là một trong những yếu tố quan trọng để tạo điều kiện cho Thuỷ Nguyên phát triển mạnh trong giai đoạn từ nay tới năm 2020 Trong phát triển kinh tế, ngoài việc chịu ảnh hưởng trực tiếp của thành phố Hải Phòng, huyện còn chịu ảnh hưởng gián tiếp của việc phát triển vùng kinh tế trọng điểm cũng như tuyến động lực ven biển Bắc bộ

* Địa hình

Thuỷ Nguyên ở vào vị trí chuyển tiếp của 2 vùng địa lý tự nhiên lớn Một

số xã ở phía Bắc và Đông Bắc huyện có núi đá vôi và đồi đất thấp, địa hình không bằng phẳng, mang đặc điểm của vùng bán sơn địa, các xã phía Nam có địa hình bằng phẳng hơn, mang đặc điểm của vùng đồng bằng

Do vậy về đặc điểm sinh thái, Thuỷ Nguyên có thể được chia thành nhiều tiểu vùng khác nhau như: Tiểu vùng núi đá vôi xen kẽ thung lũng; Tiểu vùng đồi núi xen kẽ đồng bằng; Tiểu vùng cửa sông ven biển; tiểu vùng đồng bằng, Với đặc điểm về địa hình như vậy, Thuỷ Nguyên có nhiều điều kiện để phát triển một nền kinh tế tổng hợp với nhiều loại sản phẩm hàng hoá có giá trị kinh tế cao Song đây cũng được coi là thách thức đối với sự phát triển của ngành thủy lợi, đặc biệt là với các xã vùng núi, xa trung tâm và gặp hạn chế về nguồn nước tưới

3.1.1.2 Đặc điểm thời tiết, khí hậu, thủy văn

* Khí hậu

Khí hậu Thuỷ Nguyên mang những đặc tính chung của khí hậu miền Bắc Việt Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhưng do gần biển nên Thuỷ Nguyên còn chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa đồng bằng ven biển với vùng đồi núi Đông Bắc

Trang 34

28

Nhiệt độ trung bình cả năm từ 23 - 240C Độ ẩm tương đối, trung bình hàng năm biến động từ 88 - 92% cùng với lượng mưa bình quân hàng năm đạt từ 1.200 - 1.400 mm Thuỷ Nguyên nằm sát biển, chịu ảnh hưởng trực tiếp chế độ gió bão từ Thái Bình Dương, hàng năm có khoảng 4 đến 5 cơn bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ trực tiếp, tốc độ gió có khi lên tới cấp 11 - 12

Có thể nói, khí hậu đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý, bảo vệ

và sử dụng các công trình thủy lợi của huyện, đặc biệt là vào mùa mưa bão

* Đặc điểm thủy văn

Thuỷ Nguyên được bao bọc bởi 4 con sông lớn, đó là: Sông Kinh Thầy, sông Cấm, sông Đá Bạc và sông Bạch Đằng Ngoài bốn con sông lớn trên, Thuỷ Nguyên còn có sông Giá là con sông chứa nước ngọt rất lớn, là nguồn cung cấp nước sản xuất và sinh hoạt cho đại bộ phận người dân trên huyện

Do đặc điểm của hệ thống sông chảy qua huyện là cuối nguồn nên lượng phù sa ít, khả năng bồi tụ vùng ven biển, cửa sông chậm Hiện nay vùng đất ven biển huyện Thuỷ Nguyên đang có cốt đất thấp, thường xuyên bị ngập nước và có hiện tượng xâm thực vào đất liền gây nhiễm mặn khá rõ Vào mùa đông nguồn nước của các sông thường bị nhiễm mặn, nguồn nước ngọt chủ yếu của huyện dựa vào hồ sông Giá, kênh Hòn Ngọc và các ao, hồ, đầm, ruộng trũng

Đây có thể coi là một trong những đặc điểm quan trọng có ảnh hưởng lớn đến công tác sử dụng hệ thống công trình thủy lợi trên địa bàn huyện

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

3.1.2.1 Đất đai

Thuỷ Nguyên là huyện có diện tích đất tự nhiên lớn thứ hai trong số các quận, huyện của thành phố Hải Phòng, chiếm 15,6% tổng diện tích đất tự nhiên toàn thành phố, chỉ sau huyện Cát Hải (32.230 ha) Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Thuỷ Nguyên năm 2013 là 24.279,9 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp của huyện là 10.573,62 ha, chiếm 43,5% diện tích đất toàn huyện, bao gồm cả đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản Trong tổng diện tích đất tự nhiên thì diện tích hiện đang được khai thác đưa vào sử dụng là 23.332,59 ha, chiếm 96,1% và còn 3,9% diện tích đất chưa sử dụng

Trang 35

29

Đất của huyện Thuỷ Nguyên chủ yếu là đất được bồi đắp do hệ thống sông Thái Bình; khu vực phía Bắc của huyện là vùng đất có thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ, tại khu vực phía tây đất có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt trung bình Vùng đất giữa huyện có thành phần chủ yếu là thịt nhẹ và cát pha, khu vực phía nam của huyện cũng là đất phù sa nhưng có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, một số nơi ven biển, cửa sông đất có hiện tượng bị nhiễm chua, mặn

Nhìn chung, huyện Thuỷ Nguyên có tiềm năng về đất đai Về tính chất thổ nhưỡng, có nhiều loại đất khác nhau, thích hợp cho việc phát triển nhiều loại cây trồng Đặc điểm này phần nào ảnh hưởng đến công tác thủy nông, dẫn nước cho cây trồng

Trong những năm qua, tỷ lệ dân số thành thị so với tổng dân số trung bình của huyện hầu như ít thay đổi qua từng năm (chỉ dao động trong khoảng 5-6%) Đây là chỉ tiêu phản ánh trình độ đô thị hoá của huyện còn ở mức thấp so với các nơi khác của vùng đồng bằng sông Hồng, mặc dù Thuỷ Nguyên là huyện có điều kiện để đô thị hoá trên địa bàn

* Lao động

Số nhân khẩu trong độ tuổi lao động của huyện đến năm 2013 là 197.610

Trang 36

30

người (chiếm 62,9 %) dân số Trong đó số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế của huyện là 182.797 người chiếm 58,1 % dân số

Số lao động của huyện tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn với 61,8 %

và hoạt động chính trong khối ngành công nghiệp - xây dựng Hiện nay, cơ cấu lao động của huyện đang có xu hướng tăng lao động ở khu vực thành thị, giảm lao động ở khu vực nông thôn do nhu cầu về lao động ở khu vực thành thị tăng lên

Bảng 3.1 Cơ cấu lao động các ngành kinh tế của các năm 2012 - 2013

Phân theo ngành kinh tế

Công nghiệp - Xây dựng 83.425 83.831 100,50

Nguồn: Chi cục Thống kê huyện Thủy Nguyên, 2013

* Tình hình phát triển kinh tế – xã hội

Trong quá trình cùng cả nước thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, huyện Thủy Nguyên đã tạo ra sự chuyển biến tích cực trong toàn bộ nền kinh tế cũng như quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp dịch vụ, giảm tỷ trọng các ngành nông - lâm - thủy sản Qua bảng 3.2 có thể thấy, cơ cấu các ngành kinh tế của huyện Thủy Nguyên đang dịch chuyển theo hướng tăng dần tỷ lệ giá trị sản xuất ngành Công nghiệp - Xây dựng và ngành Dịch vụ, giảm tỷ lệ giá trị sản xuất ngành Nông nghiệp - Lâm nghiệp - Thủy sản

Trang 37

Tổng 8.654,40 100,00 9.849,90 100,00 11.290,20 100,00

Nguồn: Chi cục Thống kê huyện Thủy Nguyên, 2013

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp tiếp cận và khung phân tích

3.2.1.1 Phương pháp tiếp cận

- Tiếp cận hệ thống: là phương pháp tiếp cận các hoạt động của quản lý và

sử dụng công trình thủy lợi từ Trung ương xuống các cấp địa phương và kết quả thu được một cách có hệ thống Hoạt động quản lý và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi được đặt trong mối quan hệ với các chính sách trên cơ sở liên kết giữa các cơ quan quản lý

- Tiếp cận có sự tham gia: là phương pháp tiếp cận có sự tham gia của các bên liên quan đến quản lý và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi trên địa bàn huyện gồm các phía cán bộ Phòng NN&PTNT, Công ty KTCTTL Thủy Nguyên,

cán bộ HTX và các hộ dân trên địa bàn nghiên cứu

3.2.1.2 Khung phân tích

Khung phân tích thể hiện một số nội dung chính của quá trình thực hiện đề tài: từ việc tìm hiểu một số lí luận về quản lý và sử dụng công trình thủy lợi, nội dung nghiên cứu và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi nội đồng của huyện Thủy Nguyên, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi nội đồng trên địa bàn huyện

Trang 38

32

Sơ đồ 3.1 Khung phân tích nghiên cứu đề tài

3.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Điểm nghiên cứu phải thể hiện rõ nét đặc thù về điều kiện tự nhiên, kinh

tế - xã hội, tình hình sản xuất của địa phương Bên cạnh đó phải đảm bảo có đa dạng các công trình, hiện trạng công trình để có thể so sánh đánh giá kết quả

Đề tài được thực hiện tại huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng nên xuất phát từ điều kiện tự nhiên kinh tế của huyện tôi tập trung nghiên cứu và chia làm 3 điểm thuộc 3 cụm thủy nông khác nhau:

Trong quản lý công trình thủy lợi nội đồng

Trong quản lý nước tưới

Trong xây dựng công trình thủy lợi nội đồng

Quản lý và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi nội đồng

Yếu tố ảnh hưởng đến quản lý và sử dụng

hệ thống công trình thủy lợi nội đồng

Hệ thống chính sách

Quản lý của chính quyền các cấp

Nhận thức của người dân

Yếu tố

về kỹ thuật

Sự hợp tác giữa chính quyền và người dân

Trang 39

- Điểm 3: xã Gia Đức - xã mới thành lập, còn khó khăn nên đây là địa phương trọng điểm trong mục tiêu cứng hóa kênh mương của huyện

3.2.3 Phương pháp thu thập dữ liệu

Phương pháp thu thập

- Internet;

- Thư viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam;

- Sách, tạp chí

- Liệt kê số liệu

và thông tin cần thiết có thể thu thập, hệ thống hóa theo nội dung, địa điểm thu thập

và dự kiến cơ quan cung cấp thông tin

- Liên hệ với các

cơ quan cung cấp thông tin

- Thu thập bằng ghi chép, chụp sao lại

- Báo cáo hoạt động hàng năm của Công

ty KTCTTL huyện;

- Báo cáo doanh thu ngành nghề dịch vụ của HTX

- UBND huyện;

- Phòng Nông nghiệp&PTNT;

- Chi cục Thống

kê huyện;

- Công ty KTCTTL huyện

Trang 40

34

Số liệu thứ cấp là các số liệu đã thông qua xử lý, tổng hợp và được công

bố Theo mục tiêu nghiên cứu của đề tài, số liệu thứ cấp được thu thập theo như

bảng 3.3

3.2.3.2 Dữ liệu sơ cấp

Số liệu sơ cấp là các số liệu mới, được thu thập để phục vụ nhu cầu nghiên cứu của đề tài Phương pháp thu thập chủ yếu là thông qua điều tra, phỏng vấn bằng bảng hỏi; ngoài ra để có thêm thông tin nghiên cứu, đề tài còn áp dụng phỏng vấn thêm ngoài bảng hỏi để nắm bắt được một số tình hình khác

* Chọn mẫu điều tra

Do đặc điểm địa bàn là một huyện rộng với 37 xã, thị trấn nên trong quá trình thu thập dữ liệu sơ cấp, căn cứ vào tình hình phát triển hệ thống công trình thủy lợi và khả năng tiếp cận nguồn nước tại các địa phương, tôi tiến hành điều tra các hộ nông dân tại 3 xã đại diện cho 3 vùng Căn cứ vào đặc điểm đồng đất của địa phương (ruộng cao - thấp, ruộng xa - gần công trình), tôi sẽ lựa chọn hộ nông dân để điều tra cho phù hợp Phương pháp là sử dụng mẫu phiếu điều tra được thiết kế sẵn với mục đích tìm hiểu thực trạng quản lý và sử dụng công trình thủy lợi tại địa phương

Ngày đăng: 17/02/2017, 10:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1 Cơ cấu lao động các ngành kinh tế của các năm 2012 - 2013 - Quản lý và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi nội đồng trên địa bàn huyện thủy nguyên, thành phố hải phòng
Bảng 3.1 Cơ cấu lao động các ngành kinh tế của các năm 2012 - 2013 (Trang 36)
Bảng 3.2 Cơ cấu kinh tế phân theo ngành năm 2011 - 2013 - Quản lý và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi nội đồng trên địa bàn huyện thủy nguyên, thành phố hải phòng
Bảng 3.2 Cơ cấu kinh tế phân theo ngành năm 2011 - 2013 (Trang 37)
Sơ đồ 3.1 Khung phân tích nghiên cứu đề tài - Quản lý và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi nội đồng trên địa bàn huyện thủy nguyên, thành phố hải phòng
Sơ đồ 3.1 Khung phân tích nghiên cứu đề tài (Trang 38)
Bảng 3.3 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp  Vấn đề - Quản lý và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi nội đồng trên địa bàn huyện thủy nguyên, thành phố hải phòng
Bảng 3.3 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp Vấn đề (Trang 39)
Sơ đồ 4.1 Hệ thống thủy lợi trên địa bàn huyện Thủy Nguyên - Quản lý và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi nội đồng trên địa bàn huyện thủy nguyên, thành phố hải phòng
Sơ đồ 4.1 Hệ thống thủy lợi trên địa bàn huyện Thủy Nguyên (Trang 45)
Bảng 4.2 Số lượng các công trình thủy lợi huyện Thủy Nguyên năm 2013 - Quản lý và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi nội đồng trên địa bàn huyện thủy nguyên, thành phố hải phòng
Bảng 4.2 Số lượng các công trình thủy lợi huyện Thủy Nguyên năm 2013 (Trang 48)
Bảng 4.3 Diện tích tưới tiêu các cụm thủy nông của huyện năm 2013 - Quản lý và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi nội đồng trên địa bàn huyện thủy nguyên, thành phố hải phòng
Bảng 4.3 Diện tích tưới tiêu các cụm thủy nông của huyện năm 2013 (Trang 52)
Bảng 4.5 Kết quả tu bổ, nạo vét kênh mương, cống, xi phông huyện Thủy Nguyên 2011-2013 - Quản lý và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi nội đồng trên địa bàn huyện thủy nguyên, thành phố hải phòng
Bảng 4.5 Kết quả tu bổ, nạo vét kênh mương, cống, xi phông huyện Thủy Nguyên 2011-2013 (Trang 56)
Bảng 4.6 Kết quả cải tạo, nâng cấp trạm bơm giai đoạn 2011-2013 - Quản lý và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi nội đồng trên địa bàn huyện thủy nguyên, thành phố hải phòng
Bảng 4.6 Kết quả cải tạo, nâng cấp trạm bơm giai đoạn 2011-2013 (Trang 57)
Bảng 4.7 Tình hình quản lý các công trình thủy lợi của 3 xã nghiên cứu (2011-2013)  Chỉ tiêu - Quản lý và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi nội đồng trên địa bàn huyện thủy nguyên, thành phố hải phòng
Bảng 4.7 Tình hình quản lý các công trình thủy lợi của 3 xã nghiên cứu (2011-2013) Chỉ tiêu (Trang 60)
Sơ đồ 4.2 Nguyên nhân công trình thủy lợi xuống cấp - Quản lý và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi nội đồng trên địa bàn huyện thủy nguyên, thành phố hải phòng
Sơ đồ 4.2 Nguyên nhân công trình thủy lợi xuống cấp (Trang 65)
Bảng 4.9 Kết quả thu thủy lợi phí của 3 xã nghiên cứu (2011-2013) - Quản lý và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi nội đồng trên địa bàn huyện thủy nguyên, thành phố hải phòng
Bảng 4.9 Kết quả thu thủy lợi phí của 3 xã nghiên cứu (2011-2013) (Trang 67)
Bảng 4.12 Đánh giá của người dân về công tác tưới tiêu - Quản lý và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi nội đồng trên địa bàn huyện thủy nguyên, thành phố hải phòng
Bảng 4.12 Đánh giá của người dân về công tác tưới tiêu (Trang 74)
Bảng 4.13 Kết quả nạo vét, duy tu bảo dưỡng hệ thống công trình thủy lợi - Quản lý và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi nội đồng trên địa bàn huyện thủy nguyên, thành phố hải phòng
Bảng 4.13 Kết quả nạo vét, duy tu bảo dưỡng hệ thống công trình thủy lợi (Trang 75)
Bảng 4.14 Kết quả kiên cố hóa kênh mương của 3 xã nghiên cứu 2011-2013 - Quản lý và sử dụng hệ thống công trình thủy lợi nội đồng trên địa bàn huyện thủy nguyên, thành phố hải phòng
Bảng 4.14 Kết quả kiên cố hóa kênh mương của 3 xã nghiên cứu 2011-2013 (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w